1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa

237 439 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 237
Dung lượng 8,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn như vậy, chúng tôi nhận thấy, nghiên cứu sự xung đột ở các gia đình vùng ven đô trong quá trình đô thị hóa dưới góc độ tâm lý học xã hội sẽ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THU HƯƠNG

XUNG ĐỘT GIA ĐÌNH Ở VÙNG VEN ĐÔ ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

Chuyên ngành: Tâm lý học xã hội

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Trần Thị Minh Đức

2 PGS.TS Lê Thị Thanh Hương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận án

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu và phòng Sau đại học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tạo mọi điều kiệnthuận lợi để tôi hoàn thành đúng hạn luận án tiến sĩ này

Những lời tri ân sâu sắc tôi muốn gửi đến gia đình, bạn bè, người thân, những người đã luôn ở bên tôi trong suốt quá trình học tập

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể sinh viên k54 khoa Tâm lý học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và các hộ gia đình ở hai xã Đại Mỗ, Từ Liêm và Lý Nhân, Hà Nam đã giúp tôi trongquá trình thu thập số liệu phục vụ luận án

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2014

Trần Thu Hương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ XUNG ĐỘT GIA ĐÌNH Ở VÙNG VEN ĐÔ ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 7

1.1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ XUNG ĐỘT GIA ĐÌNH VÀ XUNG ĐỘT GIA ĐÌNH Ở VÙNG VEN ĐÔ ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 7

1.1.1 Những nghiên cứu về xung đột gia đình 7

1.1.2 Những nghiên cứu về xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa 19

1.2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 23

1.2.1 Xung đột 23

1.2.2 Gia đình 32

1.2.3 Gia đình ven đô 37

1.2.4 Xung đột gia đình vùng ven đô trong quá trình đô thị hóa 40

1.2.5 Các mức độ biểu hiện của xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa 51

1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUNG ĐỘT GIA ĐÌNH Ở VÙNG VEN ĐÔ ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 54

1.3.1 Nhóm các yếu tố khách quan thuộc về đô thị hóa ảnh hưởng đến xung đột gia đình vùng ven đô 54

1.3.2 Nhóm các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến xung đột gia đình ven đô 57

Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 62

2.1. VÀI NÉT VỀ ĐỊA BÀN VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 62

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 62

2.1.2 Khách thể nghiên cứu 63

2.2. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 64

2.2.1 Tổ chức nghiên cứu lý luận 64

2.2.2 Tổ chức nghiên cứu thực tiễn 65

Trang 6

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ XUNG ĐỘT GIA ĐÌNH Ở

VÙNG VEN ĐÔ ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 77

3.1. THỰC TRẠNG XUNG ĐỘT GIA ĐÌNH Ở VÙNG VEN ĐÔ ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 77

3.1.1 Quan niệm chung của người dân ven đô về gia đình và xung đột gia đình 77

3.1.2 Xung đột gia đình vùng ven đô thể hiện ở mặt nhận thức 83

3.1.3 Xung đột gia đình vùng ven đô thể hiện ở mặt cảm xúc 95

3.1.4 Xung đột gia đình vùng ven đô thể hiện ở khía cạnh hành vi 105

3.1.5 Tổng hợp mức độ xung đột gia đình ở vùng ven đô 116

3.2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUNG ĐỘT GIA ĐÌNH TẠI VÙNG VEN ĐÔ ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 124

3.2.1 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến xung đột gia đình ở vùng ven đô 124

3.2.2 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến xung đột gia đình ở vùng ven đô 128

3.3. PHÂN TÍCH CÁC TRƯỜNG HỢP XUNG ĐỘT GIA ĐÌNH VÙNG VEN ĐÔ ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 133

3.3.1 Trường hợp 1 133

3.3.2 Trường hợp 2 138

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 146 1. KẾT LUẬN 146 2 KIẾN NGHỊ 148 3 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 149

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 150

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC 162

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Đặc điểm của mẫu khách thể nghiên cứu là người dân ven đô 63

Bảng 3.1 Nhóm các quan điểm của người dân ven đô về giới tính và số lượng con 84

Bảng 3.2 Mức độ xung đột nhận thức thể hiện ở khía cạnh sinh sản 86

Bảng 3.3 Mức độ xung đột nhận thức thể hiện ở khía cạnh kinh tế 90

Bảng 3.4 So sánh sự khác biệt giữa vợ và chồng trong các quan điểm giáo dục đạo đức cho con cái 91

Bảng 3.5 Mức độ xung đột nhận thức thể hiện ở khía cạnh giáo dục 92

Bảng 3.6 Mức độ xung đột nhận thức thể hiện ở chức năng giao tiếp 93

Bảng 3.7 Xung đột nhận thức ở từng chức năng gia đình 94

Bảng 3.8 So sánh xung đột nhận thức về các chức năng gia đình tại hai địa bàn nghiên cứu 95

Bảng 3.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng 100

Bảng 3.10 Tổng hợp cảm xúc của các cặp vợ chồng thể hiện trong các chức năng gia đình 101

Bảng 3.11 So sánh mức độ xung đột cảm xúc ở các chức năng gia đình tại hai địa bàn nghiên cứu 103

Bảng 3.12 Xung đột hành vi khi thực hiện chức năng sinh sản 106

Bảng 3.13 Xung đột hành vi khi thực hiện chức năng kinh tế 106

Bảng 3.14 Xung đột hành vi khi thực hiện chức năng giáo dục 107

Bảng 3.15 Xung đột hành vi khi thực hiện chức năng giao tiếp 108

Bảng 3.16 Tổng hợp mức độ xung đột hành vi qua bốn chức năng gia đình 109

Bảng 3.17 Nhóm các hành vi giải quyết xung đột gia đình của người dân ven đô 112

Bảng 3.18 Tổng hợp các nhóm hành vi giải quyết xung đột gia đình 114

Bảng 3.19 Bảng tổng hợp mức độ xung đột vợ chồng trong các gia đình ven đô 116

Bảng 3.20 Bảng tổng hợp mức độ xung đột với các tiêu chí độ tuổi; nghề nghiệp và trình độ học vấn 121

Bảng 3.21 Đánh giá của người dân ven đô về các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến xung đột gia đình 124

Bảng 3.22 Đánh giá của cán bộ địa phương về các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến xung đột gia đình 127 Bảng 3.23 Đánh giá của người dân ven đô về các yếu tố chủ quan ảnh hưởng

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Quan niệm của người dân ven đô về gia đình 78

Biểu đồ 3.2 Quan niệm của người dân ven đô về xung đột gia đình 79

Biểu đồ 3.3 Đánh giá của người dân về nguyên nhân xung đột gia đình 81

Biểu đồ 3.4 Thái độ của người dân ven đô đối với xung đột gia đình 97

Biểu đồ 3.5 Đánh giá của người dân ven đô về hậu quả của xung đột gia đình 98

Biểu đồ 3.6 Quan điểm của người dân về cách thức giải quyết xung đột gia đình 110

Biểu đồ 3.7 Đánh giá của cán bộ địa phương về tần suất xuất hiện xung đột gia đình 118

Biểu đồ 3.8 Đánh giá của cán bộ địa phương về mức độ xung đột trong các mối quan hệ gia đình 119

Biểu đồ 3.9 Đánh giá của cán bộ địa phương về mức độ xung đột trong từng chức năng gia đình 120

DANH MỤC CÁC MÔ HÌNH Mô hình 3.1 Mối tương quan giữa xung đột gia đình với các nhóm hành vi giải quyết xung đột 115

Mô hình 3.2 Mối tương quan giữa xung đột gia đình với các chức năng gia đình 123

Mô hình 3.3 Ảnh hưởng của nhóm yếu tố chủ quan, khách quan đến xung đột gia đình 132

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1 Vấn đề gây xung đột của gia đình chị NTV 135

Sơ đồ 3.2 Các nguồn hỗ trợ xung đột gia đình 136

Sơ đồ 3.3 Đặc điểm vợ - chồng và vấn đề gây xung đột gia đình 139 Sơ đồ 3.4 Các nguồn hỗ trợ gia đình giải quyết xung đột 140

Trang 10

cư dân đã tạo nên một bức tranh đa dạng, phong phú của vùng đang được đô thị hóa,mang đến bản sắc mới cho một khu vực vốn không đồng nhất về nhiều mặt của xã hội nông thôn truyền thống

Vùng ven đô và ngoại thành là khu vực trung gian giữa nông thôn và thành thị Đây là nơi giao thoa giữa văn hóa nông thôn và thành thị Các giá trị văn hóa thành thị được chuyển vào khu vực ven đô nhanh hơn với bất kỳ khu vực nào khác bởitính chất giao lưu mạnh mẽ của khu vực này Nếu như yếu tố vật chất trong sự chuyển đổi diễn ra nhanh chóng và có thể nhận thấy rất rõ qua sự thay đổi bộ mặt cảnh quan, môi trường, hệ thống dịch vụ… thì yếu tố tinh thần của sự biến đổi (từ

phương diện văn hóa, tâm lý) lại diễn ra từ từ và rất khó nhận biết ngay lập tức

Quá trình đô thị hóa dẫn tới sự thay đổi trong đời sống vật chất và tinh thần củangười dân ven đô theo cả hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực Mặt trái của đô thị hóa và kinh tế thị trường là làm cho lối sống và các quan hệ xã hội bị biến dạng, các giá trị truyền thống bị lung lay; đồng thời, nó làm cho các mối quan hệ trong gia đình trở nên lỏng lẻo, mâu thuẫn, xung đột nảy sinh ngày càng nhiều

Mỗi gia đình là một nhóm xã hội thu nhỏ, gia đình là nền tảng của xã hội, sự vận động và phát triển của gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận động và phát triển của xã hội Khi mâu thuẫn, xung đột gia đình xảy ra sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến bầu không khí tâm lý, đến sức khỏe và sự bình yên của các thành viên trong gia đình Mâu thuẫn và xung đột gia đình nếu được giải quyết phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của các thành viên, sẽ là động lực giúp họ tự hoàn thiện

Trang 11

và phát triển bản thân Ngược lại, khi xung đột không được giải quyết hoặc giải quyết không đúng, nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến mọi mặt của đời sống gia đình, thậm chí dẫn đến sự tan rã gia đình

Từ khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nông thôn Việt Nam đã có nhiều biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Điều nàykhông chỉ làm thay đổi những yếu tố vật chất, cơ cấu kinh tế ở nông thôn mà còn làmthay đổi sự phân bố dân cư: nhiều khu vực ven đô trở thành nội thành, nhiều vùng ngoại ô trở thành vùng ven đô và chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống xã hội

Sự biến đổi quá nhanh với tốc độ cao, diễn ra trên diện rộng khiến cho cư dân vùng ven

đô không thể thích nghi ngay với môi trường sống đô thị, từ đó rất nhiều vấn đề xã hội mới nảy sinh và diễn biến hết sức phức tạp

