1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thu hút FDI vào ngành công nghiệp nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào

93 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 790 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bắt đầu từ năm 1994, Luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành, Lào đã thu hút được lượng vốn FDI ngày một tăng lên, góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế xã

Trang 1

Lời mở đầu

Thực tế đã chứng tỏ đối với mỗi quốc gia, sự phát triển kinh tế- xã hội gắn liền với đầu tư Tuy nhiên, đối với một nước chậm phát triển như Lào là rất cần thiết lượng vốn để đầu tư phát triển kinh tế- xã hội Vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài là một nguồn lực quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Lào

Bắt đầu từ năm 1994, Luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành, Lào đã thu hút được lượng vốn FDI ngày một tăng lên, góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế xã hội của Lào, góp phần tăng thu nhập của nhân dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước đi theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa các ngành nghề kinh doanh, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, giảm thất nghiệp…

Công nghiệp là một ngành sản xuất kinh doanh trong quá trình kinh doanh lớn và quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Vậy, thu hút vốn FDI vào phát triển ngành Công nghiệp là một vấn đề cấp bách Trong thời gian qua việc thu hút vốn FDI vào phát triển công nghiệp Lào vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đạt yêu cầu Số lượng dự án, lượng vốn đầu tư vào ngành công nghiệp còn hạn chế Để nghiên cứu và khắc phục những hạn chế trong việc thu hút vốn FDI vào phát triển ngành công nghiệp, tác giả lựa chọn đề tài:

“Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành công nghiệp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” làm đề tài luận văn thạc sỹ của

mình

Trang 2

Chương I: Những vấn đề chung về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và sự cần thiết phải thu hút FDI vào ngành công

nghiệp nước CHDCND Lào.

1.1 Khái quátchung về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chúng ta có thể thấy rằng có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài Mỗi khái niệm đều cố gắng khái quát hoá bản chất và nhấn mạnh đến một khía cạnh nào đó của đầu tư trực tiếp nước ngoài Có thể thấy rõ đầu tư trực tiếp nước ngoài qua các khái niệm sau:

Trên thế giới có nhiều cách diễn giải khái niệm về FDI, tuỳ theo góc

độ tiếp cận của nhà kinh tế Tuy nhiên, cách định nghĩa được sử dụng rộng rãi nhất là do Quỹ tiền tệ quốc tế đưa ra Theo IMF: “FDI là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư ” Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư mong muốn tìm được chỗ đứng trong việc quản

lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường

Synthia Day Wallace đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể định nghĩa theo nghĩa rộng là việc thiết lập hay giành được quyền sở hữu đáng kể trong một loại công ty ở nước ngoài hay sụ gia tăng khối lượng của một khoản đầu tư nước ngoài nhằm đạt được quyền sở hữu đáng kể” Khái niệm này nhấn mạnh đến quyền sở hữu

Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12-11-1996: “FDI

là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vàoi Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất

cứ tài sản để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư nước ngoài” Khái niệm này nhấn mạnh chủ đầu tư là người nước ngoài,

Trang 3

nhằm xác định được tư bản, được chuyển dịch trong FDI nhất thiết phải vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia.

Theo luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại nước CHDCND Lào sửa đổi năm 2004, số 11/QH Thủ đô Viêng Chăn ngày 22/10/2004, ĐTNN tại CHDCND Lào được quy định như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài có nghĩa là thu hút vốn gồm có tài sản, công nghệ và nhân lực của nước ngoài vào CHDCND Lào với mục đích kinh doanh”

Các quan điểm và định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được đưa ra tuỳ theo góc độ nhìn nhận của các nhà kinh tế, rất phong phú

và đa dạng Qua đó, chúng ta có thể rút ra một định nghĩa chung nhất như sau:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức mà nhà đầu tư bỏ vốn

để tạo lập cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư Trong đó nhà ĐTNN có thể thiết lập quyền sở hữu từng phần hay toàn bộ vốn đầu tư và giữ quyền quản lý, điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn nhằm mục đích thu được lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư đó trên cơ sở tuân theo quy định của Luật ĐTNN của nước đó.

Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được hình thành từ mọi thành phần kinh tế: chính phủ, doanh nghiệp và tư nhân Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận vốn, nguồn vốn đầu tư này mang khoa học, kỹ thuật, bí quyết công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý cho nước tiếp nhận đầu tư Nhà đầu

tư trực tiếp sở hữu, sử dụng và quản lý vốn của mình, vì thế không có quan

hệ vay mượn giữa nhà đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư Nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả

Trang 4

Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh tế vào nước tiếp nhận đầu tư do vậy nó có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn Do vậy, nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ quan trọng đối với quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước nhận vốn.

1.1.2 Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài.

- Chủ đầu tư phải thực hiện nghiêm túc những quy định của pháp luật mà nước sở tại đề ra đối với hoạt động đầu tư của mình

- FDI không để lại gánh nặng nợ nần cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư như hỗ trợ phát triển chính thức hoặc các hình thức đầu tư nước ngoài khác như vay thương mại, phát hành cổ phiếu ra nước ngoài…

- FDI là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn ra khỏi nước tiếp nhận đầu tư

- FDI không đơn thuần chỉ là vốn mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ thuật, phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới, thị trường mới…cho nước tiếp nhận đầu tư

- FDI thường tập trung vào những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao

vì mục tiêu của nhà đầu tư là kiếm lợi nhuận

1.2 Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài rất đa dạng như: doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hình thức liên doanh, công ty cổ phần, công

ty quản lý vốn, chi nhánh công ty nước ngoài…Ở Việt Nam, theo quy định Luật đầu tư nước ngoài các hình thức cơ bản của đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm:

Trang 5

1.2.1 Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh:

Đây là một loại hình đầu tư, trong đó các bên tham gia hợp đồng ký kết thoả thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư trên cơ sở quy định rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho các bên tham gia

Theo Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại nước CHDCND Lào, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh là hợp tác kinh doanh giữa pháp nhân trong nước với pháp nhân nước ngoài mà không thành lập một pháp nhân mới tại nước CHCDND Lào

Mục đích, hình thức hợp tác, điều khoản kinh doanh, quyền , nghĩa

vụ, trách nhiệm và lợi ích của mỗi bên phải được quy định trong hợp đồng

Ưu điểm:

- Đây là hình thức phổ biến trong đầu tư nước ngoài

- Trên cơ sở cùng sở hữu về vốn góp, cùng quản lý, cùng phân phốilợi nhuận, cùng gánh chịu rủi ro Do đó các bên tận dụng được lợi thế của nhau Nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện tiếp thu các công nghệ tiên tiến hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý, trình độ quản lý kinh tế, kỹ thuật của nước ngoài để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật của nước mình nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới

- Đối với nước nhận đầu tư, hình thức này đảm bảo được vai trò kinh

tế của nhà nước đó là quản lý, kiểm soát đối với hoạt động đầu tư

Nhược điểm:

- Thông thường thì đối tác nước ngoài có công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hơn nước sở tại Mặt khác quá trình hoạt động được tiến hành giữa các bên có sự bất đồng về ngôn ngữ, khác

Trang 6

nhau về văn hoá, về chế độ chính trị, về hệ thống luật pháp….Nên nếu không có sự thống nhất sẽ dễ xảy ra mâu thuẫn trong quá trình điều hành sản xuất kinh doanh, tranh chấp quyền lợi và nước sở tại dễ bị thua thiệt do trình độ cán bộ tham gia liên doanh, năng lực cán bộ quản lý.

1.2.2 Doanh nghiệp có vốn hỗn hợp (công ty cổ phần, công ty liên doanh):

Đây là hình thức doanh nghiệp có các bên nước ngoài và nước chủ nhà cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng thưởng lợi và chia sẻ rủi ro theo

tỷ lệ vốn góp Thông thường nhà đầu tư không được góp ít hơn một tỷ lệ đã được quy định trong luật của nước nhận đầu tư

Theo Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào, doanh nghiệp có vốn hỗn hợp là liên doanh đã thành lập và lập biên bản đăng ký theo luật của nước CHDCND Lào có sự hoạt động kinh doanh và uỷ quyền chung giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước Tổ chức, quản

lý, hoạt động và hợp tác giữa nhà đầu tư trong liên doanh có giới hạn hợp đồng giữa hai bên và nội quy của liên doanh đó

Riêng nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trong liên doanh cần góp vốn tối thiểu 30% của tổng vốn đăng ký

Góp vốn ngoại tệ phải thanh toán bằng tiền Kíp theo tỷ giá ngân hàng CHDCND Lào trong ngày góp vốn

Ưu điểm:

- Vì đây là hình thức liên kết kinh doanh giữa đối tác trong nước với nhà đầu tư nước ngoài, trong đó các bên giữ nguyên tư cách pháp nhân nên hình thức này có tính khả năng độc lập cao giữa các bên, phát huy thế mạnh của mỗi bên, các bên không phải chịu trách nhiệm liên đới, nâng cao trình độ chuyên môn và trình độ quản lý cho cán bộ, tạo thêm việc làm cho người lao động

