Không gian ngầm là một lĩnh vực mới trong quy hoạch và phát triển đô thị. Đây là tài nguyên không gian quý báu cần được khai thác một cách tiết kiệm, hiệu quả và bền vững.Tham luân nêu lên thực trạng và vấn đề quản lý trong xây dựng công trình ngầm Thành phố Hồ Chí Minh.Đây là một bài tham luận trong hội thảo sử dụng công trình ngầm được tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 1TỔNG HỘI XÂY DỰNG VIỆT NAM
HỘI THẢO 28/7/2012
Đề tài tham luận
“QUẢN LÝ KHÔNG GIAN NGẦM TẠI T/P HỒ CHÍ MINH – THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP”
Vương Hoàng Thanh
Phó Trưởng Ban, Ban Quản lý Đầu tư Xây dựng Công trình Giao thông - Đô thị Thành phố HCM
1
Trang 2MỤC LỤC
I THỰC TRẠNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHÔNG GIAN NGẦM TẠI
T/P HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY:
1 Nguyên tắc quản lý không gian ngầm hiện nay
2 Thực trạng hệ thống công trình ngầm thuộc hạ tầng kỹ thuật tại T/p Hồ Chí Minh
II.CÁC HỆ QUẢ DO THỰC TRẠNG HIỆN NAY DẪN ĐẾN
III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP.
IV ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH ĐỂ QUẢN LÝ.
2
Trang 3I THỰC TRẠNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHÔNG GIAN
NGẦM TẠI T/P HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY:
1 Nguyên tắc quản lý không gian ngầm hiện nay
* Đối với Thành phố Hồ Chí Minh:
Theo Nghị định 39/2010/NĐ-CP ngày 07-4-2010, quy định nguyên tắc “chính phủ thống nhất quản lý trên cơ sở giao cho UBND cấp tỉnh quản lý không gian ngầm đô thị trên địa bàn mình quản lý”
Từ đó, UBND TP Hồ Chí Minh giao cho các Sở chuyên ngành: quy hoạch, quản lý không gian ngầm theo phân công chuyên ngành.
Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một Sở chuyên ngành nào quan tâm nghiên cứu lãnh vực này.
Ngoài ra, các đơn vị quản lý, khai thác sử dụng các loại hạ tầng kỹ thuật, các loại công trình ngầm đô thị khác chịu trách nhiệm bảo trì, duy
tu, sửa chữa nâng cấp, phát triển các công trình chuyên ngành do mình quản lý
Do đó trong không gian ngầm, các công trình xây dựng ngầm có quá nhiều đầu mối quản lý nên đôi khi gặp sự cố có nơi không xác định được đơn vị quản lý công trình ngầm là đơn vị nào.
3
Trang 4* Đối với Trung Ương:
Chính phủ đã có Nghị định 39/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010,
về quản lý không gian xây dựng ngầm đô thị
Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư 11/2010/TT-BXD ngày 17-8-2010 Hướng dẫn về quản lý cơ sở dữ liệu công trình ngầm
Nhưng đến nay các quy định về quy hoạch, các tiêu chuẩn, quy trình cụ thể cho các loại công trình ngầm vẫn chưa hoàn chỉnh, việc quản lý các công trình ngầm về mặt quản lý nhà nước,
sử dụng, khai thác vẫn còn nhiều bất cập
Thông tư sau Nghị định 39 vẫn mới nói về việc quản lý các
cơ sở dữ liệu, ngay cả việc này vẫn còn lúng túng trong công tác triển khai tại các thành phố lớn
4
Trang 52 Thực trạng hệ thống công trình ngầm thuộc hạ tầng kỹ thuật tại T/p
Hồ Chí Minh
2.1 Về cấp điện
Tính đến năm 2010, tổng chiều dài lưới truyền tải (500KV, 220KV và 110KV) là 825,6 km Tỷ lệ ngầm hóa lưới điện nhìn chung còn thấp (tỷ lệ ngầm hóa lưới hạ thế là 12%, lưới trung thế khoảng 24,5%) và chủ yếu tập trung ở các quận trung tâm
Để giải quyết tình trạng mạng nhện trong thành phố, từ năm 2011, Tổng công ty Điện lực TP cũng đã triển khai dự án ngầm hóa dọc một số tuyến đường làm thí điểm và dự án này vẫn còn đang thực hiện.
