MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trầm cảm là một d ng rối lo n cảm xúc phổ biến xuất hiện ngày càng nhiều trên thế giới (Ranga Krishnan, 2010). Những nghiên cứu về trầm cảm trên người trưởng thành ở 10 quốc gia (Brazil, Canada, Chile, Cộng h a Czech, Đức, Nhật, Mexico, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ) cho thấy tỉ lệ trầm cảm chủ yếu (major depression) tính theo đời người dao động từ 3% (ở Nhật Bản) cho đến 17% (ở Mỹ), với tỉ lệ phổ biến nhất là từ 8 đến 12% [49]. Xét về giới tính, các nghiên cứu đều cho thấy rằng trầm cảm xuất hiện ở nữ nhiều hơn nam giới. Nghiên cứu của Kessler, Chiu, WT, Demler, O và cộng sự cũng chỉ ra rằng, tỷ lệ nữ giới bị trầm cảm là 8% đến 10% trong khi đó tỷ lệ ở nam giới là 3% đến 5%. Xét về thời gian, trầm cảm có thể xuất hiện vào bất kỳ giai đo n nào trong cuộc đời, tuy nhiên ở nữ giới, trầm cảm xuất hiện sau khi sinh là khá phổ biến [50], [55]. Đối với người phụ nữ, mang thai, sinh con và làm mẹ được coi là sự kiện lớn trong cuộc đời, làm thay đổi cả về thể chất và tinh thần. Chính sự kiện sinh đẻ cũng được coi là một sang chấn đối với người phụ nữ. Những thay đổi trong đời sống tâm lý của phụ nữ sau sinh đã được khảo sát t i nhiều quốc gia trên thế giới và những cuộc khảo cứu này chỉ ra rằng khoảng 80% số phụ nữ xuất hiện các dấu hiệu của hội chứng buồn chán sau sinh (baby blues) vào ngày thứ 4 hoặc thứ 5 và đa số tự thuyên giảm vào ngày thứ 10 sau sinh mà không cần phải can thiệp [11]. Tuy vậy một số ít trường hợp không thể tự thuyên giảm và phát triển thành trầm cảm sau sinh. Theo khảo sát của bệnh viện Tâm thần Trung ương 2, có khoảng 10 -15% số phụ nữ bị TCSS và 0,1% đến 0,2% bị chứng lo n thần sau sinh [4]. So với hội chứng buồn chán sau sinh, mức độ trầm buồn của những trường hợp phụ nữ bị trầm cảm sau sinh cũng nặng hơn và thời gian xuất hiện các biểu hiện của trầm cảm cũng kéo dài hơn. Khi đó, người phụ nữ cần đến sự hỗ trợ của nhà tâm lý và can thiệp từ bác sĩ tâm thần. Những cảm xúc và hành vi tiêu cực ở người phụ nữ bị trầm cảm sau sinh không chỉ gây ảnh hưởng đáng kể tới bản thân người phụ nữ mà còn ảnh hưởng tiêu cực tới mối quan hệ hôn nhân, bầu không khí trong gia đình (Warner và cs.,1996), tác động tiêu cực đến sự phát triển tình cảm và xã hội của đứa trẻ mới sinh (Robinson & Stewart, 2001, Jacobsen.,1999) [51]. Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra những yếu tố liên quan tới TC ở PNSS, đó là yếu tố sinh học [38]; yếu tố thuộc sản khoa (sức kh e và tình tr ng bệnh thực thể khi mang thai, các tai biến sản khoa, hình thức sinh đẻ) [51], [85]; yếu tố tâm lý lâm sàng (bản thân hoặc người thân trong gia đình đã có tiền sử rối lo n tâm thần, rối lo n tâm thần trong thời kỳ mang thai) [39 ]; yếu tố tâm lý - xã hội như kiểu nhận thức tiêu cực hoặc đặc điểm tính khí của người phụ nữ [82]; đặc điểm mối quan hệ của người phụ nữ với chồng và những người thân (căng thẳng trong các mối quan hệ, sự quan tâm hỗ trợ của người thân, một sang chấn tâm lý xảy ra trước lúc sinh) [51], [82] và một số yếu tố xã hội khác như tình tr ng hôn nhân (bà mẹ đơn thân, ly hôn, ly thân) [39]; tình tr ng kinh tế xã hội thấp [39], [36] và tiểu sử sức kh e của bản thân người phụ nữ và của đứa trẻ [51]. Tất cả các yếu tố trên đây kết hợp với các nguyên nhân tâm lý như căng thẳng, tình tr ng của đứa trẻ, tính cách và kiểu nhận thức của người phụ nữ cũng có thể là những yếu tố nguy cơ dẫn đến TC ở PNSS. Trong những năm gần đây, vấn đề TC ở PNSS đã bắt đầu được nghiên cứu ở Việt Nam. Một số bệnh viện phụ sản trong cả nước bước đầu đã có những cuộc khảo sát về chủ đề này. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu này l i được thực hiện dưới góc độ tâm thần học hoặc y tế cộng đồng. Trong khi đó c n rất ít những nghiên cứu tiếp cận từ góc độ tâm lý học. Trên thực tế, TC ở PNSS không thể tách rời các yếu tố tâm lý - xã hội. Hơn nữa, những liệu pháp hỗ trợ tâm lý đã được chứng minh là rất hữu ích đối với chứng trầm cảm sau sinh, đặc biệt những người trầm cảm ở mức độ nhẹ. Khi người phụ nữ hiểu rõ được các yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến trầm cảm ở phụ nữ sau sinh, họ sẽ tự giúp bản thân có được những biện pháp ph ng ngừa hợp lý và giảm thiểu mức độ trầm cảm một cách hiệu quả. Từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Những yếu tố tâm lý -xã hội liên quan đến trầm cảm ở phụ nữ sau sinh”.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2ỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu, kết qủa nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu của người nào khác
Tác giả luận án
ê Thị Thanh Thủy
Trang 3ời cảm ơn
Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của PGS TS Nguyễn Sinh Phúc, thầy đã cho tôi những gợi ý ban đầu trong quá trình hình thành các ý tưởng nghiên cứu liên quan đến luận án Thầy sẵn sàng trợ giúp tôi bất cứ khi nào tôi gặp vướng mắc về kiến thức chuyên môn Có những thời điểm dù rất bận rộn nhưng thầy vẫn băn khoăn về vấn đề nghiên cứu của tôi, đây là tình cảm tôi vô cùng trân quý Tôi nghĩ mình rất may mắn khi là sinh viên của thầy từ khi còn học đại học và tôi tiếp tục được là nghiên cứu sinh dưới sự hướng dẫn của thầy Qua đây, cho tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Trong quá trình học tập, làm luận án của mình, tôi không thể không nhắc tới GS TS Trần Thị Minh Đức, người đã luôn gợi mở ý tưởng từ khi tôi còn chưa làm nghiên cứu sinh Cô là “người thầy” lớn, đã động viên tôi rất nhiều, nếu không có sự định hướng của cô, chưa chắc thời điểm này tôi đã là nghiên cứu sinh Cô là người đã luôn dẫn dắt tôi từ khi mới vào nghề Những lời viết này không thể bày tỏ hết sự chân thành nhưng cũng qua trang viết này, cho tôi gửi lời cảm ơn tới cô
Tôi nhận được sự hỗ trợ đầy trách nhiệm của các cán bộ thuộc Khoa Tâm lý học - Học viện Khoa học Xã hội Nếu không có sự giúp đỡ nhiệt tình của họ, tôi khó có thể thực hiện công việc của mình một cách trôi chảy và đúng thời hạn Nhân đây, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến với tất cả các thầy giáo, cô giáo của Khoa Tâm lý học - Học viện Khoa học xã hội
Có được thuận lợi trong quá trình làm luận án này, tôi không thể quên sự ủng hộ của Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp ở khoa Công tác xã hội, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam - những người đã tạo điều kiện và luôn động viên tôi Tôi xin chân thành cảm
ơn các thầy, cô và bạn bè, đồng nghiệp
Nhân đây tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của những người bạn ở các tỉnh, nơi
mà tôi thực hiện khảo sát để lấy số liệu Xin chân thành cảm ơn người bạn thân Hà Thị Huyền (Vĩnh Phúc), chị Đặng Thị Uyên (Hà Nội), chị Nguyễn Thị Loan (Sở Y tế quận Ngô Quyền, Hải Phòng) và một số em sinh viên đã giúp đỡ tôi khi thực hiện luận án Sau cùng, tôi xin cảm ơn những người vô cùng quan trọng đối với cuộc đời mình, là hai con, chồng, bố mẹ hai bên và những thành viên trong gia đình Họ luôn là động lực lớn để tôi hoàn thành luận án này
Hà Nội, tháng 6 năm 2016
Lê Thị Thanh Thủy
Trang 4MỤC ỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHI N CỨU VỀ NHỮNG YẾU TỐ TÂM Ý – XÃ HỘI I N QUAN ĐẾN TRẦM CẢM Ở PHỤ NỮ SAU SINH 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới 7
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 20
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ Ý UẬN VỀ NHỮNG YẾU TỐ TÂM LÝ – XÃ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN TRẦM CẢM Ở PHỤ NỮ SAU SINH 28
2.1 Trầm cảm ở phụ nữ sau sinh 28
2.2 Yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến trầm cảm ở phụ nữ sau sinh 34
2.3 Cơ sở lý luận của liệu pháp tham vấn nhận thức hành vi và liên cá nhân đối với trầm cảm ở phụ nữ sau sinh 49
CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU 56
3.1 Tổ chức nghiên cứu 56
3.2 Phương pháp nghiên cứu 62
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHI N CỨU THỰC TIỄN VỀ CÁC YẾU TỐ TÂM LÝ – XÃ HỘI I N QUAN ĐẾN TRẦM CẢM Ở PHỤ NỮ SAU SINH84 4.1 Mức độ và biểu hiện trầm cảm ở phụ nữ sau sinh 84
4.2 Yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến trầm cảm ở phụ nữ sau sinh 94
4.3 Trường hợp điển hình về phụ nữ bị trầm cảm sau sinh có những yếu tố tâm lý – xã hội liên quan 121
KẾT UẬN VÀ KIẾN NGH 132
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC I N QUAN ĐẾN UẬN ÁN 136
TÀI IỆU THAM KHẢO 137
PHỤ ỤC 147
Trang 5DSM - 5 : Theo Sổ tay ch n đoán và phân lo i bệnh tâm
thần của Hiệp hội tâm thần, tâm lý Hoa Kỳ ĐLC : Độ lệch chu n
ĐTB : Điểm trung bình
EPI : Thang đo nhân cách Eysenk
HNg –OĐ : Hướng ngo i ổn định
HNg – KOĐ : Hướng ngo i không ổn định
HN –OĐ : Hướng nội ổn định
HN – KOĐ : Hướng nội không ổn định
IPT : Liệu pháp liên cá nhân
NTV : Nhà tham vấn
PNSS : Phụ nữ sau sinh
TCSS : Trầm cảm sau sinh
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra độ tin cậy của các thang đo khảo sát 73
Bảng 3.3 Hệ số tải và nhân tố của thang đo trầm cảm sau sinh 76
Bảng 3.4 Hệ số tải và nhân tố của thang đo nhận thức 78
Bảng 4.1: Tỷ lệ phụ nữ bị trầm cảm sau sinh có biểu hiện nhận thức tiêu cực 87
Bảng 4.2: Tỷ lệ phụ nữ bị trầm cảm sau sinh có biểu hiện cảm xúc tiêu cực/
Bảng 4.3: Biểu hiện về mặt hành vi ở phụ nữ bị trầm cảm sau sinh 92
Bảng 4.4: Biểu hiện về mặt thực thể ở phụ nữ bị trầm cảm sau sinh 94
Bảng 4.5: Mô hình phân tích hồi quy kiểu nhận thức liên quan đến trầm cảm ở
