MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ là người triển khai những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đến với nhân dân, đồng thời cũng là người tổng kết, phản ánh những tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến Đảng, đến Nhà nước. Như vậy người cán bộ, đảng viên có vai trò rất quan trọng và to lớn - là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và ngược lại. Khi đánh giá về người cán bộ có rất nhiều tiêu chí cũng như phẩm chất, như: trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng triển khai, xử lý các nhiệm vụ được giao, tuổi tác và kinh nghiệm thực tiễn,… Một trong những yêu cầu cũng như tiêu chuẩn đặc biệt nữa không thể thiếu của người cán bộ, giúp cho cán bộ linh hoạt trong giải quyết các công việc được giao đó là phải có năng lực tư duy lý luận. Tư duy là một thuộc tính cơ bản của con người, tư duy nói chung và tư duy lý luận nói riêng là cấp độ cao của quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, tất nhiên, những mối liên hệ có tính quy luật của khách thể nhận thức. Tư duy là sự phản ánh khái quát, chủ động, tích cực và sáng tạo những mối quan hệ bản chất, những quy luật vận động của mọi sự vật hi ện tượng trong thế giới khách quan. Kết quả của quá trình tư duy sẽ đem lại cho chủ thể nhận thức những tri thức, sự hiểu biết sâu sắc, toàn diện, đầy đủ, có tính hệ thống về đối tượng nhận thức. Khẳng định vai trò của tư duy lý luận, Ăngghen đã cho rằng: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” [43, tr. 489]. Công cuộc đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đang diễn ra trong điều kiện hoàn cảnh mới. Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh. Chúng ta đang đứng trước những thời cơ vận hội mới đồng thời cũng đứng trước những khó khăn và thử thách mới. Cách mạng trên thế giới có những bước thăng trầm, con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta thường xuyên bị kẻ thù và các thế lực phản cách mạng chống phá trên mọi phương diện, nhất là trên phương diện tư tưởng, văn hóa bằng các âm mưu thủ đoạn khác nhau như: diễn biến hòa bình, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi nhọ uy tín của Đảng, gây chia rẽ kỳ thị dân tộc… Để đánh giá, phân tích, kết luận, cảnh giác trước những âm mưu của các thế lực thù địch và các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội vô cùng nhạy cảm, phức tạp này một cách khách quan, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải được trang bị một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, khoa học, sắc bén để chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Muốn được trang bị một hệ thống lý luận, hoàn chỉnh, khoa học sắc bén đó họ phải nâng cao tầm nhận thức mới về lý luận và hạt nhân của vấn đề này chính là nâng cao năng lực tư duy lý luận. Tư duy lý luận với nền tảng nòng cốt là Triết học Mác - Lênin được Đảng và Nhà nước ta vận dụng thực tiễn trong công cuộc đổi mới và đã thu được những thắng lợi mang tính bước ngoặt. Tuy nhiên giữa lý luận và thực tiễn có một khoảng cách khá xa, tình trạng giáo điều, sách vở, xa rời quần chúng, lời nói không đi đôi với việc làm, tư tưởng không nhất quán với hành động vẫn còn khá phổ biến. Do vậy, một số Nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước khó đi vào cuộc sống. Thậm chí có một số nơi, một số địa phương cán bộ còn hiểu và làm sai lệch chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước cần phải chú ý đến phát huy tiềm năng trí tuệ của con người Việt Nam, đẩy mạnh công tác lý luận, đặc biệt là nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. 3 Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc của Tổ quốc Việt Nam. Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang luôn quyết tâm phấn đấu xây dựng và phát triển tỉnh nhà về mọi mặt, đã thu được nhiều kết quả quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và các vấn đề xã hội khác. Có được những kết quả đó, một phần là sự quyết tâm của toàn tỉnh, một phần khác là do năng lực hoạt động của đội ngũ cán bộ của tỉnh. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trình độ nhận thức nói chung và năng lực tư duy lý luận nói riêng của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay (với đặc thù là tỉnh miền núi, đa phần là người dân tộc thiểu số) còn nhiều hạn chế, tình trạng nghĩ và làm việc theo thói quen, kinh nghiệm, giáo điều, trực quan, cảm tính vẫn đang là lực cản trong bản thân đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số; khả năng dự báo, đánh giá tình hình của một bộ phận cán bộ người dân tộc thiểu số chưa cao, việc nắm bắt thông tin còn chưa nhạy bén, chưa kịp thời; một bộ phận cán bộ người dân tộc thiểu số khi xử lý công việc vẫn còn máy móc, nặng về kinh nghiệm, chưa tổng kết được kinh nghiệm thành lý luận… Những hạn chế cơ bản nêu trên của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang cần được khắc phục nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đổi mới. Từ kinh nghiệm và thực tiễn công tác tại địa phương, bản thân cũng là một cán bộ người dân tộc thiểu số và với mong muốn góp một phần tiếng nói tâm huyết từ cơ sở với công tác cán bộ ở địa phương Tuyên Quang trong giai đoạn hiện nay, tôi chọn hướng nghiên cứu, cũng như đề tài: “Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay” làm đề tài Luận án Tiến sĩ Triết học của mình.
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MA PHÚC DỰ
NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TỈNH TUYÊN QUANG HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn Đình Tường
HÀ NỘI - 2016
Trang 3lý luận của đội ngũ cán bộ, đảng viên 22 1.4 Một số vấn đề cần tiếp tục giải quyết trong luận án 28
Chương 2 NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN VÀ VAI TRÒ VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 30 2.1 Tư duy lý luận và năng lực tư duy lý luận 30 2.2 Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số và thực chất, vai trò việc nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay 49
Chương 3 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH TUYÊN QUANG HIỆN NAY 73 3.1 Khái quát về người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang và một số đặc điểm cơ bản của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay 73 3.2 Đánh giá năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay 83
Trang 4CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH TUYÊN QUANG HIỆN NAY 111
4.1 Quan điểm về nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay 111
4.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay 117
KẾT LUẬN 145
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ là người triển khai những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đến với nhân dân, đồng thời cũng là người tổng kết, phản ánh những tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến Đảng, đến Nhà nước Như vậy người cán bộ, đảng viên có vai trò rất quan trọng và to lớn - là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và ngược lại
Khi đánh giá về người cán bộ có rất nhiều tiêu chí cũng như phẩm chất, như: trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng triển khai, xử lý các nhiệm vụ được giao, tuổi tác và kinh nghiệm thực tiễn,… Một trong những yêu cầu cũng như tiêu chuẩn đặc biệt nữa không thể thiếu của người cán bộ, giúp cho cán bộ linh hoạt trong giải quyết các công việc được giao đó là phải có năng lực tư duy lý luận
Tư duy là một thuộc tính cơ bản của con người, tư duy nói chung và tư duy lý luận nói riêng là cấp độ cao của quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, tất nhiên, những mối liên hệ có tính quy luật của khách thể nhận thức Tư duy là sự phản ánh khái quát, chủ động, tích cực và sáng tạo những mối quan hệ bản chất, những quy luật vận động của mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Kết quả của quá trình tư duy sẽ đem lại cho chủ thể nhận thức những tri thức, sự hiểu biết sâu sắc, toàn diện, đầy đủ, có tính hệ thống về đối tượng nhận thức Khẳng định vai trò của tư duy lý luận, Ăngghen đã cho rằng: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” [43, tr 489]
Công cuộc đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đang diễn
ra trong điều kiện hoàn cảnh mới Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
Trang 6đại hóa với mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh Chúng ta đang đứng trước những thời cơ vận hội mới đồng thời cũng đứng trước những khó khăn và thử thách mới Cách mạng trên thế giới có những bước thăng trầm, con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta thường xuyên
