1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận đổi mới cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân ở việt nam hiện nay

35 553 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 157 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện naydoanh nghiệp tư nhân đang nổi lên như một hình thức doanh nghiệp chủ yếutrong các ngành định hướng xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động ở nhiều nước.Doanh nghiệp tư nhân đang khẳng

Trang 1

Phần I/ LỜI MỞ ĐẦU:

Hiện nay nước ta đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội nền kinh

tế đang tồn t¹i là một nền kinh tế nhiều thành phần, nhưng chúng không tồntại biệt lập với nhau mà liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhauhình thành nên nền kinh tế quốc dân thống nhất Trong những năm vừa qua,nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi sâu sắc và toàn diện, đạt được nhiềuthành tựu to lớn với sự góp mặt của năm thành phần kinh tế cơ bản Cácthành phần kinh tế cùng tham gia góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa và chủ động hội nhập kinh tế, do vậy chính sách kinh tế nhiều thànhphần là một nội dung quan trọng vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa chínhtrị-xã hội sâu sắc

Trong đó sự tồn tại và phát triển của thành phần kinh tế tư nhân là mộttất yếu khách quan và đang đóng một vai trò quan trọng xét về nhiều phươngdiện khác nhau Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trongphát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Trong hội nghị ban chấp hành trung ương lần thứ V ( khoá IX ) của Đảng đãchỉ rõ: " quan điểm của Đảng trên một số vấn đề cụ thể về phát triển kinh tế

tư nhân chưa được làm rõ để tạo ra sự thống nhất, ổn định Do đó việc nghiêncứu, tìm tòi, lí giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế tư nhân, đặcbiệt phát triển kinh tế tư nhân theo con đường xã hội chủ nghĩa trong giaiđoạn hiện nay ở nước ta là một đòi hỏi khách quan và cần thiết" Hiện naydoanh nghiệp tư nhân đang nổi lên như một hình thức doanh nghiệp chủ yếutrong các ngành định hướng xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động ở nhiều nước.Doanh nghiệp tư nhân đang khẳng định chính mình trong lĩnh vực kinh tế, sựphát triển rộng khắp trong cả nước cảu khu vực kinh tế tư nhân đã góp phầnquan trọng cho sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam

Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy rằng, mặc dù đang trên đà phát triển rấttốt nhưng khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều khó khăn cần tháo gỡ Để có

Trang 2

thể hiểu rõ hơn về những thuận lợi cũng như khó khăn của khu vực kinh tế tưnhân trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và cũng để nhậnbiết rõ hơn về nền kinh tế Việt Nam, em đã chọn đề tài "đổi mới cơ chế,chính sách nhặm khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiệnnay" để nghiên cứu và thực hiện đề tài

Phần II/ NỘI DUNG:

I/ Một số lí luận về kinh tế tư nhân:

1) Bản chất của kinh tế tư nhân và các bộ phận của kinh tế tư nhân:

Trước những năm 1980, ở nước ta kinh tế tư nhân không được khuyếnkhích phát triển và được coi là đối tượng cải tạo xã hội chủ nghĩa theo kiểumệnh lệnh hành chính, còn trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay khuvực kinh tế tư nhân được chia làm hai bộ phận: kinh tế cá thể tiểu chủ và kinh

tế tư bản tư nhân nếu xét theo bản chất của thành phần kinh tế tư nhân là sởhữu tư nhân về tư liệu sản xuất

Từ sau đại hội VI kinh tế tư nhân đã được thừa nhân là một chủ thể kinh tếtồn tại lâu dài có lợi cho quốc tế dân sinh, là tất yếu khách quan trong thời kìquá độ lên chủ nghĩa xã hội, được hoạt động và sản xuất kinh doanh trong tất

cả các lĩnh vực, ngành nghề mà pháp luật không cấm, không bị hạn chế vềquy mô, địa bàn, hình thức tổ chức Kinh tế tư nhân đã được hồi sinh và mởrộng quy mô, phạm vi hoạt động khá nhanh chóng Khu vực kinh tế tư nhânnhư đã trình bày ở trên bao gồm các hình thức kinh tế sau:

Kinh tế cá thể: là thành phần kinh tế dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ và lao độngcủa bản thân và gia đình, được hiểu là hình thức kinh tế của một hộ gia đìnhhay một cá nhân hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất và lao động của chính hộ hay cá nhân đó, không thuê mướn lao độnglàm thuê Tồn tại dưới nhiều ngành nghề ở cả nông thôn và thành thị, hiệnnay thành phần kinh tế này thường hoạt động dưới hình thức hộ gia đình

Trang 3

Kinh tế tiểu chủ:là hình thức kinh tế do một người chủ tổ chức, quản lí vàđiều hành, hoạt đông dựa theo cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và có

sử dụng lao động thuê mướn ngoài lao động của chủ Quy mô vốn đầu tư vàlao động nhỏ hơn của các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty tráchnhiệm hữu hạn Thành phần kinh tế này tồn tại dưới hình thức các doanhnghiệp tư nhân, các công ty cổ phần trong đó không có vốn đóng góp của nhànước

Kinh tế tư bản tư nhân: là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân tưbản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sử dụng lao động làm thuê Thành phầnkinh tế này tồn tại dưới hình thức các doanh nghiệp tư nhân, các công ty tráchnhiệm hữu hạn,các công ty cổ phần trong đó không có vốn đóng góp của nhànước