2.2 Về bưu chính viễn thông
Hiện nay, toàn địa bàn TP Hồ Chí Minh có 1.286 điểm giao dịch bưu chính có người phục vụ, trong đó bao gồm: 238 bưu cục, 41 điểm bưu điện văn hóa xã và 1.007 đại lý bưu điện Đến nay, có khoảng hơn 19 triệu thuê bao điện thoại, chiếm khoảng 13% tổng số thuê bao điện thoại của cả nước
Internet đã có sự phát triển bùng nổ cả về số lượng thuê bao lẫn công nghệ Năm 2010, số thuê bao Internet đạt 919.322 thuê bao Số thuê bao internet/100 dân đã tăng từ chỉ tiêu 5,7 năm 2005 lên 12,4 năm
2010
5
Trang 6Ở đây chúng tôi cũng chưa đề cập đến hệ thống cáp quang
và các hệ thống thông tin liên lạc phục vụ an ninh quốc phòng
Kèm theo đây là sự phát triển ồ ạt về hệ thống truyền hình cáp của SCTV, HCTV cũng là một hệ thống phức tạp ăn theo các tuyến cáp bưu chính viễn thông và đương nhiên sẽ cần ngầm hóa theo quy định
Với các số liệu trên chúng ta cũng có thể hình dung ra số
lượng cáp ngầm do hệ thống bưu chính viễn thông này cần đi
trong lòng đất ra sao
2.3 Về cấp nước
Tổng số hộ dân được cấp nước từ hệ thống cấp nước của Tổng Công ty cấp nước Sài Gòn khoảng 1.140.000 hộ Điều này
có liên quan đến công tác quản lý và bảo trì mạng lưới đường
ống cấp nước (khoảng 3.500km ống truyền tải cấp 1, 2 và
4.156km ống cấp 3, 4), toàn bộ là hệ thống ngầm, tức là khi bảo trì sửa chữa sẽ có đào bới và tái lập Như vậy nó ảnh hưởng rất lớn đến không gian ngầm
Ở đây chúng ta cũng cần quan tâm tới hệ thống giếng khoan
để lấy nước ngầm, hệ thống này cũng ảnh hưởng rất lớn đến
không gian ngầm nên phải nghĩ đến công tác quản lý và kiểm
Trang 72.4 Thoát nước:
Hệ thống cống thoát nước của thành phố hiện nay là hệ
thống cống chung, vừa thiếu về số lượng vừa nhỏ về tiết diện, được xây dựng qua nhiều giai đoạn, phần lớn có tuổi thọ trên 40 năm Tổng chiều dài cống thoát nước cấp 2, cấp 3 và cấp 4 trên toàn Thành phố hiện nay khoảng 1.592 km, trong đó khoảng
1.142 km cống thoát nước cấp 2, cấp 3 và khoảng 450km cấp 3, cấp 4 Có tổng số 816 cửa xả ra kênh rạch, trong đó 93 cửa bị nhà dân lấn chiếm ( theo thống kê năm 2010)
Hệ thống thoát nước mới phủ một diện tích khoảng 62km2, chỉ khoảng 12% diện tích đất xây dựng trên toàn địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, phục vụ cho khoảng 70% dân số đô thị Khả năng tiêu thoát của hệ thống thoát nước còn rất hạn chế Tình trạng ngập nước mặc dù có giảm về số lượng: năm 2001 có 137 điểm, đến năm 2010 còn 58 điểm ngập, tuy nhiên công tác giải quyết ngập trên địa bàn thành phố vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra rất cấp bách hiện nay
Đối với vấn đề thoát nước thải từ các chung cư cao tầng
hiện nay đang là một vấn nạn mà hiện chưa ai quan tâm , tuy
nhiên nó sẽ bùng nổ trong thời gian sắp tới do mạng lưới thoát nước trong thành phố hiện hữu chưa có quy hoạch để đáp ứng
số lượng người sử dụng từ các chung cư cao tầng mà trước đây chỉ là những khu nhà cao bình quân từ 2 đến 4 tầng 7
Trang 82.5 Tầng hầm của các chung cư cao tầng:
Hiện nay ở các chung cư cao tầng do mặt bằng dành cho việc đậu xe không đủ theo quy định, hoặc do mục đích kinh doanh , cần khai thác thêm diện tích sử dụng nên việc khai thác không gian
ngầm để làm khu để xe, tăng diện tích kinh doanh hoặc làm tầng hầm kỹ thuật rất phổ biến Nhưng những quy định , quy chuẩn, quy phạm , tiêu chuẩn cho không gian ngầm này vẫn còn rất hạn chế
2.6 Các hệ thống giao thông công cộng ngầm:
Trong tương lai rất gần , T/p Hồ Chí Minh còn thực hiện các
