1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thoái hoá, biến chất của một bộ phận cán bộ đảng viên ở n ớc ta hiện nay và những giải pháp ngăn ngừa, khắc phục

238 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 238
Dung lượng 4,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn vào lịch sử các cuộc khủng hoảng và thời kỳ trì trệ kéo dài của CNXH hiện thực, từ Liên Xô cũ đến các nước XHCN trên thế giới cho tới khi đổ vỡ thể chế XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, hệ

Trang 1

học viện chính trị – hành chính quốc gia

hồ chí minh

********************

Báo cáo tổng kết các chuyên đề nghiên cứu

thuộc đề tài khoa học cấp bộ 2007

Hà Nội 3/2008

Trang 2

Các tác gia kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cảnh báo và đấu tranh trước nguy cơ thoái hóa, biến chất

của Đảng cầm quyền

Hoàng Chí Bảo

GS,TS Triết học

Chuyên gia cao cấp

ủy viên Hội đồng Lý luận TW

1- Nhận xét tổng quát về lý luận và thực tiễn

Chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Mác - Lênin được xây dựng và phát triển bởi những trí tuệ thiên tài Mác - Ăngghen và Lênin, từ những năm 40 thế kỷ XIX đến những năm 20 thế kỷ XX Nếu Mác - Ăngghen là những người phát

kiến ra học thuyết lý luận khoa học về CNXH, làm cho CNXH từ không tưởng

trở thành khoa học thì Lênin là người đã truyền bá học thuyết lý luận đó vào

nước Nga đồng thời đã phát triển sáng tạo lý luận của Mác - Ăngghen trong những điều kiện sử mới, khi CNTB tự do cạnh tranh chuyển thành CNTB độc quyền lũng đoạn và chủ nghĩa đế quốc

Cống hiến lịch sử vô giá của Mác - Ăngghen là ở chỗ, các ông không những xây dựng nên quan niệm duy vật về lịch sử- đó là thành tựu vĩ đại bậc nhất trong lịch sử tư tưởng nhân loại - mà còn phát hiện ra thực chất của phương thức sản xuất TBCN là bóc lột giá trị thặng dư sức lao động của vô sản

và lao động làm thuê Bằng cách đó, các ông, trước hết là Mác, đã vén lên bức màn bí mật của CNTB, vạch trần cái sự thật tàn bạo, phi nhân tính vốn bị che

đậy bởi những sự lừa bịp giả dối, thức tỉnh công nhân và lao động đứng lên tự giải phóng Hơn nữa, Mác và Ăngghen còn phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản (công nhân hiện đại), thấy rõ đó là một giai cấp cách mạng, là lực lượng xã hội sẽ phủ định CNTB, lật đổ chính quyền thống trị của giai cấp

Trang 3

tư sản, giành lấy quyền lực cho mình, giải phóng xã hội loài người, xóa bỏ tình cảnh nô lệ và đạt tới tự do

Phát hiện này của Mác - ăngghen làm nên giá trị cốt yếu, quan trọng bậc nhất đối với lý luận CNXH khoa học

Đóng góp vĩ đại của Lênin, làm cho chủ nghĩa Mác phát triển thành chủ nghĩa Mác - Lênin lại là ở chỗ, đã làm nên Cách mạng Tháng Mười Nga,

1917, chuyển CNXH khoa học thành CNXH hiện thực, đã làm cho CNXH từ học thuyết lý luận, từ lý tưởng và mục tiêu thành hiện thực CNXH với tư cách

là một chế độ xã hội kiểu mới đã sinh thành trong thực tiễn, sau thắng loại của Cách mạng Tháng Mười

ở thời đại mình, Mác - ăngghen đã soạn thảo Cương lĩnh chính trị của GCVS và phong trào vô sản, luận chứng tính tất yếu của cách mạng vô sản và

dự báo xã hội tương lai CSCN Đó là bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vào năm 1848, đánh dấu sự thành thục của chủ nghĩa Mác Bằng cách đó, Mác -

Ăngghen đã đặt nền móng cho lý luận khoa học về CNXH và CNCS Học

thuyết của các ông đánh dấu sự thắng lợi của CNXH và CNCS trên địa hạt lý

luận, các ông đã làm được một việc vĩ đại theo đánh giá của Lênin là đem khoa học thay thế cho mộng tưởng

Các ông cũng đã vạch ra lý luận về Đảng Cộng sản - đội tiên phong của GCVS, lực lượng lãnh đạo cuộc cách mạng vô sản để đi tới chế độ xã hội mới CSCN Trong Tuyên ngôn, Mác- Ăngghen đã khẳng định: thất bại của giai cấp tư sản và thắng lợi của GCVS đều là một tất yếu lịch sử như nhau Các ông cũng trình bày rõ trong Tuyên ngôn rằng, giai đoạn thứ nhất của cuộc cách mạng công nhân sẽ là một cuộc cách mạng chính trị (tức là cách mạng giành lấy quyền lực) và GCCN phải trở thành một giai cấp thống trị, thành lực lượng thống trị trong lòng dân tộc, có nghĩa là không chỉ lãnh đạo giai cấp mà còn lãnh đạo cả dân tộc đi tới xã hội tương lai Đảng Cộng sản, theo Mác -

Ăngghen là lực lượng lãnh đạo để thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCVS Các

ông đã phân tích lý luận cực kỳ sâu sắc, phân biệt vô sản với những người

Trang 4

cộng sản, chỉ rõ những dấu hiệu xác nhận vô sản với những người cộng sản, chỉ rõ những dấu hiệu xác nhận vô sản với tính cách là một giai cấp, khi nó trưởng thành về mặt chính trị và hoạt động với tư cách là một lực lượng chính trị độc lập, hành động của nó phải thể hiện nó là đại biểu cho lợi ích chung của cả phong trào, và những người cộng sản hợp thành chính Đảng của GCVS

là những người ưu tú nhất, kiên định nhất, trở thành đội tiên phong cho cả giai cấp, lãnh đạo sự nghiệp giải phóng giai cấp và xã hội

Chính từ luận thuyết ấy mà sau này, Lênin đã xây dựng nên học thuyết

về Đảng kiểu mới

Song, khi còn sống, Mác - ăngghen chỉ mới có điều kiện chứng kiến trực tiếp sự kiện Công xã Pari, 1871 Đây là hình thái của một cuộc cách mạng vô sản, nổ ra trên mảnh đất của CNTB đã phát triển, ấy là nước Pháp mà Pari hồi đó là một trung tâm đấu tranh chính trị giữa vô sản và tư sản Công xã Pari

là một thể nghiệm tư tưởng lý luận về cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác Công xã Pari đã đem lại quyền lực cho giai cấp công nhân và đã sáng tạo ra một hình thức chính quyền kiểu mới để thực thi quyền lực của vô sản và lao

động trên thực tế Dù chỉ tồn tại trong 72 ngày và sau đó thất bại trước những

đòn phản công quyết liệt của giai cấp tư sản nhưng công xã đã để lại những bài học kinh nghiệm quý giá cho phong trào vô sản Châu Âu và thế giới

Cách mạng Tháng Mười đã thừa hưởng được từ Công xã những kinh nghiệm quý báu đó, cả những bài học kinh nghiệm thành công và không thành công

Mác đã tổng kết những nguyên nhân thất bại của Công xã mà một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là không thực hiện được liên minh công nông trong cuộc cách mạng chống lại quyền lực của giai cấp tư sản Bởi thế, công nhân Pari dù đã có những hành động dũng cảm hy sinh phi thường với tất cả khí phách và sức mạnh “xông lên bầu trời” nhưng rốt cuộc cũng vẫn chỉ như tiếng hót cô độc của bầy thiên nga trước biển cả và bài đồng ca của giai cấp vô sản đã không thể tránh khỏi trở thành bài đơn ca ai điếu Từ thực tế của

Trang 5

Công xã, Liên minh công nông đã trở thành một nguyên lý có tính quy luật của cách mạng vô sản, nhất là khi cuộc cách mạng này diễn ra trong các quốc gia nông dân

Mác cũng tổng kết các cuộc đấu tranh giai cấp của công nhân chống tư bản hồi giữa thế kỷ XIX ở Pháp và đưa ra một nhận định thiên tài rằng, cách mạng có thể thất bại nhưng cách mạng sẽ không bao giờ bị tiêu diệt Cách mạng Tháng mười Nga do Lênin và Đảng Bôn sơ vích lãnh đạo nổ ra và thắng lợi ở thời điểm 46 năm sau công xã đã xác nhận tính đúng đắn của tư tưởng nói trên

Những kiến giải đặc sắc của Mác -Ăngghen về GCVS và Đảng của nó chủ yếu là bàn về cuộc đấu tranh chính trị để giành lấy chính quyền, để giành lấy quyền lực và đưa Đảng Cộng sản thành một Đảng nắm lấy quyền lực và cầm quyền Ngoài Công xã Pari, các ông chưa có điều kiện biết đến một thực

tế nào khác, bởi vậy tư tưởng của Mác - Ăngghen, một phần lớn là dự báo về tương lại

Trong di sản của Mác - Ăngghen, lý luận về Đảng Cộng sản đã được

các ông đặt nền móng và có những đóng góp, song các ông lại chưa có thực

tiễn để bàn về lý luận Đảng Cộng sản cầm quyền Phải đến Lênin, với sự ra

đời của nước Nga Xô viết, nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới do Đảng Cộng sản lãnh đạo mà Lênin gọi là Đảng chấp chính thì địa vị cầm quyền của

Đảng Cộng sản mới thực sự được xác lập Đảng Cộng sản cần quyền cũng là thời điểm mở đầu cho công cuộc xây dựng chế độ mới XHCN Thực tiễn đã giúp cho Lênin có những quan điểm tư tưởng và hình thành những luận điểm

về Đảng Cộng sản cầm quyền

Dù thực tiễn không dài, chỉ vẻn vẹn có 7 năm (1917-1924), trong đó đã mất 3 năm nội chiến và khủng hoảng trong bối cảnh áp dụng chính sách cộng sản thời chiến để chống thù trong giặc ngoài, song những năm Lênin trực tiếp lãnh đạo Đảng và điều hành Hội đồng dân ủy (Chính phủ của nước Nga Xô viết), đặc biệt là việc khởi xướng và tổ chức thực hiện chính sách kinh tế mới

Trang 6

(NEP) đã giúp cho Lênin thấy rõ tình hình và hiện trạng của Đảng cầm quyền, cả những thuận lợi và khó khăn, cả nguy cơ và thách thức

Lịch sử CNXH hiện thực đã từng biết đến những trù tính cải cách của Lênin, cả những sự thay đổi cơ bản của ông về lý luận xây dựng CNXH với

hình thức chuyển sang bước quá độ gián tiếp thay cho kiểu qúa độ trực tiếp

không phù hợp với trình độ của một nước Nga chưa trải qua sự phát triển thành thục của CNTB, nhất là các nước cộng hòa Trung á khi đã gia nhập vốn còn rất nhiều tàn tích lạc hậu tiền TBCN, Liên bang Xô viết và quá độ tới CNXH