Trang 7

Nhược điểm:

- Do có tính độc lập giữa các bên nên khó quản lý, điều phối công việc, máy móc thường được đầu tư ở mức lạc hậu

1.2.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:

Đây là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà,

tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh

Theo luật về khuyến khích ĐTNN tại CHDCND Lào doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp của người nước ngoài đầu tư tại CHDCND Lào Sự thành lập doanh nghiệp có thể thành lập pháp nhân mới hoặc thành lập chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài

Ưu điểm:

- Hình thức này đảm bảo tính độc lập tự chủ của nhà đầu tư Họ không bị lệ thuộc, chia sẻ quyền lợi với một bên nào khác, do đó dự án được triển khai nhanh, hoạt động có hiệu quả, nhanh thu hồi vốn và có lãi

- Đây là hình thức mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ 100% vốn, nước sở tại không phải bỏ vốn, không tham gia trực tiếp quản lý mà NSNN vẫn có được nguồn thu từ hoạt động của doanh nghiệp này đồng thời giải quyết được việc làm cho người lao động

Nhược điểm:

- Đối với nước đầu tư thì lĩnh vực kinh doanh bị hạn chế hơn do nước sở tại không cho phép và nếu nhà đầu tư không hiểu rõ về chính sách – pháp luật, văn hoá, chính trị, nguồn lao động, thị trường của nước sở tại thì rất dễ bị thiệt hại, gặp nhiều trắc trở trong kinh doanh

- Đối với nước nhận đầu tư: Sẽ phải đối phó với một những hiện tượng tiêu cực do nhà đầu tư nước ngoài mang lại, một số ngành nghề, lĩnh

Trang 8

vực bị chi phối vì mục tiêu của nhà đầu tư là lợi nhuận tối đa Do nước sở tại không được tham gia hoạt động kinh doanh nên các nhà quản lý rất khó kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động của doanh nghiệp này Nếu hình thức này được thực hiện tràn lan nó sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp trong nước vì các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tiềm lực vốn lớn,

có nhiều kinh nghiệm trong chiến lược kinh doanh

1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, nó tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống, kinh tế - xã hội và chính trị của nước tiếp nhận đầu tư Về mặt kinh tế, vốn FDI tác động đến tốc độ tăng của GDP, cán cân thanh toán, phúc lợi xã hội, thu nhập người lao động và các chỉ tiêu kinh tế khác Về mặt xã hội, vốn FDI có tác động đến văn hoá, đạo đức của nước nhận vốn

1.3.1 Đối với nước đi đầu tư

- Thông qua FDI, chủ đầu tư có thể khai thác lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư, nhờ việc giảm giá nhân công, chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất khác và thuế… chủ đầu tư có thể giảm được giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh quốc tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như lợi nhuận của vốn đầu tư, đồng thời giảm bớt rủi ro đã đầu tư so với chỉ tập trung vào sản xuất trong nước

- Thông qua FDI, chủ đầu tư có thể kéo dài chu kỳ sống của máy móc, thiết bị trong nước, bằng cách di chuyển những máy móc thiết bị đã lạc hậu, đã khấu hao sang các quốc gia khác để tiếp tục sử dụng

- FDI giúp bên đầu tư tạo lập nguồn nguyên liệu dồi dào, ổn định, đáp ứng nhu cầu đầu vào của sản xuất và giá cả phải chăng

- FDI giúp các nước chủ đầu tư tăng thêm sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tín chính trị trên trường quốc tế Thông qua xây dựng nhà máy

Trang 9

sản xuất vào thị trường tiêu thụ ở nước ngoài, thâm nhập vào các quốc gia tiếp nhận đầu tư, tránh được hàng rào thuế quan và phi thuế quan

Tuy nhiên, nhà đầu tư cần phải nắm vững chính sách- luật pháp, điều kiện kinh tế - xã hội, nhạy bén với tình hình chính trị và văn hoá của nước nhận vốn nếu không muốn gặp trắc trở trong hoạt động đầu tư và để có thể thu được lợi ích tối đa trong kinh doanh

1.3.2 Đối với nước nhận đầu tư

- Xét về nhu cầu vốn, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư trong nước, nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư cho phát triển

Tình trạng thiếu hụt vốn đầu tư là phổ biến và ở nhiều lĩnh vực, là một vấn đề nan giải trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nghèo và đang phát triển Trong khi đó, vốn là cơ sở để tạo ra việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động…từ đó là tiền đề tăng thu nhập, tăng tích luỹ cho sự phát triển của xã hội

Bên cạnh việc bổ sung vốn, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn tác động tích cực đến thị trường tài chính của nước nhận đầu tư, thúc đẩy sự hình thành các thể chế tài chính mới như ngân hàng, thị trường chứng khoán…

để tạo nguồn cho hoạt động đầu tư

- Việc tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại một lợi ích lâu dài cho nước sở tại như các công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến

Các nước đang phát triển do điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, khoa học, kỹ thuật và công nghệ vẫn chưa phát triển dẫn đến năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm kém Phần lớn công nghệ mới, hiện đại có được ở các nước này đều bắt nguồn từ nước ngoài bằng các con đường khác nhau Trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là một kênh quan

Trang 10

trọng để có được công nghệ cao từ bên ngoài Nhà đầu tư nước ngoài còn đưa chuyên gia hoặc đào tạo cán bộ bản xứ về các lĩnh vực cần thiết phục

vụ cho hoạt động của dự án Điều đó giúp nước nhận vốn vừa nhận được vốn bằng tiền vừa nhận được cả máy móc, công nghệ và kinh nghiệm quản

lý tiên tiến của nước ngoài Điều đó sẽ giúp cho người lao động bản địa học tập được kỹ năng, tích luỹ được kinh nghiệm, nâng cao kiến thức thực hành trong quá trình sản xuất, vận hành công nghệ và các hoạt động quản lý, tiếp cận thị trường Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có

cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này

đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần không ít vào việc thúc đẩy quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu

tư, đặc biệt là đối với nước đang phát triển: tăng năng lực sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tránh được nợ nước ngoài so với các loại hình đầu tư từ các nguồn vốn khác như tín dụng quốc

tế, hỗ trợ chính thức (ODA)…, nhiều ngành nghề mới được xuất hiện, tỷ trọng vốn đầu tư vào tài sản cố định ngày càng tăng

- FDI tạo cơ hội cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước

có thể tiếp cận được với thị trường quốc tế thông qua các liên doanh với nước ngoài và thị trường rộng lớn của họ

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến lĩnh vực giáo dục, đào tạo của đội ngũ lao động, góp phần tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, qua đó nâng cao đời sống nhân dân Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ

Trang 11

thuê mướn nhiều lao động địa phương Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, ngoài những vai trò tích cực mà FDI mang lại, nước tiếp nhận đầu tư cũng gặp phải không ít khó khăn, đó là:

- Chi phí của việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài thường cao hơn so với các nguồn vốn đầu tư khác từ nước ngoài

- Nếu không có quy hoạch cụ thể và khoa học, sẽ có thể dẫn tới đầu tư tràn lan, khai thác không có hiệu quả nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường

- Với mong muốn thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hơn, nước tiếp nhận đầu tư thường áp dụng nhũng ưu đãi với các nhà đầu tư như giảm hoặc miễn một số loại thuế, phí trong nước Điều này dẫn tới lợi ích của nước tiếp nhận đầu tư đôi khi bị thất thoát, lợi ích của nhà đầu tư đôi khi vượt quá lợi ích của nước tiếp nhận đầu tư

- Nhà đầu tư, với xu hướng đưa công nghệ lạc hậu vào các nước tiếp nhận đầu tư với đơn giá cao là một trong những nguyên nhân chi phí sản xuất cao, chất lượng sản phẩm không đạt tiêu chuẩn mục tiêu, làm mất đi khả năng cạnh tranh, giảm hiệu quả sản xuất, kìm hãm phát triển nền kinh

tế và nguy cơ biến nước tiếp nhận đầu tư trở thành bãi thải công nghệ của quốc gia khác

Trang 12

- Nước tiếp nhận đầu tư còn thiếu đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm quản lý dẫn đến thua thiệt trong dự án liên doanh, hợp tác Điều đó có thể gây sức ép về kinh tế thậm chí về chính trị cho nước tiếp nhận đầu tư.