Hiện nay, kinh tế tư nhân có mặt trong các ngành kinh tế: nông nghiệp vàcông nghiệp, xây dựng và dịch vụ dưới các hình thức tổ chức và kinh doanhkhác nhau như: hộ nông dân cá thể, trang trại, công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân, Kinh tế tư nhân cũng tồn tạitrong các ngành dịch vụ như; y tế, giáo dục-đào tạo, tư vấn Quy mô vốn vàhoạt động chủ yếu vẫn thuộc loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ

Về các bộ phận của kinh tế tư nhân cũng có khá nhiều ý kiến khác nhau,nhiều ý kiến thì đồng ý phạm vi kinh tế tư nhân bao gồm cả kinh tế cá thể,tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân Một số ý kiến cho rằng không nên gộpkinh tế cá thể , tiểu chủ với kinh tế tư bản tư nhân trong cùng một khu vực.Tuy nhiên xét về mặt quan hệ sở hữu , kinh tế cá thể tiểu chủ và kinh tế tưbản tư nhân đều thuộc cùng loại hình sở hữu tư nhân, khác với sở hữu toàndân, sở hữu tập thể Mặc dù về mặt lí luận, quan điểm thì kinh tế cá thể tiểuchủ và kinh tế tư bản tư nhân là hai thành phần kinh tế khác nhau, khác nhau

cả về trình độ phát triển lực lượng sản xuất và bản chất quan hệ sản xuất.Nhưng trong thực tế việc phân định rạch ròi đâu là kinh tế cá thể tiểu chủ,đâu là kinh tế tư bản tư nhân không phải là việc đơn giản bởi sự vận động,

Trang 4

phát triển, biến đổi không ngừng của hai thành phần kinh tế này và sự ảnhhưởng của nhiều yếu tố như yếu tố thời đại, đặc điểm của ngành nghề, lĩnhvực sản xuất kinh doanh

Thực tế hiện nay ở nước ta chưa xác định được tiêu chí thế nào là kinh tế tưbản tư nhân thế nào là kinh tế cá thể tiểu chủ nên cũng chưa thể phân định rõranh giới giữa hai thành phần kinh tế này Do vậy việc gộp hai thành phầnkinh tế này vào thành hai bộ phận của kinh tế tư nhân là hợp lí

2) vai trò của kinh tế t ư nhân trong nền kinh tế:

Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Đây là lựclượng kinh tế của đại bộ phận nhân dân, là nơi tạo cồn ăn việc làm cho hơn90% lao động của cả nước, là chỗ dựa vững chắc của kinh tế nhà nước, là lựclượng kinh tế tích cực tham gia thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô như tăngtrưởng kinh tế, tạo việc làm, cân bằng cán cân thanh toán, giải quyết các vấn

đề xã hội Ngoài ra nó còn huy động các nguồn lực trong dân để phát triểnkinh tế vì quốc kế, dân sinh Phát triển kinh tế tư nhân tỏn giai đoạn hiện naycòn có ý nghĩa chính trị sâu sắc và cấp thiết, nó thực hiện dân chủ hóa trướchết về kinh tế, sau đó là vì sự hợp tác giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân tạo

sự đoàn kết thống nhất trong nhân dân nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kếttoàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh

Trong các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể tiểu chủ chiếm vị tríquan trọng và lâu dài, việc phát triển thành phần kinh tế này vừa tạo ra công

ăn việc làm vừa tạo ra của cải cho xã hội Bên cạnh đó, khu vực kinh tế tưnhân là khu vực thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài, đó cũng là một trongnhững nguồn lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển Trongthời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa của nước ta, kinh tế tư nhân có tác dụngthúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, góp phần giải quyết các vấn đề

xã hội

Trang 5

Nước ta từ nền kinh tế kém phát triển muốn đi lên chủ nghĩa xã hội đươngnhiên phải xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật lớn mạnh, hiện đại.Chúng ta thường nói dựa vào nội lực là chính, đồng thời hội nhập kinh tế mớiphát triển được Lực lượng kinh tế tư nhân tron nước và nước ngoài đầu tưvào nước ta hiện chiếm tỉ trọng khá lớn trong toàn bộ nền kinh tế xét về mặtvốn, kĩ thuật và lực lượng lao động Chỉ tính ở Thành Phố Hồ Chí Minh, theo

số liệu thống kê năm 1997 khu vực ngoài quốc doanh và đầu tư nước ngoài

đã chiếm 52,9% GDP; 76,89% lực lượng lao động; đóng góp 44,2% tổng thungân sách trong nước Đó là một thực tế minh họa vai trò quan trọng của kinh

tế tư nhân ở nước ta hiện nay Phải đặt kinh tế tư nhân trong những phươngdiện cụ thể mới thấy được vai trò tiến bộ của nó trong phát triển kinh tế cũngnhư nâng cao đời sống nhân dân Kinh tế tư nhân nói chung đã góp phầnđáng kể vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làmcho người lao động, tăng thu nhập cho dân cư, cải thiện mức sống văn hóa,tăng tích lũy cho xã hội và đóng góp cho ngân sách nhà nước Chúng ta cần

có cách tiếp cận về mặt hiệu quả kinh tế- xã hội để đánh giá đúng vị trí, vaitrò của kinh tế tư nhân ở nước ta