Do Lênin mất quá sớm (ông mất khi mới có 54 tuổi), những dự án cải cách của ông chỉ vừa mới bắt đầu, trong đó có chỉ thị về “Thanh Đảng” và cải cách bộ máy nhà nước, chống quan liêu và nạn hối lộ… nên nhiều giải pháp cải cách mạnh mẽ, nhiều biện pháp quyết liệt để làm trong sạch bộ mấy và đề cao tính nghiêm minh thể chế của ông chưa được thực hiện

Mặc dù vậy, tác dụng, hiệu quả của NEP làm hồi sinh nhanh chóng nước Nga, sự kết hợp cả động lực và đòn bẩy kinh tế với những đảm bảo của chính trị mà Lênin là người đề xướng đã cho thấy tính đúng đắn của những tư tưởng cải cách của Lênin Việc Lênin đưa ra những cảnh báo nghiêm khắc và

đấu tranh quyết liệt trước nguy cơ thoái hóa, biến chất của Đảng cầm quyền, nhất là ở bộ phận những người lãnh đạo có chức vụ, có thẩm quyền đã trở nên thực sự cần thiết, đúng lúc và có giá trị mãi mãi đối với Đảng cầm quyền

Đã từng có những giả định rằng, nếu Lênin không mất quá sớm như vậy

để có thể trực tiếp cầm quyền, lãnh đạo Đảng và Nhà nước nước Xô viết một thời gian nữa, lịch sử nước Nga XHCN chắc sẽ khác, nghĩa là đi theo một chiều hướng tích cực chứ không phải lại trì trệ, khủng hoảng khi vội vã và

chấm dứt NEP sau khi Lênin mất Có điều là, lịch sử tự vạch lấy đường đi của

nó, nó không vận động theo các giả định hoặc thế này hoặc thế khác

Vấn đề là ở chỗ, những chỉ dẫn, những cảnh báo của Lênin là thực sự có

giá trị và ý nghĩa, không chỉ trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, trong nhiều thập kỷ

Trang 7

xây dựng CNXH tiếp theo mà còn mãi tới ngày nay với tất cả tính thời sự và hiện đại của nó

Nhìn vào lịch sử các cuộc khủng hoảng và thời kỳ trì trệ kéo dài của CNXH hiện thực, từ Liên Xô (cũ) đến các nước XHCN trên thế giới cho tới khi đổ vỡ thể chế XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, hệ thống XHCN thế giới tan rã, ta cũng thấy những cảnh báo, tiên liệu của Lênin là quý giá biết chừng nào, các nước XHCN còn lại và các Đảng Cộng sản cầm quyền ở đó, trong đó có

nước ta, trong tiến trình cải cách, đổi mới hiện nay nếu hiểu đúng và làm đúng

theo những chỉ dẫn của Lênin về đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện suy thoái, biến chất trong Đảng, ra sức chấn chỉnh, làm cho Đảng trong

sạch vững mạnh thì chắc chắn sẽ tìm ra con đường phát triển và triển vọng tốt

đẹp của Đảng Cộng sản cầm quyền

Các Đảng Cộng sản đã từng cầm quyền và sau đó tự đánh mất vai trò

cầm quyền của mình do mắc phải sai lầm trong đường lối, phương pháp chính trị, cũng còn do xảy ra tình trạng thoái hóa biến chất, thậm chí phản bội lý tưởng, mục tiêu ở trong nội bộ Đảng, càng cần phải nghiêm túc nhận thức lại

di sản kinh điển, nhất là di sản Lênin để đủ dũng cảm và bản lĩnh làm lại từ

đầu sự nghiệp đã bị đổ vỡ, cả do tự hủy hoại lẫn do bị phá hoại bởi chủ nghĩa

đế quốc Đó sẽ là con đường phục hưng chân chính của CNXH, trên trình độ mới, hiện đại chứ không phải lặp lại những cái đã quá thời, đã bị lịch sử vượt qua

Đó là điều diễn giải và lưu ý thứ nhất

Điều thứ hai cần nhấn mạnh là:

Khi đặt vấn đề về những cảnh báo và đấu tranh trước nguy cơ thoái hóa, biến chất của Đảng cầm quyền của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin

thì chủ yếu cần phải khai thác từ di sản lý luận của Lênin trong các văn phẩm

thời kỳ sau Cách mạng Tháng Mười Sự giới hạn này có cơ sở thực tiễn và lịch

sử của nó, bởi lẽ, chỉ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, Đảng Cộng

sản do Lênin trực tiếp lãnh đạo mới thực sự ở vào vị thế một Đảng cầm quyền

Trang 8

Dĩ nhiên là, trong di sản của Mác và Ăngghen, như đã nói ở trên, tuy các ông không trực tiếp bàn tới chủ đề này nhưng một số luận điểm của các

ông cũng có ý nghĩa đối với các Đảng cầm quyền và những người cộng sản cầm quyền sau này Có thể và cần phải khai thác những luận điểm ấy để soi sáng cho hoạt động cầm quyền của Đảng, ví dụ: Mác - ăngghen đặt vấn đề về vai trò của quần chúng trong sự sáng tạo lịch sử, vai trò của lợi ích trong mối quan hệ với tư tưởng, vai trò của lý luận trong hoạt động cải biến thực tiễn của những người cách mạng, vai trò của dân chủ và mặt đối lập của nó là quan liêu

và chủ nghĩa quan liêu, nhà nước trong quản lý kinh tế và xã hội Những vấn

đề ấy đều có quan hệ trực tiếp tới những trọng trách và nhiệm vụ phải giải quyết của chính đảng cộng sản khi cầm quyền

Điều đặc biệt đáng lưu ý là Mác đã từ thực tế của Công xã Pari, đưa ra những nhận xét về việc phải thi hành những chính sách và biện pháp như thế nào đối với công chức trong bộ máy nhà nước để đảm bảo cho nhà nước không bị suy yếu bởi chính những sự thoái hóa của công chức trong bộ máy công quyền này Đó là một trù tính sâu xa của Mác

Ăngghen cũng đề cấp tới sự phòng ngừa những chứng bệnh ảo tưởng, chủ quan rất dễ mắc phải khi con người ta thoát ly những điều kiện hiện thực của lịch sử, hành động xa lạ với quy luật, mà làm trái quy luật thì chỉ có các hành động mù quáng, phưu lưu chứ không thể tự giác và sáng tạo Những kiến giải ấy, dù thế nào cũng vẫn hết sức cần thiết cho hoạt động cầm quyền mà tổ chức cầm quyền (Đảng) và người cầm quyền (đảng viên, công chức) phải cân nhắc thực hiện một cách sáng tạo

Trình bày những vấn đề đó để so sánh với Lênin và nhận ra những sự bổ

sung, những phát triển của Lênin trong điều kiện Đảng cầm quyền

ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đề cập và giải quyết những vấn đề đó, đã bàn tới vấn đề thoái hóa, biến chất của không ít các quan chức, công chức và

nêu rõ một cách rất thực tế cách chữa các chứng bệnh đó, làm cho Đảng trở

thành Đảng của đạo đức và văn minh, thành Đảng chân chính cách mạng Là

Trang 9

một nhà tư tưởng lớn đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh có những phát triển quan trọng về lý luận Đảng cầm quyền và vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Cần phải khai thác những giá trị đó trên tinh thần đổi mới tư duy,

đổi mới phương pháp và quan điểm lý luận

Như thế việc khai thác các giá trị lý luận trong di sản kinh điển mới có thể hữu ích và hợp lý cho nhận thức và hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đổi mới hiện nay

Điều lưu ý thứ ba được đặt ra, đó là, cần có một cách tiếp cận mới về hiện tượng suy thoái, biến chất của Đảng cầm quyền

Không nên chỉ thấy suy thoái, biến chất về mặt đạo đức, phẩm giá, của

cán bộ, đảng viên trong Đảng cầm quyền Trên thực tế, có biết bao vấn đề đặt ra: đó là sự lạc hậu, bất cập, trì trệ, sơ cứng về quan điểm lý luận, tư tưởng

Điều đó phải được coi là một biểu hiện suy thoái không thể xem thường khi nói về suy thoái và biến chất

Đó còn là những căn bệnh quan liêu tham nhũng, làm suy yếu Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị

Hơn nữa sự thoái hóa, biến chất của Đảng cầm quyền có thể ở nhiều đối

tượng, nhiều mức độ Có khi là những cá thể mà cũng có khi sự suy thoái, biến

chất lại rơi vào cả một tập thể, một tổ chức hoặc nhiều tổ chức, với những phạm vi đối tượng khác nhau, mức độ nghiêm trọng khác nhau

Điều này liên quan tới hàng loạt mối quan hệ giữa con người với tổ chức, với thiết chế và thể chế trong Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể Giải quyết vấn đề phòng ngừa và xử lý thoái hóa, biến chất của Đảng cầm

quyền đòi hỏi phải đồng bộ trên tất cả các mặt chính trị- tư tưởng - tổ chức,

đạo đức và lối sống, nhất là phải dựa vào dân thì mới xây dựng được Đảng

trong sạch, vững mạnh, làm cho Đảng có một đội ngũ mạnh, những cán bộ

đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ, công bộc, trung thành,

Trang 10

tận tụy của dân thực sự là những tấm gương và biết nêu gương cho mọi người

Lý luận về Đảng Cộng sản cầm quyền trong di sản kinh điển mác xít, như đã nói, còn nhiều vấn đề chưa được lý giải thấu đáo Dường như các nhà kinh điển mới chỉ đặt vấn đề mà chưa trực tiếp giải quyết Một mặt, do giới hạn lịch sử của thời đại mình, CNXH mới chỉ vừa sinh thành, như một mầm non mới nhú, còn non yếu các ông chưa có nhiều thực tế để kiểm chứng và khái quát thành lý luận

Mặt khác, là những nhà tư tưởng với thế giới quan duy vật triệt để, với tư duy biện chứng sắc sảo, nắm vững phép biện chứng duy vật như một khoa học về phát triển, các ông không bao giờ đi sâu mô tả, chi tiết hóa một cách chủ quan, tư biện cái đối tượng vốn còn ở dạng phôi thai, chưa phát triển đầy

Lênin cũng chỉ dẫn rằng, bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác

đòi hỏi những người mác xít khi vận dụng lý luận vào thực tiễn phải phân tích

cụ thể một tình hình cụ thể Hơn nữa, phải thường xuyên bổ sung, phát triển

chủ nghĩa Mác nếu không muốn trở thành những người lạc hậu so với cuộc sống

Trang 11

Vận dụng những chỉ dẫn đó của các nhà kinh điển chúng ta xem xét giai đoạn phát triển bước ngoặt của Đảng Cộng sản khi đã ở vào vị thế Đảng cầm quyền trên 2 phương diện - thời cơ và thuận lợi, thách thức và khó khăn

Từ khi nước Nga Xô viết ra đời cho đến khi thể chế Xô viết sụp đổi là một khoảng thời gian khá dài, trên 7 thập kỷ Đó là khoảng thời gian Đảng

