1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn quản lý rủi ro các dự án đầu tư tại ngânhàng NHTMCP công thương (vietinbank) chi nhánh thanh xuân hà nội

107 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 744 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước thực tế đó, để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng và đảmbảo an toàn về vốn cho mình, công tác quản lý rủi ro các dự án đầu tư đượccho vay vốn là vô cùng quan trọng đối với các

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh Việt Nam đang thực sự hòa nhập vào nền kinh tế thếgiới bằng việc trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thươngmại thế giới WTO, vị thế của nước ta tiếp tục được khẳng định, nâng cao trêntrường quốc tế Điều này đem lại nhiều cơ hội thuận lợi cho nền kinh tế ViệtNam Bên cạnh đó là những thách thức không nhỏ buộc chúng ta phải nỗ lựchết mình để có thể vượt qua những khó khăn trong bước đầu hội nhập Chínhtrong thời điểm này, thời kỳ khủng hoảng trầm trọng của nền kinh tế toàn cầunói chung và của nền kinh tế Việt Nam nói riêng đòi hỏi tất cả các doanhnghiệp, các thành phần kinh tế đều phải có những kế hoạch, định hướng pháttriển phù hợp với yêu cầu của thời đại mới Cùng với sự phát triển của nềnkinh tế, hoạt động đầu tư đặc biệt được quan tâm

Hiện nay, để phát triển các doanh nghiệp đã và đang tiến hành rất nhiều

dự án đầu tư Tuy nhiên, các dự án đầu tư thường đòi hỏi vốn lớn và thời gianthực hiện lâu dài nên hầu hết các doanh nghiệp khi tiến hành đầu tư thực hiệncác dự án đều không thể tự tài trợ toàn bộ vốn cho một dự án Một trongnhững biện pháp quan trọng là đi vay vốn tại các ngân hàng

Khi nền kinh tế phát triển thì vai trò của các ngân hàng thương mại làrất quan trọng trong việc việc đảm bảo cho hoạt động lưu thông tiền tệ đượcthông suốt, đáp ứng kịp thời yêu cầu về vốn cho nền kinh tế nói chung và chohoạt động đầu tư nói riêng Đối với ngân hàng thương mại, nghiệp vụ manglại lợi nhuận chủ yếu là hoạt động cho vay Phương châm hoạt động của cácngân hàng là an toàn – chất lượng – hiệu quả và tăng trưởng bền vững Nhưngmột đặc trưng của các dự án đầu tư là luôn chứa đựng các yếu tố rủi ro Khirủi ro xảy ra, không chỉ dự án bị ảnh hưởng mà ngân hàng và xã hội cũng sẽgặp nhiều tổn thất

Trang 2

Trước thực tế đó, để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng và đảmbảo an toàn về vốn cho mình, công tác quản lý rủi ro các dự án đầu tư đượccho vay vốn là vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng Nhận thấy tầmquan trọng của công tác quản lý rủi ro các dự án đầu tư được cho vay vốn đốivới ngân hàng thương mại, trong quá trình thực tập tại Ngân hàng công

thương Chi nhánh Thanh Xuân – Hà Nội, em đã nghiên cứu đề tài: “ Quản lý rủi ro các dự án đầu tư tại Ngân hàng Công thương Chi nhánh Thanh Xuân Hà Nội.”

Chuyên đề gồm 3 chương:

– Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro và quản lý rủi ro.– Chương II: Thực trạng hoạt động quản lý rủi ro các dự án đầu tư tạiNgân hàng công thương Chi nhánh Thanh Xuân Hà Nội

– Chương III: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao khả năngquản lý rủi ro các dự án đầu tư với Ngân hàng công thương chi nhánh ThanhXuân Hà Nội

Do hạn chế về mặt thời gian cũng như kinh nghiệm và trình độ nên bàiviết còn nhiều thiếu sót Vì vậy, em rất mong được sự góp ý chân thành củacác thầy cô giáo, các cô chú, anh chị trong Khách hàng doanh nghiệp vàphòng Quản lý rủi ro và nợ có vấn đề – Ngân hàng công thương Chi nhánhThanh Xuân Hà Nội để bài viết hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hà, các cô chú vàanh chị trong phòng Khách hàng doanh nghiệp và phòng Quản lý rủi ro và nợ

có vấn đề – Ngân hàng công thương Chi nhánh Thanh Xuân Hà Nội đã tậntình giúp đỡ, hướng dẫn em trong thời gian qua để em hoàn thành bài viếtnày

Sinh viên thực hiện

Trang 3

Nguyễn Thị Ngọc Yến

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ

RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO

1.1 Rủi ro đối với các dự án đầu tư.

Dự án đầu tư có đặc trưng là:

- Có sự tham gia của nhiều bên như: Chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quancung cấp dịch vụ trong đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước

- Môi trường hoạt động của dự án là: “va chạm”, có sự tương tácphức tạp giữa dự án này với dự án khác, giữa bộ phận quản lý này với bộphận quản lý khác

- Dự án có tính chất bất định và rủi ro cao, do đặc điểm mang tínhchất dài hạn của hoạt động đầu tư phát triển

Những đặc trưng trên cho thấy hoạt động đầu tư vào các dự án luônchứa đựng rất nhiều rủi ro ở tất cả các giai đoạn của dự án là pha lập dự án(rủi ro bên trong và rủi ro bên ngoài), pha thực hiện đầu tư, pha vạn hành khaithác dự án

Một dự án đầu tư có thể gặp những rủi ro sau:

Một dự án đầu tư có thể gặp rất nhiều rủi ro khác nhau Nhưng nhìnchung, có thể liệt kê một số vấn đề sau :

- Thời gian thực hiện dự án lâu hơn dự kiến ( do chậm giải phóngmặt bằng, do không huy động đủ vốn, do mua thiết bị không đúng chủng loại,tiến độ đấu thầu bị kéo dài…)

- Xảy ra khó khăn không lường trước ( Ví dụ: Dịch cúm vi rútH5N1 xảy ra làm khách du lịch đến Việt Nam giảm đáng kể Rất nhiều

Trang 4

chương trình làm việc của các doanh nghiệp bị phá vỡ do đối tác nước ngoàikhông đến, các dự án hoạt động khó khăn).

- Xảy ra các sự kiện bất ngờ ( Một trận hỏa hoạn đã xảy ra và làmcháy một thiết bị quan trọng và khó kiếm Do đó tất cả các hoạt động của dự

án liên quan đến thiết bị này đều phải hủy bỏ)

- Xảy ra những biến động ngắn hạn và áp lực cạnh tranh sẽ gâybiến động hoạt động chung ( Dự án sản xuất sữa đang chuẩn bị và được đưavào sản suất thì có tin đồn là trong sữa có chứa hàm lượng chất gây hạimelalin Mặc dù tin đồn này đã được đính chính lại nhưng cũng gây tâm lýhoang mang cho người tiêu dùng một thời gian Điều này đã làm ảnh hưởngtới kế hoạch của dự án.)

- Sự phối hợp giữa các bộ phận liên quan rất lỏng lẻo.( thị trường

đã xác định, sản xuất đã tăng công suất, trong khi mạng lưới phân phối vẫnchưa hình thành)

1.2 Rủi ro tín dụng.

1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng.

Ngân hàng thương mại là loại doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa đặcbiệt – hàng hóa tiền tệ Hoạt động của ngân hàng luôn tiềm ẩn những yếu tốrủi ro Rủi ro là yếu tố không thể tránh khỏi, là bạn đường trong kinh doanh,

có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ Đặc biệt là đối với hoạtđộng cho vay các dự án đầu tư càng chứa đựng nhiều rủi ro hơn, bởi bản thâncác dự án đầu tư như trên đã nói vốn đã chứa đựng rất nhiều rủi ro Đối vớiloại rủi ro khi cho các dự án đầu tư vay vốn ngân hàng đã giành riêng cho một

tên gọi là “rủi ro tín dụng”.

- Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân

hàng Nhà nước ngày 22/4/2005: “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng

Trang 5

của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”

- Theo giáo trình Ngân hàng thương mại của PGS.TS Phan Thị

Thu Hà: “ Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.”

Rủi ro tín dụng gắn với hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, cóquy mô lớn nhất của ngân hàng thương mại đó là hoạt động tín dụng Khithực hiện một hoạt động tài trợ cho các dự án đầu tư, ngân hàng luôn cố gắngphân tích các yếu tố của người vay, của dự án sao cho độ an toàn cao nhất Vànhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy an toàn Tuy nhiên,không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác tất

cả các vấn đề có thể xảy ra Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể

bị thay đổi do nhiều nguyên nhân Một số nhóm nguyên nhân có thể đưa ra ởđây là :

1.2.2 Các nguyên nhân rủi ro tín dụng:

1.2.2.1 Những nguyên nhân từ các nhân tố vĩ mô:

* Môi trường chính trị: rủi ro này bao gồm các bất ổn tài chính vàbất ổn chính trị

Có thể liệt kê một số rủi ro chính trị chính sau đây:

- Rủi ro thuế: Sự thay đổi về thuế đã làm cho dòng tiền hàng nămcủa dự án bị thay đổi từ đó NPV và IRR của các dự án bị thay đổi theo, nguồntrả nợ của dự án từ đó cũng bị ảnh hưởng

- Hạn ngạch, thuế quan hoặc các giới hạn thương mại khác làmgiảm sản lượng hoặc tăng chi phí của các dự án Ví dụ: thuế nhập khẩu théptăng lên làm tăng chi phí nguyên vật liệu cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng của

dự án

Trang 6

- Chính sách tuyển dụng lao động: những thay đổi về quản lý vàtuyển dụng lao động như thay đổi quy định về mức lương tối thiểu, chính sáchvới lao động nữ, hạn chế lao động nước ngoài … đều ảnh hưởng tới hiệu quảcủa dự án đầu tư cũng như năng trả nợ của dự án.

