Bụi phổi là căn bệnh thường gặp ở những người làm việc trong môi trường có nồng độ khói bụi cao. Các loại bụi thông thường như cát, đất hay bụi gỗ thường chỉ gây tắc nghẽn đường thông khí trong phổi, tuy nhiên những loại bụi phát sinh trong sản xuất như bụi silic, bụi amiang, bụi bông...lại là nguyên nhân gây nên những bệnh bụi phổi mạn tính. Theo xu thế phát triển của xã hội, ngày càng nhiều ngành nghề mới có tiếp xúc với các yếu tố gây bệnh nghề nghiệp, đặc biệt là các yếu tố gây nên bệnh ở phổi, phế quản. Bệnh bụi phổi nghề nghiệp đang là bệnh phổ biến nhất trong 30 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm hiện nay ở nước ta, chiếm tới 74% số ca bệnh. Tính đến cuối năm 2011, số người mắc bệnh bụi phổi nghề nghiệp đã lên tới hơn 27.000 trường hợp và con số thực tế có thể lớn hơn rất nhiều. Bụi phổi là căn bệnh nguy hiểm vì những tổn thương tại phổi là không hồi phục và không thể điều trị triệt để.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Bụi phổi là căn bệnh thường gặp ở những người làm việc trong môi trường có nồng độ khói bụi cao Các loại bụi thông thường như cát, đất hay bụi gỗ thường chỉ gây tắc nghẽn đường thông khí trong phổi, tuy nhiên những loại bụi phát sinh trong sản xuất như bụi silic, bụi amiang, bụi bông lại là nguyên nhân gây nên những bệnh bụi phổi mạn tính
Theo xu thế phát triển của xã hội, ngày càng nhiều ngành nghề mới có tiếp xúc với các yếu tố gây bệnh nghề nghiệp, đặc biệt là các yếu tố gây nên bệnh ở phổi, phế quản Bệnh bụi phổi nghề nghiệp đang là bệnh phổ biến nhất trong 30 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm hiện nay ở nước ta, chiếm tới 74%
số ca bệnh Tính đến cuối năm 2011, số người mắc bệnh bụi phổi nghề nghiệp
đã lên tới hơn 27.000 trường hợp và con số thực tế có thể lớn hơn rất nhiều
Bụi phổi là căn bệnh nguy hiểm vì những tổn thương tại phổi là không hồi phục và không thể điều trị triệt để
Vì những lý do trên, em xin tiến hành thực hiện chuyên đề:
“ Đặc điểm một số loại bụi trong lao động và các biện pháp phòng tránh”
Với các mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm của một số loại bụi trong lao động.
2 Mô tả một số biện pháp phòng tránh bụi trong lao động.
Trang 3I ĐẠI CƯƠNG VỀ BỤI
1 Định nghĩa
Bụi là tập hợp những hạt nhỏ rắn, kích thước không đều phân tán trong không khí được hình thành vì sự vỡ vụn của vật chất do lực tự nhiên hoặc do quá trình sản xuất gây nên [1]
2 Phân loại
2.1 Phân loại theo nguồn gốc
- Bụi hữu cơ: Bụi hữu cơ gồm 2 loại là bụi có nguồn gốc từ động vật như lông, gia súc, súc vật và bụi thực vật như bông, đay, gỗ, ngũ cốc, giấy
- Bụi vô cơ: Bao gồm bụi khoáng chất thường gặp trong công nghiệp khai thác như thạch anh, than, cát, amiăng ; bụi kim loại thường gặp trong công nghiệp cơ khí, luyện kim như bụi sắt, đồng, chì và nhân tạo như bụi xi măng, thủy tinh
- Bụi hỗn hợp: có thể có ở nhiều nơi trong đó có thể lẫn 30-50% bụi khoáng chất (sản xuất đá mài) Loại bụi này dễ gây bệnh hơn bụi đơn thuần [1]
2.2 Phân loại theo kích thước
Cho ta biết độ phân tán của bụi trong không khí, kích thước bụi càng nhỏ thì thời gian tồn tại trong không khí càng lâu
2.2.1 Bảng phân loại của Gibbes
- Bụi lớn hơn 10µm (bụi thực sự hay bụi cơ bản): có thể trông thấy bằng mắt thường, sức nặng lớn hơn sức cản của không khí
- Bụi có kích thước 0,1 – 10µm (bụi hiển vi, bụi dạng mây hay dạng aerogel): có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi thường, sức nặng gần cân bằng với sức cản của không khí, chuyển động trong không khí với tốc độ đều, đa số
lơ lửng trong không khí
Bụi này có khả năng đi sâu vào tận phế nang và là loại chủ yếu được giữ ở phổi
Trang 4- Bụi dưới 0,1µm (bụi siêu hiển vi, bụi dạng khói hay aerosol): chỉ có thể nhìn thấy ở kính hiển vi có độ phóng đại lớn Bụi này có sức nặng cân bằng với sức cản của không khí và chuyển động trong không khí theo định luật Brown Bụi này hoàn toàn không rơi xuống cũng không bám vào thành phế nang.
