Tiếp theo cơn bão này đã nhanh chóng lan sang các n-ớc: Philipine, Inđônexia, Malaisia, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, làm rungchuyển nền kinh tế và khiến nền kinh tế của các nớc lâm vào
Trang 1Lời nói Đầu
Các nớc công nghiệp mới “ NICs ” ở Đông á và Hiệp hội các nớc ĐôngNam á (ASEAN) trong vài thập kỷ qua đợc thế giới suy tôn là những “ conRồng”, “ con Hổ ” một biểu tợng huyền thoại về sự phát triển kinh tế thị trờngtheo hớng mở cửa, tự do hoá và toàn cầu hoá, với tốc độ tăng trởng kinh tế cao vàbền vững Nhng cuộc khủng hoảng kinh tế tiền tệ đợc mệnh danh là “cơn bão tàichính tiền tệ” đã nổ ra, mà xuất phát điểm là sự kiện chính phủ Thái Lan saunhiều tháng chèo chống đành chịu thua cuộc, chính thức thả nổi đồng Bath vàongày 2 tháng 7 năm 1997 Tiếp theo cơn bão này đã nhanh chóng lan sang các n-ớc: Philipine, Inđônexia, Malaisia, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, làm rungchuyển nền kinh tế và khiến nền kinh tế của các nớc lâm vào tình trạng vô cùngkhó khăn và không chỉ vậy, còn làm xáo trộn thị trờng chứng khoán, tại các trungtâm tài chính lớn của thế giới nh: Hong Kong, Tokyo, New York, London,Amstecdam, Frankfurk Sau thời gian không lâu, cuộc khủng hoảng không còn làcuộc khủng hoảng Đông - Nam á nữa mà đợc gọi là cuộc khủng hoảng Châu á.Năm 1998 tiếp tục phát tác sang Nga rồi sang Mỹ La Tinh, kéo theo sự giảm sútkinh tế toàn cầu Tuy gần đây thị trờng tài chính tiền tệ đã có dấu hiệu hồi phục
đáng mừng, nhng cơn bão vẫn cha thực sự chấm dứt, đang còn là mối lo lắng củanhiều quốc gia và giới tài chính thế giới Cuộc khủng hoảng này là nguyên nhânquan trọng làm kinh tế thế giới năm 1998 tăng trởng chậm lại
“ Cơn bão tài chính tiền tệ Châu á ” là sự kiện lớn đã thu hút sự chú ý củanhiều nhà lãnh đạo, các nhà quản lý và các học giả tham gia nghiên cứu,phântích, đánh giá và đa ra các biện pháp khắc phục phù hợp đối với mỗi quốc gia.Trong phạm đề án này, phần nào đề cập đến những diễn biến, nguyên nhân củacuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á, những giải pháp nhằm ngăn ngừa ảnhhởng của nó đến nền kinh tế nớc ta
Trang 2Phần i
Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á
02/07/97: Đồng Bath Thái Lan đợc thả nổi và giảm giá khoảng 20% so với
đồng Đô la Mỹ (từ 24,7 Bath/USD xuống 29Bath/USD), nợ nớcngoài của Thái Lan đã lên tới 87 tỷ USD, nhiều Công ty của TháiLan nhanh chóng lâm vào tình trạng phá sản, một số Ngân hàng vàCông ty phải đóng cửa hoặc sát nhập
11/07/97: Đồng Peso Philippine đợc thả nổi, sụt giá 10% (từ 26,4 xuống 29
Peso/USD) và cũng từ đó trở đi đồng Peso dờng nh đợc thả nổitheo làn sóng thị trờng
14/07/97: Đồng Ringgit Malaixia đợc thả nổi
17/07/97: Philippine xin giúp đỡ khẩn cấp của IMF (1 tỷ USD)
18/07/97: Đồng Dollar Singapore rớt giá thấp nhất trong ba năm qua