II/ Thực trạng phát triển và thực trạng cơ chế chính sách đối với kinh tế tư nhân:

1) Thưc trạng phát triển của kinh tế tư nhân trong thời gian qua:

Qua việc tìm hiểu về thực trạng kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay,chúng ta đã có những thành tích đáng kể Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VI (tháng 12/1986) và nhất là từ 1990 khi nhà nước ban hành Luật Công

Ty và Luật Doanh Nghiệp tư nhân có hiệu lực từ 1991, kinh tế tư nhân đãđược chú ý và có điều kiện phát triển Đến năm 2000 là năm đầu tiên áp dụngLuật Doanh Nghiệp mới có hiệu lực từ 1/1/2000 đã góp phần thúc đẩy kinh tế

Trang 6

tư nhân phát triển một cách tích cực hơn rất nhiều và đã đạt được nhiều thànhtựu trong kinh tế.

a sự phát triển về số lượng của các hình thức kinh tế thuộc khu vực kinh

tế tư nhân:

Trước đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân không được luật pháp bảo vệ vàkhuyến khích phát triển, nhưng vì khu vực kinh tế quốc doanh và tập thểkhông đủ thỏa mãn nhu cầu mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội của đất nướcnên khu vực kinh tế tư nhân còn cần thiết cho nền kinh tế, vì vậy nó vẫn âmthầm tồn tại dưới dạng kinh tế phụ gia đình, các tổ hợp tác, tổ hợp sản xuấtnúp bóng doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã Tuy mức độ và phạm vihoạt động còn hạn chế nhưng các hình thức kinh tế tư nhân đã thực sự gópphần tăng thu nhập, cải thiện đáng kể đời sống cho một bộ phận lớn cán bộ,công nhân viên và xã viên các hợp tác xã Từ sau khi ban hành luật doanhnghiệp tư nhân và nghị định về "cá nhân và nhóm kinh doanh" cùng nhiều chỉthị, nghị quyết, chính sách khuyến khích khác của Đảng và nhà nước, khuvực kinh tế tư nhân đã có một bước ngoặt trong sự hồi sinh và phát triển.Năm 1990 mới có khoảng hơn 800.000 cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chỉ thì đếnnăm 1992 sau 1 năm thực hiện nghị định số 221/HĐBT đã có 1.498.600 hộ

cá thể, tiểu chủ đăng kí kinh doanh Hai năm sau; năm 1994 đã tăng thêm34.500 cơ sở; năm 1995 tăng thêm 51.100 cơ sở ; năm 1996 có 2.215.000 cơ

sở Bình quân trong giai đoạn 1990-1996 mỗi năm tăng thêm 553.775 cơ sở

và tốc độ tăng hàng năm là 20%

Cùng với kinh tế cá thể, tiểu chủ, các doanh nghiệp tư nhân, công ty tráchnhiệm hữu hạn và các công ty cổ phần cũng có bước phát triển vượt bậc về sốlượng Nếu năm 1991 tổng số doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữuhạn và công ty cổ phần là 414 doanh nghiệp thì đến năm 1992 là 5.198 doanhnghiệp ( tăng 1.155%); năm 1993 là 6.808 doanh nghiệp (tăng 31%); năm

1994 tăng 60% là 10.881 doanh nghiệp; năm 1995 tăng 40% doanh nghiệp;năm 1996 tăng 24% ; năm 1997 tăng 32% và năm 1998 đã tăng lên đến

Trang 7

26.021 doanh nghiệp ( tăng 4%) Tính bình quân giai đoạn 1991-1998 mỗinăm tăng thêm 3.252 doanh nghiệp với tốc độ tăng về số lượng cao 1.225%.Đến năm 2000 là năm đầu tiên áp dụng luật doanh nghiệp tư nhân cho đếnnăm 2002 đã có gần 55.800 doanh nghiệp mới đăng kí, đưa tổng số doanhnghiệp đã đăng kí lên khoảng trên 100.000

Mức tăng về số lượng của mỗi loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty tráchnhiệm hữu hạn, công ty cổ phần cũng khác nhau Cụ thể là:

Loại hình doanh nghiệp tư nhân năm 1991 cả nước mới co 270 cơ sở thì đếnnăm 1998 đã có 18.750 cơ sở tăng gấp 70 lần trong đó năm 1992 có tốc độtăng trưởng cao nhất là 1.361%, các năm còn lại tăng trên 45% nhưng đếnnăm 1998 thì tốc độ phát triển đã chậm lại

Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn: từ năm 1991 đến năm 1998 tăng trên

58 lần, đến năm 1998 đã có 7.100 công ty thành lập, năm 1992 tăng đột biến

là 1.183%, nhưng đến năm 1998 lại giảm xuống chỉ còn 3%

Công ty cổ phần: năm 1991 có 22 công ty, đến 1998 tăng lên 171 công ty,tăng 7,7 lần Năm 1992 có tốc độ tăng số lượng cao nhất là 526% nhưng cácnăm tiếp theo thì tốc độ giảm xuống