bị kẻ thù và các thế lực phản cách mạng chống phá trên mọi phương diện, nhất là trên phương diện tư tưởng, văn hóa bằng các âm mưu thủ đoạn khác nhau như: diễn biến hòa bình, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi nhọ uy tín của Đảng, gây chia rẽ kỳ thị dân tộc…
Để đánh giá, phân tích, kết luận, cảnh giác trước những âm mưu của các thế lực thù địch và các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội vô cùng nhạy cảm, phức tạp này một cách khách quan, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải được trang bị một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, khoa học, sắc bén để chỉ đạo hoạt động thực tiễn Muốn được trang bị một hệ thống lý luận, hoàn chỉnh, khoa học sắc bén đó họ phải nâng cao tầm nhận thức mới về lý luận và hạt nhân của vấn đề này chính là nâng cao năng lực tư duy lý luận
Tư duy lý luận với nền tảng nòng cốt là Triết học Mác - Lênin được Đảng và Nhà nước ta vận dụng thực tiễn trong công cuộc đổi mới và đã thu được những thắng lợi mang tính bước ngoặt Tuy nhiên giữa lý luận và thực tiễn có một khoảng cách khá xa, tình trạng giáo điều, sách vở, xa rời quần chúng, lời nói không đi đôi với việc làm, tư tưởng không nhất quán với hành động vẫn còn khá phổ biến Do vậy, một số Nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước khó đi vào cuộc sống Thậm chí có một số nơi, một số địa phương cán bộ còn hiểu và làm sai lệch chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước cần phải chú ý đến phát huy tiềm năng trí tuệ của con người Việt Nam, đẩy mạnh công tác lý luận, đặc biệt là nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên
Trang 7Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc của Tổ quốc Việt Nam Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang luôn quyết tâm phấn đấu xây dựng và phát triển tỉnh nhà về mọi mặt, đã thu được nhiều kết quả quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và các vấn đề xã hội khác Có được những kết quả đó, một phần là sự quyết tâm của toàn tỉnh, một phần khác là do năng lực hoạt động của đội ngũ cán bộ của tỉnh
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trình độ nhận thức nói chung và năng lực
tư duy lý luận nói riêng của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay (với đặc thù là tỉnh miền núi, đa phần là người dân tộc thiểu số) còn nhiều hạn chế, tình trạng nghĩ và làm việc theo thói quen, kinh nghiệm, giáo điều, trực quan, cảm tính vẫn đang là lực cản trong bản thân đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số; khả năng dự báo, đánh giá tình hình của một bộ phận cán bộ người dân tộc thiểu số chưa cao, việc nắm bắt thông tin còn chưa nhạy bén, chưa kịp thời; một bộ phận cán bộ người dân tộc thiểu số khi xử lý công việc vẫn còn máy móc, nặng về kinh nghiệm, chưa tổng kết được kinh nghiệm thành lý luận… Những hạn chế cơ bản nêu trên của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang cần được khắc phục nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đổi mới
Từ kinh nghiệm và thực tiễn công tác tại địa phương, bản thân cũng là một cán bộ người dân tộc thiểu số và với mong muốn góp một phần tiếng nói tâm huyết từ cơ sở với công tác cán bộ ở địa phương Tuyên Quang trong giai
đoạn hiện nay, tôi chọn hướng nghiên cứu, cũng như đề tài: “Nâng cao năng
lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay” làm đề tài Luận án Tiến sĩ Triết học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về nâng cao năng lực tư duy lý luận
Trang 8của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay; thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang; đưa ra những quan điểm, giải pháp cơ bản nâng cao năng lực
tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ được phạm trù năng lực tư duy lý luận, những yếu tố ảnh hưởng tới năng lực tư duy lý luận cũng như vai trò của năng lực tư duy lý luận đối với đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn hiện nay
- Phân tích thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay, nguyên nhân của thực trạng và những vấn đề đặt ra từ thực trạng đó
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
3.1 Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhất là lý luận nhận thức và logic học mác xít Luận án cũng dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng các Nghị quyết của Đảng ta về công tác cán bộ và vai trò của tư duy lý luận trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ
3.2 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài kế thừa kết quả của những công trình khoa học đã được công
bố trong những năm gần đây ở nước ta có liên quan đến đề tài Sử dụng các tài liệu, số liệu của cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến các xã qua tổng hợp, thống kê, báo cáo tổng kết hàng năm
Trang 9- Để tiến hành nghiên cứu, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, lôgic, lịch sử, thống kê…
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Làm sáng tỏ được biểu hiện đặc thù về năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang
- Chỉ ra được thực trạng và từ đó đưa ra quan điểm, giải pháp góp phần nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang
6 Ý nghĩa của Luận án
- Kết quả nghiên cứu của Luận án góp phần làm sáng tỏ thực trạng, cung cấp giải pháp nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng, hoạch định chiến lược, tổ chức đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
Trang 10- Luận án có thể được dùng làm tài liệu trong nghiên cứu, giảng dạy các vấn đề có liên quan
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án gồm 4 chương với 10 tiết
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Đề tài nghiên cứu chung về vấn đề tư duy, tư duy lý luận và năng lực tư duy lý luận
Có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề
về nguồn gốc, bản chất, đặc điểm, lịch sử hình thành của tư duy và tư duy
biện chứng duy vật; mối quan hệ giữa nội dung và phương pháp, trình độ và
năng lực của tư duy, các nguyên tắc và quy luật của tư duy và tư duy biện chứng duy vật; mối quan hệ giữa tư duy hình thức và tư duy biện chứng, tư duy lý luận và năng lực tư duy lý luận…
- Tác giả Đào Duy Tùng, “Bàn về đổi mới tư duy”, Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội, 1986
Bài viết đã tập trung phân tích sự cần thiết phải đổi mới tư duy, tư duy
lý luận về nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chỉ ra phương hướng, biện pháp để đổi mới tư duy, đặc biệt là tác giả đã nhấn mạnh sự kết hợp đổi mới nội dung, phương pháp tư duy phải nắm vững tư duy biện chứng mác xít, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận, kiểm tra lại hệ thống tri thức; tích cực nghiên cứu lịch sử tư duy dân tộc và tư duy nhân loại
- Hồ Văn Thông, “Một số vấn đề tư duy và đổi mới tư duy hiện nay ở nước ta” (Tạp chí cộng sản, số 10/1987)
Tác giả đã đưa ra một số nét cơ bản của tư duy trong mối quan hệ với hoạt động nhận thức và thực tiễn; từ việc chỉ ra vai trò của tư duy đối với hoạt động thực tiễn của con người, tác giả chỉ ra yêu cầu cần thiết về đổi mới tư duy ở nước ta hiện nay Tác giả cho rằng đổi mới tư duy hiện nay cần quán triệt và vận dụng sâu sắc chủ nghĩa Mác-Lênin, nhất là vận dụng những quy luật cách mạng xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước
Trang 12- Nguyễn Ngọc Long, “Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới
tư duy” (Tạp chí Cộng sản, số 10/1987)
Tác giả đã tập trung phân tích bản chất và những yếu tố cấu thành năng lực tư duy lý luận như: năng lực ghi nhớ, tái hiện những nhận thức do cảm tính đem lại; năng lực trừu tượng hóa, khái quát hoát; năng lực suy luận, suy
lý lôgic, phát hiện và xử lý các vấn đề trong nhận thức và hành động Tác giả cũng luận giải sự cần thiết phải phát triển năng lực tư duy lý luận trong thời
kỳ đổi mới đất nước
- Tác giả Nguyễn Văn Linh “Đổi mới tư duy và phong cách tư duy”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987
Tác giả đã tập trung phân tích và chỉ rõ những hạn chế của tư duy lý luận của Đảng trong thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp Trên cơ sở đó luận giải sự cần thiết phải đổi mới tư duy và phong cách tư duy của Đảng và đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta; đồng thời tác giả đưa ra những nội dung cần thực hiện đổi mới tư duy
- Nguyễn Bá Dương, “Về đặc trưng của tư duy biện chứng duy vật” (Tạp chí Triết học số 5/1991)
Tác giả đã đi sâu phân tích năm đặc trưng cơ bản của tư duy biện chứng duy vật (như tư duy biện chứng là loại hình tư duy phát triển cao nhất