21/07/97: Đồng Rubiah của Indonexia bị giảm giá 6,8% (từ 2,48 xuống
2,46R/USD)25/07/97: Thủ tớng Malaixia buộc tội Georger Soros âm mu chính trị can
thiệp vào nội bộ ASEAN05/08/97: Chơng trình giúp đỡ của IMF cho Thái Lan vay 17,2 tỷ USD
14/08/97: Sau gần 20 ngày (từ 21/07 đến 14/8) Đồng Rubiah của Indonexia
đợc thả nổi, bỏ biên độ giao động hạn chế đợc áp dụng từ trớc đếnnay so với USD và đồng Rubiah đợc tiếp tục giảm thêm 5,6%xuống chỉ còn 2,82% R/USD
15/08/97: Đồng Dollar Hong Kong bị tác động, Lãi xuất của Ngân hàng
trung ơng Hồng Kông tăng từ 8 - 15% một ngày 18/08/97: Hai đồng tiền mạnh khác ở Đông Nam á là đồng đôla Singapore
(SGD) và đồng Ringit Malaixia cũng giảm mạnh theo các đồngtiền khu vực: đồng SGD đã giảm 6,4% so với ngày 01/7 (từ1,43xuống 1,52 SGD/USD; đồng Ringit giảm gần 11% (từ 2,51xuống 2,75 Ringit/USD)
29/08/97: Các thị trờng chứng khoán Đông Nam á rớt giá: Indonexia 6,86%,
Philippine 8,4%, Hong Kong 5%
Trang 304/09/97: Thông báo hoãn việc thực hiện các công trình lớn của Malaixia,
tăng cờng kiểm soát thị trờng tài chính22/09/97: Tập đoàn sản xuất ô tô thứ ba Hàn Quốc bị phá sản
08/10/97: Đồng Rubiah của Indonexia bị mất giá mạnh, thị trờng chứng
khoán Djakarta sụt 50% giá trị so với tháng 8, IMF cho vay 33 tỷUSD
21/10/97: Thái Lan biểu tình đòi thủ tớng Chavalit Yang Chaiyudh từ chức,
các thành viên nội các nộp đơn từ chức mở đờng cho việc xắp sếplại chính phủ
23/10/97: Sụt giá thị trờng chứng khoán Hong Kong, tiếp theo là phố U-uôn
(Wall street) và các thị trờng chứng khoán Châu Âu10/11/97: 16 Ngân hàng Indonexia đóng cửa
03/11/97: Sanyo Securities công ty môi giới thứ 7 Nhật Bản phá sản
05/11/97: Sóng gió đã thực sự nổi lên trên thị trờng chứng khoán Nhật Bản,
Công ty chứng khoán lớn thứ 7 (Sanyo Securities) đã phải công bốphá sản thị trờng chứng khoán Tokyo bị chấn động, chỉ số Nikeigiảm 4,2% - Đây là mức thấp nhất trong 2 năm qua
17/11/97: Đồng Won Hàn Quốc sụt dới mức 1000won/USD, IMF phải can
thiệp22/11/97: Yamaichi công ty tín phiếu thứ 4 Nhật Bản phá sản Nhật trải qua
khó khăn tài chính lớn nhất sau năm 194524/11/97: Công ty chứng khoán lớn thứ 4 (Yamaichi) ở Nhật cũng đã buộc
phải công bố phá sản, đây là vụ phá sản tồi tệ nhất ở Nhật kể từsau thế chiến thứ hai Giá cổ phiểu của Yamaichi giảm từ 500Yên (tháng 01/97) xuống 59 Yên (giữa tháng 11/97) Sự phá sảntrên đã làm đồng Yên Nhật giảm giá mạnh từ 120 (đầu tháng11/97) xuống 131 Yên/USD (giữa tháng 12/97)
03/12/97: IMF cho Hàn Quốc vay 57 tỷ USD
12/97: 56 cơ sở tài chính của Thái Lan đóng cửa
17/12/97: Kế hoạch phục hồi kinh tế Nhật Bản với ngân sách 15 tỷ USD22/12/97: Chỉ số Nikei sụt giảm mạnh (15000 điểm so với 40000 điểm năm
1989)23/12/97: 1 USD = 2000 Won Hàn Quốc, Hàn Quốc xin giúp đỡ quốc tế
Trang 431/12/97: Các thị trờng chứng khoán HongKong, Djakarta, Bangkok giảm