Cộng sản thực thi việc cầm quyền rồi tự đánh mất vai trò cầm quyền, để lại

không ít những bài học phải trả giá đắt ngoài ý muốn

Đảng Cộng sản cầm quyền đã mở ra cho Đảng những thuận lợi và thời cơ phát triển đầy triển vọng Đó là :

- Đảng có điều kiện hoạt động công khai, sự lãnh đạo của Đảng được thể chế hóa thành pháp luật Tư tưởng, đường lối, nghị quyết của Đảng có điều kiện đi vào cuộc sống một cách nhanh chóng qua các hệ thống giáo dục, tuyên truyền và các phương tiên thông tin đại chúng

- Quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được ghi nhận

và khẳng định thành một điều luật trong Hiến pháp, là luật cơ bản, có giá trị

pháp lý cao nhất Từ đây, địa vị pháp lý về quyền lãnh đạo của Đảng như một

quyền lực chính trị cao nhất, đảm nhận trọng trách lịch sử dẫn dắt nhân dân, dân tộc và GCCN tới CNXH được thừa nhận và được luật pháp bảo vệ

- Đảng có điều kiện bố trí cán bộ đảng viên của Đảng vào các cơ quan của bộ máy nhà nước, các đoàn thể cũng như trong hệ thống bộ máy của

Đảng từ Trung ương tới địa phương và tới tận cơ sở

- Đảng mở rộng ảnh hưởng của mình trong xã hội và trong các quan hệ quốc tế

- Đảng có những điều kiện vật chất thuận lợi để triển khai các hoạt

động Những điều kiện đó được nhà nước đảm bảo bằng nguồn kinh phí lấy từ ngân sách nhà nước

Đó là những thuận lợi rất cơ bản làm cho hoàn cảnh điều kiện hoạt

động và vị thế xã hội của Đảng khác rất xa so với thời kỳ chưa cầm quyền,

Trang 12

hoạt động bí mật,, bị coi là bất hợp pháp dưới lăng kính của các thế lực cầm

quyền thống trị đối tượng lật đổ của cách mạng

Song chính những thuận lợi đó, không chỉ nói lên thời cơ phát triển mà còn báo hiệu cả những nguy cơ tiềm ẩn của suy thoái rất dễ xảy ra, tức là

những thách thức mà Đảng phải đủ trí tuệ- đạo đức - bản lĩnh để vượt qua

Đây là điều mà các nhà kinh điển, đặc biệt là Lênin đã từng cảnh bóa nghiêm khắc Cụ thể của những thách thức đó là:

- Do cầm quyền và có những thuận lợi về vật chất nên cán bộ đảng viên, nhất là những người giữ chức vụ rất dễ trở nên quan liêu, xa dân, làm suy giảm mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng Lênin lo ngại về tình trạng

đội tiền phong (Đảng) thoát ly thực tiễn, chủ quan, duy ý chí, tự tách mình ra khỏi xã hội, đứng trên xã hội, xa rời quần chúng nhân dân, làm cho Đảng mất

sức sống và sức chiến đấu Theo Lênin, đây là nguy cơ lớn nhất, là tình huống

nguy hiểm nhất đối với một đảng cách mạng

Nguy hiểm ở chỗ, bệnh quan liêu, mệnh lệnh hành chính hóa kiểu nhà

nước đã làm cho Đảng tự suy yếu do suy yếu cơ sở xã hội của mình, tức là sức

mạnh của dân, sự tin cậy, ủng hộ của dân

- Do xa dân , xa thực tiễn nên đường lối, chính sách của Đảng trở nên không phù hợp với thực tiễn, không phản ánh được lợi ích, ý nguyện, tâm trạng quần chúng, chẳng những không được lòng dân mà còn mất lòng dân

Đảng lãnh đạo bằng đường lối, nghị quyết, cương lĩnh nên những sai sót trong lĩnh vực này nếu xảy ra sẽ dẫn Đảng tới sai lầm trong lãnh đạo Đó

là tình trạng mất phương hướng Lênin đã từng chỉ rõ, trong những thời điểm

bước ngoặt hoặc trong những tình thế phức tạp, nếu hoạt động lãnh đạo của

Đảng xuất hiện những sự tròng trành, dao động, những mất phương hướng thì

điều đó có nghĩa là tự sát về chính trị Biểu hiện dễ nhận thấy là mất sức chiến

đấu, không giữ được sự kiên định về nguyên tắc, từ bỏ mọi nguyên tắc

Trang 13

Việc từ bỏ nguyên tắc ý thức hệ ( chủ nghĩa Mác - Lênin), từ bỏ tập trung dân chủ, xóa bỏ điều khẳng định sự lãnh đạo của Đảng trong Hiến pháp

mà Đảng Cộng sản Liên Xô dưới thời Goóc ba chốp đã mắc phải là một sai lầm chết người, ví như tự giết chết mình Đảng không còn là một Đảng chiến

đấu, một Đảng hành động mà là một câu lạc bộ hỗn, bàn suông và kết cục là tan rã, mặc dù Đảng đã từng có lịch sử 100 năm hoạt động với một đội ngũ 19 triệu đảng viên

- Nguy cơ rơi vào trì trệ, sơ cứng về tư duy và tư tưởng, lạc hậu về lý luận, trở nên không ngang tầm với tình hình, nhiệm vụ, tự đánh mất vai trò tiên phong của mình

- Một thách thức, nguy cơ khác là khi đã cầm quyền, việc cán bộ năng

đảng viên được bố trí vào các cơ quan quyền lực, có quyền, có chức, có danh,

có lợi, nhiều người đã không vượt qua nổi những cám dỗ ấy và bắt đầu xuất hiện những biến dạng, tha hóa

Đó là biến dạng về động cơ chính trị (Vào Đảng không phải vì chiến

đấu hy sinh cho mục tiêu lý tưởng cộng sản mà để tìm kiếm danh vọng, bổng lộc, địa vị theo một chủ nghĩa vụ lợi, vị kỷ, cá nhân chủ nghĩa…) Đã không ít người rơi vào tình huống này mà trở nên sa đọa, hư hỏng, lợi dụng, lạm dụng quyền lực để mưu lợi cá nhân như Hồ Chí Minh đã phê phán, gọi là “quan cách mạng”, “quan chủ” Trong nội bộ Đảng nảy sinh sự chia rẽ, bè phái, mất

đoàn kết cũng chỉ vì những mâu thuẫn, xung đột do chủ nghĩa cá nhân gây ra

Về đạo đức và nhân cách, xuất hiện sự tách rời giữa lời nói và việc làm,

đó là thói đạo đức giả, cơ hội chính trị, vi phạm điều lệ Đảng, vi phạm pháp luật, làm mất uy tín và sự tin cậy nơi dân chúng Điều đáng tiếc là, những nguy cơ đó đã sớm được cảnh báo, Lênin đã sớm nhận thấy, nhìn thấy từ xa

mà rốt cuộc cũng không tránh khỏi, nó không còn là nguy cơ nữa mà đã hiển hiện thành một thực tế đưa Đảng tới sự suy thoái biến chất Khái quát những tình huống đó, Lênin đã chỉ rõ, 3 kẻ thù nguy hiểm nhất của CNXH, của Đảng

và của những người cộng sản đã nắm chính quyền đó là:

Trang 14

+ Bệnh kiêu ngạo cộng sản, coi người cộng sản, Đảng Cộng sản Việt

Nam là khuôn vàng thước ngọc, là chân lý tuyệt đối, không thể có sai lầm, do

đó chủ quan, kiêu ngạo, tự huyễn hoặc mình, không chịu học tập rèn luyện

+ Tệ quan liêu, tập nhiễm thói quan liêu nhà nuớc vào trong Đảng, làm

hỏng phương pháp, phong cách công tác Đảng

+ Nạn hối lộ, tham ô, lãng phí

Theo Lênin, nếu không nhổ cho hết cỏ dại quan liêu, không đủ sức chiến thắng những bệnh hoạn tệ hại đó, thì Đảng sẽ mau chóng suy yếu và, thất bại của sự nghiệp cách mạng là điều không tránh khỏi

Lênin đã nhìn thấy, dự cảm sâu xa rằng, nếu CNXH có bị thất bại, có bị tiêu diệt thì chính là vì đã không đủ sức mạnh, bản lĩnh chống lại những kẻ thù đó mà Người có lần đã phẫn nộ phê phán trong một chỉ thị : nhổ hết cỏ dại, treo cổ những tên quan liêu lên…

Trong lịch sử cải cách thể chế nhà nước, Lênin đã trù tính một chỉ thị: cấm tuyết đối không để cho những người có họ hàng, bà con thân quen, những

người trong gia đình cùng làm việc trong một cơ quan nhà nước

Chỉ thị nghiêm túc và quyết liệt này đã không được những người đương thời thi hành nghiêm túc, thậm chí còn có những mưu toan kéo dài những sự

trì trệ, chống lại cải cách và đổi mới, tạo ra tình huống hình thức hóa, vô hiệu

hóa chỉ thị của Lênin

Tình hình trở nên xấu hơn, khi Lênin mất, khi chính sách kinh tế mới và chỉ thị thanh Đảng, làm cho Đảng trong sạch, những chỉ thị cải cách nhà nước

mà Lênin đề ra làm cho nhà nước mạnh, dân chủ và pháp quyền đã không còn

được thực hiện Từ di sản lý luận đến thực tiễn, rõ ràng, vấn đề Đảng cầm

quyền và sự lãnh đạo - cầm quyền của Đảng thực sự là một vấn đề cốt yếu, hệ trọng cần được nghiên cứu, tổng kết, đánh giá và đặc biệt coi trọng công tác

xây dựng Đảng Thành hưng bại của sự nghiệp cách mạng là tùy thuộc một

Trang 15

cách quyết định vào Đảng, ở chỗ, Đảng có trong sạch vững mạnh hay không Tính thời sự trong những chỉ dẫn của các nhà kinh điển là ở đó

3- Về một số luận điểm tiêu biểu, quan trọng nhất của các nhà kinh

điển có ý nghĩa cảnh báo và đấu tranh trước nguy cơ thoái hóa, biến chất của Đảng cầm quyền

3.1 Từ những chỉ dẫn của Mác -ăngghen

Mác -ăngghen tuy đề cập rất ít những vấn đề trực tiếp của Đảng cầm

quyền, duy nhất chỉ có những đoạn bàn về tổ chức quản lý chính quyền công xã, nhất là cơ chế trả lương cho người có chức vụ và quyền bãi miễn của cử tri

đối với những đại biểu tỏ ra không còn xứng đáng cầm quyền nữa nhưng những chỉ dẫn đó lại rất có giá trị, có ý nghĩa về nhiều mặt cần được nhận thức cho đúng Ngoài trường hợp nghiên cứu về công xã, Mác -ăngghen cũng để lại một số luận điểm khác về thể chế, về quan hệ lợi ích và tư tưởng, về phương pháp nhận thức và ứng xử xã hội, song ngay trong những bàn giá trị gợi mở, cần htiết phải vận dụng, nó có ích cho công việc cầm quyền của Đảng