Bảng 4.8: Mức độ xuất hiện của những suy nghĩ tiêu cực ở các nhóm phụ nữ
Bảng 4.9: Tương quan giữa đặc điểm nhân cách và biểu hiện của trầm cảm
Bảng 4.10: Biểu hiện nhận thức tiêu cực của trầm cảm sau sinh ở các nhóm
Bảng 4.11: Biểu hiện hành vi của trầm cảm sau sinh ở các nhóm phụ nữ có
Bảng 4.12: Sử dụng hồi quy tuyến tính để dự đoán mức độ nguy cơ trầm cảm
từ các đặc điểm nhân cách và yếu tố giao tiếp, sự kiện trước và sau sinh 109 Bảng 4.13: Nhân tố thuộc mối quan hệ của người phụ nữ và chồng trong thời
Bảng 4.14: Tương quan giữa mối quan hệ tiêu cực của vợ chồng với mức độ 114
Trang 7trầm cảm ở phụ nữ sau sinh
Bảng 4.15: Tương quan giữa mối quan hệ của người phụ nữ và người thân
Bảng 4.16: Dự báo của mối quan hệ đối với nguy cơ trầm cảm ở phụ nữ sau
Bảng 4.17: Tương quan giữa sự kiện sang chấn và mức độ trầm cảm 117
Bảng 4.18: Biểu hiện mối quan hệ tiêu cực với người thân ở các nhóm có trầm
Bảng 4.19: Tương quan giữa tình tr ng của đứa trẻ và mức độ trầm cảm sau
Bảng 4.20: So sánh mức độ trầm cảm ở các nhóm khách thể khác nhau 121
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Trang
Biểu đồ 4.1: Mức độ phụ nữ bị trầm cảm sau sinh 82
Biểu đồ 4.2: Mối liên quan giữa đặc điểm nhân cách và mức độ trầm cảm 103
Biểu đồ 4.3: So sánh biểu hiện cảm xúc của trầm cảm sau sinh ở các nhóm phụ
Biểu đồ 4.4: Sự khác biệt có ý nghĩa trong biểu hiện cảm xúc trầm cảm ở các
Biểu đồ 4.5: So sánh mức độ hỗ trợ, chia sẻ của người chồng với người phụ nữ
ở các nhóm có mức độ trầm cảm sau sinh khác nhau 112 Biểu đồ 4.6: So sánh một số biểu hiện mối quan hệ của người phụ nữ và chồng
Biểu đồ 4.7: Mức độ trầm cảm ở các nhóm phụ nữ thuộc gia đình có thu nhập
Hình 3.2: Mô tả về trường hợp phụ nữ bị trầm cảm sau sinh 117
Hình 4.1: Tương quan giữa kiểu nhận thức với biểu hiện cảm xúc và hành vi
Hình 4.2: Mô tả về trường hợp phụ nữ bị trầm cảm sau sinh 123
Hình 4.3: Mối quan hệ giữa nhận thức và các biểu hiện của trầm cảm 129
Hộp 1: Một số nội dung chia sẻ trên m ng xã hội của phụ nữ có biểu hiện trầm
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trầm cảm là một d ng rối lo n cảm xúc phổ biến xuất hiện ngày càng nhiều trên thế giới (Ranga Krishnan, 2010) Những nghiên cứu về trầm cảm trên người trưởng thành ở 10 quốc gia (Brazil, Canada, Chile, Cộng h a Czech, Đức, Nhật, Mexico, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ) cho thấy tỉ lệ trầm cảm chủ yếu (major depression) tính theo đời người dao động từ 3% (ở Nhật Bản) cho đến 17% (ở Mỹ), với tỉ lệ phổ biến nhất là từ 8 đến 12% [49] Xét về giới tính, các nghiên cứu đều cho thấy rằng trầm cảm xuất hiện ở nữ nhiều hơn nam giới Nghiên cứu của Kessler, Chiu, WT, Demler, O và cộng sự cũng chỉ ra rằng, tỷ lệ nữ giới bị trầm cảm là 8% đến 10% trong khi đó tỷ lệ ở nam giới là 3% đến 5% Xét về thời gian, trầm cảm có thể xuất hiện vào bất kỳ giai đo n nào trong cuộc đời, tuy nhiên ở nữ giới, trầm cảm xuất hiện sau khi sinh là khá phổ biến [50], [55]
Đối với người phụ nữ, mang thai, sinh con và làm mẹ được coi là sự kiện lớn trong cuộc đời, làm thay đổi cả về thể chất và tinh thần Chính sự kiện sinh đẻ cũng được coi là một sang chấn đối với người phụ nữ Những thay đổi trong đời sống tâm
lý của phụ nữ sau sinh đã được khảo sát t i nhiều quốc gia trên thế giới và những cuộc khảo cứu này chỉ ra rằng khoảng 80% số phụ nữ xuất hiện các dấu hiệu của hội chứng buồn chán sau sinh (baby blues) vào ngày thứ 4 hoặc thứ 5 và đa số tự thuyên giảm vào ngày thứ 10 sau sinh mà không cần phải can thiệp [11] Tuy vậy một số ít trường hợp không thể tự thuyên giảm và phát triển thành trầm cảm sau sinh Theo khảo sát của bệnh viện Tâm thần Trung ương 2, có khoảng 10 -15% số phụ nữ bị TCSS và 0,1% đến 0,2% bị chứng lo n thần sau sinh [4] So với hội chứng buồn chán sau sinh, mức độ trầm buồn của những trường hợp phụ nữ bị trầm cảm sau sinh cũng nặng hơn và thời gian xuất hiện các biểu hiện của trầm cảm cũng kéo dài hơn Khi đó, người phụ nữ cần đến sự hỗ trợ của nhà tâm lý và can thiệp từ bác sĩ tâm thần Những cảm xúc và hành vi tiêu cực ở người phụ nữ bị trầm cảm sau sinh không chỉ gây ảnh hưởng đáng kể tới bản thân người phụ nữ mà còn ảnh
Trang 102
hưởng tiêu cực tới mối quan hệ hôn nhân, bầu không khí trong gia đình (Warner và cs.,1996), tác động tiêu cực đến sự phát triển tình cảm và xã hội của đứa trẻ mới sinh (Robinson & Stewart, 2001, Jacobsen.,1999) [51]
Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra những yếu tố liên quan tới TC ở PNSS, đó là yếu tố sinh học [38]; yếu tố thuộc sản khoa (sức kh e và tình tr ng bệnh thực thể khi mang thai, các tai biến sản khoa, hình thức sinh đẻ) [51], [85]; yếu
tố tâm lý lâm sàng (bản thân hoặc người thân trong gia đình đã có tiền sử rối lo n tâm thần, rối lo n tâm thần trong thời kỳ mang thai) [39 ]; yếu tố tâm lý - xã hội như kiểu nhận thức tiêu cực hoặc đặc điểm tính khí của người phụ nữ [82]; đặc điểm mối quan hệ của người phụ nữ với chồng và những người thân (căng thẳng trong các mối quan hệ, sự quan tâm hỗ trợ của người thân, một sang chấn tâm lý xảy ra trước lúc sinh) [51], [82] và một số yếu tố xã hội khác như tình tr ng hôn nhân (bà mẹ đơn thân, ly hôn, ly thân) [39]; tình tr ng kinh tế xã hội thấp [39], [36]
và tiểu sử sức kh e của bản thân người phụ nữ và của đứa trẻ [51] Tất cả các yếu tố trên đây kết hợp với các nguyên nhân tâm lý như căng thẳng, tình tr ng của đứa trẻ, tính cách và kiểu nhận thức của người phụ nữ cũng có thể là những yếu tố nguy cơ dẫn đến TC ở PNSS
Trong những năm gần đây, vấn đề TC ở PNSS đã bắt đầu được nghiên cứu ở Việt Nam Một số bệnh viện phụ sản trong cả nước bước đầu đã có những cuộc khảo sát về chủ đề này Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu này l i được thực hiện dưới góc độ tâm thần học hoặc y tế cộng đồng Trong khi đó c n rất ít những nghiên cứu tiếp cận từ góc độ tâm lý học Trên thực tế, TC ở PNSS không thể tách rời các yếu tố tâm lý - xã hội Hơn nữa, những liệu pháp hỗ trợ tâm lý đã được chứng minh là rất hữu ích đối với chứng trầm cảm sau sinh, đặc biệt những người trầm cảm ở mức độ nhẹ
Khi người phụ nữ hiểu rõ được các yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến trầm cảm ở phụ nữ sau sinh, họ sẽ tự giúp bản thân có được những biện pháp ph ng ngừa hợp lý và giảm thiểu mức độ trầm cảm một cách hiệu quả Từ những lý do trên,
chúng tôi thực hiện đề tài “Những yếu tố tâm lý -xã hội liên quan đến trầm cảm ở phụ nữ sau sinh”
Trang 113
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHI N CỨU CỦA UẬN ÁN
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những biểu hiện và mức độ liên quan của một số yếu tố tâm lý -
xã hội với trầm cảm (TC) ở PNSS (phụ nữ sau sinh) Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp tâm lý - xã hội góp phần giúp PNSS ph ng ngừa và ứng phó tốt với TCSS
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
a Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Hệ thống hóa lý luận về những yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến TC ở PNSS, cụ thể là mối liên quan giữa kiểu nhận thức, đặc điểm nhân cách, đặc điểm mối quan hệ của người PNSS với trầm cảm
b Nhiệm vụ nghiên cứu thực ti n
Phân tích được biểu hiện và mức độ liên quan giữa TC ở PNSS với những yếu
tố tâm lý – xã hội, cụ thể là kiểu nhận thức, đặc điểm nhân cách, đặc điểm mối quan
hệ của người phụ nữ
Mô tả trường hợp người PNSS bị TC có những yếu tố tâm lý – xã hội liên quan, từ đó đề xuất một số biện pháp tham vấn cá nhân nhằm giúp người phụ nữ sau sinh giảm thiểu, phòng ngừa và ứng phó hiệu quả với TCSS
3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHI N CỨU CỦA UẬN ÁN
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ liên quan của các yếu tố tâm lý – xã hội (kiểu nhận thức, đặc điểm nhân cách, đặc điểm mối quan hệ và một số đặc điểm xã hội khác của người phụ nữ) với TC ở PNSS
3.2 Phạm vi nghiên cứu
a Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Luận án không đi sâu điều tra, phân tích các biểu hiện của TCSS ở khía c nh sinh lý mà chỉ tập trung nghiên cứu biểu hiện và mức độ liên quan của những yếu tố tâm lý – xã hội với TC ở PNSS Cụ thể là kiểu nhận thức, đặc điểm nhân cách, đặc điểm mối quan hệ và một số yếu tố xã hội thuộc về đặc điểm nhân kh u của người phụ nữ tác động tới sự hình thành và phát triển TC ở PNSS
Trang 124
b Phạm vi về khách thể nghiên cứu
- Khách thể được khảo sát trực tiếp bằng bảng h i: 366 phụ nữ có con từ 0-2
tuổi
- Khách thể được ph ng vấn sâu: 3 người (03 phụ nữ bị TCSS)
c Phạm vi về địa bàn nghiên cứu
Luận án thực hiện khảo sát trên nhóm phụ nữ sinh sống trên địa bàn nội và ngo i thành của thành phố Hà Nội; Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Ph ng; Huyện Lập Th ch, tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Nam Định và tỉnh Sơn La
Địa điểm chúng tôi lựa chọn khách thể là ph ng tiêm chủng và trường mầm non tư thục của các quận, huyện Do vậy nghiên cứu chỉ thực hiện trên nhóm khách thể có con học mẫu giáo và tiêm chủng Những khách thể có rối lo n đi kèm sẽ bị
lo i trừ, không đưa vào nghiên cứu
4 PHƯƠNG PHÁP UẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU CỦA UẬN ÁN 4.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của tâm lý học gồm nguyên tắc
ho t động, nguyên tắc duy vật biện chứng lịch sử và nguyên tắc liên ngành
