LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành niên luận này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô Th.S Trịnh Thu Hòa, đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình viết niên luận. Tôi chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Văn Xã hội, Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thiện bài niên luận này. Do là bài nghiên cứu đầu tiên nên khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của thầy cô để bài niên luận được hoàn thiện hơn. Thái Nguyên, tháng 4, năm 2016 Sinh viên TRẦN THANH TÚ ANH MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp con người sử dụng để liên lạc hay giao tiếp với nhau cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả năng sử dụng 1 hệ thống như vậy. Hay có thể nói một cách khác, ngôn ngữ là một trong những phương tiện quan trọng giúp con người có thể giao tiếp, trao đổi thông tin, tình cảm một cách hiệu quả, cũng như là công cụ lưu giữ văn hóa, kinh nghiệm sống của dân tộc. Sự phát triển của đời sống cũng như nhận thức trong tư duy của con người ngày càng được nâng cao, kéo theo đó là sự xuất hiện những đơn vị từ, hay ngữ mới mẻ, làm cho vấn đề ngôn ngữ ngày càng được quan tâm hơn và trở nên thu hút đối với giới nghiên cứu khoa học. Vốn từ vựng của Tiếng Việt được sử dụng rất nhiều trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và trong cả các sáng tác văn chương, đặc biệt là các ngữ cố định, trong đó có quán ngữ. Chính vì vậy, việc trau dồi kiến thức về sử dụng quán ngữ đã trở thành vấn đề cần được chú trọng trong nhu cầu giao tiếp tự nhiên của mỗi con người, giúp con người biết cách sử dụng ngôn ngữ phù hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp hơn, thêm yêu ngôn ngữ mẹ đẻ của mình hơn. Có thể nói quán ngữ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống từ vựng Tiếng Việt. Quán ngữ là một đơn vị của ngữ cố định, nó không giữ vai trò làm thành phần nòng cốt trong câu mà chỉ có chức năng liên kết, chuyển ý, rào đón, đưa đẩy song lại mang tính chất dân tộc sâu sắc và gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân. Việc sử dụng quán ngữ không chỉ được thấy ở quá trình giao tiếp ngoài xã hội mà trong sáng tác văn chương, quán ngữ cũng được rất nhiều nhà văn, nhà thơ ưa chuộng sử dụng và còn dùng để tạo một phong cách nghệ thuật riêng của mình. Có thể nói quán ngữ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống từ vựng Tiếng Việt. Quán ngữ là một đơn vị của ngữ cố định, nó không giữ vai trò làm thành phần nòng cốt trong câu mà chỉ có chức năng liên kết, chuyển ý, rào đón, đưa đẩy song lại mang tính chất dân tộc sâu sắc và gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân. Việc sử dụng quán ngữ không chỉ được thấy ở quá trình giao tiếp ngoài xã hội mà trong sáng tác văn chương, quán ngữ cũng được rất nhiều nhà văn, nhà thơ ưa chuộng sử dụng và còn dùng làm nên phong cách nghệ thuật riêng của mình. Nguyễn Công Hoan là nhà văn tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán của Việt Nam trước Cách mạng. Ông để lại cho chúng ta nhiều tác phẩm có giá trị: hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học… Nguyễn Công Hoan sáng tác khá nhiều thể loại song truyện ngắn của ông là đặc sắc hơn cả, vị trí vẻ vang trong văn học sử của ông thực sự được khẳng định trong thể loại này. Nhưng về tiểu thuyết ông cũng có khẳng định được phần nào trong đó, phải kể đến là tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” là một trong những tiểu thuyết gắn liền với tên tuổi của ông. Như vậy để có thể hiểu sâu hơn về việc sử dụng quán ngữ trong sáng tác văn chương, đặc biệt là trong truyện dài của ông, cũng như nghiên cứu về sự biểu hiện nổi trội trong phong cách tác giả. Nhận thức được điều đó chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Khảo sát về việc sử dụng quán ngữ trong tiểu thuyết Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan”.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành niên luận này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô Th.STrịnh Thu Hòa, đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình viết niên luận Tôichân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Văn- Xã hội, Trường Đại học Khoahọc Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thiện bài niên luận này Do là bàinghiên cứu đầu tiên nên khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sưđóng góp quý báu của thầy cô để bài niên luận được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, tháng 4, năm 2016 Sinh viên
TRẦN THANH TÚ ANH
Trang 2sử dụng rất nhiều trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và trong cả các sáng tácvăn chương, đặc biệt là các ngữ cố định, trong đó có quán ngữ Chính vì vậy,việc trau dồi kiến thức về sử dụng quán ngữ đã trở thành vấn đề cần được chútrọng trong nhu cầu giao tiếp tư nhiên của mỗi con người, giúp con người biếtcách sử dụng ngôn ngữ phù hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp hơn, thêm yêungôn ngữ mẹ đẻ của mình hơn.
Có thể nói quán ngữ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống từ vưngTiếng Việt Quán ngữ là một đơn vị của ngữ cố định, nó không giữ vai trò làmthành phần nòng cốt trong câu mà chỉ có chức năng liên kết, chuyển ý, rào đón,đưa đẩy song lại mang tính chất dân tộc sâu sắc và gần gũi với lời ăn tiếng nóicủa nhân dân Việc sử dụng quán ngữ không chỉ được thấy ở quá trình giao tiếpngoài xã hội mà trong sáng tác văn chương, quán ngữ cũng được rất nhiều nhàvăn, nhà thơ ưa chuộng sử dụng và còn dùng để tạo một phong cách nghệ thuậtriêng của mình
Có thể nói quán ngữ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống từ vưngTiếng Việt Quán ngữ là một đơn vị của ngữ cố định, nó không giữ vai trò làmthành phần nòng cốt trong câu mà chỉ có chức năng liên kết, chuyển ý, rào đón,đưa đẩy song lại mang tính chất dân tộc sâu sắc và gần gũi với lời ăn tiếng nói
Trang 3của nhân dân Việc sử dụng quán ngữ không chỉ được thấy ở quá trình giao tiếpngoài xã hội mà trong sáng tác văn chương, quán ngữ cũng được rất nhiều nhàvăn, nhà thơ ưa chuộng sử dụng và còn dùng làm nên phong cách nghệ thuậtriêng của mình.
Nguyễn Công Hoan là nhà văn tiêu biểu của văn học hiện thưc phê pháncủa Việt Nam trước Cách mạng Ông để lại cho chúng ta nhiều tác phẩm có giátrị: hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học… NguyễnCông Hoan sáng tác khá nhiều thể loại song truyện ngắn của ông là đặc sắc hơn
cả, vị trí vẻ vang trong văn học sử của ông thưc sư được khẳng định trong thểloại này Nhưng về tiểu thuyết ông cũng có khẳng định được phần nào trong đó,
phải kể đến là tiểu thuyết “Tắt lửa lòng”- là một trong những tiểu thuyết gắn
liền với tên tuổi của ông
Như vậy để có thể hiểu sâu hơn về việc sử dụng quán ngữ trong sáng tácvăn chương, đặc biệt là trong truyện dài của ông, cũng như nghiên cứu về sưbiểu hiện nổi trội trong phong cách tác giả Nhận thức được điều đó chúng tôi đã
lưa chọn đề tài: “Khảo sát về việc sử dụng quán ngữ trong tiểu thuyết Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan”.