Trên thực tế, kể từ khi Hà Nội mở rộng khu vực địa lý hành chính, sáp nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây, 4 xã thuộc huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình, huyện Mê Linh - tỉnh Vĩnh Phúc vào Hà Nội, điều này không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử, hành chính

mà còn tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội mới nói chung và của những khu vực này nói riêng Một số địa phương vốn trước đây là nông thôn thuần túy nay trở thành vùng ven đô Đó là sự xuất hiện của các khu công nghiệp thay thế những cánh đồng, là việc người dân bán đất làm nhà, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, làng xã mang vóc dáng và hình hài của đô thị… không gian bình yên của làng xóm không còn nữa, cùng với nó là những vấn đề tâm lý xã hội mới nảy sinh, trong

đó có gia đình với sự lỏng lẻo của các mối quan hệ Mâu thuẫn và xung đột gia đình

là không thể tránh khỏi, đặc biệt dưới tác động quá nhanh và quá mạnh của đô thị hóa

Với những ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn như vậy, chúng tôi nhận thấy, nghiên cứu sự xung đột ở các gia đình vùng ven đô trong quá trình đô thị hóa dưới góc độ tâm lý học xã hội sẽ góp phần làm rõ hiện trạng vấn đề và đưa ra những giải pháp giúp các thành viên trong gia đình có được nhận thức đúng về xung đột gia đình cũng như cách giải quyết xung đột gia đình, từ đó, có thể thích ứng được với

Trang 12

quá trình đô thị hóa ngay trên quê hương mình Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài:

"Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa" hiện nay là quan

trọng và cần thiết

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu thực trạng xung đột ở các gia đình ven đô dưới tác động của đô thị hóa và các yếu tố ảnh hưởng đến xung đột gia đình, cách thức giải quyết xung đột

mà các gia đình trong địa bàn nghiên cứu đang sử dụng nhằm đề xuất các biện

pháp giảm thiểu xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu xung đột, xung đột gia đình, tác động của đô thị hóa đến xung đột gia đình

3.2 Đánh giá thực trạng xung đột gia đình, các yếu tố ảnh hưởng đến xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa

3.3 Đề xuất các biện pháp giúp các thành viên trong gia đình ven đô có thể ứng phó với xung đột gia đình

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa

ở các chiều cạnh: Thực trạng xung đột thể hiện ở bốn chức năng chính của gia đình (sinh sản, giao tiếp, giáo dục, kinh tế); Xung đột gia đình ở từng chức năng thể hiện ở các mặt nhận thức, cảm xúc và hành vi; Các yếu tố ảnh hưởng và cách thức họ giải quyết khi xảy ra xung đột gia đình

5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

5.1 Các gia đình ven đô trong quá trình đô thị hóa thường xảy ra xung đột trong nhận thức giữa vợ và chồng liên quan chủ yếu đến việc thực hiện chức năng giáo dục con cái

5.2 Nhóm các yếu tố khách quan thuộc về đô thị hóa như mất đất, mất nghề phụ, thất nghiệp có mức độ ảnh hưởng nhiều nhất đến xung đột gia đình ở vùng ven đô

Trang 13

5.3 Hầu hết các gia đình ven đô sử dụng nhóm hành vi hợp tác và thương lượng để giải quyết xung đột gia đình

6 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

Tổng số khách thể nghiên cứu là 475 người, trong đó:

- Người dân ven đô: 395 người điều tra đại trà và 30 người phỏng vấn sâu

- Cán bộ quản lý xã: 50 người phỏng vấn sâu

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

7.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Nguyên tắc tiếp cận hoạt động sẽ được sử dụng trong nghiên cứu này Nghiên cứu xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa không thểtách rời khỏi các hoạt động chính của gia đình là sinh sản, giao tiếp, kinh tế và giáo dục

Quan điểm cấu trúc, chức năng xem xét gia đình là một tổng thể được cấu thành bởi các chức năng nhằm duy trì và phát triển gia đình Nếu một chức năng nào đó trong hệ thống chức năng gia đình có vấn đề thì làm ảnh hưởng tới sự phát triển và tồn tại của các chức năng còn lại cũng như sự tồn tại và phát triển của gia đình

Tâm lý học gia đình luôn nhìn nhận gia đình là một hệ thống các mối quan

hệ ràng buộc, tương tác lẫn nhau: quan hệ vợ chồng, cha mẹ và con cái, con cái với nhau, trong đó mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ mang tính rường cột, nếu mối quan

hệ này ổn thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng các mối quan hệ còn lại trong gia đình

Xung đột gia đình được coi là một hiện tượng tâm lý xã hội tất yếu nảy sinh ở vùng ven đô khi có sự chuyển đổi từ bối cảnh xã hội nông thôn truyền thống sang bối cảnh xã hội đô thị

7.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp quan sát

Trang 14

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp thảo luận nhóm

- Phương pháp phân tích trường hợp

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

- Phương pháp thống kê và phân tích số liệu bằng chương trình SPSS

8 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

8.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Luận án chỉ tập trung xem xét xung đột trong mối quan hệ vợ chồng, mà không nghiên cứu các hình thức xung đột khác như xung đột giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em trong gia đình hay xung đột giữa các thế hệ trong gia đình Luận án nghiên cứu xung đột vợ chồng theo từng chức năng chính của gia đình: sinh sản, giáo dục, giao tiếp, kinh tế và được biểu hiện trên 3 mặt, đó là: Nhận thức, xúc cảm và hành vi

Luận án không tiến hành thực nghiệm tâm lý để đề xuất biện pháp tác động, vì xung đột ở vùng ven đô trong quá trình đô thị hóa trong nghiên cứu này liên quan chủ yếu đến vấn đề mất đất và chuyển đổi nghề nghiệp Luận án chỉ dựa vào thực tế những cách thức giải quyết xung đột của các gia đình được nghiên cứu và dựa vào hai trường hợp điển hình để rút ra các biện pháp nhằm giảm thiểu xung đột gia đình

8.2 Giới hạn về không gian nghiên cứu

Luận án tiến hành nghiên cứu tại hai xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, thành phố

Hà Nội và xã Nhân Mỹ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Đây chính là hai xã đang diễn ra quá trình đô thị hóa mạnh mẽ

9 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Trang 15

9.2 Đóng góp về thực tiễn

Thông qua kết quả điều tra hiện trạng, luận án chỉ ra được các hình thức, mức

độ xung đột tại các gia đình ven đô dựa trên bốn chức năng chính của gia đình, các yếu tố tác động ảnh hưởng và cách thức giải quyết xung đột ở vùng ven đô hiện nay

Kết quả luận án được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho người làm công tác hòa giải gia đình, cho cán bộ thuộc hội phụ nữ và cho người làm nghiên cứu về lĩnh vực xung đột tâm lý gia đình, nhằm tăng cường hiểu biết, kinh nghiệm của mình

10 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

Luận án gồm những phần sau:

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề xung đột gia đình, xung đột gia đình ở vùng ven đô trong quá trình đô thị hóa

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu về vấn đề xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa

Kết luận và kiến nghị

Phụ lục

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ XUNG ĐỘT GIA ĐÌNH

Ở VÙNG VEN ĐÔ ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ XUNG ĐỘT GIA ĐÌNH VÀ XUNG ĐỘT GIA ĐÌNH Ở VÙNG VEN ĐÔ ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

Trong phần tổng quan nghiên cứu về xung đột gia đình, xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa, chúng tôi tập trung làm rõ những nghiên cứu về xung đột gia đình nói chung, sau đó, giới thiệu những nghiên cứu về xung đột gia đình ở vùng ven đô trong quá trình đô thị hóa

1.1.1 Những nghiên cứu về xung đột gia đình

Các công trình nghiên cứu về xung đột gia đình của các học giả trong và ngoài nước trong những thập kỷ gần đây đều dựa trên lý thuyết xung đột kinh điển khi cho rằng xung đột gia đình là một hiện tượng tâm lý xã hội tất yếu (Deutsch, 1973; Simmel, 1955) [122]

Theo quan điểm này thì tất cả các gia đình đều phải trải qua các cuộc xung đột Sự xuất hiện của xung đột gia đình là không tốt và cũng không xấu Vấn đề đặt ra

là các gia đình sẽ giải quyết xung đột ra sao và chính khả năng giải quyết xung đột sẽ xác định mức độ bền vững của các mối quan hệ trong gia đình Charny (1980) đã

minh họa cho quan điểm này bằng cách tuyên bố rằng: "Những gì thực sự trở nên quan trọng trong cuộc sống gia đình không phải là khả năng tránh phiền phức, nhưng để có thể ra khỏi rắc rối đó, cần có khả năng xử lý xung đột và những tình huống khó xử" [120]

Phần dưới đây, chúng tôi xin trình bày những công trình nghiên cứu của các

tác giả nước ngoài và trong nước về xung đột gia đình 1.1.1.1 Nghiên cứu xung đột gia đình ở nước ngoài

Nghiên cứu về xung đột gia đình ở nước ngoài được tập trung vào nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó có các nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân dẫn tới xung đột gia

Trang 17

đình; nghiên cứu hậu quả của xung đột gia đình; nghiên cứu các hình thức biểu hiện của xung đột và cách thức giải quyết xung đột gia đình

- Nghiên cứu về nguyên nhân xung đột gia đình

Khi bàn về nguyên nhân dẫn tới xung đột gia đình, Silar và nhóm nghiên cứu (1994) cho biết, nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng trong đời sống hôn nhân gia đình đó là hiện tượng không đánh giá đúng những điều kiện thực tế của đời sống hôn nhân [129]

Các tác giả khác như Robin, Capsi, Moffitt (2000) cho biết, nếu các cá nhân trong mối quan hệ vợ chồng không thường xuyên bộc lộ những cảm xúc tiêu cực, khả năng cuộc hôn nhân sẽ bền vững cao hơn so với các cặp vợ chồng bộc lộ quá nhiều những cảm xúc tiêu cực Theo Finkel và Campell (2001), để đạt được trạng thái không thổ lộ và chia sẻ quá nhiều, đặc biệt những cảm xúc tiêu cực, chúng ta cần đến khả năng tự kiểm soát và chia sẻ cảm xúc của mình Tuy nhiên, Klien và Rankin (2004) cho rằng, càng chung sống lâu hơn các cặp vợ chồng càng có xu hướng thổ lộ nhiều hơn và đây có thể là điểm bất lợi trong hôn nhân [85, tr 390]

Không cùng quan điểm với nhóm tác giả trên, Huston (2001) tìm hiểu những khác biệt về tính cách ví dụ như việc thường xuyên lo lắng, trầm uất; luôn nhìn nhận mọi thứ một cách tiêu cực… Đó chính là một trong những nguyên nhân làm phát sinh mâu thuẫn trong đời sống gia đình Theo tác giả những khác biệt này có thể không xuất hiện ngay trong thời gian đầu tiên của cuộc hôn nhân [126]