- Nguyên tắc ho t động: Tâm lý của con người được hình thành và biểu hiện trong quá trình ho t động Thêm vào đó, hành vi của con người chịu sự chi phối của niềm tin, thái độ, do vậy khi nghiên cứu những biểu hiện tâm lý của người phụ nữ
bị TCSS cần phải xem xét đến cảm xúc, nhận thức, niềm tin chứa đựng trong các hành vi của họ
- Nguyên tắc duy vật biện chứng lịch sử: Nguyên tắc này đ i h i khi nghiên cứu các biểu hiện tâm lý, các yếu tố liên quan tới TCSS cần xem xét người phụ nữ trong các mối quan hệ, trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể
- Nguyên tắc liên ngành: Trầm cảm ở PNSS có những biểu hiện trên các bình diện tâm lý, thần kinh, sinh lý và tâm thần Để giải quyết triệt để vấn đề trầm cảm, các ngành như sinh lý học thần kinh, tâm thần học, tâm lý học, dược lý học, công tác xã hội… cũng đều quan tâm, nghiên cứu, do vậy nghiên cứu tiếp cận theo hướng liên ngành là điều cần thiết
Trang 135
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích văn bản và tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng phiếu h i
- Phương pháp ph ng vấn sâu
- Phương pháp trắc nghiệm: Trắc nghiệm đánh giá mức độ TC, kiểu nhận thức, đặc điểm nhân cách
- Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê phân tích số liệu spss
- Phương pháp tác động thực nghiệm: Tham vấn cá nhân
5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA UẬN ÁN
5.1 Đóng góp về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp vào hệ thống lý luận về TC và TC ở PNSS, những yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến TC ở PNSS Sự đóng góp về mặt
lý luận của luận án được biểu hiện cụ thể ở một số nội dung sau:
Luận án nêu lên được những xu hướng nghiên cứu chính liên quan đến vấn
đề TCSS và các yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến TCSS trên thế giới và ở Việt Nam Các nghiên cứu tổng quan về TC ở PNSS tập trung vào các khía c nh như dịch tễ, yếu tố ảnh hưởng, cách thức can thiệp, từ đó cho người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề
Luận án xác định được các khái niệm cơ bản gồm: yếu tố tâm lý – xã hội, liên quan, TC ở phụ nữ sau sinh, những yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến TC ở PNSS
Dựa trên các cách tiếp cận của tâm lý học, cụ thể là lý thuyết tâm lý học nhận thức, tâm lý học nhân cách, giao tiếp, luận án đưa ra những luận điểm về lý thuyết
để chỉ ra các yếu tố tâm lý – xã hội có liên quan đến TCSS
5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu thực tiễn xác định được tỷ lệ và biểu hiện của phụ nữ bị TCSS ở các mức độ khác nhau Bên c nh đó luận án cũng chỉ ra những biểu hiện đặc trưng của TC ở PNSS trên khía c nh sinh lý và tâm lý
Luận án góp phần làm sáng t mối liên hệ giữa những yếu tố tâm lý – xã hội gồm kiểu nhận thức, đặc điểm nhân cách và đặc điểm mối quan hệ và một số yếu tố
Trang 146 Ý NGHĨA Ý UẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA UẬN ÁN
6.1 Ý nghĩa lý luận
Trầm cảm và TCSS là một vấn đề rất phổ biến trong cả lĩnh vực Tâm lý học
và Tâm thần học, luận án này làm phong phú hơn hệ thống lý thuyết về trầm cảm trong lĩnh vực Tâm lý học
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các nhà nghiên cứu, thực hành trong lĩnh vực Tâm lý học, Tâm thần học, Công tác xã hội có thể sử dụng luận án như một tài liệu tham khảo phục vụ cho quá trình nghiên cứu,can thiệp và ho ch định các chính sách cho nhóm phụ nữ
Luận án cũng có ý nghĩa như một ho t động truyền thông vấn đề TC ở PNSS
để chính người phụ nữ và người thân của họ được tăng cường nhận thức về TCSS,
từ đó có biện pháp ph ng ngừa và hỗ trợ
7 CƠ CẤU CỦA UẬN ÁN
Luận án gồm những phần sau:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về những yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến TC ở PNSS
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về một số yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến trầm cảm ở phụ nữ sau sinh
Kết luận và kiến nghị
Danh mục công trình đã công bố của tác giả
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 157
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHI N CỨU VỀ NHỮNG YẾU TỐ TÂM Ý –
XÃ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN TRẦM CẢM Ở PHỤ NỮ SAU SINH
Trầm cảm (TC) ở phụ nữ sau sinh (PNSS) là một trong những rối lo n tâm thần phổ biến, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người phụ nữ, tình tr ng hôn nhân và sự phát triển cảm xúc, xã hội, nhận thức và liên nhân cách của đứa trẻ [27],[30], [19], [24], [36], [43], 30], [46] Nếu bệnh TC ở PNSS không được điều trị dứt điểm có thể sẽ tái diễn và phát triển thành mãn tính, để l i hậu quả lâu dài (Cooper & Murray,1995; Henshaw, Foreman & Cox, 2004; Philipps & O’Hara, 1991) [75] Hiện nay vấn đề trầm cảm ở PNSS được nghiên cứu dưới góc độ khảo sát thực tr ng (mức độ phổ biến), các yếu tố nguy cơ và ph ng ngừa, can thiệp Dưới đây chúng tôi sẽ khái quát các công trình được nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về lĩnh vực này
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới về những yếu tố tâm lý - xã hội liên quan đến trầm cảm ở phụ nữ sau sinh
1.1.1 Hướng nghiên cứu dịch tễ học về trầm cảm ở phụ nữ sau sinh
Nghiên cứu về sự thay đổi khí sắc ở PNSS đã được ghi nhận từ thời Hippocrates (Miller, 2002) [36] Các nghiên cứu chỉ ra rằng sau sinh, đặc biệt trong tháng đầu tiên sau sinh là quãng thời gian mà người phụ nữ gia tăng nguy cơ phát triển các bệnh tâm thần hơn bất kỳ thời điểm nào trong cả cuộc đời Có khoảng từ 8 – 15% phụ nữ có thể bị TCSS [82] Nghiên cứu của Boyce (2003), Mosack & Shore (2006) và St Pierre (2007) cho thấy có từ 13-15% phụ nữ bị TCSS và 70% phụ nữ có những dấu hiệu liên quan đến TC (các triệu chứng chưa đáp ứng đủ tiêu chu n ch n đoán TC và vẫn được gọi là “baby blues”) Trong 2 năm 2008 và 2009, một vài nghiên cứu cho thấy rằng số lượng phụ nữ bị TC sau sinh dao động từ 15-25% [29]
So sánh về mức độ phụ nữ bị TCSS ở các vùng miền khác nhau, nghiên cứu của Kumar và Robson (1984), O’Hara Swain (1996) chỉ ra rằng, tỷ lệ sản phụ ở các nước phương Tây bị TCSS là 10-15%, có 12.5% số phụ nữ đã phải nhập viện tâm thần sau khi sinh (Duffy, 1983) Phụ nữ rập bị TCSS là 15.8%,16% phụ nữ ở
Trang 161.1.2 Hướng nghiên cứu về những yếu tố liên quan đến trầm cảm ở phụ nữ sau sinh
Tính đến thời điểm hiện nay, các nghiên cứu vẫn chưa chỉ ra những nguyên nhân rõ ràng của TC ở PNSS Tuy nhiên, ở người PNSS có những yếu tố liên quan được cho là nguy cơ dẫn đến trầm cảm, đó là: Yếu tố sinh học (gen, tăng/giảm hooc môn sinh sản, tăng/giảm lượng progesterone và estrogen, sự thay đổi của tuyến giáp, v.v), yếu tố thuộc sản khoa (sức kh e và tình tr ng bệnh thực thể khi mang thai, các tai biến sản khoa, hình thức sinh đẻ); yếu tố lâm sàng (bản thân người phụ
nữ hoặc người thân trong gia đình đã có tiền sử rối lo n tâm thần, rối lo n tâm thần trong thời kỳ mang thai) và yếu tố tâm lý - xã hội như nhận thức tiêu cực của bà mẹ, tình tr ng bà mẹ đơn thân, mối quan hệ không tốt với chồng, tình tr ng kinh tế xã hội thấp (Gado, Kraemer,.2003; Kendler, Gardner, Prescott.,2006; Green, McLaughlin, Berglund và cs.,2010; Rosenquist, Fowler, Christakis,2010) [dẫn theo 36]
Những nguy cơ dẫn đến trầm cảm ở PNSS được các tác giả nghiên cứu phân
lo i theo 3 cách sau [49]:
Cách 1: Nhóm yếu tố nguy cơ bên trong, nhóm yếu tố bên ngoài và các sự kiện gây bất lợi
Cách 2: Nhóm yếu tố sinh học, nhóm yếu tố tâm lý, nhóm yếu tố xã hội
Cách 3: Nhóm yếu tố chủ quan và nhóm yếu tố khách quan
Mặc dù được phân thành các nhóm khác nhau nhưng các yếu tố nguy cơ dẫn đến trầm cảm ở PNSS về cơ bản vẫn thuộc yếu tố sinh học và tâm lý - xã hội Trong
ph m vi của luận án này, chúng tôi sẽ trình bày theo cách phân lo i thứ nhất, tuy nhiên, chúng tôi chỉ tổng quan một cách ngắn gọn về yếu tố sinh học và tập trung
Trang 17Yếu tố thứ 2 được đề cập đến nghiên cứu về TC từ góc độ sinh học là các chất dẫn truyền thần kinh Đó là các chất trung gian hóa học như Serotonin, dopamine, norepinephrine, epinephrin [102] Tác dụng sinh lý của norepinephrine góp phần giải thích một vài triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân TC như mất năng lượng, mau mệt m i, giảm tập trung chú ý [87], [54] Sự phóng chiếu của các tế bào thần kinh norepinephrine đến hệ thống viền như vùng h nh nhân, hồi cá ngựa (hippocampus) và vùng dưới đồi có liên quan đến các triệu chứng cảm xúc, nhận thức cũng như những thay đổi về sự ngon miệng, chức năng tình dục, nh y cảm với cảm giác đau ở bệnh nhân TC [7] Nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh nhân TC và những người đau buồn do mất người thân có bất thường về hệ miễn dịch, liên quan đến rối lo n điều hòa nồng độ cortisol của vùng h đồi [38]
Yếu tố thứ 3 được cho là nguyên nhân gây nên TC sau sinh là sự tăng quá mức của lượng hoocmon khi người phụ nữ vừa mới sinh Ở người phụ nữ sau sinh, yếu tố được xem xét như là nguyên nhân quan trọng dẫn đến TC là do sự thay đổi hooc môn sau khi sinh [dẫn theo 7]
Tiếp cận theo góc độ sinh học cho thấy các cá nhân bị TC thường bị xáo trộn đáng kể liên quan đến nội tiết (hormone), miễn dịch, và chức năng hệ thống chất dẫn truyền thần kinh Ngoài ra, TC có thể làm cho một người dễ bị tổn thương phát
Trang 1810
triển một lo t các rối lo n thể chất Tương tự như vậy, một người có một rối lo n thể chất thường có khả năng phát triển TC Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng các gen có thể ảnh hưởng đến di truyền TC từ thế hệ này sang thế hệ khác [18]
