Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài luận án - Xây dựng được khung lý thuyết cơ bản để phân tích vai trò của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kin
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Bên cạnh sự nỗ lực và làm việc nghiêm túc của cá nhân, luận án này không thể hoàn thành nếu không có sự hỗ trợ của nhiều người Qua đây, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành nhất đến tất cả những người đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học để hoàn thành luận án
Trước hết, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến hai thầy hướng dẫn khoa học
là TS Võ Trí Thành và TS Ngô Minh Hải đã luôn tận tình hướng dẫn, góp ý và định hướng cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và viết luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô công tác tại Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương và các cán bộ của Trung tâm Tư vấn quản lý và Đào tạo đã luôn nhiệt tình hỗ trợ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi và các nghiên cứu sinh khác trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các bạn đồng nghiệp, Ban Giám Hiệu và lãnh đạo Khoa Kinh tế-Quản lý, Bộ môn Kinh tế học thuộc Trường Đại học Thăng Long đã hỗ trợ, chia sẻ thông tin cũng như tạo điều kiện thuận lợi trong công việc
để tôi có thể hoàn thành quá trình học tập và nghiên cứu của mình
Cuối cùng, tôi xin dành sự biết ơn sâu sắc đến chồng và hai con cùng họ hàng hai bên nội ngoại đã dành cho tôi nguồn động viên to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần để tôi có thể an tâm theo đuổi và hoàn thành công việc học tập và nghiên cứu khoa hoc của mình
Xin trân trọng cảm ơn
Tác giả Trần Thị Thùy Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các thông tin, số liệu sử dụng trong luận án đảm bảo trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học khác
Tác giả
Trần Thị Thùy Linh
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH v
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÒ CỦA VỐN CON NGƯỜI ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 6
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án 6
1.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài 6
1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố trong nước 17
1.1.3 Những vấn đề thuộc đề tài luận án chưa được các nghiên cứu đã công bố giải quyết 21
1.2 Phương hướng giải quyết các vấn đề nghiên cứu của luận án 22
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu đề tài luận án 22
1.2.2 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài luận án 22
1.2.3 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án 23
1.2.4 Cách tiếp cận, mô hình nghiên cứu đề tài luận án 25
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ VỐN CON NGƯỜI ĐỐI VỚI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 27
2.1 Vốn con người 27
2.1.1 Khái niệm và đ c điểm của vốn con người 27
2.1.2 Tiêu chí đo lường vốn con người 33
2.2 Chất lượng tăng trưởng kinh tế 38
2.2.1 Các quan niệm về chất lượng tăng trưởng kinh tế 38
Trang 62.2.2 Khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế 42 2.2.3 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế: cách tiếp cận vĩ
2.4 Mô hình phân tích, đánh giá nhân tố vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế: cách tiếp cận vĩ mô và vi mô 55
2.4.1 Mô hình phân tích, đánh giá nhân tố vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế: cách tiếp cận vĩ mô 55 2.4.2 Mô hình phân tích, đánh giá nhân tố vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế: cách tiếp cận vi mô 60
2.5 Các nhân tố tác động đến vai trò của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế 61
2.5.1 Các nhân tố vĩ mô 61 2.5.2 Các nhân tố vi mô 66
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA VỐN CON NGƯỜI ĐỐI VỚI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2014 69 3.1 Khái quát thực trạng tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam 69
3.1.1 Khái quát thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2014 69 3.1.2 Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam: cách tiếp cận vĩ