- Kiểm soát ngoại hối: hạn chế chuyển tiền ra nước ngoài ảnhhưởng tới hoạt động cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm của dự án cũng nhưquyền lợi của các nhà đầu tư

- Lãi suất: Khi chính phủ đưa ra chính sách lãi suất để kiểm soátlạm phát có thể làm cho hoạt động đầu tư tăng lên hoặc giảm đi

- Độc quyền: Sự độc quyền kinh doanh của Nhà nước ở một sốlĩnh vực có thể làm hạn chế đầu tư vào các bộ phận khác trong xã hội vàthường dẫn đến sự kém hiệu quả trong đầu tư

- Môi trường, sức khỏe và an toàn: những quy định liên quan đếnkiểm soát chất thải, quy trình sản xuất để bảo vệ sức khỏe cộng đồng có thểlàm hạn chế nhiều dự án cũng như làm tăng chi phí của các dự án

- Quốc hữu hóa VD năm 2007 ở Cuba đã đưa ra việc quốc hữuhóa các tổ chức kinh tế

* Môi trường kinh tế:

Bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều chịu ảnhhưởng trực tiếp của môi trường kinh tế xã hội Môi trường kinh tế khôngthuận lợi sẽ làm cho các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, mỗi đồng vốnkhông phát huy được hết hiệu quả của nó, làm cho khả năng trả nợ vay cuả dự

án bị hạn chế, dẫn đến rủi ro cho các khoản cho vay của ngân hàng Trongmột nền kinh tế tăng trưởng mạnh, tiềm năng sản xuất, tiêu dùng của xã hộicòn lớn thì hoạt động sản xuất còn có nhiều điều kiện tốt để phát triển Nhưngmột nền kinh tế bị khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát cao, sản xuất bị đình trệ, đầu

tư bị giảm sút, tất cả tác động đến khả năng thu hồi vốn tín dụng của ngân

Trang 7

hàng Không chỉ giới hạn trong môi trường kinh tế của một nước mà các tácđộng tới hoạt động tín dụng của ngân hàng, nhất là khi quan hệ kinh tế quốc

tế được mở rộng

* Môi trường và xã hội:

Môi trường và xã hội là nhân tố lớn ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng Môitrường bao gồm những nhân tố ảnh hưởng tới kết quả nhưng không bị chiphối bởi người ra quyết định Những rủi ro do môi trường và xã hội gây ranhư: Rủi ro về những tác động tiêu cực của dự án đối với môi trường vàngười dân xung quanh, dẫn đến dự án phải tốn nhiều chi phí hơn cho việc xử

lý chất thải, thậm chí dự án có thể bị dừng hoạt động Rủi ro có thể xảy ra khithị hiếu của xã hội thay đổi Ví dụ như: do dân trí nâng cao, người dân nhậnthấy rằng các thức ăn công nghiệp thực sự không tốt cho sức khỏe, họ chuyểnsang dùng những thực phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên Do vậy, những thựcphẩm đóng hộp và những thực phẩm như gà công nghiệp, cá nuôi đều bị giảmnhu cầu, giá bán hạ, những dự án sản xuất những mặt hàng trên trở nên thua

lỗ Rủi ro cũng có thể xảy ra khi đạo đức của xã hội thay đổi

* Nguyên nhân bất khả kháng: Ngoài các nguyên nhân khách quantrên, rủi ro tín dụng còn chịu tác động của các nhân tố khác như: thiên tai,chiến tranh, địch họa… Những nhân tố này vượt quá tầm kiểm soát củangười vay lẫn người cho vay Những nhân tố này có thể xảy ra bất ngờ, tácđộng tới người vay, tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay Nhiềungười vay với bản lĩnh của mình có khả năng dự báo, thích ứng hoặc khắcphục những khó khăn Trong những trường hợp khác, dự án có thể bị tổnthất song vẫn đủ khả năng trả nợ cho ngân hàng đúng hạn, đủ gốc và lãi.Tuy nhiên, khi các tác động của các nguyên nhân bất khả kháng đối với dự

án là nặng nề thì khả năng trả nợ của dự án ít nhiều bị suy giảm Ví dụ: một

Trang 8

trận động đất lớn xảy ra làm phá hủy toàn bộ cơ sở vật chất của một nhàmáy.

1.2.2.2 Nguyên nhân từ phía dự án

Nguyên nhân từ phía dự án đầu tư cho vay là một trong những nguyênnhân chính, điển hình gây ra rủi ro tín dụng Theo thống kê cho thấy, khảnăng xảy ra rủi ro tín dụng xuất phát từ phía dự án là phổ biến nhất bởi dự án

mà đại diện là chủ đầu tư là người trục tiếp sử dụng vốn vay Nguyên nhân từphía dự án có thể xem xét trên các mặt sau:

* Dự án bị thua lỗ dẫn đến mất khả năng trả nợ

Nguyên nhân có thể do khả năng quản lý trong lĩnh vực kinh doanh,điều hành dự án, thực hiện dự án và vận hành dự án không tốt, do trình độ yếukém của khách hàng trong việc dự đoán các vấn đề về kinh doanh như:

- Rủi ro trong quá trình xây dựng và hoàn thành công trình: do khảnăng quản lý của chủ đầu tư kém nên dẫn đến một trong các rủi ro sau:

+ Chi phí xây dựng vượt quá dự toán

+ Công trình xây dựng không đảm bảo các yêu cầu của dự án.+ Hoàn thành không đúng thời hạn

+ Không giải tỏa được dân, phải thu hẹp hoặc hủy bỏ dự án

- Rủi ro về thị trường, thu nhập, thanh toán: do dự đoán ban đầu vềthị trường của dự án không chính xác nên dự án có thể rơi vào một trong sócác tình trạng sau: cầu không đủ, sản lượng bán ra nhỏ hơn công suất của dự

án, giá bán thấp hơn dự kiến ban đầu…dẫn đến doanh thu của dự án thấp,không trang trải đủ cho các chi phí, không đảm bảo được khả năng trả nợ chongân hàng

- Rủi ro về cung cấp đầu vào:

Đầu vào của dự án bao gồm nguyên vật liệu, vốn, lao động, máy mócthiết bị… do chủ quan cảu người lập dự án lúc đầu mà có thể dẫn đến tình

Trang 9

trạng khi dự án đi vào giai đoạn vận hành khai thác thì nguồn cung nguyên

vật liệu của dự án lại không đáp ứng được công suất của dự án Rủi ro cũng

có khể xảy ra khi dự đoán về giá cả, chất lượng nguyên vật liệu lúc đầu không

còn chính xác Ví dụ: dự án được lập vào năm 2007 khi mà giá vật liệu thép mới chỉ là 10 triệu đồng/ tấn, nhưng đến năm 2008 khi đi vào thi công xây dựng dự án thì giá nguyên vật liêu thép tăng lên 16 triệu đồng/1tấn Tất cả

những rủi ro do dự đoán không chính xác về nguồn cung cấp đầu vào trên đềugây khó khăn tới việc vận hành dự án cũng như thanh toán các khoản nợ

- Rủi ro về kỹ thuật và vận hành: Khi các tiện ích ( dây chuyền,thiết bị, hệ thống điều hành…) của dự án không thể vận hành và bảo dưỡng ởmức độ phù hợp với thiết kế ban đầu Ví dụ: Một công nghệ đặc biệt của dự

án được nhập về từ châu Âu, nơi có khí hậu lạnh và khô, khi về tới Việt Nam

do khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao nên các thông số ban đầu cảu côngnghệ đã bị thay đổi, không thể vận hành như ở nơi nhập công nghệ Rủi rotrên sẽ dẫn đến dự án phải tốn thêm chi phí để bảo dưỡng hoặc điều chỉnh lạicông nghệ cho phù hợp với điều kiện ở Việt Nam, thậm chí có thể dẫn tới bỏhoàn toàn công nghệ Điều đó sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng trả nợcủa dự án

* Khách hàng cố tình không tuân thủ các điều kiện trong hoạt độngvay vốn, cố tình lừa đảo ngân hàng

Không ít khách hàng để đạt được mục tiêu vay vốn của mình đã tìmmọi cách để đối phó với ngân hàng như cung cấp thông tin không chính xác,giả tạo hồ sơ, hợp đồng mua bán vòng vo, mua chuộc cán bộ tín dụng nhằmvay vốn ngân hàng Nhiều chủ đầu tư còn lập dự án ảo để vay vốn của ngânhàng sau đó sử dụng số tiền vay vốn đó vào mục đích khác Thậm chí, nhiều

dự án kinh doanh có lãi song không chịu trả nợ ngân hàng đúng hạn, chây ỳvới kỳ vọng quỵt nợ hoặc có thể sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt Đây là