2.2.2 Phân loại dựa vào kích thước Burtein
Phân loại bụi theo các phổ kích thước và mức độ xâm nhập vào đường
hô hấp
- Loại < 0,1µm: Vào phổi dễ dàng nhưng ít bị giữ lại ở phổi
- Loại 0,1 - 5µm: Vào phổi dễ dàng và bị giữ ở phổi nhiều nhất Chiếm 90% tổng lượng bụi bị giữ lại ở phổi, là loại chủ yếu gây bệnh bụi phổi Nguy hiểm nhất là bụi có kích thước 2-3µm
- Loại 5-10µm: Bị giữ lại ở phế quản nhánh tận cùng
- Loại 10-20µm: Bị giữ lại ở phế quản nhỏ
- Loại 20-50µm: Bị giữ lại ở phế quản phân thùy và phân thùy của phổi
- Loại > 50µm: Bị giữ lại ở mũi và khí phế quản lớn
3 Ảnh hưởng của bụi tới cơ thể
- Đường hô hấp trên
Bụi hữu cơ thường dính ở mũi, khí phế quản gây bài tiết, xung huyết, viêm phế quản, hen phế quản Bụi vô cơ gây tổn thương niêm mạc đường hô hấp trên Bụi hóa học gây loét và thủng vách ngăn mũi
- Phổi
Bụi vào phổi có thể gây ung thư hoặc gây các bệnh bụi phổi Bệnh bụi phổi là một bệnh mạn tính có tính chất nghề nghiệp và được tổ chức lao động thế giới (ILO) định nghĩa là “sự tích lũy bụi trong phổi và những phản ứng tổ chức chống lại sự có mặt của chúng” Tùy theo từng loại bụi xâm nhập vào phổi gây ra những bệnh bụi phổi khác nhau:
Trang 5+ Bụi oxit sillic tự do gây bệnh bụi phổi sillic (Sillicosis).
+ Bụi Amiăng gây bệnh bụi phổi Asbeste (Asbesteosis)
+ Bụi bông gây bệnh bụi phổi bông (Byssinosis)
+ Bụi than gây bệnh bụi phổi than (Anthracosis)
- Da
Bụi có thể tác dụng đến các tuyến nhờn da, làm khô da, do đó dễ bị kích thích và mắc các bệnh da như trứng cá, viêm nang lông, viêm mủ da Bụi bít lỗ các tuyến mồ hôi ảnh hưởng đến điều hòa thân nhiệt
- Đường tiêu hóa
Bụi gây rối loạn bài tiết dịch vị (bụi than ), gây xước niêm mạc dạ dày (bụi thủy tinh), gây sâu răng, viêm lợi như bụi bột, bụi đường [1]
Trang 6II ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT SỐ LOẠI BỤI TRONG LAO ĐỘNG
1 Bụi Silic
1.1 Khái quát về bụi silic
- Silic và các hợp chất của sillic chiếm 26% khối lượng vỏ trái đất, gần 60% các loại đá được cấu tạo bởi sillic oxit tự do Silic dioxit là một hợp chất hóa học còn có tên gọi là Silica, là một oxit của silic có công thức SiO2 Tỷ lệ SiO2 trong đá thạch anh chiếm trên 90%, trong cát thạch anh chiếm 80-90% [1]
- Trong tự nhiên, SiO2 có 2 dạng tồn tại
+ Dạng vô định hình: chiếm 10%, không hoạt động, ít độc hại và không gây bệnh
+ Dạng tinh thể: chiếm 90% và là dạng gây bệnh Theo thứ tự hay gặp: Alpha, Quartz, Cristobatite, Tridimite và thạch anh thủy tinh
- Đặc điểm cấu trúc và hoạt tính có liên quan tới đặc tính của bụi: Quartz có cấu trúc 4 cạnh có khả năng gây xơ hóa cao, trong khi Cristobatite cấu trúc 8 cạnh không gây xơ hóa [2]
- Bụi Silic là loại bụi có chứa silic tự do SiO2, thường gặp trong ngành sản xuất giấy, cao su, vật liệu xây dựng, nhựa đường, công nghiệp chất dẻo, chất chống dính, khuôn đúc, sơn tàu, gõ rỉ Bụi có khả năng di chuyển trong không khí trong phạm vi rộng, có thể gây bệnh cho cả những người ở những khu vực lân cận Bụi silic có kích thước càng nhỏ càng nguy hiểm vì những hạt bụi có kích thước dưới 5µm có khả năng vào tận phế nang để gây bệnh Bụi silic có thể hít được thì không thể nhìn được bằng mắt thường và tương đối nhẹ để có thể lơ lửng trong không khí với một thời gian dài Người lao động tiếp xúc với nồng độ bụi cao gây xơ hóa phổi, dính màng phổi Tiếp xúc thời gian dài có nguy cơ bị ung thử phổi, bội nhiễm vi khuẩn và có thể dẫn đến mắc bệnh phổi mạn tính.[4]