Một đặc tính quan trọng của hôn nhân là sinh hoạt tình dục vợ chồng (marital sex) Urdy (1980) đã làm những cuộc nghiên cứu về lịch sinh hoạt ân ái giữa hai vợ chồng Tác giả cho rằng, mức độ sinh hoạt vợ chồng sẽ giảm thiểu dần theo thời gian chung sống cùng nhau và đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột, căng thẳng giữa hai vợ chồng Smitt (1993) lại khẳng định: Dù tần số sinh hoạt tình dục

có giảm đi nhưng sự tương đồng, ăn ý trong sinh hoạt tình dục mới thật sự là quan trọng và đó mới chính là nguyên nhân có dẫn đến hay không bất hòa trong quan hệ vợ chồng Sprecher (2002) cho biết, người chồng tin rằng thỏa mãn trong sinh hoạt tình dục chính là thỏa mãn trong sinh hoạt quan hệ chung của cả hai vợ chồng [85, tr 391]

Trang 18

Cùng chung xu hướng nghiên cứu về những nguyên nhân dẫn tới xung đột gia đình, nhóm tác giả Senecal và Guay (2001) cho biết những ảnh hưởng của công việc ởbên ngoài có tác động lên những sinh hoạt của gia đình Nhiều hiện tượng vợ chồng đối

xử xa lạ, lãnh đạm hoặc có những lần kiệt sức về mặt cảm xúc với nhau chính là nguyên nhân của sức ép công việc Hay nói cách khác, các tác giả này đang nhìn nhận xung đột gia đình được bắt nguồn từ những áp lực trong công việc mà cả vợ và chồng phải đảm nhận Gilbert (1993) cho biết đối với các cặp vợ chồng mà cả hai cùng làm việc ở ngoài thì tình hình căng thẳng sẽ càng trở nên cao hơn [85, tr 393]

Các tác giả như Kackel và Ruble (1992), Higgins (1993) lại tập trung nghiên cứu về sự xuất hiện của con cái sẽ ảnh hưởng như thế nào đến đời sống gia đình và xem nó là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới xung đột gia đình Theo họ, sự xuất hiện của con cái luôn đem theo những khó khăn mới, thời gian chăm sóc con cái sẽ chiếm mất thời gian của đôi vợ chồng dành cho nhau và những sinh hoạt tình dục cũng sẽ giảm thiểu theo Bjorklund, Shackelford (1999) cho biết, người phụ nữ thường giảm thiểu những cảm xúc trong quan hệ vợ chồng khi sinh nhiều con, hiện tượng này xảy ra vì phụ nữ là những người phải gánh nhiều gánh vác trách nhiệm hơn đàn ông trong việc chăm sóc và nuôi dạy con cái Cùng chung quan điểm này, Shapiro và Gottman (2000) cũng khẳng định sự ra đời của con cái và thiên chức làm cha mẹ có thể khiến cho sự thỏa mãn trong đời sống gia đình vợ chồng giảm thiểu [125, tr 84-94]

- Nghiên cứu xung đột gia đình do giao tiếp, ứng xử giữa các thành viên gia đình

Xu hướng nghiên cứu đặc điểm giao tiếp của các thành viên trong gia đình gây nên xung đột cũng thu hút được sự quan tâm của rất nhiều tác giả Theo một số tácgiả, khi các thành viên trong gia đình, đặc biệt là các cặp đôi vợ chồng không có kỹ năng giao tiếp hoặc giao tiếp thiếu lành mạnh thì xung đột gia đình luôn sẵn sàng xuất hiện

Nhóm tác giả, Shantz & Hobart (1989) đã khẳng định, giao tiếp gia đình có thể cải thiện các mối quan hệ gia đình Khó khăn đặt ra là nếu coi trọng giao tiếp trong gia đình thì phải tính đến các yếu tố như: đặc điểm tính cách, sự khác biệt giá

Trang 19

trị, mục tiêu, kỳ vọng, điều kiện kinh tế xã hội và các yếu tố khác Giao tiếp trong gia đình sẽ cung cấp một bối cảnh quan trọng cho sự phát triển của các cá nhân (kỹ năng quản lý các xung đột), vì gia đình được giả thiết là luôn có mâu thuẫn giống nhưtất cả các nhóm xã hội khác Nhóm tác giả McGonagle, Kessler và Shilling (1992)

đã chỉ ra trong nghiên cứu thực tiễn xung đột gia đình với câu hỏi: "Ông bà có thường xuyên bất đồng, khó chịu với vợ/chồng của ông bà không" Kết quả cho thấy, rất ít người nói "Không bao giờ", 80% cho biết họ có những bất đồng khó chịu với

nhau không nhiều hơn một lần một tháng, 6% có một sự bất đồng hoặc nhiều hơn trong một tuần [130]

Một số tác giả khác lại xác định xung đột như một chuỗi các hành vi chống đối liên tiếp nhau, chính vì thế trong việc kiểm tra băng ghi lại cuộc trò chuyện trong bữa ăn tối, Vuchinich (1984) phát hiện ra rằng các gia đình tham gia vào

khoảng 18 cuộc "tranh chấp" mỗi bữa ăn, mặc dù hầu hết trong số này là ngắn

ngủi, sự bất đồng được kìm nén, không có phản ứng quá tiêu cực và gay gắt [129]

Số lượng các cuộc xung đột vợ chồng phản ánh rất rõ chất lượng mối quan hệ

của họ Vincent, Weiss và Brichler (1985) báo cáo rằng các cặp "vợ chồng đau khổ"

có khoảng một cuộc xung đột/ một ngày, trong khi các cặp "vợ chồng không đau khổ"

trung bình có khoảng một cuộc xung đột/ một tuần [126]

Tương tự như vậy, Kirchler và đồng nghiệp (2001) đã đưa ra một nghiên cứu trong đó 40 cặp vợ chồng người Áo ghi nhật ký các cuộc hội thoại hàng ngày của

họ trong vòng một năm và báo cáo chi tiết về những thảo luận liên quan đến bất đồng Các cá nhân cho biết trung bình có 3 - 4 cuộc trò chuyện mỗi ngày, và ít hơn 30% có bất đồng nặng trong các cuộc trò chuyện đó Cả hai nghiên cứu này đều nói rằng, các cuộc xung đột công khai xuất hiện hàng tuần hoặc thậm chí hàng ngày đối với hầu hết các cặp vợ chồng [130]

Có thể thấy, xung đột là một trong những vấn đề được nghiên cứu và thảo luận nhiều trong lĩnh vực giao tiếp gia đình Theo các tác giả trên, xung đột là vốn có

và phổ biến trong gia đình với các mối quan hệ tình cảm thân thuộc và có sự phụ thuộc lẫn nhau

Trang 20

- Nghiên cứu về hậu quả của xung đột gia đình - ly thân, ly hôn

Các tác giả nước ngoài không chỉ quan tâm đến nguyên nhân làm nảy sinh xung đột trong gia đình mà còn rất quan tâm đến hậu quả của xung đột gia đình Theo họ, xung đột chính là một trong những nguyên nhân gây ra bạo lực gia đình và làm ly tán, tan rã gia đình

Những năm gần đây, rất nhiều tác giả cũng xem bạo lực gia đình như là hậu quả do xung đột gia đình gây ra Bạo lực gia đình đang là một trong ba vấn đề của toàn cầu: nghèo đói, môi trường suy thoái, bạo lực Hiện tượng này đã đưa con người vào trạng thái tâm lý bất ổn Theo số liệu của tác giả Hoàng Đăng Khoa, cách đây 8 năm ở Mỹ, cứ 100 vụ ly hôn có 90 vụ do bạo lực Ở Pháp điều tra gần đây cho thấy, tỷ lệ phụ nữ bị chồng ngược đãi là 2,5% tức khoảng 2,5 triệu người Liên đoàn phụ nữ quốc gia Pháp nhận định ở Pháp mỗi năm có 60 phụ nữ bị chồng hay người tình đánh chết [72, tr 174-175]

Giddens (2001) đã khẳng định, tình trạng chồng đánh vợ - bạo lực gia đình liên quan đến bản chất quan hệ gia đình So với các thể chế xã hội khác, nơi con người thường chỉ đóng một vai trò nào đó và biểu hiện một vài khía cạnh nhân cách thì gia đình là nơi mỗi thành viên bộc lộ toàn bộ nhân cách, con người của mình Do đó, gia đình có nhiều chủ đề gây bất đồng, tranh cãi và bạo lực hơn những nơi khác Hơn thế nữa, hôn nhân làm cho quan hệ vợ chồng mang sắc thái cảm xúc cao và như thế dễ khiến những bất đồng, xung đột bùng nổ về mặt tình cảm Một sự bất đồng với đồng nghiệp tại nơi làm việc về sở thích âm nhạc không cùng một cường độ cảm xúc như sự bất đồng giữa cha mẹ với con cái Một người đàn ông có thể bỏ qua khi nữ đồng sự của mình nói nhiều nhưng lại dễ nổi nóng nếu vợ mình tỏ ra lắm lời [124]

Hai tác giả như Levinger, Nicky Hart (1976) đã khẳng định rằng, trong thực

tế không phải lúc nào cũng phân biệt rành mạch các nguyên nhân dẫn đến ly hôn, ly tán: trường hợp nào do các xung đột nhỏ hàng ngày tích tụ như giọt nước tràn ly; trường hợp nào do sự bất lực của mỗi bên không đối phó được với những tình huống khó khăn, bất ổn trong gia đình Nhưng đa số các nghiên cứu về ly hôn đều

Trang 21

khẳng định trong phần lớn các trường hợp, sự tôn trọng và ưa thích mà một cặp vợ chồng vẫn có với nhau đã mất đi trước khi họ ly thân thay vào đó là sự thù địch và bất tín, những cuộc cãi cọ thường rất gay gắt [72, tr 173]

Tương tự như vậy, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, xung đột gia đình nếu không được giải quyết thì hậu quả sẽ là ly hôn, ly tán, bạo lực gia đình vì xung đột là không tránh khỏi trong gia đình Chính vì vậy, mà các tác giả theo xu hướng nghiên cứu về mối quan hệ giữa ly hôn - xung đột gia đình còn tập trung vào những vấn đề sau ly hôn ảnh hưởng như thế nào đến các thành viên trong gia đình

Daniel Vaughan (1986) đã tiến hành phỏng vấn 103 người vừa ly hôn và ly thân vào thời điểm nghiên cứu, để tìm câu trả lời cho câu hỏi "Ly hôn đã diễn ra như thế nào?" Theo bà, sự "tách cặp" lúc đầu thường không có chủ định, người khởi xướng trở nên không hài lòng với quan hệ vợ chồng, họ cố gắng thay đổi vợ hoặc chồng mình nhưng điều đó đã không thành công vì không thể xảy ra sự thay đổi trừ khi cả hai quan niệm giống nhau Chính ở thời điểm này, người khởi xướng nhận thấy rằng cố gắng của họ đã thất bại, quan hệ vợ chồng đã hỏng không thể sửa chữa được Từ đó, người khởi xướng chỉ chú ý đến những khuyết tật, thiếu sót, mặt tiêu cực của quan hệ vợ chồng và của kẻ kia Theo tác giả, trước khi thực sự chia lìa

về vật chất, đã có sự ly thân về xã hội, người khởi xướng tạo ra một lãnh địa hoàn toàn độc lập với hoạt động chung của cả hai vợ chồng Trong khi đó, cả hai vợ chồng vẫn có thể che dấu cái làm họ thật sự bất mãn, mà sa vào cãi vã về những vấn đềvụn vặt, đời thường hàng ngày [131]