Nhìn chung các loại hình doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân tăng nhanh về

số lượng trong giai đoạn 1992-1994, nguyên nhân là do có sự khuyến khíchcủa các chính sách vĩ mô, đặc biệt là luật doanh nghiệp tư nhân và luật công

ty, còn sự suy giảm trong giai đoạn 1997-1998 là do nhiều nguyên nhânkhách quan và chủ quan: sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, sự pháttriển chậm lại của nền kinh tế nước ta, những yếu kém của bản thân cácdoanh nghiệp, sự hạn chế của các chính sách, Theo thống kê cho đến thờiđiểm năm 1998 tổng số doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là26.021 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp tư nhân có 18.750 cơ sở chiếm72% Như vậy loại hình doanh nghiệp tư nhân là phổ biến nhất trong các loạihình kinh tế của khu vực kinh tế tư nhân

Trang 8

b Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân theo ngành nghề sản xuất

kinh doanh:

Theo các số liệu thống kê cũng như kết quả điêù tra cho thấy: đa số các cơ

sở kinh tế thuộc khu vực kinh tế tư nhân đều tập trung vào lĩnh vực thươngmại, dịch vụ, sau đó mới đến sản xuất công nghiệp và sau cùng là sản xuấtnông nghiệp Thật vậy, theo số liệu thống kê năm 1995 thấy: trong tổng số1.882.792 cơ sở kinh tế cá thể tiểu chủ thì có đến 940.994 cơ sở kinh doanhtrong lĩnh vực thương mại, khách sạn, nhà hàng chiếm tỷ trọng cao nhất 49%;707.053 cơ sở hoạt động trong công nghiệp, xây dựng chiếm 38% và chỉ có234.751 cơ sở (13%) trong các lĩnh vực còn lại

Phạm vi hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân có mặt ở hầu hết các ngànhkinh tế quốc dân: công nghiệp chế biến, nông lâm ngư nghiệp, xây dựng,thương mại-dịch vụ Tuy nhiên trong vong 10 năm trở lại đay mức độ đầu tưlớn nhất vẫn là ngành thương mại-dịch vụ ngành chiếm tỷ trọng lớn cả về gíatrị lẫn số lượng tổng sản phẩm quốc nội Nếu như trong giai đoạn 1991-1996

số doanh nghiệp đăng kí thành lập trong lĩnh vực thương mại-dịch vụ chiếm39% thì giai đoạn 1997-1998 là 49% và đến giai đoạn 1999-2000 đã là 54% ;sản xuất công nghiệp chiếm tỉ trọng 35% giai đoạn 1991-1996, 22% giaiđoạn 1997-1998 và 15% giai đoạn 1999-2000, các ngành khác chiếm tỉ trọng21%(1991-1996); 29%(1997-1998); 31%(1999-2000)

Sự phát triển của thương mại, dịch vụ ngoài việc xuất phát từ nhu cầu thực tếcủa nền kinh tế còn là tất yếu của thời đại, và do xu thế hội nhập nên quy môhoạt động của nó đã vượt ra ngoài biên giới của một nước Nhưng trong lĩnhvực sản xuất, khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỉ trọng thấp, năng lực sản xuấtnhỏ nên dễ bị tác động bởi sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường Năm 1998khối sản xuất của khu vực nhà nước còn chiếm tới 54.1% tổng giá trị sảnlượng thì đến năm 2000 lại chỉ còn chiếm 42,16% giá trị công nghiệp; khốikinh tế tư nhân giảm từ 27,3% năm 1998 xuống chỉ còn đạt 22,44% trongnăm 2000

Trang 9

Về lực lượng lao động: số lao động bình quân trong mỗi doanh nghiệp năm

1991 là 8 lao động tăng lên 17 lao động năm 1997 và 20 lao động năm 2000với tổng số lao động được sử dụng là khoảng 900.000 người Theo kết quảđiều tra của chương trình phát triển dự án Mekong tình hình hoạt động sảnxuất của các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam cho thấy, cả nước chỉ cókhoảng 682 doanh nghiệp có số lao động từ 100 người trở lên trong đó có

457 là doanh nghiệp sản xuất

Sở dĩ các loại hình kinh tế tư nhân tập trung chủ yếu vào ngành thương mại,dịch vụ và công nghiệp chế biến vì đó là các ngành, lĩnh vực có thị trườnglớn, đòi hỏi vốn không lớn Sự tập trung của khu vực kinh tế tư nhân vào cáclĩnh vực thương mại đã góp phần đáp ứng được nhiều nhu cầu về đời sốngvật chất, văn hóa của nhân dân, tác động thúc đẩy sản xuất Tuy nhiên cácchính sách kinh tế của nhà nước vẫn chưa thực sự khuyến khích khu vực kinh

tế tư nhân đầu tư mạnh vào những lĩnh vực sản xuất vật chất, đáp ứng yêucầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính những hạn chế này đã làmkhu vực kinh tế tư nhân trong thời gian qua phát triển chưa tương xứng vớitiềm năng của nó

c Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân theo vùng, lãnh thổ:

Khu vực kinh tế tư nhân phát triển rất không đồng đều giữa các vùng trong

cả nước ta Theo con số thống kê năm 1995 của Ban Kinh Tế Trung Ươngcho thấy: 55% số doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân tập trung ởvùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ, trong khi vùng đồngbằng sông Hồng là 18,1% và vùng duyên hải miền Trung là 10,1 % Trongcác tỉnh phía Nam thì chỉ riêng thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương vàtỉnh Đồng Nai đã tập trung 63% các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tưnhân quy mô vừa và nhỏ Năm 1996, trong tổng số 1.439.683 cơ sở kinhdoanh thuộc khu vực kinh tế tư nhân thì 24% tập trung ở vùng đồng bằngsông Cửu Long, 21% ở vùng đồng bằng sông Hồng 19% ở vùng đồng bằngNam Bộ 13% ở khu Bốn cũ, 10% ở vùng duyên hải Miền Trung, 9% ở vùng