dự án tàu điện, dự kiến khoảng 6 tuyến và tuyến nào cũng có đoạn
đi ngầm dưới lòng đất
Với thực trạng như trên , nhưng công tác quản lý hoàn toàn phức tạp , dưới đây là một số thông tin cơ bản về công tác quản lý
các công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm trong T/p HCM:
Các Khu Quản lý giao thông đô thị: quản lý phần mặt đường các tuyến đường lớn, đường kết nối nhiều quận huyện trên địa bàn thành phố (dài khoảng 1.165km)
UBND các quận, huyện: quản lý các tuyến đường nội quận, đường khu vực (dài khoảng 2.259km), đường hẻm, hệ thống thoát nước (dài khoảng 899,8km) và toàn bộ vỉa hè (bao gồm cả bó vỉa) trên địa bàn (kể cả vỉa hè trên các đường do các Khu Quản lý giao
Trang 9Trung tâm điều hành chương trình chống ngập nước thành phố:
quản lý hệ thống thoát nước được phân cấp cho đơn vị quản lý (dài
khoảng 1.039,5km).
Tổng Công ty cấp nước Sài Gòn và Trung tâm nước sạch nông thôn (Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn) quản lý hệ thống các
ống cấp nước trên địa bàn thành phố
Tổng công ty điện lực thành phố và các Công ty điện lực của
Trung ương : quản lý hệ thống các cáp ngầm điện lực trên địa bàn thành phố (do Sở Công thương quản lý nhà nước).
Các Công ty quản lý hệ thống cáp ngầm viễn thông của Trung
ương và địa phương : quản lý hệ thống cáp viễn thông, cáp truyền
hình (do Sở Thông tin và Truyền thông quản lý nhà nước).
Ngoài ra, còn có một số đơn vị khác quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác như Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp, các
doanh nghiệp B.O.T được giao nhiệm vụ quản lý từng khu vực trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (Công ty liên doanh Phú Mỹ Hưng, Công ty
cổ phần đầu tư phát triển hạ tầng IDICO-IDI; Công ty cổ phần đầu tư hạ tầng kỹ thuật thành phố - CII )
Như vậy chúng ta nhận thấy rằng vấn đề ngầm hóa và phối hợp cùng nhau vận hành, quản lý các loại hạ tầng kỹ thuật (như điện, bưu chính viễn thông , cấp nước…) và việc sử dụng phần ngầm cho các công trình xây dựng, giao thông khác trong không gian ngầm hiện nay là rất bất cập 9
Trang 10II.CÁC HỆ QUẢ DO THỰC TRẠNG HIỆN NAY DẪN ĐẾN :
• Khi chuẩn bị thực hiện một công trình có sử dụng không gian
ngầm của Thành phố thì các quy trình, quy định thống nhất cho các công tác từ lúc lập dự án cho đến khi thi công hoàn tất đưa vào sử dụng chưa rõ ràng, do đó gây ra khó khăn cho Chủ đầu
tư, Nhà thầu trong việc thực hiện các bước của dự án và ngay
cả các đơn vị quản lý Nhà nước cũng lúng túng trong việc phê duyệt dự án cũng như cấp phép thi công và kiểm tra công tác hoàn công, bàn giao công trình
• Khi chuẩn bị thiết kế một công trình trong không gian ngầm
của T/p, đơn vị thiết kế khó có đầy đủ thông tin (đôi khi cũng có nhưng lại không chính xác) về các công trình ngầm hiện hữu để tránh xung đột trong quá trình thi công Do thông tin phần không gian ngầm do từng đơn vị quản lý lưu giữ, nên công tác thu thập rất khó khăn và không đồng bộ cũng như không chính xác vì
không được cập nhật kịp thời
• Từ vấn đề trên trong quá trình thi công, khi phát hiện xung đột
hoặc ảnh hưởng đến các công trình ngầm hiện hữu, nhà thầu phải ngưng thi công thông báo cho các đơn vị quản lý chờ giải quyết xử lý (sửa đổi thiết kế, di dời các công trình hiện hữu, chờ
kế hoạch vốn , chờ phê duyệt các thay đổi, bổ sung vừa nêu) đôi khi kéo dài đến 5~6 tháng 10
Trang 11Như vậy tạo nên lãng phí thời gian, chi phí, ảnh hưởng chất lượng công trình kể cả cũ và mới.