mô 71 3.1.3 Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam: cách tiếp cận vi
Trang 73.2 Thực trạng vốn con người Việt Nam: cách tiếp cận vĩ mô và vi mô 87
3.2.1 Thực trạng vốn con người Việt Nam theo cách tiếp cận vĩ mô (cách tiếp cận giáo dục) 87 3.2.2 Thực trạng vốn con người Việt Nam: cách tiếp cận vi mô (cách tiếp cận chi phí) 97
3.3 Thực trạng vai trò vốn con người đối với chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam: cách tiếp cận vĩ mô và vi mô 99
3.3.1 Thực trạng vai trò vốn con người đối với chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam: cách tiếp cận vĩ mô 99 3.3.2 Thực trạng vai trò vốn con người đối với chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam: cách tiếp cận vi mô 103
3.4 Ước lượng và kiểm định vai trò của vốn con người đối vói nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam: cách tiếp cận vĩ mô và vi mô 104
3.4.1 Ước lượng và kiểm định vai trò của vốn con người đối vói nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam: cách tiếp cận vĩ mô 104 3.4.2 Ước lượng và kiểm định vai trò của vốn con người đối vói nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam: cách tiếp cận vi mô 108
3.5 Đánh giá chung thực trạng vai trò của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam 114
3.5.1 Đánh giá những m t tích cực của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam 114 3.5.2 Đánh giá những m t hạn chế của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam 115 3.5.3 Nguyên nhân giải thích cho những m t hạn chế của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam 116
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN CON NGƯỜI NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025 122 4.1 Bối cảnh và những yêu cầu đặt ra đối với phát triển vốn con người nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2025 122
Trang 84.2 Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với phát triển vốn con người đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt
Nam đến năm 2025 124
4.2.1 Điểm mạnh 124
4.2.2 Điểm yếu 125
4.2.3 Cơ hội 126
4.2.4 Thách thức 127
4.3 Quan điểm, mục tiêu và phương hướng phát triển vốn con người đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2025 128
4.3.1 Các quan điểm phát triển vốn con người đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2025 128
4.3.2 Các mục tiêu phát triển vốn con người đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2025 129
4.3.3 Phương hướng phát triển vốn con người đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2025 130
4.4 Các giải pháp phát triển vốn con người nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2025 131
4.4.1 Giải pháp phát triển vốn con người ở cấp độ vĩ mô (quốc gia) 131
4.4.2 Giải pháp phát triển vốn con người ở cấp độ vi mô (hộ gia đình) 141
4.5 Điều kiện đảm bảo thực hiện các giải pháp 144
4.5.1 Về phía chính phủ 144
4.5.2 Về phía Bộ Giáo dục và Đào tạo 147
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
APO Asian Productivity Organization Tổ chức năng suất Châu
Á ASEAN Association of South East Asia
người ICOR Incremental Capital Output Ratio Tỷ lệ gia tăng vốn sản
lượng ILO International Labor Organization Tổ chức lao động quốc tế
Investment
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính
thức
Co-operation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Trang 10OXFAM Oxford Committee for Famine
Relief
R&D Research and Development Nghiên cứu và Phát triển SNA System of National Accounts Hệ thống Tài khoản quốc
gia TFP Total Factor Productivity Năng suất nhân tố tổng
hợp TPP Trans-Pacific Strategic Economic
Partnership Agreement
Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương
UNESCO United Nations Educational,
Scientific and Cultural Organization
Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc
UNFPA Unitedt Nations Population Fund Quỹ dân số Liên hợp
quốc
Standard Survey
Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam
WHO World Health Organization Tổ chức y tế thế giới
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2000-2014 69
Bảng 3.2 Cơ cấu nguồn nhân lực theo trình độ chuyên môn 73