Becker (1998) đã đánh giá công trình của Vaughan là một sự sáng tạo về lý thuyết Vaughan coi ly hôn là một quá trình và đã xem xét tất cả các bước trong quá trình này, cách thức các bước ấy nối với nhau và bước này tạo điều kiện cho bước tiếp theo xảy ra Kết quả mà bà tìm ra là tất cả các cặp trong quá trình ly hôn đều trải qua các bước trên, thậm chí dù người khởi xướng là nam hay nữ thì quá trình này vẫn xẩy ra theo cùng một cách [119]

Giddens (1989) đã khẳng định: Những người ly hôn cảm thấy mình đã lìa bỏ cái thế giới gia đình yên ổn mà nhiều người khác, dù có nhiều vấn đề hơn, vẫn sống

Trang 22

yên ổn trong đó Robert Weiss gọi hiện tượng trên là sự "trầm cảm chia lìa": việc người vợ hay người chồng cũ đột ngột không sống cùng nữa tạo ra cảm giác lo âu và hoảng loạn Sau một thời gian nào đó, cả nỗi đau khổ lẫn sự khoan khoái (được giải thoát) sẽ nhường chỗ cho những cảm giác cô độc [4, tr 95]

Như vậy, có thể khẳng định các nghiên cứu về hậu quả của xung đột thường tập trung vào hai vấn đề đó là bạo lực gia đình và ly hôn, ly tán gia đình

- Nghiên cứu về các cách thức giải quyết xung đột gia đình

Trong quá trình tìm kiếm các công trình nghiên cứu về xung đột gia đình, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào các chiến lược giải quyết xung đột gia đình McNutty và Karney (2004) cho biết khi xung đột trong đời sống gia đình xảy ra, việc có những chiến lược xử lý là quan trọng và cần thiết Theo hai tác giả này, trong cuộc xung đột giữa hai vợ chồng, chúng ta không nên sử dụng hai

kênh tiếp cận là: Thứ nhất: Tôi phải thắng người ấy phải thua - Đây là kênh tiếp cận

một chiều, sử dụng những giá trị so sánh mang nội dung vị thế và những tiêu chuẩn đối

xử phân biệt Thứ hai: Tôi đúng người ấy sai - Đây là kênh tiếp cận thiếu khách quan,

đặt nặng tính chủ quan và không thể hiện tinh thần tôn trọng Là những lối tiếp cận dựa trên cơ sở cảm xúc thành kiến, vốn đem lại nhiều tổn thương cho cả hai bên Cũngtheo hai tác giả này, quan sát từ băng hình video ghi nhận những mâu thuẫn khi hai

vợ chồng giằng co, tỷ lệ cho thấy một điều tích cực được ghi nhận chung nhưng lại

có ba điều tiêu cực giành cho nhau [133]

Ngoài ra, các nhà Tâm lý học xã hội tin rằng có rất nhiều xung đột được tiếp cận, giải quyết theo các cách nhìn khác nhau, như:

Tiếp cận tích cực: Xung đột được xử lý một cách bình tĩnh, có tôn trọng, mổ xẻ

vấn đề một cách khách quan và cả hai phía đều có thái độ tôn trọng và tinh thần hợp tác

Tiếp cận tiêu cực trực tiếp: Hai vợ chồng công khai chỉ trích lẫn nhau, vu

khống và cáo buộc một cách thiếu cơ sở, lăng mạ và có lời lẽ khiếm nhã, bạo lực và vũ phu, hằn học và có những thái độ nóng nảy rất ương gàn

Tiếp cận tiêu cực gián tiếp: Đó là khi hai vợ chồng có những hành vi co

cụm, né tránh các hoạt động chung và những đề tài cần được thảo luận, không tỏ ra

Trang 23

có thiện chí xây dựng mà có thái độ bất cần Đây là những cơ hội khiến cho hai người càng ngày càng cách xa Bodenman (1998) cho rằng, khi có mâu thuẫn, những người nam giới có nhận thức và trình độ giáo dục thấp thường sử dụng kênh tiếp cận tiêu cực trực tiếp Trong khi đó, những ông chồng có nhận thức và trình độ giáo dục cao thường sử dụng lối tiếp cận tích cực [85]

Tuy nhiên, theo các nhà Tâm lý học, hai lối tiếp cận trực tiếp và gián tiếp có thể được sử dụng thay phiên nhau và mối quan hệ vợ chồng sẽ ngày càng trở nên ngột ngạt, bế tắc hơn

Cảm xúc thường khiến cho lời nói và hành vi của cá nhân trở nên mất chuẩn xác Khi không còn tôn trọng nhau nữa, các cá nhân trong gia đình có xu hướng xem thường nhau, công kích lẫn nhau một cách rất vô lý và ấu trĩ Khi các cá nhân bị dồn nén và không còn cơ hội bày tỏ hoặc cảm thấy không an toàn, họ sẽ sử dụng các

cơ chế phòng vệ Một trong những biểu hiện dễ nhận thấy trong gia đình, đó là hiện tượng nói dối, ngụy biện, ca thán Yovetich, Rusbult (1998) cho rằng khi nóng giận, cánhân cần im lặng hoặc kéo dài thời gian ứng xử Điều này cho phép cả hai phía cùng có những cơ hội sử dụng kênh tư duy, thay vì để cho kênh cảm xúc hoàn toàn khuynh đảo, chi phối [133]

Tóm lại, khi tổng hợp các hướng nghiên cứu khác nhau của các tác giả nước ngoài về xung đột gia đình, chúng tôi nhận thấy, xung đột gia đình đã thu hút được

sự quan tâm của rất nhiều các nhà tâm lý học Ở các hướng nghiên cứu trên có thể thấy xung đột gia đình được xem là một vấn đề có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến các mối quan hệ trong gia đình, nó là nguyên nhân chính làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực trong các mối quan hệ gia đình

1.1.1.2 Nghiên cứu xung đột gia đình ở trong nước

Hơn 20 năm trở lại đây, các vấn đề xung đột tâm lý liên nhân cách trong nhóm đã được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm Những tác giả tiêu biểu đó là: Trần Trọng Thủy, Phạm Tất Dong, Đỗ Long, Trần Hiệp, Vũ Dũng, Nguyễn Đình Xuân, Nguyễn Khắc Viện, Ngô Công Hoàn…

Trang 24

Các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu về nguyên nhân, mức độ biểu hiện của xung đột gia đình, cũng như hậu quả của xung đột và ảnh hưởng của xung đột đến bầu không khí tâm lý trong gia đình Những nghiên cứu của các tác giả trong nước về lĩnh vực xung đột gia đình chưa thật sự tạo ra những hướng nghiên cứu sâu

mà mới chỉ dừng lại ở mức độ nhỏ, lẻ, nêu hiện tượng Vì vậy trong phần trình bày này, chúng tôi thấy khó khăn trong việc phân chia cụ thể các nghiên cứu thành các nhóm vấn đề để phân tích một cách rạch ròi

Tác giả Nguyễn Đình Xuân (1993) đã mô tả nguyên nhân làm nảy sinh xung đột tâm lý trong gia đình và các phương thức giải quyết chúng Theo ông, xung đột tâm lý là sự biểu hiện các mâu thuẫn do bất đồng hay khác nhau về nhu cầu, thị hiếu… giữa các thành viên trong gia đình.Tuy nhiên, không phải mọi sự khác biệt đều dẫn đến xung đột mà chỉ khi nào chúng ta không biết bàn bạc, nhường nhịn, thông cảm cho nhau thì mới nảy sinh ra xung đột Tác giả cũng đã phân loại xung đột, tìm hiểu các biểu hiện của xung đột và cuối cùng ông khẳng định: Xung đột trong gia đình là

vô cùng phong phú nên nguyên nhân gây ra nó cũng vô cùng phức tạp [116]

Nghiên cứu xung đột gia đình gây tổn thương tâm lý đối với trẻ em, tác giả Nguyễn Khắc Viện (1993) cho rằng: Gia đình phải là một tổ ấm thực sự được xây dựng trên cở sở tình yêu thương, sự chấp nhận lẫn nhau của các thành viên trong gia đình Tổ ấm gia đình đó sẽ trở nên mất an toàn khi các thành viên trong gia đình không thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình để xung đột leo thang, và kết cục cuối cùng là ly thân, ly hôn Trẻ em là đối tượng chịu ảnh hưởng lớn nhất của xung đột gia đình, ly hôn làm tổn thương và gây ra rất nhiều chứng bệnh nhiễu tâm ở trẻ em Như vậy, tác giả Nguyễn Khắc Viện đã tiếp cận xung đột gia đình là một trong những hiện tượng tâm lý tiêu cực ảnh hưởng sâu sắc đến bầu không khí tâm lý gia đình và để lại những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt ảnh hưởng đến rối nhiễu tâm lý trẻ em [111]

Nằm trong xu hướng nghiên cứu trên, tác giả Đỗ Hạnh Nga (2005) đã phát hiện và phân tích thực trạng xung đột về nhu cầu độc lập của học sinh trung học cơ

Trang 25

sở trong quan hệ với cha mẹ Tác giả đã xác định được những biểu hiện xung đột trong hành vi và kết quả của việc giải quyết xung đột về nhu cầu độc lập của thiếu niên, yếu tố ảnh hưởng và nguyên nhân Tác giả cũng thiết kế các mô hình giải quyết những xung đột tâm lý về nhu cầu độc lập của học sinh trung học cơ sở trong quan hệ với cha mẹ [71]

Một vài nghiên cứu trong lĩnh vực gia đình học như của các tác giả Lê Thị Quý, Đặng Cảnh Khanh (2007) đã chỉ ra những nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn và bất hòa trong quan hệ vợ chồng, đó là: Sự khác biệt tâm lý giữa nam và nữ,

sự khác nhau về cá tính của mỗi người, sự khác biệt từ nền giáo dục gia đình, bất bình đẳng giới, bất đồng trong quản lý chi tiêu, những trục trặc trong đời sống chăn gối, thiếu tổ chức trong đời sống gia đình, bất đồng về giáo dục con cái, bất đồng trong cư cử với họ hàng hai bên Nhóm các tác giả đã chỉ ra rằng xung đột gia đình xảy

ra giữa chồng và vợ, nguyên nhân sâu xa nằm ở sự bất bình đẳng về giới, đặc biệt đối tượng chịu sự bất công đó là phụ nữ, họ phải đảm nhận rất nhiều trách nhiệm nhưng lại không được nam giới (chủ yếu là người chồng) tạo điều kiện và ủng hộ [51]

Không chỉ tiếp cận xung đột gia đình dưới góc độ nguyên nhân là do định kiến và sự phân biệt đối xử theo giới, nhóm tác giả này còn tiếp cận xung đột gia đình dưới góc độ bạo lực gia đình, hay nói cách khác các tác giả này cho biết một trong những cách giải quyết xung đột tiêu cực mà các gia đình thường làm là sử dụng bạo lực [80]

