1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Kinh tế tư nhân trong quá trình phát triển kinh tế VN hiện nay

14 492 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 116,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy không phải là nền kinh tế chủ đạo nhưng thực tiễn phát triển đã chứng minh rằng, kinh tế tư nhân là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta.. Tháng

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay, việc phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một vấn đề cấp bách và không thể thiếu đối với nền kinh tế Việt Nam Tuy không phải là nền kinh tế chủ đạo nhưng thực tiễn phát triển đã chứng minh rằng, kinh tế tư nhân là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta Nhờ có kinh tế tư nhân, vấn đề lao động - một vấn

đề nhức nhối trong các xã hội phát triển - đã được giải quyết một cách đáng kể Không những thế, kinh tế tư nhân cũng chính là động lực thúc đẩy khiến các thành phần kinh tế khác phát triển năng động hơn Chính vì nh ững vai trò to lớn của kinh tế tư nhân mà ngay từ đại hội đảng VI, đảng ta đã chú trọng phát triển kinh tế

tư nhân Tháng 8 năm 1986, từ tổng kết thực tiễn, bộ chính trị đã khẳng định:

“Thừa nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá và một kinh tế

tư bản tư nhân ở một mức độ nhất định trong một thời gian tư ng đối dài, coi đó là

sự cần thiết khách quan để phát triển lực lượng sản xuất, tận dụng các tiềm năng tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động” Nghị quyết đảng X khẳng định:

“Khái niệm kinh tế tư nhân được dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế

độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân Tuy nhiên, quy mô và tính chất của các thành phần kinh tế này không đồng nhất Kinh tế cá thể, tiểu chủ dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ và lao động của chính chủ sở hữu, không mang tính chất bóc lột Trái lại, kinh tế tư bản tư nhân dựa trên chế độ tư hữu tư bản và bóc lột lao động làm thuê Lý luận Mác - Lênin khẳng định sự tồn tại khách quan của kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và việc cải tạo các thành phần kinh tế này theo chủ nghĩa xã hội là một trong những nhiệm vụ kinh tế cơ bản của cả thời kỳ quá độ.” Có thể nói, phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, lâu dài trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã nội chủ nghĩa ở nước ta Đặc biệt kể từ năm

2006, khi chính thức ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới Liệu chúng ta có thể thực

Trang 2

hiện được mục tiêu đưa nước Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020? Chính từ những lý do khách quan trên mà trong bài tiểu luận này, tôi

đã quyết định lựa chọn đề tài “Kinh tế tư nhân trong quá trình phát triển kinh

tế Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu Trong bài viết này, tôi sẽ đi vào những vấn

đề chính cơ bản sau đây:

1 Những vấn đề chung về kinh tế tư nhân

2 Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay

3 Giải pháp để phát triển kinh tế tư nhân trong tương lai

Trong đó, tôi tập trung đi sâu vào nghiên cứu một trong những giải pháp để phát triển kinh tế tư nhân trong tương lai Đó là sửa đổi bổ sung một số cơ chế chính sách

Trang 3

Phần I - Những vấn đề chung về kinh tế tư nhân

Khái niệm kinh tế tư nhân được dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế

độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân Tiêu chí để xác định một thành phần kinh tế có thuộc kinh tế tư nhân hay không là quan hệ sản xuất, trước hết là quan hệ sở hữu Theo đó kinh tế tư nhân là một khu vực kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (hoặc vốn) với các hình thức kinh doanh như doanh nghiệp, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ và bộ phận các doanh nghiệp của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Có thể xem xét kinh tế tư nhân trên các quan hệ kinh tế cơ bản sau đây:

Xét về quan hệ sở hữu: Kinh tế tư nhân thể hiện quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu

sản xuất (hoặc vốn) cũng như nguồn của cải vật chất được tạo ra từ tư liệu sản xuất (hay vốn) đó Nó bao gồm quan hệ sản xuất tư nhân nhỏ, là sở hữu của những người lao động tự do, sản xuất ra của sản phẩm nhờ chính sức lao động của chính mình và các thành viên trong gia đình (như thợ thủ công cá thể, tiểu thương và các

hộ nông dân…) và sở hữu tư nhân lớn của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư ở Việt Nam