1.4 Các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.4.1 Sự ổn định về chính trị

Yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài

là yếu tố môi trường chính trị ổn định Bởi đây là điều kiện ảnh hưởng đến mức độ rủi ro của đồng vốn mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ ra, những bất đồng về chính trị - xã hội sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất và tiêu thụ trên thị trường trong nước, gây tác động không nhỏ đến các nhà đầu tư, thậm chí có thể làm cho nhà đầu tư bị phá sản Đầu tư trực tiếp nước ngoài

là hoạt động kinh doanh trong môi trường xa lạ, vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài nên các nhà đầu tư nước ngoài rất sợ tài sản của họ bị nước chủ nhà tịch thu quốc hữu hoá Vậy, chính trị ổn định sẽ dẫn đến nền kinh tế- xã hội ổn định có nghĩa là vốn đầu tư cũng được đảm bảo an toàn, giảm được khả năng rủi ro đầu tư…điều đó sẽ khuyến khích được các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư ở nước nhận đầu tư hơn

1.4.2 Chính sách – pháp luật

Mỗi một quốc gia muốn xây dựng được môi trường đầu tư lành mạnh thì mỗi bộ phận quan trọng mà không thể thiếu được là hệ thống luật pháp, bao gồm các văn bản luật, các quy định liên quan đến hoạt động đầu

tư, thương mại, chính sách xuất nhập khẩu, thuế xuất, lao động…tất cả phải đảm bảo sự nhất quán, không mâu thuẫn, chồng chéo nhau, có hiệu lực trong thực tiễn và đảm bảo tính bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, phù hợp với thông lệ quốc tế…nếu không thì sẽ dẫn đến hiện tượng gây trắc trở trong quá trình hoạt động đầu tư, làm các nhà đầu tư cảm

Trang 13

thấy lung túng dễ rơi vào cảnh vi phạm pháp luật và làm ăn thua lỗ Vì thế

họ sẽ không yên tâm làm ăn lâu dài ở nước nhận đầu tư

Ngoài hệ thống các văn bản pháp luật, mỗi quốc gia còn phải ban hành các chính sách ưu đãi về thương mại, thuế xuất, tiền tệ…để tăng cường thu hút đầu tư Các chính sách phải rõ ràng, dễ hiểu và dễ áp dụng

và đảm bảo tính bình đẳng

1.4.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng

Hệ thống cơ sở hạ tầng luôn được đề ra như một yêu cầu hàng đầu của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, bưu chính, viễn thông, hệ thống điện, nước đáp ứng được nhu cầu sản xuất và hệ thống mạng lưới y tế, giáo dục Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển sẽ giúp các hoạt động sản xuất, kinh doanh được diễn ra thuận lợi hơn, có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình triển khai và thực hiện dự án của nhà đầu tư Một nước sẽ không thể thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài nếu không có kết cấu cơ sở hạ tầng đủ tốt và đảm bảo chất lượng dịch vụ cho nhà đầu tư (như nước Lào)

1.4.4 Trình độ phát trển kinh tế

Các nhà đầu tư nước ngoài thường mong muốn được bỏ vốn đầu tư của mình vào nước có trình độ quản lý kinh tế tốt vì những nước có trình

độ quản lý tốt sẽ không có tình trạng lạm phát cao, nợ nước ngoài lớn, tốc

độ tăng trưởng thấp, thủ tục hành chính rườm rà, tham ô tham nhũng, nguy

cơ tụt hậu…vì đây là những nguy cơ dẫn đến khủng hoảng kinh tế, không

an toàn cho vốn đầu tư của họ

Trang 14

1.4.5 Đặc điểm văn hoá – xã hội

Đặc điểm văn hoá xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động đầu tư nước ngoài Nó bao gồm các yếu tố chủ yếu là ngôn ngữ, tôn giáo, giá trị đạo đức và tinh thần dân tộc phong tục tập quán, thị hiếu thẩm mỹ và giáo dục Các yếu tố này có thể gây trắc trở,khó khăn hoặc đẩy nhanh quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài

Tôn giáo phản ánh tín ngưỡng của con người vào một đấng siêu nhiên, có tác động mạnh đến các quan niệm sống của con người về các giá trị cá nhân và xã hội, làm ảnh hưởng đến thái độ đối với các nhà kinh doanh, tập quán tiêu dung và thuần phong mỹ tục

Giá trị đạo đức và tin thần dân tộc của nước sở tại cũng ảnh hưởng tương đối lớn đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Nếu một xã hội không phân biệt đối xử, coi trọng lòng tin, yêu thương lẫn nhau thì sẽ giảm được tình trạng tệ nạn xã hội

Nói đến thị hiếu thẩm mỹ thì mỗi nước, mỗi nền văn hoá đều có các nhìn nhận riêng biệt, có cách nhìn riêng về cái đẹp trong màu sắc, hình ảnh,

âm nhạc…Các đặc điểm này có ảnh hưởng tới thiết kế nhãn hiệu, quảng cáo và kiểu dáng của sản phẩm, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư

Trình độ phát triển giáo dục tốt và các cơ cấu đào tạo hợp lý đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, là cơ sở quan trọng

để cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài đội ngũ lao động có tay nghề cao Nhờ đó giảm được chi phí đào tạo nhân lực và đáp ứng yêu cầu sản xuất của nhà đầu tư

1.5 Vai trò của vốn FDI trong ngành công nghiệp Lào

Đâu tư trực tiếp nước ngoài là một trong dòng vốn chảy vào công nghiệp Lào và ngày càng thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tiến trình

Trang 15

CNH, HĐH Trong điều kiện của Lào hiện nay, những công trình lớn và quan trọng cho tiến trình CNH, HĐH như nhà máy thuỷ điện, nhà máy sản xuất xi măng, nhà máy khai thác khoáng sản…nếu không có FDI thì chúng

ta không thể làm được

Thu hút FDI vào phát triển ngành công nghiệp là biện pháp huy động vốn nhanh và có hiệu quả, vì phần lớn nguồn vốn FDI là nguồn vốn được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và được chính những người chủ đầu tư này tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý và điều hành sản xuất do đó nó mang lại hiệu quả cáo trong hoạt động đầu tư Mặt khac, FDI luôn gắn liền với công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến và thị trường mở rộng Do đó, mà FDI luôn có khả năng đạt hiệu quả cao Còn vốn ODA thuộc loại hình đầu tư gián tiếp, nó phụ thuộc vào quan hệ chính trị giữa các chính phủ Nước nhận vốn ODA được toàn quyền quản lý và sử dụng vốn đó dựa trên những điều kiện và nguyên tắc mà bên cung cấp ODA đưa

ra, nên thường hiệu quả không cao và dẫn tới nợ nước ngoài Tuy nhiên với bản chất ODA là viện trợ không hoàn lại nên nó tạo điều kiện trong việc đầu tư vào những ngành nghề mà không thu hút được FDI

- Thu hút vốn FDI cho phép khai thác nhanh và có hiệu quả các nguồn lực của công nghiệp và lợi thế so sánh quốc gia, các nguồn lực để phát triển công nghiệp là vốn, công nghệ, nhân lực và tài nguyên Chúng ta

có thể khai thác các nguyồn lực đó nếu chúng ta có đủ lượng vốn Hiện nay, xu thế kinh tế thời kỳ mở cửa đã cho phép các quốc gia có thể khai thác các nguồn lực trên ở khắp thế giới chứ không chỉ bó hẹp ở trong nước Thu hút vốn FDI đã trở thành giải pháp quan trọng để khai thác các nguồn lực của công nghiệp và lợi thế so sánh ở nhiều quốc gia (kể cả nước đi đầu

tư và nước tiếp nhận đầu tư) Thông qua đó, tạo thêm công ăn việc làm,

Trang 16

tăng thu nhập cho người lao động, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và kích thích tăng trưởng kinh tế xã hội nói chung và công nghiệp nói riêng.

- Thu hút vốn FDI là biện pháp hữu hiệu nhất để vượt qua hàng rào thế quan và phi thuế quan của nước bảo hộ sản xuất chặt chẽ nhằm thâm nhập các thị trường mới mở rộng thị trường công nghiệp

- Thông qua thu hút vốn FDI mà các công ty trong nước có thể mở rộng các hoạt động liên kết theo chiều dọc và chiều ngang với các công ty khác

để phát triển sản xuất các mặt hàng mới, nội địa hoá các sản phẩm, đa dạng hoá các mặt hàng, phát triển xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán, tạo điều kiện

và cơ hội cho công nghiệp Lào chúng tôi tham gia vào phân công lao động quốc tế, hội nhập vào nền công nghiệp trong và ngoài khu vực

Thông qua việc thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy các cơ sở công nghiệp sản xuất các mặt hàng phục vụ xuất khẩu và phát triển thành các ngành công nghiệp xuất khẩu Đó là những sản phẩm, những ngành có lợi thế và có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài khu vực

Như vậy, FDI đóng vai trò hết sức đặc biệt quan trọng trong việc phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại hoá một cách có hiệu quả Thu hút vốn FDI không chỉ có ý nghĩa đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư mà còn

có ý nghĩa đối với cả quốc gia chủ đầu tư trong việc khai thác các nguồn lực của công nghiệp và lợi thế so sánh của các quốc gia Thông qua đó giải quyết tình trạng thất nghiệp, tăng thu nhâp, mở rộng thị trường và kích thích tăng trưởng, từng bước hội nhập vào nền kinh tế trong và ngoài khu vực Thu hút vốn FDI vào phát triển ngành công nghiệp có ý nghĩa hết sức

to lớn và là xu hướng có tính quy luật của nền kinh tế thế giới Mặt khác, nhu cầu về vốn đối với công nghiệp Lào là rất lớn Vì thế, thu hút FDI vào ngành công nghiệp Lào là đòi hỏi rất bức thiết