Theo họ, có bao nhiêu dạng thức và kiểu loại các mối quan hệ trong gia đình thì có bấy nhiêu thứ bạo lực gia đình tương ứng với chúng Các dạng bạo lực trong gia đình bao gồm: Bạo lực thế hệ (dạng bạo lực này đã phản ánh lại việc xử lý các quan hệ và mâu thuẫn thế hệ, nó thường biểu hiện trong quan niệm và hành vi của ông

bà, cha mẹ đối với con cháu và ngược lại); Bạo lực giới (bạo lực giới trong gia đình thường diễn ra dưới dạng vợ chồng dùng sức mạnh và bạo lực trong việc xử lý các mối quan hệ giữa họ với nhau Ở Việt Nam, bạo lực giới trong gia đình thường là của người chồng đối với người vợ); Bạo lực thân thể (đánh đập hoặc ngược đãi

Trang 26

nhiều thành viên trong gia đình); Bạo lực lao động hoặc kinh tế (sự phân công lao động và hưởng thụ bất hợp lý giữa các thành viên trong gia đình); Bạo lực tâm lý (áp đặt, chỉ đạo hoặc xâm phạm tới nguyện vọng, ý thích và thị hiếu riêng của mỗi thành viên trong gia đình); Bạo lực tình dục (một dạng đặc biệt trong quan hệ giới tạigia đình, nó vừa có thể diễn ra kín đáo âm thầm vừa có thể diễn ra công khai nhưng nhìn chung cả đạo đức và pháp luật đều khó can thiệp)

Trong các công trình nghiên cứu về xung đột gia đình, nhóm các tác giả trên còn chỉ ra biện pháp giải quyết tận gốc tình trạng xung đột gia đình, bất bình đẳng giới, sử dụng bạo lực gia đình là phải chú ý tới xây dựng sức mạnh của hệ giá trị, chuẩn mực đạo đức gia đình, đặc biệt đặt gia đình trong bối cảnh kinh tế thị trường, giao lưu và hội nhập như ngày này thì việc tuyên truyền, tạo điều kiện để những hệ giá trị, chuẩn mực đạo đức gia đình hơp lý, tiến bộ đứng vững và chi phối hành vi, thái độ của các thành viên trong gia đình là hết sức cần thiết [83], [84]

Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga trong tác phẩm Gia đình học (2009) đã khẳng

định chính sự biến đổi về kinh tế xã hội đã khiến cho gia đình phải đối diện với rất nhiều vấn đề như: cấu trúc, chức năng gia đình thay đổi, định hướng giá trị, các mối quan hệ trong gia đình thay đổi, ly hôn, ly tán, xung đột và bạo lực gia đình [72]

Tác giả Vũ Tuấn Huy (2003), với đề tài "Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình

và những yếu tố ảnh hưởng" đã đi theo lý thuyết xã hội học kinh điển về mâu thuẫn và

khẳng định mâu thuẫn là do sự bất bình đẳng về quyền lực giữa nam giới và nữ giới,

đó chính là nguồn gốc dẫn đến xung đột trong quan hệ giữa hai giới trong xã hội và gia đình Qua điều tra thực tiễn, tác giả đã chỉ ra một số lĩnh vực thường xảy ra mâu thuẫn giữa hai vợ chồng như: Thu nhập, quản lý chi tiêu, nuôi dạy con cái, cách ứng

Trang 27

Nhóm vấn đề thứ nhất, liên quan đến tình cảm gắn bó và quyền lực hay còn gọi là cấu trúc gia đình bao gồm: Trong gia đình không có ai đủ ảnh hưởng để đưa ra những quyết định gia đình khi cần thiết, mọi người không quan tâm tới những điều xảy ra với gia đình mình Các thành viên hạn chế bộc lộ tình cảm, né tránh giải quyết các xung đột, thậm chí còn tạo bè phái trong gia đình Khi giải quyết vấn đề không

có sự thương lượng, bàn bạc thay vào đó là áp lực của một người nào đó, hơn thế nữa luôn có xu hướng đổ lỗi, quy trách nhiệm cho nhau, ít có sự thông cảm từ các thành viên thay vào đó là sự thù địch, ghen tỵ, buồn nản

Nhóm vấn đề thứ hai, những khó khăn do không tiếp cận được hệ thống nguồn lực từ bên ngoài để đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của các thành viên gia đình: Thiếu vốn để sản xuất, thiếu các mối quan hệ trợ giúp, thiếu hiểu biết về chính sách pháp luật, thiếu khả năng cập nhật các thông tin hỗ trợ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn

Nhóm vấn đề thứ ba, liên quan đến năng lực của các thành viên trong gia đình, đơn cử như việc thiếu kiến thức, kỹ năng chăm sóc, nuôi dưỡng gia đình hay không được trang bị kiến thức, kỹ thuật để thực hiện tốt vai trò của mình [56]

Như vậy, một lần nữa có thể khẳng định, các tác giả trong nước chủ yếu tập trung nghiên cứu nguyên nhân và hậu quả của xung đột gia đình cũng như đề xuất một cách gián tiếp các biện pháp nhằm hạn chế xung đột gia đình

Điểm qua những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về xung đột gia đình, chúng tôi thấy rằng, vấn đề này đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu cả ở trong và ngoài nước với những cách tiếp cận khác nhau Về mặt lý luận, các tác giả đều cho rằng: xung đột gia đình là một hiện hiện tượng tâm lý xã hội khá phổ biến, xung đột gia đình là điều không thể tránh khỏi, nguyên nhân làm nảy sinh xung đột rất phong phú, phức tạp Nếu có phương thức giải quyết xung đột gia đình phù hợp, chúng có thể là động lực cải thiện, "làm mới" các mối quan hệ vốn có trong gia đình Nếu giải quyết không hiệu quả, xung đột sẽ leo thang và nó có thể trở thành nguyên nhân của hàng loạt những vấn đề tiêu cực khác trong gia đình, là nguyên nhân phá vỡ gia đình: bạo lực gia đình, ly hôn ly tán gia đình

Trang 28

1.1.2 Những nghiên cứu về xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá

trình đô thị hóa

1.1.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đối với lối sông đô thị

Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa và kéo theo nó là quá trình đô thị hóa mạnh mẽ đi kèm với vô số những vấn đề xã hội nảy sinh ở các đô thị đã thu hút sự chú ý của các nhà Tâm lý học và Xã hội học Phương Tây

Nhà Tâm lý học Stanley Milgram cho rằng, nhiều người dân đô thị phải đương đầu với sự quá tải tâm lý, hoặc không có khả năng xử lý toàn bộ thông tin dồndập đến với họ Kết quả là họ cố gắng tự vệ về tâm lý bằng cách duy trì những quan

hệ hời hợt, ngắn hạn, ẩn danh với những người khác Những quan hệ nào có vẻ không cần thiết sẽ bị họ bỏ qua Điều này dẫn đến một sự giảm sút về đạo đức và trách nhiệm xã hội đối với người khác Người thành thị có vẻ không muốn dính líu tới người khác, trừ khi họ có liên quan một cách đặc biệt với người đó [62]

Claude Fischer đã phát triển một quan điểm khác về lối sống đô thị - quan điểmphân hệ văn hóa Fischer đồng ý với Wirth rằng những đặc trưng của đô thị - quy mô, mật độ dân số, sự hỗn tạp về thành phần xã hội - có ảnh hưởng đến cấu trúc và sức mạnh của các nhóm xã hội Nhưng trái với Wirth, ông cho rằng đời sống đô thị khôngphá hủy sự liên kết của các nhóm phụ Đúng hơn, nó củng cố và làm tăng tầm quan trọng của chúng [62, tr 129]

Trịnh Duy Luân (2004) cho rằng, các nhà Tâm lý học xã hội và xã hội học phương Tây đã chỉ ra: Các nước Tây Âu có công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh đã phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng Chẳng hạn, tỷ lệ tử vong ở đô thịcao hơn ở nông thôn, ly hôn, ly tán gia đình… Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nước Mỹ phải đối mặt với các vấn đề của đô thị nhanh ở thời điểm muộn hơn so với Châu Âu, song những ảnh hưởng của nó tới điều kiện sống, môi trường, thể chất và tâm lý của người dân đô thị Mỹ cũng không kém phần tồi tệ [62]

Tất cả những quan điểm mang tính nền tảng này sẽ được chúng tôi xem như một trong những nguyên nhân tạo ra sự không kịp thích ứng về mặt tâm lý của

Trang 29

người dân ven đô khi họ phải thay đổi từ việc sinh sống và làm việc trong môi trường nông nghiệp nông thôn sang môi trường công nghiệp đô thị

Các nhà Tâm lý học như Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Thị Phương Hoa, Lã Thị Thu Thủy… cũng rất quan tâm đến vấn đề đô thị hóa vùng ven đô Tác giả Phan Mai Hương khi bàn về những biến đổi tâm lý của cư dân vùng ven đô đã được đô thị hóa

đã đưa ra kết luận như sau: Thứ nhất: Dưới tác động của đô thị hóa, đời sống tâm lý của

cư dân vùng ven đô có sự biến đổi rõ rệt Sự biến đổi không đồng đều và thiếu quá trình chuẩn bị tâm lý để ứng phó với những tác động của đô thị hóa đã làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc và ảnh hưởng đến sự phát triển cá nhân một cách hài hòa nói riêng và có thể gây tác động ngược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng ven

đô nói chung Thứ hai: Sự biến đổi diễn ra theo xu hướng đa dạng hóa và cá nhân hóa trên mọi mặt của đời sống tâm lý Thứ ba: Sự pha trộn giữa các khuôn mẫu văn hóa đô thị và nông thôn là đặc trưng của vùng ven hiện nay Xu hướng khuôn mẫu văn hóa đô thị chiếm ưu thế tăng theo mức độ đô thị hóa và vị thế kinh tế xã hội của cácđịa phương Thứ tư: Sự biến đổi tâm lý của cư dân vùng ven diễn ra khá tự phát, người dân chưa được chuẩn bị tâm lý để ứng phó với các biến đổi xã hội đang và sẽ diễn ra để có cách ứng xử tích cực với mục đích mang đến sự phát triển bền vững chobản thân cũng như xã hội [43]

Tác giả Lã Thu Thủy tiếp tục với xu hướng nghiên cứu sự thích ứng của

người nông thôn dưới tác động của đô thị hóa với công trình nghiên cứu "Những thay đổi tâm lý của thanh niên nông thôn có việc làm tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố" Tác giả đã tập trung vào làm rõ sự biến đổi nhu cầu, nhận thức là

do sự thay đổi về nhà ở, tiện nghi sinh hoạt và đời sống văn hóa tinh thần, hoạt động nghề nghiệp, hoạt động giao tiếp, khả năng thich nghi, tính năng động của thanh niênnông thôn khi tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp [98]

Bên cạnh các đề tài nghiên cứu về vùng ven đô dưới tác động của đô thị hóa, các nhà Tâm lý học Việt Nam cũng đã có khá nhiều bài viết với cùng chủ đề trên các tạp chí chuyên ngành