để phòng ngừa những sự thoái hóa biến dạng

Có thể hệ thống hóa thành những điểm dưới đây:

- Phê phán quan liêu và chủ nghĩa quan liêu: theo Mác, quan liêu là

căn bệnh phát sinh từ thể chế , trong bộ máy nhà nước và trong hoạt động của công chức Những người cách mạng khi chiến thắng, nắm được chính quyền cũng thường mắc vào khuyết tật này Nó cũng là một biểu hiện của thoái hóa biến chất phải phòng ngừa và khắc phục

Quan liêu là xa lạ, đối lập với dân chủ Tập trung quan liêu là đối lập với tập trung dân chủ

Mác chỉ rõ, trong một hệ thống bộ máy và thể chế quan liêu, trong hành

vi quan liêu, các giá trị bị đảo lộn Nhân dân không còn được nhận thức là những chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo nữa mà là đối tượng và khách thể

bị động, thụ động

Trang 16

Cái vốn là phương tiện biến thành mục đích cứu cánh, tự tại, còn mục

đích chân chính của nó bị làm cho lệch lạch và lu mờ đi

Ông mô tả rất rõ ràng, những công việc của Nhà nước và chính phủ bị biến thành những công việc của bàn giấy, của những sự tẻ nhạt, đơn điệu, hành chính của các viên chức văn phòng

Những quyết định của Chính phủ bị hạ thấp xuống thành những quyết

định có tính sự vụ, hành chính, chìm ngập trong những giấy tờ, hội họp của bộ máy văn phòng, nói theo ngôn ngữ ngày nay là bệnh giấy tờ, bệnh hội họp, che lấp mất cuộc sống hiện thực, cách biệt với quan hệ công chúng, dân chúng

Trong tổ chức bộ máy và phương thức điều hành của thể chế, quan liêu

đã gây ra sự ách tắc, trì trệ, chậm chễ trong việc giải quyết cÔng việc trong khi cuộc sống thực tiễn lại biến đổi mau lẹ Sau này, trong thực tiễn lịch sử

cầm quyền, một căn bệnh phổ biến ở tất cả các Đảng cộng sản cầm quyền, của

tất cả các nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đều có tình trạng Đảng bị Nhà nước bị hóa và Nhà nước bị hình thức hóa và đảng hóa Sự lẫn lỗn, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ này làm suy yếu cả Đảng lẫn Nhà nước Tình trạng song trùng nhà nước do hệ thống Đảng bị nhà nước hóa và quyền lãnh đạo chính trị biến thành quyền lực nhà nước, đồng nhất Đảng với Nhà nước

Cùng với điều ấy là sự thiếu vắng chế độ trách nhiệm, có thể quyết sai, làm sai, gây hậu quả xấu nhưng vẫn ở bên ngoài trách nhiệm Đó là một tình

huống không thể đem lại phát triển lành mạnh, làm suy yếu một thực thể kéo theo suy yếu của cả hệ thống

- Đấu tranh với quan liêu và phòng ngừa xu hướng quan liêu hóa, Mác

lấy trường hợp công xã, với những người trong chính phủ hành pháp, các ủy viên công xã sẽ phải làm cho lợi ích của họ phụ thuộc vào đánh giá của công nhân, áp dụng trả lương cho ủy viên công xã chỉ bằng mức lương cao nhất của công nhân Điều đó để nhằm ngăn chặn đặc quyền đặc lợi và đặt lợi ích, quyền lực của người cầm quyền trong sự giám sát, đánh giá của quần chúng

Trang 17

- Xác lập chế độ trách nhiệm, thẩm quyền bãi miễn, bằng cách nhân dân

có quyền bãi miễn đại biểu bất kỳ lúc nào khi họ tỏ ra không còn xứng đáng

là đại biểu của dân nữa ý tưởng sâu xa ở đây chính là dân chủ và sức mạnh dân chủ trong quyền lực nhân dân

Quyền lực không phải là bất biến, nó thay đổi không chỉ trong nhận thức mà còn trong hành động thực tiễn

Bài học công xã về quản lý, chính sách, cơ chế là bài học dân chủ trong gây dựng thể chế, loại bỏ các công chức thoái hóa, biến chất

Ăngghen còn chú trọng đến lý luận, nhất là phải dùng lý luận như một

phương pháp, đó là sự trưởng thành rất cao của trí tuệ, sự nâng cao học vấn,

học thức của người lãnh đạo, cầm quyền Sai lầm về phương pháp sẽ làm giảm thiểu tác dụng, thậm chí triệt tiêu hiệu quả quản lý, lãnh đạo

Ăngghen phê phán tình trạng nhà nước nhân danh bảo vệ dân, đem lại

lợi ích cho dân nhưng lại bất lực trong việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế

- Mác - Ăngghen còn chỉ ra tính hiện thực của tư tưởng là ở lợi ích, một

khi tách rời tư tưởng khỏi lợi ích thì tư tưởng dù có cao quý đến đâu cũng không thực hiện được Đó là lúc tư tưởng tự làm nhục bản thân nó

Những người cộng sản cầm quyền nếu chỉ nói suông mà không hành

động, chỉ thuần túy cổ vũ tinh thần mà không chăm lo lợi ích cho người dân thì việc suy nghĩ, tự phê phán, tự khắc phục theo những luận điểm nêu trên của các nhà kinh điển là rất cần thiết

- Ăngghen phòng ngừa và phê phán căn bệnh giáo điều, không tưởng,

cố chi tiết hóa về xã hội tương lai, trong khi xã hội tương lai đó còn chưa hoàn toàn định hình, trưởng thành thì không sao tránh khỏi bệnh không tưởng, đó là

căn bệnh lấy tưởng tượng chủ quan thay cho thực tế khách quan, bệnh phóng

họa lịch sử một cách sai lầm và rơi vào không tưởng Như đã nói, suy thoái,

biến dạng không chỉ là sự hư hỏng đạo đức mà còn là trí tuệ tư tưởng không tương dung với công việc, nhiệm vụ Trong trường hợp đó, lãnh đạo quản lý

Trang 18

chẳng những không thúc đẩy phát triển mà còn kìm hãm sự phát triển lành mạnh

Đến cuối đời, Ăngghen còn nói rõ vấn đề phương pháp, và khuyên

những người cách mạng không nên giáo điều lệ thuộc, phải tự do và sáng tạo,

tự vượt qua những giới hạn của nhận thức mà tiến tới

3.2- Đến những cảnh báo và phê phán nghiêm khắc của Lênin

Như đã nói, khác với Mác - ăngghen, chủ yếu là luận chứng tính tất yếu lịch sử của CNXH, CNCS và dự báo xã hội tương lai, Lênin đã trực tiếp

xử lý những tình huống phát sinh trong CNXH hiện thực Hệ thống những luận đề chỉ dẫn của Lênin là ở trong bối cảnh chuyển tiếp từ chính sách cộng sản thời chiến sang chính sách kinh tế mới (NEP)

-Trước hết, Lênin chỉ ra căn bệnh cố hữu chủ quan, khi tình hình đã

thay đổi mà không biết thay đổi cách nghĩ, cách làm, cách ứng xử và hành

động ông cho rằng không nên giải quyết những nhiệm vụ của ngày hôm nay

chỉ bằng kinh nghiệm của ngày hôm qua Tất yếu sẽ trở nên bất cập Đây là quán tính, thói quen, sức ì mà cũng còn là thiếu tri thức ông có một nhận xét

phê phán và cũng tự phê phán rất sâu sắc rằng khuyết điểm chẳng qua chỉ là

ưu điểm được sử dụng quá mức cần thiết

- Lênin vạch trần các căn bệnh: chủ quan, kiêu ngạo, gọi là kiêu ngạo

cộng sản, xa lạ với việc tích lũy học vấn, học thức, mắc vào thói ba hoa trống

rỗng, mang nặng những định kiến chủ quan, thói dị ứng với tri thức và trí thức, coi mình là chân lý, không chịu học, không quan sát, không biết tranh luận

đối thoại

Cùng với điều đó, giáo điều hữu khuynh và giáo điều “tả” khuynh, chúng đều có hại cho sự nghiệp cách mạng, là rào cản của chân lý

- Tệ quan liêu, thoát ly thực tế và nạn hối lộ, lợi dụng chức vụ, quyền

hạn để vụ lợi, vị kỷ, lạm dụng quyền lực và sự ủy quyền của dân chúng

Trang 19

Ta nhớ lại hành động dũng cảm của Lênin khi đi tới một quyết định khó khăn: thanh Đảng Ông tính rằng phải đuổi ra khỏi Đảng từ 15-20 vạn người, đó là những tên cộng sản ngu dốt và khoác lác, không hiểu được xu thế

và cản trở việc thi hành cải cách

Lại một hành động dũng cảm và bản lĩnh của Lênin khi ông cho rằng, sẵn sàng đánh đổi hàng tá, hàng tá những tên cộng sản ngu dốt và khoác lác

để lấy một chuyên gia tư sản có tài vì lợi ích của CNXH

- Vạch rõ sự thật của tình trạng thiếu thốn về văn hóa, trong đó có văn hóa lãnh đạo quản lý

Theo Lênin, người mù chữ sẽ đứng ngoài chính trị, học CNCS không phải như những kẻ giáo điều, những con mọt sách cộng sản, phải biết gắn với hoạt động thực tiễn, sống và lao động cùng với công nông, người cộng sản phải biết làm giàu trí nhớ của mình bằng tất cả kho tàng tri thức nhân loại CNCS phát sinh từ tổng số những kiến thức ấy mà nếu không như vậy thì mãi mãi CNCS cũng chỉ là một ước nguyện mà thôi Do vậy, nhiệm vụ của Đoàn Thanh niên cộng sản chỉ quy vào một chữ: học CNCS

Đủ hiểu vì sao Lênin phê phán gay gắt những người cộng sản không chịu trau dồi học vấn, chỉ là những kẻ ba hoa đầu lưỡi, hành động không có gì giống với CNCS cả

- Lênin còn đặc biệt nhấn mạnh Đảng phải là tiêu biểu cho lương tâm,

danh dự, trí tuệ của thời đại Thái độ của một Đảng mác xít là dũng cảm vạch trần sự thật, nói rõ sự thật Vũ khí là ở trong sự thật, đó là sức mạnh của

chúng ta

- Một Đảng mà đi bao che (ô dù) cho những kẻ vô lại thì là một nỗi nhục

nhã, một sự sỉ nhục Một Đảng mà không có dũng khí phê bình, tự phê bình sẽ không còn là một Đảng mác xít nữa Hồ Chí Minh gọi đó là một Đảng hỏng…

Những luận điểm nói trên cho thấy tình trạng suy thoái biến chất của

Đảng cầm quyền có nhiều biểu hiện, nó không chỉ là phẩm chất đạo đức bị

Trang 20

suy giảm và hư hỏng mà còn là trí tuệ, tư duy lý luận trở nên sơ cứng, lạc hậu, bất cập, là quan liêu, mất dân chủ, là sự lỏng lẻo tổ chức kỷ luật, là xa rời dân chúng và cả sự thiếu hụt văn hóa…