Trang 10

trường hợp tồi tệ nhất trong các nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro tíndụng, nó biểu hiện một hành động có chủ ý xấu của người vay đã được tínhtoán, chuẩn bị từ trước nhằm chiếm đoạt tiền vay, loại nguyên nhân này đượccoi là rủi ro về tư cách đạo đức của người vay

Rủi ro từ phía dự án cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và là chủ yếutrong hoạt động tín dụng hiện nay Việc phòng tránh cũng rất khó khăn, phứctạp vì khách hàng của ngân hàng rất đa dạng, trình độ khác nhau, kinh doanhtrong nhiều lĩnh vực do vậy ngân hàng cần nâng cao chất lượng công tác thẩmđịnh dự án đầu tư trước khi quyết định cho vay, tăng cường công tác kiểm tra,giám sát việc thực hiện khoản vay của các chủ đầu tư và đa dạng hóa đầu tưnhằm phân tán bớt rủi ro

1.2.2.3 Nguyên nhân từ phía ngân hàng

Thứ nhất, rủi ro xảy ra do những nguyên nhân xuất phát từ cơ chế,

chính sách của ngân hàng còn chưa phù hợp

Chính sách tín dụng phản ánh cưỡng lĩnh tài trợ của ngân hàng đó vàtrở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viên ngân hàng,tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chungtrong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời.Chính sách không phù hợp sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng và

có thể tạo nhiều rủi ro Chẳng hạn, ngân hàng vì lợi nhuận mà mở rộng hoạtđộng tín dụng quá mức thì sẽ có rủi ro cao, nợ quá hạn gia tăng Ngược lại,chính sách khách hàng không đa dạng, dẫn đến tập trung tài trợ cho một số

khách hàng, lĩnh vực tạo nên nguy cơ rủi ro cao khi mà “bỏ trứng tất cả vào một giỏ”.

Thứ hai, bộ máy tổ chức hoạt động quản lý rủi ro còn lạc hậu, yếu

kém Ngân hàng thiếu một cơ quan chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản

lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc các ngành nghề, địa

Trang 11

phương khác nhau để phân tán rủi ro Chất lượng thông tin thấp, sự hợp tácgiữa ngân hàng thương mại và trung tâm thông tin tín dụng không đồng bộ vàchưa đạt hiệu quả cao cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến rủi ro tíndụng Thậm chí một số ngân hàng thương mại vì sợ cạnh tranh nên đã khôngthông tin cho trung tâm thông tin tín dụng và điều đó đã dẫn đến việc tìm hiểukhách hàng có quan hệ vay nợ tại các tổ chức tín dụng trở nên khó khăn.Chính vì vậy, ngân hàng rất khó giám sát khách hàng về việc họ có sử dụngkhoản vay đúng mục đích hay không vì chưa có thông tin đầy đủ Nếu thiếumột trong các yêu cầu đó thì ngân hàng sẽ không thể có được những quyếtđịnh phù hợp, có thể dẫn đến việc ngân hàng sẽ rót vốn vào những nơi thiếutin cậy

Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ còn yếu kém, lỏng lẻo Nhiều ngânhàng còn chưa quan tâm đến hướng dẫn quy trình nghiệp vụ, chỉ đạo quytrình chưa nghiêm túc, kém hiệu lực, thậm chí có những sai phạm

Thứ ba, sự yếu kém về trình độ nghiệp vụ cũng như tư cách đạo đức

của cán bộ tín dụng ngân hàng Điều này được thể hiện:

Cán bộ tín dụng yếu kém về trình độ, năng lực, nghiệp vụ, không cókhả năng phân tích, thẩm định dự án, đánh giá khách hàng thiếu chính xác docông tác thông tin vừa yếu, vừa thiếu Ngân hàng không có đủ các số liệuthống kê, các chỉ tiêu phân tích dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của dự án,thời hạn cho vay, thời hạn trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh.Việc cán bộ tín dụng thiếu năng lực còn dẫn đến tình trạng không phát hiệnđược những sai sót về mặt pháp lý trong hồ sơ xin vay của khách hàng, hayđịnh giá tài sản đảm bảo không hợp lý có thể gây ra những tổn thất cho ngânhàng khi khách hàng không có khả năng trả nợ hoặc cố tình gán tài sản đó chongân hàng Sự yếu kém và lơi lỏng của cán bộ tín dụng trong quá trình giámsát việc thực hiện các khoản vay cũng là một nguyên nhân rất quan trọng dẫn

Trang 12

đến việc không phát hiện kịp thời hiện tượng vốn vay không được sử dụngđúng mục đích hoặc hành vi lừa đảo của khách hàng.

Bên cạnh vấn đề là thiếu và yếu năng lực, đôi khi một bộ phận cán bộngân hàng yếu kém về tư cách đạo đức đã lợi dụng vị trí công tác để trục lợi,tham ô, nhaanh hối lộ, cố tình cho vay sai nguyên tắc Các cán bộ tín dụngquá dễ dàng cho vay đối với khách hàng là bạn bè, người quen thân, hoặc dolợi ích cá nhân mà bỏ qua các quy định cần thiết để đảm bảo an toàn Cán bộquản lý đôi khi vì lợi ích cá nhân hay vì lợi ích của một nhóm tập thể, trongcông tác điều hành đã vô tình tạo điều kiện, kẽ hở cho loại rủi ro đạo đức ởcán bộ phát triển Chẳng hạn khi nhà quản lý hay bộ phận nhóm cán quản lý

đã có quan hệ lợi ích với khách hàng, mặc dù điều kiện vay vốn có thể chưahội tụ đủ, thậm chí không đủ điều kiện và đã được cán bộ thẩm định ghi rõnguyên nhân trong báo cáo thẩm định là không duyệt cho vay Thông thườngnhững khoản vay đó sẽ không được phê duyệt, nhưng vì một lý do tế nhị nào

đó, nhà quản lý đã bằng cách này hay cách khác, hướng dẫn khách hàng hợpthức hóa hồ sơ, thậm chí còn yêu cầu cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định phảithực hiện theo ý kiến chỉ đạo ( trên thực tế thì rất ít cán bộ có thể bảo vệ ýkiến ban đầu của mình)

Do đó, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan Nhiềuquan điểm nhất trí rằng: rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể

đề phòng hoặc hạn chế chứ không thể loại trừ

Sự tiếp cận các yếu tố, nguyên nhân gây rủi ro trên đây giúp chúng tanhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan hơn, từ đó có được đề xuấtphòng ngừa, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng thương mạimột cách hữu ích, thiết thực hơn

1.2.3 Các dấu hiệu phản ánh rủi ro tín dụng.

Trang 13

Rủi ro tín dụng thường khó mà xảy ra qua một đêm, do vậy mà nóthường có một vài dấu hiệu báo động Có những dấu hiệu biểu hiện mờ nhạt,

có dấu hiệu biểu hiện rõ ràng Ngân hàng cần có cách nhận biết ra những dấuhiệu ban đầu của dự án có vấn đề và có hành động cần thiết nhằm ngăn ngừahoặc xử lý chúng Nhưng các dấu hiệu này đôi khi được nhận ra qua một quátrình chứ không hẳn là một thời điểm, do vậy cán bộ tín dụng cần phải biếtcách nhận ra chúng một cách có hệ thống Sau khi khoản vay phát sinh vàđược phân loại, cán bộ tín dụng luôn phải theo dõi, giám sát khoản vay đểnhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo sau:

1.2.3.1 Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng

- Trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại đối với ngân hàng trongquá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tìnhhình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sựgiải thích minh bạch, thuyết phục

- Có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm phápluật trong quá trình quan hệ tín dụng

- Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu

mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục

- Không có các báo cáo hay dự đoán về lưu chuyển tiền tệ

- Trong quá trình hạch toán của khách hàng, xu hướng các tàikhoản của khách hàng qua một quá trình sẽ cung cấp cho ngân hàng một sốdấu hiệu quan trọng như:

+ Phát hành séc quá bảo chứng hoặc bị từ chối

+ Khó khăn trong thanh toán lương

+ Sự giao động của các tài khoản mà đặc biệt là giảm sút số dư tàikhoản tiền gửi

Trang 14

+ Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động từ nhiềunguồn khác nhau

+ Không có khả năng thực hiện các hoạt động cắt giảm chi phí.+ Gia tăng các khoản nợ thương mại hoặc không có khả năngthanh toán nợ khi đến hạn…

- Các hoạt động cho vay:

+ Mức độ vay thường xuyên gia tăng

+ Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi

+ Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến

+ Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trảhoặc khách hàng không muốn trả nợ hoặc do việc tiêu thụ hàng, thu hồi công

nợ chậm hơn dự tính

+ Tài sản đảm bảo không đảm bảo đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bịgiảm sút so với định giá khi cho vay Có dấu hiệu tài sản đã cho người khácthuê, bán hay trao đổi hoặc đã biến mất, không còn tồn tại

+ Giảm các khoản phải thu và tăng các khoản phải trả

+ Các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu

+ Có biểu hiện giảm vốn điều lệ

+ Có dấu hiệu tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiềunguồn khác, đặc biệt từ đối thủ cạnh tranh của ngân hàng

Trang 15

+ Có dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ các nguồn thu nhậpbất thường khác không phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính hoặc từhoạt động được đề xuất trong phương án vay vốn để đáp ứng các nghĩa vụthanh toán.