Trang 30

Tác giả Lê Thị Thanh Hương (2008) đã đưa ra những nhận định khi nghiên cứu về sự thích ứng của các nhóm dân cư Đà Nẵng trong bối cảnh đô thị hóa: "Cảm nhận về một số mặt tiêu cực của cuộc sống đô thị như tiếng ồn và mức chi phí cho cuộc sống ngày càng tăng không cản trở phần lớn người dân thành phố có những trải nghiệm tích cực, hào hứng khi được sống một thành phố ngày càng phát triển thành đôthị lớn" Điều này cho thấy sự thích ứng tốt về mặt cảm xúc của người dân đối với cuộc sống đô thị Tác giả cũng dự báo rằng môi trường sống ở thành phố ngày càng được

đô thị hóa sẽ là tiền đề tạo ra lối sống có những nét đặc trưng khác với lối sống ở những vùng nông thôn hoặc thành phố nhỏ Nói tóm lại, tác giả cho rằng phần lớn người dân Đà Nẵng đã thích ứng được với những thay đổi do quá trình đô thị hóa mang lại, tuy nhiên tính chủ động lại chưa cao [38]

Phan Thị Mai Hương (2008) đã phân tích những dự định nghề nghiệp của người dân khu vực ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa và chỉ ra rằng, yếu tố nội lực cho sự phát triển chưa trở thành một nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự đổi mới cho mỗi người đó là minh chứng cho sự bị động của người dân trước bối cảnh mới, cần

sự chuẩn bị tâm lý chu đáo để tiếp cận với cơ hội phát triển một cách chủ động hơn [46]

Tác giả Đỗ Thị Lệ Hằng (2008) khi bàn về thực trạng chuyển đổi nghề nghiệp của cư dân ven đô trong quá trình đô thị hóa đã nêu rõ thực trạng chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp và thu nhập của người dân vùng ven đô Hà Nội, thông qua những nghiên cứu, thống kê về nghề nghiệp, thu nhập chính của các hộ gia đình thuộc 3 khu vực: Yên Mĩ, Yên Sở, Mỹ Đình trong quá trình đô thị hóa [27]

1.1.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến tâm lý, hành vi của các thành

viên trong gia đình

Không nằm ngoài xu hướng nghiên cứu đô thị và đô thị hóa trên thế giới, ở Việt Nam trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, việc nghiên cứu đô thị hóa ở các vùng ven được tập trung chú ý bao gồm cả những nghiên cứu có tính tổng hợp, cả những nghiên cứu có tính chuyên biệt

Trang 31

Tác giả Lê Thị Thanh Hương (2009) với đề tài nghiên cứu "Ứng xử của người dân vùng đồng bằng sông Hồng trong gia đình" đã đi đến những kết luận như sau: Có một xu hướng mới trong phân công việc nhà giữa hai vợ chồng, tuy nhiên những định khuôn xã hội từ truyền thống về vai trò của người vợ và người chồng trong thực hiện việc nhà, trong quyền ra các quyết định gia đình vẫn còn ảnh hưởng tương đối lớn, nhất là ở các vùng nông thôn và thị trấn, nơi các giá trị văn hóa truyền thống vẫn còn được bảo lưu; Người dân vùng đồng bằng sông Hồng vẫn đánh giá cao tính dân chủ trong quan hệ vợ chồng, song đồng thời đề cao vị thế xã hội gắn với "uy quyền" của người đàn ông trong gia đình; Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, những cảm nhận cũng như những mong muốn về gia đình, về sự đảm nhận việc nhà cũng như cách ứng xử của vợ chồng về sự đảm nhận việc nhà này có liên quan mật thiết với một số việc nhà được hai vợ chồng chia sẻ với nhau và với mâu thuẫn giữa hai vợ chồng [40]

Tác giả Lê Duy Tuyên (2012) khi nghiên cứu về sự biến đổi quan hệ vợ chồng trong gia đình nông thôn ven đô tỉnh Tây Ninh dưới tác động quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã đi đến những kết luận như sau: Sự độc nhất quyền làm chủ của người chồng đã không còn nữa, thêm vào đó là sự đồng loạt xuất hiện mô hình người

vợ nắm quyền lực và mô hình vợ chồng bình quyền, điều này cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong cách sống và và nếp suy nghĩ của người vợ và người chồng trong gia đình Sự biến đổi các chuẩn mực vai trò của người vợ và người chồng bắt nguồn từ những thay đổi về địa vị và vai trò kinh tế của người vợ Đây là một xu hướng tất yếu của sự biến đổi gia đình dưới tác động mạnh mẽ của những thay đổi về kinh tế xã hội Công nghiệphóa và đô thị hóa đã không phá bỏ hoàn toàn mô hình truyền thống nhưng nó đã phá vỡ cấu trúc nhất thể hóa của gia đình truyền thống tạo nên tính đa dạng của gia đình ở vùng ven đô và đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới xung đột gia đình [108]

Khi phân tích những biến đổi vai trò giới trong gia đình nông thôn hiện nay dưới tác động của đô thị hóa, tác giả Hoàng Thị Hằng (2013) đã khẳng định, người vợ không còn phụ thuộc hoàn toàn vào người chồng mà đã tham gia vào quyết định

Trang 32

các công việc quan trọng trong gia đình, vai trò trụ cột kinh tế cũng không còn là sự

sở hữu độc quyền của người chồng, đặc biệt những phụ nữ có trình độ học vấn cao thì được chồng hỗ trợ rất nhiều trong các công việc gia đình Cũng theo tác giả, khu vực có quá trình đô thị hóa nhanh, mạnh, và sớm như các vùng ven Hà Nội thì sẽ tác động tích cực đến sự bình đẳng giới trong gia đình hơn các vùng khác (so sánh Hà Nội và Bắc Ninh) và tác giả cũng đưa ra các giải pháp vừa nhằm tạo điều kiện cho người vợ được phát triển bình đẳng nhưng cũng đảm bảo chính sự tạo điều kiện này không thể trở thành nguyên nhân đưa đến xung đột trong mối quan hệ vợ chồng [29]

Các công trình nghiên cứu của các nhà Tâm lý học Việt Nam về tác động của

đô thị hóa đến vùng ven đô đã giúp cho chúng tôi có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn để tiếp tục tập trung tìm hiểu các vấn đề thuộc về đời sống tinh thần, văn hóa, lối sống của cư dân ven đô, trong đó có hiện tượng tâm lý xã hội mà chúng tôi đang quan tâm

đó là xung đột gia đình ở vùng ven đô trong quá trình đô thị hóa

Điểm qua các công trình khoa học nghiên cứu về đô thị hóa vùng ven đô, chúng tôi nhận thấy đô thị hóa vùng ven đô cũng đặt ra rất nhiều vấn đề đáng quan tâm, mổ xẻ cả về lý luận và thực tiễn Các nhà Tâm lý học ở Việt Nam thời gian gần đây cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các nhóm dân cư sinh sống ở vùng ven đô, những vấn đề tâm lý xã hội nảy sinh khi vùng ven đô được đô thị hóa Như đã nói ở trên, chính những nghiên cứu này đã giúp cho chúng tôi có cơ sở để xây dựng cả về vấn đề phương pháp luận và triển khai nghiên cứu thực tiễn vì nghiên cứu xung đột gia đình đặt trong bối cảnh đô thị hóa vùng ven đô là một nghiên cứu mới

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Xung đột

1.2.1.1 Khái niệm

Trong Tâm lý học, có hai hướng nghiên cứu chủ yếu về xung đột tâm lý: Hướng thứ nhất đi sâu nghiên cứu xung đột tâm lý bên trong nhân cách của mỗi người với các tác giả như S.Freud, N.Miller, E.Fromm… Hướng thứ hai lại quan

Trang 33

tâm nghiên cứu xung đột tâm lý liên nhân cách (xung đột tâm lý giữa các cá nhân)

và xung đột tâm lý giữa các nhóm xã hội: K.Lewin, J.P.Chaplin…[11]

Xung đột tâm lý mà luận án nghiên cứu là xung đột trong mối quan hệ liên nhân cách - xung đột giữa các cá nhân trong một nhóm nhỏ chính thức, đó là nhóm gia đình Vì vậy, chúng tôi quan tâm tới những quan điểm của các tác giả nghiên cứu về xung đột liên nhân cách trong nhóm nhỏ, đặc biệt là nhóm gia đình

Một số nhà Tâm lý học thuộc trường phái động thái nhóm cho rằng, trạng thái ổn định, cân bằng của nhóm chỉ mang tính chất tương đối Theo K.Lewin: Nhóm không bao giờ ở trạng thái cân bằng, ổn định Xung đột nhóm là nguyên nhân, là động lực dẫn đến thay đổi cấu trúc của nhóm [35]

Theo Mary Parker Follet: "Xung đột cần phải được hiểu như sự khác biệt - khác biệt về quan điểm và lợi ích" Xung đột có thể ví như ma sát và không phải tất

cả các ma sát đều có hại (chẳng hạn nhờ ma sát mà phát hiện ra lửa) [11], [12]

Đồng tình với quan điểm trên, tác giả Lê Văn Hảo & K.S.Larsen (2010) khẳng định bất cứ khi nào có từ hai người trở lên tụ họp lại với nhau thì có khả năng xảy ra xung đột Điều này đúng với các nhóm nhỏ như một cặp vợ chồng hoặc cũng đúng với cả các nhóm lớn như một dân tộc Đó là khi mục tiêu và nhu cầu của con người xung đột với nhau hoặc đôi khi các mục tiêu hoàn toàn không tương hợp [26]

A Kauzer, đại diện của trường phái Tâm lý học nhận thức lại cho rằng: Xung đột là một bộ phận không thể tách rời của tồn tại xã hội và của sự tác động qualại giữa các cá nhân và các nhóm Tâm lý học nhận thức khẳng định xung đột chỉ trở thành hiện thực khi và chỉ khi nó được nhận thức rõ ràng và đi vào ý thức của các bên tham gia xung đột [11]

Theo Baron, Robert A & Paulus (1989), xung đột có liên quan đến những tình huống/ sự kiện mà nhóm hay cá nhân đang trực tiếp đối đầu/ đối diện, trong đó mỗibên đều nhận thức rằng bên kia đang hoặc đã chống lại một vài quyền lợi chủ yếu củamình [118]

Các tác giả Severy, Brigham và Schlenker cho rằng xung đột là hoàn cảnh

mà ở đó mục đích của hai hoặc nhiều người không thống nhất với nhau ở một số

Trang 34

mức độ Mặt khác, không phải tất cả các thành viên đều có thể thực hiện các mục đích mong muốn của mình trong cùng một thời gian Các xung đột cũng xảy ra khi các thành viên của nhóm thống nhất với nhau về mục đích cơ bản nhưng lại không thống nhất về các mục đích thứ yếu, hoặc mục đích có thể thống nhất với nhau nhưng lại khác biệt về phương thức thực hiện [11]

Theo Donelson R Forsyth xung đột chỉ sự bất đồng, bất hòa và xích mích xảy ra khi các hành động hoặc niềm tin của một hoặc nhiều thành viên của nhóm không thể được chấp nhận và bị phản đối bởi một hoặc nhiều thành viên khác trong nhóm [123]