Trang 7+ Các hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản hoặc đá có chứa silic tự do: khai thác than, khai thác đá, khai thác vàng, thạch anh
+ Sản xuất và sử dụng các loại đá mài, bột đánh bóng và các sản phẩm khác có chứa silic tự do
+ Chế biến chất carborudun, chế tạo thủy tinh, đồ sành sứ, các đồ gốm khác, gạch chịu lửa,
+ Công việc đúc có tiếp xúc với bụi cát như: khuôn mẫu, làm sạch vật đúc
+ Các công việc mài, đánh bóng, rũa khô bằng đá mài có chứa silic tự do, [4]
1.3 Con đường di chuyển trong môi trường
Trong môi trường, bụi silic không biến đổi trạng thái do không có khả năng hòa tan trong nước cũng như phản ứng với các chất có trong môi trường
tự nhiên Do đó, bụi silic thường chịu các tác động vật lý như rửa trôi do mưa, hoặc bị cuốn theo chiều gió chuyển từ môi trường này đến môi trường khác.Các hiện tượng tự nhiên như mưa hay các hoạt động phun nước nhân tạo có thể cuốn theo các hạt bụi silic tồn tại lơ lửng trong môi trường không khí đi vào các môi trường đất, nước và từ đó làm sạch được bụi silic trong môi trường không khí
Gió có thể kéo theo bụi silic từ môi trường này sang môi trường khác hoặc từ nơi này sang nơi khác Qua trình hoạt động, bào mòn của gió có thể cuốn các hạt bụi chứa SiO2 từ bề mặt đất, đá vào môi trường không khí, làm
Trang 8gia tăng hàm lượng bụi silic trong không khí Quá trình gió thổi cũng làm phát tán bụi từ nơi này sang nơi khác.
Ngoài ra, quá trình bốc hơi nước cũng có thể làm gia tăng hàm lượng bụi silic trong không khí do trong quá trình bốc hơi, các hạt bụi silic có kích thước nhỏ có thể bám theo hơi nước và theo đó di chuyển vào môi trường không khí Bụi silic trong không khí còn có thể di chuyển vào bên trong cơ thể sinh vật thông qua quá trình hô hấp của sinh vật.[4]
1.4 Tác hại của bụi silic
- Gây bệnh bụi phổi silic, là một bệnh mạn tính không chữa được
- Bệnh gây cho người lao động khó thở gắng sức, ho, khạc đờm, đau ngực, có khi đau dữ dội, có cảm giác đau tức ngực
- Bệnh nặng làm cơ thể sút cân, ăn ngủ kém, cơ thể suy sụp nhanh
- Người bệnh dễ bị nhiễm trực khuẩn lao và các vi sinh vật gây bệnh khác
- Bệnh bụi phổi silic gây biến chứng dãn phế nang phổi thường gặp nhất, làm cho người khó thở, suy hô hấp, nhiễm khuẩn phế quản, viêm phổi cấp tính, viêm phế quản, tâm phế mãn, tràn khí phế mạc gây tử vong [6]
1.5 Cơ chế gây bệnh của bụi silic
Cơ chế gây bệnh của bụi silic rất phức tạp, có thể kể đến các thuyết như:
- Thuyết cơ học: tinh thể bụi silic có góc cạnh sắc, nhọn gây kích thích
và vi chấn thương phổi
- Thuyết hòa tan: axit silic hòa tan có thể gây xơ hóa phổi
- Thuyết ảnh hưởng điện áp (Piezo electric effect): dạng tinh thể của SiO2 có phát dòng điện nhỏ làm tổn thương tế bào
- Thuyết miễn dịch của Vigiliani và Pernis năm 1954 được lưu ý hơn cả: Bụi silic có tính gây độc làm chết đại thực bào, tế bào này bị phá hủy giải phóng ra yếu tố sinh xơ và kháng nguyên Bản thân bụi silic có vai trò như
Trang 9một tá chất kết hợp với protein của cơ thể sẽ tạo ra kháng nguyên Các phức hợp miễn dịch đã được phát hiện tổ chức xơ gồm các globulin a và b [2]
Sơ đồ cơ chế gây xơ hóa phổi do Silic [1]
2 Bụi bông