Trang 10

núi và trung du Bắc Bộ và 4% ở Tây Nguyên Sự phát triển và phân bố cácdoanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân vẫn tiếp tục diễn ra không đều giữacác vùng trong những năm gần đây Năm 1997, trong tổng số 25.002 doanhnghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân thì 18.728 doanh nghiệp tập trung ởmiền Nam, chiếm tới 75% Trong khi miền Bắc chỉ có 4.187 doanh nghiệpchiếm 17% và miền Trung có 2.087 doanh nghiệp chiếm 8.3% Riêng thànhphố Hồ Chí Minh có số lượng doanh nghiệp chiếm 25% bằng toàn bộ sốdoanh nghiệp của miền Bắc và miền Trung cộng lại (27%)

Sự phân bố không đồng đều các cơ sở kinh tế tư nhân giữa các vùng, miềntrên cả nước còn thể hiện qua cơ cấu vốn đăng kí kinh doanh đầu tư Thống

kê đến 31/12/1996 cho thấy: tổng số vốn đăng kí của các cơ sở kinh tế ngoàiquốc doanh khoảng 59.365 tỷ đồng, tập trung ở Đông Nam Bộ trên 51%,đồng bằng sông Cửu Long trên 20% , đồng bằng sông Hồng trên 13%, duyênhải miền trung trên 7% miền núi và trng du Bắc Bộ, Tây Nguyên và khu Bốntương đương nhau- trên 2% Nếu cộng gộp lại thì chỉ riêng 2 vùng ở miềnNam đã chiếm 72% số vốn, đó là một sự chênh lệch quá lớn, do đó việc phân

bố lại cơ cấu thành phần kinh tế tư nhân ở các vùng, miền là cần thiết để cóthể phát triển kinh tế đồng đều trong cả nước

Những vùng có nhiều cơ sở kinh tế tư nhân cũng là những vùng sử dụngnhiều lao động; trong tổng số 4.849.142 lao động (năm 1996) làm việc trongkhu vực kinh tế tư nhân thì Đông Nam Bộ chiếm 26%, đồng bằng sông CửuLong chiếm 23% (hai vùng này chiếm gần 1/2 lực lượng lao động là 49%);tiếp theo là đồng bằng sông Hồng gần 20%, duyên hải Miền Trung trên 11%,khu Bốn cũ 11%, miền núi và trung du Bắc Bộ gần 7%, còn lại là TâyNguyên 3% Hệ qủa tất yếu là doanh thu của các cơ sở kinh tế tư nhân ở vùngcũng khác nhau Trong tổng số khoảng 104.258 tỷ đồng doanh thu của các cơ

sở kinh tế tư nhân năm 1996 thì vùng Đông Nam Bộ chiếm tỉ trọng 51%,đồng bằng sông Cửu Long chiếm 22%, đồng bằng sông Hồng chiếm 12%,các vùng còn lại chiếm tỉ trọng từ 2% đến 6% Một điều dễ nhận thấy là:

Trang 11

những vùng tập trung nhiều cơ sở kinh tế tư nhân chính là những địa bàn pháttriển kinh tế sôi động, thuận lợi về mọi mặt cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội hơn

so với các vùng khác, đồng thời cũng là những nơi mà kinh tế thị trường pháttriển mạnh Ngược lại, chính sự tập trung cơ sở kinh tế tư nhân và sự pháttriển mạnh mẽ của nó lại góp phần làm sôi động sự phát triển của nhữngvùng này, biến những vùng này thành trung tâm kinh tế lớn, năng động, tạo

ra lợi thế, tăng sức hấp dẫn thu hút vốn đầu tư cho vùng Mối quan hệ nhânquả đó tạo nên sự phát triển vượt trội của các vùng này Đó là hệ quả tất yếucủa quy luật phát triển không đều trong nền kinh tế trong thời kì quá độ,trước tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường, của quy luật cung cầu vànhững tác động của chính sách, giải pháp vĩ mô của nhà nước

d Những đặc điểm về vốn, lao động và sản xuất kinh doanh của khu vực

kinh tế tư nhân:

Nếu căn cứ vào tiêu chí vốn và lao động để phân loại doanh nghiệp vừa vànhỏ ở Việt Nam của Thủ tướng chính phủ quy định: những doanh nghiệp cóvốn điều lệ dưới 5 tỉ đồng Việt Nam và có số lao động trung bình dưới 200người được xếp vào loại doanh nghiệp nhỏ và vừa, có khoảng 80-90% doanhnghiệp nước ta thuộc loại nhỏ và vừa Riêng khu vực kinh tế tư nhân có trên95% doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo số liệu thống kê năm 1995, trong tổng

số 15.276 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổphần thì có tới 87% số doanh nghiệp có mức vốn điều lệ dưới 1 tỉ đồng, trong

đó 29,4% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 100 triệu đồng Những doanhnghiệp có mức vốn trên 10 tỉ đồng chiếm 1%, trong đó từ 100 tỉ đồng trở lênchỉ có 0,1%