giá trị 200 tỷ USD08/01/98: Thị trờng chứng khoán Djakarta giảm 12% trong một buổi
22/01/98: Hai ngày sau khi tuyên bố ứng cử nhiệm kỳ 7 của tổng thống
Suharto đồng Rubiah mất 50% giá trị trong một đêm28/01/98: 13 Ngân hàng trong số các chủ nợ của Hàn Quốc đồng ý gia hạn
thêm cho 40 tỷ USD nợ của nớc nàyTrong một nền kinh tế mở và ngày càng mang tính toàn cầu hoá cao, mặc
dù không có lý do trực tiếp, nào để các nhà đầu t bán cổ phiếu ra trên các thị ờng chứng khoán Châu Âu và Bắc Mỹ nhng với nỗ lực nhằm bảo vệ lợi nhuận đãthu đợc, nhiều ngời đã chọn việc bán cổ phiếu ra để mua trái phiếu Chính phủ,nơi đợc coi là an toàn hơn khi thị trờng chứng khoán biến động mạnh Đây lànguyên nhân chủ yếu làm giá cổ phiếu sụt giảm trên hầu hết các thị trờng lớn trênthế giới Và vào những ngày cuối tháng 10/97, sóng gió đã thực sự nổi lên trên thịtrờng chứng khoán khắp thế giới Trong khi đó, các nhà chính trị và kinh tế giaphơng Tây đều cố gắng nhấn mạnh là không có lý do gì để thị trờng phải sụp đổ
tr-Bộ trởng tài chính Mỹ, đã tìm cách chấn an các nhà đầu t đừng nên hoảng hốt, bởi
lẽ từ năm 1995 đến nay, nền kinh tế Mỹ luôn tăng trởng với tốc độ cao và ổn
định, trong tơng lai sẽ tiếp tục tăng trởng mạnh Còn đối với nền kinh tế các nớc
EU đang ở giai đoạn đầu của sự tăng trởng, nhng cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ Đông Nam á đã xảy ra và kéo dài gần 6 tháng qua đồng thời sẽ không thểchấm dứt trong thời gian ngắn tiếp theo Cơn chấn động đã bắt đầu nổ ra ở thị tr-ờng chứng khoán Hồng Kông và đã nhanh chóng tác động đến thị trờng chứngkhoán toàn thế giới
Khủng hoảng không chỉ dừng lại trong lĩnh vực tài chính tiền tệ mà đã lansang nhiều ngành kinh tế khác và lan sang cả lĩnh vực chính trị xã hội Từ khi nổ
ra khủng hoảng ngời ta tính rằng ở Thái Lan có ít nhất 119.000 công nhân tronglĩnh vực sản xuất xe hơi, dệt, xây dựng mất việc làm, nhiều nhà máy phải cắtgiảm 25-30% lơng ở Indonesia khoảng 1,3 triệu ngời mất việc làm, Chính phủphải đa ra “chơng trình đột xuất” để tạo việc làm với thu nhập thấp cho côngnhân thất nghiệp nh nạo vét kênh, mơng, tôn cao đê, thông cống rãnh Khoảng
125 nhà máy ở Nhật đóng cửa đã làm cho 52.000 ngời mất việc làm, khủnghoảng làm cho 16.000 ngời trong ngành tài chính và 40.000 ngời trong ngành lâmnghiệp thất nghiệp Tại Malaixia khoảng 1 triệu công nhân nớc ngoài (trong tổng
số 2 triệu) đã phải cạnh tranh gay gắt với công nhân địa phơng để giữ chỗ làmviệc trong các ngành: xây dựng, công nghiệp nặng, khách sạn Ngày 12/01/98Malaixia thông báo sẽ bố trí lại làm việc cho ít nhất 600.000 công nhân các trang
Trang 5trại và 200.000 công nhân chế tạo là ngời nớc ngoài vừa bị thất nghiệp để khônglàm cho việc thiếu hụt lao động trầm trọng thêm Thái Lan thông báo có thể sathải công nhân nớc ngoài và gửi họ về nớc Hàn Quốc cũng đã nghiên cứu việc sathải 270.000 công nhân nớc ngoài.
Khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á cũng là nguyên nhân của các cuộcbiểu tình ở Thái Lan, Indonexia, Hàn Quốc và cũng là nguyên nhân làm thay đổinội các ở các nớc Thái Lan và Hàn Quốc
Dới đây là một số số liệu minh hoạ về khủng hoảng tiền tệ ở Châu á:
Biểu 1: Tỷ giá hối đoái các đồng tiền trong khu vực so với đồng Đô la Mỹ:
Đồng tiền – Tên nớc Tỷ giá ngày 15/12/97 Tỷ lệ giảm giá so với 01/7/97
Trang 6Biểu 2: Diễn biến các đồng tiền Châu á năm 1997
6/97 7/97 8/97 9/97 10/97 11/97 12/97
Bath/USD 25,89 30,23 32,44 36,04 37,06 39,26 44,46Rubiah/USD 2.470 2.550 2.760 3.020 3.560 3.460 4.840Ringgit/USD 2,15 2,57 2,73 3,00 3,22 3,39 3,78Peso/USD 26,37 27,54 29,96 32,75 34,78 34,46 37,92
Won/USD 888,30 890,70 894,90 911,80 918,80 1.031 1.540TWD/USD 27,85 27,45 28,70 28,61 29,34 31,55 32,40
(Số liệu trên đợc khai thác hàng ngày từ tin của hãngDow Jones và tính bình quân tháng theo phơng pháp bình quân số học)
Biểu 3: Diễn biến các đồng tiền Châu á năm 1998
Bath/USD 52,710 45,940 40,550 38,450 38,560 42,760Peso/USD 42,910 40,176 39,037 38,300 39,220 40,330Rubiah/USD 8.875 9.005 9.605 7.750 10.258 13.678TWD/USD 34,610 32,750 32,350 32,990 33,490 34,570
Trang 7Diễn biến các đồng tiền Châu á (Tiếp)
600 triệu USD một ngày 2/2/1998 của các Nhà đầu cơ đã làm cho các
đồng tiền khủng hoảng lên giá trở lại Tốc độ lên giá nhanh hơn tốc độ trợt giá nh bảng sau đây cho thấy:
Đồng tiền Mất giá tháng 7
(so với USD)
% giá
-Lên giá % +giá Thời
2450 xuống 14000
118668426470
55,5 lên 46,3
44 lên 35,94,7 lên 3,61,8 lên 1,62
14000 lên 7625
202263510
(Nguồn: IMF, International Financial Statistics)
Các đồng tiền hiện đang lên giá, cuộc khủng hoảng đã có dấu hiệu đángmừng Song thực tế “cơn bão” vẫn cha thực sự chấm dứt
Trang 8Phần ii
Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng và những giải pháp nhằm ngăn ngừa ảnh hởng của cuộc khủng hoảng đến
nền kinh tế nớc ta
I/ nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
Qua tìm hiểu tôi thấy rằng có ba nhóm nguyên nhân chủ yếu dẫn tới khủnghoảng:
Nhóm nguyên nhân tức thời, đột biến, tác động trực tiếp gây ra khủng hoảng
Nhóm nguyên nhân diễn ra từ từ do có sự tồn đọng lâu dài của những vấn đề nan giải hay có thể gọi là nguyên nhân ủ bệnh lâu dài, không đợc giải quyết kịp thời gây ra khủng hoảng
Nhóm nguyên nhân là sự bất cập không đáp ứng đợc nhu cầu, đòi hỏi
đổi mới tại những thời điểm bớc ngoặt, chuyển giai đoạn sang những thời kỳ phát triển cao hơn
1/ Nhóm nguyên nhân tức thời đột biến bao gồm tình trạng vỡ nợ, thâm hụt tài chính qua mức, đầu cơ tiền tệ mạnh và sự mất cân đối lớn giữa cung cầu nội tệ và ngoại tệ Mỗi nguyên nhân đều là tác nhân mạnh nhng nguy hiểm
hơn cả là sự cộng hởng cùng một lúc của chúng làm ngòi nổ cho cuộc khủnghoảng làm cho các nớc Đông và Đông Nam á bắt đầu từ sự kiện Thái Lan khôngkiểm soát đợc đồng tiền của mình
Nợ chồng chất quá cao đến mức không trả nổi và thâm hụt tài khoản vãnglai quá mức cho phép là ngòi nổ cho cuộc khủng hoảng ở nhiều nớc Theo tínhtoán của IMF thì nếu mức thâm hụt tài khoản vãng lai của một nớc lớn hơn5%/GDP tức là nền kinh tế nớc đó đang đứng trớc nguy cơ phá sản Qua thống kêtrong bảng dới đây ta thấy ngòi nổ khủng hoảng ở Thái Lan là do thâm hụ cáncân thanh toán vãng lai, nợ nớc ngoài cao; tại Hàn Quốc là do nợ nớc ngoài quálớn so với tiềm năng kinh tế