2.1 Khái quát về bụi bông
Bụi bông là một loại bụi nguồn gốc thực vật dạng sợi Thành phần bụi bông rất phức tạp bao gồm sợi bông (cenllulose), các thành phần rác (thân, lá,
vỏ bông, vỏ quả và lá bẹ), thành phần từ đất nơi trồng bông và các vi sinh vật
Trong thành phần bụi bông, cenllulose là chất trơ sinh học, chiếm tỷ lệ cao nhất Hàm lượng SiO2 tự do trong bụi bông rất ít (0,1-5%) và thành phần
Silic
Đại thực bào
Quá trình thực bào
và tiêu hủy bào
Yếu tố sinh xơ
Tăng nguyên xơ bào
Trang 10hóa học rất phức tạp Thành phần vi sinh vật (nhất là vi khuẩn) trong bụi bông được coi là chỉ số nhiễm bụi bông.[1]
2.2 Nguồn gốc phát sinh
- Quá trình cán hạt bông, đóng kiện bông, bộ phận cào-xé-chải bông, ghép và kéo sợi thô, máy sợi con, xe và dệt vải
- Quá trình hấp ướt bông nguyên liệu trong chế biến bông y tế
- Trong công nghiệp dệt vải, chế biến và kéo sợi lanh – gai, dứa sợi bụi phát sinh từ các bộ phận như làm mềm, chải, kéo sợi
2.3 Tác hại của bụi bông
- Bụi bông, gai, đay ảnh hưởng đến sức khỏe chủ yếu là thông khí phổi
- Bụi bông, đay, gai và các loại bụi thảo mộc gây nên bệnh bụi phổi bông
+ Bệnh biểu hiện: Tức ngực, khó thở khi lao động sau ngày nghỉ cuối tuần
+ Bệnh nhân nhức đầu, mỏi mệt, có thể sốt vào ngày thứ hai
+ Bệnh có thể làm giãn phế quản, phế nang, suy hô hấp mạn tính, suy tim đưa đến tử vong
+ Bụi bông gây viêm da dị ứng, viêm bờ mi mắt, kích thích hen phế quản [6]
2.4 Cơ chế gây bệnh của bụi bông
Cơ chế bệnh sinh của bệnh bụi phổi bông hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau Người ta đề cập đến một số giả thuyết sau:
- Trong bụi bông, đay, lanh có chứa các chất có khả năng giải phóng Histamin, làm co thắt cơ trơn phế quản và phù nề niêm mạc phế quản Như vậy các yếu tố đó có mang tính kháng nguyên Người ta cũng đã nghiên cứu kháng thể chống lại những kháng nguyên có trong bụi bông Hiệu giá kháng thể này cao ở công nhân tiếp xúc với bụi bông so với người bình thường Như vậy phản ứng kháng nguyên (trong bụi bông) và kháng thể xảy ra ở thành các
Trang 11tiểu phế quản đã gây ra tình trạng giải phóng Histamin và gây ra co thắt và dẫn tới khó thở Trong quá trình của 1 tuần lao động, kháng thể có thể giảm đi
do phản ứng kháng nguyên-kháng thể, do vậy những ngày tiếp theo sau ngày đầu tuần, sự co thắt phế quản giảm dần và khó thở cũng giảm đi Sau 1-2 ngày nghỉ cuối tuần, sự tích lũy nồng độ kháng thể tăng lên, do đó ở ngày làm việc đầu tuần sự tiếp xúc trở lại với kháng nguyên có trong bụi bông làm cho phản ứng kháng nguyên-kháng thể mạnh lên và bệnh nhân thường biểu hiện khó thở ở ngày đầu tuần làm việc
- Một số tác giả khác thì nêu lên vai trò của nội độc tố vi khuẩn có trong bụi bông, đay, lanh là yếu tố có tác dụng gây giải phóng Histamin và Serotonin gây co thắt phế quản và dẫn tới khó thở.[5]
3 Bụi Amiang
3.1 Khái quát về bụi Amiang
Asbeste còn gọi là Amiang là chất khoáng dạng sợi tùy theo quá trình khai thác chế biến chiều dài có thể tới hàng trăm micromet, đường kính các sợ cũng khác nhau tùy theo từng loại [1]
Amiang là hỗn hợp các chất Silicat, sắt, nhôm, canxi, magie gồm có 2 loại sợi: loại xoắn, mềm, ít độc hại và loại cứng: sắc, độc hơn, là nguyên nhân gây bệnh chủ yếu Loại sợi cứng có kích thước dài 8mm nguy hiểm nhất.[3]