Xét về doanh thu của các doanh nghiệp tư nhân, năm 1991 bình quân doanhthu của một cơ sở thuộc khu vực kinh tế tư nhân là 2,7 tỉ đồng, sau 5 nămdoanh thu đạt 2,8 tỉ đồng Tăng trường GDP hàng năm cũng có sự đóng gópcủa khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế cá thể Tốc độ phát triển cảukhu vực kinh tế tư nhân tăng lên trên 10% năm Với tốc độ tăng trưởng trên,

Trang 12

khu vực kinh tế tư nhân tạo ra 43,46% GDP năm 1995, trong đó kinh tế cáthể tiểu chủ chiếm 36,02% GDP , kinh tế tư bản tư nhân chiếm 7,44% GDP.Cho đến năm 1999 kinh tế tư nhân chiếm 40,7% GDP, trong đó kinh tế cá thểtiểu chủ chiếm 33,14% GDP, kinh tế tư bản tư nhân chiếm 7,03%GDP

Nói chung về tốc độ tăng trưởng, phát triển của khu vực kinh tế tư nhân thìchúng ta thấy: các loại hình kinh tế cá thể tiểu chủ có tốc độ tăng về số lượngkhông đều, bình quân giai đoạn 1992-1997 tăng khoảng 13%/năm Các laọihình kinh tế tư bản tư nhân có tốc độ tăng cao vào năm 1994 với mức tăng60% so với năm 1993, nhưng các năm tiếp theo nhưng các năm tiếp theo tốc

độ tăng giảm dần, đạt bình quân khoảng 37%/năm và giảm còn 4% năm

1998

Khu vực kinh tế tư nhân được đánh giá là có tốc độ phát triển khá nhanh vàcao hơn so với tốc độ phát triển của khu vực của kinh tế nhà nước, kinh tế tậpthể nhưng kém hơn so với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Theo

"báo cáo thực trạng kinh tế tư bản nhà nước, tư bản tư nhân" của ban Kinh TếTrung ương thì các doanh nghiệp tư bản tư nhân từ năm 1991 đến nay tăngliên tục với mức 20%-30% hàng năm; riêng các ngành tập trung nhiều doanhnghiệp tư nhân như công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ đều đạt tốc độ tăngcao, công nghiệp tăng 64,3%, thương mại tăng trên 45% So với doanhnghiệp tư bản tư nhân thì kinh tế cá thể tiểu chủ có tốc độ tăng thấp hơn mộtchút

e Sự phát triển của kinh tế tư nhân ở nông thôn:

Sau nghị quyết 10 của Bộ chính trị (4-1988) về đổi mới công tác quản lý

nông nghiệp,các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất cho nông nghiệp chuyểnsang làm chức năng dịch vụ cho kinh tế hộ, ruộng đất được giao lâu dài chonông dân, hộ trở thành đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn Ở các tỉnh Nam Bộ

và miền núi Tây Nguyên sau khi hợp tác xã và tập đoàn sản xuất tan rã, đại

bộ phận nông dân làm ăn cá thể, nhưng ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ vàduyên hải miền Trung đa số hộ nông dân vẫn là hộ xã viên nhưng tính chất xã

Trang 13

viên đã khác thời bao cấp Nhiều hộ xã viên chỉ còn danh nghĩa xã viên tinhthần còn thực chất là hộ cá thể hoặc 2/3 là cá thể; trong các hoạt động kinh tếnhiều năm các hộ đã hoàn toàn là cá thể hoặc tiểu chủ Kinh tế cá thể tiểu chủngày càng chiếm ưu thế hơn về các tư liệu sản xuất nông nghiệp và kinh tếnông thôn Bên cạnh đó việc sản xuất nông sản, lâm sản hàng hóa đòi hỏingười chủ đất phải vừa am hiểu kỹ thuật sản xuất vừa giỏi quản lý Chínhkinh tế tiểu chủ, hộ tư nhân ở nông thôn hình thành trong những năm đổi mới

đã đáp ứng được các đòi hỏi đó Ở đồng bằng sông Cửu Long có hộ sản xuấttrên 30-40 tấn lúa/ha đạt sản lượng lúa hàng năm đến hàng trăm tấn, theophương thức sử dụng lao động làm thuê, cơ giới hóa, thủy lợi hóa cao độ Đốivới các mặt hàng xuất khẩu như: gạo, ngô, cà phê, cao su, tôm, cá, hàng thủcông mĩ nghệ ở khu vực nông thôn cho đến nay phổ biến do các hộ tư nhân

và nông dân cá thể sản xuất Đồng bằng sông Cửu Long có gần 90% số hộnông dân là cá thể, 9.4% là hộ tư nhân, tiểu chủ, chính là vùng sản xuất 50%lượng lúa gạo cả nước tốc độ tăng bình quân là 10%/năm, biến Việt Nam từmột nước thiếu lương thực thành một nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba thế giới,

do vậy có thể nói kinh tế tư nhân ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Longtrong những năm qua là một trong những lực lượng nòng cốt trong sản xuất

và lưu thông hàng hóa, xuất khẩu gạo của cả nước

Ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, tỷ lệ hộ tư nhân và cá thể trong nông thôncòn nhiều hơn ở đồng bằng sông Cửu Long Vai trò của các loại hình kinh tếnày thể hiện rõ trong sản xuất nông lâm sản hàng hóa xuất khẩu và xây dựngnông thôn mới Hai vùng này có tiềm năng và thế mạnh về sản xuất cây côngnghiệp lâu năm nhất là cà phê, cao su, điều Với tiềm năng dồi dào về đấtđai, nhất là đất đỏ bazan, khí hậu thích hợp, lại có cơ chế và chính sáchkhuyến khích làm giàu của nhà nước, nên nhiều hộ nông dân, tiểu thương đãđầu tư tiền vàng và lao động để khai hoang, phục hóa, xây dựng các trangtrại, vườn, rừng trồng cà phê, cao su, điều, chăn nuôi gia súc gia cầm theohình thức trang trại gia đình với quy mô vừa và nhỏ, rất nhiều hộ nông dân đã

