Sàn giao dịch việc làm cung cấp thông tin về nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp và nhu cầu tìm việc làm của người lao động.. Dựa trên số liệu khảo sát từ các phiên giao dịch Tại Sàn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ NGỌC TÚ
NHẬN DIỆN VÀ THÁO GỠ NHỮNG RÀO CẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC SÀN GIAO DỊCH
VIỆC LÀM THUỘC SỞ LAO ĐỘNG
THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HÀ NỘI.
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên Ngành: Khoa học Quản lý
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VIỆC LÀM THUỘC SỞ LAO ĐỘNG
THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HÀ NỘI.
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Khoa học Quản lý
Mã số : Thí Điểm
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Ngọc Liêu
Hà Nội, 2015
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CẢM ƠN 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 2 3 4 5 6 7 8 Lý do chọn đề tài 5
Tổng quan tình hình nghiên cứu 6 Mục tiêu nghiên cứu 10 Phạm vi nghiên cứu 10 Mẫu khảo sát 10 Câu hỏi nghiên cứu 10 Giả thuyết nghiên cứu 10 Phương pháp nghiên cứu 11
PHẦN NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM, THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VÀ SÀN GIAO DỊCH VIỆC LÀM 12
1.1 Khái luận về lao động, việc làm, thị trường lao động 12
1.1.1 Lao động, nguồn lao động, lực lượng lao động 12
1.1.2 Việc làm, thất nghiệp 16
1.1.3 Thị trường lao động, thông tin thị trường lao động 20
1.2 Khái luận về Sàn giao dịch việc làm 30
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò và phân loại Sàn giao dịch việc làm 30
1.2.2 Hoạt động của Sàn giao dịch việc làm 33
Kết luận chương 1 39
CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG CỦA SÀN GIAO DỊCH VIỆC LÀM THUỘC SỞ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HÀ NỘI, THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG RÀO CẢN 40
2.1 Thực trạng thị trường lao động ở Hà Nội và những hoạt động của Sàn giao dịch việc làm 40
2.1.1 Thực trạng thị trường lao động ở Hà Nội 40
2.1.2 Hoạt động của Sàn giao dịch việc làm thuộc Sở LĐ- TB & XH Hà Nội46 2.2 Nhận diện những rào cản trong hoạt động của Sàn Giao dịch việc làm 55
Trang 41
Trang 52.2.2 Ảnh hưởng trực tiếp của nguồn lực văn hóa đến các lĩnh vực lao động, việc làm và
thu nhập ở Thủ đô Hà Nội 58
2.2.3 Bất cập trong việc thực hiện các chính sách lao động, việc làm 60
2.2.4 Thiếu đa dạng phong phú của hình thức và công tác truyền thông 63
2.2.5 Thông tin thị trường lao động còn xa thực tế 65
2.2.6 Sự yếu kém về chất lượng nguồn lao động và những hạn chế về mặt nhận thức của nguời lao động 67
Kết luận Chương 2: 72
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP THÁO GỠ NHỮNG RÀO CẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA SÀN GIAO DỊCH 73
VIỆC LÀM HÀ NỘI 73
3.1 Mục tiêu hoạt động của sàn giao dịch việc làm 73
3.1.1 Mục tiêu chung của cả nuớc 73
3.1.2 Mục tiêu của thành phố Hà Nội 74
3.1.3 Mục tiêu cụ thể của Sở lao động thương binh và xã hội Hà Nội 76
3.2 Một số giải pháp tháo gỡ những rào cản trong Hoạt động của Sàn giao dịch việc làm Hà Nội 78
3.2.1 Phát triển và ổn định nền kinh tế Hà Nội 78
3.2.2 Phát huy vai trò của nguồn lực văn hóa đối với lĩnh vực lao động, việc làm và thu nhập 82
3.2.3 Hoàn thiện hệ thống chính sách lao động, việc làm 83
3.2.4 Đẩy mạnh truyền thông đến các địa phương về Sàn giao dịch việc làm, hoàn thiện hệ thống Sàn giao dịch việc làm online 87 3.2.5 Xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động sát với thực tế 90 3.2.6 Nâng cao trách nhiệm của Sàn giao dịch việc làm và chất lượng đào tạo 92
KẾT LUẬN 101
KHUYẾN NGHỊ 103
Với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội 103 Với Thành phố Hà Nội 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài "Nhận diện và tháo gỡ những rào cản trong
hoạt động của các Sàn giao dịch việc làm thuộc sở Lao động Thương binh và Xã hội
Hà Nội", Tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo, cán
bộ nhân viên của Cục việc làm và hai Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội, Khoa Khoa học quản lý, Khoa Sau đại học, cán bộ các phòng, ban chức năng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ
đó
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Ngọc Liêu - thầy giáo trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả : Nguyễn Thị Ngọc Tú
Trang 7Ủy ban nhân dân Hội đồng nhân dân Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trước sự phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường lao động nói riêng, trong bối cảnh đất nước đang hội nhập kinh tế thế giới, chúng ta đã chuyển từ mô hình tổ chức Hội chợ việc làm sang mô hình các Phiên giao dịch và Sàn giao dịch việc làm Sau nhiều năm thực hiện, đến nay một số mô hình Sàn giao dịch việc làm đã có thương hiệu như ở Bắc Ninh, Ðồng Nai, Hà Nội Ðặc biệt, nhằm mục tiêu đa dạng các hoạt động tạo việc làm đáp ứng nhu cầu của xã hội, thúc đẩy thị trường lao động phát triển đúng hướng, từ cuối năm 2000, Bộ LÐTB&XH đã chỉ đạo và hỗ trợ kinh phí cho các địa phương tổ chức Hội chợ việc làm
Qua các Hội chợ và sàn giao dịch việc làm, người lao động và người sử dụng lao động có cơ hội gặp nhau Người lao động tìm được việc làm ổn định, các doanh nghiệp tìm được người phù hợp về trình độ, khả năng vào làm việc Ðồng thời, các cơ quan quản lý nhà nước về lao động, cơ sở đào tạo nghề có thể nắm bắt sát hơn nhu cầu tìm việc trên thị trường để có các giải pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động
Trên cơ sở rút ra những bài học từ công tác tổ chức hội chợ việc làm và tham khảo kinh nghiệm của một số nước, từ giữa năm 2006, Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội đã có chủ trương chuyển từ mô hình tổ chức Hội chợ việc làm sang mô hình Sàn giao dịch việc làm Sàn GDVL ra đời nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường lao động tập trung một cách có tổ chức và khoa học, tăng thêm cơ hội trao đổi trực tiếp, tạo điều kiện thuận lợi nhất trong việc phục vụ NLĐ và người sử dụng lao động So với các hội chợ việc làm trước đây, SGDVL có những ưu điểm là khai thác các ưu thế về công nghệ thông tin để cung cấp thông tin về lao động - việc làm một cách
hệ thống Nếu như các hội chợ trước đây mỗi năm tổ chức một lần thì tần suất hoạt động của Sàn Giao Dịch cao hơn nhiều (thường là hàng tháng, hàng tuần và tiến tới hàng ngày) Ngoài ra, giao dịch thông qua mạng Internet giúp cho NLĐ dễ dàng tiếp cận vớingười sử dụng lao động và các cơ sở đào tạo mà không bị hạn chế về không gian Bên cạnh đó, kinh phí tổ chức SGDVL thấp hơn mà vẫn đạt hiệu quả
Thông qua sàn giao dịch việc làm, nhận thức của lãnh đạo các cấp, các ngành tới người lao động, và sử dụng lao động, cũng như các tầng lớp nhân dân được nâng
5
Trang 9cao Từ đó người lao động, doanh nghiệp
và cơ sở sản xuất, kinh doanh tham gia
SGDVL ngày càng nhiều
Ðóng góp của sàn giao dịch việc làm là rất lớn và hiệu quả, nhất là trong tư vấn, giới thiệu việc làm và cung ứng lao động Hoạt động của SGDVL được mở rộng khắp thông qua các điểm giao dịch vệ tinh tới các quận, huyện, khu công nghiệp, khu chế xuất Các TTGTVL đã tổ chức ngày càng nhiều sàn giao dịch, tạo điều kiện thuận tiện cho người lao động, người sử dụng lao động có nhiều cơ hội gặp và trao đổi thông tin, tuyển dụng và tìm kiếm việc làm Trong bối cảnh đó, SGDVL Hà Nội đang được xem là cầu nối hiệu quả giữa người lao động và các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển
dụng nhân sự Tuy nhiên, Sàn giao dịch việc làm Hà Nội hiện nay vẫn còn gặp nhiều rào
cản Muốn đi sâu tìm hiểu những hoạt động của Sàn và những rào cản mà Sàn đang gặpphải, đề xuất những giải pháp góp phần nào tháo gỡ những rào cản đó vì vậy tôi đã
chọn đề tài "Nhận diện và tháo gỡ
những rào cản trong hoạt động của các Sàn Giao dịch việc làm thuộc Sở Lao
động Thương binh và Xã hội Hà Nội " làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ chuyên
ngành Khoa học quản lý
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Sàn giao dịch việc làm là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm, bởi lẽ ai cũng muốn mình có một việc làm hợp lý và ổn định Sàn giao dịch việc làm cung cấp thông tin về nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp và nhu cầu tìm việc làm của người lao động Một SGDVL hoàn thiện năng động và phát triển cần có yếu tố liên quan đến thị trường lao động như: Chính sách lao động việc làm, thông tin thị trường lao động, các hoạt động tư vấn, cung ứng, giới thiệu việc làm, dạy nghề, cung cấp lao động phải được vận hành thông suốt trong toàn thành phố
Các nghiên cứu về tạo việc làm cho người lao động chủ yếu tập trung vào việc nêu lên thực trạng việc làm và đề xuất một số biện pháp và chính sách mang tính tổng quan tạo việc làm cho người lao động Có thể kể đến công trình nghiên cứu về
vấn đề việc làm : Nolwen Heraff - Jean Yves Martin trong cuốn Lao động, việc làm và