2 Lịch sử nghiên cứu
Quán ngữ là đối tượng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu từ rất sớm Tínhđến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về quán ngữ:
2.1 Các công trình lý thuyết
Đã có những công trình lý thuyết đề cập tới vấn đề về quán ngữ:
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vưng – ngữ nghĩa tiếng Việt” (NXBĐại Học Quốc Gia Hà Nội – 1981) đã đề cập đến khái niệm quán ngữ khinghiên cứu về ngữ cố định Trong công trình này, tác giả đưa ra khái niệm vềquán ngữ một cách chung nhất
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong “ Từ vưng học tiếng Việt” (NXB GiáoDục - 1985) đã tìm hiểu hình thức, ý nghĩa của quán ngữ so với các cụm từ cốđịnh, đặt quán ngữ riêng vào một phần trong chương II viết về ngữ - đơn vị từ
Trang 4vưng tương đương với từ trong tiếng Việt Quan niệm này giúp chúng ta phânđịnh được rõ hơn ranh giới giữa thành ngữ và quán ngữ: “Về ý nghĩa cũng như
về hình thức, các cụm từ trên chẳng khác gì các cụm từ tư do, nhưng do nộidung của chúng đã trở thành điệu thường xuyên phải cần đến trong sư suy nghĩ
và diễn đạt mà chúng được dùng lặp đi lặp lại như một đơn vị có sẵn Do đặcđiểm trên đây, quán ngữ chiếm vị trí trung gian giữa cụm từ tư do và các kiểucụm từ cố định ” (2,tr.101) Tác giả đã phân loại và xếp quán ngữ vào kiểu cụm
từ cố định không có tính nhất thể về nghĩa, có chức năng đưa đẩy, nhấn mạnh vàcấu tạo bằng phương thức ghép
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong Giáo trình “ Từ vưng học tiếng Việt” (NXBĐại Học Sư Phạm – 2004) đã chỉ ra quán ngữ là một bộ phận của ngữ cố định vàgiống như quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp, ông cũng cho rằng các quán ngữkhông đảm nhiệm thành phần nòng cốt câu mà chỉ có chức năng chuyển tiếp,nhấn mạnh, rào đón hay đưa đẩy: “Ở trong câu, các quán ngữ không đảm nhiệmchức năng làm các thành phần chính trong nòng cốt câu mà đảm nhiệm các chứcnăng nằm ngoài nòng cốt câu như chuyển tiếp, chêm, xen kẽ, tình thái” (4, tr.80)Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong cuốn “Cơ sởngôn ngữ học và tiếng Việt” (NXB Giáo Dục – 2006) đã đưa ra khái niệm quánngữ và phân loại các quán ngữ của tiếng Việt dưa vào phạm vi và tính chấtphong cách của chúng: Những quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại,khẩu ngữ và những quán ngữ hay dùng trong phong cách viết (khoa học, chínhluận, ) hoặc diễn giảng Các tác giả cũng cho rằng khó có thể phân loại quánngữ theo cơ chế cấu tạo hoặc cấu trúc nội tại của chúng và đưa ra nhận địnhchúng đứng ở vị trí trung gian giữa cụm từ tư do với cụm từ cố định chứ khônghoàn toàn nghiêng hẳn về phía bên nào Đây là một nhận định rất đúng đắn vàđầy đủ
Lê Đình Tư, Vũ Ngọc Cân trong giáo trình “Nhập môn ngôn ngữ học”(NXB Hà Nội - 2009) đã đưa ra quan niệm về quán ngữ và phân biệt chúng với
thành ngữ một cách căn bản: “Khác với thành ngữ, trong quán ngữ, các từ vẫn còn giữ được tính độc lập tương đối của chúng, vì thế thường ta có thể suy ra
Trang 5nghĩa của quán ngữ bằng cách tìm hiểu ý nghĩa của các từ hợp thành” Từ đây
chúng ta có thể hiểu rõ hơn về quán ngữ cũng như phân biệt nó với thành ngữtrên phương diện ý nghĩa, kết cấu
Mai Ngọc Chừ (Chủ biên), Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, BùiMinh Toán trong “ Nhập môn ngôn ngữ học” (NXB Giáo Dục – 2011) kế thừa
từ các công trình nghiên cứu trước đó, các tác giả đã xếp quán ngữ vào là một
trong những bộ phận của ngữ cố định và cho rằng: “ Quán ngữ là cách nói quen thuộc (cấu tạo có tính ổn định của ngữ cố định) dùng để đưa đẩy, rào đón, liên kết Ví dụ: Nói khí không phải… nói tóm lại, tựu chung là…” Đây là định nghĩa
ngắn gọn nhất về quán ngữ được đưa ra dưa vào đúng chức năng chính của nó
2.2 Các công trình ứng dụng
Đã có một số công trình luận án, luận văn thạc sĩ hay khóa luận tốt nghiệpcó sư ứng dụng lý thuyết về quán ngữ để nghiên cứu quán ngữ trong các tácphẩm văn học:
Nguyễn Thị Nguyệt Minh trong khóa luận “ Khảo sát ngữ nghĩa thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại, những giá trị biểu trưng” của mình đã bước đầu
khảo sát và cung cấp cho người đọc những hiểu biết căn bản về thành ngữ vàquán ngữ mới trong sách báo cũng như trong lời ăn tiếng nói của nhân dân
Trần Thị Yến Nga trong Luận văn thạc sĩ “Quán ngữ tình thái tiếng Việt”
đã ứng dụng nghiên cứu và tìm ra những đặc điểm ngữ nghĩa – chức năng củaquán ngữ tình thái, với những tư liệu chủ yếu là các tác phẩm, các văn bản thuộcphong cách văn chương, các tác phẩm của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan… Bàinghiên cứu này đã giúp chúng ta phần nào hiểu thêm những đặc điểm cấu tạo vềngữ nghĩa và chức năng cơ bản của quán ngữ tình thái tiếng Việt
Trên trang Thuvienluanvan.info có đăng tải bài luận văn “Quán ngữ trong chức năng rào đón, đưa đẩy và khảo sát, phân tích quán ngữ rào đón, đưa đẩy trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan”, bài nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu
quán ngữ thưc hiện chức năng đưa đẩy, rào đón được xuất hiện trong một sốtruyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan nhằm giúp người đọc hình dung
Trang 6được một cách cụ thể về quán ngữ, đồng thời sử dụng quán ngữ một cách linhhoạt hơn.
Tiếp thu những ý kiến, quan niệm căn bản của tác giả đi trước chúng tôi đãtiến hành khảo sát, phân tích và nêu lên vai trò của việc sử dụng quán ngữ trong
tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn Công Hoan.
3 Mục đích nghiên cứu
Bài nghiên cứu đi vào khảo sát và làm rõ một số vấn đề liên quan đến việc
sử dụng quán ngữ trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của nhà văn Nguyễn Công
Hoan Qua đó, nhằm làm sáng rõ hơn về phong cách nghệ thuật của tác giả
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thưc hiện các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu, tổng hợp tư liệu liên quan tới quán ngữ và tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn Công Hoan
- Khảo sát, thống kê các quán ngữ theo lý thuyết
- Đánh giá và phân tích vai trò của quán ngữ
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:
Quán ngữ trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn Công Hoan
- Phạm vi nghiên cứu:
Bài nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát, phân tích, đánh giá quán
ngữ trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn Công Hoan.
6 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp thống kê
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê để tập hợp các quán ngữ
có trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn Công Hoan làm cơ sở phân tích,
triển khai đề tài
Trang 7b Phương pháp phân loại, phân tích
Từ những dữ liệu thu thập được bài nghiên cứu tiến hành phân loại quán
ngữ được sử dụng trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn Công Hoan, từ
đó phân tích, tìm hiểu vai trò, đặc điểm, chức năng, ý nghĩa của các quán ngữđược sử dụng
c Phương pháp đánh giá, tổng hợp
Trên cơ sở các dữ liệu phân tích chúng tôi tiến hành đánh giá, tổng hợpcác kết quả nghiên cứu nhằm đưa ra cho người đọc những hiểu biết khái quát
nhất về việc sử dụng quán ngữ trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn
Công Hoan, từ đó áp dụng một cách có hiệu quả trong quan hệ giao tiếp
6.2 Tư liệu nghiên cứu
Tư liệu nghiên cứu của đề tài là tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn
Công Hoan do nhà xuất bản Văn học Hà Nội ấn hành năm 2003
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của
đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Đặc điểm quán ngữ trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của
Nguyễn Công Hoan
Chương 3: Vai trò của quán ngữ trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của
Nguyễn Công Hoan
Trang 8Theo truyền thống ngôn ngữ học Nga- Xô Viết có viết rằng: “ Từ là
hệ thống của những hình thái và ý nghĩa, có quan hệ với các đơn vị có ý nghĩa khác của ngôn ngữ”- Viện sĩ V.V Vinogradov đã viết trong cuốn
Ruxxkij jazuk ( Tr.50)
Hay theo quan điểm của Ju X Maxlov: “ Từ là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất tương đối độc lập của các hình vị thể hiện một cách nhất quán ở sự vắng mặt trong từ đường ranh giới nghiêm ngặt giữa các từ, và ngoài ra
ở khả năng một số lớn từ có thể hoạt động như là câu tối giản hay như thành phần câu” (Tr.44, Tr.111).
Quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Từ là những đơn vị hai mặt, có hình thức âm thanh và có ý nghĩa, cho nên cũng dễ nghĩ rằng,
để tách được dòng âm thanh các từ thì phải tách cho được cái chuỗi ý
nghĩa đó ứng với đoạn âm thanh mà nó cũng chia ra được”
Còn theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong
Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng việt, Nxb Giáo dục 1997 (Tr.142- 152) lại
đưa ra khái niệm về từ như sau: “ Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” Chúng tôi theo
quan điểm định nghĩa về từ của ba tác giả này
b. Đặc điểm
Một đặc điểm thường được nói đến là từ không biến đổi về hình thứcngữ âm theo các nghĩa tương liên trong câu Phát biểu theo sư hiệnthưc hóa từ- trừu tượng thì, từ có quan hệ 1/1 giữa các thành phần cấu
Trang 9tạo của từ cụ thể, từ biểu kiến và từ trừu tượng, đó là những phânđoạn ngữ âm cố định bất biến, ứng với một từ- ngữ nghĩa Nói cáchkhác, từ đi theo khuynh hướng hiện thưc hóa thứ nhất, và nó thể hiệnkhuynh hướng này một cách điển hình nhất Đặc điểm này có nghĩa
là, trong khi ở các ngôn ngữ hòa kết, nếu như từ ít có vấn đề trong lờinói, mà có vấn đề trong ngôn ngữ, trong cấp độ, thì trái lại, ở từ cóhình thức ngữ âm cố định, không đổi, cho nên vấn đề không ở trong
hệ thống ngôn ngữ, trong cấp độ, mà là ở trong lời nói
Đặc điểm từ- cấu tạo : Cấu tạo nội bộ của từ không có vấn đề, mà vấn
đề là ở hình thức ngữ âm toàn bộ ( tư cách từ của nhiều hình thức ngữ
âm còn đáng ngờ) Nhiều nhà nghiên cứu tiếng Việt đã nhận xét đúngrằng, ranh giới hình vị trùng với ranh giới âm tiết Thưc ra, đặc điểmranh giới hình vị trùng với ranh giới âm tiết có nghĩa là hình thức ngữ
âm chuẩn của từ là hình thức âm tiết
Đặc điểm từ- ngữ pháp: Ứng với những từ- ngữ pháp đó là những từhiện thưc, cụ thể mang và chỉ mang từ- ngữ pháp đó nghĩa là cố địnhtrong một từ- ngữ pháp
Đặc điểm từ- ngữ nghĩa: Ý nghĩa từ loại và ý nghĩa từ vưng “ thuầnkhiết” lại gắn chặt với nhau, được diễn đạt đồng thời trong cùng mộthình vị ( hoặc tổ hợp hình vị) Có thể nói, đã là từ thì nhất thiết phảicó ý nghĩa từ loại và chỉ có ý nghĩa ngữ pháp từ loại
Trang 10b Đặc điểm
Dễ nhận thấy ngữ có một số đặc điểm sau:
- Chúng có thể tái hiện lại trong lời nói như các từ
- Về mặt ngữ pháp: chúng có thể làm thành phần câu, cũng có thể là
cơ sở để cấu tạo các từ mới
- Về mặt ngữ nghĩa: Chúng cũng biểu hiện những hiện tượng củathưc tế khách quan, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhaucủa con người
c Phân loại
Để phân loại ngữ cố định, dưa trên các tiêu chí phân loại:
- Dưa vào tính cố định và mức độ hòa hợp nghĩa giữa các cụm từ
- Dưa vào cấu tạo ngữ pháp của ngữ cố định
- Dưa vào nguồn gốcDưa vào các tiêu chí trên, các tác giả Việt Nam chia ngữ cố định trêntiêu chí dưa vào tính cố định và mức độ hòa hợp nghĩa giữa các cụm từ
ra làm ba loại:
- Thành ngữ
- Quán ngữ
- Ngữ cố định định danh
Trang 111.1.2 Quán ngữ
a. Khái niệm
Như chúng tôi đã nói quán ngữ trở thành một trong những đối tượngnghiên cứu từ rất sớm của các nhà từ vưng học Vì vậy, đã có rất nhiều địnhnghĩa về quán ngữ Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau mà các nhà nghiên cứu đãđưa ra những định nghĩa khác nhau về quán ngữ như sau:
Dưa vào tiêu chí cấu tạo, Lê Đình Tư, Vũ Ngọc Cân trong “Nhập môn ngôn ngữ học” (NXB Hà Nội - 2009) đã đưa ra khái niệm quán ngữ một cách rất đơn giản, ngắn gọn và dễ hiểu: “Đó là những lối nói sử dụng lâu ngày mà quen dần và trở nên ổn định về tổ chức hình thức và nghĩa”.
Dưa trên cấu tạo và chức năng của quán ngữ, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức
Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (NXB Giáo Dục – 2006) các tác giả cho rằng: “ Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại diễn từ (discourse) thuộc phong cách khác nhau Chức năng của chúng là để đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ Ví dụ: Của đáng tội, (Nói) bỏ ngoài tai, nói tóm lại, kết cục là, nói cách khác…” (5, tr.161).
Theo Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “ Từ vựng học tiếng Việt” (NXB Giáo Dục – 1985) ông cũng dưa vào tiêu chí về cấu tạo và chức năng để định nghĩa quán ngữ, đó là “ những cụm từ được dùng lặp đi, lặp lại trong các loại văn bản để liên kết, đưa đẩy, rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó” (2, tr.101).
Dưa vào mặt cấu tạo và ngữ nghĩa, tác giả Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng
Việt đã định nghĩa quán ngữ là: “tổ hợp từ cố định dùng lâu thành quen, nghĩa
có thể suy ra từ nghĩa các yếu tố hợp thành” (3,tr.801).
Từ những nhận định trên, tác giả Đỗ Hữu Châu trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt” (NXB Đại Học Sư Phạm – 2004) đã dưa vào cả ba tiêu chí: cấu tạo, ngữ nghĩa, chức năng để định nghĩa về quán ngữ như sau: “ Quán ngữ là những ngữ cố định phần lớn không có từ trung tâm, không có kết cấu câu.
Trang 12Chúng là những công thức nói lặp đi lặp lại với những từ ngữ tương đối cố định không có tác dụng định danh cũng không có tác dụng sắc thái hóa sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái mà chủ yếu là để đưa đẩy, để liên kết, chuyển ý, để thể hiện các hành động nói khác nhau và nhất là đảm nhiệm chức năng rào đón” (4, tr.80) Đây có thể được coi là nhận định đúng đắn và đầy đủ nhất về
quán ngữ
Như vậy, có khá nhiểu quan điểm định nghĩa về quán ngữ, các tác giả hầuhết đưa ra khái niệm dưa trên cấu tạo, ngữ nghĩa và chức năng của quán ngữ.Những nhận định trên đã phần nào cho chúng ta hiểu được quán ngữ là gì? Chứcnăng của nó ra sao? Nói tóm lại, quán ngữ là những cụm từ tương đối cố định,
do dùng lâu mà thành quen, nó không giữ vị trí nòng cốt trong câu mà thườngchỉ đảm nhiệm chức năng đưa đẩy, rào đón và chuyển ý Sư hiểu biết quán ngữ
về cấu tạo cũng như chức năng của nó giúp người đọc phần nào hiểu rõ hơn vàvận dụng một cách linh hoạt trong khi giao tiếp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất
và còn góp phần giữ gìn lời ăn, tiếng nói của dân tộc
b. Đặc điểm
Về cấu tạo:
Lê Đình Tư, Vũ Ngọc Cân trong “ Nhập môn ngôn ngữ học” (NXB Hà Nội, 2009) Xếp quán ngữ vào các đơn vị tương đương với từ “Dựa vào ý nghĩa của các từ trong quán ngữ, ta có thể hiểu ngay được ý nghĩa của nó”.
Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến – “ Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (NXB Giáo Dục – 2006) lại đặt quán ngữ trong phần viết về cụm từ cố định “chúng đứng ở vị trí trung gian giữa cụm từ tự do với cụm từ cố định chứ không hoàn toàn nghiêng hẳn về một bên nào, mặc dù ở từng quán ngữ cụ thể, có thể nặng về bên này mà nhẹ về bên kia một chút hay ngược lại” (5, tr.162)
Như vậy, những nhận định về cấu tạo nội tại của quán ngữ còn chưa được
rõ ràng, song hầu hết các tác giả đã xếp quán ngữ vào vị trí trung gian giữa cụm
từ tư do và các kiểu cụm từ cố định (Nguyễn Thiện Giáp, Mai Ngọc Chừ, VũĐức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến…)
Trang 13Như chúng ta đã biết nếu như: Thành ngữ thường là những cụm từ có bộphận trung tâm và những thành phần phụ bổ sung ý nghĩa cho thành phần trungtâm, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa và mang lại cho cụm từ đó những sắcthái biểu cảm hay chỉ các sư vật, hiện tượng cụ thể.Có thể nói nghĩa của chúngcó tính hình tượng hoặc/ và gợi cảm.
Ví dụ: Thành ngữ trong câu thơ : “ Cổ tay em trắng như ngà”
+ Thành phần trung tâm là “trắng” – chỉ làn da trắng đẹp, mịn màng của
người con gái
+ Thành phần phụ là “ như ngà” nhằm bổ sung, chỉ cụ thể, làm rõ cho thành phần trung tâm “trắng”
=> ý nghĩa chung của cả cụm từ trên cũng chỉ để như một lời khen một aiđó có nước da trắng hồng đẹp, cụ thể hơn là một người con gái xinh đẹp
Thành ngữ là như vậy còn quán ngữ trong khi đó phần lớn lạo là nhữngcụm từ không có thành phần trung tâm, cũng không có kết cấu câu mà đơn thuầnchỉ là những câu nói dược lặp đi lặp lại với những từ ngữ tương đối cố định, tức
là các thành phần cấu tạo nên quán ngữ chỉ mang tính chất tương đối Điều này
cũng ảnh hưởng tới chức năng, ý nghĩa của nó Ví dụ: tóm lại là, tức là, khí không phải, có nhẽ đâu thế, khỉ gió, đó là, thôi thì, khốn nạn, khổ quá, kết cục
là, chẳng ra chó gì, như đã nêu trên, từ đó suy ra, sự thực là, như dưới đây,…
Về chức năng:
Theo các tài liệu và công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước ta có thểthấy: Quán ngữ không bao giờ giữ vai trò làm thành phần nòng cốt trong câu màchỉ có chức năng liên kết, chuyển ý, nhấn mạnh, đưa đẩy, rào đón Quán ngữcũng không có tác dụng định danh hay sắc thái hóa sư vật, hành động, tính chất,trạng thái Chính thế, tác dụng chủ yếu của quán ngữ trong giao tiếp chỉ là duytrì cuộc hội thoại, mang tính chất lịch sư hoặc là giúp cho cuộc đối thoại trở nên
dễ dàng chứ không có nhiệm vụ thông tin hay miêu tả
c. Phân loại
Khi tìm hiểu về quán ngữ của các tác giả đã nghiên cứu phân loại ra cácngữ cố định thì nhận thấy phần quán ngữ chỉ được nhắc tới rất ít trong phần ngữ
Trang 14cố định, chưa thấy ranh giới phân chia rõ ràng của các loại quán ngữ có thànhphần cấu tạo, đặc điểm, chức năng rõ ràng như thế nào.
Như ba tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến – “
Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (NXB Giáo Dục – 2006) cũng đã cho rằng:
“Khó lòng có thể phân tích, phân loại quán ngữ theo cơ chế cấu tạo hoặc cấu trúc nội tại của chúng” Các tác giả chỉ đưa ra sư phân loại chung chung nhất về
quán ngữ, đó là:
Những quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ: Của đáng tội; khí vô phép; khổ một nỗi là; (nói) bỏ ngoài tai; nói dại đổ đi; còn mồ ma; nó chết (một) cái là; nói ( ) bỏ quá cho; cắn rơm cắn cỏ;chẳng nước non gì; đùng một cái; chẳng ra chó gì; nói trộm bóng vía ( tr.162).
Những quán ngữ hay dùng trong phong cách viết (khoa học, chính luận, )
hoặc diễn giảng như: Nói tóm lại; có thể nghĩ rằng; ngược lại; một mặt thì; mặt khác thì; có nghĩa là; như trên đã nói; có thể cho rằng; như sau; như dưới đây; như đã nêu trên; sự thực là; vấn đề là ở chỗ ” (5, tr.161, 162)
Hay như Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ vựng học Tiếng việt” tác giả cũng chỉ phân loại quán ngữ theo phong cách: “Mỗi phong cách thường có những quán ngữ riêng, chẳng hạn các quán ngữ: Của đáng tội, nói khí vô phép, nói bỏ ngoài tai, chẳng nước non gì… thường được dùng trong phong cách hội thoại, các quán ngữ: như đã nói, thiết nghĩ, có thể nghĩ rằng, nói cách khác, ngược lại, nói tóm lại, trước hết, một mặt thì, mặt khác thì, nghĩa là, đáng chú ý là… thường được dùng trong phong cách sách vở” (2, tr.101).
Như vậy, theo phạm vi sử dụng các nhà nghiên cứu hầu hết thống nhấtquan điểm phân chia quán ngữ thành hai loại: quán ngữ dùng trong phong cáchhội thoại và quán ngữ dùng trong khoa học Trong phong cách hội thoại, khẩungữ thì các quán ngữ đảm nhiệm vai trò chủ yếu là để đưa đẩy, rào đón và nhấnmạnh Còn trong phong cách khoa học thì chức năng chính của quán ngữ là đểliên kết và chuyển ý
1.2 Vài nét tác giả, tác phẩm
Trang 15Nguyễn Công Hoan là một trong những nhà văn kỳ cưu, tiêu biểu cho tràolưu văn học hiện thưc ở Việt Nam Nhiều tác phẩm của ông đã gây tiếng vanglớn trên văn đàn và thu hút đông đảo bạn đọc, phong cách văn chương của ôngcũng rất độc đáo nên tên tuổi Nguyễn Công Hoan được giới nghiên cứu kháquan tâm Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 tại huyện VănGiang, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) Ông sinh ra trong một giađình quan lại xuất thân Nho học Ông thân sinh là Nguyễn Đạo Khang làm huấnđạo Vì nhà nghèo lại đông anh em nên năm lên bốn tuổi, Nguyễn Công Hoanđược người bác là Nguyễn Đạo Quán nhận nuôi, cho ăn học.
Ông bắt đầu viết văn từ lúc 17 tuổi khi đang học ở trường Bưởi Năm 20
tuổi, ông có tập truyện ngắn đầu tay ( Kiếp hồng nhan) được xuất bản Đầu năm
1930, ông có nhiều truyện đăng báo được mọi người chú ý và đến năm 1935
( tập Kép Tư Bền ra đời) thì nổi tiếng khắp Trung, Nam Bắc.
Năm 1928, ông gia nhập Việt Nam quốc dân đảng song chưa hoạt độngđược mấy thì gặp khủng bố Nguyễn Công Hoan có điều kiện đi nhiều nơi, đượctiếp xúc với một số chiến sĩ cộng sản, lại đọc các sách viết về các nhà yêu nước,chủ nghĩa Mac – Lênin nên ông chịu sư ảnh hưởng của Đảng cộng sản một cáchrất rõ rệt Sau cách mạng tháng Tám, ông hăng hái tham gia kháng chiến trênlĩnh vưc văn hóa nghệ thuật: Ông được giao làm phó giám đốc sở tuyên truyềnBắc Bộ, làm báo “Vệ quốc quân”, chủ nhiệm tờ “Quân nhân học báo”, rồi cònlàm giám đốc trường Văn hóa quân nhân trung cấp…
Năm 1948 Nguyễn Công Hoan được kết nạp vào Đảng cộng sản Khángchiến kết thúc ông đã tập trung hơn vào sư nghiệp sáng tác văn chương củamình Năm 1957 Hội nhà văn thành lập ông được bầu làm Chủ tịch khóa chấphành đầu tiên
Nguyễn Công Hoan mất ngày mùng 6 tháng 6 năm 1977 tại Hà Nội Tênông được đặt cho một phố ở Hà Nội và ở nhiều thành phố khác trong cả nước.Nguyễn Công Hoan đã được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh vềvăn học nghệ thuật đợt 1, năm 1996
Trang 16Nguyễn Công Hoan là một trong số không nhiều nhà văn đã in rõ dấu ấnbản sắc riêng của mình trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại Nguyễn CôngHoan lơn lên cùng giai đoạn văn học 1930- 1945 đạt thành tưu rưc rỡ.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung: “Quan điểm văn học, phương pháp sáng tác, tư duy nghệ thuật ở Nguyễn Công Hoan đều không thật nhất quán và đều mang dấu vết rõ rệt của thời kỳ quá độ” Đúng như vậy, tồn tại
trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan là rất nhiều những quan điểm, từ vị
nhân sinh đến hiện thưc tiến bộ, “nghệ thuật vị nghệ thuật”, các quan điểm ấy
xen kẽ với nhau, thể hiện rõ nét qua từng hoàn cảnh, từng thời kỳ xã hội
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam đã đánh giá: “ Có thể nói Nguyễn
Công Hoan là ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam… Nguyễn Công Hoan đến với chủ nghĩa hiện thực bằng văn học trào phúng Từ những truyện đầu tiên, ông đã tìm đề tài trong những người nghèo khổ, cùng khốn của
xã hội Từ những truyện đầu tiên, ông đã tìm đề tài trong những người nghèo khổ, cùng khốn của xã hội Đa số nhân vật phản diện của ông đều thuộc tầng lớp thượng lưu giàu có và quan lại, cường hào Toàn những cảnh xấu xa, bỉ ổi, những chuyện bất công, ngang ngược, những con người ghê tởm, đáng khinh bỉ Nguyễn Công Hoan tạo ra những tình huống bất ngờ, rồi phá lên cười và làm cho người khác cười theo, nhưng ngẫm lại thật thương tâm đau xót”.