Xét về quan hệ quản lý: Xuất phát từ quan hệ sở hữu của kinh tế tư nhân, quan hệ

quản lý của khu vực này gồm các quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ và quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn Quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ dựa trên sự tự tổ chức, điều hành hay tổ chức, phân công công việc trong nội bộ gia đình, giữa các thành viên trong gia đình với nhau Quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn là quan hệ quản lý giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản

lý và khách thể quản lý, giữa người quản lý với người bị quản lý

Xét về quan hệ phân phối: Trong kinh tế tư nhân, quan hệ phân phối dựa trên các

cơ sở các loại hình sở hữu tư nhân khác nhau Đối với các cơ sở kinh doanh mà người sở hữu đồng thời là người trực tiếp lao động, không thuê mướn nhân công thì phân phối kết quản sản xuất là tự phân phối trong nội bộ chủ thể kinh tế đó

Trang 4

Còn đối với các cơ sở kinh doanh lớn thì chủ sở hữu tư liệu sản xuất (hay vốn) sử dụng lao động của lao động làm thuê thì phân phối kết quả sản xuất căn cứ vào sở hữu giá trị tức là giá trị sức lao động của lao động làm thuê và sở hữu tư bản Trong các chế độ chính trị xã hội khác nhau thì quan hệ phân phối của kinh tế tư nhân cũng có những sự khác biệt nhất định

Trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay, kinh tế tư nhân vận động theo các xu hướng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, kinh tế tư nhân gắn liền với phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường

Thứ hai, phát triển kinh tế tư nhân phải kết hợp với các mục tiêu độc lập tự chủ xã hội chủ nghĩa trong cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ ba, phát triển kinh tế tư nhân phải nhằm đạt tới các mục tiêu huy động vốn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập tăng GDP và tăng thu ngân sách cho nhà nước Thứ tư, phát triển kinh tế tư nhân theo xu hướng đa dạng hoá sở hữu, đan xen các hình thức sở hữu theo các hình thức tư bản nhà nước

Muốn vậy phải giải quyết được những vấn đề cơ bản sau đây:

Khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển theo hướng tiến bộ như tăng mức độ xã hội hoá sở hữu, hiện đại hoá công nghệ

Hướng sự phát triển của kinh tế tư nhân đi theo con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới những hình thức thích hợp, có sự kiểm kê, kiểm soát, điều tiết của nhà nước

Các hình thức để kinh tế tư nhân liên doanh với khu vực kinh tế nhà nước có thể

áp dụng là:

+ Liên doanh giữa nhà nước với các tư nhân trong nước hoặc nước ngoài

+ Hình thức các công ty cổ phần mà cổ đông là nhà nước và tư nhân

+ Xây dựng các đặc khu kinh tế, khu chế xuất

+ Cho tư nhân trong nước hoặc nước ngoài thuê các kinh doanh các cơ sở sản xuất hoặc đất đai thuộc sở hữu nhà nước

+ Xây dựng các hợp tác xã cổ phần của những người sản xuất nhỏ

Trang 5

Phần II - Thực trạng - Giải pháp phát triển kinh

tế tư nhân trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay

I - Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân

Ngay sau khi tư tưởng của đại hôi VI đi vào cuộc sống, khu vực kinh tế tư nhân đã

có những bước phát triển rõ rệt Năm 1991 có 414 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần thì năm 1992 là 5198 doanh nghiệp, năm

1993 là 6808 doanh nghiệp, năm 1994 là 10881 doanh nghiệp và tới năm 1998 con

số này đã lên tới 26021 doanh nghiệp Như vậy, kể từ năm 1991 tới năm 1998, số doanh nghiệp đã tăng hơn 50 lần - một con số đáng kinh ngạc Trong tổng số

26021 doanh nghiệp, thì dịch vụ chiếm 49%, sản xuất chiếm 22% (trong đó 55%

là doanh nghiệp đồ hộp và chế biến), các lĩnh vực khác (giao thông, vận tải…) chiếm 29%

1 Trong lĩnh vực nông nghiệp

Cùng với sự đổi mới của kinh tế hợp tác, các uật đầu tư trong nước, luật thương mại thông qua vào những năm 90 đã tác động rất mạnh tới khu vực nông nghiệp, tới hàng triệu nông dân Việt Nam Kinh tế hộ gia đình nông dân, kinh tế trang trại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động có tính chất công nghiệp ở nông thôn phát triển mạnh, tạo nên sự thay đổi to lớn bộ m ặt của nhiều vùng nông thôn N ếu như năm 1990, số lượng các hộ cá thể có khoảng trên 9,4 triệu hộ thì đến năm 1995 đã lên tới 11974595 hộ hoạt động trên gần 9000 xã trong khắp 7 vùng sinh thái Trong đó số hộ nông nghiệp là 9528896 hộ (chiếm 79,58%); hộ lâm nghiệp là