1.2.3.2 Nhóm các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách hàng

Cũng như nhóm các dấu hiệu liên quan tới mối quan hệ với ngân hàng,nhóm các dấu hiệu này có tác động trực tiếp tới chất lượng khoản vay nhưngvới tốc độ chậm hơn Các dấu hiệu này xuất phát từ chính hoạt động sản xuấtkinh doanh của dự án đầu tư và không dễ nhận diện nếu thiếu sự quản lý chặtchẽ, sâu sát của cán bộ tín dụng Nó cũng đòi hỏi các giải pháp và chiến lược

xử lý có tính dài hạn hơn Biểu hiện cụ thể:

- Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so vớimức dự kiến ban đầu khi lập dự án

- Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản haymức độ hoạt động của dự án

- Xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí bất hợp lý như sựgia tăng đột biến trong chi phí quảng cáo, tiếp khách, tập trung quá mức chiphí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng hiện đại, phương tiện giao thôngđắt tiền…

- Thay đổi thường xuyên cơ cấu tổ chức của hệ thống quản trịhoặc ban điều hành

- Xuất hiện bất đồng và mâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranhchấp trong quá trình quản lý

- Có dấu hiệu phát hiện ra quá trình khảo sát, thẩm định dự án saidẫn đến việc đầu tư dự án không hiệu quả

Trang 16

- Lập kế hoạch xác định mục tiêu kém, xuất hiện các hành độngnhất thời, không có khả năng đối phó với những thay đổi.

- Việc lập kế hoạch những người kế cận không đầy đủ

- Quản lý có tính gia đình: có biểu hiện thiếu tin tưởng vào nhữngngười quản lý không thuộc gia đình, cho thành viên gia đình chưa được đàotạo, huấn luyện đầy đủ đảm đương vị trí then chốt

- Đối với khách hàng là tư nhân cá thể, có dấu hiệu của người vay

bị bệnh kéo dài hoặc chết

1.2.3.3 Nhóm các dấu hiệu liên quan đến các ưu tiên trong kinh doanh

- Xuất hiện dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: sẵn sàng từ bỏ các

hợp đồng có giá trị nhỏ và vừa nhưng có khả năng thu được tỷ suất lợi nhuậncao để tìm kiếm các hợp đồng có giá trị lớn với các bạn hàng có “tên tuổi” dùlợi nhuận thu về có khả năng đạt thấp hơn, sẵn sàng cắt giảm lợi nhuận để đạt

được các hợp đồng lớn, theo đuổi chiến lược “mượn thương hiệu”, “nước nổi thuyền nổi”.

- Xuất hiện dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp: mải mê theo đuổi

một sản phẩm không thích hợp về thời gian và năng lực hiện tại mà khôngchú đến các yếu tố khác

- Do áp lực nội bộ dẫn tới tung ra thị trường các sản phẩm dịch vụquá sớm khi chưa hội tụ đủ các điều kiện chín muồi hoặc đặt ra các hạn mứcthời gian kinh doanh, doanh số không thực tế, tạo mong đợi trên thị trườngkhông đúng lúc

1.2.3.4 Nhóm các dấu hiệu liên quan đến các vấn đề về kỹ thuật thương mại

- Khó khăn trong phát triển sản phẩm, dịch vụ mới

- Những thay đổi từ chính sách của Nhà nước, đặc biệt là tác độngcủa các chính sách thuế, xuất nhập khẩu; thay đổi các biến số kinh tế vĩ mô: tỷgiá, lãi suất, thay đổi công nghệ kỹ thuật sản xuất, thị hiếu tiêu dùng, mất nhà

Trang 17

cung ứng hoặc khách hàng lớn, thêm đối thủ cạnh tranh tác động bất lợi đếnchiến lược và kế hoạch sản xuất, kinh doanh của khách hàng.

- Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh xảy ra

- Sản phẩm của khách hàng mang tính thời vụ cao

1.2.3.5 Nhóm các dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính, kế toán của khách hàng

- Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên

- Khả năng tiền mặt giảm

- Tăng doanh số bán nhưng lãi giảm hoặc không có

- Các tài khoản hạch toán vốn điều lệ không khớp

- Những thay đổi về tỷ lệ lãi gộp và lãi ròng trên doanh số bán

- Số khách hàng nợ tăng nhanh và thời gian thanh toán của các con

nợ được kéo dài

- Hoạt động lỗ

- Lập kế hoạch trả nợ mà nguồn vốn không đủ

- Không hạch toán đúng tài sản cố định.,

- Làm đẹp bản cân đối bằng cách tạo ra những tài sản vô hình

- Thường xuyên không đạt mức kế hoạch về sản xuất và bán hàng

- Tăng giá trị quá cao thông qua việc tính lại tài sản

- Phân bố nợ không thích hợp

- Lệ thuộc vào sản phẩm bất thường để tạo ra lợi nhuận

Trong tất cả các dấu hiệu đó, dấu hiệu rõ ràng và có ý nghĩa nhất làchậm thanh toán các khoản vay và các khoản phải trả khác

1.3 Quản lý rủi ro các dự án đầu tư tại ngân hàng.

Hoạt động tín dụng là quan trọng nhất trong ngân hàng thương mại, baogồm 2 mặt: Sinh lời và rủi ro Phần lớn các thua lỗ của các ngân hàng là từhoạt động tín dụng Song ở đây không có cách nào để loại trừ rủi ro tín dụng

Trang 18

hoàn toàn mà phải quản lý thật cẩn thận Đứng trước quyết định tài trợ vốncho các dự án, cán bộ ngân hàng phải cân nhắc mâu thuẫn giữa sinh lời và rủi

ro Vì vậy, quản lý rủi ro tín dụng (đặc biệt là đối với cho vay các dự án đầutư) được coi là nội dung quản lý quan trọng của ngân hàng thương mại

Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng: “Quản lý rủi ro tín dụng là việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế hậu quả xấu trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu sự tổn thất không để hoạt động ngân hàng lâm vào tình trạng đổ vỡ.”

1.3.1 Sự cần thiết phải quản lý rủi ro các dự án đầu tư.

Rủi ro đối với cho vay các dự án đầu tư là rủi ro phức tạp nhất tronghoạt động ngân hàng Nó có thể xảy ra ở bất cứ nơi đâu và bất kỳ khi nào.1.3.1.1 Ảnh hưởng của rủi ro tới nền kinh tế

Trước tiên, rủi ro xảy ra làm cho ngân hàng chậm hoặc không có khả

năng thu hồi vốn để tiếp tục cho vay Vì vậy rủi ro sẽ làm giảm vòng quay sửdụng vốn của ngân hàng, giảm khả năng cung cấp vốn và làm chậm tốc độlưu chuyển vốn trong nền kinh tế Kết quả là sản xuất bị đình đốn, nền kinh tếkhông phát triển được, xã hội bị rối loạn

Sau đó, nếu việc quản lý rủi ro của các tổ chức tín dụng không tốt sẽ

làm ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng Nếu tình trạng nàykéo dài đến một mức độ nào đó nó sẽ là một trong những nguyên nhân cơ bảndẫn đến đỗ vỡ, phá sản của tổ chức tín dụng đó và lớn hơn là sự đổ vỡ dâychuyền của các tổ chức tín dụng mà hậu quả của nó dẫn đến khủng hoảngkinh tế, tài chính Điều này không chỉ diễn ra ở một quốc gia mà nó còn lantruyền đến nhiều nước, nhiều khu vực trên toàn thế giới Nó không chỉ là sựkhủng hoảng về kinh tế, nó còn dẫn đến sự khủng hoảng về chính trị VD:khủng hoảng ở Anbani năm 1997, khủng hoảng ở Thái Lan và khu vực ĐôngNam Á 1997

Trang 19

1.3.1.2 Ảnh hưởng của rủi ro tới bản thân ngân hàng cấp tín dụng.

Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu chongân hàng và nó quyết định sự tồn tại cũng như sự phát triển của ngân hàng

Khi rủi ro xảy ra đối với các dự án đầu tư, trước tiên nó sẽ làm gây ranhững khoản nợ khó thu hồi, vốn của ngân hàng sẽ không thể quay vòng, lãikhông thể thu Mặt khác, khi có quá nhiều các khoản nợ khó đòi sẽ phát sinhcác khoản chi phí phát sinh như giám sát, thu nợ… Bên cạnh đó, ngân hàng

vẫn phải trả lãi cho các khoản tiền huy động Kết quả là lợi nhuận của ngân hàng bị giảm sút.