• Sau quá trình thi công , nền đường có thể xảy ra lún sụp do
khi thực hiện các công trình mới gây ảnh hưởng đến các công trình hiện hữu nhưng nhà thầu cũng như TVGS hay các đơn
vị chủ quản không quan tâm kiểm tra theo dõi, quan trắc trong suốt quá trình thi công và sau khi thi công
• Ngoài ra , qua kiểm tra thực tế Module đàn hồi, so sánh điểm quan trắc trên mặt nhựa tái lập với mặt nhựa hiện hữu ta
thống kê được bảng sau :
Thông thường kết quả đo được từ 2.100Kg/cm2 ~ 2.700 kg/cm2.11
Trang 12Ngoài ra Nghị định 39/2010 có nhắc đến vấn đề “Quan trắc địa kỹ thuật công trình ngầm” tại Điều 29, khoản 2, tiểu mục a)
+ Tiểu mục: d) Khi quan trắc thấy có yếu tố bất thường thì nhà thầu xây dựng phải thông báo cho Chủ đầu tư hoặc chủ quản lý sử dụng và cơ quan thiết kế để có các biện pháp xử lý kịp thời
• Chưa có một sơ đồ hoặc bản đồ công trình ngầm hoàn chỉnh
của toàn thành phố phục vụ cho việc quy hoạch , quản lý và phát triển không gian ngầm hiện nay và trong tương lai
• Chưa có định chế về quy hoạch, thiết kế, thi công, xử lý khi có
xung đột các công trình ngầm và biện pháp chế tài xử phạt khi các nhà thầu làm ảnh hưởng đến các công trình (ngầm lẫn nổi) lân cận hiện hữu
12
Trang 13Một số hình ảnh minh họa hiện trạng công trình ngầm trong thành phố :
13
Trang 17III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP:
1 Phải có Cơ quan quản lý chung cho phần không gian ngầm:
Mỗi thành phố cần thành lập một cơ quan đặc biệt quản lý không gian ngầm toàn thành phố Đơn vị này sẽ lưu trữ thông tin về không gian ngầm, đề xuất định hướng quy hoạch phát triển sử dụng không gian ngầm của T/p Các thông tin hiện nay
do từng ngành từng đơn vị quản lý, cũng có các đơn vị sử dụng các phần mềm chuyên dụng ( thí dụ như phần mềm GIS) để theo dõi hệ thống ngầm do mình quản lý , nhưng không cập
nhật được những hệ thống khác để phối hợp quản lý
Theo Thông tư 11/2010 thì hiện nay đơn vị quản lý dữ liệu
sẽ hoạt động bằng nguồn vốn ngân sách và là một đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin cho tất cả đối tượng có nhu cầu xây dựng các công trình trong không gian ngầm của T/p
Mặc dù hiện nay Ủy ban nhân dân t/p đã phân công cho công tác cấp phép, kiểm tra giám sát các hoạt động ảnh hưởng đến không gian ngầm của T/p cho các Sở chuyên ngành như
Sở Giao thông Vận tải, Sở Xây dựng ; nhưng nên chăng chúng
ta nghiên cứu chuyển công tác này về một mối cho Cơ quan đặc biệt QLKGN như đề xuất ở trên
H
17
Trang 182 Ban hành cơ chế cấp phép sử dụng và thu tiền sử dụng phần không gian ngầm :
Theo Nghị định 39/2010 ban hành ngày 7/4/2010, các tổ
chức, cá nhân trong hoặc ngoài nước khi sử dụng không gian ngầm để xây dựng công trình có mục đích kinh doanh thì phải trả tiền thuê đất theo quy định
Chính phủ cũng giao cho Bộ Tài nguyên và môi trường chủ trì cùng các Bộ liên quan khác xây dựng cơ chế quản lý và sử dụng đất để xây dựng các công trình ngầm đô thị