Trang 17

1.6 Những bài học kinh nghiệm thu hút FDI của Việt Nam và bài học đối với Lào.

1.6.1 Kinh Nghiệm thu hút FDI của Việt Nam:

1.6.1.1 Thực trạng thu hút FDI của Việt Nam

Một bộ phận quan trọng không thể thiếu đươc của nền kinh tế Việt Nam là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trong hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được đối xử bình đẳng không khác với các doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện cho đầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn vào phát triển các ngành, các vùng lãnh thổ phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam Để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã đa dạng hoá hình thức đầu tư và

cơ chế đầu tư thông thoáng, tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào các ngành, các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, bảo đảm tính thống nhất, ổn định, minh bạch và ngày càng hấp dẫn trong chính sách ĐTNN Đổi mới phương thức quản lý nhà nước và cải tiến mạnh mẽ thủ tục đầu tư, thực hiện đúng theo các quy định của Luật Đầu tư

và phù hợp với lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam

* Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam trải qua giai đoạn từ năm 1988 đến nay:

- Giai đoạn 1988-1990: là giai đoạn khởi đầu, FDI chưa có tác động

rõ rệt đến tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam Vào thời gian này, ngoài việc có được một bộ luật ĐTNN khá hấp dẫn, các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương chưa có nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong việc thu hút và quản lý FDI; mặt khác, các nhà ĐTNN coi Việt Nam như

“một vùng đất mới” hứa hẹn sự hấp dẫn, nhưng lại rất thận trọng trong việc quyết định tiến hành đầu tư vào Việt Nam Vì vậy, trong suốt giai đoạn

Trang 18

này, chỉ có 214 dự án được cấp phép với vốn đăng ký là 1,58 tỷ USD; vốn thực hiện không đáng kể, bởi vì các doanh nghiệp FDI sau khi được cấp giấy phép còn phải làm nhiều thủ tục cần thiết mới có thể đưa dự án vào hoạt động.

- Giai đoạn 1991-1997: là thời kỳ FDI tăng trưởng nhanh và góp phần

quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước Trong đó, thời kỳ 1991-1995 thu hút được 16,2 tỷ USD vốn đăng ký; mức tăng trưởng hàng năm rất ngoạn mục: nếu như năm 1991 thu hút được 1,275

tỷ USD thì năm 1995 là 6,6 tỷ USD, bằng 5,3 lần năm 1991 Vốn thực hiện trong cả 5 năm là 7,153 tỷ USD, trong đó vốn của nước ngoài là 6,086 tỷ USD, bằng 32% tổng số vốn đầu tư của cả nước Hai năm tiếp theo (năm

1996 và 1997), FDI tiếp tục tăng trưởng, thêm 13,289 tỷ USD vốn đăng ký và 6,129 tỷ USD vốn thực hiện, trong đó vốn của nước ngoài là 5,382 tỷ USD

Có thể khẳng định, đây là thời kỳ hoạt động FDI rất sôi động, hàng nghìn đoàn khách tìm kiếm cơ hội đầu tư, hàng trăm dự án mới chờ thẩm định, hàng chục nhà máy được khởi công cùng một lúc; bản đồ FDI thay đổi từng ngày trên đất nước Việt Nam

Trong thời kỳ này, môi trường đầu tư ở Việt Nam còn hấp dẫn, chi phí đầu tư và kinh doanh còn thấp, nhà đầu tư đặt hy vọng vào tiềm năng to lớn, nhất là chính sách, luật pháp của Nhà nước, tay nghề và trí tuệ của người Việt Nam

Trên thực tế, cuối thời kỳ kế hoạch 5 năm 1991-1995 đã bắt đầu xuất hiện nhiều trở lực, trước hết là quan điểm, nhận thức đối với FDI và thủ tục hành chính trở nên phiền hà, mà trong thời kỳ tiếp theo ngày càng nghiêm trọng

- Giai đoạn 1997-2000: là thời kỳ suy thoái của FDI, vốn đăng ký

bắt đầu giảm từ năm 1998 và giảm mạnh trong hai năm tiếp theo Năm

1998, vốn đăng ký là 3,89 tỷ USD thì năm 1999 chỉ bằng 40,2% (1,568 tỷ

Trang 19

USD) và năm 2000 là 2,018 tỷ USD Sau khi đã đạt được kỷ lục về vốn thực hiện vào năm 1997 là 3,215 tỷ USD thì ba năm tiếp theo đã giảm sút

rõ rệt, năm 1998 là 2,369 tỷ USD, năm 1999 là 2,535 tỷ USD và năm 2000

là 2,413 tỷ USD

- Giai đoạn từ năm 2001-2005: là thời kỳ phục hồi chậm chạp của

hoạt động FDI Vốn đăng ký năm 2001 là 2,592 tỷ USD, bằng 128% của năm 2000 Hai năm tiếp theo vốn đăng ký lại có sự giảm sút, năm 2002 là 1,621 tỷ USD, chỉ bằng 62,5% năm 2001; năm 2003 là 1,914 tỷ USD, xấp xỉ năm 2000; ước tính vốn đăng ký năm 2004 là 2,1 tỷ USD, tăng 10,5% so với năm trước Đặc biệt năm 2005, lượng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, đạt khoảng 3,5 tỷ USD Vốn thực hiện hàng năm của thời kỳ này khoảng 2,5 tỷ USD Tình trạng giảm sút vốn đăng ký trong nhiều năm gần đây sẽ có tác động tiêu cực đến vốn thực hiện trong những năm sắp tới

Trong những năm gần đây, tuy số lượng vốn cấp mới còn khá khiêm tốn, nhưng nét mới đáng ghi nhận của hoạt động FDI là nhiều dự án triển khai có hiệu quả, do đó đã mở rộng quy mô sản xuất; đến cuối năm 2004 đã

có 2.634 lượt dự án, tăng thêm 10,84 tỷ USD vốn đầu tư; đặc biệt trong hai năm 2002 và 2003, vốn tăng thêm bằng 60-70% vốn đăng ký mới Quy mô vốn bình quân của các dự án tăng thêm cũng cao hơn nhiều so với quy mô bình quân của các dự án mới

- Giai đoạn năm 2006 đến nay: Năm 2006 đánh dấu sự tăng trưởng

ngoạn mục của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Cả nước có 833 dự

án FDI mới, với tổng vốn đăng ký 7,838 tỷ USD và 486 dự án tăng vốn đầu tư 2,362 triệu USD; gộp lại là 10.2 tỷ USD tăng 67% so với năm trước Năm

2007 là năm thu hút vốn đầu tư nước ngoài vượt xa mọi kỳ vọng, đạt 20,3 tỷ USD vốn đầu tư, tăng gấp đôi so với năm 2006, là một con số tăng cao đột biến Đây là năm có vốn FDI cao nhất trong gần hai thập kỷ vừa qua

Trang 20

* Thực trạng thu hút FDI của Việt Nam thông qua tình hình cấp phép đầu tư:

Tính đến hết tháng 12 năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (Kể cả vốn tăng thêm) Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD

Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt động có hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng thêm vốn đầu

tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây Tính đến hết năm 2007 có gần 4.100 lượt

dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18.9 tỷ USD, bằng 23,8% tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới

Thời kỳ 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do số lượng doanh nghiệp ĐTNN còn ít Từ số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ USD trong 5 năm 1991-1995 thì ở giai đoạn 1996-2000 đã tăng gần gấp đôi so với

5 năm trước Trong đó, lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từ năm 2002 và từ năm 2004 đến 2007 vốn tăng thêm mỗi năm đạt trên 2

tỷ USD, mỗi năm trung bình tăng 35%

Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995; 65,7% trong giai đoạn 1996-2000, khoảng 77,3% trong thời kỳ 2001-2005 Trong hai năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 80,17% và 79,1% tổng vốn tăng thêm

Do vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư Châu Á (59%) nên trong số vốn tăng thêm, vốn mở rộng của các nhà đầu tư Châu Á cũng chiếm tỷ trọng cao nhất 66,8% trong giai đọan 1991-1995, đạt 67% trong giai đoạn 1996-

Trang 21

2000, đạt 70.3% trong thời kỳ 2001-2005 Trog hai năm 2007 và 2008 tỷ lệ tương ứng là 72,1% và 80%.

Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng điểm nơi tập trung nhiều dự án có vốn ĐTNN: Vùng trọng điểm phía Nam chiếm 55,5% trong giai đoạn 1991-1995; đạt 68,1% trong thời kỳ 1996-2000 và 71,5% trong giai đoạn 2001-2005 Trong 2 năm

2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 71% và 65% Vùng trọng điểm phía Bắc

có tỷ lệ tương ứng là 36,7%%; 20,4%; trong 2 năm 2006 và 2007

Bảng 1.1: Tổng quan thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988-2007

Năm Số dự án

cấp phép

Tốc độ tăng (%)

Vốn đăng

ký (triệu USD)

Tốc độ tăng (%)

Quy mô bình quân

Trang 22

Vốn đăng ký của các dự án FDI tăng vọt ở năm 2006 và còn tăng cao hơn ở năm 2007 là 20.3 tỷ USD; là một con số cao nhất từ trong vòng 20 năm, con số này khiến nhiều chuyên gia bất ngờ ngoài dự đoán Sự tăng vượt mục tiêu ở năm 2006 là kết quả rất khả quan, bởi rất khó mới đạt được con số đó Vì vậy Bộ kế hoạch và đầu tư chỉ đặt mục tiêu thu hút FDI năm

2007 vào khoảng 13 tỷ USD nhưng không ngờ vốn FDI thu hút được đã lên đến 20.3 tỷ USD

* Thực trạng thu hút FDI thông qua quy mô dự án:

Qua các thời kỳ, quy mô dự án ĐTNN có sự biến động thể hiện khả năng tài chính cũng như sự quan tâm của các nhà ĐTNN đối với môi trường đầu tư Việt Nam Quy mô vốn đầu tư bình quân của một dự án ĐTNN tăng dần qua các giai đoạn, tuy có “trầm lắng” trong vài năm sau khủng hoảng tài chính khu vực 1997 Thời kỳ 1988-1990 quy mô vốn đầu

tư đăng ký bình quân đạt 7,5 triệu USD/dự án/năm Từ mức quy mô vốn đăng ký bình quân của một dự án đạt 11,6 triệu USD trong giai đoạn 1991-

1995 đã tăng lên 12,3 triệu USD/dự án trong 5 năm 1996-2000 Điều này thể hiện số lượng các dự án quy mô lớn được cấp phép trong giai đoạn 1996-2000 nhiều hơn trong 5 năm trước Tuy nhiên, quy mô vốn đăng ký trên giảm xuống 3,4 triệu USD/dự án trong thời kỳ 2001-2005 Điều này cho thấy đa phần các dự án cấp mới trong giai đoạn 2001-2005 thuộc dự án

có quy mô vừa và nhỏ Trong 2 năm 2006 và 2007, quy mô vốn đầu tư trung bình của một dự án đều ở mức 14,4 triệu USD, cho thấy số dự án có quy mô lớn đã tăng lên so với thời kỳ trước, thể hiện qua sự quan tâm của một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào một số dự án lớn (Intel, Panasonic, Honhai, Compal, Piaggio )

Trang 23

1.6.1.2 Những thành tựu và tác động của FDI tới tăng trưởng và phát

triển kinh tế của Việt Nam:

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm tăng lượng tiền và tài sản trong nền kinh tế của Việt Nam, do đó tạo khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khai thác có hiệu quả các nguồn lực phát triển, đặc biệt là các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, thị trường… Các thành tựu cụ thể của FDI đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam bao gồm:

- Điều chỉnh cơ cấu kinh tế: Vốn FDI di chuyển vào các ngành sẽ góp phần phát triển các ngành có lợi thế so sánh, các ngành có lợi nhuận cao và các ngành có khả năng cạnh tranh cao Vốn FDI đầu tư vào Việt Nam có tác dụng làm thay đổi cơ cấu kinh tế, tỷ trọng ngành công nghiệp

và dịch vụ tăng lên và tỷ trọng ngành nông nghiệp trong nền kinh tế giảm xuống thể hiện qua 3 lĩnh vực chủ yếu sau:

Một là, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng: Sau khi gia nhập WTO

(2006), Việt Nam đã bãi bỏ các quy định về ưu đãi đối với dự án có tỷ lệ xuất khẩu cao, không yêu cầu bắt buộc thực hiện tỷ lệ nội địa hoá và sử dụng nguyên liệu trong nước Qua các thời kỳ, định hướng thu hút ĐTNN lĩnh vực công nghiệp- xây dựng tuy có thay đổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản vẫn theo định hướng khuyến khích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, thiết bị cơ khí chính xác, sản xuất sản phẩm và linh kiện điện tử…Đây cũng chính là các dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và Việt Nam có lợi thế so sánh khi thu hút ĐTNN Nhờ vậy, cho đến nay các dự án nêu trên giữ vai trò quan trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam, xuất khẩu, tạo nhiều việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp Tính đến hết năm 2007,lĩnh vực công nghiệp xà xây dựng có tỷ trọng lớn

Trang 24

nhẩt với 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, chiếm 66.8% về số dự án, 61% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện.

Hai là, lĩnh vực dịch vụ: Lĩnh vực này có 1.912 dự án còn hiệu lực

với vốn đăng ký là 28.60 tỷ USD, chiếm 22,3% tổng số dự án và 33,43% tổng số vốn đăng ký Trong thời kỳ 1991-1995, lĩnh vực dịch vụ tại Việt Nam đã tỏ ra hấp dẫn đối với các nhà ĐTNN nên đã chiếm 43,62% tổng vốn đăng ký, với nhiều dự án quy mô lớn xây dựng khách sạn, văn phòng cho thuê, nhà ở Tỷ trọng đó đã giảm xuống còn 22,4% trong những năm tiếp theo do tác động của khủng hoảng kinh tế khu vực, cũng như sự hạn chế đầu tư trong ngành bưu chính viễn thông, y tế, giáo dục, du lịch lữ hành, quảng cáo, phân phối hàng hoá Quy mô dự án FDI trong lĩnh vực dịch vụ gấp hai lần các dự án trong công nghiệp và xây dựng Đặc biệt các

dự án có vốn đầu tư trên 500 triệu USD thì lĩnh vực dịch vụ chiếm đến 67% Trong năm 2007 tuy vốn đầu tư đăng ký tiếp tục tập trung vào lĩnh vực công nghiệp (50,6%), nhưng đã có sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư mạnh vào lĩnh vực dịch vụ, chiếm 47,7% tổng vốn đăng ký của cả nước, tăng 16,5% so với năm 2006 (31,19%) với nhiều dự án xây dựng cảng biển, kinh doanh bất động sản, xây dựng khu vui chơi, giải trí.v.v

Ba là, ngành nông, lâm, ngư nghiệp: Lĩnh vực này có 933 dự án và

4,4 tỷ USD; đã thực hiện khoảng 2,02 tỷ USD; chiếm 10,8% về số dự án ; 5,37% tổng vốn đăng ký và 6,9% vốn thực hiện Trong đó, các dự án về chế biến nông sản, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất 53,71% tổng vốn đăng ký của ngành, trong đó, các dự án hoạt động có hiệu quả bao gồm chế biến mía đường, gạo, xay xát bột mì, sắn, rau Tiếp theo là các dự án trồng rừng và chế biến lâm sản, chiếm 24,67% tổng vốn đăng ký của ngành Rồi tới lĩnh vực chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc chiếm 12,7% Cuối cùng

là lĩnh vực trồng trọt, chỉ chiếm gần 9% tổng số dự án Có 130 dự án thuỷ

Trang 25

sản với vốn đăng ký là 450 triệu USD Các dự án ĐTNN trong ngành lâm-ngư nghiệp tập trung chủ yếu ở phía Nam Vùng Đông Nam Bộ chiếm 54% tổng vốn đăng ký của ngành, đồng bằng sông Cửu Long 13%, duyên hải Nam Trung Bộ 15% Miền Bắc và khu vực miền Trung, lượng vốn đầu

nông-tư còn rất thấp, ngay như vùng đồng bằng sông Hồng lượng vốn đăng ký cũng chỉ đạt 5% so với tổng vốn đăng ký của cả nước

Đặc điểm của các dự án trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp là quy

mô nhỏ, một vài triệu USD Trừ một số dự án sản xuất mía đường, thức ăn gia súc, trồng rừng và chế biến nguyên liệu giấy có quy mô lớn hàng chục triệu USD

Trang 26

Bảng 1.2: FDI vào Việt Nam theo ngành, lĩnh vực giai doạn 1988-2007

Nguồn: Cục ĐTNN, Bộ Kế Hoạch và Đầu tư

- Tác động của FDI đến giải quyết việc làm và tăng thu ngân sách

nhà nước:

Việc thu hút FDI dưới dạng thành lập các doanh nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, khu công nghệ cao… của Việt Nam góp phần thu hút

Trang 27

nhiều lao động, đặc biệt là các nguồn lao động tại chỗ Các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp các khoản thuế như thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng (VAT)…và các khoản lệ phí khác vào ngân sách nhà nước đã làm tăng thu cho Ngân sách nhà nước.