Đủ hiểu vì sao, xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền phải rất toàn diện: chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, lối sống

Hồ Chí Minh khái quát lại là phải chống chủ nghĩa cá nhân, một thứ giặc

nội xâm, giặc ở trong lòng Phải xây dựng Đảng cầm quyền thực sự tiêu biểu

cho đạo đức và văn minh Đảng cách mạng và mỗi người cách mạng phải:

- Giữ chủ nghĩa cho vững

- ít lòng tham muốn vật chất

- Gắn bó mật thiết với dân

- Dựa vào dân mà xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước, xây dựng chế độ Trau dồi đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, thực hành dân chủ, là người lãnh đạo và đầy tớ trung thành của nhân dân, đó là những biện pháp chủ động phòng ngừa sự suy thoái biến chất

Đó là ý nghĩa và phương châm hành động được rút ra từ những chỉ dẫn

cảnh báo của các nhà kinh điển, đặc biệt của Lênin và Hồ Chí Minh

Trang 21

Hồ Chí Minh trong sự nghiệp

đấu tranh chống những biểu hiện thoái hoá, biến chất đội ngũ cán bộ,

đảng viên trong điều kiện đảng cầm quyền

GS.TS Mạch Quang Thắng

Một trong những nguy cơ dễ thấy nhất đối với Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là sự thoái hoá, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên Điều này đã được Hồ Chí Minh∗ chỉ ra từ sớm, tần số viết và nói nhiều, mức độ nhấn rất mạnh, nhất là đối với văn hoá đạo đức

1 Chỉ ra từ sớm

Việc chỉ ra từ sớm ở đây tôi đề cập với hai ý: 1 Sớm, theo ý ngay từ

đầu, khi Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh thắng lợi giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - và với nghĩa đó trở thành Đảng cầm quyền trong một hệ thống chính trị mới; 2 Sớm, với ý là khi Đảng Cộng sản Việt Nam chuyển giai đoạn, khi đó, Đảng đứng trước thử thách lớn

Với cái mốc thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam, từ chỗ là một đảng chính trị bất hợp pháp trở thành một

tổ chức chính trị có trách nhiệm lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo các đoàn thể

và lãnh đạo toàn xã hội, được nhân dân thừa nhận (Sau này, điều này được đưa vào trong Hiến pháp) Đảng Cộng sản Việt Nam đã biến cái có thể thành cái hiện thực bằng chính tài năng của mình, nắm bắt được quy luật, vươn tới cái tất yếu do trách nhiệm mà dân tộc giao phó, bằng đội ngũ đảng viên, tuy ít ỏi, chưa đầy 5.000 (Hồ Chí Minh đưa ra con số 5.000 là quá cao so với thực tế), nhưng đó là những "vàng mười", gồm những người tận tụy sẵn sàng hy sinh vì

∗ Hồ Chí Minh là người mang nhiều tên và bút danh khác nhau Để tiện theo dõi, trong bài

viết này, tôi chỉ dùng một tên mà thôi, đó là Hồ Chí Minh

Trang 22

độc lập, tự do của quốc gia - dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân Khát vọng

ấy của nhân dân, của toàn dân tộc đã được Đảng Cộng sản Việt Nam nhận lãnh trách nhiệm lãnh đạo phấn đấu để đạt tới Một cơ đồ độc lập của đất nước, tự do, hạnh phúc của nhân dân đã gắn với một Đảng Cộng sản Việt Nam

"đạo đức, văn minh", lấy lẽ sống của giai cấp công nhân, của dân tộc làm mục tiêu hoạt động của bản thân mình, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tồn tại và phát triển không vì mục đích tự thân Ngay cả hai Đảng: Đảng Xã hội và

Đảng Dân chủ trong thời gian tồn tại của mình (1946 - 1988), cũng đã thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (tuy rằng, có Đảng có lúc còn chập chờn về điều này) Sự cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không tự nhiên mà có và không phải cứ tự nhận mà được, mà nó

đúng là sự tổng hoà cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, từ hoạt động thực tế đúng

đắn, không mệt mỏi của bản thân Đảng Và, xin nói thêm: điều đó còn là và nhất là từ uy tín, tài năng, đức độ của lãnh tụ Hồ Chí Minh

Nhưng, không ai khác, ngoài Hồ Chí Minh, lại là người biết sớm nhất, phát hiện từ rất sớm cái điều mà ai cũng ngại nói ra Đó là sự hư hỏng, cũng từ rất sớm, của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam

đã biến cái có thể thành cái tất yếu, nhưng Đảng cũng sẽ bị rơi vào trạng thái của cái có thể một lần nữa, đó là Đảng sẽ bị tan rã, Đảng sẽ bị mất quyền lãnh

đạo nếu Đảng không trong sạch, vững mạnh, nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất Đến mức như thế và đến lúc như thế thì mọi thành quả của cách mạng nước ta sẽ bị đổ xuống sông xuống biển Đúng như cái lôgíc tất yếu mà Hồ Chí Minh đã cảnh báo: một con người, một dân tộc hôm qua là

vĩ đại thì hôm nay không còn vĩ đại nữa nếu lòng mình không trong sáng Bài học nhãn tiền của Đảng Cộng sản Liên Xô và của các đảng cộng sản ở Đông

Âu trong những thập niên cuối thế kỷ XX vẫn còn nóng, quá nóng đối với những người cộng sản chân chính hiện nay

Cái triết lý phát triển của Hồ Chí Minh không phải nằm trong những hàng chữ ngồn ngộn của những tác phẩm đồ sộ, những chương sách tràng

Trang 23

giang đại hải, mà lại ở trong những lời nói và viết rất ngắn, và phần nhiều bằng tấm gương của bản thân mình cho mọi cán bộ, đảng viên noi theo Ngay

từ rất sớm, những năm 1925-1927, khi huấn luyện cho các lớp của Hội Việt Nam Cách mệnh Thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc), trong các bài giảng

được tập hợp thành sách Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh viết: "Sách này

muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ Chắc có người sẽ chê rằng văn chương cụt quằn Vâng! Đây nói việc gì thì nói rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như

2 lần 2 là 4, không tô vẽ trang hoàng gì cả

Hơn sáu mươi năm nay, đế quốc chủ nghĩa Pháp đạp trên đầu; hơn hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa Phải kêu to, làm chóng để cứu lấy giống nòi, thì giờ đâu rảnh mà vẽ vời trau chuốt!

Sách này chỉ ước ao sao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh

Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh!! Cách mệnh!!!"1

Tôi cho rằng, những điều Hồ Chí Minh viết trên đây là phong cách nhất

quán của ông trong suốt cả cuộc đời, chứ không phải chỉ là trong cuốn Đường

cách mệnh (1925-1927), lúc đó Hồ Chí Minh cho rằng không có "thì giờ đâu

rảnh mà vẽ vời trau chuốt" Sau này, khi "có thì giờ" thì Hồ Chí Minh cũng không viết và nói theo kiểu "vẽ vời trau chuốt", tràng giang đại hải, giây cà ra

giây muống, mà nhất quán dùng lối viết như trong tuyên bố ở cuốn Đường

cách mệnh trên đây

Có thể đề cập sự thoái hoá, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên trên nhiều mặt: về tư tưởng chính trị, về đạo đức, lối sống, v.v Nhưng, điều thường thấy nhất và trực tiếp nhất là Hồ Chí Minh đề cập về tinh thần trách nhiệm trong công việc, về đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên

Về mặt văn bản, sớm nhất là ở bức thư Hồ Chí Minh gửi các đồng chí tỉnh Nghệ An (mà Hồ Chí Minh dùng từ "tỉnh nhà") ngày 17-9-1945, nửa

1

Hồ Chí Minh: Toàn tập, T 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 262.

Trang 24

tháng sau khi lập chính quyền cách mạng Điều đặc biệt là trong bức thư này,

Hồ Chí Minh không lấy danh nghĩa Chủ tịch của Chính phủ mà là lấy danh nghĩa của "một người đồng chí già mà viết để san sẻ ít nhiều kinh nghiệm" với các đồng chí tỉnh Nghệ An2 Hồ Chí Minh nêu lên những khuyết điểm của các

địa phương trong việc xây dựng chế độ mới, trong đó có việc kỷ luật không nghiêm, có những cán bộ hủ hoá3, lên mặt làm quan cách mạng, độc đoán, lấy của công làm của riêng (Hồ Chí Minh dùng chữ Hán-Việt "dĩ công dinh tư"), dùng quy định của Nhà nước để trả thù riêng (dùng pháp công để báo thù tư), làm cho dân oán đến Đảng và Chính phủ; những khuyết điểm đó "nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động" Do vậy,

Hồ Chí Minh chỉ rõ: phải sửa đổi ngay, không sợ có khuyết điểm, chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi, phải có lòng chí công vô tư Điều Hồ Chí Minh lo lắng nhất ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền cách mạng còn non trẻ, là cán bộ bị sa đọa, hống hách với nhân dân, làm hỏng việc Ông cho rằng, Chính phủ là công bộc của dân Thật lạ, khi chính quyền cách mạng nước ta còn đang trứng nước mà Hồ Chí Minh lại phê phán sai lầm, khuyết điểm của cán bộ mạnh đến vậy, chứ không nêu nhiều mặt ưu

điểm của cán bộ, đảng viên để "động viên tinh thần"! Đoạn sau đây được Hồ

Chí Minh viết cho báo Cứu quốc ngày 12-10-1945 đáng để cho chúng ta suy

ngẫm về sự sớm nhận rõ và sớm cảnh báo của ông về các tệ hại của người có chức, có quyền: "Dân ghét các ông chủ tịch, các ông uỷ viên vì cái tật ngông nghênh cậy thế, cậy quyền Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng, có được mấy khẩu súng lục trong túi lúc nào cũng lăm le muốn bắn, đeo chiếc kiếm bên mình lúc nào cũng chỉ chực muốn chặt người ta Người ta còn bĩu môi nói đến bà "phủ trưởng" nọ bận quần áo chẽn, tóc cắt ngắn cưỡi ngựa

2 Những đoạn trích trong những trang viết về vấn đề liên quan tới bức thư này, xin xem Hồ Chí Minh: Toàn

tập, T 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 19 - 21

3 Hồ Chí Minh dùng khái niệm "Hủ hoá" để chỉ sự vật và hiện tượng xấu đi, gần với nghĩa với "Thoái hoá",

chứ không với nghĩa nói về một người nào đó có quan hệ nam nữ bất chính.