1.1.2.2 Yếu tố tâm lý - xã hội
Khi nghiên cứu về yếu tố nguy cơ gây TC ở PNSS, một số yếu tố tâm lý xã hội như kiểu nhận thức, tính không ổn định của hệ thần kinh, khí chất hướng nội và hướng ngo i (thuộc đặc điểm nhân cách), đặc điểm mối quan hệ của người phụ nữ với chồng và người thân, khí sắc của bà mẹ trong quá trình mang thai, tiền sử bệnh
TC, đặc điểm kinh tế gia đình được chỉ ra có tính tương quan với mức độ TC
a Kiểu nhận thức
Trong những năm cuối của thế kỷ 20, lĩnh vực tâm lý học nói chung và nghiên cứu về TC nói riêng bị chi phối m nh bởi những lý thuyết tập trung vào nhận thức hơn là hành vi bên ngoài Những quan điểm của các tác giả thuộc trường phái Tâm lý học nhận thức đều xem xét các yếu tố nhận thức như là nguyên nhân của tình tr ng đau khổ và các triệu chứng TC
Lý thuyết nhận thức của Aron Beck và Clark khi nghiên cứu về TC được chấp nhận khá rộng rãi Theo Beck và Clark thì các sự kiện tiêu cực chưa hẳn đã dẫn tới TC mà cần thông qua một “bộ lọc” và đó là những suy nghĩ méo mó, sai lệch [12], [33]
Kiểu quy kết nhận thức được xem là yếu tố dự đoán TC ở PNSS Đây là nội dung được phản ánh trong lý thuyết tuyệt vọng (hopelessness theory) và lý thuyết cách thức phản ứng (response styles theory) Theo lý thuyết tuyệt vọng, cách suy nghĩ tiêu cực là những chỉ báo tin cậy dự đoán trầm cảm bởi sự quy kết trầm buồn thường diễn ra cùng với khí sắc trầm (Barnett và Gotlib,1988) [dẫn theo 69] Kết quả nghiên cứu của O’Hara và Swan (1996) phân tích trên 13 nghiên cứu với hơn 1300 phụ nữ đã cho thấy cách suy nghĩ tiêu cực có liên quan với các triệu chứng của trầm cảm sau sinh ở mức độ cao [49] Luận điểm này tiếp tục được khẳng định và cập nhật vào năm 1989 trong nghiên cứu của Abramson và cộng sự [28]
Trang 19Theo lý thuyết cách thức phản ứng (Nolen - Hoeksema, 1991), xu hướng phản ứng với cảm xúc tiêu cực bằng cách tự dằn vặt hoặc lặp đi lặp l i suy nghĩ về việc t i sao mình l i có cảm xúc trầm buồn (ví dụ t i sao mình l i buồn, t i sao mình l i không vui được như người khác.v.v ) có thể là yếu tố đóng góp vào sự phát triển và duy trì trầm cảm (Cutrona, 1983; O’Hara, Rehm, & Campbell, 1982) [dẫn theo 101]
Hai tác giả (Hewitt & Flett, 2002) có đề cập đến lý thuyết hoàn hảo (chủ nghĩa cầu toàn) như là một kiểu nhận thức có liên quan đến TC ở PNSS Cầu toàn là một cấu trúc đa chiều mà ở đó các cá nhân có những kỳ vọng thực hiện nó một cách hoàn mỹ ở nhiều phương diện Những chiều hướng của sự cầu toàn được xác định bởi động cơ đằng sau những kỳ vọng và đối tượng của sự mong đợi
b Đặc điểm nhân cách
Mặc dù mối quan hệ giữa nhân cách và bệnh TC vẫn c n là vấn đề phức t p cần nghiên cứu, tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng các nét nhân cách như nhiễu tâm, tránh tổn thương, hướng nội, sự phụ thuộc, tự chỉ trích bản thân hoặc quá cầu toàn là những yếu tố có liên quan đến TC Hơn thế nữa, các nét nhân cách, đặc biệt là tính nhiễu tâm có thể giải thích cho việc gia tăng số lượng phụ nữ bị TC (Goodwin & Gotlib, 2004) Nghiên cứu năm 1968 của Pitt đã cho thấy phụ nữ bị TCSS chiếm tỷ lệ cao ở người có tính nhiễu tâm và có tỷ lệ thấp ở người có tính hướng ngo i Luận điểm này của Pitt được tiếp tục khẳng định ở kết quả nghiên cứu của Dudley (2001) và Podolska (2010) [95]
Trong nhân cách của cá nhân, có thể có một vài đặc điểm ảnh hưởng đến những trải nghiệm TC một cách dữ dội hơn hoặc kéo dài lâu hơn Những đặc điểm nhân cách này có thể bao gồm khuynh hướng hủy ho i, tự chỉ trích bản thân, tự
Trang 2012
khiển trách bản thân, trải nghiệm cảm giác tội lỗi và xấu hổ, khó bộc lộ sự giận
dữ, kỹ năng ứng phó nghèo nàn Những nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan giữa nhân cách và TC đã cho thấy những tính cách nêu trên thường phổ biến ở người bệnh TC [94]
Tính không ổn định của hệ thần kinh/ Nhiễu tâm (neuroticism) có thể được
hiểu như một lo i rối lo n tâm lý của cá nhân, thường biểu hiện bằng sự buồn phiền,
tự đánh giá thấp về bản thân, rối lo n lo âu sớm nhưng vẫn có suy nghĩ hợp lý và duy trì tốt các chức năng xã hội Nhiễu tâm đã được xem xét trong 5 nghiên cứu với
550 phụ nữ trước sinh và cho thấy đây cũng là yếu tố dự báo cho trầm cảm ở PNSS, tuy điểm chỉ đ t mức trung bình (O’Hara & Swain, 1996) [49] Kết quả này được khẳng định l i trong các nghiên cứu tiếp theo khi phát hiện thấy các điểm đánh giá nhiễu tâm có mối quan hệ ý nghĩa với trầm cảm ở PNSS (Lee và cs 2000) Johnstone và cs (2001) đã chỉ ra rằng những người phụ nữ hay bồn chồn, xấu hổ hoặc lo lắng thái quá thường có xu hướng dẫn đến trầm cảm [52]
c Đặc điểm mối quan hệ
Lý thuyết liên cá nhân khẳng định rằng sự đổ v / xung đột trong một mối quan hệ nào đó, đặc biệt là mối quan hệ với chồng hoặc các thành viên khác trong gia đình, các mối quan hệ trong công việc; mất đi một người thân trong quá trình mang thai đã được xác định là có liên quan đến TC ở người PNSS [84] Một số tác giả lớn đ i diện cho thuyết liên cá nhân như Weissman, Cramer, Klerman, Rounsaville và Chevron đều nhấn m nh đến vai tr của các mối quan hệ trong quá trình khởi phát và tiến triển của bệnh TC Những tác giả này cho rằng, sự tương tác của cá nhân với môi trường xã hội xung quanh họ có thể quyết định tới việc gia tăng các triệu chứng TC Một cá nhân bị TC là do mối quan hệ của họ bị rối lo n Lý thuyết này tập trung vào 2 điểm chính là: Tìm kiếm sự đảm bảo quá mức và nhận thức thấp về địa vị/ giá trị của bản thân [96]
Đặc điểm mối quan hệ của người phụ nữ với chồng
Đối với người phụ nữ, cảm nhận về sự thay đổi trong mối quan hệ vợ chồng sau khi sinh rất quan trọng Một số kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sau khi sinh, mối quan hệ của người phụ nữ và chồng đã được thay đổi về “chất” và người phụ nữ
Trang 2113
cảm nhận, định d ng rõ được sự thay đổi này Cả hai vợ chồng đều cảm nhận và trải
nghiệm vai trò làm cha mẹ, mặc dù sự trải nghiệm này ở hai người rất khác nhau
Tâm thế sẵn sàng làm mẹ của người phụ nữ có thể tác động tới quá trình hình thành TC Vandenberg (1980) đã thực hiện nghiên cứu về mối tương quan giữa trầm cảm sau sinh và sự sẵn sàng làm mẹ Tác giả mô tả những người phụ nữ bị TCSS là những người chưa có sự chu n bị cho việc làm mẹ và có sự xung đột trong vai tr làm mẹ [59]
Tìm hiểu về mối liên quan giữa các sự kiện trong mối quan hệ vợ chồng và
sự khởi phát TCSS đã được xác định bởi hai tác giả Brown & Harris (1978) [dẫn theo 74] Hai tác giả cho rằng những trải nghiệm trong cuộc sống như cái chết của một người thân yêu, đổ v một mối quan hệ, ly dị, đều được coi là những nguyên nhân có thể gây ra stress và có thể chuyển sang giai đo n trầm cảm ở những người chưa hề có tiền sử rối lo n tâm thần [63]
+ Trục trặc trong mối quan hệ hôn nhân khi mang thai và sinh con làm gia tăng nguy cơ của trầm cảm ở PNSS [35] Khi thực hiện nghiên cứu về mối liên hệ giữa trầm cảm sau sinh và vấn đề hôn nhân, hầu như các tác giả sử dụng bảng câu
h i đo mức độ hài l ng trong mối quan hệ vợ chồng Các bảng câu h i này được thiết kế một cách đơn giản, theo thang đo của Likert Bảng h i này có thể do người nghiên cứu trực tiếp ph ng vấn hoặc để khách thể tự điền Một số thang đo được dùng, ví dụ thang đo điều chỉnh cặp đôi DYAS1 Những kết quả từ sáu nghiên cứu, thực hiện trên hơn 1100 khách thể có sử dụng DYAS chỉ ra rằng sự hài l ng trong mối quan hệ hôn nhân liên quan tuy không lớn nhưng có ý nghĩa với triệu chứng trầm cảm [49]
Khi một đứa trẻ chào đời thì tầm quan trọng của những thay đổi về khía c nh tâm lý xã hội trong gia đình không nên được đánh giá thấp Khi có thêm gánh nặng chăm sóc con cái, mối quan hệ giữa người phụ nữ và chồng có thể nặng nề hơn và cũng ít có thời gian cho xã hội hơn
1 DYAS là thang đo tự thuật nhằm đo sự hài l ng về chất lượng mối quan hệ hôn nhân, đã được chứng minh
về độ tin cậy và hiệu lực trong đo đ c,
Trang 2214
Trong thời điểm sau sinh, sự hỗ trợ của người chồng trong việc chăm sóc con cái và chia sẻ cảm xúc với vợ là yếu tố quan trọng giúp người phụ nữ ph ng ngừa hoặc “thoát” kh i vấn đề TC Nghiên cứu của Robinson và Stewart (2001) cho thấy một số cặp vợ chồng chấp nhận vai tr truyền thống của vợ hoặc chồng nhưng một
số cặp khác đã phải tổ chức l i hệ thống gia đình [38] O’Hara, Rehm và Campbell (1983) nghiên cứu nhận thức về hỗ trợ xã hội chỉ ra rằng những phụ nữ sau sinh bị trầm cảm thường thiếu sự hỗ trợ của người chồng trong việc thực hiện các nhiệm vụ
và nâng đ về cảm xúc sau sinh
Đặc điểm mối quan hệ của người phụ nữ với người thân
Những sang chấn xảy ra trong mối quan hệ như tổn thương kéo dài trong thời kỳ thơ ấu hoặc khi trưởng thành, mức độ gắn bó với cha mẹ thấp, bố mẹ hoặc bản thân ly dị, trình độ giáo dục thấp cùng với những sự kiện bên ngoài như cha mẹ
l m dụng chất hoặc ph m tội có thể liên quan đến bệnh TC ở PNSS [42]
Sự hỗ trợ của gia đình, người thân cũng đóng góp vào những nguyên nhân gây nên bệnh TC ở người PNSS Trong quá trình nuôi con nh , người mẹ thường có
xu hướng thực hiện phần lớn các nhiệm vụ (của cả cha và mẹ) và khi phải quyết định, thực hiện các vai tr mới có thể sẽ ảnh hưởng đến công việc và thích nghi với những thay đổi cần thiết Một số nghiên cứu đánh giá vai tr của hỗ trợ xã hội trong việc giảm trầm cảm sau sinh cho thấy rằng PNSS nhận được sự hỗ trợ xã hội qua