Trong Từ điển Tâm lý học, tác giả Vũ Dũng (2000) đã khái quát về xung đột như sau: Xung đột là sự va chạm của các xu hướng đối lập, mâu thuẫn nảy sinh trong bản thân cá nhân, trong quan hệ liên nhân cách hay liên nhóm, kèm theo những chấn động về tình cảm (thường là những cảm xúc âm tính: bực bội, khó chịu, căm ghét, tức giận…) [10] Theo tác giả, xung đột được xem xét ở một số dạng sau:

1/Nội xung đột (Xung đột cá nhân): Là sự đụng độ, mâu thuẫn của các động cơ,

nhu cầu, hứng thú, say mê… có xu hướng đối lập nhưng tương đương nhau về xung lực trong cùng một con người Một trường hợp đặc biệt của nội xung đột là xung đột giữa các vai trò khi một cá nhân đồng thời phải hành động theo các vai trò không phù hợp với nhau

2/Xung đột giữa các cá nhân: Tình huống mâu thuẫn xuất phát từ những mục đích không hòa hợp hoặc các định hướng giá trị chuẩn mực khác nhau giữa các cá nhân, diễn ra trong hoàn cảnh bắt buộc phải loại trừ nhau

3/Xung đột giữa các nhóm: Các nhóm xã hội khác nhau theo đuổi những mục đích và động cơ không thể dung hòa và tiến hành các hoạt động cụ thể nhằm cảntrở lẫn nhau [5]

Tác giả Võ Khánh Vinh đã khẳng định, khi nói đến xung đột chúng ta thường nói đến quá trình mà trong đó các cá nhân hoặc nhóm xã hội cản trở nhau trong việc đạt được mục đích nào đó, ngăn chặn đối phương thỏa mãn nhu cầu hoặc buộc đối phương phải thay đổi quan điểm [115]

Trang 35

Như vậy, có thể khẳng định, xung đột phải có ít nhất hai bên đối lập nhau, hành vi của mỗi người thuộc mỗi bên thường hướng tới việc đạt được những lợi ích của

họ và rõ ràng về nguyên tắc là xung khắc với nhau

Xung đột thường có đặc điểm là căng thẳng tâm lý vì những người thuộc các bên xung đột hoặc là thay đổi cách ứng xử, thích nghi hoặc tự bảo vệ trước tình huống xung đột Khi căng thẳng tâm lý không được giải quyết, có thể bị đẩy lên thành sự chống đối, đối đầu, nguy cơ dẫn tới sự tan rã của nhóm Nguyên nhân tâm lý của xung đột được hình thành từ những khác biệt, mâu thuẫn về nhận thức, thái độ, hành vi của các bên tham gia, do các bên thường mong muốn thỏa mãn lợi ích của mình

Như vậy, có thể khẳng định, trong đời sống tâm lý xã hội, xung đột có thể xảy

ra và bao trùm lên tất cả mọi hoạt động sống của con người mà chủ thể và người tham gia trong đó là những cá thể đơn lẻ hoặc các nhóm xã hội Xung đột có thể xuất hiện từ sự khác biệt về nhu cầu, tình cảm, hứng thú, các giá trị, phong cách sống, lối sống giữa các cá nhân trong một nhóm Sự khác biệt này nếu trầm trọng, không đượcgiải quyết, va chạm đến mức gay gắt sẽ leo thang thành mâu thuẫn và xung đột

Trên cơ sở tổng hợp, phân tích có kế thừa các quan điểm của các tác giả trên,

trong khuôn khổ của luận án chúng tôi thống nhất hiểu xung đột là: Xung đột là sự va chạm, đối lập tâm lý giữa các cá nhân, thể hiện ở các mặt nhận thức, cảm xúc và hành vi, dẫn đến những biến đổi tích cực hoặc tiêu cực trong quá trình cùng thực hiện một hoạt động nào đó

Trong quá trình tổng hợp tài liệu nghiên cứu về xung đột và xung đột tâm lý trong gia đình, chúng tôi nhận thấy cần phân biệt rõ mối liên hệ giữa xung đột với sựkhác biệt và mâu thuẫn

- Sự khác biệt

Theo cách hiểu chung nhất, sự khác biệt được xác định là sự không giống nhau, không đồng nhất Trong thế giới khách quan, các sự vật và sự sống cũng như con người luôn tồn tại với những đặc điểm, thuộc tính chung của loài, đồng thời

Trang 36

chúng lại có những đặc điểm, thuộc tính riêng của mỗi cá thể Điều đó dẫn đến sự khác biệt của mỗi cá thể và chính sự khác biệt này tạo nên sự phong phú, đa dạng của cá thể trong loài

Luận án xem xét khái niệm khác biệt từ góc độ của khoa học tâm lý Vì vậy, khái niệm sự khác biệt mà chúng tôi trình bày trong luận án ngầm chứa nội dung của sự khác biệt tâm lý

Đối với mỗi cá nhân, vốn sống, kinh nghiệm, vốn hiểu biết, niềm tin, lý tưởng, thói quen, lối sống, văn hóa được hình thành và phát triển qua hoạt động và giao tiếp, tạo nên các phẩm chất, đặc điểm, thuộc tính tâm lý riêng của mỗi cá nhân Nói cách khác, đó là sự khác biệt tâm lý của mỗi con người Sự khác biệt tâm lý đã tạonên tính khác biệt (riêng biệt) giữa cá nhân này với cá nhân khác trong gia đình và xã hội

Sự khác biệt giữa các cá nhân trong gia đình (đặc biệt là giữa vợ và chồng)

sẽ tạo nên sự phong phú, đa dạng trong đời sống gia đình Sự khác biệt tâm lý của mỗi cá nhân trong gia đình không tạo nên sự cản trở đi đến mục đích, lợi ích chung của gia đình và của từng cá nhân thì xung đột chưa thể xẩy ra Nhưng nếu sự khác biệt tâm lý này không được dung hòa, có va chạm thì nó chính là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh mâu thuẫn, xung đột giữa các cá nhân

Khi nghiên cứu vấn đề xung đột trong nhóm nhỏ, các tác giả như Couch, Haefner, Langham và Carter (1956); Shaw (1981); (Rosenbaum, 1986) đã khẳng định có mối liên hệ giữa sự khác biệt cá nhân với xung đột và họ cho rằng các nhóm có tính chất hoạt động đa dạng đôi khi dễ xảy ra xung đột hơn so với các nhóm đồng nhất Sự giống nhau giữa các thành viên sẽ gia tăng sự thu hút giữa các cá nhân, sự không giống nhau giữa các thành viên có xu hướng tăng bất đồng và xung đột Nhóm

mà các thành viên có tính cách không giống nhau sẽ không hòa thuận như các nhóm bao gồm những người có tính cách giống nhau [123]

Tương đồng với quan điểm và kết quả nghiên cứu của các tác giả trên, Moreland, Levine và Wingert (1996) đã khẳng định, khi các thành viên nhóm nhỏ được dẫn dắt để tin rằng họ là tương đối giống những người khác (ít có sự khác

Trang 37

biệt) thì sự gắn kết sẽ tăng lên và xung đột giảm đi Nhóm mà các thành viên khác nhau về năng lực, kinh nghiệm, quan điểm, giá trị, chủng tộc, tính cách, dân tộc và như vậy, có thể tận dụng phạm vi rộng hơn về các nguồn lực và quan điểm của các thành viên của họ, nhưng các nhóm này thường chịu xung đột ở mức độ cao [123] Theo chúng tôi, nhận định này rất phù hợp với các nhóm gia đình - khi xem xét về sự khác biệt, sự giống nhau và vấn đề xung đột

Có thể hiểu, sự khác biệt giữa các cá nhân thể hiện ở sự không đồng nhất, không giống nhau về tính cách, năng lực, kinh nghiệm, quan điểm cá nhân và hành

vi… Đó là sự không đồng nhất về các đặc điểm tâm lý và sự không đồng nhất này sẽ được bộc lộ trong quá trình các cá nhân tham gia vào những nhóm xã hội khác nhau, trong đó có nhóm gia đình Khái niệm khác biệt trong luận án này được chúng tôi nhìn nhận rằng: Đó là sự bất đồng về mặt tâm lý nảy sinh trong quá trình các cá nhân tham gia vào các hoạt động chung Đối với các gia đình, sự khác biệt tâm lý giữa các thành viên trong gia đình sẽ được nhìn từ góc độ tích cực, nó là động lực để các gia đình được phát triển hoàn thiện Ngược lại, sự khác biệt giữa các thành viên trong gia đình nếu không được giải quyết hợp lý thì sẽ phát triển thành những mâu thuẫn, xung đột mang tính đối kháng, dẫn đến hủy hoại gia đình

Tóm lại, những khác biệt tâm lý giữa các cá nhân trong nhóm hay trong gia đình chính là một trong những nguyên nhân có thể tạo ra xung đột giữa họ với nhau Nếu những khác biệt này không được dung hòa và lại được đặt trong mối liên hệ với cảm xúc (thích hoặc không thích nhau) với lợi ích đối đầu thì nó có thể phát triển thành, mâu thuẫn, xung đột Như vậy, dấu hiệu đầu tiên của xung đột là sự khác biệt - khác biệt tâm lý có thể dẫn đến xung đột tâm lý

- Mâu thuẫn

Theo các tác giả như Vũ Dũng, Nguyễn Hồi Loan, Võ Khánh Vinh, khái niệm mâu thuẫn và xung đột một mặt không được coi là những khái niệm đồng nghĩa, mặt khác cũng không được coi là những khái niệm trái ngược nhau Các tác giả cũng khẳng định khác biệt tâm lý là nguồn gốc nảy sinh ra mâu thuẫn, nếu các

Trang 38

mâu thuẫn này không được giải quyết thì mới phát triển thành xung đột Xung đột là đỉnh cao của sự phát triển mâu thuẫn [12], [60], [115]

Mâu thuẫn là điều kiện cần nhưng chưa phải là điều kiện đủ của xung đột Mâu thuẫn sẽ chuyển hóa thành xung đột khi có sự va chạm gay gắt, không dung hòa về quan điểm, hành vi giữa các cá nhân Khi mâu thuẫn xảy ra, các cá nhân bằng những tác động khác nhau, gây ảnh hưởng đến các cá nhân khác để buộc họ phải thay đổi, điều chỉnh về nhận thức, cảm xúc và hành vi để họ không gây nên thiệt hại, làm cản trở đến lợi ích chung và các cá nhân khác trong nhóm Dấu hiệu của mâu thuẫn là bộc lộ ở bầu không khí tâm lý căng thẳng giữa cá nhân này với cá nhân khác trong giao tiếp và hoạt đông chung

Mâu thuẫn là mức độ phát triển cao hơn của sự khác biệt, hay nói cách khác, khi sự khác biệt tâm lý của cá nhân làm ảnh hưởng hoặc gây cản trở hoặc làm tổn hại đến lợi ích, mục đích chung thì lúc này sự khác biệt đã chuyển thành mâu thuẫn

Nói tóm lại, có thể hiểu: Mâu thuẫn là sự khác biệt tâm lý giữa các cá nhân thể hiện ở mức độ căng thẳng sâu sắc, ảnh hưởng đến mục đích, lợi ích của các cá nhân trong quá trình thực hiện một hoạt động chung