so với các hình thức tư duy trong lịch sử; tư duy biện chứng phản ánh hiện thực đang vận động, biến đổi; phản ánh đúng sự vận động, phát triển và những mâu thuẫn vốn có của thế giới khách quan; tư duy biện chứng có tính khách quan; tư duy biện chứng được xem là tư duy khoa học, mang tính cách mạng, có tính chất phê phán và sức chiến đấu cao, luôn tạo ra sản phẩm kép) Trên cơ sở đó đi đến khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của tư duy biện chứng trong nhận thức và cải tạo thế giới
Trang 13- Tác giả Lê Hữu Nghĩa, Phạm Duy Hải: “Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học - công nghệ”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
Tập thể các tác giả đã tập trung phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận về bản chất và đặc điểm chủ yếu của tư duy nói chung và tư duy khoa học nói riêng trên lập trường, cơ sở của Chủ nghĩa Mác-Lênin, các quy luật của lôgic biện chứng, như: tư duy khoa học hướng vào việc nắm bắt những mối liên hệ khách quan có tính bản chất, phát hiện những tính quy luật chi phối quá trình phát triển, vận động, của sự vật hiện tượng, của thế giới khách quan Từ đó chỉ ra vai trò của tư duy khoa học trong giai đoạn mới của cách mạng khoa học công nghệ
- Trần Đình Thoả, “Một số vấn đề tư duy biện chứng mác xít” (Tạp chí Triết học số 2/2002)
Tác giả đã tiếp cận lịch sử hình thành, phát triển của tư duy biện chứng,
so sánh tư duy biện chứng với các hình thức tư duy khác để chỉ rõ sự khác biệt của tư duy biện chứng duy vật với các hình thức tư duy khác ở các đặc trưng cơ bản: tính khách quan; tính toàn diện; tính lịch sử; sự thống nhất giữa lịch sử và lôgíc; quá trình đi từ trừu tượng đến cụ thể Từ đó đi đến khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của tư duy biện chứng mác - xít trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người
- Lê Doãn Tá, Vũ Trọng Dung, Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003
Tài liệu được biên soạn trên cơ sở những bài giảng cho học viên các lớp cao cấp lý luận chính trị và cử nhân chính trị của Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh trong những năm gần đây theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ VI, VII, VIII, IX, X và XI của Đảng Cộng sản Việt Nam Nội dung giáo trình
Trang 14trình bày, phân tích, làm sáng tỏ những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật của Triết học Mác - Lênin nhằm cung cấp cho người đọc những kiến thức
- Nguyễn Mạnh Cương, “Về bản chất tư duy” (Tạp chí Triết học số 1/2004)
Tác giả đã phân tích, làm rõ nguồn gốc, bản chất, đặc điểm, lịch sử hình thành và phát triển tư duy biện chứng duy vật Tác giả đã phân tích sự phụ thuộc của tư duy vào hệ thống tri thức và hoạt động thực tiễn của mỗi chủ thể nhận thức Đặc biệt tác giả đã phân tích, chỉ ra mối quan hệ biện chứng,
sự khác nhau giữa tư duy chính xác và tư duy biện chứng duy vật trong quá trình nhận thức
- Trong cuốn sách: “Nửa thế kỷ nghiên cứu và giảng dạy Triết học ở Việt Nam” do Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên (HN,2004)
Tác giả Đinh Ngọc Thạch đã có bài viết: “Muốn phát triển hoàn thiện
tư duy lý luận cần đánh giá đúng tinh hoa tinh thần của các thời đại trước” Bài viết đã bàn đến đặc điểm tư duy, lối sống của con người Việt Nam Tác giả đã nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thời đại tư tưởng của Ph.Ăngghen khi cho rằng tư duy lý luận chỉ là một năng lực bẩm sinh của con người Năng lực ấy cần được phát triển, hoàn thiện và muốn hoàn thiện
nó thì cho đến nay không có cách nào khác là nghiên cứu toàn bộ Triết học thời trước
Trang 15- “Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay”, (Đồng chủ biên PGS.TS Tô Huy Rứa, GS.TS Hoàng Chí Bảo, PGS.TS Trần Khắc Viện, PGS.TS Lê Ngọc Tòng), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2006
Các tác giả đã tập trung giải quyết một số nội dung như:
- Phân tích bối cảnh xã hội, tình hình trong nước và quốc tế tác động tới quyết sách chiến lược “đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của Đảng
- Phân tích và đánh giá những thành tựu nổi bật trong đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ những nhận thức tổng quát về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đến những nhận thức lý luận mới trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Đảng Làm rõ giá trị và ý nghĩa của những thành tựu đó từ góc nhìn tư duy lý luận
- Phân tích những hạn chế, những vấn đề đặt ra, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm về đổi mới tư duy lý luận của Đảng
- Xác định những quan điểm, phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn trong tình hình mới của cách mạng nước ta làm cho lý luận phát huy được vai trò chỉ đạo hoạt động thực tiễn, nâng cao năng lực lãnh đạo
và củng cố vững chắc vị trí cầm quyền của Đảng, thực hiện thắng lợi mục tiêu đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
- “Vai trò của Triết học Mác-Lênin trong đổi mới tư duy lý luận ở Việt Nam hiện nay” (Lê Văn Quang, Tạp chí Triết học số 8 (183), 2006)
Trong bài viết, tác giả khẳng định rằng, trong hàng loạt nhân tố tạo nên
sự thành công của quá trình đổi mới tư duy lý luận ở Việt Nam, triết học Lênin có vai trò đặc biệt quan trọng Theo tác giả, trong điều kiện hiện nay, triết học Mác-Lênin vẫn giữ được tính khoa học và đúng đắn, vẫn giữ nguyên giá trị định hướng cho những người cách mạng; nó giúp cho Đảng Cộng sản
Trang 16Mác-và nhân dân Việt Nam nhận thức đúng các vấn đề của thời đại có liên quan chặt chẽ đến đổi mới tư duy lý luận; đồng thời, là cơ sở lý luận và phương pháp để tư duy đúng đắn về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả nhấn mạnh rằng, nắm vững các vấn đề cơ bản của triết học mác - xít và không ngừng hoàn thiện phương pháp tư duy có ý nghĩa vô cùng to lớn trong đổi mới nhận thức, đổi mới tư duy lý luận
- Cuốn: “Triết học và đổi mới” - Dương Phú Hiệp (Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2008)
Với tuyển tập các bài viết của mình, tác giả Dương Phú Hiệp đã nêu lên
sứ mệnh của các nhà triết học là phải góp phần vào đổi mới tư duy, tư tưởng trong sự nghiệp đổi mới hiện nay Tác giả đưa ra nguyên nhân của sự lạc hậu
về nhận thức và sự cần thiết phải quán triệt tư duy biện chứng duy vật, phải khắc phục lối tư duy kinh nghiệm, giáo điều, phải nâng lên tầm tư duy lý luận
- Tác giả Nguyễn Ngọc Hà (2011), “ Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu đổi mới
và hội nhập quốc tế” (Đề tài khoa học cấp Nhà nước)
Đề tài tập trung nghiên cứu, làm rõ các đặc điểm của tư duy và lối sống truyền thống của con người Việt Nam, sự biến đổi của tư duy và lối sống trong thời kỳ đổi mới (Bao gồm cả đặc điểm tích cực và đặc điểm tiêu cực), những điều kiện kinh tế-xã hội tác động đến tư duy và lối sống con người Việt Nam, những vấn đề đặt ra về tư duy và lối sống trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế; Đề xuất và phân tích các căn cứ lý lụân và thực tiễn của các phương hướng lớn và các giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục xây dựng tư duy và lối sống mới của con người Việt Nam hiện nay theo yêu cầu của đổi mới và hội nhập quốc tế
- “Hồ Chí Minh từ hoạt động thực tiễn đến tư duy lý luận” (Nguyễn Trọng Phúc, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2011)
Trang 17Giới thiệu khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh từ thời thơ
ấu đến tuổi thanh niên và quá trình tìm đường cứu nước, lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Làm rõ những cống hiến nổi bật của Hồ Chí Minh về tư duy lý luận gắn liền với cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
và cách mạng Việt Nam Tác giả phân tích, đánh giá, làm nổi bật những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soi sáng nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới, nhận thức rõ hơn về hình thức, bước đi của con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Tác giả khẳng định đổi mới ở Việt Nam một phần tư thế kỷ qua chính là nhận thức và vận dụng đúng đắn những luận điểm của V.I.Lênin về những đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, đặc biệt là quan niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh về lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam
* Đánh giá chung
Tất cả các công trình trên đã nghiên cứu được các vấn đề chung về tư duy, tư duy biện chứng, tư duy lý luận trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó làm rõ được một số điểm quan trọng:
Một là, khẳng định được tư duy là sản phẩm cao nhất của một dạng vật
chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não của con người, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, suy lý Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người
và phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật của thực tại Khẳng định nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ óc con người, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức Ở giai đoạn nhận thức bằng tư duy, sự vật được phản ánh một cách gián tiếp và khái quát trong các khái niệm (phạm trù), lý thuyết Sức mạnh trừu tượng hóa, khái quát hóa của tư duy được hướng vào việc nắm bắt những mối
Trang 18liên hệ khách quan có tính bản chất, phát hiện những tính quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật” [73, tr 350]; thấy được mối quan hệ giữa tư duy với nhận thức “tư duy không tách rời với nhận thức và nhận thức phải thông qua tư duy”; phân biệt được tư duy với nhận thức “tư duy không phải là toàn bộ nhận thức mà chỉ là giai đoạn cao, là cấp độ cao của nhận thức”
Hai là, từ việc tiếp cận lịch sử hình thành, phát triển của tư duy biện
chứng, so sánh tư duy biện chứng với các hình thức tư duy khác; phân loại tư duy, phân tích đặc trưng của tư duy kinh nghiệm, từ đó đi đến xác định khái niệm tư duy lý luận và phân tích làm rõ những đặc trưng cơ bản của tư duy lý luận đó là: tính khoa học; tính sáng tạo; biết xử dụng tự giác bộ công cụ của nhận thức lý tính, vận hành dưới hình thức các phương pháp, biện pháp cụ thể, dựa trên các căn cứ khoa học; gắn liền với thực tiễn, vừa chỉ đạo tực tiễn, vừa dựa trên thực tiễn để vận động
Ba là, khẳng định được vai trò của tư duy, tư duy lý luận, năng lực tư
duy lý luận đối với hoạt động của con người trong hoạt động thực tiễn, cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế
“Nhận thức cũng như lý luận không có mục đích tự thân Lĩnh hội và nắm vững học thuyết cũng không phải là cứu cánh Cái sâu xa, cốt yếu nhất là nắm vững lý luận để cải tạo thực tiễn, vì mục đích phát triển xã hội và hạnh phúc của con người” [68, tr 148]
Bốn là, các công trình nghiên cứu trên phân tích, đánh giá những thành
tựu nổi bật trong đổi mới tư duy lý luận của Đảng (từ những nhận thức tổng quát về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đến những nhận thức lý luận mới trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại); các tác giả đã tập trung phân
tích và chỉ rõ những hạn chế của tư duy lý luận của Đảng trong thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp đến nay “Việc đổi mới tư duy lý luận của Đảng những
Trang 19năm vừa qua vẫn còn chậm, vừa chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới vừa chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng, sâu sắc của thực tiễn đất nước và của thế giới trong thời đại ngày nay ” [68, tr 482]; từ việc đi sâu làm rõ bản chất của tư duy lý luận, vai trò của tư duy lý luận đối với sự nghiệp đổi mới, từ đó khẳng định việc đổi mới tư duy nói chung, đổi mới
tư duy lý luận nói riêng là một yêu cầu mang tính tất yếu trong quá trình phát triển của thời đại, trong thời kỳ đổi mới của đất nước “Đảng phải thường xuyên tự đổi mới chính mình để thúc đẩy đổi mới xã hội, mà trước hết là đổi mới tư duy lý luận để nâng cao trình độ và năng lực lý luận của Đảng cầm quyền” [68, tr 13]
Năm là, khẳng định triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có vai
trò đặc biệt quan trọng trong điều kiện hiện nay; triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ được tính khoa học và đúng đắn, vẫn giữ nguyên giá trị định hướng cho những người cách mạng; nó giúp cho Đảng Cộng sản
và nhân dân Việt Nam nhận thức đúng các vấn đề của thời đại có liên quan chặt chẽ đến đổi mới tư duy lý luận; đồng thời, là cơ sở lý luận và phương pháp để tư duy đúng đắn về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam Trên cơ sở đó, nhấn mạnh rằng, nắm vững các vấn đề cơ bản của triết học mác - xít và không ngừng hoàn thiện phương pháp tư duy có ý nghĩa vô cùng
to lớn trong đổi mới nhận thức, đổi mới tư duy lý luận “Nguyên tắc bất di, bất dịch trong sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung và đổi mới tư duy lý luận nói riêng ở nước ta là giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được xác định là nền tảng tư tưởng của Đảng, của dân tộc, là nguyên tắc và phương pháp luận của sự nghiệp đổi mới Các nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận trong học thuyết mác
- xít, trong hệ thống quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được các lãnh tụ của Đảng, các nhà khoa học, các nhà lý luận nhận thức lại và lựa chọn để vận dụng sáng tạo vào điều kiện mới” [59]
Trang 201.2 Đề tài nghiên cứu về người dân tộc thiểu số, cán bộ người dân tộc thiểu số
Có nhiều đề tài nghiên cứu về người dân tộc thiểu số và cán bộ người dân tộc thiểu số cả ở nước ngoài và ở trong nước, tuy nhiên chỉ xin điểm qua một số đề tài ở trong nước có liên quan đến Luận án
- Cuốn: “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” - Nguyễn Phú Trọng - Trần Xuân Sầm (Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2001)
Trong công trình này, các tác giả nêu lên những vấn đề lý luận, phương pháp luận, quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các tác giả khẳng định, sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có trí tuệ và bản lĩnh của đội ngũ cán bộ Để hướng tới một nền kinh tế phát triển, một xã hội dân chủ, văn minh và tích lũy được những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống thì việc đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ vừa có tài, vừa có đức, có bản lĩnh chính trị vững vàng rất cần thiết cho việc chấn hưng đất nước, cần được coi là một trong những nhân tố tích cực nhất
- “Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Bế Trường Thành, Phan Hữu Dật, Lê Ngọc Thắng, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2002)
Cuốn sách Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (TS Bế Trường Thành chỉ đạo biên soạn) trình bày những vấn đề lý luận, nhận thức về dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Những định hướng cơ bản trong việc quy hoạch dân cư, đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn Đồng thời kiến nghị những giải pháp giải quyết kịp thời những vấn đề cơ bản
Trang 21như: xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ, nâng cao dân trí, chăm sóc sức khỏe, kiện toàn hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, sớm ổn định và cải thiện đời sống đồng bào các dân tộc
- “Chính sách dân tộc trong chiến lược Đại đoàn kết toàn dân của Đảng ta” (TS Lê Ngọc Thắng, Tạp chí Cộng sản, số 14, 2002)
Tác giả đánh giá sự phát triển mọi mặt tại vùng các dân tộc thiểu số trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội Tuy có phát triển và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về nhiều mặt trong thời gian qua, song hiện nay khu vực miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn là nơi khó khăn và lạc hậu nhất của nước ta Khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi, nhất là so với khu vực thành thị, còn khá lớn Tác giả đã đưa ra một số giải pháp, chính sách về phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu
số và miền núi Trong đó nhấn mạnh giải pháp đầu tư cho nguồn nhân lực mới tạo ra yếu tố quyết định để có thể khắc phục được một cách cơ bản những thiếu hụt và bất cập về đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để đáp ứng sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn tới
- Luận án Tiến sĩ Triết học của Trịnh Quang Cảnh (2002): “Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới” (chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc)
Luận án đã khẳng định được vai trò của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số góp phần cùng trí thức cả nước trong thực hiện thắng lợi chính sách của Đảng, Nhà nước, địa phương phù hợp với dân tộc mình; lý giải các quan điểm của Đảng về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, làm rõ cơ sở khoa học của việc lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng của Đảng ta; góp phần hoạch định chủ trương phát triển kinh tế - xã
Trang 22hội vùng miền núi, vùng đông đồng bào các dân tộc thiểu số Luận án cũng chỉ ra được thực trạng (ưu điểm, hạn chế) của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số từ đó đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Luận cứ và giải pháp” - TS.Lê Phương Thảo, PGS.TS.Nguyễn Cúc và TS.Doãn Hùng đồng chủ biên, (Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2006)
Cuốn sách “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Luận cứ và giải pháp” của tập thể tác giả do TS Lê Phương Thảo, PGS TS.Nguyễn Cúc và TS Doãn Hùng đồng chủ biên được hình thành trên cơ sở chọn lọc các bài viết tham gia đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước đã tập trung luận giải các cơ sở lý luận và thực tiễn, đi sâu phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta những năm qua, đề xuất quan điểm, giải pháp đổi mới công tác cán bộ dân tộc thiểu số trong thời gian tới Các giải pháp đề xuất vừa tuân thủ những yêu cầu, nguyên tắc chung của công tác cán bộ, vừa tính toán đến những đặc thù của đối tượng cán bộ dân tộc thiểu số