b n bè và những người thân, đặc biệt của người chồng trong thời gian stress được cho là yếu tố bảo vệ để chống l i sự phát triển của trầm cảm [73] Những phụ nữ bị TCSS cũng ít nhận được sự hỗ trợ từ b n bè và cha mẹ trong quá trình ở cữ [61] Kết quả này được khẳng định thêm một lần nữa ở nghiên cứu thứ 2 của O’Hara (O'Hara, 1986)
Sự chỉ trích, cô lập, đánh giá tiêu cực, can thiệp quá mức vào đời sống cảm xúc của PNSS từ các thành viên trong gia đình cũng là yếu tố nguy cơ dẫn tới sự khởi phát TC hoặc những giai đo n TC kéo dài ở PNSS [30], [45], [46], [62], [65] Bowlby (1978, 1981) là người đề cập nhiều đến sự phát triển của cá nhân gắn với các mối quan hệ, đồng thời phát triển lý thuyết phân tâm xa hơn khi cho rằng việc
Trang 23LM, Reid AJ, Midmer DK, Biringer A, Carroll JC, Stewart DE chỉ ra trong bài báo
“Những yếu tố nguy cơ về tâm lý xã hội trước sinh có liên quan tới những vấn đề gia đình của PNSS” [69]
d Một số yếu tố xã hội khác
Kết quả từ nhiều nghiên cứu cho thấy những sự kiện căng thẳng, ngay cả khi các sự kiện chỉ xảy ra trong quá trình mang thai (không xảy ra trong thời gian ở cữ) vẫn là những yếu tố nguy cơ dẫn đến sự phát triển của TCSS Những căng thẳng trong cuộc sống có thể mang nghĩa tích cực hoặc tiêu cực nhưng nó cũng t o nên sự thay đổi cho người phụ nữ Một số sự kiện cuộc sống diễn ra trong thời kỳ người phụ nữ mang thai và sau sinh có thể ảnh hưởng tới vấn đề TCSS như: thay đổi nghề nghiệp, các khủng hoảng do tai n n, trộm cắp, mất mát tài chính, bệnh tật phải nhập viện [37], [39]
Vai tr của yếu tố kinh tế xã hội trong các nguyên nhân gây ra rối lo n tâm thần nói chung và trầm cảm nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Các chỉ số cho thấy sự thiếu thốn về kinh tế xã hội như thất nghiệp, thu nhập thấp, học vấn thấp được coi là những yếu tố nguy cơ trong rối lo n tâm thần (Bartley,1994; Jenkins, 1985; Patel và cs., 1999; Weich và cs., 1997; World Health Organization, 2001) [dẫn theo 26] Thiếu thốn về kinh tế xã hội cũng đã được nghiên cứu như là một trong các nguyên nhân của trầm cảm sau sinh O’Hara và Swain (1996) đã phân tích 14 nghiên cứu, thực hiện trên 1650 khách thể cho thấy có mối liên hệ giữa tình
tr ng kinh tế xã hội và TCSS Nghiên cứu kết luận rằng những chỉ số như thu nhập thấp, tình tr ng việc làm và địa vị của phụ nữ trong xã hội là yếu tố dự báo có mối quan hệ tuy nh nhưng có ý nghĩa với TCSS Beck (2001) đã phân tích 8 nghiên cứu trên 1732 khách thể và tìm thấy rằng có mối liên quan (tuy không lớn) giữa tình
tr ng kinh tế xã hội và trầm cảm sau sinh Những kết luận từ các nghiên cứu này
Trang 24Tác giả Warner và cs (1996) chỉ ra trong kết quả nghiên cứu rằng các bà mẹ thất nghiệp hoặc gia đình có chồng thất nghiệp có nguy cơ bị TCSS cao hơn những
bà mẹ khác Cùng trong năm này, Cooper và cộng sự đã cho biết trong báo cáo nghiên cứu của họ là có 7% bà mẹ bị TCSS không hài l ng với khu vực họ sinh sống (ở thời điểm trước sinh) so với chỉ có 3% những bà mẹ không bị TC Liên quan đến yếu tố kinh tế xã hội, nghiên cứu của WHO (2001) chỉ ra rằng trầm cảm là vấn đề xảy ra phổ biến ở các nước nghèo [51] Từ những nghiên cứu này cho thấy môi trường nghèo được dự báo là có ảnh hưởng tiêu cực tới TC ở PNSS bởi môi trường này nó c n hàm chứa những vấn đề như stress, tội ph m, sự an toàn [51]
Tiểu sử sức kh e của người phụ nữ và của đứa trẻ mới sinh: Hầu hết các nghiên cứu đều tìm thấy mối tương quan m nh giữa các vấn đề về cảm xúc, bệnh tật của bà mẹ trong thời điểm mang thai, TC trong thời điểm mang thai và TCSS
Atkinson và Rickel 1984; Cutrona và Troutman 1986; Gotlib và cs 1991; Graff và
cs 1991; Logsdon và cs 1994; O’Hara và cs 1983, 1984; Whiffen 1988; Whiffen
và Gotlib 1993) [dẫn theo 51]
Số lần sinh con và giới tính của đứa trẻ mới sinh cũng là những dự báo có ý nghĩa cho TCSS bởi yếu tố giới có ảnh hưởng đến cuộc sống của người phụ nữ Thông thường ở một số nước thì nam giới “có giá trị” cao và điều đó đồng nghĩa với việc sinh một đứa con trai thì giá trị của bà mẹ cũng được kéo theo lên, lợi ích cũng được gia tăng [dẫn theo 51]
Kết quả của các nghiên cứu về trầm cảm với các sự kiện xảy ra trong cuộc sống cũng không có sự đồng nhất, điều này được giải thích từ các phương pháp sử
Trang 2517
dụng khi thực hiện nghiên cứu Những nghiên cứu được thực hiện bằng ph ng vấn sâu cho thấy mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý – xã hội và TCSS là vừa phải, trong khi đó những nghiên cứu được thực hiện bằng bảng h i do khách thể tự báo cáo chỉ ra mối quan hệ m nh hơn đáng kể
Nhìn chung, tính đến thời điểm hiện nay các nghiên cứu vẫn chưa chỉ ra nguyên nhân rõ ràng của TC ở PNSS, mặc dù các nghiên cứu cũng hướng đến việc
lý giải mối quan hệ giữa một số yếu tố tâm lý – xã hội với mức độ TCSS Có những nghiên cứu đã chỉ ra một số biến có liên quan tới TCSS như giới tính của đứa con mới sinh, kinh tế, kiểu nhận thức, đặc điểm nhân cách Tuy nhiên kết quả của các nghiên cứu này mới dừng l i ở việc chỉ ra mối quan hệ của TCSS với từng biến riêng lẻ Từ khoảng trống nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu sự kết hợp của đa biến nhằm chỉ ra mức độ liên quan của TCSS và các yếu tố khi các yếu tố này kết hợp với nhau
1.1.3 Hướng nghiên cứu về liệu pháp tâm lý hỗ trợ cho phụ nữ bị trầm cảm sau sinh
Những nghiên cứu đã công bố về hiệu quả của các hình thức trợ giúp đối với trầm cảm ở PNSS hiện có là: cách điều trị bằng thuốc (thuốc chống trầm cảm), trị liệu tâm lý, hỗ trợ tâm lý xã hội, trị liệu bằng hoocmôn, liệu pháp thư giãn, can thiệp giấc ngủ của bà mẹ - trẻ em và trị liệu bằng xung điện (Electroconvulsive Therapy)
Để phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận án, trong phần này chúng tôi chỉ tập trung tổng quan những nghiên cứu về các biện pháp hỗ trợ tâm lý xã hội cho phụ nữ bị trầm cảm sau sinh
1.1.3.1 Hỗ trợ trầm cảm cho phụ nữ sau sinh bằng liệu pháp trị liệu liên cá nhân (Interpersonal Psychotherapy - IPT)
Liệu pháp liên cá nhân (hay c n gọi là mối quan hệ) tập trung vào đặc điểm của những mối quan hệ và trên những vấn đề như khó khăn trong giao tiếp hoặc đối mặt với những mất mát trong mối quan hệ Có một vài nghiên cứu cho thấy liệu pháp mối quan hệ mang l i hiệu quả tương tự như thuốc hoặc CBT (liệu pháp nhận thức hành vi) Nghiên cứu về hiệu quả của liệu pháp liên cá nhân trong điều trị
Trang 2618
TCSS, tổng quan nghiên cứu của Spinelli (1997) cho thấy có 3 nghiên cứu đã thực hiện đánh giá hiệu quả của liệu pháp IPT cho cả TC trước sinh và sau sinh Một trong ba nghiên cứu thí điểm được thực hiện trong 16 tuần trên 13 phụ nữ Mỹ mang thai đáp ứng các tiêu chu n trầm cảm chủ yếu của DSM – III-R Những người phụ
nữ thực hiện thang đo trầm cảm của Hamilton (HRSD), thang đo TC của Beck (BDI) và EPDS Hàng tuần, những người phụ nữ này tham gia vào các buổi trị liệu liên cá nhân trong khoảng 50 phút Quá trình trị liệu kéo dài 12 tháng, sau đó những người phụ nữ được trị liệu l i được tiếp tục đánh giá tình tr ng trầm cảm bằng 3 thang đo nêu trên [52] Mặc dù các kỹ thuật trị liệu cụ thể không được đề cập nhưng báo cáo kết quả cho thấy các triệu chứng trầm cảm đã giảm có ý nghĩa nhờ vào các chương trình can thiệp
Trong một nghiên cứu thử nghiệm khác vẫn được thực hiện ở Mỹ, trên 120 phụ nữ bị TCSS Các nhà nghiên cứu lựa chọn ngẫu nhiên 60 sản phụ vào nhóm can thiệp bằng IPT và 60 người c n l i vào nhóm chờ đợi (không can thiệp) Qua việc
ph ng vấn sâu và trả lời bảng h i nhằm đo các triệu chứng trầm cảm, kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm được can thiệp bằng IPT đã giảm đáng kể những triệu chứng trầm cảm Điểm thang HRSD của phụ nữ bị TCSS giảm từ 18.4 xuống c n 8.3, trong khi đó điểm của nhóm đối chứng là 19.8 giảm xuống c n 16.8 Tương tự như vậy, điểm trung bình của thang đo BDI giảm từ 23.6 xuống 10.6 trong 12 tuần điều trị so với nhóm không được can thiệp là 23.0 giảm xuống c n 19.2 [66]
Theo báo cáo của Stuart & O'Hara (1995), các nhà nghiên cứu của Mỹ đã sử dụng IPT để điều trị TCSS Sáu bà mẹ đáp ứng các tiêu chu n ch n đoán trầm cảm chủ yếu của DSM-III-R đã được trị liệu tâm lý trong 12 tuần Thực hiện thang đo HRSD, BDI và EPDS để kiểm tra l i thì thấy các triệu chứng trầm cảm đã thay đổi
có ý nghĩa sau khi được trị liệu [37]
Đối với phụ nữ bị trầm cảm sau sinh, liệu pháp IPT nhóm cũng được đánh giá và kết luận là có hiệu quả Trong một nghiên cứu được thực hiện ở c, 17 người phụ nữ được ch n đoán là TCSS tham gia vào nhóm can thiệp IPT dựa trên nhóm, trải qua 9 tuần trị liệu nhóm (90 phút/ buổi/ tuần) và 60 phút trị liệu cá nhân Những phụ nữ này được cung cấp số điện tho i của các thành viên trong nhóm khác và sẵn
Trang 2719
sàng tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần thiết Sau 2 năm được điều trị dựa trên IPT nhóm,
10 bà mẹ đã thuyên giảm hoàn toàn khi kết quả đánh giá bằng DHRS đ t <9 điểm, 5
bà mẹ cho thấy phần nào thuyên giảm (điểm giảm >50%) và chỉ có 2 người cho thấy là không có sự cải thiện sau điều trị [27]
Mặc dù các nghiên cứu này không đưa ra tiêu chí để so sánh hiệu quả trị liệu như chủng tộc, thời gian kết hôn hay trình độ học vấn, hơn nữa số khách thể tham gia nghiên cứu không lớn, tuy nhiên những phát hiện này cho thấy IPT được xem là
một liệu pháp hiệu quả khi điều trị TCSS
1.1.3.2 Hỗ trợ trầm cảm cho phụ nữ sau sinh bằng liệu pháp trị liệu nhận thức hành vi Cognitive Behavioural Therapy