Nói tới Nguyễn Công Hoan, thường thì người ta hay chú trọng tới truyệnngắn của ông nhiều hơn là truyện dài bởi vì các truyện ngắn của ông có giá trịcao, nó là sư biểu hiện cụ thể trong việc làm nên tên của ông trong nền văn họcdân tộc Song, nói như thế không phải là phủ nhận hay chê bai các tác phẩmtruyện dài mà ông sáng tác Số lượng truyện dài mà Nguyễn Công Hoan sángtác có khá nhiều, tuy nhiên không phải truyện nào cũng đặc sắc nhưng đã cónhững tác phẩm được dư luận chú ý và thuộc vào hàng những tác phẩm tiêu biểucủa văn học hiện thưc phê phán Việt Nam Đã từng có nhận xét về sư nghiệp
văn chương của ông sau: “ Nói đến Nguyễn Công Hoan trước hết là nói đến một bậc thầy truyện ngắn văn học Việt Nam hiện đại Thế giới truyện ngắn Nguyễn
Trang 17Công Hoan đa dạng, phong phú như một bách khoa thư, một tấn trò đời mà đặc trưng là xã hội phong kiến của thực dân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có nhiều nét gần với truyện cười dân gian, tiếp thu được truyền thống lạc quan của nhân dân muốn dùng tiếng cười như một “ vũ khí của người mạnh” để tống tiễn cái lạc hậu, cái xấu xa vào dĩ vãng… Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan với đặc điểm của nó đã nâng cao khả năng nhận thức
và khám phá các hiện tượng xã hội phức tạp… Chúng ta có quyền tự hào về Nguyễn Công Hoan và coi ông là bậc thầy truyện ngắn… Nguyễn Công Hoan là nhà văn có công khai phá, mở đường cho chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại… Nguyễn Công Hoan đã đột phá vào những thành trì, khuôn khổ của giáo huấn và tiếp nhận, tuân theo một chủ nghĩa khách quan lịch
sử khi miêu tả hiện thực Giới nghiên cứu văn học khi bàn đến sự hình thành chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam đều nhất trí đánh giá cao vai trò, vị trí của Nguyễn Công Hoan, người có những tác phẩm được coi là “ cổ điển” trong nền văn học hiện đại”.
Nguyễn Công Hoan được nhìn từ góc nhìn lịch sử văn học, tác giả Trần
Học Đình đã có nhận xét về ông: “ Cái biệt tài viết tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan chỉ ở trong những truyện ngắn, nhà văn ưa tả, ưa vẽ cái xấu xa, hèn mạt
đê tiện của cả một hạng người xưa nay vẫn đeo cái mặt nạ giả dối”.
Qua các những tác phẩm truyện ngắn hay tiểu thuyết này, nhà văn cũng đãbộc lộ được những nét riêng trong phong cách sáng tác của mình, đưa tới chongười đọc những quan điểm sáng tạo nghệ thuật rất lý thú Chính vì vậy việc tìmhiểu về tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan cũng là một trong những vấn đềđáng được quan tâm
Một số tác phẩm chính của ông có thể kể đến là: Lá ngọc cành vàng (tiểu thuyết 1935), Cô giáo Minh (tiểu thuyết, 1935), Bước đường cùng (tiểu thuyết, 1938) Kép Tư Bền (truyện ngắn, 1935), Hai thằng khốn nạn (truyện ngắn, 1937), Đào kép mới (truyện ngắn, 1937) Đời viết văn của tôi (hồi kí, 1971) và
một số tập truyện ngắn…
Trang 18Tắt lửa lòng là tên nguyên tác của tác phẩm văn học thành công nhất của nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977) “Tắt lửa lòng” được xuất bản và giới
thiệu với độc giả năm 1933 và sẽ không mấy nổi tiếng nếu không được chuyển tác thành cải lương, âm nhạc, phim, kịch với cái tên gọi mà hầu như ai cũng đã
nghe qua "Lan và Điệp" “Tắt lửa lòng” kể về câu chuyện tình éo le trắc trở của
Điệp một học sinh nghèo phải phụ tình người vợ sắp cưới tên Lan để đi lấy Liễu,con gái của ông quan Phủ Lan ôm mối đau khổ tuyệt vọng và quyết dập tắt lửa yêu trong lòng để đi đến chùa quy y Khi hay tin Lan đi nương náu nơi cửa thiềnmôn, Điệp lập tức đi tìm (chẳng biết để nối lại tình xưa hay là để Điệp xin cưới một lúc cả hai người: bà Lan nhu mì làm vợ chánh thất, bà Liễu đanh đá chua ngoa nhưng gợi cảm làm vợ bé?) nhưng đến nơi thì Lan đã bị bệnh mà qua đời chỉ vì ôm mối tình dang dở xót xa trong lòng theo năm tháng Qua đó, một phần nào cũng phê phán sư cậy quyền thế của những kẻ cầm quyền, ép những người dân thấp cổ bé họng vào bước đường cùng
1.3 Tiểu kết chương 1
Quán ngữ là vấn đề không cò xa lạ với mọi người nhưng khá thú vị đốivới các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ Việc sử dụng quán ngữ trong giao tiếphàng ngày cũng như trong văn chương rất điển hình Trong chương1, chúng tôiđưa đến cho người đọc những hiểu biết chung nhất về quán ngữ và tác giả
Nguyễn Công Hoan cùng tác phẩm tiêu biểu của ông là “Tắt lửa lòng” Từ đây,
người đọc có thể hiểu rõ hơn về quán ngữ, phong cách nghệ thuật của nhà vănNguyễn Công Hoan và áp dụng quán ngữ trong giao tiếp hoặc sáng tác vănchương, trau dồi vốn từ vưng của mình trong kho tàng văn học đồ sộ của dântộc Trên cơ sở những quan niệm, nhận định của các tác giả đã nghiên cứu cáccông trình đi trước đã trình bày trong chương này, trong chương tiếp theo bàiluận sẽ đi vào khảo sát, phân loại và phân tích một số vấn đề về việc sử dụng
quán ngữ trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của tác giả Nguyễn Công Hoan.