- “Phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Qua thực tế tỉnh Điện Biên)” (Lường Thị Pó, Luận văn thạc sỹ Triết học, 2007)
Luận văn phân tích nguồn lực con người các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay; đánh giá thực trạng sử dụng và phát huy nguồn lực con người các dân tộc thiểu số ở nước ta, từ đó đề ra một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay nói chung, ở tỉnh Điện Biên hiện nay nói riêng
Trang 23- Luận án Tiến sĩ Triết học của Lê Quang Trung (2008): “Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nước ta hiện nay”
Trong Luận án của mình tác giả đã khẳng định, đội ngũ cán bộ vùng dân tộc thiểu số có vai trò vô cùng to lớn, là nhân tố có tính chất quyết định
để thực hiện sự bình đẳng, đoàn kết dân tộc, thực hiện sự tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển trong cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta Trong đội ngũ cán bộ vùng dân tộc thiểu số, tác giả đi sâu vào nghiên cứu đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở; khẳng định vai trò vị trí của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là đội ngũ cán bộ trực tiếp đưa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng vào trong đời sống đồng bào các dân tộc, biến những chủ trương chính sách của Đảng thành hiện thực sinh động Đây cũng là đội ngũ cán bộ trực tiếp giải quyết mối quan hệ trong nội bộ nhân dân, đóng vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số
Tác giả cũng chỉ ra một số vấn đề đang đặt ra đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng dân tộc thiểu số như: Sự bất cập, sự hạn chế về năng lực tư duy, năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ; những hạn chế trong cơ chế chính sách; việc nhận thức về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ của cơ sở, cũng như phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ này trong điều kiện hiện nay ở một số cấp còn phiến diện Không thấy được quá trình phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng dân tộc thiểu số không chỉ quy định bởi trình độ văn hóa, năng lực tư duy, trình độ chuyên môn, mà còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác như tâm lý tộc người, phong tục tập quán, nếp sống, tâm lý cư dân địa phương… và đặc biệt là sự chi phối, quy định của hoàn cảnh kinh tế - xã hội, điều kiện sống của đội ngũ cán bộ…
- Cuốn sách “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” - Lô Quốc Toản, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010
Trang 24Cuốn sách Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay của Tiến sĩ Lô Quốc Toản là một nghiên cứu mang tính lý luận và thực tiễn về vấn đề dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc, chính sách phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số Để phát huy được nội lực của đồng bào các dân tộc thiểu số, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc ở các tỉnh miền núi phía Bắc cần xây dựng được một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vững mạnh về năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị, trình độ tư duy lý luận Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và thực trạng cán bộ người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc ở nước ta hiện nay, tác giả đã nêu phương hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn cán bộ này một cách vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ
- “Vấn đề phát huy nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay” (Trương Thị Thu Hà, Luận văn thạc sỹ Triết học, 2010)
Tác giả đã khẳng định vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số trong cả nước nói chung, ở Tuyên Quang nói riêng vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhưng đây là vùng giàu tiềm năng kinh tế, có vị trí quan trọng về chính trị, văn hoá và có nguồn nhân lực dồi dào, con người cần cù, chịu khó, thông minh và sáng tạo, rất cần sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Tác giả đã chỉ ra thực trạng nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang, đồng thời đưa ra những giải pháp để phát huy nguồn nhân lực của tỉnh Tuyên Quang hiện nay
* Đánh giá chung
Các công trình nghiên cứu trên giúp tác giả Luận án nắm được những vấn đề lý luận về công tác dân tộc của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối của Đảng, Chính sách của Nhà nước; thực trạng đời sống kinh tế - xã hội vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; thực
Trang 25trạng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, giúp tác giả Luận án có cơ sở lý luận để thực hiện tốt nhiệm vụ đề tài nghiên cứu đưa ra Cụ thể:
Một là, các công trình nghiên cứu đều khẳng định vùng đồng bào các
dân tộc thiểu số có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước Hiện nay vùng đồng bào các dân tộc thiểu
số sinh sống là vùng còn nhiều lạc hậu, khó khăn nhất trong cả nước, cần được quan tâm, tạo điều kiện phát triển hơn cả nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa các vùng miền, đảm bảo cho đất nước phát triển toàn diện “Tuy có phát triển và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về nhiều mặt trong thời gian qua, song hiện nay khu vực miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn là nơi khó khăn và lạc hậu nhất của nước ta Khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi, nhất là so với khu vực thành thị, còn khá lớn và có xu hướng ngày càng doãng ra Vì vậy, muốn thu hẹp khoảng cách này, chúng ta cần tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ một số chính sách cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi” [94]
Hai là, đã khẳng định, đội ngũ cán bộ vùng dân tộc thiểu số có vai trò
vô cùng to lớn, là nhân tố có tính chất quyết định để thực hiện sự bình đẳng, đoàn kết dân tộc, thực hiện sự tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển trong cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam “Cán bộ dân tộc thiểu số là một bộ phận trong đội ngũ cán bộ cả nước, có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn cách mạng hiện nay Bởi vì phần lớn đội ngũ này hoạt động ở vùng miền núi, dân tộc thiểu số, nơi có tiềm năng to lớn cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ” [92, tr 264]
Chính vì thế để phát huy được nội lực của đồng bào các dân tộc thiểu
số, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở các tỉnh miền núi cần xây dựng được một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vững mạnh về năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị, có trình độ tư duy lý
Trang 26luận “Cái mà miền núi và đồng bào các dân tộc cần ở đây, như đồng bào thường nói, không phải là “xâu cá” mà là “cần câu”, tức là cơ chế, đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp, là phương thức làm ăn, là đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý vừa có cái “tâm” hết lòng vì đồng bào, hiểu đồng bào, được đồng bào tin yêu, vừa có cái “tầm” tức là tầm nhìn, trí tuệ, năng lực, dám nghĩ, dám làm, biết cách “cầm tay chỉ việc, biết đưa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào” [92, tr 257-258]
Ba là, trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về công tác cán bộ, các quan điểm, đường lối của Đảng, Chính sách của Nhà nước đối với công tác dân tộc chỉ ra những giải pháp trọng yếu nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống; trong đó đặc biệt chú ý đến các giải pháp, chính sách đối với cán bộ là người dân tộc thiểu số vì đây chính là đội ngũ cán bộ trực tiếp giải quyết mối quan hệ trong nội bộ nhân dân, đóng vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số “Nhà nước cần nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện
hệ thống chính sách ưu tiên, đãi ngộ đối với cán bộ người dân tộc thiểu số cũng như những cán bộ địa phương khác đã và đang công tác, phục vụ lâu dài tại miền núi như giải quyết thỏa đáng chế độ tiền lương, phụ cấp, động viên, khen thưởng, kịp thời quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của bản thân và gia đình họ” [92, tr 261]
1.3 Đề tài nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ, đảng viên
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực tư duy lý luận gắn với các đối tượng cụ thể là cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên, lực lượng vũ trang, cán bộ quản lý các cấp… sau đây là một số công trình tiêu biểu
Trang 27- Hồ Bá Thâm, “Nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay” (Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1994)