Nước Anh là nơi có những thử nghiệm đầu tiên về ứng dụng liệu pháp trị liệu nhận thức hành vi (CBT) cho trầm cảm ở PNSS Một nghiên cứu thử nghiệm CBT đối với trầm cảm ở PNSS đã được tiến hành t i c (phụ nữ bị TCSS chỉ được can thiệp bằng CBT) Mục đích của nghiên cứu này là: (1) các y tá chăm sóc trẻ sơ sinh được đào t o có thể sử dụng CBT cho điều trị trầm cảm ở PNSS hay không và (2) so sánh kết quả đầu ra ở những phụ nữ được trị liệu bằng CBT với những phụ
nữ không được trị liệu bằng CBT mà chỉ có những chăm sóc tiêu chu n khác Năm
y tá đã được đào t o CBT và được giám sát hàng tuần Những phụ nữ bị trầm cảm sau sinh được 5 y tá đề nghị thực hiện EPDS (mức điểm trên 12) và ch n đoán qua
ph ng vấn lâm sàng Có 37 phụ nữ được xác định là trầm cảm chủ yếu bằng thang EPDS và DSM IV Nhóm nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 20 trường hợp vào nhóm chăm sóc lý tưởng và 17 người c n l i vào nhóm can thiệp bằng CBT Các y tá thực hiện CBT trong 6 tuần (1 giờ/ buổi/ tuần) t i nhà của sản phụ Sau điều trị, khách thể được thực hiện ngay một bảng ph ng vấn và sau 24 tuần khách thể tiếp tục thực hiện một bảng h i được gửi qua đường bưu điện nhằm đánh giá hiệu quả trị liệu Kết quả phân tích dữ liệu cho thấy các sản phụ ở nhóm được can thiệp bằng CBT và nhóm không can thiệp bằng CBT có điểm EPDS chênh lệch có ý nghĩa (Nhóm được can thiệp bằng CBT đ t 15.9, nhóm không được can thiệp bằng CBT đ t 13.7) [48] Nghiên cứu thử nghiệm này cho thấy sử dụng CBT có thể có hiệu quả đối với trầm
Trang 28số 97 (29.8%) phụ nữ trong nhóm được can thiệp trước sinh và 55 trong tổng số 114 (48.2%) bà mẹ trong nhóm không được can thiệp đ t điểm EPDS trên 11 (p=0.007) [43] Như vậy kết quả này khẳng định thêm độ hiệu quả của liệu pháp CBT đối với bệnh trầm cảm ở PNSS
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cho đến nay, trầm cảm ở PNSS vẫn c n là vấn đề khá mới mẻ Một vài nghiên cứu được bắt đầu từ những năm 90, tuy nhiên cũng chỉ tập trung vào nghiên cứu tâm lý chung của sản phụ Những năm gần đây, nghiên cứu về trầm cảm ở PNSS được thực hiện nhiều hơn, tuy nhiên chủ yếu được tiếp cận dưới góc
độ tâm thần học hoặc y tế công cộng Số lượng nghiên cứu với quy mô nh được tiếp cận dưới góc độ tâm lý học về chủ đề này và ph m vi nghiên cứu vẫn c n h n chế Phần dưới đây chúng tôi trình bày tổng quan nghiên cứu về TCSS ở Việt Nam theo các hướng nghiên cứu gồm: Hướng nghiên cứu về mức độ phổ biến, về can
Trang 2921
thiệp trầm cảm ở phụ nữ sau sinh và về các yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến trầm cảm ở phụ nữ sau sinh
1.2.1 Hướng nghiên cứu về mức độ phổ biến của trầm cảm sau sinh
Năm 1994, tác giả Vũ Thị Chín cùng với cộng sự đã thực hiện nghiên cứu
Tìm hiểu tâm lý sản phụ và quan hệ sớm mẹ con Trên cơ sở của nghiên cứu này,
cuốn sách “Tâm lý sản phụ và quan hệ sớ mẹ con” đã được xuất bản Đây là một trong những tác ph m hiếm hoi mô tả tâm lý của sản phụ trong thời kỳ mang thai và sinh con Trong đó, tâm lý của sản phụ gắn liền với cuộc sinh đẻ được mô tả là sự mất chủ động và lo hãi Sự thay đổi về sinh lý khi chuyển d (ở đây là sự co bóp cổ
tử cung), trong môi trường xa l và cô qu nh bởi có một mình, tiếng kêu rên của những sản phụ khác có thể khiến sản phụ bị ngập tràn trong đau đớn Từ đây tác giả khẳng định việc chu n bị tâm lý cho sản phụ từ lúc mang thai, nhất là khi chuyển d
và đẻ là cần thiết Sự nâng đ xã hội trong thời điểm phụ nữ sinh đẻ vô cùng quan trọng đối với bản thân người phụ nữ Trong thời gian sau đẻ sản phụ sẽ trải qua một thời kỳ trầm nhược nhẹ, một tr ng thái u buồn, chán nản, mệt nhọc, lờ đờ ảm đ m Tình tr ng này có thể là hậu quả của sự mệt m i sau đẻ, được sản phụ mô tả một cách mơ hồ và mọi chuyện sẽ qua đi [2]
Từ tháng 6 năm 2002 đến tháng 12 năm 2002, nhóm tác giả Lâm Xuân Điền,
Lê Quốc Nam thực hiện nghiên cứu “Rối lo n TCSS ở các sản phụ đến sinh t i bệnh viện Từ Dũ” (TP Hồ Chí Minh) Đây là nghiên cứu cắt ngang với mục tiêu nhằm xác định tỷ lệ phụ nữ bị TCSS trong thời gian sinh đẻ t i bệnh viện Từ Dũ và khảo sát những yếu tố nguy cơ liên quan Nhóm tác giả lựa chọn ngẫu nhiên 321 phụ nữ (độ tuổi từ 19 đến 45, trong đó 95.7% sản phụ có độ tuổi từ 20 đến 39) đến khám t i bệnh viên Từ Dũ vào tuần thứ 4 sau sinh Một số tiêu chí được đặt ra khi lựa chọn khách thể bao gồm: Độ tuổi, trình độ học vấn, tính chất ổn định của nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế của gia đình, tình tr ng hôn nhân và số lần sinh Sản phụ tham gia vào nghiên cứu sẽ được đánh giá bằng trắc nghiệm Edinburg Những sản phụ đ t mức từ 13 điểm trở lên của thang đo Edinburg sẽ được bác sĩ tâm thần đánh giá tiếp bằng thang đo TC Hamilton, đồng thời được khám lâm sàng để ch n đoán rối lo n TC (dựa trên các tiêu chu n ch n đoán rối lo n TC của DSM – IV) Kết quả
Trang 30có những triệu chứng cơ bản của TC (Trần Tuấn và cs, 2003) Một nghiên cứu khác cũng do RTCCD thực hiện năm 2006 với mục đích xác định những yếu tố nguy cơ dẫn đến rối lo n khí sắc ở phụ nữ và nam giới được thực hiện trên phụ nữ có thai trên 7 tháng và những phụ nữ mới sinh con được 2 tháng t i 6 xã ở Hà Nam và 4 quận ở Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phụ nữ trong quá trình mang thai
và sau sinh bị các rối lo n tâm thần khá cao, 33% (phụ nữ mang thai) và 34% (phụ
nữ sau sinh) Trong khi đó tỷ lệ rối lo n tâm thần của nam giới (chồng của thai phụ
và sản phụ) l i ở mức thấp hơn, 19% (chồng của thai phụ) và 22% (chồng của sản
phụ) [67]
Trong đề tài “Tỷ lệ và yếu tố liên quan TCSS ở bà mẹ có trẻ gửi dư ng nhi t i bệnh viện Hùng Vương” của nhóm tác giả Lương B ch Lan và Huỳnh Nguyễn Khánh Trang thực hiện chỉ ra rằng tỷ lệ phụ nữ bị TCSS là 11.6% Trong tổng số 11.6% phụ
nữ bị TCSS này, có 21.2% sản phụ có ý tưởng tự sát Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1/ 2008 đến tháng 5/2008 [9]
Năm 2004, nhóm tác giả Fisher JR, Morrow MM, Ngoc NT, Anh LT thực hiện khảo sát “Mức độ phổ biến, bản chất, độ nghiêm trọng và các yếu tố liên quan tới các triệu chứng TCSS ở Việt Nam” Mục đích của nghiên cứu này nhằm xem xét các triệu chứng của TC ở PNSS trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Nơi tiến hành nghiên cứu là khoa sản, ph ng khám phụ khoa, khoa Nhi của bệnh viện Hùng Vương và Trung tâm kế ho ch hóa gia đình của TP Hồ Chí Minh Khách thể nghiên cứu là những phụ nữ mới sinh con sau 6 tuần Các khách thể đủ tiêu chu n lựa chọn được đưa vào ph ng khám dành riêng cho phụ nữ bị TCSS, họ được mời tham gia vào nghiên cứu từ buổi đầu thăm khám Các khách thể trả lời ph ng vấn
có cấu trúc về sức kh e và hoàn cảnh xã hội, thực hiện thang đo Edinburg ngay t i phòng khám Kết quả cho thấy trong 506 phụ nữ tham gia nghiên cứu, có 166 người
Trang 3123
(33%) có điểm EPDS trên 12 và 99 người (19%) đã từng có ý định tự tử Trong tổng số 33% phụ nữ có điểm EPDS từ 12 trở lên, có 77% trường hợp là mang thai không như mong muốn, không có việc làm ổn định, thời gian nghỉ sau khi sinh dưới
30 ngày, tình tr ng sức kh e của đứa trẻ không tốt, không được chăm sóc đầy đủ về mặt dinh dư ng, kiêng cữ quá nhiều và khó khăn khi chia sẻ với chồng [41]
Như vậy, tỷ lệ TCSS được nhóm tác giả chỉ ra trong nghiên cứu là khá cao, tuy nhiên các kết quả so sánh l i cho thấy bệnh nội khoa và sản khoa l i không có mối tương quan với TCSS Các kết luận này có khác biệt so với kết quả nghiên cứu của một số bác sĩ như Vũ Thị Chín và Bùi Bích Nhung, Lâm Xuân Điền và Đinh Thị Tố Trinh Một trong những giả thiết mà nhóm tác giả cho rằng có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu là sản phụ đã được tư vấn về bệnh lý và chu n bị về tâm lý trước khi sinh Do vậy việc chưa tìm hiểu mức độ sản phụ được tư vấn và không có nhóm đối chứng khi nghiên cứu có thể là h n chế của đề tài [9]
Năm 2009, trên t p chí Tâm lý học số 4 xuất hiện bài báo của tác giả Nguyễn
Linh Trang với tựa đề “Một số biến đổi tâm lý sau khi sinh con” Từ những tổng
quan tài liệu, tác giả khái quát l i các vấn đề tâm lý ở PNSS gồm 3 mức độ chính là mức độ nhẹ (hội chứng baby blues), mức độ vừa (TCSS) và mức độ nặng (TC có
lo n thần) Bằng cuộc khảo sát nh , chủ yếu dựa trên việc thu thập ý kiến của 30 PNSS tham gia vào diễn đàn webtretho.com, tác giả đã chỉ ra một con số đáng lưu ý
là có đến 18 bà mẹ (chiếm 60%) đã từng trải qua cơn buồn thoáng qua sau sinh, 5
bà mẹ (chiếm 15,6%) đã từng mắc TCSS và 1 bà mẹ mắc chứng lo n thần sau sinh Cũng giống như phần lớn các nghiên cứu khác, tác giả đã chỉ ra các dấu hiệu cho thấy sản phụ gặp vấn đề tâm lý trong thời kỳ nuôi con, đó là tâm tr ng dễ xúc động, khóc, lo sợ, dễ cáu gắt, tủi thân, cảm thấy cô đơn, hồi hộp…Nguyên nhân của sự biến đổi tâm lý ở PNSS cũng được quy cho mặt trái của cuộc sống sôi động với nhiều áp lực, sự thay đổi sinh lý ở người phụ nữ, kinh tế gia đình, tình cảm vợ chồng và sự xuất hiện của đứa trẻ [16]
Trang 32Kết quả nghiên cứu của nhóm bác sĩ Lâm Xuân Điền, Lê Quốc Nam chỉ ra rằng 30.4% sản phụ có tiền sử bị lo âu và hay mất ngủ bị TCSS so với 3.4% ở nhóm sản phụ không có tiền sử về các vấn đề sức kh e tâm thần, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Có 12.5% sản phụ có tiền sử bị bệnh lý đa khoa (thường gặp nhất là bệnh lý tai mũi họng, bệnh lý tuần hoàn, khối u…) bị TCSS so với 3,2%
ở nhóm sản phụ không có tiền sử về các vấn đề sức kh e tâm thần và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) 13,9% sản phụ có rối lo n tâm thần trong thai