Trang 19Chương 2
ĐẶC ĐIỂM QUÁN NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT “TẮT LỬA LÒNG”
CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN
2.1 Tiêu chí phân loại
Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến – trong “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (NXB Giáo Dục – 2006) thì các tác giả đã cho rằng chức năng chính của quán ngữ: “là để đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ” (5, tr.153)
Hay Nguyễn Thiện Giáp và Đỗ Hữu Châu trong các công trình nghiên cứu
về từ vưng học của mình cũng đồng quan điểm và cho rằng: “Quán ngữ chủ yếu
là để đưa đẩy, để liên kết, chuyển ý, để thể hiện các hành động nói khác nhau và nhất là đảm nhiệm chức năng rào đón” (Giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt” (NXB Đại Học Sư Phạm – 2004 – Nguyễn Thiện Giáp, tr.101)
Trong từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên có viết: “Đưa đẩy là hành động nói ra những lời chỉ nhằm để cho câu truyện diễn ra dễ dàng, tự nhiên” (3, tr.354) “Rào đón lá nói có tính chất để ngừa trước nững sự hiểu lầm hay phản ứng về điều mình sắp nói” (2, tr.821) Như vậy đưa đẩy và rào đón là
những hành động nói nhằm duy trì cuộc đối thoại, giúp cho người giao tiếp traođổi thông tin được dễ dàng Để thưc hiện hành động đưa đẩy và rào đón thìngười ta thường hay sử dụng quán ngữ Các quán ngữ thưc hiện chức năng này
là các cụm từ tương đối cố định, tuy nhiên nó không chứa đưng nội dung miêu
tả, thông báo mà chỉ nhằm tạo quan hệ đối thoại, tranh thủ tình cảm hoặc mangtính lịch sư giữ những nhân vật giao tiếp Còn quán ngữ dùng để nhấn mạnh tacó thể hiểu là những cụm từ có cấu tạo tương đối ổn định, dùng để nhấn mạnhvào một nội dung nào đó nhằm gây sư chú ý cho người nghe, thu hút người nghehướng tới điều mà mình muốn nói đến
Trang 20Mà nhận thấy trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” tác giả Nguyễn Công Hoan
đã sử dụng rất nhiều quán ngữ nhằm tạo ra sư gần gũi đối với độc giả, phù hợpvới lời ăn tiếng nói của nhân dân Nội dung tác phẩm cũng như phong cách nghệthuật của tác giả phần lớn được biểu hiện qua ngôn ngữ đối thoại, giao tiếp giữacác nhân vật Do được dùng phổ biến trong các cuộc hội thoại nên chủ yếu cácquán ngữ được dùng có chức năng rào đón, đưa đẩy và nhấn mạnh nhằm tạoquan hệ đối thoại, thể hiện phép lịch sư và giúp cuộc hội thoại diễn ra được dễdàng hơn
Vậy trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành phân loại quán ngữ được sử dụng
trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của Nguyễn Công Hoan theo chức năng thành
ba loại chính:
Các quán ngữ dùng để đưa đẩy và các quán ngữ dùng để rào đón và cácquán ngữ dùng để nhấn mạnh Việc phân chia các quán ngữ tìm được thành baloại chỉ mang tính chất tương đối vì đôi khi phạm vi ý nghĩa của hành động ràođón và phạm vi ý nghĩa của hành động đưa đẩy, nhấn mạnh có điểm trùng khớpvới nhau và sư phân chia cấu trúc nội tại của các quán ngữ là điều rất khó màchúng tôi chưa thể đi sâu vào tìm hiểu được
2.2 Kết quả khảo sát và phân loại
2.2.1 Kết quả khảo sát
Nguyễn Công Hoan đã sử dụng quán ngữ trong tiểu thuyết Tắt lửa lòng
một cách rất phong phú, đa dạng và linh hoạt Qua khảo sát, chúng tôi đã tậphợp được 107 quán ngữ thưc hiện chức năng đưa đẩy, rào đón và nhấn mạnh.Trong đó có 81 quán ngữ thưc hiện chức năng đưa đẩy, 12 quán ngữ thưc hiệnchức năng rào đón, 14 quán ngữ thưc hiện chức năng nhấn mạnh
Bảng thống kê các quán ngữ:
Trang 21Qua kết quả khảo sát quán ngữ trong tiểu thuyết Tắt lửa lòng của tác giả
Nguyễn Công Hoan cho thấy các quán ngữ thưc hiện chức năng đưa đẩy chiếm
số lượng lớn 75,8 % tiếp đến là các quán ngữ thưc hiện chức năng nhấn mạnh13,0% và cuối cùng là các quán ngữ thưc hiện chức năng rào đón 11,2 % Trongquá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy tác giả sử dụng quán ngữ tuy không dàyđặc nhưng khi xuất hiện lại rất phù hợp, tư nhiên với ngữ cảnh Đây cũng chính
là sư thể hiện khả năng sáng tạo rất khéo léo của tác giả Các quán ngữ mà ông
sử dụng đều mang màu sắc phong cách khẩu ngữ, điều này cũng rất dễ hiểu vìnội dung tác phẩm của ông là đề cập đến vấn đề rất dân dã, đời thường trongcuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân nông thôn cho đến câu chuyệntình của đôi nam nữ rất bình dị, mộc mạc mà chân thành
2.2.2 Phân loại
Dưa vào chức năng, ý nghĩa của các quán ngữ được sử dụng trong tiểu
thuyết “Tắt lửa lòng” mà chúng tôi đã tiến hành phân chia ra làm ba loại: Đưa
đẩy, rào đón, nhấn mạnh
2.2.2.1 Quán ngữ thực hiện chức năng đưa đẩy
Như đã tìm hiểu trên quán ngữ thưc hiện chức năng đưa đẩy thưc hiệnnhiệm vụ duy trì cuộc hội thoại, giúp cho cuộc thoại diễn ra dễ dàng chứ khôngcó nhiệm vụ thông tin, miêu tả Qua kết quả khảo sát trên có 81 quán ngữ thưchiện chức năng đưa đẩy, trong đó có thể phân loại thành những nhóm nhỏ hơnnhư:
* Quán ngữ đưa đẩy để đánh giá:
Trong quá trình giao tiếp, nhân vật giao tiếp có lúc phải nhận xét, đánh giá,bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề đang tranh luận hay đang được quan tâm.Qua những lời đánh giá ấy, nhân vật bộc lộ thái độ đối với những điều đangđược nói tới hoặc đối với chính người đang đối thoại với mình Quá trình giaotiếp nhờ vậy được duy trì cho tới khi đạt được đến đích Hay còn hiểu là những
từ sử dụng mang tính đưa đẩy để đánh giá về hoàn cảnh hay số phận của bảnthân, mang tính chất như lời tư thán, tư bộc lộ cảm xúc cá nhân của người nói
Trang 22Các quán ngữ phổ biến như: Chết chửa, chẳng qua là, thôi chết rồi, khốn nạn,
có ngờ đâu là, khổ quá, thế là hết,…
Ví dụ:
“ Tại làm sao ông bà này lại nuôi tôi? Khốn nạn, ở đây tôi khổ lắm vú ạ!”