Tác giả tập trung phân tích làm rõ khái niệm năng lực tư duy, vai trò của năng lực tư duy đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã và mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và chủ quan của chủ thể tư duy Trên cơ sở phân tích thực trạng và những yếu kém về năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực tư duy của họ
- Nguyễn Đình Trãi, “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng viên lý luận Mác-Lênin ở các trường chính trị tỉnh” (Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001)
Tác giả đã tập trung phân tích tính tất yếu và sự cần thiết phải nâng cao
năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ giảng viên lý luận Mác - Lênin ở các trường chính trị tỉnh; phân tích và làm sáng tỏ đặc thù để đi vào nghiên cứu thực trạng tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ này Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ giảng viên lý luận Mác-Lênin ở trường chính trị tỉnh
- Nguyễn Thị Bích Thủy, “Vai trò của tư duy biện chứng đối với cán bộ lãnh đạo kinh tế trong quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay” (Luận án Tiến
sỹ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001)
Luận án phân tích bản chất và đặc điểm tư duy biện chứng, vai trò của
tư duy biện chứng đối với cán bộ lãnh đạo kinh tế ở nước ta là vô cùng quan trọng; vai trò của tư duy biện chứng không chỉ thể hiện một cách tổng quát ở
sự hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp nhận thức đúng đắn ở họ, mà cụ thể hơn như ra chủ trương, đường lối, quyết định, tổ chức thực hiện quyết định, phát hiện và giải quyết các mối quan hệ trong quá trình lãnh đạo kinh tế, kiểm tra, tổng kết, rút kinh nghiệm…
Trang 28- “Phát triển năng lực tư duy của người cán bộ lãnh đạo hiện nay” (Hồ
Bá Thâm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002)
Từ việc phân tích luận giải vấn đề phát triển năng lực tư duy của người cán bộ lãnh đạo qua việc nghiên cứu tư duy dưới góc độ triết học và cả ở góc
độ khoa học quản lý Tác giả xem xét một cách hệ thống bản chất, nội dung của năng lực tư duy, phong cách tư duy, đồng thời kiến nghị một số giải pháp định hướng phát triển năng lực, tư duy của người cán bộ lãnh đạo trong công
cuộc đổi mới tư duy, phát triển trí tuệ hiện nay
- Trần Thành (chủ nhiệm): Đề tài nghiên cứu cấp bộ “Tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh hiện nay - thực trạng và giải pháp”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002
Đề tài đã luận giải các vấn đề của tư duy lý luận dưới góc độ chung như bản chất, đặc điểm, vai trò của tư duy lý luận trong sự phát triển của đất nước
ta hiện nay, nhấn mạnh tư duy lý luận đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh như “chìa khóa” mở ra cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của họ Có tư duy lý luận, họ nắm được thực chất đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, có khả năng phân tích, luận giải để nắm được tinh thần của đường lối đó Có năng lực tư duy lý luận, người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh có đủ năng lực phân tích sự phong phú, tính đa dạng và phức tạp của thực tiễn cuộc sống đời thường để từ đó vận dụng lý luận một cách chủ động, thích hợp, sáng tạo, hiệu quả Các tác giả còn cho rằng, tư duy biện chứng duy vật là hình thức phát triển cao nhất của lịch sử phát triển tư duy lý luận Tư duy biện chứng duy vật có các đặc điểm như tính trừu tượng hóa, khái quát hóa cao, tính khoa học, tính gợi mở, sáng tạo, tính phê phán sâu sắc Do đó, phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở nước ta hiện nay là một trong những nhiệm vụ quan trọng để nâng cao trình độ tư duy biện chứng duy vật cho đội ngũ này, từ đó
Trang 29góp phần đưa công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đi đến thành công
- Trần Thành, “Tư duy lý luận với hoạt động của người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn” (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003)
Tác giả tập trung phân tích hệ thống bản chất và kết cấu của tư duy lý luận, vai trò của tư duy lý luận đối với hoạt động của người cán bộ Tác giả chỉ ra rằng năng lực tư duy lý luận là nhân tố không thể thiếu, có tầm quan trọng đặc biệt, vừa là yếu tố cấu thành vừa là nhân tố thúc đẩy sự hình thành
và phát triển năng lực ở người cán bộ lãnh đạo chủ chốt Tư duy lý luận là tư duy biện chứng (biết suy nghĩ, xem xét các vấn đề, sự kiện, quan hệ, tình huống một cách khoa học) Tư duy lý luận được thể hiện ở năng lực suy nghĩ, khả năng phân tích, tổng hợp và khái quát từ những hiện tượng sinh động, đa dạng của đời sống thực tiễn, từ kinh nghiệm muôn vẻ của hoạt động hàng ngày tích lũy và khái quát thành lý luận Năng lực tư duy lý luận của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt có giá trị định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của họ Chất liệu trực tiếp tạo nên năng lực đó là những tri thức lý luận tiếp thu từ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và từ sự trải nghiệm trong hoạt động thực tiễn của chính người cán bộ Nội dung của năng lực ấy thể hiện trước hết ở năng lực phản ánh những vấn đề bản chất, tìm ra mâu thuẫn, phát hiện những cái mới; ở khả năng tư duy khoa học trong sử dụng các hình thức và phương pháp tư duy để hình thành tri thức mới làm cơ sở cho việc giải quyết những vấn đề thực tiễn nảy sinh ở địa phương
- Dương Minh Đức, “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay” (Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2006)
Trang 30Tác giả đã đưa ra định nghĩa năng lực tư duy lý luận và sự cần thiết
phải nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay; qua nghiên cứu, khảo sát thực trạng năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng hiện nay tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao hơn nữa năng lực tư duy
lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh
- Luận văn Thạc sĩ Triết học của Trần Thiên Tú (2006): “Vấn đề nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở Bắc Trung
Bộ - qua thực tế tỉnh Quảng Trị”
Tác giả Luận văn khẳng định tư duy lý luận là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu của người cán bộ lãnh đạo quản lý, việc nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng, vừa mang tính thời sự, vừa mang tính chiến lược Bởi lẽ, năng lực tư duy lý luận là cơ sở quan trọng để hoạch định đường lối, chủ trương; là
cơ sở để chỉ đạo hoạt động thực tiễn
Tác giả đã trình bày được các khái niệm cơ bản “tư duy”, “tư duy lý luận”, “năng lực tư duy lý luận”; chỉ ra được vai trò của năng lực tư duy lý luận đối với hoạt động của cán bộ chủ chốt cấp tỉnh Từ việc đánh giá thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở Bắc Trung Bộ (qua thực tế tỉnh Quảng trị) từ đó đưa ra giải pháp cơ bản nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh
ở Bắc Trung Bộ
- Vũ Văn Viên, “Nâng cao năng lực tư duy khoa học cho đội ngũ cán
bộ lãnh đạo - một yếu tố quan trong để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng” (Tạp chí Triết học, số 12/2007)
Tác giả khẳng định nâng cao năng lực tư duy khoa học cho đội ngũ cán
bộ lãnh đạo là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng
Trang 31Trên cơ sở đó làm rõ khái niệm năng lực tư duy khoa học, vai trò của nó đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo cũng như các bộ phận hợp thành nó, tác giả nhấn mạnh một số biện pháp cơ bản để nâng cao năng lực tư duy khoa học của đội ngũ cán bộ lãnh đạo
- Nguyễn Đức Quyền, “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở tỉnh Lạng Sơn” (Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010)
Tác giả đã đi sâu phân tích tầm quan trọng của tư duy lý luận đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và đánh giá thực trạng tư duy lý luận của đội ngũ này; phân tích và làm sáng tỏ nguyên nhân hạn chế và những yếu tố ảnh hưởng tới năng lực tư duy của họ Trên cơ sở đó, tác giả đề ra các giải pháp nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo quản lý cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay
* Đánh giá chung
Đây là những công trình nghiên cứu tương đối gần với đề tài nghiên cứu của Luận án, giúp cho tác giả Luận án nắm được phương pháp luận trong nghiên cứu, mổ xẻ, phân tích vấn đề để làm rõ được vấn đề cần nghiên cứu và thực hiện được mục đích nghiên cứu Cụ thể trên các phương diện sau:
Một là, vấn đề nâng cao năng lực tư duy lý luận của các chủ thể, đối
tượng cụ thể là người cán bộ, đảng viên, giảng viên, người cán bộ quản lý các cấp công tác trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Hai là, đánh giá thực trạng năng lực tư duy lý luận của các đối tượng
cụ thể (cán bộ, đảng viên, giảng viên) gắn với từng lĩnh vực công tác, đặc thù vùng miền của các đối tượng, từ đó đề xuất một số giải để nâng cao năng lực