Trang 25

đi rong khắp chỗ mà chẳng có việc gì, người ta còn thì thào chỉ chỏ ông tỉnh trưởng kia vác ô đưa bà "tỉnh trưởng" đi chơi mát mỗi buổi chiều

Từ chỗ ngông nghênh xa phí đó rất dễ đi đến chỗ ỷ thế cậy quyền, làm nhiều điều quá tệ Thậm chí có ông tư pháp khi xử kiện bắt tội nhân quỳ trước thềm đánh đập, chửi mắng tội nhân, hách dịch đúng như những "ông quan",

"ông thanh tra" dưới thời Pháp thuộc, Nhật thuộc"4

Đây chính là mầm mống, manh nha, cho những sai lầm chết người, tai họa trong cải cách ruộng đất sau này khi miền Bắc nước ta được giải phóng, khi đó, không ít nơi đã dùng lối nhục hình để đấu tố địa chủ và cả những người bị quy oan là địa chủ Bức thư dài nhất của Hồ Chí Minh trong những tháng sau khi đất nước giành được độc lập là bức thư gửi cho Uỷ ban Nhân

dân các kỳ, tỉnh huyện và làng, đăng ở báo Cứu quốc ngày 17-10-1945, tức là

5 ngày sau bài báo trên Trong bức thư này, Hồ Chí Minh viết: "Có nhiều người làm theo đúng chương trình của Chính phủ, và rất được lòng nhân dân Song cũng có nhiều người phạm những lầm lỗi rất nặng nề"5 Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ ra những lỗi lầm rất cụ thể: 1.Trái phép; 2 Cậy thế; 3 Hủ hoá;

4 Tư túng; 5 Chia rẽ; 6 Kiêu ngạo Thật đúng như kiểu "kê đơn bốc thuốc trị bệnh" vậy Và, Hồ Chí Minh viết: "Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa Vậy nên ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ Ai đã phạm những lỗi lầm trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung

Vì hạnh phúc của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà, mà tôi phải nói Chúng ta phải ghi sâu những chữ "công bình, chính trực" vào lòng"6

Điểm lại một số bài báo, bức thư trên đây của Hồ Chí Minh để không những chúng ta chứng minh cho chữ "sớm" của ông khi ông phát hiện những thoái hoá cũng rất là chóng vánh của những "ông quan" cách mạng - đó chính

4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, T 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 49

5 Như trên, tr 57

6 Như trên, tr 58.

Trang 26

là những cán bộ, đảng viên, những cán bộ của chính quyền cách mạng, mà chúng ta còn thấy cái tài nhận thông tin, nắm bắt thông tin của Hồ Chí Minh

về những thoái hoá, biến chất đó Chắc chắn là Hồ Chí Minh không đặt điều, không nói vống những khuyết tật đó của cán bộ, công chức cách mạng Điều này thật thú vị khi thời đó, thông tin không như hiện nay, nhưng bi kịch hiện nay chính là ở chỗ đó ở thời đại bùng nổ thông tin này, vẫn còn khá nhiều vùng lõm, vùng tối Có sự nhiễu thông tin Có sự quan liêu Có sự bưng bít Có cả sự dối trá, đánh lừa thông tin, v.v Người lãnh đạo mà không có thông tin sát thực thì không thể đưa ra những quyết sách đúng Thế giới đã tạo ra ngôn ngữ, cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, thông tin cực kỳ nhanh nhạy cộng thêm sự nối mạng toàn cầu Internet, nhưng, bi kịch thay và tai hại thay, nếu những thành tựu của khoa học và công nghệ của thời đại thông tin đó lại được trao/rơi vào tâm địa của những kẻ dối trá

ý nghĩa to lớn lắm khi những cảnh báo của Hồ Chí Minh được đưa ra ngay sau những ngày hoan hỉ của nước nhà giành được độc lập Hồ Chí Minh thực sự làm một người tỉnh táo giữa cái say/vui ngất trời của đất nước trong khúc khải hoàn ca Ông cảnh báo, không những thế, ông đập thẳng vào những cái ham hố của con người sau những ngày gian khổ bây giờ tự cho mình được quyền hưởng sung sướng - những người nắm trong tay quyền lực trong bộ máy của chính quyền mới

Và, cái điều muôn năm cũ của tha hoá quyền lực thì nó cũng thường

được vận vào cho tất cả các thời kỳ, kể cả những năm đầu thế kỷ XXI này Không đến nỗi hiếm, khi đến nay, cách thời gian của bức thư của Hồ Chí Minh đến hơn 60 năm, mà vẫn còn cái cảnh như ông đã lên án những người: Cậy thế mình ở trong ban này, ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao

được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân, quên rằng dân bầu mình ra

là để làm việc cho dân chứ không phải để cậy thế với dân; những người xa xỉ,

"thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức Ông uỷ viên đi xe hơi, rồi bà uỷ viên, cho đến các cô các cậu uỷ viên, cũng dùng xe

Trang 27

hơi của công"; những người kéo bè, kéo cánh, bà con thân hữu mình không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ, người có tài đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài, quên rằng việc là việc công chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai; những người tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ

là thần thánh rồi, coi khinh dân, lúc nào cũng vác mặt "quan cách mạng", v.v Vào những năm sau này, nhất là những năm gần đây, người ta đã biến bao nhiêu nhà công vụ thành nhà riêng (như vậy, chẳng khác gì "tư nhân hoá" những tài sản khổng lồ của Nhà nước) Những tệ nạn hoành hành mạnh đến nỗi những tệ nạn đó, như các kiểu "chạy", thường mới chỉ nói ở bên ngoài, nhưng lần này Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4-2006) đã ghi vào trong văn kiện của mình Chẳng hạn: "bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng "chạy chức", "chạy quyền", "chạy tội", "chạy bằng cấp" Thoái hoá, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn

ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính, làm giảm lòng tin của nhân dân

đối với Đảng Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ"7 Đã cảnh báo đến mức những cái tệ đó ảnh hưởng đến sự sống còn của Đảng, của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa thì cũng là sự tỉnh táo cần thiết và Đại hội đã nói thay cho toàn Đảng, toàn dân sự lo lắng ấy Những cảnh báo, nhắc nhở và phê bình của Hồ Chí Minh ngay trong những ngày đầu, tháng đầu, năm đầu khi đất nước mới xây dựng chính quyền cách mạng đối với việc đề phòng và chống những căn bệnh không kém phần hiểm nghèo trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, tiếc thay, hiện nay vẫn chưa khắc phục được nhiều Vẫn còn đó những tiêu cực nhức nhối Phải chăng, các phương thuốc đã

bị nhờn? Những người Việt Nam chân chính chắc chắn có tâm niệm trở lại với

7

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2006, tr 263 - 264

Trang 28

khí thế và tinh thần của Hồ Chí Minh trong những ngày đầu của đất nước giành được độc lập.

Những lúc cách mạng Việt Nam bước qua những khúc quanh, bước ngoặt cũng vậy Chúng ta lấy một dẫn chứng nữa, đó là cái thời đoạn khi giải phóng miền Bắc, các cơ quan Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc trở về Thủ đô

Hà Nội, tháng 10-1954, sau những năm chống thực dân Pháp tái chiếm Trước

đó, tức là ngày 5-9-1954, Hồ Chí Minh đã có một cuộc nói chuyện với bộ đội, công an và cán bộ trước khi vào tiếp quản Thủ đô Hà Nội Ông đề cập vấn đề

đạo đức và nhân cách của người cán bộ cách mạng khi từ chiến khu trở về vùng mới giải phóng Ông nói: "Bây giờ về xuôi thì thế nào? Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đỉnh Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu…Về xuôi, nhất là về thành thị, sẽ có nhiều người phức tạp, nhiều thứ quyến rũ mình vào thói xấu…Chỉ nói vài cái nhỏ: phở ngon, rồi thì đồng hồ, bút máy,

xe đạp, v.v Nếu không giữ được thói quen tiết kiệm thì sẽ tham ăn ngon, tham mua các thứ xa hoa Lương không đủ thì sẽ lấy ở đâu? Lúc ấy chỉ có hai cách: một là ăn cắp của Chính phủ, hai là bị tiền mua chuộc… Có thể những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi Cho nên bom đạn của địch không nguy hiểm bằng "đạn bọc

đường" vì nó làm hại mình mà mình không thấy Muốn giữ vững nhân cách, tránh khỏi hủ hoá, thì phải luôn thực hành 4 chữ mà Bác thường nói Đó là: Cần, Kiệm, Liêm, Chính"8

Trong suốt thời gian sau đó, Hồ Chí Minh thường đề cập vấn đề tư cách,

đạo đức của cán bộ những năm đầu khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng,

ông dặn dò rất tỷ mỉ, lúc khoan, lúc nhặt, như người cha dặn con, như ông dặn cháu Thật là một phong cách lạ, nếu so sánh với các lãnh tụ khác ở trong nước cũng như so sánh với các lãnh tụ cộng sản ở các nước khác ở trong con

8 Hồ Chí Minh: Toàn tập, T 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 346 - 347

Trang 29

người Hồ Chí Minh là như vậy, có những vế làm thành chỉnh thể thật đáng ngạc nhiên khi nghiên cứu về ông, đó là những đức tính: nghiêm khắc và độ lượng; kỷ luật và khoan hoà; phòng đi trước và đi liền với chống; "đức trị" kết hợp một cách nhuần nhuyễn với "pháp trị"; tấm lòng bao dung đi liền với xử

lý một cách đúng người, đúng tội, đúng luật, bất kể người đó là ai, giữ những chức vụ gì trong bộ máy của hệ thống chính trị Không ít người hiện nay cho rằng, Hồ Chí Minh là người coi nặng "đức trị", coi nhẹ "pháp trị" Không

đúng Trong cả quãng đời làm nguyên thủ quốc gia, ông đã ký y án tử hình hai cán bộ cao cấp (Trần Dụ Châu,…………Hùng), đã cách chức nhiều cán bộ vi phạm kỷ luật

2 Mức độ mạnh, mạnh nhất là văn hoá đạo đức

Không ai ở nước ta nói nhiều, viết nhiều như Hồ Chí Minh để chỉ ra những cái xấu, cái kém, sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên cũng như phương sách khắc phục những cái đó Có thể có người cho rằng, Hồ Chí Minh hoàn toàn có đủ tư cách để nói và viết những điều đó, bởi vì cuộc đời

ông trong sáng, không chút bụi mờ Ông không sợ phải "sờ lên gáy mình"

Ông quang minh chính đại, thật tâm, ông không lên gân, lên cốt, ra vẻ ta đây nói cho oai

Một số người đã và đang bôi xấu Hồ Chí Minh, bôi đen từ chân tới đầu,

có chỗ tưởng rằng, có nhẫn tâm đi chăng nữa cũng không thể bôi đen được, đó

là đời tư, cuộc sống riêng tư của ông, nhưng họ vẫn cố tình bôi đen Nhưng, họ không lừa được những người Việt Nam yêu nước Hành động của một số người như vậy là hành động của những kẻ thâm thù đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta, hành động chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, muốn "hạ

bệ thần tượng" Hồ Chí Minh để lái con đường cách mạng nước ta đi sang khúc

rẽ khác, không phải con đường xã hội chủ nghĩa Hiện có rất nhiều bài được tung lên mạng internet, nhất là các mạng tiếng Việt, xuyên tạc cuộc đời và sự nghiệp, nhất là đời tư của Hồ Chí Minh với sự thâm thù, chua cay, ác nghiệt Nhưng, những lời xuyên tạc ấy như những con bọ húc vào ngọn núi kỳ vĩ Hồ