Amiang chia làm 2 loại chính là Sepentin và Amphibol Nhóm Amphibol gồm: Crocidolit (Amiang xanh), Amosit (Amiang nâu xám), Anthophylit, Tromolit, Actinolit Nhóm Sepentin gồm Crysotil (Amiang trắng) là loại phổ biến nhất Gần 80% amiang khai thác trên thế giới là loại Crysotil Loại Amosit và Crocidolit chỉ chiếm khoảng 12-40% sản lượng chung [1],[3]
Do là vật liệu có tính cách nhiệt, chống cháy, chịu acid, cách điện, cách
âm, amiang được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp như:
+ Dệt vải may các loại áo cách nhiệt
Trang 123.2 Nguồn chứa Amiang
- Amiang được phát hiện có trong một vài loại đá, giếng nước và ở bề mặt gần những mỏ khai thác amiang đang hoạt động
- Nước di chuyển trong các ống bằng xi măng, sự ăn mòn có thể giải phóng nhiều sợi amiang từ thành ống, những sợi amiang sẽ được mang đến vòi nước
- Ống dẫn hơi nước, nồi đun, ống dẫn nhiệt của các lò sưởi thường phủ một lớp amiang Những thiết bị này có thể phóng thích ra những sợi amiang trong không khí khi chúng bị hư hỏng, sửa chữa, vứt bỏ không đúng cách
- Vật liệu lót sàn có tính đàn hồi (nhựa vinyl, nhựa đường, cao su)
- Những vật liệu cách nhiệt của lò sưởi và lò gốm như tấm lợp, bìa cứng, giấy, việc sửa chữa hoặc vứt bỏ các thiết bị trên có thể làm phát tán sợi amiang
- Miếng đệm ở cửa của những lò sưởi điện, lò sưởi bằng củi và than khi
bị mòn, hỏng chúng có thể phát thải những sợi amiang
- Vật liệu cách âm hoặc vật liệu để trang trí nhà cửa như sơn, vôi, bột trét tường Khi không còn khả năng bám dính, chúng sẽ bị vỡ vụ và gây ô nhiễm
- Tấm lợp, ván ốp tường và lớp ván gỗ của giàn khung là những sản phẩm hầu như không phát tán bụi amiang trừ khi chúng ta cưa, khoan hoặc cắt nó ra
- Những miếng đệm trong bộ phận hãm của xe ôtô, vỏ xe
Trang 13- Amiang tồn tại trong đất xây dựng, đất nông nghiệp, đất tại khu vực khai thác mỏ [4]
3.3 Tác hại của bụi amiang
- Amiang gây bệnh bụi phổi amiang, không có thuốc điều trị đặc hiệu, thường tử vong do viêm phổi phế quản, suy tim hoặc khối u phát triển đến màng phổi
- Amiang là một chất gây ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư thanh quản, ung thư thận
- Amiang còn gây một số bệnh thông thường: Viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, tràn dịch màng phổi, dầy màng phổi, xẹp phổi
- Bụi amiang gây tổn thương giác mạc mắt
- Bệnh bụi phổi amiang nghề nghiệp được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội Bệnh có thể biến chứng tâm phế mạn dẫn đến tử vong [6]
3.4 Cơ chế gây bệnh của bụi amiang
Cơ chế gây bệnh của bụi amiang đã được nghiên cứu nhiều và đã được thừa nhận là phản ứng tế bào bệnh này thuộc loại phản ứng đối với dị vật
Khi vào phổi, sợi amiang như kim sắc, nhỏ đâm vào phế nang, kích thích gây tăng sản và xơ hóa tổ chức kẽ Sợi có thể đâm và di chuyển vào màng phổi gây tràn dịch, dày dính
Các nghiên cứu gần đây cho rằng: sợi amiang lắng đọng tại các tiểu phế quản, nơi phân chia của ống phế nang, tác dụng gây độc trực tiếp kết hợp với các chất trung gian gây viêm như gốc oxy tự do, các protease, cytokin và yếu
tố tăng trưởng do các tế bào viêm giải phóng ra tham gia vào quá trình hình thành và phát triển xơ hóa phổi, màng phổi
Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc bệnh do làm suy yếu hệ thống làm sạch của phổi dẫn đến tăng tích lũy amiang tại phổi