Các vấn đề trên đây hiện nay vẫn chưa hoàn tất , như vậy nếu muốn thực hiện UBND các cấp Tỉnh , Thành phố phải giao nhiệm vụ tạm thời cho môt Cơ quan quản lý không gian ngầm nghiên cứu ban hành tạm theo quy hoạch phát triển của địa
phương mình
3 Trong giai đoạn lập dự án và thiết kế cơ sở các công
trình có sử dụng không gian ngầm :
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: tư vấn thu thập thông tin về các
công trình ngầm (CTN) hiện hữu bằng cách thông báo phạm vi
dự án cho đơn vị Quản lý không gian ngầm, yêu cầu cung cấp
thông tin
18
Trang 19Sau khi có thông tin, có các trường hợp cần quan tâm:
* Trường hợp 1: Có xung đột với CTN hiện hữu: phải có điều chỉnh
thiết kế hoặc lập phương án di dời CTN hiện hữu
Việc thiết kế và thi công di dời CTN hiện hữu phải do chính đơn vị
chủ quản CTN đó thực hiện Kinh phí cho công việc này được tính đền bù trọn gói dự trù trong Tổng mức đầu tư của dự án mới tạo ra xung đột.
Ngoài ra đối với dự án mở rộng lộ giới đường, lưu ý việc di dời và lấp đầy những đường ống không còn sử dụng mà sau này có khả năng tự
hư hỏng hoặc tự hủy (Đường ống cấp hoặc thoát nước)
* Trường hợp 2: CTN ngầm mới đang thiết kế được đặt song song
trong hệ thống CTN hiện hữu
Đơn vị lập dự án phải dự trù phương án bảo vệ và giữ ổn định các
CTN hiện hữu
Ngoài ra khi lập Tổng mức đầu tư cần lưu ý kinh phí cho phần đào
thăm dò, khảo sát hiện trạng khu vực trước khi thi công, cũng như kinh phí quan trắc các công trình lân cận trong quá trình thi công Các loại kinh phí này được xem như kinh phí tạm tính dự phòng (Provisional sum), có thể đưa sẵn trong hồ sơ mời thầu một khoản tiên lượng trước.
* Trường hợp 3: Đối với những khu vực chưa có công trình ngầm hiện hữu hoặc những khu vực mới phát triển, cần tham khảo quy hoạch được
duyệt hoặc thiết kế mẫu cho các công trình ngầm để đưa vào dự án hay
Trang 204 Trong giai đoạn thực hiện dự án:
Đơn vị thi công phải xin phép Cơ quan được giao nhiệm vụ
quản lý không gian ngầm (QLKGN) , trong hồ sơ xin phép
phải nêu rõ các trở ngại do các CTN hiện hữu, biện pháp di dời hay bảo vệ (kèm theo phương án thi công và tái lập cụ
thể).Việc này Nhà nước đã có quy định rõ ràng
Phải khảo sát kỹ ( nếu cần phải đào thăm dò) khu vực thi công để kiểm tra đối chiếu với bản đồ hoặc bản vẽ hoàn công các công trình ngầm đã được cung cấp, nếu có sai khác phải báo cáo với Chủ đầu tư và đơn vị quản lý CTN cùng với biện pháp xử lý cụ thể
Đơn vị thi công phải ký quỹ cho Cơ quan được giao QLKGN,
sẽ được hoàn lại khi hết thời gian bảo hành theo quy định
Trong quá trình thi công, ngoài sự giám sát của đơn vị tư vấn giám sát, còn phải chịu sự kiểm tra, kiểm định đột xuất của
Cơ quan được giao QLKGN
Trước khi tái lập phải thông báo cho Cơ quan QLKGN, để kiểm tra các công trình ngầm hiện hữu chung quanh trước khi lấp hố đào
20