(tr.377)
Quán ngữ “Khốn nạn, khốn nạn thân con” được sử dụng không phải
mang ý nghĩa miệt thị hay đánh giá về tư cách đạo đức của một người nào đó mà
“khốn nạn” ở đây được hiểu là do người ta bị lâm vào cảnh khốn cùng, đến nỗi
họ phải thốt lên như lời than về hoàn cảnh kém may mắn của mình, chịu nhiềukhổ cưc Và đây là lời than của thằng Vũ khi nói chuyện với Vú Áp về việc bố
mẹ nó là ai, sao không nuôi nó mà nó lại được vợ chồng tri phủ Hoàng XuânLong nuôi nó lớn Một lời than về hoàn cảnh mà nó đang chịu đưng khi sốngtrong gia đình ông Hoàng Xuân Long, một cuộc sống khổ cưc về tinh thần lẫnthể xác với một đứa trẻ mới 15 tuổi Việc sử dụng quán ngữ cũng thể hiện đượcsắc thái tình cảm của người nói
Hay câu: “ Khốn nạn thân con, thưa ông, con bị ông Chánh ép! Con ức
quá!” ( tr.304)
Quán ngữ “ khốn nạn thân con” là lời thanh của anh Điệp khi phân trần,
giải thích sư việc ăn nằm với con gái ông Chánh án với ông Tú và Bà Cử ở nhà
và bị ông Chánh án ép phải lấy Thúy Liễu Quán ngữ này thể hiện được sắc tháiđau khổ, oan ức của Điệp về hoàn cảnh hiện tại, về sư việc đang xảy ra trướcmắt
Quán ngữ “ thế là hết” biểu thị sư chấm hết của một việc gì đó mà người
nói đang muôn duy trì Quán ngữ còn biểu thị sư tiếc nuối, chán chường, buông
xuôi Trong câu: “ Rồi Lan đi vụt qua… Thôi, thế là hết! Chả ai nói với ai tiếng nào!” Trong ví dụ này người nói nói ra quán ngữ “ thế là hết” để đánh giá việc
chấm dứt mối quan hệ với Lan, người nói tỏ ra chán chường, bất lưc, im lặng “
chả ai nói với ai tiếng nào”
Trang 23* Quán ngữ đưa đẩy để phỏng đoán, giả định:
Trong giao tiếp đôi khi người nói phải đưa ra những điều mình chưa chắcchắn, những điều phỏng đoán hoặc đặt ra những giả định để duy trì cuộc hộithoại Nhưng điều đó sẽ được đối phương tiếp nhận để khẳng định lại hoặc phủđịnh đi Cuộc hội thoại nhờ vậy được tiếp tục diễn ra Một số quán ngữ thường
gặp như: thế này, không biết chừng, có lẽ, giá như, đáng lẽ, biết đâu,…
Ví dụ:
“ – Nào có gì là quan hệ đâu! Chỉ có một thằng tù, khi nó xe cát vào trong dinh, không hiểu nó ăn cắp gì hay hỗn hào gì với ông ấy hoặc với cô con gái rượu, mà ông ấy đùng đùng thịnh nộ, gọi dây nói cho ông Cẩm cấm chỉ nó không được vãng lai vào dinh, rồi lại làm một tờ bẩm rất đanh thép, vu cho nó
vào dinh ăn cắp Có lẽ thằng ấy phải ra tòa xử một lượt nữa, mà phen này ắt bị
án nặng, phải phát vãng lên thượng du” ( tr.289)
Quán ngữ “ Có lẽ” được dùng để giả định về một kết quả của hành động, sư
việc nào đó, ở đây giả định về việc một thằng lính chở xe cát vào dinh bị ông
Chánh án vu oan có thể sẽ lại bị ra tòa để xử có thể bị một mức phạt nặng
* Quán ngữ đưa đẩy để phủ định, phản bác:
Trong một cuộc hội thoại, đôi khi để bày tỏ chính kiến của mình, người nóiphai phủ định, phản bác lại ý kiến của đối phương Các quán ngữ đưa đẩy đểphủ định- phản bác ngoài vai trò phủ định- phản bác còn có vai trò là duy trìcuộc hội thoại Thông qua các tranh luận các nhân vật giao tiếp đi tới đích của
cuộc thoại Một số quán ngữ dùng để phủ định- phản bác thường dùng: Đời nào,
có đời nào, mà biết đâu, nghĩa lý gì,…
Người Nho lại lui ra, ông Phủ quay vào vui vẻ hỏi Điệp:
- Thế nào? Anh nói thế nào nhỉ? Chú vô tâm lắm anh ạ.”( tr.304)
Trang 24Nghĩa lí là một danh từ chỉ điều hợp lẽ phải, làm khuôn phép cho cách xửthế của con người trong xã hội Nhưng khi dùng kèm ý phủ định thì tạo thànhmột quán ngữ Nghĩa lý ở đây được hiểu là ý nghĩa quan trọng.
Việc người Nho viết sai chữ nên ông Phủ đã tức giận nói viết thế không có
đúng tức “ là nghĩa lí gì”.
* Quán ngữ đưa đẩy để hỏi:
Trong quá trình giao tiếp, khi có điều gì đó chưa được chắc chắn hoặc cầnbắt bẻ người đối thoại thì người nói thường dùng quán ngữ đưa đẩy đánh dấuhành động hỏi Quán ngữ này, đưa người nghe vào tình thế khó xử, người nghephải tìm cách giải thích, thanh minh Cuộc hội thoại nhờ đó mà được tiếp diễn
Những từ quán ngữ thường dùng như: Thế nào, biết thế nào, biết làm thế nào…
Quán ngữ “Biết làm thế nào” được sử dụng trong câu nói của Bà Cử khi
nói chuyện với ông Tú về việc ông Phủ xin được việc cho con trai bà là Điệp, bàthấy ái ngại khi chịu ơn của ông Tú nay lại thêm ơn của ông Phủ Bà Cử đangkhông biết phải làm thế nào cho phải nên nói chuyện với ông Tú như muốn hỏi
ý kiến của ông về việc đó Có thể thấy sư băn khoăn không biết phải hành độngthế nào cho đúng của Bà Cử hiện rõ Bà Cử nghĩ chịu ơn của ông Tú là nhiềurồi mà chưa trả được hơn nữa lại thêm một ơn của ông Phủ nên bà thấy ngầnngại, suy nghĩ Điều này cho thấy Bà Cử với bản chất của người nông dân chânchất, thật thà không muốn mang ơn của ai vì bà nghèo khó không biết bao giờmới đền đáp lại được Bà Cử đúng là một người nông dân nghèo, biết suy nghĩtrước sau và ngại nhờ vả mang ơn người khác
Quán ngữ “ thế nào” biểu thị có một điều muốn hỏi nhưng chỉ dùng để
nói với người ngang hàng hoặc người dưới
Trang 25“ Ông Phủ đưa Điệp vào phòng, bảo ngồi và hỏi:
- Thế nào? Mẹ, à quên đẻ định cho cháu ra sao?
- Bẩm chú trăm sự nhờ chú, đáng lẽ đẻ cháu đến hầu chú để bẩm chuyện nhưng vì thấy nói chú sắp thăng quan, nên đẻ cháu đợi khi chú đi cung chức rồi lên mừng chú một thể.” ( tr.278)
Trong ví dụ trên, Ông Phủ có địa vị xã hội cao hơn Điệp Ông Phủ hỏithăm sức khỏe của Bà Cử- mẹ của Điệp và để tỏ ra thân mật quan tâm ông dùng
quán ngữ “ thế nào” để nhấn mạnh điều muốn hỏi đồng thời thể hiện vị trí của
mình
* Quán ngữ đưa đẩy để tỏ thái độ thừa nhận hay chấp thuận:
Trong hội thoại, khi nhân vật giao tiếp đồng ý với một ý kiến hay đồngtình với điều gì đó thì có thể dùng quán ngữ bày tỏ thái độ thừa nhận- chấpthuận Tùy vào từng trường hợp mà sư chấp nhận mang sắc thái tư nguyện hay
khiên cưỡng Các quán ngữ thường gặp như: Thế thì, thật thế, phải thế, thôi thì, vậy thì, chứ gì,…
Ví dụ:
“ - Thưa ông, vậy thế thì con biết làm thế nào!
- Nhưng đến tháng chín…? Còn kỳ thi nữa chứ?
- Bẩm vâng
- Thế thì nó nông nổi quá!” ( Tr.224).
Ví dụ trên là lời đối thoại giữa Ông Tú và Điệp Ông Tú sử dụng quán ngữ
“thế thì” để đưa đẩy câu chuyện, dùng mở đầu một lời kết thúc sư cân nhắc, bàn
bạc, biểu thị điều sắp nêu ra ý kiến đánh giá là việc Điệp làm là nông nổi, suynghĩ chưa thấu đáo trong việc thi cử, Điệp thi lần đầu tiên bị hỏng
2.2.2.2 Quán ngữ thực hiện chức năng rào đón
Rào đón là một hiện tượng phức tạp mang đậm tính tâm lý tinh thần, bảnsắc văn hóa Nó sinh động, linh hoạt, diễn đạt khó rành mạch Theo nghiên cứu,chúng tôi khảo sát được 14 quán ngữ có chức năng rào đón, xin đưa ra một sốquán ngữ cụ thể như sau:
Trang 26 Quán ngữ “Cho phép”: Quán ngữ này được dùng để rào đón cho
hành động cầu khiến Người nói cho rằng điều mình sắp nói ra hoặcsắp yêu cầu có thể khiến người nghe không vừa ý nên phải rào đón
để xin phép Cũng có khi quán ngữ này được dùng trong lời nói tỏ ýlịch sư trước khi nói hoặc làm điều gì đó
Ví dụ:
“ Điệp sực nghĩ đến bà Phủ, vội nói:
- Bẩm cho phép cháu vào chào thím.
- Thím ở nhà quê, không có đây Vì nay mai, trong một tuần lễ nữa là cùng, chú sẽ được thăng Chánh án.” ( tr.387)
Quán ngữ “ cho phép” trong lời nói của Điệp nhấn mạnh thể hiện
thái độ lịch sư, tôn trọng của một người bề dưới với người bề trên, ởđây là Điệp xin phép ông Phủ để được vào chào hỏi vợ ông Phủ chođúng phép khi đến nhà quan
Quán ngữ “ Nói tóm lại”: Để đảm bảo được phương châm cách thức
người nói cần tránh diễn đạt dài dòng Quán ngữ này chứng tỏ ngườinói thưc hiện phương châm ngắn gọn: rút gọn, thu gọn những điều đãnói cho người nghe dễ nắm điểm chính, ý chính Và quán ngữ nàyhàm ý bao quát ngắn gọn, rào đón cho nội dung chính và thiết yếunhất cần nắm được ngay sau đó
Ví dụ:
“ Nói tóm lại cô đối với tôi, thật có bụng hải hà, mà cái bụng
hải hà ấy, là do ở tấm lòng cô coi tôi như ruột thịt” ( Tr.226).