Ngân hàng bao giờ cũng lên kế hoạch cân đối giữa dòng tiền ra và dòngtiền vào tại các thời điểm được xác định sẵn trong tương lai Khi các khoản vaykhông thu hồi được như kế hoạch sẽ dẫn đến sự mất cân đối, gây ra sự suy yếu vàhạn chế cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán cho các khoản tiền ra Nếu tìnhtrạng mất khả năng chi trả của ngân hàng diễn ra quá nhiều lần, hay những thông

tin về rủi ro tín dụng của nội bộ ngân hàng bị rò rỉ ra bên ngoài thì uy tín của ngân hàng bị giảm sút Điều đó tất yếu sẽ dẫn đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng cũng yếu đi, do đó việc huy động tiền gửi sẽ gặp nhiều khó khăn, việc thiết lập các giao dịch với các doanh nghiệp và các ngân hàng khác cũng sẽ không được thuận lợi Uy tín đối với khách hàng là một tài sản vô hình hết sức quý giá của

ngân hàng, một khi đã mất đi thì rất khó có thể lấy lại hoặc nếu có thì cũng phảitốn nhiều tiền của cũng như thời gian

Nếu mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể chịu đựng được thì ngân hàng

có thể bù đắp bằng các quỹ dự phòng rủi ro hoặc vốn tự có, còn nếu rủi ro xảy

ra ở mức độ nghiêm trọng thì sự bù đắp của các quỹ dự phòng cũng khôngthay đổi được tình hình Thu nhập không thể bù đắp được chi phí, các dòng

tiền vào không thể cân đối với dòng tiền ra, khả năng thanh toán của ngân hàng bị giảm sút dẫn đến rủi ro thanh toán, thậm chí gây phá sản nếu không

Trang 20

có sự can thiệp kịp thời của Ngân hàng Nhà nước VD: ngân hàng Đông Nam

Á năm 2001

Như vậy, rủi ro khi cho vay các dự án đầu tư xảy ra dù ở mức độ nàocũng gây ảnh hưởng tới sự phát triển của ngân hàng nói riêng và sự tăngtrưởng của nền kinh tế nói chung Vì vậy, quản lý rủi ro khi cho các dự án đầu

tư vay vốn không chỉ là trách nhiệm riêng của ngân hàng mà là của toàn nềnkinh tế thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro phù hợp sẽ làm giảm tổn thấtcho ngân hàng cũng như nền kinh tế, lành mạnh hóa hệ thống tài chính ngânhàng, tăng cường sức cạnh tranh, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng

1.3.2 Nội dung quản lý rủi ro.

Quy trình quản lý rủi ro chung:

1.3.2.1 Phát hiện rủi ro

Đây là công việc mang tính thiết yếu, quan trọng bởi nếu nó được làmtốt thì các bước tiếp theo của nội dung quản lý rủi ro mới được tiến hành, mớiđạt kết quả tốt Việc phát hiện rủi ro phải được tiến hành xem xét một cách

Tự bảo hiểm

Phong tỏa rủi ro

Chuyển giao rủi ro

Trang 21

tổng thể đối với mọi dự án đầu tư nói chung và trên mọi giai đoạn, mọi khíacạnh của dự án đầu tư dựa trên mọi dấu hiệu có liên quan.

Nguồn thông tin mà ngân hàng có thể dựa vào để phát hiện rủi ro là:– Thông tin từ hồ sơ dự án

– Thông tin ngân hàng tự thu thập, điều tra và tổng hợp được từ việcphỏng vấn chủ đầu tư, kiểm tra thực tế dự án hay khai thác thông tin từ trungtâm thông tin phòng ngừa rủi ro của Ngân hàng Nhà nước

– Thông tin từ tổ chức tín dụng khác có quan hệ với khách hàng, thôngtin từ báo chí, dư luận, internet và các cơ quan quản lý khác

1.3.2.2 Đánh giá rủi ro của một dự án đầu tư

Tìm hiểu, đo lường và phân tích là những bước tiếp theo sau khi đãphát hiện được dự án đầu tư có những nguy cơ rủi ro để đánh giá rủi ro Trênthực tế những bước này có liên kết khá chặt chẽ với nhau và thường được gộpchung lại Mục tiêu của các bước này là giúp cho bộ máy quản trị rủi ro hiểuchính xác và nhất quán nguy cơ rủi ro đã xác định, phân tích rõ nguyên nhâncủa rủi ro và quan trọng nhất là lượng hóa được mức độ rủi ro có thể xảy racho ngân hàng

Để xác định mức độ rủi ro của một dự án đầu tư, có thể áp dụng một số

mô hình cụ thể đánh giá rủi ro

* Mô hình chất lượng 6C:

- Character ( tư cách chủ đầu tư):

Tiêu chuẩn này thể hiện tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, mụcđích rõ ràng và thiện chí của chủ đầu tư trong việc đầu tư thực hiện dự áncũng như vay nợ ngân hàng

Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích thực hiện dự án cũng như mụcđích xin vay vốn của chủ đầu tư có phù hợp với chính sách pháp luật của nhànước cũng như chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không, đồngthời phải xem xét về lịch sử hoạt động kinh doanh, lịch sử đi vay và trả nợ

Trang 22

của khách hàng Ngân hàng cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau

để đánh giá được chính xác Thậm chí khi mục đích thực hiện dự án và mụcđích xin vay tốt thì cán bộ tín dụng cũng phải xem xét chủ đầu tư có tỏ thái độtrách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, có trả lời các câu hỏi một cách trungthực, có thiện chí và nỗ lực hết sức để dự án hoạt động có hiệu quả và hoàntrả khoản vay đúng hạn Nếu phát hiện chủ đầu tư giả dối trong kế hoạch sửdụng và trả nợ vốn vay như đã thỏa thuận thì cán bộ tín dụng phải từ chối chovay, nếu không thì khả năng xảy ra rủi ro sẽ là rất cao

- Capacity ( năng lực của người vay):

Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người xin vay phải có đủ nănglực, hành vi cũng như năng lực pháp lý để thực hiện dự án cũng như ký kếthợp đồng Ngân hàng phải căn cứ vào các giấy phép thực hiện của dự án

- Cash (thu nhập của dự án):

Dự án đầu tư có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ hay không? Đây làmột câu hỏi mà ngân hàng luôn tìm cách trả lời Nhìn chung, dự án có banguồn để tạo tiền đó là: dòng tiền từ doanh thu bán hàng, dòng tiền từ pháthành chứng khoán và dòng tiền từ bán hàng thanh lý tài sản Bất cứ nguồn thunào từ ba nguồn thu trên đều có thể dùng để trả nợ vay Tuy nhiên khi xemxét khả năng trả nợ của dự án người ta thường ưu tiên nguồn thứ nhất hơn cả

và coi đây là nguồn thu đầu tiên và căn bản để trả nợ Có sự ưu tiên này vìviệc bán thanh lý tài sản có thể làm cho năng lực tài chính của dự án đầu tưyếu đi, khiến cho ngân hàng và chủ nợ ít được đảm bảo

- Collateral ( tài sản đảm bảo):

Một khoản tín dụng được đảm bảo bằng tài sản cầm cố hay thế chấp sẽgắn chặt trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ của người đi vay Khi rủi ro tín dụngxảy ra, dự án không trả được nợ thì tài sản cầm cố, tài sản thế chấp sẽ trởthành nguồn thu nợ thứ 2 của ngân hàng Chính vì vai trò quan trọng này của

nó mà tài sản thế chấp, cầm cố phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định

Trang 23

Ngoài các tài sản tự có của chủ đầu tư đem cầm cố, thế chấp, ngân hàng còncho phép dự án đầu tư được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để thế chấp,cầm cố Khi đó vốn tự có của chủ đầu tư tham gia vào dự có thể chỉ là 15% đãđược vay vốn thực hiện dự án Một tỷ lệ rất thấp nên dễ nảy sinh tâm lý chủquan, rủi ro cao cho ngân hàng Vì vậy, khi đánh giá giá trị tài sản bảo đảm,cán bộ tín dụng phải đặc biệt chú ý đến những yếu tố nhạy cảm như: tuổi thọ,điều kiện và mức độ chuyên dụng của tài sản Khía cạnh công nghệ cũng phảiđặc biệt chú ý tới bởi nếu tài sản của người vay có công nghệ lạc hậu thì giátrị sẽ bị giảm sút rất nhiều và rất khó tìm được người mua khi công nghệ lạithay đổi hàng ngày.

- Conditions ( các điều kiện).

Các điều kiện này bao gồm điều kiện bên trong ( chính sách tín dụngtừng thời kỳ của ngân hàng, việc mua sắm, đầu tư, chính sách lươngthưởng…) và các điều kiện bên ngoài ( định hướng phát triển xã hội của Nhànước, chính sách thuế, tiêu chuẩn về công nghệ môi trường…)

X2 = Lợi nhuận chưa chia / Tổng tài sản

X3 = Lợi nhuận trước thuế và lãi / Tổng tài sản

X4 = Giá thị trường của tổng tài sản / Giá trị hạch toán của tổng nợ

X5 = Doanh thu / Tổng tài sản

Theo mô hình này, nếu trị số Z càng cao thì dự án có xác suất vỡ nợcàng thấp Theo mô hình của Altmat:

Nếu Z > 2,675 -> Mức độ rủi ro thấp

Trang 24

Nếu 1,8 < Z < 2,675 -> Mức độ rủi ro trung bình.