- FDI góp phần tăng năng lực sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu: FDI được đưa vào các dự án cùng với công nghệ cao, phương thức quản lý hiện đại với những thương hiệu nổi tiếng và mạng lưới quan hệ rộng, góp phần tăng năng lực sản xuất, mở rộng xuất khẩu, từ đó tăng kim ngạch xuất khẩu, khai thác thị trường nước ngoài và tạo lợi thế kinh tế theo quy mô

- Cải thiện cán cân thanh toán cho Việt Nam: Vốn FDI làm tăng lượng tiền và tài sản nước ngoài trong nền kinh tế, do đó cải thiện cán cân

về vốn nói riêng và cán cân thanh toán nói chung Đồng thời, còn có tác dụng tăng đầu tư của nền kinh tế cho nên góp phần tăng GDP

- Việc thu hút FDI góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ và lực lượng lao động của Việt Nam: Thông qua hoạt động thu hút vốn FDI, đội ngũ cán bộ được đào tạo qua công việc và các khoá huấn luyện hoặc các chương trình đào tạo ngắn hạn và dài hạn Các kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng quản lý và điều hành doanh nghiệp trên quy mô lớn và trong điều kiện cạnh tranh gay gắt… của đội ngũ nhân viên và cán bộ quản lý được cải thiện từng bước

- Mở rộng quan hệ quốc tế: Việc thu hút FDI góp phần mở rộng và phát triển quan hệ giữa Việt Nam và các nước trên thế giới về quan hệ thương mại, đầu tư và quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực khác

1.6.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của việc thu hút FDI của Việt Nam:

* Thuận lợi:

Nhân tố thuận lợi nhất của Việt Nam đó là sự ổn định về chính trị

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và sự đoàn kết của toàn dân Thêm vào đó là việc bình thường hoá quan hệ với Mỹ, tham gia vào các tổ

Trang 28

chức liên kết kinh tế khu vực và quốc tế như AFTA, ASEAN, WTO đã góp phần thu hút được lượng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng

Mức độ tiềm năng phát triển kinh tế Việt Nam: Việt Nam nằm trong khu vực kinh tế phát triển năng động nhất khu vực Châu Á và thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài Các nhà kinh tế dự báo trong tương lai Châu

Á vẫn là địa chỉ hấp dẫn đầu tư lớn nhất do các nước này luôn tích cực khôi phục kinh tế phát triển sản xuất và thu hút đầu tư

Việt Nam là nước có lực lượng lao động dồi dào về số lượng Hơn nữa, người lao động Việt Nam nói chung đều thông minh, sáng tạo, cần cù

và có ý thức tuân thủ kỷ cương lao động Đây là một trong các yếu tố hấp dẫn các nhà ĐTNN đầu tư vào Việt Nam

Đặc biệt từ khi Luật đầu tư ra đời, đảm bảo sự công bằng giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thì quá trình thu hút FDI của Việt Nam càng tăng nhanh hơn

* Khó khăn:

Theo các nhà đầu tư nước ngoài thì thủ tục hành chính của Việt Nam còn nhiều phiền hà, phức tạp làm ảnh hưởng đến các nhà đầu tư Cán bộ quản lý thiếu thông hiểu về pháp luật, thiếu kinh nghiệm chuyên môn trong việc xử lý các tình huống phát sinh…Những điều này tác động rất lớn tới tâm lý các nhà đầu tư

Hệ thống pháp luật của Việt Nam chưa thống nhất, chưa đồng bộ, có khi mâu thuẫn với nhau khiến cho các đối tác nước ngoài gặp không ít khó khăn Điều kiện cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập, trình độ công nhân tay nghề cao còn hạn chế để có thể tiếp xúc được với khoa học công nghệ hiện đại, tác phong lao động công nghiệp chưa cao Mặc dù Việt Nam chuyển

Trang 29

sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng vẫn còn thiếu kinh nghiệm trong việc tạo lập một thị trường đồng bộ như thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường tài chính - tiền tệ mới đạt ở mức sơ khai… Sự hoạt động kém hiệu quả của các thị trường cũng là yếu tố ngăn cản quá trình thu hút FDI Do đặc điểm của FDI là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài mà mục tiêu hàng đầu của các dự án này là lợi nhuận chính vì thế các dự án FDI luôn được các tổ chức đầu tư nước ngoài tập trung vào những ngành công nghiệp mũi nhọn có tính khả thi cao và ít rủi ro chính vì thế mà các ngành thuộc loại mang tính phúc lợi xã hội cao thì ít được các nhà đầu tư nước ngoài này quan tâm như nông nghiệp, xây dựng, chế biến vì vậy việc thu hút FDI vào những ngành này là rất khó và thách thức lớn.

1.6.2 Bài học kinh nghiệm thu hút FDI của Việt Nam

Việt Nam là một nước láng giềng thân thiết của CHDCND Lào, có nhiều điểm tương đồng về kinh tế, văn hoá nên nghiên cứu những kinh nghiệm của Việt Nam và rút ra những bài học trong việc thu hút FDI của CHDCND Lào là rất có ý nghĩa

1.6.2.1 Bài học thành công của Việt Nam trong thu hút và sử dụng FDI

Thứ nhất: Nhất quán quan điểm phát triển dựa trên cả nguồn lực

bên trong và bên ngoài

Một trong những kinh nghiệm quý giá nhất của Việt Nam đã kiên trì theo đuổi cải cách và mở cửa, giữ vững nguyên tắc sử dụng vốn ĐTNN một cách chủ động, hợp lý và hiệu quả Ở Việt Nam cam kết chính trị gần như đóng vai trò quyết định cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung và khu vực ĐTNN nói riêng

Mọi hoạt động kinh tế dù do các nguồn lực bên trong (từ Nhà nước

và nhân dân) hay bên ngoài (từ ĐTNN) hoạt động theo đúng pháp luật đều

Trang 30

được coi là những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tất cả các thành phần đó đều phải được coi trọng, đối xử như nhau

Thứ hai: Thống nhất môi trường pháp lý giữa đầu tư trong nước và

sử dụng ĐTNN cho thấy, cần tiến tới xây dựng mặt bằng pháp lý thống nhất

cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp ĐTNN phù hợp với thông lệ quốc tế Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện chính sách khá thông thoáng, thuận lợi mà trọng tâm là dành cho ĐTNN một số ưu đãi với phạm vi và mức độ khác nhau để thu hút dòng vốn quan trọng này

Đối với Việt Nam, trong quá trình hoàn thiện khung pháp luật về ĐTNN, Việt Nam đã từng bước xoá bỏ một số biệt lệ khác không cần thiết giữa các quy định của pháp luật về ĐTNN và đầu tư trong nước để hướng đến việc tạo lập một “sân chơi” bình đẳng cho cả nhà đầu tư trong nước và nhà ĐTNN

Thứ ba: Thực hiện các chính sách và biện pháp hiệu quả trong thu

hút ĐTNN

Kết hợp chính sách ưu đãi thuế và cải cách thủ tục hành chính để thu hút ĐTNN Thực hiện các chính sách ưu đãi ĐTNN ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Đổi mới về nội dung và phương thức vận động, xúc tiến đầu tư theo một chương trình chủ động, có hiệu quả phù hợp với từng địa bàn; chú trọng xúc tiến đầu tư trực tiếp đối với từng dự án, từng nhà đầu tư có tiềm năng

1.6.2.2 Những bài học không thành công của Việt Nam trong việc thu hút

và sử dụng FDI

Trong quá trình thu hút FDI để phát triển kinh tế, Việt Nam đã thu được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, trong quá trình thu hút FDI

Trang 31

của Việt Nam vẫn có những điểm còn hạn chế cần tiếp tục nghiên cứu và tháo gỡ:

Thứ nhất, việc thu hút vốn FDI vào Việt Nam làm mất cân đối cơ cấu kinh tế.

Cơ cấu ngành và cơ cấu sản phẩm là vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là sự đảm bảo hiệu quả kinh

tế của quá trình phát triển

Do mục đích của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài là lợi nhuận, do

đó, đối với những lĩnh vực, những ngành, những sản phẩm có tỷ suất lợi nhuận cao thì được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm; ngược lại những ngành, những sản phẩm mặc dù rất cần thiết cho dân sinh nhưng không đưa lại lợi nhuận cao thì khó thu hút được FDI Vì vậy, các ngành công nghiệp

và dịch vụ được các nhà ĐTNN quan tâm, nhưng ngành nông nghiệp lại không được quan tâm đầu tư dẫn đến sự mất cân đối về ngành và sản phẩm Tuy nhiên, cần chú ý rằng, các nhà ĐTNN được quyền lựa chọn ngành, sản phẩm, lĩnh vực đầu tư vào nước sở tại Nếu nhà nước muốn thay đổi cơ cấu đầu tư vào các ngành thì cần có các chính sách khuyến khích đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực đó Tuy nhiên, các dự án FDI đã góp phần quan trọng vào việc hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá

- hiện đại hoá của đất nước

Thứ hai, thu hút FDI làm mất cân đối vùng lãnh thổ.

Thực trạng cho thầy rằng, các nhà đầu tư nước ngoài thường tập trung nhiều vào những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuận lợi vì vậy, các thành phố lớn, những địa phương có cảng biển, cảng hàng không

và các tỉnh đồng bằng là nơi tập trung nhiều dự án FDI nhất

Tình trạng mất cân đối vùng lãnh thổ đã dẫn đến một nghịch lý:

Trang 32

những địa phương có trình độ phát triển cao thì thu hút được FDI nhiều, do

đó tốc độ tăng trường kinh tế vượt quá tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước Trong khi đó, những vùng có trình độ kém phát triển thì có ít dự án FDI, tốc độ tăng trưởng vẫn thấp Do đó, nếu không có sự điều chỉnh đầu

tư của Nhà nước, thì sự chênh lệch về trình độ phát triển của các vùng kinh

tế ngày càng tăng thêm

Thứ ba, sự du nhập công nghệ lạc hậu làm giảm sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam.