tư duy lý luận cho các đối tượng đó
Ba là, việc đề xuất một số quan điểm cũng như giải pháp nâng cao năng
lực tư duy lý luận phải trên cơ sở gắn với đối tượng cụ thể, điều kiện cụ thể, cũng như với các yếu tố đặc thù khác của từng địa phương, đơn vị
Trang 321.4 Một số vấn đề cần tiếp tục giải quyết trong luận án
Có thể nhận định, nghiên cứu về tư duy nói chung và tư duy lý luận nói riêng không phải là một nội dung mới Qua việc tiếp cận với các nghiên cứu
đã được lược khảo trên tôi thấy rằng các công trình nghiên cứu trên tạo thành một bức tranh sinh động, phong phú về mảng nghiên cứu tư duy lý luận Các công trình nghiên cứu đã giúp tôi có tiếp cận các tri thức chung về tư duy, tư duy lý luận, năng lực tư duy lý luận; các vấn đề thực tiễn của các địa phương trong cả nước; những vấn đề về dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước; Đặc biệt hơn là phương pháp trong việc đánh giá, nhìn nhận vấn đề, đóng vai trò tiền đề, là phương pháp luận để tôi thực hiện đề tài của mình Tuy nhiên tôi thấy rằng, các công trình nghiên cứu trên và công trình nghiên cứu của chúng tôi có những điểm khác biệt cần có hướng nghiên cứu mới
Một là, Luận án sẽ khái quát và bổ sung rõ thêm vấn đề tư duy, tư duy
lý luận trong mối quan hệ với vấn đề nhận thức luận
Hai là, Luận án làm rõ hơn khái niệm “năng lực tư duy lý luận” và
quan trọng nhất là phải giải quyết được “thực chất của việc nâng cao năng lực
tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay” là gì
Ba là, Trên cơ sở thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ
người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang, luận án đưa ra một số quan điểm
và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán
bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay sát với những điều kiện cụ thể về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Tuyên Quang
Trang 33Kết luận chương 1
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài có thể thấy hầu hết các công trình trên đã nghiên cứu được các vấn đề chung về tư duy, tư duy biện chứng, tư duy lý luận trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; khẳng định được vai trò của tư duy, tư duy lý luận, năng lực tư duy lý luận đối với hoạt động của con người trong hoạt động thực tiễn, cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế; khẳng định vùng đồng bào các dân tộc thiểu số có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước; khẳng định đội ngũ cán bộ vùng dân tộc thiểu số có vai trò vô cùng to lớn, là nhân tố có tính chất quyết định để thực hiện sự bình đẳng, đoàn kết dân tộc, thực hiện sự tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển trong cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam…
Việc đổi mới tư duy lý luận gắn với việc nâng cao năng lực tư duy lý luận của các chủ thể, đối tượng cụ thể là người cán bộ, đảng viên, giảng viên, người cán bộ quản lý các cấp công tác trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Chính vì vậy, việc đánh giá thực trạng năng lực tư duy lý luận của các đối tượng cụ thể phải gắn với từng lĩnh vực công tác, đặc thù vùng miền của các đối tượng cụ thể là một việc rất quan trọng, từ đó đề xuất một số giải pháp thiết thực để nâng cao năng lực tư duy lý luận cho các đối tượng đó Những công trình nghiên cứu được khảo lược là những công trình nghiên cứu gần với đề tài nghiên cứu của Luận án nhất, giúp cho tác giả Luận
án nắm được phương pháp luận trong nghiên cứu, mổ xẻ, phân tích vấn đề để làm rõ được vấn đề cần nghiên cứu và thực hiện được mục đích nghiên cứu
Trang 34Chương 2 NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN VÀ VAI TRÒ VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Tư duy lý luận và năng lực tư duy lý luận
2.1.1 Tư duy lý luận
* Tư duy
Tư duy con người luôn là một trong những vấn đề lớn của triết học Nhưng tư duy là gì thì cho đến nay, vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau
Để hiểu khái niệm tư duy, một mặt chúng ta phân biệt nó với “ý thức”
và “nhận thức” vì chúng là những khái niệm có mối liên hệ mật thiết, thống nhất hữu cơ với nhau Mặt khác, chúng ta nghiên cứu tư duy như một phạm trù có tính lịch sử
Theo C.Mác, ý thức chỉ là vật chất được di chuyển vào trong bộ óc người và được cải biến đi ở trong đó [42, tr 35] Còn V.I.Lênin thì cho rằng ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan [37, tr 138] Nói ý thức là hình ảnh chủ quan là theo nghĩa sự phản ánh thế giới bởi bộ óc người gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có lựa chọn, nhằm tạo ra những hình ảnh sâu sắc và nhiều mặt về thế giới khách quan Tuy
là hình ảnh chủ quan nhưng ý thức lại lấy thế giới khách quan (các sự vật, hiện tượng, quá trình ) làm tiền đề, bị chế định bởi “cái khách quan” và có nội dung phản ánh là “cái khách quan” ấy Tuy nhiên, không phải chỉ cần thế giới xung quanh tác động lên bộ óc con người là mặc nhiên sẽ sinh ra ý thức Bởi vì, ý thức còn là một hiện tượng xã hội, “ ngay từ đầu ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại” [44, tr 43] Sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người, chịu sự chi phối không chỉ của các quy luật sinh học mà chủ yếu của
Trang 35các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người quy định Ý thức có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí Trong đó, tri thức là thành tố quan trọng nhất Quá trình hình thành và phát triển ý thức cũng chính là quá trình con người tìm hiểu, tích lũy tri thức về thế giới xung quanh Hiểu biết về
sự vật càng nhiều thì ý thức của con người về sự vật đó càng sâu sắc Ý thức
là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, cho nên hình ảnh chủ quan về
sự vật, hiện tượng không chỉ phụ thuộc vào sự vật, hiện tượng được phản ánh,
mà còn phụ thuộc vào năng lực, mục đích của chủ thể phản ánh
Như vậy, ý thức là hình thức phản ánh riêng có ở con người, khác về chất so với phản ánh tâm lý ở động vật Ý thức là toàn bộ các quá trình tâm lý tích cực tham gia vào sự hiểu biết của con người đối với thế giới khách quan
Nhận thức - theo lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng -
là quá trình phản ánh tích cực và sáng tạo hiện thực khách quan bởi con người, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan, trên cơ sở của thực tiễn lịch sử - xã hội Nhận thức cũng là sự phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ óc của con người Nhưng sự phản ánh
đó không phải là một hành động nhất thời, máy móc giản đơn, thụ động mà là một quá trình phức tạp của hàng loạt hoạt động trí tuệ tích cực và sáng tạo Bởi vì, “ con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn cải tạo thế giới khách quan” [38, tr 228] Con người cải tạo thế giới khách quan bằng hoạt động thực tiễn và chính trong quá trình biến đổi thế giới ấy, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, phát triển năng lực trí tuệ - năng lực đặc trưng và bản chất của con người
Nhận thức, tuy cũng là sự phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ óc con người nhưng khác với ý thức và hoàn toàn khác với hành vi phản ánh ở động vật về chất
Trang 36Nhận thức của con người là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách tích cực và sáng tạo là nhờ có hoạt động thực tiễn
Theo V.I.Lênin, nhận thức là một quá trình “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [38, tr 179] Nhận thức là một quá trình biện chứng, quá trình ấy bao gồm hai giai đoạn là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Tuy khác nhau về chất nhưng nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có sự thống nhất hữu cơ, tác động biện chứng với nhau Chúng bổ sung, hỗ trợ cho nhau, đem lại cho con người những hiểu biết ngày càng đầy đủ hơn, toàn diện hơn và sâu sắc hơn về các sự vật, hiện tượng, quá trình diễn ra trong thế giới
Tóm lại, nhận thức là quá trình phản ánh và tái tạo lại hiện thực trong đầu óc của con người, được quyết định bởi những quy luật phát triển xã hội
và gắn liền với hoạt động thực tiễn [106, tr 407]
Theo triết học, tư duy không phải là hệ ý thức mà là hình thức cao của
sự phản ánh tích cực thực tại khách quan của con người, đó là hoạt động phản ánh ở giai đoạn cao nhất của nhận thức Nếu chỉ bằng cảm giác, tri giác thì nhận thức của con người rất hạn chế, bởi vì con người không thể bằng cảm giác mà nhận thức, mà hiểu được những vấn đề mang tính bản chất của sự vật hiện tượng như: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, hố đen, cấu tạo tế bào sống, vận tốc ánh sáng, âm thanh hay những hiện tượng xã hội phức tạp khác Muốn hiểu được những vấn đề đó không thể có gì thay thế ngoài việc
sử dụng sức mạnh của tư duy
Vậy tư duy khác gì với nhận thức?