18456 hộ (chiếm 0,15%); hộ thuỷ sản là 229909 hộ (chiếm 1,92%); hộ công nghiệp là 160370 hộ (chiếm 1,34%); hộ xây dựng l à 31914 hộ (chiếm 0,27%); hộ thương nghiệp l à 384272 hộ (chiếm 3,21%); hộ dịch vụ là 14165 hộ (chiếm 1,18%); hộ khác là 1479341 (chiếm 12,35%) Trong số các hộ đó, nhóm hộ nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn nhất (79,58%) Đây thực sự là lực lượng kinh tế mạnh

Trang 6

Có thể nói, khu vực kinh tế t ư nhân trong nông nghiệp trong thời gian qua đã góp phần xứng đáng vào thành tích của ngành nông nghiệp nói chung: tạo ra gần ¼ tổng sản lượng của Việt Nam, và 30% kim ngạch hàng xuất khẩu (bao gồm cả thuỷ sản) Theo tổng cục thống kê, nếu như năm 1990 nông nghiệp chỉ chiếm 32% GDP của Vi ệt Nam thì năm 1999 nông nghiệp chiếm tỉ trọng là 24% GDP

2 Trong lĩnh vực công nghiệp:

Với cơ chế mới, khu vực kinh tế tư nhân cũng thâm nhập mạnh mẽ vào lĩnh vực công nghiệp Toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân trong công nghiệp (bao gồm các doanh nghiệp hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) đã đưa phần đóng góp vào sản lượng công nghiệp cả nước từ 37% năm 1990 lên 58% năm 2000, trong đó đóng góp quan trọng nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dầu khsi

và lĩnh vực công nghiệp chế tạo (khu vực kinh tế tư nhân trong năm 2000 chiếm 22,7%, khu vực đầu tư nước ngoài chiếm 35,2%) Khu vực kinh tế tư nhân trong nước mà đặc biệt là các doanh nghiệp hộ gia đình có vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo Năm 1999 có 600000 doanh nghiệphộ gia đình nhỏ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo, chiếm ¼ số doanh nghiệp rất nhỏ, đóng góp 28% giá trị gia tăng trong công nghiệp chế tạo Ngoài ra còn 5600 doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng hoạt động trong ngành công nghiệp chế tạo và tạo ra 10% GDP của ngành công nghiệp

Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong công nghiệp sẽ còn tăng hơn nữa vì đổi mới trong thể chế rất mạnh với những bộ luật mới ra đời từ năm 1998 đến nay, nhất là doanh nghiệp và luật đầu tư nước ngoài

3 Trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ

Đây là lĩnh vực kinh tế tư nhân hoạt động sôi nổi lấn át khu vực kinh tế quốc doanh Số lượng tăng lên nhanh chóng: năm 1986 là 56,8 vạn hộ, đến năm 1995 đã lên đến 94 vạn hộ Với tổng mức bán lẻ năm 1987 là 59% đến năm 1991 là 74,9%

Về mặt số lượng và cơ cấu: Tính đến năm 1995 số hộ cá thể trong cả nước là

1882798 hộ, trong đó riêng lĩnh vực thương mại và khách sạn là 940994 hộ (chiếm

Trang 7

49,9%) Tuy nhiên ố lượng hộ phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh…

Về mặt lao động: Lĩnh vực thương mại và dịch vụ tư nhân là nơi thu hút lao động

và giải quyết công ăn việc làm Tỉ trọng lao động thương nhân cá thể từ chỗ chỉ chiếm 68,7% lao dộng thương nghiệp xã hội năm 1990 đã lên đến 84,7% năm

1995 Ngành giao thông vận tải tư nhân đã huy động 267700 lao động

Về doanh số hoạt động: Tổng mức bán lẻ của thương nghiệp tư nhân đã tăng từ 66,9% lên 75,1% và thương nghiệp quốc doanh giảm từ 30,4% xuống còn 23,7% Giao thông vận tải tư nhân đã đảm nhận 63,5% khối lượng hàng hoá vận tải và 74,5% khối lượng hành khách, tạo ra 989,9 tỷ đồng