Việc sử dụng quán ngữ “ Nói tóm lại” ngay đầu câu như tóm
gọn tất cả lại nội dung của cuộc trò chuyện giữa Điệp với Lan, đây làlời của Điệp, là sư biết ơn, cảm kích tấm lòng chân thật của Lan đãlàm cho Điệp thể hiện Điệp là một con người biết ơn, có học thức đủ
để nhận ra được điều đó
Quán ngữ “ Làm ơn”: Quán ngữ này thường được dùng trong câu
cầu khiến để tỏ thái độ lịch sư, lễ độ khi nói ra điều cần nhờ, cần hỏihoặc yêu cầu
Trang 27Ông Tư Kềnh dùng quán ngữ “làm ơn” nói với thằng bé Vũ mang
nội dung cầu khiến, tỏ thái độ cầu muốn với thằng bé Tư Kềnhmong muốn thằng bé Vũ cho biết thông tin về đứa con của ông ngàyxưa mà Thúy Liễu mang thai là con trai hay con gái
Quán ngữ “Làm phúc”: được dùng để tỏ thái độ lịch sư khi người nóicó điều cần nhờ, cần hỏi
Ví dụ:
“ Bỗng Vũ đứng dậy bưng mặt khóc
- Vú ơi! Nhờ vú làm phúc cho tôi biết cha thật tôi tên là gì, bây giờ
cha tôi ở đâu? Mẹ tôi ở đâu?” ( Tr.)
Trong ví dụ trên, thằng bé Vũ dùng quán ngữ “làm phúc” nhằm
xin bà Vú Áp nói cho nó biết cha, mẹ nó là ai, tên là gì và ở đâu saokhông nuôi nó, là người nói có tuổi tác ít hơn người nghe nên việcdùng quán ngữ này tạo thái độ kính cẩn, lịch sư làm cho lời nói tăngsức thuyết phục
Quán ngữ “ tha phép” dùng để rào đón trước một nội dung mới sắpnói ra với thái độ kính cẩn, thường là người bề dưới nói với bề trên
Ví dụ:
“Khi ông Tư Kềnh kể lại chuyện cũ cho thằng bé Vũ nghe, lúc mà Thúy Liễu- con gái ông Chánh án bảo anh Tư Kềnh hát:
- Hát to lên anh!
- Bẩm cô, con sợ trên nhà nghe tiếng.
- Thế thì lại gần đây mà hát Anh hát hay lắm.
Tôi trong bụng đã thấy muốn giở mặt liều, nhưng nghĩ mình hèn mọn, ngộ lỡ ra thì tù mọt gông, tôi bèn nói:
- Bẩm cô tha phép cho con” ( tr.401) Quán ngữ “ tha phép” được dùng trong câu trả lời của anh Tư Kềnh
khi được Thúy Liễu cho lại gần hát thể hiện thái độ kính cẩn củamột người bề dưới nói với con quan bề trên, xen chút ít sợ khôngdám lại gần người giàu sang con quan lá ngọc cành vàng mặc dù đãđược sư cho phép
2.2.2.3 Quán ngữ thực hiện chức năng nhấn mạnh
Một số quán ngữ vừa có thể đảm nhiệm chức năng rào đón, đưa đẩy lạivừa có thể đảm nhiệm chức năng nhấn mạnh Đôi khi trong trường hợp này nódùng để đưa đẩy câu truyện song trong trường hợp kia lại là để nhấn mạnh,
Trang 28nhưng chung quy thì những quán ngữ đó được dùng nhằm mục đích nhấn mạnhnội dung cuộc giao tiếp là chính nên chúng tôi quyết định xếp chúng vào nhóm
quán ngữ có chức năng nhấn mạnh Ví dụ: chứ có biết đâu, có ngờ đâu, làm quái gì, thì thực là, chắc bây giờ,…
Ví dụ:
Quán ngữ “ Có ngờ đâu” cũng được sử dụng để phủ định hoặc phản bác
một ý kiến nào đó vì người nói không thể tin được những điều mà người nghenói ra, vì cho rằng điều đó khó có thể xảy ra được
“ Anh ơi, những như anh nói với em, thì có ngờ đâu là trên đường đời hiu
quạnh, anh đi một đường, mà em đi một lối! Có ngờ đâu là ngày mai anh phải
đi đón người bạn trăm năm không phải là em Có ngờ đâu là anh em ta phải li biệt một cách đau đớn!” ( tr.367) Quán ngữ “ có ngờ đâu” được dùng trong
câu nói mà Lan nói với Điệp trước ngày cưới như một sư phủ định mà cũng đầytrách móc, bất ngờ về việc Điệp lấy con gái ông Chánh án làm vợ, sư biệt li đầyngậm ngùi, đẫm nước mắt cho thấy được sư chớ trêu trong tình yêu Lan vàĐiệp, có duyên mà không đến được với nhau phải lìa xa
Trong quá trình vận dụng, tác giả cũng đã để cho quán ngữ nằm ở nhiều vịtrí khác nhau và thường thì do chức năng mà nó đảm nhiệm nên nó hay xuất
hiện nhiều ở đầu câu Ví dụ như các quán ngữ: Thế thì, thế nào, thôi thì, thế
ra , như thế thì, thế là, chắc bây giờ, hay là, ấy là,…thường đứng ở đầu câu Ở
vị trí này các quán ngữ có vai trò chủ yếu là để nhấn mạnh hoặc khơi gợi câutruyện, nhằm duy trì cuộc hội thoại giữa các nhân vật
Ví dụ:
Trong cuộc nói chuyện giữa ông Chánh án với Bà Cử- mẹ của Điệp, bà Cửcó nói về chuyện giao ước giữa nhà Bà Cử với nhà ông Tú ngày xưa thì ông
Chánh án nói cười nhạo báng bằng câu: “ Thế thì đã gọi là thông gia sao được!
Tôi tưởng bà cứ cho anh ấy ở trong này với tôi cho tiện thì hơn” Việc sử dụngquán ngữ trên ở đầu câu nhằm khơi mào, rào đón trước điều mà người nói sắpnói đến
Trang 29Hay lúc thằng Vũ hỏi chuyện Vú Áp về cha mẹ nó là ai, cha mẹ nó ai bỏ ai
trước thì thằng Vũ có nói câu: “ Hay là mẹ tôi bỏ cha tôi” Quán ngữ này được
dùng ở đầu câu thể hiện việc thằng Vũ phỏng đoán mẹ nó bỏ cha nó trước
Các quán ngữ như: làm phúc, vô phép, cho phép, làm thế nào, tha phép, thế là hết,…lại hay xuất hiện ở giữa hoặc cuối câu Các quán ngữ này có chức
năng như một thành phần phụ trong câu, bổ sung ý nghĩa và thể hiện thái độ,tình cảm
Ví dụ:
“Nhờ bà làm phúc nói với chú ấy rằng có một người tên là Điệp đến thăm
chú ấy” Ví dụ trên là lời của anh Điệp nói với Bà Hộ, nhờ Bà Hộ vào gọi chú
tiểu là Lan ra gặp Điệp, quán ngữ “làm phúc” được dùng ở đây để nhằm bộc lộ
thái độ lịch sư, kính cẩn, được thêm vào câu nhằm mang ý nghĩa thuyết phụchơn cho lời nói của nhân vật trong hội thoại
Nói tóm lại, những quán ngữ được sử dụng trong tiểu thuyết “Tắt lửa lòng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan đều rất dễ hiểu, thông dụng và gần gũi
với thói quen sử dụng ngôn ngữ của người Việt Nam, đặc biệt là người dân nôngthôn Chúng được tác giả vận dụng rất linh hoạt sao cho phù hợp với từng hoàncảnh, từng chức năng Tuy nhiên, tất cả cũng chỉ là để phục vụ cho mục đíchlàm nổi bật nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, gây sư chú ý cho người đọc
từ đó cho thấy được khả năng và sư thành công trong văn chương của tác giả Ở