Trang 9Thailan Malaixia Indonexia Philippine Hàn QuốcThâm hụt cán cân thanh toán
đồng tiền nội địa với chế độ ổn định tỷ giá kéo dài hơn một thập kỷ từ đầu năm
1980 Và không chỉ có nhà tỷ phú Geoger Soros đầu cơ, theo thống kê ở Mỹ cókhoảng 2300 quỹ tín dụng với tổng giá trị tài sản xấp xỉ 100 tỷ tham gia đầu cơ,ngoài G.Soros còn các nhà đầu cơ khác nh Tiger, Orbics, Mumar Panthenr vàJaguat Trong tháng 5 và tháng 6 lợng tiền đầu cơ ớc khoảng 10 - 15 tỷ USD.Những diễn biến trên xảy ra vào thời điểm mà cung và cầu về các đồng tiềnngoại tệ mạnh nhất là Đô la Mỹ và các đồng tiền địa phơng rơi vào tình trạng mấtcân đối nghiêm trọng: Cầu về ngoại tệ tăng lên rất cao để thanh toán các khoản
nợ đến hạn, nhng số cung rất thấp do thiếu hụt lớn trong tài khoản vãng lai và docạn nguồn dự trữ ngoại hối, trong khi cầu về các đồng tiền địa ph ơng thấp, nhng
số cung thì cao, bởi qua nhiều năm liên tục tăng in tiền mặt cung cấp ra thị trờng
2/ Nguyên nhân bao trùm trong những nguyên nhân tồn đọng lâu ngày
là nền kinh tế tăng trởng nhanh đồng thời cũng ủ bệnh hiểm nghèo không lờng
trớc đợc Nhiều ý kiến cho rằng đây là những nền kinh tế “bong bóng” lớn nhanhnhng có nhiều điểm xung yếu, dễ nổ dễ vỡ, và thực tế đã vỡ tại khâu yếu nhất là
hệ thống tài chính tiền tệ do chậm điều chỉnh sửa đổi kịp thời
Những căn bệnh đó là duy trì chế độ tỷ giá gần nh cố định qúa lâu, tìnhtrạng nợ đọng, để kéo dài và ngày càng tăng tình trạng thiếu hụt tài khoản vãnglai, đầu t quá mức trong một số lĩnh vực nh bất động sản và một số ngành xuấtkhẩu đang mất dần sức cạnh tranh và mất dần thị trờng nh ngành dệt, điện tử
- Nền kinh tế tăng trởng “quá nóng”, tốc độ tăng trởng tổng sản phẩmtrong nớc (GDP) quá cao, nền kinh tế xã hội và tài nguyên môi trờng đợc huy
động tối đa trong một thời kỳ dài nên đã mệt mỏi và kiệt sức
Trang 10Thái Lan: bình quân 81-90 tăng trởng 7,9%, 90-95 tăng trởng 8.5%, 1995tăng trởng 8,7%, 1996 tăng trởng 6,7%.
Singapore: từ 1990 -1996 tăng trởng 8,5% mỗi năm, gấp 3 lần tốc độ của
n-ớc Mỹ thành tích này đợc xem nh là một phép lạ Phép là này là do sự vắt kiệt chứkhông phải sự sáng tạo
Malaixia: Tăng tốc độ phát triển trung bình từ 6% thập kỷ 80 lên 8% thập
7,07,06,65,74,50,30,8
5,03,53,03,02,9-2,00,7
(Nguồn: Salomom Smith Barne Forecasts)
- Việc duy trì giá cố định quá lâu đã làm cho chế độ ổn định đồng Bath từ chỗ
có lợi đến chỗ bất lợi cho nền kinh tế Thái lan Điều này đã thể hiện rõ trong quá trìnhthực hiện tỷ giá của Thái lan từ thập kỷ 80 đến nay Để kích thích xuất khẩu và hạnchế nhập khẩu Thái lan đã ổn định tỷ giá Một chính sách bao giờ cũng có cái lợi vàcái hại trớc mắt cũng nh lâu dài Tỷ giá cố định của đồng Bath so với đô la Mỹ đã cólợi cho Thái lan khi đồng Bath cũng mất giá cùng chiều với đồng đô la Mỹ tính đếnnăm 1995, bắt đầu không có lợi cho Thái lan từ khi hai đồng tiền mất giá và lên giánghịch chiều từ năm 1995 đến nay