Trang 14

xây dựng được trang trại vườn, rừng kết hợp với kinh doanh ngành nghề vàdịch vụ ở nông thôn, làm giàu một cách chính đáng.

Ta thấy được vai trò của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp và nông thônkhông chỉ được khẳng định trong kinh tế mà còn cả trong lĩnh vực tổ chức vàquản lý Hình thức kinh tế trang trại, công ty cổ phần, hợp tác xã cổphần trong nông nghiệp và nông thôn ngày nay đều bắt đầu từ các hộ nôngdân sản xuất ở nông thôn được sự hỗ trợ của cơ chế chính sách mới của Đảng

và nhà nước mà thành

Những kết qủa đạt được:

Thực hiện mục tiêu lớn nhất của Đảng và nhà nước ta là " Lấy việc giảiphóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoàicho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hộ, cảithiện đời sống của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khíchphát triển các thành phần kinh tế và các hình thức tổ chức kinh doanh" Nhìntổng thể, sự hồi sinh và phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong những nămđổi mới vừa qua đã mang lại nhiều kết quả kinh tế-xã hội to lớn, nổi bật làcác việc làm sau: Khơi dậy và phát huy tiềm năng của một bộ phận lớn dân

cư tham gia vào công cuộc phát triển đất nước: thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,tạo việc làm, tạo công ăn việc làm, toàn diện xã hội, đóng góp quan trọngtrong GDP và thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế; Thúc đẩy việc hình thành cácchủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản lí theo hướng thị trường, tạo sự cạnhtranh trong nền kinh tế; Hình thành và phát triển các chủ doanh nghiệp thuộckhu vực kinh tế tư nhân, góp phần xây dựng đội ngũ các nhà doanh nghiệpViệt Nam, làm đầu tàu thúc đẩy nền kinh tế bước vào giai đoạn công nghiệphóa, hiện đại hóa, mở cửa hợp tác với bên ngoài; Góp phần xây dựng quan hệsản xuất mới phù hợp, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thực hiện côngbằng xã hội

Những tồn tại, yếu kém chủ yếu:

Trang 15

Thứ nhất, phần lớn các cơ sở kinh tế tư nhân đều có quy mô nhỏ, năng lực

và sức cạnh tranh hạn chế, dễ bị tôn thương trong cơ chế thị trường Thiếuvốn để sản xuất và mở rộng sản xuất là hiện tượng phổ biến với toàn bộdoanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân hiện nay và được coi là mộttrong những cản trở lớn nhất đến sự phát triển sản xuất kinh doanh của các cơ

sở kinh tế tư nhân Hầu hết các doanh nghiệp khởi đầu bằng số vốn tự có ít ỏicủa mình, hệ thống ngân hàng kể cả hệ thông tài chính trung gian yếu kémcùng với những thủ tục thế chấp phức tạp và tai nạn quan liêu đã khiến chohơn 20% các doanh nghiệp vừa và nhỏ không muốn vay ngân hàng Mặtkhác, bản thân doanh nghiệp cũng có những hạn chế nhất định trong việc tiếpcận các nguồn vốn, tiếp cận thông tin, các doanh nghiệp chưa cập nhật thôngtin một cách nhanh nhạy và chính xác một phần cũng do việc cung cấp thôngtin của nhà nước Việc thành lập doanh nghiệp chủ yếu là dựa trên kinhnghiệm chứ chưa tính toán đầy đủ nhu cầu thị trường và khả năng tiêu thụchắc chắn nên hầu hết các chủ doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhânđều hoạt động thiếu phương án cũng như kế hoạch kinh doanh, vì vậy dễ đổ

vỡ trước biến động của thị trường

Thứ hai, máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu và nguồn nhân lực còn

nhiều hạn chế Mặc dù nhận thức được nhu cầu ấp bách phải nâng cao khảnăng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, song khả năng đổi mới thiết bị, côngnghệ của các cơ sở sản xuất tư nhân bị hạn chế vì vậy phần lớn các doanhnghiệp đều đang sử dụng máy móc thiết bị cũ, lạc hậu Rất ít doanh nghiệp sửdụng máy móc, công nghệ mới cũng như thuê máy móc thiết bị Có khoảng18% số doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh và 5% số doanh nghiệp ởthành phố Hà Nội không thể tăng khả năng sản xuất với những thiết bị hiện

có, khoảng 50% số doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh đang sử dụng tới90% công suất của máy móc Tỷ lệ này ở các thành phố khác chỉ có 13% và

ở nông thôn là 15-20%, đa số các cơ sở sản xuất tư nhân cũng như hộ cá thểtiểu chủ đều sử dụng máy móc, thiết bị cũ lạc hậu 2-3 thế hệ Số doanh