Nếu Z < 1,8 -> Mức độ rủi ro cao

Mô hình này có ưu điểm là giúp nhanh chóng định lượng được rủi rocủa doanh nghiệp cũng như dự án Tuy nhiên, bên cạnh đó, mô hình này cũng

có những hạn chế:

- Chỉ cho phép phân biệt dự án, khách hàng “ vỡ nợ”, và “ không

vỡ Trong thực tế vỡ nợ được chia thành nhiều loại Vì vậy, để có thể phânbiệt chính xác dự án, doanh nghiệp thuộc loại nào thì mô hình cần có nhiềuthang điểm hơn tương ứng với các mức vỡ nợ khác nhau

- Trong công thức không tính đến nhiều yếu tố rất quan trọng vàảnh hưởng đáng kể tới mức độ rủi ro của dự án nhưng khó lượng hóa

1.3.2.3 Quản trị rủi ro

Các biện pháp được ngân hàng dùng để quản trị rủi ro các dự án đầu tư là:– Tránh rủi ro: không cho vay các dự án đầu tư cảm thấy khả năngrủi ro cao, tính khả thi thấp

– Hạn chế rủi ro:

+ Thực hiện các quy định về an toàn tín dụng được ghi trong Luậtcác tổ chức tín dụng và trong các Nghị định của Ngân hàng Nhà nước Cácquy định nêu rõ trường hợp cấm các ngân hàng không được tài trợ, điều kiệnngân hàng phải thực hiện khi tài trợ

+ Xác định danh mục các dự án tài trợ với mức độ rủi ro khác nhau.Các loại khách hàng khác nhau, các đối tượng cho vay khác nhau, các loại dự

án khác nhau … sẽ có rủi ro khác nhau

+ Xây dựng chính sách tín dụng và quy trình phân tích tín dụng.Hoạt động tín dụng liên quan tới nhiều bộ phận trong ngân hàng, đòi hỏi phải

có sự kết hợp và chỉ đạo chung thông qua chính sahcs, quy tắc và kiểm soátchung Các chính sách tín dụng nhằm hạn chế rủi ro như: Chính sách tài sảnđảm bảo, chính sách đồng tài trợ…Quy trình phân tích tín dụng thể hiện

Trang 25

những nội dung mà cán bộ tín dụng phải thực hiện khi cho vay nhằm hạn chếrủi ro như phân tích tình hình sản xuất kinh doanh, thẩm định dự án vay vốn,lịch sử của người vay, mục đích vay, kiểm soát trong khi cho vay….

+ Xác định dấu hiệu của khoản cho vay có vấn đề, giới hạn cáckhoản tín dụng và đa dạng hóa

+ Quản lý các dự án đầu tư cho vay vốn, hỗ trợ hoạt động các dự

án như cho vay thêm, gia hạn nợ, giảm lãi …

+ Quản lý nợ quá hạn, nợ khó đòi, các khoản nợ có vấn đề Rủi ro

là tất yếu của quá trình kinh doanh Do vậy, ngân hàng luôn xây dựng chínhsách sống chung cùng với rủi ro: Hạn chế rủi ro, chấp nhận rủi ro, khai tháchoặc thanh lý nợ quá hạn, nợ khó đòi hoặc nợ có vấn đề

– Tự bảo hiểm: Mua bảo hiểm tín dụng Ngân hàng có thể mua bảohiểm cho các khoản cho vay của mình tại các công ty bảo hiểm để trường hợpxấu nhất là khi xảy ra rủi ro thì người chịu rủi ro là công ty bảo hiểm chứkhông phải ngân hàng Ngoài ra ngân hàng còn yêu cầu dự án tham gia đầy

đủ các loại bảo hiểm Đây vừa là cách để các dự án giảm thiểu rủi ro chomình và cũng là cho chính ngân hàng

– Phong tỏa rủi ro

– Chuyển giao rủi ro: Bán nợ Ngân hàng khi thấy các dự án khôngcòn có khả năng thu hồi nợ thì có thể bán khoản nợ đó cho các công ty muabán và quản lý nợ

Trang 26

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RỦI RO CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH

THANH XUÂN HÀ NỘI

2.1 Khái quát về Ngân hàng công thương Chi nhánh Thanh Xuân 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh.

Chi nhánh ngân hàng công thương (NHCT) Thanh Xuân có tên

tiếng anh là Incombank Thanh Xuân (viết tắt của Industrial and CommercialBank) là một chi nhánh của ngân hàng công thương Việt Nam Trước đây,quận Thanh Xuân chưa được tách ra từ quận Đống Đa thì chi nhánh này chỉ làmột phòng giao dịch của NHCT Đống Đa Sau khi thành phố Hà Nội quyếtđịnh tách quận Thanh Xuân ra khỏi quận Đống Đa thì đến tháng 4/1997phòng giao dịch này được tách ra thành ngân hàng cấp 2 của NHCT Đống Đa

Ngày 22/4/1997 ngân hàng công thương Việt Nam công bố quyết định

số 17/HĐQT-QĐ của chủ tịch hội đồng quản trị NHCT Việt Nam V/v thànhlập chi nhánh ngân hàng công thương Thanh Xuân trực thuộc chi nhánhNHCT Đống Đa trên cơ sở nâng cấp phòng giao dịch Thượng Đình và chínhthức đi vào hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của thủ

đô Hà Nội nói chung và quận Thanh Xuân nói riêng trong sự nghiệp côngnghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Đến ngày 20/2/1999, chủ tịch hội đồng quản trị NHCT Việt Nam kýquyết định số 13/QĐ-HĐQT/NHCT thành lập ngân hàng Công thương ThanhXuân – Chi nhánh cấp 1 trực thuộc NHCT Việ Nam

Ngày từ ngày đầu đi vào hoạt động, chi nhánh NHCT Thanh Xuân đãgặp rất nhiều khó khăn tác động đến quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụchính trị được giao; đó là trụ sở giao dịch phải đi thuê với diện tích rất chật

Trang 27

hẹp; bộ máy tổ chức gồm 4 phòng với 50 cán bộ nhân viên; cán bộ lãnh đạoquản lý phần lớn được bổ nhiệm, mạng lưới huy động vốn rất mỏng chỉ có 2QTK trên 11 phường thuộc quận Thanh Xuân, thị phần đầu tư và cho vay hạnchế, đại bộ phận các doanh nghiệp trên địa bàn đã có quan hệ truyền thốngvới các ngân hang khác Mặc dù mới sinh ra còn rất non trẻ đã phải đối đầuvới sự cạnh tranh quyết liệt của cơ chế thị trường, với hang chục ngân hàng,

tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn thủ đô

Nhận thức được những thuận lợi khó khăn tập thể lãnh đạo đã đặt ranhiệm vụ bước đi biện pháp mang tính chiến lược chủ yếu để tổ chức thựchiện nhiệm vụ chính trị được giao Một mặt vừa củng cố ổn định bộ máy tổchức Đảng, chính quyền các đoàn thể đi vào hoạt động, vừa đảm bảo ổn địnhvừa từng bước phát triển rộng thị phần hoạt động kinh doanh dịch vị ngânhàng Đây là nhiệm vụ cấp bách cũng như lâu dài đối với sự phát triển của chinhánh Mặt khác bằng nhiều hình thức phát động nhiều phong trào thi đua sâurộng trong Đảng trong cơ quan trong các đoàn thể nhằm tập trung được trí tuệtập thể nhằm phát huy nội lực, dân chủ đoàn kết của CBCNV; Đồng thờitranh thủ sự chỉ đạo quan tâm của ngân hàng cấp trên và sự ủng hộ tạo điềukiện giúp đỡ của cấp ủy chính quyền các ban ngành địa phương đã tạo nênsức mạnh tổng hợp để chi nhánh NHCT Thanh Xuân tổ chức thực hiện thắnglợi nhiệm vụ chính trị được giao

Chi nhánh NHCT Thanh Xuân từ khi thành lập đến nay đã trải qua haigiai đoạn: Từ khi thành lập tháng 4/1997 đến tháng 2/1999 trực thuộc chinhánh NHCT Đống Đa và từ 3/1999 đến nay là đơn vị thành viên của NHCTViệt Nam

Từ khi đi vào hoạt động với chức năng là một ngân hàng thương mạiquốc doanh được sự chỉ đạo của NHCT Việt Nam, sự ủng hộ giúp đỡ của cấp

ủy chính quyền, các ban ngành địa phương và với tinh thần trách nhiệm, tập

Trang 28

thể Đảng ủy ban giám đốc đã bám sát và tập trung triển khai thực hiện có mụctiêu, định hướng hoạt động kinh doanh của NHCT Việt Nam; Các tổ chứcđoàn thể tích cực phát động phong trào thi đua sôi nổi rộng khắp trên các mặtcông tác

Trải qua 11 năm xây dựng và trưởng thành, tính đến cuối năm 2008 chinhánh NHCT Thanh Xuân đã phát triển lớn mạnh: Từ 4 phòng nghiệp vụ,2QTK, 50 lao động khi thành lập, đến nay có 10 phòng nghiệp vụ, giao nhiệm

vụ và đổi tên 7QTK thành 01 ĐGD mẫu và 6 ĐGD thường với 210 lao động.Đưa ĐGD toàn chi nhánh lên 8 ĐGD, trong đó có 2 ĐGD mẫu

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh.

Để tạo điều kiện phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình, NHCTThanh Xuân đã sắp xếp cơ cấu tổ chức bộ máy bao gồm có: một giám đốc, baphó giám đốc và chín phòng nghiệp vụ Đó là các phòng: phòng khách hàngdoanh nghiệp, phòng khách hàng cá nhân, phòng quản lý rủi ro và nợ có vấn

đề, phòng kế toán giao dịch, phòng thanh toán xuất nhập khẩu, phòng tiền tệkho quỹ, phòng tổ chức hành chính, phòng thông tin điện toán và phòng tổnghợp

Hiện nay, NHCT Thanh Xuân có 220 nhân viên (tính đến hết ngày1/3/2009) với trình độ trên 90% là đại học trở lên Cơ cấu tổ chức của NHCTThanh Xuân được thể hiện qua sơ đồ sau:

Trang 29

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức ngân hàng công thương Thanh Xuân

Nguồn: Báo cáo tổng hợp ngân hàng công thương Thanh Xuân năm 2008

Lao động tiền lương

P.Tiền kho quỹ

tệ-P.Kế toán giao dịch

P.TT xuất nhập khẩu

P.Thông tin điện toán Hành chính

P.KH cá nhân

Quản lý rủi

ro và nợ có vấn đề

KH DN vừa

và nhỏ

KH Doanh nghiệp lớn

P.