Nhìn chung, công nghệ sử dụng trong một số doanh nghiệp FDI thường cao hơn mặt bằng công nghệ cùng ngành và cùng loại sản phẩm tại Việt Nam Tuy nhiên, so với thế giới thì tuỳ từng ngành và tuỳ từng dự án đầu tư thì công nghệ sử dụng đó có thể là lạc hậu hơn hoặc là có công nghệ

đó hiện đại hơn chính vì thế mà có những sản phẩm chỉ phân phối ở trong nước nhưng cũng đã có những sản phẩm xuất khẩu ra cả nước ngoài

Thứ tư, vấn đề về lao động và công bằng xã hội.

Những vấn đề tranh chấp trong lao động là khó tránh khỏi do sự khác biệt về văn hoá, truyền thống, phong tục tập quán dẫn đến tình trạng nhiều công ty vi phạm quyền và lợi ích của người lao động

Trên đây là những bài học thành công và không thành công của Việt Nam trong quá trình thu hút vốn FDI Lào có thể chọn lọc những kinh nghiệm này để làm bài học cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Lào hiện nay đem lại hiệu quả

Tuy nhiên, việc đưa ra một chiến lược thu hút đầu tư phù hợp với tình hình mỗi nước, đồng thời ban hành và vận dụng các công cụ nhằm cải thiện môi trường đầu tư, hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài có hiệu quả là rất linh hoạt, tùy vào điều kiện cụ thể của mỗi nước và trong

Trang 33

từng thời kỳ, không thể có một khuôn mẫu áp dụng cho tất cả Đối với Lào, thực hiện đường lối phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa, chúng ta có thể nghiên cứu, học tập có chọn lọc mô hình tổ chức quản

lý nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn FDI vào ngành công nghiệp cũng như mọi lĩnh vực ở nước CHDCND Lào

Chương II Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công

nghiệp nước CHCDND Lào.

Trang 34

2.1 Tổng quan về hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở CHDCND Lào

2.1.1 Giới thiệu khái quát các lợi thế và bất lợi trong thu hút FDI vào Lào.

- Về mặt địa lý: Nước CHDCND Lào được thành lập ngày

02/12/1975, là một nước nằm ở khu vực Đông Nam Á, ở giữa Bán Đảo Đông Dương, không tiếp giáp với biển, có biên giới chung với 5 nước láng giềng, phía Bắc giáp với Trung Quốc có đường biên giới dài 505 Km, phía Nam giáp với Campuchia có đường biên giới dài 435 Km, phía Đông giáp với Việt Nam có đường biên giới dài 2069 Km, phía Tây Nam giáp với Thái Lan có đường biên giới dài 1835 Km và phía Tây Bắc giáp với Myanma có đường biên giới dài 236 Km Lào có rất nhiều sông suối bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đổ ra sông Mê Kông cung cấp nước cho nông nghiệp, nước sinh hoạt; phát triển cây công nghiệp đặc biệt là tiềm năng về thuỷ điện rất lớn Theo dự kiến trong những năm trước mắt có thể khai thác khoảng 2700-3000 MW (năm 2010) thuỷ điện phục vụ phát triển kinh tế

- Về mặt dân số: CHDCND Lào là một nước nhỏ có dân số khoảng

5,7 triệu người (năm 2006) đó là con số vẫn ở mức thấp, trong đó nữ là 2,88 triệu người và nam là 2,86 triệu người, tính trung bình là 24 người/Km2, với diện tích 236.800 Km2 gồm 16 tỉnh và Thủ đô Viêng Chăn Khoảng 79% dân cư sinh sống bằng nghề nông

- Về văn hoá: Nhân dân Lào thành tâm tín ngưỡng Phật giáo, gắn

liền với truyền thống văn minh lúa nước Người Lào coi tự do bình đẳng làm tín điều cao nhất của mình, không lấy gia đình, huyết thống để phân chia cao thấp, có tinh thần văn minh đoàn kết, thương yêu nhau, có truyền thống lao động chăm chỉ cần cù mang đậm phong cách Á Đông và những đặc điểm này

sẽ là yếu tố tích cực cho việc hình thành một lực lượng lao động có nhiều tiềm năng

Trang 35

- Về ngôn ngữ: Là quốc gia có 3 dân tộc lớn: Lào Thâng, Lào Lùm,

Lào Xung những dân tộc thiểu số nhỏ hơn gồm có người Việt và người Hoa song đều có tiếng nói và chữ viết chính thức chung đó là tiếng Lào Ngoài ra tiếng Anh, tiếng Pháp còn được sử dụng khá phổ biến trong văn phòng hành chính và trong hoạt động kinh doanh

- Về kinh tế: Hiện nay Lào phát triển trong bối cảnh nền kinh tế thế

giới có những biến đổi sâu sắc vì thế mục tiêu vừa bảo đảm đi đúng con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá, vừa mở rộng quan hệ quốc tế trên cơ

sở hợp tác cùng có lợi trong xu thế quốc tế hoá ngày càng sâu xắc là rất khó khăn Trong điều kiện đó, hoạt động thu hút FDI Lào đòi hỏi phải hết sức chủ động, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn nghiên cứu

lý luận, ra sức học hỏi, tìm tòi sáng tạo, đồng thời kế thừa, phát huy truyền thống và bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại,

sử dụng có chọn lọc mọi thành tựu và kinh nghiệm của Việt Nam cũng như của thế thế giới

- Về thời điểm tiến hành thu hút FDI: Luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Lào được Quốc hội ban hành ngày 14 tháng 3 nam 1994, nếu đơn thuần so sánh về thời gian ban hành bộ luật này thì Lào chậm hơn so với nước trong khu vực và trên thế giới Vì vậy dẫn đến bất lợi:

Một, không có sự di chuyển vốn hàng loạt của các công ty xuyên quốc gia như đã từng diễn ra ở mấy thập kỷ trước

Hai, bị những phân biệt đối xử nhất định trong quan hệ với các nước do chế độ chính trị khác nhau, kéo theo sự khác biệt nhất định như

hệ thống luật pháp chính sách

Trang 36

Ba, môi trường pháp lý cho hoạt động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang trong quá trình hoàn thiện lại chịu sự thúc ép cạnh tranh trong khu vực.

Tuy vậy Lào cũng có những mặt thuận lợi:

Một, có nhiều yếu tố tự nhiên thuận lợi cho quá trình phát triển kinh

tế và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Hai, là nước đi sau nên Lào cũng có nhiều cơ hội lựa chọn kinh nghiệm của các nước đi trước, đồng thời là thị trường mới mở nên giành được sự quan tâm nhiều hơn của các nhà đầu tư nước ngoài

Ba, yếu tố chính trị xã hội được ổn định từng bước, mọi tầng lớp dân

cư ủng hộ chính phủ và có ý chí vươn lên mạnh mẽ xoá bỏ đói nghèo

Mặc dù Lào tham gia thu hút vốn FDI sau các nước khác nên không còn cơ hội vàng như thời gian trước đây mà các nứơc khác đã có, nhưng không phải không có những thuận lợi Sự chuyển hướng chiến lược kinh

tế xã hội của Lào phù hợp với xu thế của thời đại ngày nay Lào có nhiều

cơ hội để phát triển những ngành có hàm lượng vốn không lớn, sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày, may mặc, lắp ráp…

2.1.2 Thực trạng thu hút vốn FDI vào Lào thời gian qua

Trước bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, cạnh tranh gay gắt trên thị trường thu hút vốn; nhưng với lợi thế về tài nguyên, đất đai, môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện nên tính từ năm 2001 đến tháng 5 năm 2008 đã có 1080 dự án được cấp phép đầu tư với tổng vốn đầu tư khoảng 6.628,07 triệu USD Trong đó có 41 dự án đầu tư vào ngành thuỷ điện với vốn đăng ký là 3.301,79 triệu USD chiếm 49,8% số vốn đầu tư, 171 dự án đầu tư vào ngành nông nghiệp với vốn đăng ký là 832,81 triệu USD, 153 dự án đầu tư vào ngành thăm dò và khai thác mỏ

Trang 37

với vốn đăng ký 699,91 triệu USD, 204 dự án đầu tư vào ngành công nghiệp và thủ công nghiệp với 478,95 triệu…

Theo thông tin Trung tâm Thống kê Lào, từ năm 2001-2005 vốn đầu tư nước ngoài thu hút được ở khu vực vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm thủ dô Viêng Chăn và các tỉnh Trung Lào đạt khoảng 684 triệu USD, chiếm 79% tổng vốn đăng ký Vùng kinh tế phía Nam cũng đã

có nhiều cố gắng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; tính chung 5 năm đã thu hút được 114 triệu USD Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực miền núi phía Bắc còn rất hạn chế