- Nh ở trên đã trình bày nợ đọng và thâm hụt lớn tài khoản vãng lai khôngnhững là nguyên nhân tức thời mà còn là nguyên nhân sâu xa gây ra cuộc khủnghoảng tài chính tiền tệ, trong đó Thái lan là một ví dụ điển hình Nợ của Thái lan tănglên sau các năm nh sau: 40,6% GDP năm 1993, 43,3% GDP năm 1994, 49,5% GDPnăm 1995, 52,4% GDP năm 1996 Nợ nớc ngoài “khó đòi” vợt quá mức cho phép 33
tỷ USD Tổng số cho vay của 15 ngân hàng và 91 công ty tài chính chiếm 35% GDP
Trang 11Phần nợ nớc ngoài của Thái lan là nợ ngắn hạn và nợ thơng mại Cuối năm 1996 Tháilan nợ 70,2 tỷ USD, trong đó 65% là nợ đến hạn phải trả trong vòng 1 năm Đến tháng
7 năm 1997 khi công bố thả nổi đồng Bath Thái lan đã nợ hơn 85 tỷ USD trong khi dựtrữ ngoại tệ thấp chỉ có 33,3 tỷ USD Và đến thời điểm 11/1997 nợ tăng lên 89 tỷ USD
và dự trữ ngoại tệ giảm xuống còn 30 tỷ USD Philippine ở thời điểm đó nợ 41 tỷUSD Năm 1996 Indonexia nợ 109,3 tỷ USD, chiếm 48,4% GDP Malaixia nợ 36,4 tỷUSD chiếm 38,5% GDP Đối với Hàn quốc gánh nặng nợ nớc ngoài lên đến 200 tỷUSD, trong đó 85 tỷ USD là nợ ngắn hạn và 20% là các khoản nợ đến hạn trong vòngmột tháng Cùng với nợ, thiếu hụt tài khoản vãng lai cũng là yếu tố gây khủng hoảng
- Mất cân đối trong đầu t và tiêu dùng quá mức cũng là nguyên nhân gây rakhủng hoảng tài chính tiền tệ
Cơ cấu đầu t và cơ cấu kinh tế không cân đối, một số ngành đầu t vốn lớn nhngkhông hiệu quả Phần lớn các nớc Đông Nam á đều gặp khó khăn về cơ sở hạ tầng,một yếu tố ảnh hởng khá quan trọng đến tăng trởng kinh tế, chính phủ đầu t nhiều tiềncho các công trình công cộng với thời gian xây dựng lâu dài; Do công tác quy hoạch,
dự báo không tốt nên với mục đích chạy theo lợi nhuận trớc mắt, đã dẫn đến tình cạnhtranh hỗn độn, đổ xô đầu t vào kinh doanh bất động sản, địa ốc, khách sạn, nhà hàng,trung tâm thơng mại, khu vui chơi giải trí và không điều chỉnh kịp khi mất thị trờng,hoặc giảm khả năng cạnh tranh Do đó đã dẫn đến cung vợt cầu và nhiều nhà kinhdoanh gặp khó khăn, thua lỗ cùng với các ngân hàng cho vay đầu t lâm vào tình trạng
nợ đọng, khó đòi Chiến lợc phát triển kinh tế xã hội của nhiều nớc với đồng thời quánhiều tham vọng, vốn đầu t có hạn nhng lại chia ra quá nhiều dự án, vì thế nhiều dự ánkéo dài, dở dang, chậm phát huy hiệu quả Điển hình là ở Thái Lan nhiều ngân hàng
đã bỏ ra 30% vốn tín dụng cho vay vào ngành nhà đất, khiến ngành này phát triển mộtcách mù quáng, nhiều cao ốc mọc lên dẫn đến cung vợt cầu Kết quả là phần lớn cácngân hàng và công ty tài chính đều gặp khó khăn Do lo lắng về việc các ngân hàngnày bị phá sản sẽ mất ổn định kinh tế, chính trị nên chính phủ Thái lan đã chấp nhậnviệc bỏ tiền ra để cứu các ngân hàng và công ty tài chính Năm 1996 chính phủ Tháilan đã bỏ ra 6 tỷ USD để cứu ngân hàng thơng mại Băngkok, 16 công ty tài chính bịkhê đọng vốn vào tháng 6 năm 1997 chính phủ đã phải chi 6,7 tỷ USD để xoa dịu sựphẫn nộ của ngời gửi tiền Các nớc Philippine, Malaixia, Indonexia cũng cùng chungtình trạng là cung vợt quá cầu về nhà đất, và họ cũng trong tình trạng nợ đọng, khó đòi
nh ở Thái lan
Ngoài ra, các nớc đang phát triển cũng đều hớng vào chến lợc đầu t sản xuấthàng hoá thay thế hàng nhập khẩu và hớng vào xuất khẩu nên chủ yếu đầu t và cácngành sử dụng nhiều lao động nhờ lợi thế sức lao động giá rẻ nh ngành dệt, may, lắpráp điện tử Những ngành này thời gian qua đã gặp khó khăn lớn do phải cạnh tranh