nguồn nhân lực ở Việt Nam sau 15 năm đổi mới [36] đã nghiên cứu khái quát về tình
hình lao động, việc làm và nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 1986-2000 Theo đó cho thấy, bắt đầu sự nghiệp đổi mới, Việt Nam có một ưu thế
Trang 10lớn là có nguồn nhân lực dồi dào, khả năng
mở rộng việc làm trong quá trình
đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường rất lớn, song do chất lượng nguồn nhân lực thấp, đa số là lao động chưa qua đào tạo nghề nên khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển rất hạn chế
Điểm đáng chú ý nhất ở tác phẩm này là đã chỉ ra những hạn chế của
nguồn nhân lực và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta giai đoạn 1986-2000 Những kết quả nghiên cứu của công trình này, đã cung cấp cho người đọc có một cái nhìn tương đối khách quan, khoa học về lao động, việc làm và nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ mô hình kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là những tư liệu giúp cho chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về lao động, việc làm và nguồn nhân lực Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển của đất nước
Đề tài KX.04 Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách giải quyết việc
làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần do Nguyễn Hữu
Dũng làm chủ nhiệm đã nghiên cứu các nội dung sau: Xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách giải quyết việc làm của Việt Nam trong điều kiện chuyển đổicấu trúc nền kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; Khuyến nghị một số chính sách quan trọng nhất trong lĩnh vực việc làm; Đề xuất mô hình tổng quát và hệ thống biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện chính sách quốc gia xúc tiến việc làm Kết quả nghiên cứu của
đề tài này đã đóng góp một số luận cứ, cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước ta trong việc hình thành các chủ trương, chính sách về giải quyết vấn đề việc làm thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Cuốn Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam" của Nguyễn Hữu
Dũng và Trần Hữu Trung [37] nghiên cứu về chính sách việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nội dung công
trình có thể khái quát trên một số vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, nghiên cứu về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận chính sách việc làm Các tác giả cho rằng: "vấn đề cốt lõi, bao trùm nhất là phải tạo ra điều kiện
và cơ hội để người lao động có việc làm, thu nhập đảm bảo cuộc sống của bản
Trang 11thân và gia đình, đồng thời góp phần cho xã hội Đó là nội dung cơ bản của chính
sách việc làm"
Thứ hai, tiếp cận phương pháp nghiên cứu chính sách việc làm Các tác giả cho rằng, chính sách việc làm phải được đặt trong hoàn cảnh của quá trình chuyển đổi nền kinh tế cũng như chủ trương đa phương hoá các quan hệ quốc tế Đồng thời, chính sách việc làm cũng phải dựa trên sự sáng tạo của quần chúng nhân dân, nhằm phát huy tối đa sức sáng tạo của nhân dân, phục vụ hiệu quả công cuộc đổi mới phát triển đất nước
Thứ ba, công trình đã hệ thống khái niệm về lao động, việc làm Các tác giả
đã nghiên cứu và đề cấp đến các nội dung chủ yếu như: quan niệm cơ bản về lao động
và việc làm; hệ thống khái niệm cơ bản về lao động và việc làm được vận dụng ở nước ta Ởnhững nội dung này, trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu có trước, các phạm trù: việc làm, lực lượng lao động, người có việc làm, người thất nghiệp, những người không thuộc lực lượng lao động được tác giả giới thiệu một cách khái quát, nhằm phục
vụ cho mục tiêu làm rõ những vấn đề có liên quan đến chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam
Thứ tư, công trình phân tích làm rõ nguyên nhân và những mâu thuẫn chủ yếu của vấn đề thị trường lao động và việc làm ở Việt Nam trong những năm đầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thứ năm, công trình đề xuất hệ thống quan điểm, phương hướng giải quyết việc làm phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam Và cho rằng: một trong những vấn đề cơ bản nhất của sự thay đổi trong nhận thức về việc làm là coi trọng yếu tố tự tạo việc làm của người lao động trong các thành phần kinh tế Điều đó sẽ tạo thuận lợi cho việc giải phóng tiềm năng lao động của đất nước một cách hiệu quả nhất Đây là một trong những thay đổi có tính căn bản của nhận thức về vấn đề tìm kiếm việc làm của người lao động, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Với những nội dung chính vừa nêu, công trình này đã đề cập đến rất nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến vấn đề việc làm-cho người lao động Song do được nghiên cứu ở những năm trước 1997, nên các lập luận, kiến giải có những hạn chế nhất định Tuy nhiên, công trình đã mang đến người đọc những kiến thức bổ ích,
8
Trang 12nhất là phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu về chính sách giải quyết việc làm cho
lao động nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Trong những nghiên cứu về thị trường lao động, phân tích tác động của cung cầu lao động từ đó đề xuất những định hướng phát triển thị trường lao động trong thời
kì đổi mới, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu ví dụ như : Nguyễn Quang Hiển
(1995), Thị trường lao động, thực trạng và giải pháp , NXB thống kê; Nguyễn Thị Quy (1999), Thị trường lao động trong kinh tế thị trường, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác như Một số vấn đề lao động, việc làm
và đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay [9] hay Thị trường lao động Việt Nam định hướng và phát triển [12] cũng cung cấp rất nhiều bàn luận có giá trị cho đề tài
nghiên cứu
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động lao động - việc làm, các sàn giao dịch việc làm dần được hình thành và phát triển với chức năng và nhiệm vụ khác nhau ở mỗi tỉnh, thành phố Chính vì vậy đã có nhiều công trình, tác phẩm nghiên cứu
về sàn giao dịch việc làm ở các tổ chức khác nhau Có thể kể tên một số
công trình, tác phẩm nghiên cứu của các tác giả khác về Sàn giao dịch việc làm:
Đại học Kinh tế quốc dân, Đánh giá và nâng cao năng lực của Trung tâm
giới thiệu việc làm Tỉnh Hà Tây Tác phẩm này đã nêu lên được những thực trạng hoạt
động của trung tâm giới thiệu việc làm Hà Tây, và đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao năng lự của trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh Hà Tây
Lê Phan Hồng Châu, Phạm Thị Thùy Ngân, Nâng cao cơ hội việc làm qua
Sàn giao dịch việc làm Đà Nẵng Dựa trên số liệu khảo sát từ các phiên giao dịch Tại Sàn
giao dịch việc làm Đà Nẵng, các phân tích thống kê làm rõ đặc điểm cung cầu trên địa bàn Đà Nẵng và mô hình xác suất Probit phân tích nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm việc làm của người lao động như: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, tiền lương từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao cơ hội tìm kiếmviệc làm cho người lao động
Tổng hợp những kết quả nghiên cứu về vấn đề việc làm cho người lao động nói chung và việc làm cho người lao động qua sàn giao dịch việc làm nói riêng , từ đó chưa nghiên cứu nào cho thấy những rào cản trong hoạt động của Sàn giao dịch việc làm và những giải pháp tháo gỡ những rào cản đó Biến sàn giao dịch việc làm
Trang 13không chỉ đơn thuần là một kênh thông tin tìm kiếm việc làm cho người lao động,
mà đây hứa hẹn sẽ là nơi gặp gỡ giữa cung cầu lao động, tư vấn hướng nghiệp và liên kết đào tạo cung cấp lao động đầu ra cho doanh nghiệp
Với kết quả nghiên cứu của đề tài "Nhận diện và tháo gỡ những rào cản
trong hoạt động của các Sàn Giao dịch việc làm thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội " sẽ góp phần trực triếp giải quyết một số vấn đề còn vuớng mắc trong quá
trình thực hiện hoạt động của các Sàn giao dịch việc làm thuộc sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội Về mặt thực tiễn, định hướng và những giải pháp trong đề tài đưa ra chủ yếu có cơ sở khoa học và phù hợp với thực tiễn tháo gỡ những rào cản trong hoạt động của Sàn giao dịch việc làm
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của các Sàn giao dịch việc làm, nhận diện những rào cản của Sàn GDVL từ đó đề xuất những giải pháp để Sàn giaodịch việc làm thuộc sở LĐ - TB& XH Hà Nội đạt được những kết quả cao
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hoạt động của Sàn giao dịch việc làm
Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu Sàn Giao dịch việc làm thuộc Sở Lao động Thương Binh và Xã hội Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến nay
5 Mẫu khảo sát
Khảo sát kết quả hoạt động của 2 Sàn giao dịch việc làm thuộc Sở Lao động
- Thương Binh và Xã hội Hà Nội tại:
215 Trung Kính- Cầu Giấy -Hà Nội 144
Trần Phú- Hà Đông - Hà Nội
6 Câu hỏi nghiên cứu
Một là, Sàn giao dịch việc làm Hà Nội đứng trước những rào cản nào?