Về đóng góp vào nguồn thu ngân sách: Tổng số thuế nộp vào ngân sách nhà nước

đã tăng 6 lần từ năm 1991 đến năm 1995

Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, còn phải kể đến vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong xuất nhập khẩu Nếu tính cả doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thì khu vực doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp trong xuất khẩu là 35% năm 1997 và 54% giữa năm 2000

4 Trong xây dựng kết cấu hạ tầng:

Với chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm, chính phủ đã đề ra chương trình với rất nhiều kì vọng về xây dựng kết cấu hạ tầng, bao gồm những chương trình lớn về phát triển giao thông với hệ thống cầu qua sông, đường hàng không với hệ thống các sân bay quốc tế và nội địa Kết cấu hạ tầng có vị trí quan trọng trong viẹc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội

5 Trong các ngành nghề và các vùng kinh tế đất nước:

Với các ngành: những năm 1991 – 1996 trong tổng số 17442 cơ sở thì lĩnh vực thương mại dịch vụ có khoảng 6802 cơ sở chiếm tỉ trọng 39%, lĩnh vực công nghiệp chế biến có 6105 cơ sở chiếm tỉ trọng 35%, các lĩnh vực khác có 4534 cơ

sở chiếm 26% Trong những năm 1997 – 1998 có sự chuyển biến theo hướng các doanh nghiệp thương mại dịch vụ tăng (trong tổng số 26021 doanh nghiệp thì các doanh nghiệp thương mại dịch vụ có 12753 cơ sở chiếm 49%)

Trang 8

Với các vùng: Loại hình doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh và tập trung nhiều nhất ở vùng đồng bằng sông Cửư Long 40%, đồng bằng sông Hồng là 33% và Đông Nam Bộ là 25%

II- Vì sao phải có kinh tế tư nhân?

Trên đây chúng ta đã đề cập đến thực trạng của kinh tế tư nhân Rõ ràng là kinh tế

tư nhân đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Trong phần này, tôi sẽ làm sáng tỏ hơn câu hỏi vì sao phải có thành phần kinh tế tư nhân trong những thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay Trước hết, kinh tế tư nhân góp phần quan trọng để tăng trưởng kinh tế Kinh tế tư nhân cung cấp cho xã hội sản phẩm vật chất và dịch vụ để thoả mãn nhu cầu về đời sống, nhu cầu cho quá trình tái sản xuất cả xã hội Khu vực kinh tế tư nhân phát triển sẽ làm tổng nhu cầu tăng nhanh thực hiện được chủ trương kích cầu của nhà nước do mở rộng sản xuất làm cho nhu cầu cao, yếu tố đầu vào tăng, đồng thời thu nhập của người lao động tăng Ngoài ra, kinh tế tư nhân huy động được nhiều nguồn lực đang có của đất nước Năm 1996, các doanh nghiệp tư nhân đã huy động được lượng vốn là 20665 tỉ đồng, bình quân mỗi năm tăng thêm 3940 tỉ đồng, chiếm khoảng 5% tổng số vốn đâầ từ của toàn xã hội và 6,9% vốn kinh doanh của các ngành Thêm vào đó, khu vực kinh tế tư nhân đã giải quyết việc làm cho 4700742 lao động, chiếm 70% lực lượng lao động xã hội trong khu vực sản xuất ngoài nông nghiệp Nếu tính theo tỉ

lệ thu hút lao động trên vốn đầu tư thì kinh tế cá thể thu hút 165 lao động trên tỉ đồng vốn, doanh nghiệp tư nhân thu hút 20 lao động trên tỉ đồng vốn, doanh nghiệp tư nhân thu hút 20 lao động trên tỉ đồng vốn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 1,7 lao động trên tỉ đồng vốn Trong tương lai, với đường lối chính sách đổi mới tiếp tục được hoàn chỉnh, khu vực kinh tế tư nhân sẽ còn đóng góp vai trò quan trọng hơn nữa trong giải quyết việc làm Cuối cùng, phát triển kinh tế tư nhân góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thu ngân sách cho nhà nước Theo kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2000, mức thu nhập trung bình 1 tháng trên 1 lao động của các doanh nghiệp nói chung là 1.041.100 đồng, doanh nghiệp nhà nước là 1.048.200 đồng, doanh nghiệp tư nhân là 651.100 đồng, công ty cổ