Hành chính tổng hợp

P.

Quản

Lý rủi ro

và nợ

có vấn đề

P Khách Hàng Doanh Nghiệp

Trang 30

2.1.2.1 Phòng khách hàng doanh nghiệp

a, Chức năng: là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng làcác Doanh nghiệp, để khai thác vốn bằng VNĐ và ngoại tệ; thực hiện cácnghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp vớichế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của Ngân hàng Công thương VN(NHCT VN); trực tiếp quảng cáo tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch

vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp

là doanh nghiệp lớn Nghiên cứu đưa ra các đề xuất về cải tiến sản phẩm dịch

vụ hiện có, cung cấp những sản phẩm dịch vụ mới phục vụ cho khách hàng làdoanh nghiệp

- Thẩm định, xác định, quản lý các giới hạn tín dụng cho các kháchhàng có nhu cầu giao dịch về tín dụng và tài trợ thương mại, trình cáp có thẩmquyền theo quy định của NHCT VN

- Thực hiện các nghiệp vụ tín dụng và xử lý giao dịch: Nhận và xử lý

đề nghị vay vốn, bảo lãnh và các hình thức cấp tín dụng khác; Thẩm địnhkhách hàng, dự án, phương án vay vốn, bảo lãnh và các hình thức cấp tíndụng khác theo thẩm quyền và quy định của ngân hàng công thương ViệtNam; Đưa ra các đề xuất chấp thuận, từ chối đề nghị cấp tín dụng, cơ cấu lạithời hạn trả nợ cho khách hàng trên cơ sở hồ sơ và kết quả thẩm định; Kiểmtra, giám sát chặt chẽ trong và sau khi cấp các khoản tín dụng, phối hợp với

Trang 31

các phòng ban thu hồi gốc, lãi và phí đầy đủ kịp thời, đúng hạn; Theo dõiquản lý các khoản cho vay bắt buộc, tìm biện pháp thu hồi các khoản cho vaynày.

- Quản lý các khoản tín dụng đã được cấp, quản lý tài sản bảo đảm theoquy định của NHCT VN

- Thực hiện nhiệm vụ thành viên Hội đồng tín dụng, hội đồng miễngiảm lãi, Hội đồng xử lý rủi ro

- Cung cấp hồ sơ, tài liệu, thông tin của khách hàng cho Phòng /tổ quản

lý rủi ro để thẩm định độc lập và tái thẩm định theo quy định của chi nhánh vàNHCT VN

- Cập nhật, phân tích thường xuyên hoạt động kinh tế, khả năng tàichính của khách hàng đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động tín dụng

- Thực hiện chấm điểm xếp hạng tín nhiệm đối với khách hàng có nhucầu quan hệ giao dịch và đang có quan hệ giao dịch tín dụng với Chi nhánh

- Phản ánh kịp thời những vấn đề vướng mắc cơ chế, chính sách, quytrình nghiệp vụ và những vấn đề mới nảy sinh, đề xuất biện pháp trình Giámđốc chi nhánh xem xét, giải quyết hoặc kiến nghị với cấp trên giải quyết

- Lưu trữ hồ sơ số liệu, làm báo cáo theo quy định hiện hành

- Tổ chức học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ của phòng

- Làm công tác khác khi được Giám đốc giao

2.1.2.1 Phòng quản lý rủi ro và nợ có vấn đề.

a, Chức năng:

Phòng quản lý Nợ có vấn đề - Rủi ro có nhiệm vụ quản lý, giám sátthực hiện danh mục cho vay, đầu tư đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụngcho từng khách hàng Quản lý và xử lý các khoản nợ có vấn đề( Bao gồm cáckhoản nợ: cơ cấu lại thời hạn trả nợ, nợ quá hạn, nợ xấu); Quản lý, khai thác

và xử lý tài sản đảm bảo nợ vay theo quy định của Nhà nước nhằm thu hồi nợ

Trang 32

gốc và lãi tiền vay Quản lý, theo dõi và thu hồi các khoản nợ đã được xử lýrủi ro Tham mưu cho Giám đốc chi nhánh về công tác quản lý rủi ro của Chinhánh, Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghịcấp tín dụng Thực hiện chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ cáchoạt động Ngân hàng theo chỉ đạo của NHCT VN.

b, Nhiệm vụ:

- Nghiên cứu chủ trương, chính sách, luật pháp, các văn bản pháp quycủa Nhà nước, của các ngành và NHCT VN có liên quan đến hoạt động Ngânhàng và kế hoạch phát triển theo vùng kinh tế, ngành kinh tế tại địa phương,các văn bản về hoạt động Ngân hàng… chiến lược kinh doanh, chính sáchquản lý rủi ro của NHCT VN và thực trạng tín dụng tại Chi nhánh trong từngthời kỳ để:

+ Theo dõi, quản lý các khoản nợ có vấn đề, các khoản nợ quá hạn(gốc, lãi), các khoản nợ đã được xử lý rủi ro Thực hiện các biện pháp, chế tàitín dụng và tiến hành xử lý tài sản bảo đảm để nhanh chóng thu hồi các khoản

nợ này

+ Đề xuất mức tăng trưởng tín dụng theo nhóm khách hàng ngànhnghề, khu vực kinh tế phù hợp với năng lực quản trị rủi ro của Chi nhánh vàtình hình phát triển kinh tế địa phương

+ Đề xuất danh sách khách hàng cần hạn chế tín dụng hoặc ngừng quan

hệ tín dụng

+ Đề xuất các biện pháp xử lý đối với các loại tài sản đảm bảo nợ vay

có vấn đề phù hợp với qui định của pháp luật tình hình thực tế trong từng thờikỳ

- Đề xuất phương án trình các cấp, các ngành có liên quan hỗ trợ Chinhánh trong việc xử lý thu hồi các khoản nợ có vấn đề vượt phạm vi, khảnăng xử lý của Chi nhánh Hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu của NHCT VN trình

Trang 33

cấp có thẩm quyền cho xử lý các khoản nợ tồn đọng(Nếu có) theo yêu cầu củaNHCT VN.

- Thực hiện thẩm định độc lập(Theo cấp độ quy định của NHCT VN hoặctheo yêu cầu của Giám đôc chi nhánh, hội đồng tín dụng chi nhánh) hoặc tái thẩmđịnh: Đối với các khách hàng lần đầu tiên quan hệ vay vốn Giám đốc sẽ có quyđịnh cụ thể Đối với các tài khoản vay theo quy định của Tổng giám đốc phảithẩm định rủi ro hoặc người có thẩm quyền quyết định cho vay yêu cầu:

+ Thẩm định, xác định giới hạn tín dụng, các khoản cấp tín dụng cho kháchhàng có quan hệ tín dụng tại Chi nhánh và trình cấp có thẩm quyền qui định

+ Thẩm định các khoản vay, dự án vay vốn, các khoản bảo lãnh cấp tíndụng khác có độ phức tạp hoặc có giá trị lớn theo các qui định của ngân hàngcông thương Việt Nam trong từng thời kỳ hoặc theo yêu cầu của giám đốc Chinhánh hoặc của HĐTD chi nhánh

+ Thẩm định đánh giá rủi ro đối với đề nghị cơ cấu lại thời hạn trả nợ theoyêu cầu của giám đốc Chi nhánh, HĐTD cơ sở

- Tái thẩm định đánh giá rủi ro đối với các khoản ảo lãnh, khoản cấp tíndụng khác hoặc đề nghị cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo yêu cầu của giám đốcChi nhánh hoặc HĐTD Chi nhánh

- Thực hiện phân loại nợ và tính toán trích dự phòng rủi ro cho từngkhách hàng theo quy định hiện hành Phân tích thực trạng chất lượng dư nợcủa Chi nhánh theo định kỳ hoặc theo yêu cầu đột xuất của NHCT Việt Nam

- Chấm điểm xếp hạng tín nhiệm đối với khách hàng có quan hệ tíndụng tại chi nhánh đối với những khách hàng có dư nợ gia hạn 20-30% trởnên trên tổng dư nợ của doanh nghiệp

- Kiểm tra việc hoàn thiện hồ sơ tín dụng, giám sát thực hiệc các khoảncấp tín dụng và nhập dữ liệu đối với khách hàng có quan hệ tín dụng tại chinhánh

Trang 34

- Kiểm tra việc hoàn thiện hồ sơ của các nghiệp vụ về tài trợ thươngmại, chuyển tiền ngoại tệ mua bán nợ theo yêu cầu của Giám đốc chi nhánhhoặc NHCT VN.