Hai là, Những giải pháp nào khắc phục những rào cản đó?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Sàn giao dịch việc làm Hà Nội đứng trước những rào cản về nhận thức,
những bất cập trong chính sách xã hội, sự chênh lệch cung - cầu trong thông tin thị trường lao động, kém phát triển của công tác truyền thông
Trang 14Một số giải pháp tháo gỡ rào cản : nâng cao trách nhiệm và nhận thức của các doanh nghiệp, người lao động và cán bộ trung tâm giới thiệu việc làm; hoàn thiện
hệ thống chính sách đối với lao động, việc làm; phát triển công tác thông tin thị trường laođộng; xây dựng và hoàn thiện hệ thống sàn giao dịch việc làm online
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Nghiên cứu tài liệu thông qua các sách tham khảo, các tài liệu liên quan đến
đề tài luận văn
8.2 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp được lấy từ các tài liệu chuyên ngành, từ sách tham khảo, các nghị quyết, chương trình của trung ương, chính phủ, thành ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội; các đề án, kế hoạch, báo cáo, tổng kết của thành phố Hà Nội
Thu thập số liệu theo kết quả tổng điều tra lao động, việc làm của thành phố
Hà Nội; thu thập số liệu từ báo cáo kết quả hoạt động và phuơng huớng nhiệm vụ của Sàn giao dịch việc làm Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
8.3 Phuơng pháp phân tích tổng hợp số liệu
Với số liệu thứ cấp được sử dụng phân nhóm theo nội dung của đề tài
nhằm chứng minh làm rõ những nội dung mà đề tài yêu cầu Các số liệu thứ cấp này đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn gồm 3 chuơng:
Trang 15PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM, THỊ TRƯỜNG LAO
ĐỘNG VÀ SÀN GIAO DỊCH VIỆC LÀM
1.1 Khái luận về lao động, việc làm, thị trường lao động
1.1.1 Lao động, nguồn lao động, lực lượng lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất
tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình Trong quá trình sản xuất,con người sử công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào Như vậy động lực của quá trình triến kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người Con người với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trước hết giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người Vai trò của người lao động đối với phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng
Phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất gồm: lao động trực tiếp sản
xuất và lao động gián tiếp sản xuất Lao động trực tiếp sản xuất: là những người trực tiếp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiệncác công việc nhiệm vụ nhất định: Trong lao động trực tiếp được phân
Trang 16loại như sau: Theo nội dung công việc mà người lao động thực hiện thì lao động
trực tiếp được chia thành: lao động sản xuất kinh doanh chính, lao động sản xuất kinh doanh phụ trợ, lao động phụ trợ khác Theo năng lực và trình độ chuyên môn lao động trực tiếp được chia thành các loại sau: Lao động có tay nghề cao: bao gồm những người
đã qua đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế có khả năng đảm nhận các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ cao Lao động có tay nghề trung bình: bao gồm những người đã qua đào tạo qua lớp chuyên môn nhưng có thời gian làm việc thực tế tương đối dài được trưởng thành do học hỏi từ kinh nghiệm thực tế Lao động phổ thông: lao động không phải qua đào tạo vẫn được Lao động gián tiếp sảnxuất: là bộ phận lao động tham gia một cách gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Lao động gián tiếp gồm những người chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinhdoanh trong doanh nghiệp Lao động gián tiếp được phân loại như sau: Theo nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn loại lao động này được phân chia thành nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính
Điều 6, Bộ Luật Lao động của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (đã được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5, thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994), quy
định: "Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết
hợp đồng lao động" Như vậy, người lao động là những người phải đủ 15 tuổi trở lên,
là những người có sức khoẻ, có khả năng dùng sức lao động của mình để tham gia các hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần cho xã hội Với mức xác định biên độ tuổi nhưtrên cho thấy, dân số trong độ tuổi lao động kể cả những người nghỉ hưu nhưng còn khả năng lao động cũng được xác định là người lao động Điều này cho phép chúng ta
có thể tận dụng và phát huy tối đa nguồn nhân lực phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Theo năng lực và trình độ chuyên môn lao động gián tiếp được chia thành như sau Chuyên viên chính: là những người có trình độ từ đại học trở lên có trình độ chuyên môn cao, có khả năng giải quyết các công việc mang tính tổng hợp, phức tạp Chuyên viên: là những người lao động đã tốt nghiệp đại học, trên đại học, có thời gian công tác dài, có trình độ chuyên môn cao Cán sự: là những người lao động mới tốt nghiệp đại học, có thời gian công tác nhiều Nhân viên: là những
Trang 17người lao động gián tiếp với trình độ chuyênmôn thấp có thể đã qua đào tạo các
trường chuyên môn, nghiệp vụ hoặc chưa đào tạo
Phân loại lao động trong doanh nghiệp có ý nghĩa to lớn trong việc nắm bắt thông tin về số lượng và thành phẩm lao động, về trình độ nghề nghiệp của người lao động trong doanh nghiệp, về sự bố trí lao động trong doanh nghiệp từ đó thực hiện quy hoạch lao động lập kế hoạch lao động Mặt khác, thông qua phân loại lao động trong toàn doanh nghiệp và từng bộ phận giúp cho việc lập dự toán chí phí nhân công trong chi phí sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch quỹ lương và thuận lợi cho công tác kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch và dự toán này
Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng
lao động ( theo quy định của nhà nước: nam có tuổi từ 16-60; nữ tuổi từ 16-55
Vậy "nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của
pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân"
Sơ đồ phân loại dân số và Nguồn lao động
Tổng dân số
động
động kinh tế
Trang 18Hình 1.1 Phân loại dân số và nguồn lao động
Nguồn lao động luôn được xem xét trên 2 mặt biểu hiện là số lượng và chất lượng
Xét về mặt số lượng, nguồn lao động bao gồm: Bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm Và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổiquy định)
Chất lượng của nguồn lao động về cơ bản được đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khoẻ (thể lực) của người lao động
Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau giữa các quốc gia,
thậm chí khác nhau qua các thời kỳ trong cùng một quốc gia, tùy thuộc trình độ phát triển của nền kinh tế Đa số các nước quy định cận dưới (tuổi tối thiểu) của độ tuổi lao động là
15 tuổi, còn cận trên (tuổi tối đa) có sự khác nhau (60 tuổi, hoặc 65 tuổi) Ở nước ta, theo quy định của Luật Lao động (1994), độ tuổi lao động đối với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi và
nữ là từ 15 tuổi đến 55 tuổi
Lực lượng lao động là bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người
trong độ tuổi lao động, đang có việc làm trong nền kinh tế quốc dân và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm
Lực lượng lao động theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là
bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm
Ở nước ta hiện nay, lực lượng lao động được xác định là bộ phận dân số đủ
15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp Lực lượng lao động theo quan niệm như trên là đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế và nó phản ánh khả năng thực
tế về cung ứng lao động của xã hội
Muốn có thông tin chính xác về số lượng và cơ cấu lao động cần phải phân loại lao động Trong các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau thì việc phân loại lao động không giống nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý lao động trong điều kiện củ thể của toàn doanh nghiệp
Trang 191 1.2 Việc làm, thất nghiệp
Theo quan niệm trong Đại từ điển kinh tế thị trường, "Việc làm là hành vi
của nhân viên, có năng lực lao động, thông qua hình thức nhất định kết hợp với tư liệu sản xuất, để được thù lao hoặc thu nhập kinh doanh" [21, tr 1073] Với quan niệm
này, việc làm được coi là quá trình hoạt động sản xuất của cải vật chất, tinh thần cho xãhội Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay, để phát huy tốt các nguồn lực xã hội, nhất là nguồn nhân lực, phục vụ
sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, với quan niệm trên, có rất nhiều hoạt động lao động của người lao động sẽ không được xem là việc làm Ví dụ nhưnhững hoạt động: bảo đảm sự ổn định phát triển của xã hội, hỗ trợ cho những người thân tham gia trực tiếp sản xuất, kinh doanh để có thu nhập ổn định không được tính đến Chính những hoạt động đó đã tạo nên sự ổn định về các điều kiện cần thiết cho các hoạt động sản xuất trực tiếp diễn ra suôn sẻ
Theo các tác giả Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung, "việc làm là hoạt
động lao động được thể hiện ở một trong 3 dạng sau: Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền hoặc bằng hiện vật cho công việc đó; Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân; Làm các công việc cho gia đình" [8, tr 52] Với quan điểm
này, vấn đề việc làm được quan niệm một cách rộng rãi hơn Ở đây ngoài những hoạt động mang lại thu nhập (như tiền công, tiền lương, lợi nhuận), các công việc gia đình tuy không trực tiếp mang lại thu nhập cũng được xem là việc làm Song, quan điểm nàyvẫn còn chưa đề cập đến một sổ hoạt động khác như hoạt động của các lực lượng vũ trang, của những thanh niên tham gia nghĩa vụ quân sự Theo chúng tôi, những công việc đó cũng phải được xem là việc làm, vì, mặc dù không mang lại thu nhập nhưng đảm bảo an ninh xã hội và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng môi trường hoà bình, ổn định cho đất nước, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Những hoạt độngmang lại lợi ích to lớn cho xã hội như vậy cần phải được xem là việc làm Hơn nữa, quan điểm này cũng không đề cập đến tính pháp lý của việc làm, tức hoạt động mang lại thu nhập nhưng phải được luật pháp cho phép