Quy mô trung bình của một dự án đầu tư trong những năm trước khi ban hành Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài là rất nhỏ Năm 1991 chỉ có một dự án sản xuất sản phẩm đồ gỗ của nhà đầu tư Thái Lan, với vốn đăng ký 0,2 triệu USD Đến năm 1993 quy mô trung bình một dự án đầu tư tăng lên gấp đôi là 0,445 triệu UDS/ 1 dự án, dù tăng lên nhưng con số này vẫn được coi là một con số rất thấp Sau khi ban hành Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài ngày 14/3/1994, quy mô trung bình của một dự án đầu tư tăng rẩt nhanh, 93,4 triệu USD/ 1 dự án giai đoạn năm 1994- 2000 Lào là một nước giầu tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản, con song, vì vậy dự án thuỷ điện là chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm 98,85% tổng vốn đầu tư… Đó là một thế mạnh của Lào trong việc thu hút nhà đầu

tư nước ngoài Đến giai đoạn năm 2001-2007 quy mô vốn đầu tư giảm xuống 6.34 triệu USD/ 1 dự án, trong đó có 40 dự án đầu tư vào ngành thủy điện với vốn đăng ký 3.294 triệu USD, 157 dự án về nông nghiệp với vốn đăng ký 785 triệu USD, 139 dự án đầu tư vào khai thác mỏ với số vốn đăng ký 624 triệu USD, 187 dự án đầu tư vào ngành công nghiệp thủ công với

số vốn đăng ký 450 triệu USD, 171 dự án đầu tư vào ngành dịch vụ với vốn đăng ký 318 triệu USD và hơn 200 dự án đầu tư vào những ngành khác trong

Trang 38

những năm này mặc dù thu hút được nhiều nước đến đầu tư, nhưng dự án về thuỷ điện là dự án có quy mô vốn lớn nhất Tính từ năm 2001-2007, bình quân mỗi năm vốn nước ngoài đưa vào Lào gần 1 tỷ USD, dù con số này vẫn còn thấp nhưng cũng đã góp phần vào việc cải tạo, xây dựng và phát triển một số cơ sở kinh tế của đất nước.

Nhịp độ thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn chưa ổn định, năm đầu tiên thực hiện Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài (1994) số lượng vốn đầu tư ở Lào đã đạt được 1.605 triệu USD, trong đó có 2 dự án lớn là dự án thuỷ điện và dự án đầu tư vào bưu chính viễn thông Năm

1995 số lượng vốn đầu tư đạt 1.299 triệu USD, trong đó có 2 dự án thuỷ điện và ngoài ra là dự án có quy mô nhỏ về nông nghiệp và dịch vụ du lịch Năm 1996 đạt được 1.140 triệu USD Năm 1997 tăng lên 1.265 triệu USD và tăng nhiều hơn vào năm 1998 là 2.466 triệu USD Tuy nhiên, năm 1999 - 2001 tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư giảm xuống rất nhiều do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động như khủng hoảng tài chính- tiền tệ của một số nước trong khu vực Châu Á…, số lượng vốn đầu tư chỉ có thể đạt 293 triệu USD năm 1999 và 534 triệu USD năm

2000 và tồi tệ hơn là năm 2001 chỉ đạt được 54 triệu USD, nền kinh tế Lào đã gặp rất nhiều khó khăn

Đến năm giai đoạn năm 2002- 2006 tỷ lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng dần Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt tới 133 triệu USD vào năm 2002, 465 triệu USD năm 2003, 533 triệu USD năm 2004, 1.245 triệu USD năm 2005 và tăng lên gấp đôi vào năm 2006 đạt tới 2.699 triệu USD, năm 2007 đạt 1.136 triệu USD Số lượng vốn đầu tư năm 2006 tăng nhiều như vậy, một phần là do chính phủ Lào có đường lối cải cách bổ sung cơ chế chính sách phù hợp hơn và làm rõ một số cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư, đồng thời chính phủ Lào đã cải

Trang 39

cách chỉnh sửa một số điều khoản trong luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài và luật khuyến khích đầu tư trong nước

2.1.2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo cấp phép đầu tư

Bảng 2.1 Số dự án và vốn FDI vào Lào giai đoạn năm

-Nguồn: Uỷ ban Kế hoạch- Bộ kế hoạch và đầu tư Lào

Qua bảng ta có thể thấy được rằng, kết quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có diễn biến tích cực, lượng vốn FDI vào nước CHDCND Lào có xu hướng ngày càng tăng, chỉ riêng năm 2007 số lượng vốn đầu tư

có dấu hiệu giảm nhưng số dự án vẫn tăng lên và tăng lên 20 dự án so với năm trước

Riêng năm 2006 thì số vốn đầu tư tăng hơn số vốn năm 2005 khoảng 1.454 triệu USD Nguyên nhân chủ yếu là do số lượng các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào CHDCND Lào tăng lên, đặc biệt là các nhà đầu tư Thái Lan và Trung Quốc Mặc dù, số lượng các dự án năm 2006 so với năm 2005 chỉ tăng 28 dự án song số vốn đầu tư của từng dự án lớn nên tổng vốn đầu tư năm 2006 tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2005 Đây

Trang 40

có thể nói là kết quả tích cực sau hai năm đổi mới của Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài của CHDCND Lào

Nếu theo số lượng vốn đầu tư thì quy mô bình quân của một dự án thời kỳ 2001-2006 là khoảng 6,4 triệu USD/dự án Riêng năm 2007, tính theo số lượng vốn đầu tư thì quy mô bình quân của một dự án là khoảng 6 triệu USD/dự án Nếu nhìn lại riêng quy mô dự án bình quân năm 2006 là 15,7 triệu USD/dự án so với năm 2006 thì quy mô dự án bình quân năm

2007 quá thấp

2.1.2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế Lào

Các lĩnh vực được Chính phủ Lào khuyến khích đầu tư là: thực hiện chương trình kinh tế lớn, sản xuất hàng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu, ngành sử dụng kỹ thuật cao, công nhân lành nghề, đầu tư theo chiều sâu

để khai thác và tận dụng các khả năng và nâng cao công suất cuả các cơ

sở kinh tế hiện có, ngành sử dụng nhiều lao động, tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở Lào, xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở, dịch vụ thu tiền ngoại tệ như du lịch, dịch vụ sân bay,…

Ngày đăng: 06/07/2016, 14:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tổng quan thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988-2007 - Luận văn thu hút FDI vào ngành công nghiệp nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào
Bảng 1.1 Tổng quan thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988-2007 (Trang 21)
Bảng 1.2: FDI vào Việt Nam theo ngành, lĩnh vực giai doạn 1988-2007 - Luận văn thu hút FDI vào ngành công nghiệp nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào
Bảng 1.2 FDI vào Việt Nam theo ngành, lĩnh vực giai doạn 1988-2007 (Trang 26)
Bảng 2.1 Số dự án và vốn FDI vào Lào giai đoạn năm - Luận văn thu hút FDI vào ngành công nghiệp nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào
Bảng 2.1 Số dự án và vốn FDI vào Lào giai đoạn năm (Trang 39)
Bảng 2.2 Tình hình phân bổ vốn FDI theo lĩnh vực - Luận văn thu hút FDI vào ngành công nghiệp nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào
Bảng 2.2 Tình hình phân bổ vốn FDI theo lĩnh vực (Trang 41)
Bảng 2.3 Vốn FDI vào Lào phân  theo ngành kinh tế - Luận văn thu hút FDI vào ngành công nghiệp nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào
Bảng 2.3 Vốn FDI vào Lào phân theo ngành kinh tế (Trang 43)
Bảng 2.5.1: FDI vào Lào phân theo ngành kinh tế năm 2006 - Luận văn thu hút FDI vào ngành công nghiệp nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào
Bảng 2.5.1 FDI vào Lào phân theo ngành kinh tế năm 2006 (Trang 45)
Bảng 2.5.2 Vốn FDI vào Lào phân theo ngành kinh tế  năm 2007 - Luận văn thu hút FDI vào ngành công nghiệp nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào
Bảng 2.5.2 Vốn FDI vào Lào phân theo ngành kinh tế năm 2007 (Trang 45)
Bảng 2.6  10 nước đầu tư nhiều nhất vào ngành công nghiệp nước - Luận văn thu hút FDI vào ngành công nghiệp nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào
Bảng 2.6 10 nước đầu tư nhiều nhất vào ngành công nghiệp nước (Trang 48)
Bảng 2.7.1 Nhịp độ tăng giảm vốn FDI theo hình thức Doanh   nghiệp có vốn hỗn hợp vào Công nghiệp Lào từ năm 2001-2007 - Luận văn thu hút FDI vào ngành công nghiệp nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào
Bảng 2.7.1 Nhịp độ tăng giảm vốn FDI theo hình thức Doanh nghiệp có vốn hỗn hợp vào Công nghiệp Lào từ năm 2001-2007 (Trang 50)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w