Bảng 3.3 Tình hình đầu tư giai đoạn 2000-2014 75
Bảng 3.4 Chỉ số ICOR của một số nước Châu Á 77
Bảng 3.5 Các yếu tố tạo ra tăng trưởng GDP giai đoạn 1996-2014 80
Bảng 3.6 Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo thành thị và nông thôn 85
Bảng 3.7 Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng của nhóm thu nhập thấp nhất và cao nhất 86
Bảng 3.8 Tỷ lệ người lớn (trên 15 tuổi biết chữ) theo giới tính và thành thị/nông thôn giai đoạn 1989-2009 90
Bảng 3.9 Tỷ lệ nhập học đúng tuổi theo các cấp năm 2009 90
Bảng 3.10 Số bằng phát minh sáng chế của một số nước Đông Nam Á năm 2011 96 Bảng 3.11 Chi tiêu cho giáo dục bình quân 1 nhân khẩu 1 tháng xét theo nhóm thu nhập 99
Bảng 3.12 Mức thu nhập trung bình của cá nhân năm 2012 theo nhóm chi tiêu cho giáo dục năm 2010 103
Bảng 3.13 Thống kê mô tả các biến số sử dụng trong mô hình hồi quy 106
Bảng 3.14 Kết quả hồi quy trong các trường hợp 107
Bảng 3.15 Thống kê mô tả các biến số sử dụng trong mô hình hồi quy theo cách tiếp cận vi mô 111
Bảng 3.16 Kết quả hồi quy theo cách tiếp cận vi mô 112
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Tác động của sự bình đẳng giáo dục đến chất lượng tăng trưởng kinh tế13 Hình 1.2 Mô hình nghiên cứu đề tài luận án 26 Hình 3.1 Năng suất lao động của Việt Nam và một số nước Châu Á 71 giai đoạn 2000-2014 71 Hình 3.2 Cơ cấu lao động trên 15 tuổi theo nghề nghiệp năm 2000 so với năm 2013 74 Hình 3.3 Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2001-2014 76 Hình 3.4 Hệ số ICOR theo 3 khu vực sở hữu giai đoạn 2000-2012 78 Hình 3.5 Đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP của Việt Nam và một số nước Châu Á giai đoạn 2001-2014 81 Hình 3.6 Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng 82 Hình 3.7 Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo thành thị và nông thôn 84 Hình 3.8 Tỷ lệ người lớn (trên 15 tuổi) biết chữ của Việt Nam 88 Hình 3.9 Tỷ lệ người lớn biết chữ năm 2009 theo giới tính của các nước Đông Nam
Á 89 Hình 3.10 Tỷ lệ nhập học THPT của Việt Nam giai đoạn 2000-2011 91 Hình 3.11 Số năm đi học trung bình của người trưởng thành Việt Nam 92 Hình 3.12 Tỷ lệ dân số từ 25 tuổi trở lên có trình độ giáo dục bậc cao của Việt Nam
và một số nước Châu Á 94 Hình 3.13 Chi tiêu cho giáo dục bình quân 1 nhân khẩu 1 tháng xét theo khu vực nông thôn và thành thị 98 Hình 3.14 Tỷ lệ người lớn biết chữ và năng suất lao động của Việt Nam giai đoạn 1990-2013 100 Hình 3.15 Số năm đi học trung bình và năng suất lao động của Việt Nam giai đoạn 1990-2013 101 Hình 3.16 Tỷ lệ nhập học THPT và năng suất lao động của Việt Nam giai đoạn
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài luận án
Tăng trưởng kinh tế là một vấn đề mà tất cả các quốc gia, đ c biệt là các nước đang phát triển đều quan tâm Tăng trưởng cao là mục tiêu mà các nước đang phát triển như Việt Nam hướng tới Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào con số về tốc độ tăng trưởng không thôi thì chưa có cái nhìn đầy đủ về quá trình tăng trưởng và phát triển của một quốc gia Thời gian gần đây, nhiều nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế quan tâm nhiều đến vấn đề chất lượng tăng trưởng vì mục tiêu của một quốc gia ngày nay không chỉ là tăng trưởng cao mà còn tăng trưởng phải có chất lượng Theo nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng của B, các nước trên thế giới có 3 kiểu tăng trưởng (patterns of growth) :
(1) Tăng trưởng không bền vững, ở đó nền kinh tế tăng trưởng với một số giai đoạn tăng trưởng nhanh nhưng với tỷ lệ giảm dần, cuối cùng dẫn đến tình trạng trì trệ ho c gần trì trệ
(2) Tăng trưởng méo mó dựa trên khai thác nguồn lực tự nhiên, ít đầu tư vào vốn nhân lực, chú ý vào trợ cấp cho đầu tư vào vốn hiện vật
(3) Tăng trưởng bền vững thông qua tích lũy tài sản một cách cân bằng hay không méo mó với sự hỗ trợ của nhà nước để phát triển hệ thống giáo dục tiểu học
và cơ sở, cải thiện hệ thống y tế công cộng và bảo vệ nguồn lực tự nhiên Mô hình này chú trọng đến việc đầu tư vào vốn con người cần thiết cho việc sáng tạo công nghệ và tăng trưởng của TFP
Sau gần 3 thập kỷ theo đuổi mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế
mà ít chú ý đến chất lượng tăng trưởng kinh tế, nền kinh tế Việt Nam đã bộc lộ nhiều vấn đề tồn tại như:
(i) Năng suất lao động của Việt Nam ở mức rất thấp, ví dụ như theo báo cáo
của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) World of Work Report: Developing
Trang 14with Jobs năm 2014, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 1/15 năng
suất lao động của Sing-ga-po [61]
(ii) Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp thể hiện qua sự gia tăng của hệ số ICOR và hệ số này cao hơn gần gấp đôi so với nhiều quốc gia trong khu vực (iii) Mức độ đóng góp của tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế thấp hơn rất nhiều so với nhiều quốc gia trong khu vực
Cụ thể, trong giai đoạn 2011-2014, mức độ đóng góp của tăng TFP vào tăng GDP của Việt Nam ở mức dưới 25,82% trong khi con số này của Thái Lan, In-đô-nê-xi-a hay Phi-lip-pin đều ở mức trên 40% [24]
(iv) Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam cũng đang phải đối m t với những vấn đề như ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội, tham ô tham nhũng
Trước những vấn đề nêu trên, việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế đang ngày càng được quan tâm trong bối cảnh nền kinh tế g p nhiều thách thức đến
từ bên trong cũng như bên ngoài Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế đòi hỏi quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng mô hình từ tăng trưởng dựa vào vốn hiện vật sang tăng trưởng dựa vào con người Hiện nay, nhiều nước đang phát triển trong đó có Việt Nam đang hướng tới mô hình tăng trưởng và phát triển bền vững
Mô hình này đ c biệt nhấn mạnh đến vai trò của vốn con người trong việc duy trì tỷ
lệ tăng trưởng cân đối giữa các nguồn lực vì theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới về chất lượng tăng trưởng kinh tế, vốn con người chứ không phải là vốn hiện vật có thể thay thế cho nguồn lực tự nhiên Vì vậy, vốn con người có vai trò đ c biệt quan trọng đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế
Hiện nay, nhiều phân tích đã đưa đánh giá về chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trên cơ sở xem xét rất nhiều tiêu chí, nhiều khía cạnh mà chưa đi sâu vào phân tích vai trò của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Một số nghiên cứu nếu có bàn về vai trò của vốn con người đối với chất
Trang 15lượng tăng trưởng kinh tế cũng mới chỉ dừng lại ở các phân tích theo cách tiếp cận
vĩ mô
Về m t lý luận cũng như nghiên cứu thực tiễn ở nhiều quốc gia, vai trò tích cực của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế đã được khẳng định Tuy nhiên, hai câu hỏi quan trọng đ t ra là (1) Vốn con người có vai trò như thế nào đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam? và (2) Làm thế nào để vốn con người ngày càng có vai trò tích cực đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam? dựa trên phân tích thống kê mô tả, thống kê so sánh và định lượng theo cách tiếp cận vĩ mô và vi mô chưa được nghiên cứu khoa học nào
giải quyết Đó là lý do nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài Vai trò vốn con người đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam: cách tiếp cận vĩ
mô và vi mô
2 Mục đích nghiên cứu đề tài luận án
Việc nghiên cứu đề tài luận án nhằm xây dựng khung lý thuyết cơ bản để luận giải một cách rõ ràng vai trò của vốn con người đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam Trên cơ sở đó, luận án hình thành các căn cứ khoa học để đưa ra các phương hướng và quan điểm đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của vốn con người đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài luận án
- Xây dựng được khung lý thuyết cơ bản để phân tích vai trò của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của một quốc gia theo cách tiếp cận vĩ mô và vi mô
- Đánh giá được thực trạng vai trò của vốn con người đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2014 dựa trên cách tiếp cận
vĩ mô và vi mô
Trang 16- Đưa ra được các đề xuất các giải pháp phù hợp với bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nhằm phát huy vai trò vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đến năm 2025