Đối với nước ta, quan niệm về việc làm đã được điều 13, Chương 2, Phần Việc làm của Bộ Luật Lao động đã được Quốc hội Khoá IX Nước Cộng hoà xã hội
16
Trang 20chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 1994 nêu
rõ như sau: "Mọi hoạt động lao động
tạo ra thu nhập, không bị luật pháp cấm đoán đều được thừa nhận là việc làm" Hoạt
động lao động được xác định là việc làm bao gồm: làm những công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật, những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình mình nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công việc đó
Khái niệm việc làm theo Bộ Luật Lao động bao gồm một phạm vi rất rộng:
từ những công việc được thực hiện trong các nhà máy, công sở, đến các hoạt động hợp pháp tại khu vực phi chính quy (vốn trước đây không được coi là việc làm), các công việc nội trợ, chăm sóc con cái trong gia đình, đều được coi là việc làm
Lao động có Lao động thất việc làm nghiệp
Đủ việc làm Thiếu việc Thất nghiệp Thất nghiệp
làm dài hạn ngắn hạn
Hình 1.2 Cơ cấu lao động theo tình trạng việc làm
Việc làm tồn tại dưới ba hình thức chính: Một là, làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật hoặc để đổi công Hai là, các công việc tự
Trang 21làm để thu lợi nhuận cho bản thân Ba là,
làm các công việc nhằm tạo thu nhập
(bằng tiền hoặc bằng hiện vật) cho gia đình mình nhưng không hưởng tiền lương (tiền công) Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phát triển nông nghiệp do chủ
hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý
Người có việc làm là người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành
kinh tế quốc dân mà trong tuần lễ liền kề trước điểm điều tra (gọi là tuần lễ tham khảo)
có thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người được coi là có việc làm
Ở nhiều nước, mức chuẩn này là 11 giờ, ở Việt Nam mức chuẩn được sử dụng nhiều trong lao động, việc làm từ năm 1996 đến nay là 8 giờ
Riêng với những người trong tuần lễ tham khảo không làm viêc vì lý do bất khả kháng hoặc do thai sản, nghỉ ốm, nghỉ phép, nghỉ hè, hoặc là đi học có hưởng lương,nhưng trước đó họ đã có một công việc nào đó với thời gian thực tế làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người được coi là có việc làm và họ sẽ tiếp tục trở lại làm việc bình thường sau thời gian tạm nghỉ việc, vẫn được tính là người có việc làm
Căn cứ vào thời gian thực tế làm việc, chế độ làm việc và nhu cầu làm thêm
của người được xác định là có việc làm trong tuần lễ trước điều tra, người có việc làm lại được chia thành hai nhóm là người đủ việc làm và người thiếu việc làm
Người đủ việc làm: Là người có số giờ làm việc trong tuần lễ tham khảo lớn
hơn hoặc bằng 36 giờ; hoặc những người có số giờ làm việc bé hơn 36 giờ nhưng có nhu cầu làm thêm; hoặc những người có số giờ làm việc bé hơn 36 giờ nhưng bằng
hoặc hơn giờ chế độ quy định đối với người làm các công việc nặng nhọc, độc hại
Người thiếu việc làm: Là người có số giờ làm việc trong tuần lễ tham khảo
bé hơn 36 giờ hoặc ít hơn chế độ quy định đối với người làm những công việc nặng nhọc, độc hai, có nhu cầu làm thêm giờ hoặc sẵn sàng làm khi có việc
Người thất nghiệp là người có đủ 15 tuổi trở lên có khả năng làm việc, đang
không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc và sẵn sàng làm việc
Căn cứ vào thời gian thất nghiệp, người thất nghiệp gồm: Thất nghiệp dài
hạn: là người thất nghiệp liên tục từ 12 tháng trở lên tính từ ngày đăng ký thất nghiệp
hay từ thời điểm điều tra trở về trước Thất nghiệp ngắn hạn: là người thất
18
Trang 22nghiệp dưới 12 tháng tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc từ thời điểm điều tra trở
về trước
Căn cứ theo cơ cấu lao động thị trường ngày nay, thất nghiệp gồm:
Thất nghiệp tạm thời: phát sinh do sự di chuyển không ngừng của con người giữa các
vùng, công việc hoặc giai đoạn khác nhau của cuộc sống Thậm chí trong một nền kinh
tế đầy đủ việc làm, vẫn luôn luôn có một số chuyển động nào đó do tồn tại một số người đi tìm việc làm khi tốt nghiệp các trường, hoặc chuyển đến một nơi sinh sống mới, phụ nữ
có thể quay lại lực lượng lao động sau khi có con, những công nhân thất nghiệp tạm thờithường chuyển công việc hoặc tìm những công việc tốt hơn nên người ta thường gọi họ
là những người thất nghiệp tự nguyệnThất nghiệp có tính cơ cấu: xảy ra khi có sự
mất cân đối giữa cung và cầu lao động, nguyên nhân có thể vì mức cầu đối với một loại lao động phát triển lên khi mức cầu đối với một loại khác giảm đi Trong khi đó mức cung không thể điều chỉnh một cách nhanh chóng Trong thực tế vẫn có xảy ra những
sự mất cân đối trong các ngành nghề hoặc trong các vùng do một số lĩnh vực phát triển
so với một số lĩnh vực khác và do quá trình đổi mới công nghệ Nếu tiền lương rất linh hoạt sẽ hạn chế được sự mất cân đối trên các thị trường lao động: tiền lương giảm khi
cung tăng, tiền lương tăng khi cầu cao Thất nghiệp theo chu kỳ: là tình trạnh thất nghiệp
xảy ra do rơi vào đúng thời điểm suy thoái của chu kỳ kinh tế hoặc ở giai đoạn suy thoái của một chu kỳ sản phẩm
Thất nghiệp được đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ này được xác định bằng tỷ số phần trăm giữa số người thất nghiệp và tổng lực lượng lao động
Trang 23Khác với thất nghiệp công khai (thất nghiệp hữu hình) theo đúng định nghĩa
là một chỉ tiêu có thể xác định, đo đếm, tính toán được, thất nghiệp trá hình xuất hiện phổ biến trên thị trường lao động ở các nước đang phát triển với nhiều hình
thức nhưng tồn tại ở hai dạng hình thức chính đó là:
Bán thất nghiệp: là những người có việc làm nhưng làm không đủ cho toàn
phần thời gian Ở Việt Nam, bộ phận này chủ yếu là nông dân, được đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn
Thất nghiệp vô hình: là những người có việc làm và làm hết toàn phần thời gian lao động, tuy nhiên làm việc với năng suất và hiệu quả thấp (Hiện tượng này thường
xuất hiện trong các bộ phận hành chính của các cơ quan nhà nước)
Những người không thuộc lực lượng lao động: Những người không thuộc
lực lượng lao động tương đương với nhóm dân số không hoạt động kinh tế bao gồm toàn
bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc bộ phận có việc làm và thất nghiệp Những người không thuộc lực lượng lao động trong độ tuổi lao động hay dân số không hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động gồm toàn bộ số người (trong đó: nam từ đủ 15 tuổi trở lên đến hết tuổi 60; nữ đủ 15 tuổi trở lên đến hết 55 tuổi) không thuộc bộ phận người có việc làm và người thất nghiệp trong độ tuổi lao động
Những người không hoạt động kinh tế chủ yếu là do: Đang đi học; già cả, ốm đau kéo dài; đang làm công việc nội trợ cho gia đình mình; tàn tật, không có khả năng lao động
1.1.3 Thị trường lao động, thông tin thị trường lao động
Hiện nay đang tồn tại nhiều định nghĩa về thị trường lao động từ các nguồn
tài liệu khác nhau:
Theo Adam Smith, "Thị trường lao động là không gian trao đổi dịch vụ lao
động (hàng hóa sức lao động) giữa một bên là người mua sức lao động (chủ sử dụng lao động) và người bán sức lao động (người lao động)" Định nghĩa này nhấn mạnh vào
đối tượng trao đổi trên thị trường là dịch vụ lao động, chứ không phải là người lao động
Theo Từ điển Kinh tế học Pengiun: "Thị trường lao động là thị trường trong
đó tiền công, tiền lương và các điều kiện lao động được xác định trong bối cảnh
20
Trang 24quan hệ của cung lao động và cầu lao động" Định nghĩa này nhấn mạnh kết quả
của quan hệ tương tác cung - cầu trên thị trường lao động là tiền công, tiền lương và các điều kiện lao động
Theo Từ điển kinh tế MIT: " Thị trường lao động là nơi cung và cầu lao
động tác động qua lại với nhau" Định nghĩa này nhấn mạnh vào quan hệ trên thị
trường lao động cũng là quan hệ cung - cầu như bất kỳ một thị trường nào khác
Theo tìm hiểu một số khái niệm trong văn kiện Đại hội IX của Đảng, thị
trường lao động là: "Thị trường mua bán các dịch vụ của người lao động, về thực chất
là mua bán sức lao động, trong một phạm vi nhất định Ở nước ta, hàng hóa sức lao động được sử dụng trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân, các doanh nghiệp tư bản nhà nước, các doanh nghiệp tiểu chủ, và trong các hộ gia đình neo đơn thuê mướn, người làm dịch vụ trong nhà Trong các trường hợp đó có người đi thuê, có người làm thuê, có giá cả sức lao động dưới hình thức tiền lương, tiền công" Theo định nghĩa
này, thị trường lao động chỉ bó hẹp trong một vài thành phần kinh tế nhất định Toàn
bộ các quan hệ lao động trong khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tập thể, và quan hệ lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp được đặt ra ngoài các quy luật của thị trường
Mặc dù có nhiều điểm khác biệt, nhưng các định nghĩa hiện có về thị trường lao động đều thống nhất với nhau về các nội dung cơ bản của thị trường lao động Có thể tóm lược các nội dung này thành một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về thị trường lao
động như sau: "Thị trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi thực hiện
các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng lao động), thông qua các hình thức thỏa thuận về giá
cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác"
Thị trường lao động được cấu thành bởi ba yếu tố là: cung, cầu và giá cả sức lao động Thị trường lao động có thể hoạt động có hiệu quả chỉ khi các quyền tự do mua, bánsức lao động được đảm bảo bằng luật pháp và bằng hệ thống các chính sách liên quan đến quyền, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia thị trường Thị trường lao động chỉ có thể hình thành khi hội đủ các yếu tố như: Có nền kinh tế hàng hóa phát triển theo cơ chế thị trường; Có định chế pháp luật cho phép tồn tại
Trang 25thị trường lao động: trong đó người chủ sử dụng có quyền tự do mua bán sức lao