Trang 9

phần là 993.000 đồng, tập thể là 529.300 đồng, công ty trách nhiệm hữu hạn là 801.800 đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài à 1.754.500 đồng Thu nhập bình quân của 1 lao động trong khu vực kinh tế tư nhân cao gấp 2-3 lần so với mức lương do nhà nước quy định Việc mở mang kinh tế tư nhân mang lại nguồn thu ngân sách đáng kể Theo tổng số nộp ngân sách năm 2000 thì doanh nghiệp nhà nước chiếm 52,77%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 37,42%, khu vực kinh tế tư nhân chiếm 9,34% Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp cho ngân sách nhà nước trên 5800 tỉ đồng

III - Thực trạng phát triển của kinh tế tư nhân – Thành tựu và hạn chế

1 Thành tựu

Sự phát triển của kinh tế tư nhân đã thu hút nguồn vốn trong dân cư vào sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần đẩy mạnh sự phát triển của sức sản xuất xã hội.Với sự phát triển của kinh tế tư nhân, nguồn lực trong dân cư được huy động vào đầu tư, đổi mới công nghệ, từ đó thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển Phát triển kinh tế tư nhân góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Trong số 2,5 triệu lao động đang làm việc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, có 74% làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân và cá thể Trên địa bàn Hà Nội, số lao động làm việc trong thành phần kinh tế tư nhân tăng lên từ 12050 người từ năm 1990 lên

91060 người năm 1996, giai đoạn 1996 – 2000 tăng 7,56 lần Hiện tại, trên địa bàn

Hà Nội có 115000 lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân Phát triển kinh

tế tư nhân tạo môi trường hợp tác và cạnh tranh, thúc đẩy phát huy sáng kiến cải tiến và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước

2 Hạn chế

Trước hết, thành phần kinh tế tư nhân có quy mô nhỏ, tốc độ đầu tư cầm chừng và

có xu hướng giảm sút Thứ hai, do hệ quả đầu tư thấp nên sự đóng góp của các thành phần kinh tế nhà nước trong GDP và thu ngân sách chưa cao Như vậy kinh

tế tư nhân ở Việt Nam chưa phát huy hết tiềm lực của nó Các nguồn lực về vốn,

Trang 10

lao động, kinh nghiệp, ngành nghề…chưa khai thác hết, vẫn còn khá lớn trong các tầng lớp dân cư

3 Nguyên nhân

+ Về thái độ xã hội và bộ máy hành chính: Trong một thời gian dài, chúng ta chỉ coi trọng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, coi thường thậm chí thành kiến với kinh tế tư nhân dẫn đến coi thường cả những người tham gia trong hoạt động này

Từ thái độ kì thị của xã hội dẫn đến thái độ thành kiến, e dè của bộ máy hành chính

+ Về khuôn khổ điều tiết dựa vào các quy định của pháp luật: những quy định thường không rõ ràng và luôn thay đổi khiến các doanh nghiệp rất khó thực hiện

và là chỗ dựa để các cơ quan chức năng làm khó cho các doanh nghiệp Những thủ tục hành chính phức tạp và có quá nhiều quy định chồng chéo, đan xen đã tạo điều kiện cho tệ lạm quyền và tham nhũng phát triển, gây thiệt hại cho doanh nghiệp, giảm lòng tin của những người đầu tư Hơn nữa, ngay trong luật phát cũng rất phức tạp Thay vì chỉ có luật doanh nghiệp lại đã có đến 5 bộ luật khác nhau Ngoài ra, tình trạng quan liêu tham nhũng của bộ máy quản lý trầm trọng là lực cản rất mạnh cho sự phát triển của các doanh nghiẹp tư nhân

+ Về nguồn lực tài chính: sau một quá trình dài thống trị của cơ chế bao cấp, lại không được khuyến khích phát triển nên tình trạng thiếu vốn của các nhà doanh nghiệp tư nhân là chuyện phổ biến, trong khi đó hệ thống tín dụng cũng chưa kịp chuyển đổi phù hợp đã cản trở việc hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp này

+ Về quản trị doanh nghiệp: tình trạng tổ chức thiếu rõ ràng khiến không có sự rạch ròi giữa chủ sở hữu với người quản lý, chưa có hệ thống kế toán thích hợp

Phần 3 - Giải pháp để phát triển kinh tế tư nhân trong tương lai

Để khai thác, phát huy tốt hưon các nguồn lực nhằm khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân trong thời gian tới, chúng ta cần tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau đây Do giới hạn của một bài tiểu luận, tôi chỉ đi sâu làm rõ

Ngày đăng: 05/07/2016, 23:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w