kỳ bị TCSS so với 4,2% ở nhóm sản phụ có thai kỳ bình thường và sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), 28,6% sản phụ có sử dụng rượu và/hay thuốc lá trong thai kỳ bị TCSS so với 4,8% ở nhóm sản phụ không sử dụng và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) 18,2% sản phụ sinh khó bị TCSS so với 4,7% ở nhóm sản phụ sanh mổ và 2,4% ở nhóm sanh thường Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0,05) Như vậy ở nghiên cứu này yếu tố sinh khó có liên quan đáng kể với TCSS nhưng không có mối liên quan giữa sanh mổ và TCSS Có thể là bản thân quá trình sinh khó là một sang chấn tâm lý nặng vì diễn tiến thường kéo dài và sản phụ thường đau đớn nhiều hơn 17% sản phụ gặp khó khăn khi cho con bú bị TCSS
so với 3,3% trong nhóm sản phụ cho con bú bình thường Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) 60% sản phụ có mối quan hệ “xấu” với chồng trong lần sinh này bị TCSS so với 4,5% trong nhóm sản phụ có mối quan hệ với chồng “tốt
và trung bình” Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 001) 11,1% sản phụ phải
tự chăm sóc bản thân bị TCSS so với 4,1% trong nhóm sản phụ có chồng hay người khác trợ giúp, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) 10,5% sản phụ phải
tự chăm sóc bé về đêm bị TCSS so với 3,7% trong nhóm sản phụ có chồng hay
Trang 3325
người khác giúp, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) 22,2% sản phụ không có ai để tâm sự bị TCSS so với 4,3% trong nhóm có chồng hay người khác
để tâm sự Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 005) [4]
Nhóm tác giả Nguyễn Thanh Hiệp và Lê Minh Nguyệt (Đ i học Y Ph m Ngọc Th ch) đã thực hiện đề tài “Khảo sát tình tr ng TCSS ở những phụ nữ có thai
kỳ nguy cơ cao đến khám t i bệnh viện Từ Dũ từ tháng 6/2007 đến tháng 12/2008 Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ TCSS ở những phụ nữ có thai kỳ nguy cơ cao Khách thể nghiên cứu là 259 sản phụ, trong đó có 132 sản phụ có thai kỳ nguy cơ
về bệnh lý nội khoa như tim m ch, bệnh phổi như hen suyễn, lao, cường giáp, đái tháo đường, bệnh thận Có 127 sản phụ có các yếu tố nguy cơ về bệnh lý sản khoa như sinh non, vết mổ cũ, ngôi thai bất thường, ối v non, song thai, khung chậu giới
h n, thai suy dinh dư ng và các bệnh lý khác, tuy nhiên cuối cùng chỉ c n 305 sản phụ tiếp tục tham gia nghiên cứu cho đến khi kết thúc Những sản phụ tham gia nghiên cứu sẽ được thực hiện bảng h i để ghi nhận những biến số nghiên cứu (do nhóm nghiên cứu thiết kế), sau đó được đánh giá TCSS bằng trắc nghiệm EPDS, điểm số ≥ 13 được ch n đoán ban đầu là có TCSS Kết quả cho thấy có 21.6% (66 trường hợp) sản phụ bị TCSS So sánh mối tương quan giữa bệnh lý nội khoa của sản phụ và TC trước sinh với TCSS cho thấy bệnh nội khoa không phải là yếu tố nguy cơ của TCSS (trong 27 sản phụ có bệnh lý nội khoa mắc TC trước sinh, chỉ có
7 trường hợp tiến triển thành TCSS) So sánh mối tương quan giữa những yếu tố nguy cơ về tình tr ng sản khoa bất thường với TCSS cho thấy không có mối quan
hệ nhân quả (26 trường hợp có nguy cơ về tình tr ng sản khoa bị TC trước sinh nhưng chỉ có 8 trường hợp tiến triển thành TCSS) [8]
Đề tài nghiên cứu của nhóm tác giả Trần Tuấn và cs có đưa các yếu tố như tuổi của người phụ nữ, học vấn, tình tr ng phụ nữ bị b o lực gia đình, tình tr ng kinh tế, vấn đề của đứa trẻ mới sinh vào nhằm mục đích tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố này với TC, tuy nhiên kết quả cho thấy chỉ có yếu tố tình tr ng kinh tế có liên quan tới mức độ TC ở PNSS (p<0.001), các yếu tố c n l i không có mối liên quan gì đến TC ở PNSS [103]
Trang 3426
1.2.3 Hướng nghiên cứu về can thiệp trầm cảm ở phụ nữ sau sinh
Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học, tâm thần học hay công tác xã hội trong những năm vừa qua chỉ ra rằng, ở Việt Nam vấn đề chăm sóc sức kh e tâm thần nói chung và bệnh trầm cảm nói riêng chỉ được biết đến khi bệnh nhân được người nhà đưa đến bệnh viện hoặc các ph ng khám (Tran Tuan và cs, 2005) [25] Hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào ở Việt Nam nói về phương thức can thiệp/ điều trị cho phụ nữ bị TCSS Những gợi ý về hướng can thiệp/ điều trị được các bác sĩ tâm thần đưa ra dựa trên kinh nghiệm cá nhân hoặc dựa trên kế
ho ch can thiệp chung của bệnh viện nơi họ làm Phần dưới đây chúng tôi sẽ trình bày các hình thức can thiệp/điều trị trầm cảm cho PNSS dựa trên quan điểm cá nhân của các nhà thực hành và phương thức can thiệp được ứng dụng t i các tổ chức
Theo bác sĩ Nguyễn M nh Hoàn, bệnh viện Tâm thần Ban ngày Mai Hương
và bác sĩ Lê Thị Thu Hà (khoa khám bệnh, bệnh viện Từ Dũ) can thiệp/ điều trị cho phụ nữ bị TCSS tùy thuộc vào nhu cầu của từng bệnh nhân và chỉ định của bác sĩ, tuy nhiên TCSS vẫn được can thiệp bởi những phương thức điều trị phổ biến gồm:
Điều trị bằng thuốc, liệu pháp tâm lý; tư vấn; hỗ trợ theo nhóm Phụ nữ bị TCSS
được dùng các thuốc chống TC và thường thì thuốc sẽ có hiệu quả khi sử dụng liên tục trong v ng 3,4 tuần Tuy nhiên chỉ điều trị bằng thuốc thì việc điều trị chưa đ t hiệu quả toàn vẹn, cần phải kết hợp với các liệu pháp tâm lý Tư vấn tâm lý để người phụ nữ thay đổi nhận thức, được thông cảm và nâng đ , được chia sẻ cảm xúc Ngoài ra phụ nữ bị TCSS cũng cần có các hỗ trợ khác như bổ sung vitamin và khoáng chất, ăn uống bồi dư ng, xoa bóp, thư giãn Ho t động tư vấn tâm lý sẽ giúp ích cho những phụ nữ bị TCSS ở cả mức độ nhẹ và nặng Nếu TCSS ở mức độ nhẹ thì việc tư vấn đơn thuần của chuyên gia tâm lý cũng có thể giúp người phụ nữ tự vượt qua tình tr ng của mình Nếu TCSS ở mức độ nặng thì người phụ nữ phải dùng thuốc, nhưng nhà tâm lý sẽ giúp họ nhận thức được vấn đề và hồi phục sớm hơn, giúp họ có những cách thức để xả stress và thư giãn phù hợp [75]
Sự hỗ trợ của người thân, đặc biệt là người chồng có vai tr vô cùng quan trọng trong việc giúp sản phụ “lo i b ” TCSS Vấn đề nổi bật nhất ở phụ nữ bị TCSS đó là sự mất ổn định về cảm xúc, do vậy người chồng và người thân sẽ giúp
Trang 3527
người phụ nữ dễ dàng chia sẻ cảm xúc của mình Ngoài ra, người phụ nữ cần được động viên, hỗ trợ trong việc chăm sóc con và công việc gia đình để họ có thể nghỉ ngơi phụ hồi sức sức kh e [73]
Kết quả nghiên cứu tổng quan cho thấy, ở Việt Nam, các nghiên cứu về trầm cảm ở PNSS phần lớn được thực hiện bởi các nhóm nghiên cứu trong lĩnh vực y khoa hoặc y tế cộng đồng Các hướng nghiên cứu tập trung vào điều tra dịch tễ, tìm hiểu các yếu tố liên quan tới TCSS thuộc về y khoa như tình tr ng bệnh của đứa trẻ mới sinh, các vấn đề sức kh e của bà mẹ trong quá trình mang thai…Chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào khai thác các biểu hiện ở khía c nh tâm lý của TCSS và các yếu tố tâm lý – xã hội liên quan
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy vấn đề TC ở PNSS và những yếu tố tâm lý - xã hội liên quan từ lâu đã được các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực tâm lý học, tâm thần học trên thế giới quan tâm Trên thế giới đã có các công trình nghiên cứu về yếu tố sinh học và cả yếu tố tâm lý xã hội liên quan đến TC ở PNSS Các yếu tố tâm lý – xã hội được biết đến gồm: Kiểu nhận thức, đặc điểm nhân cách, đặc điểm mối quan hệ của người phụ nữ và một số yếu tố xã hội khác như tình tr ng kinh tế xã hội, tiểu sử sức kh e của bản thân người PNSS, tình tr ng của đứa trẻ mới sinh Các nhà nghiên cứu, thực hành trên thế giới cũng đã thực hiện nhiều nghiên cứu về liệu pháp tâm lý hỗ trợ cho người PNSS bị TC Liệu pháp liên
cá nhân và liệu pháp nhận thức hành vi được nhiều nghiên cứu chứng minh là khá phổ biến và có hiệu quả khi can thiệp cho TC ở PNSS
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về những yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến TC ở PNSS chủ yếu thuộc lĩnh vực tâm thần học và có ít công trình nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học Các nghiên cứu cũng được thực hiện nhằm chỉ
ra mức độ phổ biến của TCSS, các yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến trầm cảm ở phụ nữ sau sinh và nghiên cứu về can thiệp/ trợ giúp cho phụ nữ sau sinh
Trang 3628
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ Ý UẬN VỀ NHỮNG YẾU TỐ TÂM LÝ – XÃ HỘI
I N QUAN ĐẾN TRẦM CẢM Ở PHỤ NỮ SAU SINH
2.1 Trầm cảm ở phụ nữ sau sinh
2.1.1 Khái niệm trầm cảm
TC được nghiên cứu nhiều nhất dưới góc độ tâm thần học và tâm lý học, do vậy thuật ngữ TC đã được sử dụng theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào từng lĩnh vực và các trường phái lý thuyết Trong phần này nghiên cứu sẽ tiếp cận khái niệm TC dưới hai góc độ là tâm thần học và tâm lý học Vì TC thuộc lĩnh vực giao thoa rất lớn giữa tâm thần học và tâm lý học, do đó chúng tôi sử dụng cách tiếp cận liên ngành
a Khái niệm trầm cảm theo quan điểm của Tâm thần học
Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới (WHO): Trầm cảm là d ng rối lo n tâm thần phổ biến được đặc trưng bởi sự buồn phiền, mất hứng thú và mất niềm vui, cảm giác mệt m i và tội lỗi kèm theo đó là sự suy giảm tập trung [71]
Theo định nghĩa của Viện Sức kh e Tâm thần Quốc gia – Hoa Kỳ: Trầm cảm
là rối lo n tâm thần được đặc trưng bởi cảm giác buồn phiền và bất lực, mệt m i, vô vọng, không c n hứng thú trong các mối quan hệ và gặp khó khăn trong sinh ho t hàng ngày [72]