động; còn người lao động có toàn quyền sở hữu sức lao động của mình; Người lao động không có sở hữu tư liệu sản xuất đủ để đảm bảo các nhu cầu của bản thân và của gia đình; Có hệ thống thể chế thị trường lao động thích hợp để giải quyết các nhu cầu vàcác quan hệ phát sinh của thị trường như: hệ thống các cơ quan, tổ chức dịch vụ việc làm(các thể chế cần thiết để đảm bảo các giao dịch về sức lao động trên thị trường); hệ thống thông tin về thị trường lao động
Cung lao động: Lực lượng lao động sẵn có trong một nền kinh tế, bao gồm
cả người có việc làm và người thất nghiệp
Cung lao động bao gồm: Qui mô và cơ cấu dân số trong độ tuổi lao động, độ tuổi, giới tính, khu vực Qui mô dân số càng lớn, nguồn cung lao động càng nhiều; Cơ cấu dân số càng trẻ, nhất là số người hàng năm bước vào độ tuổi lao động càng lớn thì nguồn cung lao động càng phong phú và lao động trong độ tuổi thanh niên (từ 15-24) càng dồi dào; Phần lớn nguồn cung lao động chất lượng cao hay tập trung nhiều ở khu vực thành thị vì khu vực thành thị thường là nơi có thị trường lao động phát triển và người lao động
sẽ có nhiều cơ hội việc làm hơn khu vực nông thôn; Trình độ kĩ thuật, tay nghề (địa phương nào có nhiều lao động trình độ kĩ thuật, chuyên môn tay nghề cao thì chất lượng nguồn cung lao động ở nơi đó sẽ cao); Giáo dục và đào tạo; Chi phí cơ hội việc làm (thu nhập, hiệu ứng thay thế ); Mốt (ví dụ: nếu nghề luật sư trở thành mốt thì cung luật sư sẽ tăng nhanh); Thay đổi theo yếu tố mùa vụ (ví dụ: cung lao động tăng sau khi họcsinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường đi tìm việc làm; nguồn cung lao động làm dịch vụ, lao động phổ thông
thường tăng nhiều vào các dịp tết )
Cầu lao động: Là nhu cầu phát sinh, không phải nhu cầu mong muốn cho lợi
ích cá nhân và để đóng góp cho sản xuất hoặc phát tiển kinh tế (cầu lao động phụ thuộc vào sản phẩm cuối cùng mà lao động sản xuất ra) Nhìn chung, cầu lao động được xác định từ nhu cầu của doanh nghiệp và được phản ánh theo vị trí chỗ làm việc trống được lấp đầy và chưa được lấp đầy
Cầu lao động bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:Cơ cấu thị trường lao động (khu vực kinh tế, thực trạng việc làm ); Chi phí thuê lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề nhất định; Chi phí hành chính liên quan đến tiền thuế theo luật định và các qui định về lao động
Trang 26Quan hệ cung- cầu lao động: Có thể giúp giải thích cho sự phân biệt về mức
lương đối với các ngành nghề khác nhau, tình trạng thất nghiệp Một ngành nghề nào đó (cầu lao động) có mức lương cao thì càng nhiều người muốn làm (cung lao động càng lớn) Ngược lại, cầu lao động có mức lương càng thấp càng khó tuyển lao động (cung lao động càng ít) Quan hệ cung- cầu lao động có liên quan chặt chẽ đến tình trạng thất nghiệp: cầu lao động càng ít lao động thất nghiệp càng nhiều và ngược lại Cầu lao động luôn tương quan với cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp( khi doanh nghiệp có nhu cầu tăng về sản phẩm thì họ sẽ cần thuê thêm lao động và như vậy nhu cầu về lao độngcủa doanh nghiệp sẽ tăng)
Thị trường lao động khác nhau về quy mô và đặc tính của lao động hiện có (khác nhau về số lượng và chất lượng lao động), thị trường lao động luôn thay đổi theo thời gian Thị trường lao động mạnh sẽ xuất hiện nhiều việc làm hơn lao động, thị trường lao động trong điều kiện này thì tiền lương, thu nhập của người lao động sẽ cao Ngược lại thị trường lao động yếu sẽ xuất hiện nhiều lao động hơn việc làm và trong điều kiện thịtrường lao động này thì tiền lương, thu nhập của người lao động sẽ thấp và tỷ lệ thất nghiệp sẽ gia tăng Thị trường lao động tương tự như các thị trường khác, trong đó, cung
và cầu cùng nhau xác định giá cả và số lượng (cung- cầu lao động cùng nhau xác định mức lương và số lao động được thuê làm) Tuy nhiên, thị trường lao động khác với các thị trường khác (như thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ) theo nhiều phía, sự khác biệt quan trọng nhất là chức năng của cung và cầu trong việc xác định giá cả và số lượng
Với lao động, việc cung toàn bộ không thể sản xuất có hiệu quả vì con người
có lượng thời gian giới hạn trong ngày, và con người như vậy không được sản xuất Mặtkhác, việc tăng lương thường xuyên sẽ không dẫn đến kết quả cung lao động nhiều hơn,
mà nó lại có khả năng dẫn đến cung lao động ít đi, vì người lao động sẽ có xu hướng dành nhiều thời gian hơn cho nghỉ ngơi để tiêu số tiền lương tăng thêm của mình (quan hệ tỷ lệ nghịch)
Trên cơ sở hoạt động của thị trường lao động, cũng giống như các yếu tố sản xuất khác, nó cũng có những nguyên tắc làm cơ sở cho thị trường hàng hóa tiêu thụ và dịch vụ phân tích quan hệ cung - cầu là phương pháp cơ bản để nghiên cứu hoạt động của thị trường này hay thị trường kia Tuy nhiên, hoạt động của thị trường lao
23
Trang 27động có nhiều đặc biệt, gắn với tính chất và những đặc thù của quá trình tái sản xuất
sức lao động
Thị trường lao động luôn biến động, dẫn đến hiện tượng người lao động gia nhập rồi lại rời khỏi thị trường lao động là hiện tượng phổ biến Bên cạnh đó, một vị trí việclàm thường xuyên thì nội dung công việc cũng ít nhiều sẽ thay đổi theo thời gian Nguyên nhân tạo ra sự thay đổi thị trường lao động: Tiến bộ của Khoa học công nghệ, cải tiến
tổ chức làm việc (Thực tế việc phải sắp xếp, bố trí lại lao động cho phù hợp với yêu cầu thay đổi cơ cấu công nghệ là việc làm thường xuyên của các doanh nghiệp Do vậy, người sử dụng lao động có quyền tăng, giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh là yêu cầu tất yếu của các doanh nghiệp được pháp luật lao động cho phép)
Thị trường lao động cũng hoạt động như một thị trường không rõ ràng
Trong khi hầu hết các thị trường có điểm cân bằng, không cần có sự vượt quá số cầy, thì ngược lại, thị trường lao động có thể có mức cung quá nhiều trong một thời gian dài (được thể hiện qua tình trạng thất nghiệp dài ngày) Khác với các thị trường khác thị trường lao động bộc lộ những phân biệt tiền lương dài ngày trong số người lao động có tay nghề như nhau (ví dụ: ước tính thu nhập và hiệu ứng thay thế trong mô hình cung cấp lao động gia đình)
Để đảm bảo thị trường lao động phát triển hiệu quả và tạo việc làm bền vững
cho mọi người, chính phủ đưa ra các chính sách việc làm Xây dựng các chính sách việclàm bền vững cần có yêu cầu thu thập toàn diện, tổ chức và phân tích thông tin thị trường lao động Một phân tích về tình hình hiện tại là cơ sở để xây dựng các chính sáchphù hợp
Không tách rời quyền sở hữu hàng hóa - sức lao động khỏi sở hữu chủ Trên thị trường lao động, người mua chỉ có quyền sử dụng và làm chủ từng phần khả năng lao động - sức lao động, mà hoạt động trong một khoảng thời gian nhất định Nhưng người mua không đơn giản là mua sức lao động như những loại hàng hóa khác, mà có quan hệ với người có những quyền hạn nhất đỉnh như một cá nhân tự do, mà anh ta phải tuân thủ Nếu vi phạm những quyền hạn đó người mua phải chịu trách nhiệm pháp
lý và có thể có những tổn thất về kinh tế Người mua sức lao động chính xác hơn được gọi là người sử dụng lao động
Trang 28Có trách nhiệm phối hợp hành động tương đối dài với nhau giữa người bán
và người mua nếu so sánh với thị trường hàng hóa, lương thực và thực phẩm Điểm này đặt một dấu ấn trong mối quan hệ tương hỗ hai bên và đóng một vai trò không ít quan trọng trong khả năng cạnh tranh của công ty Người lao động, như một cá thể, có thể tựkiểm soát chất lượng công việc của mình với những nỗ lực khác nhau, thể hiện mức độ trung thực khác nhau với công ty đã thuê họ Người thuê phải tính đến những yếu tố đó
để quản lý sản xuất, nghĩa là phải xây dựng một cơ chế đãi ngộ, kích thích, tạo động lực đối với người lao động một cách phù hợp như: điều
kiện làm việc, tiền lương, tiền thưởng và các phúc lợi xã hội khác;
Tồn tại số lớn cấu trúc thể chế loại đặc biệt (hệ thống pháp luật phân nhánh,
những chương trình kinh tế-xã hội, dịch vụ việc làm các tổ chức công đoàn, liên hiệp hội các nhà doanh nghiệp, v.v ) sinh ra đặc thù quan hệ giữa các chủ thể của thị trường lao động Vì vậy, cần phải thể chế hóa thật chi tiết mọi hướng hoạt động
người gặp nhiều khó khăn và phức tạp;
Nhiều điểm độc đáo trong trao đổi sức lao động so với trao đổi hàng hóa vật chất Quá trình trao đổi sức lao động so với trao đổi hàng hóa vật chất được bắt đầu trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa - quyền sử dụng khả năng lao động được chuyển sang người mua theo những gì đã được ấn định trong hợp đồng hay thoả ước tập thể Quá trình trao đổi được tiếp tục trong sản xuất dưới hình thức trao đổi sức lao động đang hoạt động, lao động thực tế thành lương danh nghĩa và kết thúc trong lĩnh vực lưuthông của cải vật chất, có nghĩa là trên thị trường hàng hóa và dịch vụ được trao đổi lương danh nghĩa thành phương tiện sống Việc trao đổi hàng hóa vật chất được bắt đầu
và kết thúc trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa vật chất Từ đặc điểm nói trên đưa đến 2
kết quả: thứ nhất, thị trường lao động liên kết xung quanh mình các thị trường khác nhau;
thứ hai, tiền công lao động thực tế được thực hiện tương ứng với kết quả cuối cùng, có
nghĩa là với giá sản phẩm mà lao động đó
Trang 29làm ra Đối với người lao động, vấn đề quan trọng không chỉ là tiền công và tiền
lương, mà còn là nội dung và điều kiện lao động, bảo đảm duy trì chỗ làm việc, tương lai công việc và triển vọng thăng tiến trong nghề nghiệp, bầu không khí làm việc trong tập thể và quan hệ giữa người lao động với người thuê lao động v.v
Trong nền kinh tế, mỗi một thị trường đều rất cần thiết, phải giải quyết
những nhiệm vụ đặt ra trước nó và có ý nghĩa quan trọng khác nhau Thị trường lao độngđược coi như một đầu tầu để kéo theo sự chuyển động của các thị trường khác Thị trường lao động khác với các loại thị trường khác (như: hàng hóa, vốn, nhà ở, bất động sản v.v ) ở chỗ nó phức tạp hơn, bao gồm hoạt động của những lực lượng và các công cụ điều tiết mà phần lớn ở các thị trường khác không có Vậy ý nghĩa
của thị trường lao động trong đời sống xã hội ở chỗ nào?