Xung đột là kết quả và sự biểu hiện khách quan của những mâu thuẫn tồn tại giữa các cá nhân Sự hình thành xung đột gắn liền một cách có giới hạn với sự xuất hiện và phát triển của các mâu thuẫn Sự phát triển và bùng nổ của xung đột phản ánhgiai đoạn đấu tranh cao nhất của mâu thuẫn Đằng sau bất kỳ một cuộc xung đột nào cũng như việc giải quyết xung đột đều là vì các giá trị Mức độ sâu sắc và căng thẳng của xung đột gắn liền chặt chẽ với mức độ sâu sắc và căng thẳng của mâu thuẫn vốn

đã phát sinh ra nó

Như vậy, khi mâu thuẫn không được giải quyết thì sẽ chuyển sang xung đột Lúc này, lợi ích và mục đích của các bên đều bị suy hại, các bên đều phải thực hiện những hành động cụ thể để giải quyết nhằm đảm bảo lợi ích của mình và điều này thường đi kèm với những trạng thái cảm xúc tiêu cực

Trang 39

Có thể thấy, sự biến chuyển của xung đột như sau: Những khác biệt tâm lý (nếu không dung hòa được) sẽ chuyển thành mâu thuẫn tâm lý, mâu thuẫn tâm lý ở mức độ gay gắt (nếu không dung hòa được) sẽ chuyển thành xung đột tâm lý

1.2.1.2 Cách thức giải quyết xung đột

Theo Sternberg & Dobson (1987); Morrill (1995), hầu hết các chiến thuật mà mọi người sử dụng để đối phó với cuộc xung đột có thể được xếp vào một trong bốn loại

cơ bản: né tránh, đầu hàng, đấu tranh và hợp tác [127]

Né tránh: Không hành động là một cách thức ưa thích của một số người

trong việc giải quyết xung đột Né tránh thể hiện ở thái độ chờ đợi và xem xét với hy vọng rằng cuối cùng xung đột sẽ ra đi (Wall & Nolan, 1987) hoặc thể hiện ở sự chịu đựng các cuộc xung đột, cho phép chúng âm ỉ mà không làm bất cứ điều gì để giảm thiểu chúng (Morrill, 1995) Thay vì công khai thảo luận về những bất đồng, xung đột, mọi người dựa vào việc né tránh thay đổi chủ đề, bỏ qua các cuộc họp, hoặc thậm chí rời khỏi nhóm hoàn toàn [123], [127]

Đầu hàng: Mọi người giải quyết các cuộc xung đột lớn nhỏ bằng cách

nhượng bộ nhu cầu của người khác Đôi khi họ đầu hàng bởi vì họ đã thay đổi ý kiến của mình về vấn đề này Thông qua thảo luận và đàm phán, họ nhận ra rằng quan điểm của họ là sai, và vì vậy họ đồng ý với quan điểm thông qua bởi những người khác Trong trường hợp khác, họ có thể rút lại yêu cầu của họ mà không thực sựđược thuyết phục rằng phía bên kia đúng; vì lợi ích của sự thống nhất nhóm hoặc vì lợi ích về thời gian, dù sao họ vẫn rút tất cả các khiếu nại Như vậy, sự đầu hàng có thể phản ánh hoặc làm thay đổi đến vị trí thực hiện bởi những người khác hoặc tuân thủ tạm thời do áp lực giữa các cá nhân

Đấu tranh: Một số người kiểm soát xung đột bằng cách cố gắng ép buộc

người khác phải chấp nhận quan điểm của họ Họ nhìn xung đột như một cuộc chiến mang tính đối kháng: thắng - thua và sử dụng chiến thuật cạnh tranh mạnh mẽ để hăm dọa người khác Khi sử dụng chiến thuật này, các cá nhân sẽ sử dụng tổng hợp một số hành vi như tranh luận mang tính thách thức, những lời lăng mạ, tố cáo,

Trang 40

phàn nàn, trả thù, và thậm chí cả bạo lực thể chất Nói tóm lại, cách giải quyết xung đột này là sự áp đặt của một người lên một người khác (Morrill, 1995) [127]

Hợp tác: Mọi người dựa trên sự hợp tác giải quyết xung đột, tìm kiếm các

giải pháp có thể chấp nhận cho cả hai bên trong cuộc xung đột Những người cộng táckhông cố gắng chiến đấu, thay vào đó họ cố gắng để xác định các vấn đề tiềm ẩn gây tranh chấp và sau đó hợp tác cùng nhau để xác định một giải pháp để thỏa mãn cho cảhai bên (Pruitt & Rubin, 1986) Định hướng này cũng được mô tả như sự hợp tác, giải quyết vấn đề, hay một định hướng "thắng - thắng", cầu xin hai bên trong cuộc tranh chấp xem xét kết quả đối thủ của họ cũng như của chính mình [123]

Như vậy, theo các tác giả, các phương pháp quản lý xung đột này là khác nhau và được nhóm thành hai nhóm chính Né tránh và đấu tranh là các phương pháp tiêu cực, không tính đến kết quả của những người khác (Pruitt, 1983) Các phương pháp này làm tăng mức độ xung đột (Sternberg & Dobson, 1987) và tăng cảm giác khó chịu ở các bên (Jarboe & Witteman 1996; Van de Vliert & Euwema, 1994) [133]

Các phương pháp tích cực (đầu hàng và hợp tác) ghi nhận và cố gắng đáp ứng nhu cầu của người khác, giảm thiểu xung đột và được xem là dễ chịu hơn Hoặc với bốn phương pháp trên, các tác giả lại tiếp cận nó dưới góc độ chủ động hay thụ động Một số phương pháp được coi là chủ động, trong khi những phương pháp được coi là thụ động hơn Đấu tranh và hợp tác là hai phương pháp tiếp cận chủ động để đối phó với xung đột, trong khi đầu hàng và né tránh là những phương pháp thụ động (Sternberg & Dodson, 1987; Sheppard, 1983; Thomas, 1992; Van de Vliert & Euwema, 1994) [123]

Khi xung đột nổ ra, các thành viên có thể sử dụng bất kỳ hoặc tất cả các phương thức cơ bản giải quyết xung đột Né tránh, đấu tranh, đầu hàng thường chỉ là cágiải pháp tạm thời vì nó dập tắt các cuộc xung đột bên ngoài mà không xem xét đến căn nguyên Ngược lại, sự hợp tác là một phương pháp chủ động, tích cực mang lại lợi ích trước mắt và lâu dài cho các nhóm (Deutsch, 1973; Thomas, 1992) [122]

Ngày đăng: 05/07/2016, 21:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
100. Lã Thu Thủy (2011), "Khả năng thích nghi với môi trường sống mới của thanh niên công nhân có xuất thân từ nông thôn ra thành phố làm việc", Tạp chí Tâm lý học (2), tr. 57-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng thích nghi với môi trường sống mới củathanh niên công nhân có xuất thân từ nông thôn ra thành phố làm việc
Tác giả: Lã Thu Thủy
Năm: 2011
101. Lã Thu Thủy (2011), "Mức độ hài lòng với công việc của thanh niên côngnhân xuất thân từ nông thôn đang làm việc tại các khu công nghiệp đóng trên địa bàn thành phố", Tạp chí Tâm lý học (3), tr. 52-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mức độ hài lòng với công việc của thanh niên công nhân xuất thân từ nông thôn đang làm việc tại các khu công nghiệp đóng trên địa bàn thành phố
Tác giả: Lã Thu Thủy
Năm: 2011
102. Tôn Nữ Quỳnh Trân (1999), Văn hóa làng xã trước thách thức của đô thị hóatại thành phố Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa làng xã trước thách thức của đô thị hóa "tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Tôn Nữ Quỳnh Trân
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1999
103. Tôn Nữ Quỳnh Trân (2002), Vấn đề phát triển đô thị bền vững, NXB Khoahọc xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển đô thị bền vững
Tác giả: Tôn Nữ Quỳnh Trân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002
104. Nguyễn Đức Truyến (1999), "Người nông dân đồng bằng sông Hồng và quanhệ cộng đồng trong thời kỳ đổi mới", Tạp chí Xã hội học (1), tr. 28- 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người nông dân đồng bằng sông Hồng và quan hệ cộng đồng trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Đức Truyến
Năm: 1999
105. Nguyễn Đức Truyến (2002), Kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ởnông thôn đồng bằng sông Hồng, NXB Khoa học Xã hội, Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở "nông thôn đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Đức Truyến
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Đặc điểm của mẫu khách thể nghiên cứu là người dân ven đô - Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.1. Đặc điểm của mẫu khách thể nghiên cứu là người dân ven đô (Trang 72)
Bảng 3.1. Nhóm các quan điểm của người dân ven đô về giới tính và số lượng con - Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.1. Nhóm các quan điểm của người dân ven đô về giới tính và số lượng con (Trang 93)
Bảng 3.2. Mức độ xung đột nhận thức thể hiện ở khía cạnh sinh sản (%) - Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.2. Mức độ xung đột nhận thức thể hiện ở khía cạnh sinh sản (%) (Trang 95)
Bảng 3.3. Mức độ xung đột nhận thức thể hiện ở khía cạnh kinh tế (%) - Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.3. Mức độ xung đột nhận thức thể hiện ở khía cạnh kinh tế (%) (Trang 99)
Bảng 3.4. So sánh sự khác biệt giữa vợ và chồng trong các quan điểm giáo dục - Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.4. So sánh sự khác biệt giữa vợ và chồng trong các quan điểm giáo dục (Trang 100)
Bảng 3.5. Mức độ xung đột nhận thức thể hiện ở khía cạnh giáo dục (%) - Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.5. Mức độ xung đột nhận thức thể hiện ở khía cạnh giáo dục (%) (Trang 101)
Bảng 3.7. Xung đột nhận thức ở từng chức năng gia đình - Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.7. Xung đột nhận thức ở từng chức năng gia đình (Trang 103)
Bảng 3.8. So sánh xung đột nhận thức về các chức năng gia đình - Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.8. So sánh xung đột nhận thức về các chức năng gia đình (Trang 104)
Bảng 3.9. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng - Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.9. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng (Trang 109)
Bảng 3.10. Tổng hợp cảm xúc của các cặp vợ chồng thể hiện - Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.10. Tổng hợp cảm xúc của các cặp vợ chồng thể hiện (Trang 110)
Bảng 3.11. So sánh mức độ xung đột cảm xúc ở các chức năng gia đình - Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.11. So sánh mức độ xung đột cảm xúc ở các chức năng gia đình (Trang 112)
Bảng 3.12. Xung đột hành vi khi thực hiện chức năng sinh sản - Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.12. Xung đột hành vi khi thực hiện chức năng sinh sản (Trang 115)
Bảng 3.13. Xung đột hành vi khi thực hiện chức năng kinh tế - Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.13. Xung đột hành vi khi thực hiện chức năng kinh tế (Trang 115)
Bảng 3.14. Xung đột hành vi khi thực hiện chức năng giáo dục - Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.14. Xung đột hành vi khi thực hiện chức năng giáo dục (Trang 116)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w