Theo Sách hướng dẫn ch n đoán và thống kê các rối lo n tâm thần lần thứ 5 (DSM-5) của Hội Tâm thần học Hoa Kì: Trầm cảm là d ng rối lo n tâm thần biểu hiện đặc trưng bởi ít nhất 5 trong số các dấu hiệu cơ bản, bao gồm: a) Khí sắc trầm; b) Mất quan tâm, thích thú; c) Có biểu hiện sụt cân khi không ăn kiêng hoặc tăng cân; d) Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều; e) Sự kích động tâm vận động hoặc chậm vận động; g) Mệt m i hoặc mất năng lượng; h) Cảm thấy không xứng đáng hoặc tội lỗi quá mức hoặc không thích hợp; i) Giảm khả năng suy nghĩ, tập trung chú ý hoặc khả năng ra quyết định; k) Suy nghĩ về cái chết hoặc có ý tưởng và kế ho ch tự sát Các biểu hiện trên xuất hiện trong khoảng thời gian 2 tuần và làm thay đổi đáng kể những chức năng trước đó
Trang 3729
b Khái niệm trầm cảm theo quan điểm của Tâm lý học
Từ điển Tâm lý học (Nxb Khoa học xã hội - 2000) định nghĩa "TC là tr ng thái
cảm xúc xuất hiện trên cơ sở cảm xúc âm tính, thay đổi động cơ trí tuệ (gắn với nhận thức) và sự thụ động nói chung của hành vi [3]
Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã sử dụng thuật ngữ "trầm nhược" để nói về bệnh trầm cảm: "Trầm là chìm xuống, bi quan Nhược là suy yếu, mệt m i, uể oải, không muốn cử động, mặc dù không có bệnh tật rõ rệt" Cũng theo bác sĩ, trong cuộc sống hiện nay con người dễ vấp váp nhiều tình huống khó xử, dễ sinh trầm nhược, nặng hay nhẹ, ở tất cả các lứa tuổi, nhất là ở những bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời: tuổi sơ sinh, dậy thì, thanh niên, sinh đẻ, về hưu, già [17]
Trong các khái niệm của các tổ chức nêu trên, tác giả luận án tiếp cận theo định nghĩa trầm cảm của Viện Sức kh e Tâm thần Quốc gia – Hoa Kỳ bởi chúng tôi nhận thấy định nghĩa của tổ chức này bao hàm cả 3 khía c nh của đời sống tâm lý người PNSS là cảm xúc, nhận thức và hành vi
2.1.2 Khái niệm phụ nữ sau sinh
Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê, phụ nữ được hiểu là “người lớn thuộc nữ giới” [17] Như vậy, phụ nữ sau sinh được coi là người phụ nữ đã trải qua quá trình sinh con
a Một vài đặc điểm sinh lý ở người phụ nữ sau sinh
Trong quá trình sinh đẻ, người phụ nữ biết đến những cơn co thắt d con, các cơn co hậu sản, cổ tử cung và âm đ o đã bị căng ra nhiều trong lúc chuyển d và sẽ
bị mềm và giãn ra một thời gian Nếu người phụ nữ sinh bằng phương pháp mổ đẻ thì vết mổ cũng là nơi gây đau rát nhiều ngày Nhiều người phụ nữ cũng gặp bệnh táo bón do sự căng kéo quá mức các tĩnh m ch vùng đáy chậu trong lúc chuyển d
và sinh Có phụ nữ phải chịu sự đau đớn từ vết cắt của tầng sinh môn, ứ sữa hoặc nghẽn sữa [2] Ngoài những đặc điểm cơ thể nói trên, sự biến đổi nội tiết tố c n dẫn đến một số biểu hiện ở người phụ nữ như rụng tóc; chàm da; những tai biến sản khoa như băng huyết, nhiễm trùng hậu sản, hậu sản phát sốt, suy nhược hậu sản hay một nhóm các dấu hiệu bất thường như ngất hoặc bất tỉnh, sản dịch bất thường (biến màu, đóng cục ), sốt cao, đau bụng dữ dội hoặc đau tăng dần lên, nôn và tiêu chảy,
Trang 3830
máu hoặc chất dịch chảy ra từ cửa mình có mùi khó chịu, đau, sưng, đ và có thể chảy dịch từ vết khâu, tiểu buốt, có nước tiểu hoặc phân chảy ra từ âm đ o, nhợt màu ở lợi và mặt trong mí mắt, móng tay trắng nhợt, mệt m i, m ch đập nhanh, thở hổn hển và hoa mắt chóng mặt
Tất cả những biểu hiện và đặc điểm sinh lý đó đều gây đau đớn thậm chí cả
lo hãi đối với người phụ nữ, đặc biệt với những phụ nữ sinh con lần đầu hoặc ít kinh nghiệm cũng như thiếu thốn sự trợ giúp của người thân và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sau sinh [22] Tuy nhiên, đây là những biểu hiện khá phổ biến ở hầu hết các phụ nữ sau khi sinh Ở những người phụ nữ bị TCSS sẽ có những biểu hiện khác biệt về mặt sinh lý so với những người phụ nữ không trải qua TCSS
b Một vài đặc điểm tâm lý ở người phụ nữ sau sinh
Do sự thay đổi của sinh lý kết hợp với sự thay đổi từ cuộc sống gia đình, sự hiện diện của đứa con mới sinh khiến người phụ nữ có tâm lý đặc biệt Họ “t m biệt” đứa con đã tưởng tượng trong quá trình mang thai để “làm quen” với đứa con bằng xương bằng thịt với rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau Nhiều phụ nữ cho thấy sau đẻ có một thời kì trầm nhược thông thường nhẹ, một tr ng thái u buồn sau
đẻ (baby blues) Đó là một biểu hiện được coi là bình thường diễn ra trong thời gian ngắn (2 đến 48 giờ), xảy ra ở 50% phụ nữ mới sinh (30 đến 80%) theo các tiêu chu n được chấp nhận Tâm lý buồn chán này ở người phụ nữ xuất hiện ngay sau khi đẻ, cao điểm vào ngày thứ ba hoặc ngày thứ sáu Biểu hiện thường gặp nhất là căng thẳng kéo dài, mệt m i, hay cáu gắt, hay khóc lóc nhiều khi không rõ nguyên nhân, khả năng kiềm chế kém đi Ở một số phụ nữ l i trở nên ủ rũ, chán chường, bi quan, hầu hết họ cảm thấy khó tập trung làm việc, trí nhớ giảm sút
Những ngày đầu, chia tay với đứa con tưởng tượng, ước mơ, các bà mẹ dễ dàng hoặc khó khăn đi tới chấp nhận đứa con thực, bằng xương bằng thịt, vượt qua khoảng cách với đứa con tưởng tượng để đầu tư cho đứa con thực Những ngày sau
đó, cùng với quá trình thích nghi dần hoàn cảnh mới – có một đứa con bên mình, các bà mẹ sẽ phải trải nghiệm vô vàn điều mới l , có nhiều điều khiến họ thấy khó khăn, quá tải và lo hãi thực sự Bao nhiêu bận tâm của họ dồn cả vào đứa con, từ việc cho nó bú, thay tã, tắm rửa cho nó đến cách nó ngủ, nó chơi, nó khóc, nó cười
Trang 3931
Trách nhiệm làm cha, mẹ dễ làm nảy sinh stress ở cả hai giới, nhưng stress sau sinh thường xuất hiện có ở người phụ nữ Làm mẹ gây ra những thay đổi lớn trong đời sống của người phụ nữ Trên thực tế, không ít các bà mẹ tinh thần không ổn định trong suốt quá trình sinh đẻ và nuôi con nh
Như vậy, sau khi sinh con, tâm lý người phụ nữ có nhiều biến động, các nhà nghiên cứu gọi đó là sự tan rã nhất thời về nhân cách nhưng “không bệnh lí” Đa số phụ nữ trải nghiệm một tình tr ng u buồn kéo dài trong khoảng một tuần, sau đó là niềm vui, niềm h nh phúc ngập tràn vì được làm mẹ Số ít có thể có những biểu hiện bệnh lí sau cuộc vượt c n đó đáp ứng với tiêu chu n ch n đoán của TCSS hoặc
lo n thần sau sinh
2.1.3 Khái niệm trầm cảm ở phụ nữ sau sinh
Theo Sổ tay ch n đoán và phân lo i bệnh tâm thần của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (DSM - 5), TC ở PNSS không tồn t i như một rối lo n độc lập mà được xác định là giai đo n có thể ch n đoán được của TC chủ yếu, nếu các triệu chứng về mặt khí sắc xuất hiện diễn ra trong thời gian người phụ nữ mang thai hoặc trong khoảng 2 đến 4 tuần sau sinh
Khái niệm TCSS được hầu hết các tác giả nghiên cứu đồng ý với quan điểm sau: TC sau sinh là rối lo n TC có thể xảy ra sau khi sinh, thường khởi phát ở thời
điểm 2 tuần sau khi sinh và có thể kết thúc sau 18 tháng (Johnson&Apgar 2001;
Kennedy, Beck & Driscoll, 2002: Perfetti, Clark, Fillmore, 2004; Roux, Anderson
&Roan, 2002; Wisner, Parry và Piontek, 2002) [51], [72] Như vậy, TCSS được phân biệt với hiện tượng cơn buồn sau sinh bởi thời điểm khởi phát, mức độ nghiêm trọng và sự kéo dài
Dựa trên kết quả tổng quan nghiên cứu, chúng tôi đưa ra khái niệm về TC ở
phụ nữ sau sinh như sau: “Trầm cảm ở phụ nữ sau sinh là trạng thái rối loạn tâm lý của người phụ nữ trong giai đoạn sau sinh, được biểu hiện bởi 4 dấu hiệu ch nh là cảm xúc âm t nh như buồn phiền, mệt mỏi, mất hứng thú; nhận thức tiêu cực như bất lực, vô vọng, giảm sự tập trung, suy giảm vận động và có sự thay đổi về cơ thể Các triệu chứng này thường xuất hiện trong khoảng 4 tuần sau sinh” Phần dưới
Trang 4032
đây chúng tôi sẽ trình bày những dấu hiệu cụ thể biểu hiện ở mặt c nh tâm lý và sinh lý của người phụ nữ sau sinh
2.1.3.1 Biểu hiện tâm lý ở người phụ nữ bị trầm cảm sau sinh
a Biểu hiện cảm xúc âm tính
Cảm xúc nổi bật nhất ở người phụ nữ bị TCSS là khí sắc trầm, buồn rầu, ủ
rũ, trống rỗng, thất vọng và có thể có biểu hiện của lo âu Ở một số trường hợp, người phụ nữ không có bộc lộ khí sắc trầm một cách rõ ràng mà thường than phiền
về các triệu chứng cơ thể, dễ bị kích thích, hay cáu gắt, giảm giao tiếp
Người phụ nữ cảm thấy giảm hoặc mất hứng thú với mọi ho t động (ngay cả những ho t động họ từng rất yêu thích), không quan tâm đến bất kỳ thứ gì, bao gồm
cả việc giảm hoặc mất hứng thú tình dục [51], [20], [11], [101] và không hài lòng với các ho t động trong cuộc sống hàng ngày
Ở mức nặng nề hơn, người phụ nữ có thể có cảm giác tội lỗi hoặc xấu hổ vì cho rằng mình không phải là bà mẹ đủ tốt hoặc tốt như họ mong đợi Thêm vào đó, cảm giác mất an toàn, mất thích thú và chán nản, lo âu có thể đ y người phụ nữ tới
ý tưởng tự sát [51]
Ở những người có biểu hiện TC nặng, khí sắc trong giai đo n trầm cảm chủ yếu thường được mô tả một cá nhân trầm buồn, thất vọng, suy sụp hoặc như “rơi xuống vực thẳm”
b Biểu hiện nhận thức tiêu cực
Một trong những biểu hiện điển hình nhất của bệnh TC là sự ức chế về tư duy Người phụ nữ bộc lộ rõ sự chậm ch p trong suy nghĩ, liên tưởng khó khăn, Họ gặp khó khăn khi phải quyết định một vấn đề, ngay cả những vấn đề nh Điều này xảy ra bởi khả năng phán đoán, phân tích giải quyết tình huống của họ bị giảm [7], [12], [57], [101]
Người PNSS c n tự cho mình là hèn kém, mất tin tưởng vào bản thân, vô dụng, không có giá trị hoặc cảm thấy tội lỗi quá mức Trong trường hợp nặng, họ có thể có hoang tưởng bị buộc tội hay tự buộc tội, ảo thanh nghe tiếng nói tố cáo tội lỗi của mình hay báo trước về hình ph t sẽ xảy đến với mình Điều này có thể thúc đ y người TC xuất hiện ý tưởng hoặc hành vi tự sát [11]