Trước hết, thị trường lao động đảm bảo việc làm cho dân số tích cực kinh tế, kết nối họ vào lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, tạo khả năng cho họ nhận được những thu nhập thiết yếu để tái sản xuất sức lao động của chính bản thân mình, cũng như nuôi sống gia đình mình Thị trường lao động dễ dàng chuyển đổi người lao động sang chỗ làm việc thích hợp hơn với họ, nơi mà thành quả lao động của họ có năng suất hơn và có
cơ hội nhận được thu nhập cao hơn
Thông qua thị trường lao động các công ty, xí nghiệp được trang bị đồng bộ sức lao động cần thiết theo khối lượng đặt ra và chất lượng đòi hỏi Dĩ nhiên, không phải luôn luôn trong mỗi một khu vực đều có sẵn lực lượng lao động cần thiết Nhưng chínhthị trường lao động sẽ cung cấp đầy đủ những thông tin về ngành nghề nào đang cần, nơi nào đang dư thừa sức lao động, những người đang đi tìm kiếm việc làm cần phải trang
bị và bồi bổ những chuyên môn nghiệp vụ gì, phải mở rộng kiến thức và kỹ năng theo hướng nào để có thể nhận được việc làm theo mong muốn Đó là sự tiếp cận không đơn giản đến gần sự cân đối cung và cầu sức lao động Cụ thể là sự cân đối không phải
là chung chung mà là theo nghề nghiệp và chuyên môn Từ đó cho chúng ta thấy rằng, thị trường lao động là nguồn thông tin rất quan trọng và nó quan hệ chặt chẽ với tất cả các thị trường Thông tin trên thị trường lao động đem lại cơ sở tư duy lớn cho cả người thuê lao động cũng như người lan động để xây dựng kế hoạch hoạt động trong tương lai của họ Người lao động biết rất rõ rằng, giới chủ có đòi hỏi ngày càng cao với người làm thuê trên thị
26
Trang 30trường lao động Như chúng ta thấy, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, cùng
với việc hình thành và phát triển thị trường lao động ở Việt Nam cũng đang diễn ra sự đòi hỏi ngày càng tăng của người thuê lao động vời trình độ đào tạo nghề nghiệp, chất lượng, cũng như thể lực của sức lao động
Cạnh tranh giữa những người lao động sẽ thúc đẩy mở rộng vùng thợ chuyên nghiệp làm thuê, nâng cao chuyên môn và khả năng tổng hợp của họ Trong thực tế gần hai mươi năm cải cách ở Việt Nam vừa qua cho chúng ta thấy rằng, người lao động có tay nghề cao, có óc sáng tạo, năng động, biết thích ứng nhanh với bối cảnh mới thì sẽ không bao giờ thiếu việc làm Mặt khác, sự cạnh tranh của các ông chủ trên thị trường lao động sẽ bắt buộc họ không chỉ duy trì mức lương đã đặt ra, mà còn tạo ra những môi trường làm việc thuận lợi, thể hiện sự quan tâm nhất định về thoả mãn những nhu cầu cần thiết và đảm bảo những quan hệ qua lại bình thường trong tập thể lao động giữa những người lao động, cũng như giữa lãnh đạo và nhân viên
Khi ký kết hợp đồng lao động bằng miệng hoặc trên văn bản giấy tờ giữa người thuê lao động và người lao động, vấn đề phải được xem xét không chỉ thoả thuận
về mức lương và thời gian làm việc, mà còn cả chế độ nghỉ phép, bệnh tật ốm đau và cả những bảo hiểm xã hội cùng với những ưu đãi khác
Thị trường lao động đảm bảo việc phân chia và sắp xếp lại dân số tích cực kinh tế trong trường hợp cải cách cấu trúc nền kinh tế ngày nay ở Việt Nam, vấn đề này đặc biệt quan trọng và không kém phần khó khăn khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, các xí nghiệp chịu sự sắp xếp lại theo nhiều hướng khác nhau: sáp nhập, giải thể, liên kết, nên doanh, cổ phần hóa, cho thuê hoặc bán doanh nghiệp đã làm cho số người mất việc làm trong các xí nghiệp quốc doanh lên tới hàng triệu người Bên cạnh đó sự cho phép hình thành và phát triển đa dạng các loại hình sở hữu, nhiều xí nghiệp mới ra đời
đã giải quyết hàng chục ngàn chỗ làm việc mới cho người lao động và cả những người dôi dư từ khu vực nhà nước trong nhiều năm vừa qua Tỷ trọng lao động trong các thành phần kinh tế, các ngành nghề, khu vực dân cư dần dần được thay đổi theo cơ cấu ngày càng hợp lý, uyển chuyển, thích ứng và phù hợp vời cấu trúc mới của nền kinh tế
Thị trường lao động làm tăng tính cơ động của sức lao động giữa các xí
nghiệp trong một ngành, giữa các ngành và các khu vực với nhau Trong thời kỳ
27
Trang 31đầu của cai cách kinh tế ở Việt Nam, dòng chuyển động này vẫn chưa mang tính cơ
động cao vì hàng loạt những nguyên nhân (như: tính ỷ lại và trông chờ vào sự sắp xếp công việc của Nhà nước là thói quen đã ăn sâu vào tiềm thức của cả thế hệ người lao động từ thời kinh tế bao cấp, thói quen thích ứng với nơi đã sống thường xuyên, sự gắn
bó với công việc, gánh nặng gia đình cùng việc học hành của con cái, những thủ tục hành chính nhiêu khê như: chế độ hộ khẩu, tạm trú, tạm vắng, vấn đề nhà ở v.v.) Nhưng đến nay đã qua gần 20 năm đổi mới, Nhà nước đã có nhiều thay đổi trong chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô, cải cách từng bước các thủ tục hành chính cũng như hoàn thiện dần cơ
sở hạ tầng của thị trường lao động thì tính cơ động của sức lao động Việt Nam cũng đang dần dần có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt là trong giới trẻ
Tóm lại, thị trường lao động điều tiết dòng chuyển sức lao động đang được
hình thành trên thị trường đi theo 4 hướng cơ bản sau: Thứ nhất, chuyển những người làm thuê bị mất việc vào hàng ngũ người thất nghiệp Thứ hai, sắp xếp những người thất nghiệp ở xí nghiệp hoặc các công sở và chuyển họ vào đội ngũ người lao động Thứ ba,
bố trí về hưu hoặc giảm việc tìm kiếm công việc, có nghĩa là chuyển họ từ dân số tích
cực kinh tế vào dân số không tích cực kinh tế Thứ tư, tìm kiếm và sắp xếp công việc
cho những người mới tốt nghiệp các trường đào tạo, cũng như những người trước đây không làm việc và chưa bao giờ tìm kiếm việc làm, có nghĩa là chuyển họ từ dân số khôngtích cực kinh tế vào dân số tích cực kinh tế
Cùng với việc hoạt động tương hỗ để giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội quan trọng khác, thì thị trường lao động cũng đem đến những hậu quả tiêu cực: một là, tăng sự phân lập về lương và thu nhập của người lao động, làm giảm tỷ lệ lương trong thu nhập, tăng bất công là nguyên nhân sinh ra đói nghèo Thị trường lao động Việt Nam đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, vì vậy nó không thể tránh khỏi bị những ảnh hưởng trực tiếp từ kết quả cải cách toàn diện nền kinh tế trong những năm qua Theo kết quả điều tra vào năm 2014, theo Bộ LĐ-TB&XH, thu nhập bình quân tháng của lao động nhóm ngành nông lâm nghiệp và thủy sản vẫn thấp nhất (3 triệu
đồng/tháng), trong khi nhóm ngành công nghiệp xây dựng 4,3 triệu đồng/tháng và cao nhất là dịch vụ với 5,2 triệu đồng/tháng Thu nhập bình quân tháng của nhóm lãnh đạo cao nhất với 7,7 triệu đồng; nhóm chuyên môn kỹ
thuật bậc cao 6,5 triệu đồng và thấp nhất là nhóm lao động giản đơn 3 triệu đồng
28
Trang 32Hai là, thị trường lao động làm tổn hại tới tinh thần đoàn kết, nhất trí của
người lao động Cạnh tranh giữa những người lao động dẫn đến tách rời ý kiến, cá thể hóa quyền lợi, làm yếu đi sự đồng nhất quan điểm trong đàm phán với người thuê lao động
Trên thực tế, có rất nhiều dạng thị trường lao động khác nhau, tùy thuộc vào các tiêu chí được lựa chọn để phân loại Xét từ giác độ pháp lý, có thể có thị trường hợp pháp và thị trường bất hợp pháp; dưới góc độ quản lý, có thể có thị trường tự do và thị trường có tổ chức; dưới góc độ hình thức tổ chức, có thể có thị trường tập trung và thị trường phi tập trung
Tuy nhiên, có hai tiêu chí thường hay được sử dụng để phân loại thị trường
Đó là trình độ kỹ năng và phạm vi địa lý Xét từ góc độ kỹ năng, thị trường lao động được phân ra thànhthị trường lao động giản đơn và thị trường lao động đ ư ợ c đ à o t ạ o
X é t từ gi á c đ ộ đ ị a lý , t h ị tr ư ờ ng l a o đ ộ n g đư ợ c p h ân c h i a t h àn h t hị trường lao động địa phương và thị trường lao động quốc gia, hoặc thị trường lao động quốc tế
Khác với nhiều loại hàng hóa thông thường là những thứ thường được chuẩn hóa ở mức cao, hàng hóa sức lao động hoàn toàn không giống nhau Mỗi người lao động
là tập hợp của các năng lực bẩm sinh, cộng với các kỹ năng chuyên biệt tiếp thu được từ giáo dục và đào tạo Mỗi người lao động đều có những đặc điểm riêng về khả năng, trình độ, tuổi tác, nguồn gốc, giới tính, nhu cầu, thể lực, động lực làm việc, Chính vì thế, sức lao động do những người này đem ra trao đổi trên thị trường lao động cũng hoàn toàn không đồng nhất với nhau