Trang 30

Chí Minh, một ngọn núi biểu tượng cho tinh hoa, khí phách của con người suốt đời vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người

Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh đến việc rèn luyện tư cách của một người cách mạng là bởi vì ông còn đứng trên tư cách của một lãnh tụ Đảng Cộng sản cầm quyền và lãnh tụ của dân tộc Ông giữ chức Chủ tịch Đảng 28 năm (1951-1969) và Chủ tịch nước 24 năm (1945-1969) Trước khi giữ chức Chủ tịch Đảng, ông đã là lãnh tụ của Đảng rồi, vì ông chính là người thay mặt Quốc tế Cộng sản đứng ra chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu từ ngày 6-1-1930, ông là một cán bộ của Quốc tế Cộng sản từ năm 1923 và ông là đại diện cho Đảng ta trong Quốc tế Cộng sản

Nếu làm con số thống kê thì đúng là Hồ Chí Minh đã nói và viết rất nhiều những điều phê phán, nhắc nhở, hoặc chỉ ra những biện pháp khắc phục những biểu hiện thoái hoá, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những thời điểm nhạy cảm khi đất nước chuyển giai đoạn, khi Đảng ta đứng trước thử thách cam go Ngay cả bài báo trong những ngày cuối cùng của cuộc

đời Hồ Chí Minh là bài "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa

cá nhân" (đăng báo Nhân Dân, số 5409, ngày 3-2-1969), ông vẫn có ý "xoáy"

vào vấn đề tư cách, đạo đức, chống sự suy thoái trong cán bộ, đảng viên Sau khi viết một đoạn không dài về ưu điểm của đảng viên, Hồ Chí Minh chỉ ra

"còn một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém" Những người này mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết; ngại gian khổ, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa; tham danh, trục lợi, thích địa vị, quyền hành; coi thường tập thể, xem khinh quần chúng; độc đoán, chuyên quyền; mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh; không chịu học tập để tiến bộ; mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, kỷ luật; kém tinh thần trách nhiệm; không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước Trong Tài liệu bí mật (Di chúc), Hồ Chí Minh dặn "việc cần

phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng" khi cuộc chống Mỹ, cứu nước giành

được thắng lợi Ông cho rằng, phải làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên,

Trang 31

mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân.Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi"

Đề cập vấn đề chống sự thoái hoá, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, có lẽ điều mà Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhất, và theo tôi cũng là đặc sắc nhất, là ông coi cán bộ, đảng viên

vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân

Ông đề cập ngay cả trong Di chúc Nhưng, đối với Hồ Chí Minh, tôi cho "bắt mắt", "bắt tai" hơn cả là ông không những cho là vậy mà còn cho rằng, Đảng

còn là "trâu ngựa" của nhân dân Chúng ta tìm thấy ý đặc sắc này trong Lời

phát biểu của ông nhân kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam sau

Đại hội II của Đảng, ngày 3-3-1951 Ông nói: Đảng Lao động Việt Nam là

Đảng của những người mà "Giàu sang không thể quyến rũ; Nghèo khó không thể chuyển lay; Uy lực không thể khuất phục" "Nói về người cách mạng và

đảng cách mạng, nhà đại văn hào Trung Quốc là ông Lỗ Tấn có câu thơ:

"Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ,

"Các nhi đồng" nghĩa là quần chúng nhân dân hiền lành, đông đảo Cũng có nghĩa là những công việc ích quốc, lợi dân

Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn

đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng

Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân"9

9

Hồ Chí Minh: Toàn tập, T 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 184-185

Trang 32

Hồ Chí Minh muốn ngăn, muốn chống sự suy thoái, biến chất của cán

bộ, đảng viên trước hết, trên hết và chủ yếu nhất là ở lĩnh vực đạo đức

Điểm trội của Hồ Chí Minh so với nhiều danh nhân khác là toàn bộ cuộc đời của ông là pho sách lớn về văn hoá đạo đức Sức mạnh của văn hoá

đạo đức đã lan toả, thẩm thấu, trở thành giá trị văn hoá vĩnh hằng trong các

thế hệ người Việt Nam, trong đó mạnh nhất là đối với cán bộ, đảng viên

Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò to lớn của văn hoá đạo đức khi nhìn nhận

về tấm gương của V.I.Lênin Năm 1924, khi V.I Lênin qua đời, ông viết trong

một bài báo ở tờ Le Paria số 27 (7-1924) như sau: “Không phải chỉ thiên tài

của Người, mà chính là tính coi khinh sự sa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu á và đã khiến cho trái tim của

họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi”10 31 năm sau, tức là ngày

13-7-1955, Hồ Chí Minh và đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ ta sang thăm Liên Xô, đến thăm nơi làm việc của V.I Lênin trong Điện Cremli Tại đây, ông ghi vào sổ cảm tưởng: “Lênin, người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản Cũng là một vị đạo đức rất cao, dạy chúng ta phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính Tinh thần Lênin muôn đời bất diệt”11

Người ta hay đề cập đến cái chết của con người: có cái chết về sinh học, theo nghĩa đen, nhưng cũng có cái chết về chính trị, đạo đức, nghĩa là có ngư-

ời đang sống về mặt sinh học nhưng đối với xã hội, đối với cộng đồng dân cư thì anh ta đã chết Đạo đức là một giá trị văn hoá tự nó có sức sống vô cùng mạnh mẽ và có sức lan toả vô biên

Đã từ lâu, Hồ Chí Minh được lòng dân Việt Nam tôn vinh là lãnh tụ, người anh hùng dân tộc vĩ đại, là Bác Hồ kính yêu, trước hết là vì đạo đức của

ông Trong văn hoá dân gian ở Việt Nam, nổi lên vấn đề tín ngưỡng Người Việt Nam đã thờ thần trong ý thức tâm linh Nhiều gia đình người Việt đã lập

10 Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.295

11 Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 22

Trang 33

đền, chùa để thờ cúng, tưởng nhớ, ghi công các vị thần linh Với sinh hoạt văn hoá dân gian đó, người ta đã “hoá thánh” nhiều nhân vật, từ thành hoàng làng,

từ ông tổ nghề đến những người có công với làng, với nước Trong số nhân vật

được thờ trong văn hoá tâm linh của người Việt Nam, có cả Hồ Chí Minh Theo thống kê chưa đầy đủ, ở nước ta đã có khoảng hơn 20 ngôi đền thờ Hồ Chí Minh, đặc biệt có ngôi đền được dựng lên trong vùng địch chiếm đóng ở miền Nam trước đây Và một hiện tượng đặc biệt nữa là trên bàn thờ của rất nhiều gia đình, đồng thời với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người ta

Nói đến văn hoá đạo đức là nói đến thành tố ý thức đạo đức, hành vi

đạo đức, quan hệ đạo đức, hệ thống thiết chế truyền bá và giáo dục đạo đức, v.v cho cán bộ, đảng viên

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức là cái gốc của người cách mạng Trong rất nhiều lần nói và viết về điều này, ông cho rằng: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo

đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì ?”12

12 Hồ Chí Minh : Toàn tập, T.5, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1995, tr 252 -253

Trang 34

Hồ Chí Minh coi trọng cả đức và tài trong một con người, nhưng xét về thứ tự ưu tiên thì ông vẫn cho đức là cơ bản hơn cả Ông "diễn nôm" rằng, có tài mà không có đức thì tài ấy chẳng dùng làm gì; có đức mà không có tài thì như ông bụt ngồi đấy chẳng có ích gì Đây là quan điểm cơ bản, có ý nghĩa thời sự hiện nay Đã không có ít người cho rằng, bây giờ chỉ cần có tài, có tài thì quẳng đâu cũng sống được, do vậy làm ăn kinh tế không cần đạo đức! ý kiến đó là sai lầm vì đã tách văn hoá ra khỏi kinh tế và như vậy, con đường làm ăn kinh tế rất dễ đi vào ngõ cụt

Đối với người cách mạng, Hồ Chí Minh quan niệm rằng: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nh-

ưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm

vụ cách mạng vẻ vang”13 Trong bản Di chúc, ông viết: “Mỗi đảng viên và cán

bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân… Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho

họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa

“hồng” vừa “chuyên”"14

Có thể nói rằng, hầu như ở đâu và lúc nào Hồ Chí Minh cũng nói hoặc viết, và nhất là làm, có liên quan đến vấn đề đạo đức Đó là nếp sống văn hoá thường nhật của ông Khi cho đạo đức là cái gốc, cái căn bản của người cách mạng, ông đã trở thành một trong những người đi tiên phong của cuộc cách mạng về đạo đức và chính ông trở thành một chiến sĩ văn hoá trong hiện thực cuộc sống

13 Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.9, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1996, tr, 283

14 Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 510

Trang 35

Hồ Chí Minh xem xét vấn đề văn hoá đạo đức tới mọi đối tượng, mà chung nhất là đạo đức công dân và đặc biệt nhấn mạnh đạo đức của cán bộ,

đảng viên Đề cập cán bộ, đảng viên tức là ông đã tác động đúng vào khâu

“trọng điểm”, “trung tâm” của xã hội vì trong giai đoạn Đảng cầm quyền, chính họ là những người tiên phong trong các phong trào cách mạng, điều mà

Hồ Chí Minh coi họ như là dây chuyền của bộ máy Điều đó cắt nghĩa tại sao, trong “hàm lượng” Hồ Chí Minh nói, viết về đạo đức thì ông dành nhiều nhất cho cán bộ, đảng viên

Phạm vi đạo đức mà Hồ Chí Minh đề cập từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng Phạm vi hẹp mà ông đề cập là trong gia đình, bạn bè, với những người xung quanh, còn phạm vi rộng là quốc gia, quốc tế Nói đến văn hoá đạo đức, một vấn đề không thể không đề cập là các mối quan hệ của con người Con người ta có vô vàn các mối quan hệ, nó chồng chéo, phong phú và không kém phần phức tạp Một con người trong xã hội có thể đóng rất nhiều “vai” trong một ngày, không thể có một mối quan hệ cố định, bất biến theo thời gian Ông quy chúng vào ba mối quan hệ chủ yếu: đối với người, đối với việc, đối với mình Thực ra, trong các mối quan hệ đó đều là quan hệ con người Có thể nói một cách tổng quát là: văn hoá đạo đức là các mối quan hệ giữa người với ng-

ười, trong đó có mối quan hệ đặc biệt là tự mình đối với bản thân mình Nếu

tự mình xử lý không đúng, không tốt đối với bản thân mình thì các mối quan

hệ khác sẽ không thực hiện tốt được Tự mình bị tha hoá thì các mối quan hệ khác đều bị phá vỡ Điều này đặc biệt thấy rõ trong tình hình phát triển kinh tế hiện nay, khi vấn đề lợi ích đặt ra cho tất cả mọi người, trong đó có cán bộ,