Tư duy là chức năng đặc biệt riêng có của bộ não con người, chỉ có ở con người Đó chính là quá trình ý thức của con người tiếp cận và nắm bắt được bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Tư
Trang 37duy là dạng hoạt động tri thức diễn ra bên trong ý thức của con người có nguồn gốc từ thực tiễn Tư duy với tính cách là thuộc tính không thể thiếu được của hoạt động chủ quan của con người được thể hiện rõ nhất, tập trung nhất trong hoạt động sáng tạo và trong việc tiên đoán các sự kiện, hiện tượng của thế giới Nó cũng được xuất hiện và hiện thực hóa trong quá trình đặt ra những vấn đề của lý luận và thực tiễn của con người
Tư duy là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan bên trong bộ óc con người Đó là quá trình năng động, sáng tạo, nó có thể phản ánh được những mối liên hệ bản chất, tất nhiên bên trong của sự vật, đem lại cho quá trình nhận thức những tri thức mới về tính quy luật chi phối sự vận động và phát triển của sự vật
Tư duy phải gắn liền với ngôn ngữ, ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy, tư duy phải được biểu đạt thành ngôn ngữ, nhờ đó mà con người có thể sáng tạo ra những khái niệm và những phạm trù khoa học, nêu lên những quy luật của các khoa học và do đó hiểu sâu sắc hơn bản chất của các sự vật; nếu không có ngôn ngữ sẽ không có phương tiện để lưu giữ, kế thừa và phát triển
tư duy, tư tưởng của loài người
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng, tư duy là sản vật của bản nguyên siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất, đó là “ý niệm tuyệt đối’, “ý niệm siêu nhiên” song, sự phát triển của khoa học đã bác bỏ những quan điểm đó và
đã chứng minh được rằng tư duy là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người Hoạt động của bộ óc người phản ánh hiện thực khách quan bằng các hình thức khái niệm, phán đoán, suy lý thông qua các phương pháp như so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa
Như vậy, xét về thực chất, tư duy là sự hoạt động đặc biệt của quá trình con người phản ánh thế giới, là quá trình phản ánh dựa trên sự hoạt động của bộ não nhằm nhận thức bản chất, quy luật vận động của thực tại khách
Trang 38quan và định hướng quan hệ đối với thực tại khách quan đó Những hình ảnh của sự vật trong thế giới được tư duy chắt lọc loại bỏ những mặt, những yếu
tố bề ngoài ngẫu nhiên, trên cơ sở sáng tạo mà tìm ra những mặt cơ bản, tất yếu, những quan hệ bản chất, bền vững Từ đó hình thành nên những khái niệm, phạm trù tương ứng với các mặt, các quan hệ tất yếu của chúng; dựa vào đó mà xây dựng nên hình ảnh mới, những quy luật khái quát xu hướng vận động và phát triển của các sự vật Với ý nghĩa đó, tư duy chỉ có ở con người và là trình độ cao nhất của nhận thức con người trong quá trình phản ánh thế giới khách quan Nhưng đó không phải là sự phản ánh thụ động, phụ thuộc mà con người chủ động tác động và phản ánh chủ động, sáng tạo thế giới hiện thực khách quan
Để có thể tác động, biến đổi hiện thực, trước tiên con người phải tìm cách nhận thức và hiểu biết về nó Hoạt động tác động, biến đổi hiện thực lại
là cơ sở cho nhận thức, tư duy mang tính sáng tạo và phát triển không ngừng Bởi vì, xuất phát từ hoạt động làm biến đổi hiện thực đó mà các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực bộc lộ các thuộc tính, tính chất, quy luật Trên cơ sở đó con người mới hiểu biết về sự vật, hiện tượng Đây là quá trình không có giới hạn cuối cùng của hoạt động nhận thức của con người Hơn nữa, hoạt động của tư duy còn là hoạt động vận dụng, sử dụng, kết hợp các khái niệm để sáng tạo ra các khái niệm mới, phản ánh các quan
hệ tất yếu, các quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan Đồng thời, hoạt động của tư duy cũng là quá trình vận dụng tri thức thu được vào hoạt động thực tiễn của con người, làm cho hoạt động đó phát triển, từ đó
mà tư duy lý luận cũng không ngừng phát triển Chính vì thế, cả nội dung và hình thức của tư duy đều phụ thuộc vào thực tiễn lịch sử - xã hội Lịch sử không phải bắt đầu từ tư duy mà là từ hoạt động thực tiễn của con người Trong đó, hoạt động lao động sản xuất của cải vật chất tạo ra nền tảng cho
sự tồn tại và phát triển của xã hội là hoạt động cơ bản nhất Hoạt động này
Trang 39càng phát triển thì tư duy, trí tuệ của con người cũng càng phát triển theo Ăngghen đã nhận định rằng: “Trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên” [43, tr 720]
Như vậy, thông qua hoạt động thực tiễn của mình, con người đã chủ động nhận thức và cải tạo thế giới khách quan Tư duy của con người là do hiện thực khách quan quy định; nhưng chính hoạt động thực tiễn của con người lại là cơ sở, động lực cơ bản cho sự xuất hiện và phát triển của tư duy, thực tiễn cũng là tiêu chuẩn để kiểm tra, điều chỉnh quá trình tư duy, xác nhận cho tính đúng đắn của tư duy, loại bỏ những sai lầm, tạo sự phát triển liên tục của tư duy con người
Tóm lại, ta có thể nêu ra một số đặc trưng cơ bản của tư duy như sau:
Tư duy của con người luôn mang tính sáng tạo, hoạt động của tư duy luôn vươn tới những nhận thức mới thông qua hoạt động thực tiễn và nhận thức Hoạt động thực tiễn là cơ sở, động lực của tư duy Do vậy, khi hoạt động thực tiễn còn ở một trình độ thấp thì ứng với nó là cấp độ tư duy ở trình
độ thấp Khi hoạt động thực tiễn đạt đến trình độ cao hơn thì phương pháp tư duy, trình độ tư duy cũng được nâng lên
Như vậy, tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức nảy sinh trên
cơ sở nhận thức cảm tính Đó là trình độ phản ánh khái quát hóa, trừu tượng hóa, mang tính tích cực sáng tạo, hướng sâu vào nhận thức bản chất, quy luật vận động và phát triển của thế giới khách quan
Tư duy là quá trình suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng kết hợp các khái niệm, phạm trù theo các nguyên tắc, quy luật lôgíc hình thức và lôgíc biện chứng nhằm đạt đến chân lý
Tư duy là quá trình sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần, là sự tìm tòi đề xuất những nhận thức mới và không ngừng bổ sung phát triển các nhận thức đó trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người
Trang 40Ở trình độ tư duy, sự vật được phản ánh khái quát trong các hình thức khái niệm, phán đoán, suy lý Tư duy luôn gắn liền với ngôn ngữ, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, tư duy phải được diễn đạt thành ngôn ngữ bởi vì đó
là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, là phương tiện để diễn đạt kết quả của sự nhận thức, để lưu giữ và tiếp tục phát triển kết quả của nhận thức đó
Tư duy xuất hiện, biến đổi và phát triển trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người Thực tiễn là cơ sở, động lực và là tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng, sai của tư duy Mục đích của tư duy hướng tới là để phục vụ cho thực tiễn; chính quá trình tư duy sẽ tìm ra những biện pháp, cách thức để hiện thực hóa mình thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Tư duy là sản phẩm của lịch sử Trong những thời đại khác nhau, với những điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, khoa học khác nhau, thì trình độ của tư duy xét cả về nội dung và hình thức cũng ở mức cao, thấp khác nhau
Tư duy của con người không phải là bất biến mà nó cũng có quá trình biến đổi và phát triển ngày càng đạt được trình độ cao hơn Khi xem xét tư duy như một quá trình, một bản tính phát triển chung của con người thực tiễn
xã hội, tư duy thể hiện ra khuynh hướng phát triển tất yếu của nó Tư duy con người theo Ph.Ăngghen vừa tối cao vừa không tối cao Xét theo sự thực hiện
cá biệt - chủ thể cụ thể của tư duy thì nó không tối cao và có hạn Xét theo bản tính và khả năng thì tư duy của con người là tối cao và vô hạn V.I.Lênin khi đề cập về khả năng nhận thức của con người đã cho rằng, chỉ có những cái con người chưa biết chứ không có những cái mà con người không thể biết
Từ những điều trình bày trên đây, chúng ta thấy: ý thức, nhận thức, tư duy là những khái niệm có sự thống nhất hữu cơ với nhau; chúng đều là sự phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ óc người, cùng bị chi phối bởi những quy luật sinh học và xã hội trong đó các quy luật xã hội giữ vai trò quyết định Nhưng chúng không phải là những khái niệm đồng nhất