Thực tiễn cho thấy, thông thường, trong các quan hệ giao dịch hay đàm phán trên thị trường lao động, cán cân thường nghiêng về phía người có nhu cầu sử dụng sức lao động Xuất phát điểm của thực tiễn này là ở chỗ cho đến nay, số lượng những người tìm việc vẫn nhiều hơn số lượng các cơ hội việc làm sẵn có Hơn nữa, người lao động đi tìm việc bao giờ cũng là người có nguồn lực hạn chế, trong khi đó, người sử dụng lao động có nhiều khả năng chờ đợi và lựa chọn hơn Chính vì thế, trong quá trìnhđàm phán hoặc giao dịch, khi thỏa thuận các điều khoản hợp đồng, người sử dụng lao động thường có vị trí quyết định
29
Trang 33Thông tin thị trường lao động bao gồm các thông tin về cung, cầu lao động, việc làm, tiền lương, tiền công, điều kiện việc làm, các kỹ năng nghề, nơi làm việc, ngành nghề Thông tin thị trường lao động sẵn có, kịp thời, đầy đủ và thường xuyên có ý nghĩa quyết định đến việc hoạch định các cơ chế chính sách liên quan đến việc làm, có tác động thúc đẩy các cơ hội việc làm bền vững và hiệu quả đối với mọi người dân Nhất
là trong điều kiện thị trường lao động đang có nhiều biến động do ảnh hưởng của tình hìnhsuy giảm kinh tế thế giới đã dẫn đến thực trạng có rất nhiều lao động phải làm việc trong điều kiện không ổn định hoặc có nhiều người bị thất nghiệp do thôi việc, mất việc làm
Do vậy, việc phân tích và thông tin kịp thời về thị trường lao động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để xem xét quy mô, tốc độ phát triển của xu hướng việc làm Mục tiêu phát triển của thị trường lao động tiến tới cân bằng cung- cầu lao động trên địa bàn có tầm quan trọng đặc biệt đến việc tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội của Thành phố
Hà Nội
Trong thị trường hàng hóa: nếu giá cả cao, thì về lâu dài sẽ có nhiều hàng hóa được sản xuất cho đến khi thỏa mãn nhu cầu (quan hệ tỷ lệ thuận) Quan hệ tiền lương- việc làm: Giải thích mối quan hệ giữa những diễn biến về tiền lương cùng với những thay đổi về cung, cầu lao động cụ thể: Tiền lương càng cao, việc làm càng giảm:Tiền lương càng cao (tiền công càng đắt đỏ) các doanh nghiệp càng cắt giảm lao động để tiết kiệm chi phí Ngược lại, nếu tiền lương thấp thì các doanh nghiệp có thể tuyển thêm lao động Tiền lương càng cao thì cung lao động càng tăng: Người lao động càng muốn làm việc nhiều hơn, nếu họ được trả lương khá
hơn
Tóm lại: Tiền lương lao động càng cao thì cung lao động càng tăng (do
người lao động muốn làm việc nhiều hơn) dấn đến việc làm giảm (do doanh nghiệp cắt giảm lao động để tiết kiệm chi phí) dẫn đến lao động thất nghiệp ngày càng nhiều
1.2 Khái luận về Sàn giao dịch việc làm
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò và phân loại Sàn giao dịch việc làm
Sàn giao dịch việc làm là nơi tổ chức tiếp nhận đăng ký tìm việc, đăng ký
học nghề, đăng ký tuyển dụng trực tiếp hoặc đăng ký thông qua hệ thống máy tính (website) Tổ chức kết nối việc làm, tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra, tổ chức cho các
30
Trang 34doanh nghiệp phỏng vấn, tuyển dụng lao độngtrực tiếp tại phiên giao dịch việc làm
và giới thiệu người lao động đến các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng
Tổ chức lưu trữ hồ sơ việc làm trống và việc làm và hồ sơ người tìm việc có hiệu lực để tiếp tục chắp nối việc làm Tổ chức tư vấn về tác phong, kỹ năng, nghiệp
vụ đối với người lao động đến sàn giao dịch việc làm để tìm việc nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng; tư vấn cho người sử dụng lao động, cơ sở đào tạo nghề về tuyển dụng, tuyển sinh
Nơi tư vấn, giới thiệu việc làm cung ứng tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động, cung cấp thông tin về thị trường lao động Nơi tổ chức kết nối việc làm, tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra, tổ chức cho các doanh nghiệp, phỏng vấn, tuyển dụng lao động trực tiếp tại phiên giao dịch việc làm và giới thiệu người lao động đến các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng Sàn giao dịch việc làm là nơi tổ chức kết nối việc làmgiữa đơn vị sử dụng lao động và người lao động nhằm tuyển được những lao động phù hợp vào các vị trí còn trống của đơn vị sử dụng lao động và nhu cầu của người lao động
Các đơn vị sử dụng lao động: tạo việc làm, đăng ký thông tin về vị trí cần tuyển, yêu cầu vào các cơ sở của đơn vị tổ chức sàn giao dịch việc làm
Nhu cầu làm việc của người lao động được đáp ứng khi các phiên giao dịch việc làm mở ra Đây là nhu cầu cấp thiết của mỗi cá nhân và góp phần vào giải quyết việc làm của các tỉnh trong cả nước Điều kiện cơ sở vật chất: là công cụ hỗ trợ cho sự phát triển của Sàn giao dịch việc làm như: máy tính, máy móc, trang thiết bị cung cấp cho mỗi phiên giao dịch Giấy phép được quyền đăng ký của các cơ quan chức năng được quyền giao dịch
Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, Nhà nước phải lo mọi vấn đề về lao động và việc làm từ đào tạo, phân bổ đến sử dụng và đãi ngộ Khái niệm việc làm trong cơ chế bao cấp hết sức xơ cứng, chỉ lao động trong khu vực nhà nước thì mới được coi là có việc làm và được xã hội trân trọng
Khi có cơ chế mới, cơ chế thị trường đã thu hút lao động, tạo khả năng mở thêm
hàng triệu chỗ làm việc, Tuyển dụng lao động trong khu vực nhà nước cũng có sự thay đổi Trước những thay đổi về nhận thức, chính sách lao động và việc làm của Nhà nước bắt đầu hướng tới mục tiêu:" Tạo càng nhiều việc làm cho người lao
Trang 35động" và " Nhà nước ban hành chính sách chế độ bảo đảm hộ lao động" [Điều
55,56, Hiến pháp năm 1992] Nhà nước khuyến khích tạo việc làm thông qua chương trình " Quốc gia xúc tiến việc làm", nguyên tắc hoạt động của nó dựa vào việc cấp kinh phí cho những dự án tạo việc làm Năm 1997, việc cấp kinh phí cho 2.467 dự án đã cho phép tạo được 52.195 việc làm [2] Lúc này các trung tâm xúc tiến việc làm cũng mới đóng một vai trò rất phụ trong việc làm trung gian giữa người sử dụng lao động và người lao động, vai trò quan trọng nhất vẫn là nhà nước Quan trọng hơn, bên cạnh các Trung tâm xúc tiến việc làm do Bộ Lao động Thành lập và quản lý còn có những Trungtâm cùng loại do các tổ chức quần chúng và các Ủy ban nhân dân quản lý, vì mạng lưới các Trung tâm của Bộ còn chưa rộng khắp cả nước
Đến bây giờ với tốc độ phát triển của kinh tế - xã hội, Sàn giao dịch việc làm
đã hình thành và phát triển rộng khắp cả nước, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
Sự ra đời của Sàn giao dịch việc làm đã khẳng định được vai trò là cầu nối không thể thiếu giữa các doanh nghiệp, các cơ sở dạy nghề có nhu cầu tuyển sinh với người lao động có nhu cầu tìm việc làm, học nghề
Với việc tổ chức các phiên giao dịch việc làm, có sự tham gia của các Doanh
nghiệp, cơ sở dạy nghề và người lao động Tại phiên giao dịch việc làm, cùng với hoạt động tiếp nhận hồ sơ, phỏng vấn, tuyển dụng lao động, tuyển sinh của các đơn vị tham gia Trung tâm giới thiệu việc làm còn mở các lớp huấn luyện về kỹ năng tham gia phỏng vấn, tư vấn về chính sách lao động- việc làm, tổ chức tư vấn về việc làm- học nghề và giới thiệu việc làm cho các lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp
Việc hình thành sàn giao dịch việc làm có vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm: Đối với nhà nước: Cung cấp thông tin để có cơ sở dự liệu nhằm dự báo, phân tích đánh giá tình trạng phát triển của chính sách lao động việc làm tại địa phương, định hướng chiến lược đào tạo
Đối với Doanh nghiệp: Tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị, doanh nghiệp
trên địa bàn trong công tác tuyển dụng lao động tiết kiệm được thời gian, chi phí tuyển dụng
Đối với người lao động: giúp cho người lao động có cơ hội lựa chọn, tìm kiếm việc làm phù hợp với trình độ, năng lực, các khóa đào tạo để có cơ hội nghề
32
Trang 36nghiệp Đặc biệt với các lao động có nhu cầu
đi xuất khẩu lao động đây là những
thông tin hữu ích, giúp họ có nhiều lựa chọn trước khi chọn cho mình một thị trường phù hợp
Doanh nghiệp và người lao động được cung cấp những thông tin đầy đủ về việc làm , công việc, tiền công và các điều kiện làm việc, những vấn đề quan hệ lao động: hợp đồng lao động, tranh chấp lao động, tiền lương
Hình thành sàn giao dịch việc làm là biện pháp trung tâm của các quốc gia, nó
không chỉ giải quyết vấn đề kinh tế( tạo thu nhập cho người lao động ) mà cả các vấn
đề xã hội( hạn chế và giảm tệ nạn xã hội, bình ổn xã hôi, xóa đói giảm
nghèo )
Sàn giao dịch việc làm bao gồm: Sàn giao dịch việc làm online và sàn giao
dịch việc làm thực tế Sàn giao dịch việc làm online là nơi những trung tâm giới thiệu việc làm cập nhật cung- cầu lao động" việc tìm người, người tìm việc" tuyển lao động thông qua hồ sơ Còn Sàn giao dịch việc làm thực tế: tuyển dụng lao động trực tiếp tại cácphiên giao dịch việc làm: tiếp nhận hồ sơ, phỏng vấn và tuyển chọn lao động, ký kết hợp đồng