đảng viên Một cán bộ hải quan ở cửa khẩu chẳng hạn, sẽ tự mình xử lý như thế nào khi chủ xe hàng lậu hối lộ? Sức cám dỗ về tiền bạc, vật chất cũng như của nhiều thứ khác, kể cả quyền lực, v.v luôn luôn tiềm ẩn những yếu tố phá

vỡ các nguyên tắc, đạo đức của người cán bộ, đảng viên, làm rối loạn các chuẩn mực đạo đức, những thuần phong mỹ tục

Tất cả các học thuyết và tư tưởng đạo đức thuộc nhiều luồng triết học và tôn giáo khác nhau đều rất nhạy cảm với chủ nghĩa nhân đạo Do vậy, có thể

Trang 36

nói rằng, chủ nghĩa nhân đạo là bản chất của mọi hệ thống tư tưởng đạo đức Bản chất của văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh chính là chủ nghĩa nhân đạo truyền thống của dân tộc kết hợp và tiếp nối với chủ nghĩa nhân đạo mácxít

Đó là bản chất thể hiện đậm nét truyền thống nhân ái, lòng thương người da diết, thể hiện tính chiến đấu không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, hướng con người tới cái thiện, cái tốt, cái đúng Đây chính là “đạo đức mới” mà Hồ Chí Minh hay đề cập, ông không phủ định sạch trơn đạo đức cũ nhưng bản chất hoàn toàn mới, tiến bộ, theo chủ nghĩa Mác – Lênin, có khi ông còn mư-

ợn cái vỏ quen thuộc của văn hoá đạo đức cũ để lồng vào nội dung đạo đức cách mạng

Văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện đặc trưng bằng sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, nghĩa là ông kết hợp giữa nói và làm, và nhiều khi làm nhiều hơn nói ở trong tư duy của Hồ Chí Minh, “học” luôn luôn phải gắn với “hành”, lý luận phải đi liền với thực tiễn, nói đi đôi với làm như những cặp chỉnh thể mà thiếu một vế thì điều đó sẽ trở thành vô nghĩa Ngay như ở những bài học đầu tiên đào tạo, huấn luyện cho cán bộ cách mạng các lớp của Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phần nhập môn, Hồ Chí Minh nêu lên “Tư cách của một người cách mệnh” gồm 23 điều, trong đó có điều: “Nói thì phải làm”15 Do vậy, Hồ Chí Minh được coi là nhà triết lý trong hành động và là thể hiện sự thuần khiết trong văn hoá Điều này thấm vào trong giao tiếp, ứng xử văn hoá Ông đã nhiều lần quan niệm rằng: quyết tâm không chỉ ở hội trường,

ở lời nói, mà còn phải quyết tâm trong công tác, trong hành động Cuộc đời của ông chính là sự biểu hiện sinh động của đặc trưng đó

Hồ Chí Minh có một ứng xử văn hoá tuyệt diệu khi cả cuộc đời của ông

là một tấm gương tốt, một cách tự nhiên, mà cán bộ, đảng viên có thể tự soi vào đấy Đã có người cho rằng, học tập theo tấm gương Hồ Chí Minh khó quá Khó hay dễ là tại bản thân mình - đó là cách nói của Hồ Chí Minh Học không phải là bắt chước Tư tưởng Hồ Chí Minh không những là nền tảng tư tưởng

15 Hồ Chí Minh : Toàn tập, T.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 260

Trang 37

mà còn là kim chỉ nam cho hành động nữa Học tấm gương Hồ Chí Minh là tìm hiểu bản chất của vấn đề để vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cuộc sống Người dân có cảm tình với Đảng, với chế độ trước hết là qua tấm gương sáng của cán bộ, đảng viên, những tấm gương đó có sức mạnh cảm hoá, đưa

đến cho người ta niềm tin Trong lúc kêu gọi những người có ăn cứ 10 ngày nhịn một bữa, mỗi bữa một bơ để cứu giúp những người đang bị đói ngay sau Cách mạng Tháng Tám, thì Hồ Chí Minh đã làm gương Kêu gọi mọi người ra sức chống hạn để cứu lúa, kể cả huy động mọi người ở nông thôn bất kể ngày

đêm tát nước, thì Hồ Chí Minh đi tát nước, đi cấy lúa, v.v Đã có một học giả phương Tây nhận xét rằng, bơ gạo của Hồ Chí Minh đã cứu đói cho cả một dân tộc Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi một người dân khoẻ mạnh thì cả dân tộc khoẻ mạnh và một trong những biện pháp để đạt được yêu cầu đó là mọi người phải thường xuyên tập thể dục, do đó ông kêu gọi mọi người hàng ngày hăng hái tập thể dục Ông nói: “Tự tôi ngày nào cũng tập” Nói chuyện với cán bộ ở một trường huấn luyện (11-1945), Hồ Chí Minh nói: “Phải làm gương cho

đồng bào, phải siêng năng, hăng hái Tôi lấy thí dụ như trong việc cứu nạn

đói, mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén tỳ tỳ thì nghe sao được Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải Về việc khuyến nông cũng vậy, bảo người ta đào đất trồng ngô, trồng khoai mà lúc người ta làm mình lại ngủ thì sao được? Miệng nói tay phải làm mới được”16

Làm gương cho người khác soi, đó là một phương cách xử thế ở đời của

Hồ Chí Minh Nhiều cái phản văn hoá hay là đạo đức giả là ở chỗ nói mà không làm; nói nhiều làm ít; nói thì hay nhưng không làm gì cả; thậm chí nói một đằng làm một nẻo Hồ Chí Minh cho rằng: ở phương Đông và ở Việt Nam, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền Cán bộ, đảng viên, những người có chức có quyền, nhất là những cán

bộ chủ chốt, nếu nêu một tấm gương sáng thì sẽ tạo ra một đời sống văn hoá lành mạnh cho xã hội, còn ngược lại thì hậu quả sẽ khôn lường

16 Hồ Chí Minh : Toàn tập, T.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 101 – 102

Trang 38

Văn hoá đạo đức trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết vẫn là những vấn đề thuộc về thái độ đối với con người

Dân tộc ta trọng nghĩa tình, cái trục ứng xử là trên tình người, “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” (Nguyễn Trãi) Đầu

những năm 20 của thế kỷ XX, ngay trong số đầu của báo Le Paria, Hồ Chí

Minh đã đề cập giải phóng con người Ông nhất quán quan điểm đó, cho đến

trong Di chúc, ông không những để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân,

toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng và gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế, mà còn căn dặn Đảng ta về những công việc cần làm sau khi đã đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, trong đó “đầu tiên là công việc đối với con người”

Hồ Chí Minh viết Di chúc từ năm 1965 khi sức khoẻ của ông giảm sút Những năm sau, cứ đến tháng 5, ông lại sửa chữa, bổ sung Năm 1967, ông chỉ bổ sung một câu: "Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau"

Tình thương yêu, quý trọng con người trước hết ông dành cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng khổ Lòng yêu thương, quý trọng con người ở Hồ Chí Minh không có giới hạn biên giới quốc gia Theo ông, trên thế giới này ở đâu cũng chỉ có hai giống người: giống người bị áp bức và giống người đi áp bức Trong các bài báo, cuốn sách do ông viết, hiện lên số phận của bao nhiêu con người lao động bị đế quốc đày đọa, từ người phụ nữ châu Phi, những thủy thủ, phu khuân vác Đắcca, Braxin, Xiri, Liban… cho

đội ngũ cán bộ, đảng viên: nếu nước đã được độc lập mà dân cứ chết đói, chết rét thì độc lập chẳng để làm gì; dân chỉ biết giá trị của tự do, độc lập khi được

ăn no, mặc ấm

Trang 39

Hồ Chí Minh chú ý giáo dục mọi người, trong đó có cán bộ, đảng viên, trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân

Trong Nho giáo, khái niệm “trung-hiếu” là trung với vua, hiếu với cha

mẹ Đây là một nguyên tắc cơ bản trong chế độ phong kiến ở Việt Nam

Hồ Chí Minh mượn khái niệm của Nho giáo, nhưng chữ “trung” ở đây

có nội dung hoàn toàn mới, đó là “trung với nước, trung với Đảng" còn “hiếu”

ở đây không chỉ riêng hiếu với cha mẹ mà là hiếu với dân, trong đó có cha mẹ

Ông cho rằng, người cách mạng phải đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết và trước hết Ông đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải là những người tiên phong, gương mẫu về mặt này

Hồ Chí Minh đặt chữ “trung” lên hàng đầu trong cả cuộc đời của mình

và ông viết trong Di chúc khi đề cập việc riêng: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức

phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không đ-

ược phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”17

Trung với nước, trung với Đảng ở Hồ Chí Minh trở thành lẽ sống tự nhiên và ông ý thức được trách nhiệm phục vụ nhân dân, kể cả khi đã đứng ở

đỉnh tháp của quyền lực Chỉ mấy tháng sau khi trở thành Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thông qua việc trả lời các nhà báo, ông nói rằng: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng lệnh của quốc dân ra trước mặt trận Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân

ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”18

17 Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 512

18 Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr, 161

Trang 40

Hồ Chí Minh đề cập chữ “hiếu” rộng hơn và tích cực hơn so với chữ

“hiếu” của Nho giáo Rộng hơn là bởi vì ông cho rằng hiếu là hiếu với dân, trong đó có hiếu với cha mẹ mình và rộng ra nữa là tình anh em, họ hàng Đã

có thời đế quốc và tay sai ra sức xuyên tạc về “chân dung” của người cộng sản khi chúng cho rằng, người cộng sản là người không có tình cảm, không có tình nghĩa cha con, vợ chồng, anh em, v.v Người cộng sản cũng như bao con người khác, cũng có tình cảm, cũng có tình nghĩa, cũng có một cuộc sống gia

đình bình thường như bao nhiêu người khác Có khác chăng là nếu cách mạng cần thì họ sẵn sàng hy sinh những cái riêng để phục vụ Đảng, phục vụ Tổ quốc, biết ứng xử mối quan hệ gia đình trong mối quan hệ chung của Đảng và

đình trong các mối quan hệ, họ sống thiếu trách nhiệm, hắt hủi cha mẹ Họ

t-ưởng rằng, có tiền là giải quyết được tất cả Nhiều chiến sĩ cách mạng biết rằng: đi hoạt động cách mạng thì rất có thể sẽ bị tù đày, bị lên máy chém,

đứng trước pháp trường của đế quốc, hoặc gia đình họ bị tan nát Nhưng

họ sẵn sàng chấp nhận, coi cái chết tựa như lông hồng, bởi vì có tấm lòng trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cho lý tưởng của Đảng, cho độc lập, tự do của Tổ quốc Ngày nay, hoàn cảnh đó không còn, nhưng chữ “trung-hiếu” vẫn còn đó Có những cán bộ, đảng viên không chết bởi “mũi tên hòn đạn” của đế quốc trong thời kỳ chống ách ngoại bang mà “chết” bởi sự cám dỗ của vật chất, đồng tiền, của sự đam mê quyền lực và nhiều vấn đề khác

Ngày đăng: 05/07/2016, 14:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w