Trang 16

nghiệp được trang bị máy móc, thiết bị hiện đại chưa nhiều, chỉ có khoảng24% doanh nghiệp tư nhân và 25% công ty trách nhiệm hữu hạn là đầu tưmua sắm thiết bị hiện đại, còn lại 37,2% số doanh nghiệp tư nhân và 20%công ty trách nhiệm hữu hạn là sử dụng công nghệ truyền thống; 34% sốdoanh nghiệp tư nhân và 57% công ty trách nhiệm hữu hạn kết kợp sử dụng

cả công nghệ hiện đại và truyền thống Các hộ cá thể, tiểu chủ sử dụng côngnghệ thủ công và truyền thống là chủ yếu, việc đổi mới trang thiết bị côngnghệ hiện đại còn rất hạn chế, do đó đã hạn chế năng suất lao động, chấtlượng sản phẩm của phần lớn các cơ sở sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó,lao động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của kinh tế tư nhân chủ yếu là laođộng phổ thông, ít được đào tạo, theo kết qủa điều tra cho thấy: trong khuvực kinh tế tư nhân chỉ có 5,13% lao động có trình độ đại học, khoảng 48,4%

số chủ doanh nghiệp không có chuyên môn, bằng cấp Cùng với sự lạc hậu vềmáy móc thiết bị, sự yếu kém về trình độ cũng làm hạn chế hiệu quả sản xuấtkinh doanh của khu vực kinh tế này

Thứ ba, việc thiếu mặt bằng sản xuất và mặt bằng sản xuất không ổn định

là tình trạng phổ biến đã tác động bất lợi tới chiến lược kinh doanh của cácdoanh nghiệp Luật đất đai chỉ quy định quyền sử dụng đất, không cho phép

tư nhân có quyền sở hữu và hạn chế nghiêm ngặt việc mua bán đất đai, kếtquả tất yếu sẽ xảy ra là tình trạng đất đai bị đầu cơ và sử dụng kém hiệu qủa.Trong điều kiện như vậy, bất lợi hơn cả chính là các cơ sở kinh tế tư nhânmới thành lập rất khó có được mặt bằng đất đai ổn định Thêm nữa là việcđối xử phân biệt trong việc giao đất của nhà nước đối với các cơ sở kinh tế tưnhân cũng gây bất lợi và thiệt thòi cho khu vực kinh tế tư nhân Mặt khác,những vấn đề về chuyển nhượng cho thuê quyền sử dụng đất lại chưa rõ ràngcàng làm cho vấn đề mặt bằng sản xuất căng thẳng hơn

Thứ tư, thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm, đây là vấn đề cản trở lớn đến

phát triển sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân Hầu hết cácdoanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân mua nguyên liệu đầu vào và tiêu

Trang 17

thụ sản phẩm đầu ra trên thị trường địa phương và dựa vào mạng lưới quan

hệ cá nhân Hiện nay đã có một số sản phẩm hàng hóa của khu vực kinh tế tưnhân xuất hiện trên thị trường thế giới nhưng còn ít và phải chịu sức cạnhtranh gay gắt Vài năm gần đây, do tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng tàichính khu vực, nền kinh tế tăng trưởng giảm, thu nhập của cư dân sút giảm,thêm vào đó hàng hóa trong nước còn tồn đọng nhiều, cùng với việc hàngnhập lậu tràn lan không kiểm soát được làm cho nhiều cơ sở sản xuất bị đìnhđốn, phá sản

Thứ năm, khả năng cạnh tranh để tồn tại, đứng vững trong cơ chế thị

trường của các cơ sở kinh tế tư nhân còn hạn chế, một số tiêu cực nảy sinh đãlàm cho tốc độ phát triển của cả khu vực kinh tế tư nhân đang chững lại và cóbiểu hiện suy giảm trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng từ năm

1994 đến 1998 giảm từ 60% xuống còn 4% Ngoài ra còn có hiện tượng một

số doanh nghiệp tư nhân lớn chia nhỏ doanh nghiệp, không muốn đăng kíthành lập các doanh nghiệp lớn mà chỉ liên kết với các doanh nghiệp nhànước, doanh nghiệp tập thể để núp bóng trốn lậu thuế, kinh doanh trái phép,hoạt động kinh tế ngầm, một số chủ doanh nghiệp tư nhân móc nối, cấu kếtvới một số cán bộ nhà nước thoái hóa để bòn rút, chiếm đoạt tài sản của nhànước gây hậu quả nghiêm trọng nhiều mặt đối với kinh tế-xã hội đó là cáchiện tượng rất đáng lưu ý, cần có sự quản lý, kiểm tra ngăn chặn để hoạt độngcủa khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế được lành mạnh

2) Thực trạng cơ chế chính sách đối với kinh tế tư nhân:

Những thuận lợi: trong thời gian qua, nhà nước đã không ngừng hoàn

thiện các chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển, từng bước bãi

bỏ các cơ chế, các quy định hạn chế không còn phù hợp, cải thiện môi trườngpháp lý trong kinh doanh, cải thiện thủ tục hành chính Đặc biệt là sự ra đờicủa Luật Doanh Nghiệp đã mở rộng quyền tự do kinh doanh cho các doanhnghiệp, tăng cường quản lý nhà nước thông qua các quy định quản lý về

Ngày đăng: 05/07/2016, 23:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w