Sàn giao dịch việc làm cố định: là Sàn giao dịch được xây dựng tại trung tâm
giới thiệu việc làm
Sàn giao dịch việc làm vệ tinh: là sàn giao dịch được xây dựng tại các chi
nhánh của Trung tâm giới thiệu việc làm
Sàn giao dịch việc làm di động: Là sàn giao dịch có khả năng di động đến
các vùng xa trung tâm như quận, huyện, xã, phường nơi không có khả năng tổ chức sàn giao dịch vệ tinh Sàn giao dịch việc làm di động đảm bảo tính cơ động nhưng
vẫn đáp ứng được tất cả các yêu cầu của sàn giao dịch
1.2.2 Hoạt động của Sàn giao dịch việc làm
Các hoạt động giới thiệu và quảng cáo về kết quả sản xuất, kinh doanh và xu hướng phát triển của cơ quan, doanh nghiệp, các cơ sở dạy nghề
Các hoạt động tuyển dụng lao động: cung cấp hồ sơ tiếp nhận hồ sơ của
người lao động tổ chức phỏng vấn và tuyển chọn lao động ký kết hợp đồng lao động Các hoạt động đăng ký và tuyển sinh thanh niên học nghề: cung cấp hồ sơ tiếp nhận hồ sơ giới thiệu nghề và tiếp nhận người học nghề
Trang 37Các hoạt động tư vấn về chính sách, pháp luật lao động- việc làm và dạy
nghề:
Tổ chức các diễn đàn theo từng chuyên đề Nội dung trình bày cần được
chuẩn bị kỹ và trả lời những câu hỏi, những thắc mắc của khán giả gồm: giới thiệu kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội dài hạn và hàng năm của tính/ thành phố và dự kiến nhu cầu sử dụng lao động; Giới thiệu các chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển doanh nghiệp, việc làm, xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh, thành phố; giới thiệu các doanh nghiệp, các trường và các cơ sở dạy nghề , các trung tâm Doanh nghiệp và giới thiệu việc làm về sự phát triển và nhu cầu đào tạo, tuyển dụng lao động theo kế hoạch phát triển của các đơn vị
Quy trình hoạt động của sàn giao dịch việc làm được thể hiện qua các bước
như sau:
Bước 1, Công tác chuẩn bị phiên giao dịch việc làm Bao gồm: Thông tin
tuyên truyền quảng cáo, mời doanh nghiệp tham gia phiên, Tiếp nhận hồ sơ đăng ký của các đơn vị, Tổng hợp danh sách các đơn vị tham gia phiên, công tác chuẩn bị máy móc trang thiết bị, công tác phục vụ chuẩn bị cho các hoạt động tại phiên
Công tác thông tin tuyên truyền và quảng cáo hoạt động Sàn giao dịch việc
làm: Treo băng rôn thông báo về phiên giao dịch việc làm tại các điểm thu hút người lao động và doanh nghiệp tham gia phiên, tại các trường đại học, cao đẳng, trung tâm dạy nghề: 5 ngày trước ngày mở phiên
Phát thanh tuyên truyền hoạt động của Sàn giao dịch việc làm triển khai đến
quận/huyện, xã/phường: 2 ngày trước ngày mở phiên
Phát hành tờ rơi quảng cáo Sàn giao dịch việc làm tại các trường đại học, cao đẳng, trường nghề trên địa bàn: cung cấp nội dung cụ thể các hoạt động của Sàn
GDVL, thời gian, địa điểm diễn ra sàn GDVL để các đơn vị, người lao động, học sinh, sinh viên có nhu cầu đến tham gia phiên GDVL
Quảng cáo hoạt động Sàn giao dịch việc làm trên báo, đài truyền
hình.Phóng sự về hoạt động sàn gaio dịch việc làm tuyên truyền trên đài truyền hình Biên tập, quay phim xây dựng bản tin tuyển dụng phiên giao dịch việc làm cập nhật lên website của Sàn giao dịch việc làm và phát tại các phiên giao dịch việc làm hàng tuần: hoàn thành vào sáng thứ 6
Trang 38Thông báo mời tham gia phiên: Đăng thông báo mời các đơn vị có nhu cầu tham gia phiên lên website Sàn giao dịch việc làm: 5 ngày trước ngày mở phiên
Mời doanh nghiệp tham gia phiên: Khảo sát các doanh nghiêp trên địa bàn
thành phố phục vụ công tác mời doanh nghiệp tham gia phiên
Liên hệ trực tiếp với các đơn vị có nhu cầu mời tham gia phiên giao dịch
việc làm
Tiếp nhận hồ sơ đăng ký của các đơn vị: Tiếp nhận hồ sơ đăng ký của các
đơn vị tham gia phiên gồm phiếu đăng ký tham gia phiên theo mẫu; thông báo tuyển dụng, tuyển sinh của đơn vị; giấy phép đăng ký kinh doanh bản sao (Đối với
đơn vị đăng ký lần 2 trở đi nhận phiếu đăng ký tham gia và thông báo tuyển dụng)
Thời hạn nhận hồ sơ đăng ký tham gia của các đơn vị chậm nhất vào 11h30 ngày thứ 5 hàng tuần
Thông báo cho các đơn vị tham gia phiên: ngày giờ đến phiên, vị trí phỏng vấn của đơn vị tại phiên GDVL 01 ngày trước ngày mở phiên
Tổng hợp danh sách các đơn vị tham gia phiên: Lập danh sách các đơn vị
tham gia phiên; Tổng hợp nhu cầu tuyển dụng, tuyển sinh của các đơn vị tham gia phiên.Chốt danh sách vào chiều thứ 5 hàng tuần; Cập nhật thông tin tuyển dụng, tuyển sinh của các đơn vị tham gia lên website của Sàn giao dịch việc làm hoàn thành vào chiều thứ
5
Công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, máy móc thiết bị: Chuẩn bị cơ sở vật chất:
In bảng biểu, sơ đồ hướng dẫn, thông tin phiên giao dịch việc làm: bảng tổng hợp, danh sách đơn vị tham gia phiên, bảng thông tin tuyển dụng, tuyển sinh của các đơn vị tham
gia: hoàn thành vào chiều thứ 6; Sắp xếp, bố trí các khu vực đảm bảo hoạt động tại
phiên: Khu vực niêm yết thông tin: sắp xếp bảng biểu; Khu vực đón doanh nghiệp: chuẩn
bị thẻ đơn vị, biển mica tên đơn vị; Khu vực tư vấn việc làm, tư vấn nghề, khảo sát tại phiên: chuẩn bị các mẫu phiếu; Khu vực tuyển dụng: sắp xếp bàn phỏng vấn cho các đơn
vị tham gia phiên, chuẩn bị báo cáo kết quả tuyển dụng tại phiên; Các công tác trên hoàn
thành trước 16h ngày thứ 6
Trang 39Chuẩn bị máy móc, trang thiết bị: Chuẩn bị máy chiếu, loa đài, máy tra cứu
đa năng phục vụ cho hoạt động thông tin phiên giao dịch việc làm: hoàn thành vào thứ 6
Công tác phục vụ đảm bảo cho các hoạt động tại phiên: Công tác an ninh, vệ
sinh, y tế; Chuẩn bị nước uống phục vụ người lao động và các đơn vị tham gia phiên
Bước 2, Tổ chức hoạt động phiên giao dịch việc làm bao gồm:
Khu vực đón tiếp các đơn vị tham gia: Cán bộ được phân công thực hiện
hướng dẫn các đơn vị tham gia nhận số bàn, thẻ đơn vị, biển tên và vào phòng tuyển dụng
Khu vực tuyển dụng: Cán bộ được phân công trực phòng tuyển dụng hướng
dẫn các đơn vị vào vị trí, phát và thu báo cáo phiên Điều tiết lao động đăng ký tham gia phỏng vấn vào bàn phỏng vấn trực tiếp
Khu vực tư vấn việc làm và kỹ năng tìm việc thành công: Cán bộ được phân
công tư vấn thực hiện công tác tư vấn việc làm; tư vấn kỹ năng tìm việc thành công cho người lao động có nhu cầu
Khu vực tư vấn nghề nghiệp, tuyển sinh: Cán bộ được phân công thực hiện
công tác tư vấn nghề nghiệp, tuyển sinh học nghề cho những đối tượng có nhu cầu
Khu vực khảo sát: Cán bộ được phân công thực hiện ghi phiếu khảo sát
doanh nghiệp nắm bắt nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và ghi phiếu khảo sát người lao động nắm bắt nhu cầu tìm việc của người lao động tham gia phiên
Bộ phận trực cơ sở vật chất, máy móc thiết bị: Cán bộ được phân công thực
hiện chịu trách nhiệm đảm bảo hoạt động của máy móc thiết bị tại phiên và các vấn đề phát sinh liên quan đến bảng biểu, vị trí các khu vực phiên
Bộ phận văn phòng: Cán bộ được phân công thực hiện nhiệm vụ in ấn, photo
tài liệu phát sinh, đảm bảo nước uống tại phiên
Bộ phận điều phối nghiệp vụ: Cán bộ được phân công thực hiện theo dõi
chấm công cán bộ làm phiên, điều tiết các vị trí phiên ( nếu cần), điều hành các nghiệp
vụ phiên đảm bảo hoạt động phiên giao dịch việc làm
36
Trang 40Bước 3, Sau phiên giao dịch việc làm: Tổng hợp, báo cáo kết quả phiên:
Phòng Thông tin thị trường lao động chịu trách nhiệm tổng hợp kết quả, báo cáo kết quả
phiên GDVL: hoàn thành vào thứ 2; Họp rút kinh nghiệm & chuẩn bị cho phiên GDVL
tiếp theo
Có thể cụ thể hóa quy trình hoạt động của Sàn giao dịch việc làm bằng sơ đồ như sau:
Học nghề
Sàn giao dịch tư vấn
Các ngành nghề
Lao động phổ thông Đào tạo tại
DN
Tuyển dụng
Việc làm
Lao động chưa
có nghề
Lao động đã qua đào tạo
Hình 1.3 Quy trình hoạt động của Sàn giao dịch việc làm
Ngoài quy trình họat động của Sàn giao dịch, sự tham gia của đơn vị tham gia phiên giao dịch việc làm đựơc cụ thể hóa như sau:
Đối với đơn vị tham gia phiên giao dịch việc làm: Chuẩn bị tham gia phiên
giao dịch gồm: Đơn vị tham gia gửi hồ sơ đăng ký tham dự với Ban tổ chức gồm : Phiếu đăng ký tham gia (theo mẫu); Giấy phép hoạt động hoặc quyết định thành lập (bản photo); Thông báo tuyển dụng, tuyển sinh có xác nhận của đơn vị Thời haṇ
cuối cùng tiếp nhâṇ hồ sơ của mỗi phiê n: 02 ngày làm viêc̣ trước ngày mở phiên
giao dic̣ h Đối với đơn vị đã tham gia phiên giao dịch thì hồ sơ tham dự từ lần tiếp theo không cần có giấy phép hoạt động hoặc quyết định thành lập (trừ trường hơp
có sửa đổi bổ sung ) Khi tham gia phiên giao dịch việc làm :Đơn vị tham gia đến đúng giờ và dự lễ khai mạc; Đơn vị tham gia các hoạt động đã đăng ký với Ban tổ