- Nghiên cứu các danh mục tài sản đảm bảo tiền vay, cảnh báo rủi rotrong việc nhận TSBĐ

- Tổng hợp, thống kê, lưu trữ tài liệu, số liệu liên quan đến các khoản

nợ có vấn đề và các khoản tài sản bảo đảm tồn đọng Làm các báo cáo định kỳhoặc đột xuất theo yêu cầu của giám đốc Chi nhánh và ngân hàng côngthương Việt Nam

- Cung cấp thông tin liên quan đến nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro cho cácphòng liên quan chi nhánh và trụ sở chính của ngân hàng công thương ViệtNam khi có yêu cầu

- Làm đầu mối liên hệ với trung tâm tín dụng ngân hàng Nhà nước trênđịa bàn trong việc cung cấp và khai thác sử dụng thông tin tín dụng theo quiđịnh của ngân hàng Nhà nước

- Lưu trữ hồ sơ số liệu, lập báo cáo theo qui định hiện hành và báo cáođột xuất theo yêu cầu của giám đốc chi nhánh và Ngân hàng công thương ViệtNam

- Tổ chức học tập và nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bọ củaphòng

2.1.3 Tình hình hoạt động của Chi nhánh trong giai đoạn 2005- 2008.

2.1.3.1 Những hoạt động chính của Ngân hàng công thương Chi nhánh Thanh Xuân.

– Huy động vốn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ từ dân cư và các

tổ chức thuộc mọi thành phần dưới nhiều hình thức

– Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằng đồng Việt Nam vàngoại tệ

Trang 35

– Đại lý uỷ thác cấp vốn, cho vay từ nguồn hỗ trợ chính thức củachính phủ, các nước và các tổ chức Tài chính tín dụng nước ngoài đối với cácdoanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam.

– Thực hiện các dịch vụ chuyển tiền nhanh, thanh toán trong nướcqua mạng vi tính và thanh toán quốc tế qua mạng thanh toán toàn cầu SWIFT

– Đại lý thanh toán các loại thẻ tín dụng quốc tế: Visa, Mastercard,JCBcard, cung cấp du lịch, ATM

– Thực hiện các dịch vụ ngân qũy: Thu đổi ngoại tệ, thu đổi ngânphiếu thanh toán, chi trả kiều hối, cung ứng tiền mặt đến tận nhà

– Kinh doanh ngoại tệ

– Thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh

– Thực hiện các dịch vụ về tư vấn đầu tư

2.1.3.2 Tóm tắt về tình hình kinh doanh của Chi nhánh qua các năm

2006 – 2008.

Với các hoạt động kinh doanh linh hoạt và phong phú của mình chi nhánhNHCT Thanh Xuân đã đạt được những kết quả khả quan Trước tiên về côngtác huy động vốn: trong vòng 3 năm 2006 – 2008

Trang 36

tăng 10,3% so với năm 2005 Sang năm 2008 tổng mức huy động vốn đã tănglên tới con số 3.736.670 triệu đồng.

Trong đó số tiền gửi huy động được của các tổ chức kinh tế vàngười dân cụ thể như sau

Về thu nhập, chi phí và lợi nhuận của Chi nhánh: Từ năm 2006 khi bắt đầuthực hiện mô hình giao dịch một cửa thì ngân hàng đã hoạt động khởi sắc cólại với mức thu nhập 3.722.215.919 đồng, năm 2007 là 79.128.378.165 đồng

và năm 2008 là đồng

Trang 37

Bảng 3: Báo cáo kết quả kinh doanh 2006 – 2008

Đơn vị:Triệu đồng

3 Thu lãi góp vốn mua CP

4 Thu từ cho thuê tài chính

4 Thu từ tham gia TT tiền tệ

6 Thu từ ủy thác và đại lý

1 Chi phí về huy động vốn

3 Chi phí tham gia TT tiền tệ

Trang 38

<Nguồn:Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2008 NHCT Thanh Xuân>

Qua bảng số liệu này ta thấy, nguồn thu chủ yếu của chi nhánh vẫn làthu từ lãi điều chuyển vốn và thu từ lãi cho vay Ngoài ra thu từ lãi bất thườngcũng khá cao cho thấy tinh thần trách nhiệm cao trong công việc của cán bộnhân viên của Ngân hàng Tuy chi phí còn khá cao nhưng với cố gắng nỗ lựcthì Ngân hàng đã có lãi trong 3 năm gần đây 2006, 2007 và 2008 khi lợinhuận đạt được là 3.722 triệu đồng, 79.128 triệu đồng và đặc biệt năm 2008 là145,570 triệu đồng Điều đó làm cho lương thưởng của nhân viên cao hơn, từ

đó thúc đẩy sự phát triển của ngân hàng trong các năm tiếp theo

2.2 Thực trạng hoạt động quản lý rủi ro các dự án đầu tư tại Ngân

hàng công thương Chi nhánh Thanh Xuân.

2.2.1 Tổ chức quản lý rủi ro các dự án đầu tư

2.2.1.1 Quản lý, đánh giá rủi ro khi thẩm định dự án xin vay vốn.

Đây là một trong những khâu quan trọng nhất trong quá trình xét duyệtvốn vay và cũng là một trong những biện pháp phòng ngừa rủi ro xảy ra tạiNgân hàng công thương Chi nhánh Thanh Xuân Với khâu đầu tiên thực hiệntrước khi cho vay này, các cán bộ tín dụng xem xét, phân tích, đánh giá tưcách, tình hình tài chính cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của kháchhàng cũng như tính khả thi, hiệu quả kinh tế, xã hội, khả năng hoàn trả nợ của

dự án đầu tư

Quy trình tiếp nhận hồ sơ dự án và thẩm định đánh giá vốn vay đượcthực hiện theo sơ đồ sau:

Trang 39

Sơ đồ 2: Qui trình tiếp nhận hồ sơ dự án

Trang 40

Nhiệm vụ cụ thể của các phòng chức năng được thể hiện dưới sơ đồ Qui trìnhcho vay theo dự án tại chi nhánh Thanh Xuân như sau:

Sơ đồ 3: Qui trình cho vay theo dự án tại chi nhánh

ngân hàng công thương Thanh Xuân

QĐ cho vay

Hồ sơ

Y/cầu bổ sung

Đề nghị bổ sung Thiếu

Đủ

Ngày đăng: 06/07/2016, 14:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Hoài Chang (2005), “ Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại Việt Nam”, Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng, số 8, tr. 36 – 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trongcác ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: Vũ Hoài Chang
Năm: 2005
2. Nguyễn Đức Đương (2005), “Thông tin tín dụng trong quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”, Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng, số 10, tr 1 – 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin tín dụng trong quản trị rủi ro tíndụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Đương
Năm: 2005
4. TS. Nguyễn Hồng Minh (2007), Bài giảng “Quản trị rủi ro trong đầu tư” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro trong đầu tư
Tác giả: TS. Nguyễn Hồng Minh
Năm: 2007
3. PGS.TS. Phan Thị Thu Hà (2007), Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
5. Luật các tổ chức tín dụng số 07/1999/QH10 do Quốc hội thông qua ngày 12/12/1997 và lậu sửa đổi bổ sung các tổ chức tín dụng số 20/2004 do Quốc hội thông qua ngày 15/06/2004 Khác
6. Luật đầu tư số 59/2005/QH 11 ngày 29/11/2005 Khác
7. Ngân hàng công thương Việt Nam (2004), Sổ tay tín dụng Khác
8. Ngân hàng công thương Việt Nam (2003), Quy trình thẩm định dự án đầu tư Khác
9. Ngân hàng công thương Việt Nam, Văn bản hướng dẫn cho vay các dự án trong nền kinh tế tại chi nhánh Khác
10. Ngân hàng công thương Chi nhánh Thanh Xuân (2007), 10 năm xây dựng và phát triển Khác
11. Ngân hàng công thương Chi nhánh Thanh Xuân, Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức ngân hàng công thương Thanh Xuân - Luận văn quản lý rủi ro các dự án đầu tư tại ngânhàng NHTMCP công thương (vietinbank) chi nhánh thanh xuân hà nội
Sơ đồ 1 Cơ cấu tổ chức ngân hàng công thương Thanh Xuân (Trang 29)
Bảng 2: Bảng kết quả huy động vốn cụ thể từng hạng mục 2006-2008 - Luận văn quản lý rủi ro các dự án đầu tư tại ngânhàng NHTMCP công thương (vietinbank) chi nhánh thanh xuân hà nội
Bảng 2 Bảng kết quả huy động vốn cụ thể từng hạng mục 2006-2008 (Trang 36)
Bảng 3: Báo cáo kết quả kinh doanh 2006 – 2008 - Luận văn quản lý rủi ro các dự án đầu tư tại ngânhàng NHTMCP công thương (vietinbank) chi nhánh thanh xuân hà nội
Bảng 3 Báo cáo kết quả kinh doanh 2006 – 2008 (Trang 37)
Sơ đồ 2: Qui trình tiếp nhận hồ sơ dự án - Luận văn quản lý rủi ro các dự án đầu tư tại ngânhàng NHTMCP công thương (vietinbank) chi nhánh thanh xuân hà nội
Sơ đồ 2 Qui trình tiếp nhận hồ sơ dự án (Trang 39)
Sơ đồ 3: Qui trình cho vay theo dự án tại chi nhánh - Luận văn quản lý rủi ro các dự án đầu tư tại ngânhàng NHTMCP công thương (vietinbank) chi nhánh thanh xuân hà nội
Sơ đồ 3 Qui trình cho vay theo dự án tại chi nhánh (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w