4 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trên cơ sở tham khảo và kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu đã có để khái quát và hệ thống hóa các cơ sở lý luận cần thiết có liên quan đến chủ đề nghiên cứu nhằm làm căn cứ cho việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát huy vai trò của vốn con người đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để phù hợp với yêu cầu, nội dung và mục đích nghiên cứu, phương pháp phân tích bằng thống kê mô tả và so sánh kết hợp với phân tích định lượng s được
áp dụng để đánh giá vai trò của vốn con người đối với chất lượng tăng trưởng kinh
tế Việt Nam theo cách tiếp cận vĩ mô và vi mô
Trong phần phân tích bằng thống kê mô tả và so sánh, số liệu thứ cấp theo thời gian s được tổng hợp và phân tích thông qua các bảng biểu, đồ thị để đánh giá được thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế, vốn con người và vai trò vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo cách tiếp cận
vĩ mô và vi mô
Trong phần phân tích định lượng, phương pháp hồi quy theo mô hình kinh tế lượng s được sử dụng để xem xét xu hướng và mức độ tác động của vốn con người đối với chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo cách tiếp cận vĩ mô và
vi mô
Trang 176 Kết cấu của luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu và tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế
Chương 2: Cơ sở lý luận về vai trò vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế
Chương 3: Thực trạng vai trò vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2014
Chương 4 Đề xuất giải pháp phát triển vốn con người để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2025
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÒ CỦA VỐN CON NGƯỜI ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHẤT LƯỢNG
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài
Nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực tế được thực hiện nhằm tìm ra mối liên
hệ giữa trình độ giáo dục hay rộng hơn là vốn con người và tăng trưởng kinh tế hay chất lượng tăng trưởng kinh tế Theo cách tiếp cận vĩ mô, nhiều nghiên cứu về vấn
đề này được thực hiện về m t lý thuyết cũng như thực tiễn ở nhiều quốc gia
Nghiên cứu Investment in Human, Technological Diffusion and Economic
Growth” của Nelson-Phelps (1966) về mối quan hệ giữa đầu tư vào vốn con người,
sự lan tỏa công nghệ và tăng trưởng kinh tế đã chỉ ra rằng lượng vốn con người (stock of human capital) là động lực chính của tăng trưởng kinh tế [44] Nghiên cứu này nhấn mạnh sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng giữa các quốc gia được quyết định bởi sự khác nhau về lượng vốn con người và do đó được quyết định bởi khả năng tạo ra các tiến bộ công nghệ Trong nghiên cứu của mình, Nelson và Phelps dựa trên giả định về tiến bộ kỹ thuật trung tính của Harrod đã đưa ra 2 mô hình về
sự lan tỏa công nghệ:
+ Mô hình thứ nhất phát biểu rằng độ trễ về thời gian giữa việc tạo ra kỹ thuật mới và việc áp dụng nó là một hàm giảm dần của chỉ số về kết quả giáo dục (hay mức độ vốn con người được sử dụng)
Kết luận quan trọng của mô hình này là: nếu các yếu tố khác không thay đổi, kết quả giáo dục tăng lên s làm gia tăng tốc độ tiến bộ công nghệ hay nói một cách khác khi vốn con người tăng lên s làm giảm độ trễ về m t thời gian giữa việc phát minh ra công nghệ và ứng dụng công nghệ từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 19+ Mô hình thứ hai phát biểu rằng tốc độ tiến bộ công nghệ mới nhất được ứng dụng trong thực tế phụ thuộc vào hai yếu tố: (i) trình độ giáo dục (vốn con người) và (ii) khoảng cách giữa trình độ công nghệ về m t lý thuyết và trình độ công nghệ trong thực tế
Như vậy, nghiên cứu của Nelson và Phelps đã đưa đến kết luận là có mối liên hệ giữa giáo dục (vốn con người) và tăng trưởng kinh tế thông qua mối quan hệ giữa trình độ giáo dục và sự lan tỏa công nghệ
Công trình nghiên cứu On the Mechanics of Economic Development của
Lucas (1988) chủ yếu dựa trên mô hình tăng trưởng tân cổ điển đã nghiên cứu về
cơ chế của phát triển kinh tế thông qua việc xem xét 3 mô hình:
+ Mô hình thứ nhất nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa tích lũy vốn hiện vật
và tiến bộ công nghệ
+ Mô hình thứ hai nhấn mạnh đến quá trình tích lũy vốn con người thông qua giáo dục đào tạo Thông qua mô hình này Lucas đã kết luận đầu tư cho giáo dục có tác động rõ rệt đến năng suất của người lao động
+ Mô hình thứ ba nhấn mạnh đến quá trình tích lũy vốn con người thông qua tích lũy kinh nghiệm (learning by doing)
Nghiên cứu của Mankiw, Romer và Neil (1992) A Contribution to the
Empirics of Economic Growth dựa trên mô hình tăng trưởng của Solow nhưng bổ
sung yếu tố vốn con người Mô hình của Solow coi tỷ lệ tiết kiệm, tỷ lệ tăng dân số
và tiến bộ công nghệ là những yếu tố ngoại sinh Đầu vào của sản xuất bao gồm 2 yếu tố là vốn và lao động Hàm sản xuất trong mô hình của Solow có dạng
))()(()()(t K t A t L t
Trong đó Y là sản lượng, K là vốn, L là lao động và A là trình độ công nghệ
L và A được giả định là tăng trưởng một cách ngoại sinh
Trang 20Sau khi bổ sung yếu tố vốn con người, hàm sản xuất có dạng
Log(GDP bình quân trên người trong độ tuổi lao động) = a 1 + a 2 log(tỷ lệ đầu tư) + a 3 log(tỷ lệ tăng dân số+tỷ lệ tăng trưởng +tỷ lệ khấu hao)+ a 3 log(tỷ lệ dân số đang theo học THCS)
Phân tích định lượng được tiến hành với 3 nhóm nước: (i) các nước không xuất khẩu dầu mỏ (ii) các nước thu nhập trung bình và (iii) các nước OECD Kết quả là biến số đo lường vốn con người đều có ý nghĩa ở cả 3 nhóm
Nghiên cứu Hanushek và öβmann (2007) thông qua nghiên cứu The Role
of Education Quality in Economic Growth” đã khẳng định vai trò của vốn con
người đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Để có được kết luận này, Hanushek
và öβmann đã sử dụng mô hình kinh tế lượng để tìm ra mối liên hệ giữa các biến
số về giáo dục với tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là đại diện cho tăng trưởng kinh tế Phương trình hồi quy cụ thể trong nghiên cứu này có dạng như sau:
Trang 21Tốc độ tăng trưởng hàng năm trung bình của thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 1960-2000 = a 1 + a 2 GDP bình quân đầu người tại năm 1960 + Số năm đi học trung bình tại năm 1960 +a 3 Điểm kiểm tra trung bình
Phương trình hồi quy trên được áp dụng phân tích theo 2 cách:
Cách 1: Chia mẫu nghiên cứu thành 2 nhóm là các nước OECD và các nước ngoài OECD Kết quả là ảnh hưởng của chất lượng giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước ngoài OECD là lớn hơn, tuy nhiên mức độ khác biệt không nhiều
Cách 2: Chia mẫu nghiên cứu thành 2 nhóm là các nước thu nhập thấp và thu nhập cao Tiêu chí phân nhóm ở đây là so sánh thu nhập của các nước so với mức thu nhập trung bình của tất cả các nước vào thời điểm năm 1960 Kết quả là ảnh hưởng của chất lượng giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế là rõ ràng ở cả hai nhóm nước, trong đó ảnh hưởng của chất lượng giáo dục là lớn hơn đối với nhóm các nước thu nhập thấp
Từ hai cách nghiên cứu trên, các tác giả đã đưa đến kết luận là đối với các nước đang phát triển, chất lượng giáo dục có ảnh hưởng nhiều hơn đến tăng trưởng kinh tế so với các nước phát triển Thông qua kết luận này, một ý nghĩa quan trọng
có thể rút ra rằng các nước đang phát triển cần chú trọng hơn đến đầu tư cho giáo dục để có thể đảm bảo được tăng trưởng kinh tế ổn định và lâu dài [36]
Một số nghiên cứu khác sử dụng cách tiếp cận hạch toán tăng trưởng (growth accounting approach) để phân tích sự khác biệt giữa các quốc gia về vấn đề tăng trưởng như các nghiên cứu củaBosworth và Collins (2013) và Abed (2004)cho thấy chỉ sự gia tăng các nhân tố sản xuất không thôi thì không thể giải thích được tăng trưởng kinh tế [49], [53] Hay nghiên cứu của Easterly và Levine (2001) trong
It’s not Factor Accumulation Stylized Facts and Growth Models đã đưa yếu tố
A trong hàm sản xuất Cobb-Douglas chuẩn có dạng Yt= At f(Kt, Lt) là nhân tố
Trang 22quan trọng đối với tăng trưởng, ở đó Y là sản lượng, K là vốn hiện vật và L là số lượng lao động và A thường được coi là TFP Một phần đáng kể trong sự khác biệt về tăng trưởng giữa các quốc gia được giải thích bởi sự khác biệt về TFP TFP cũng phản ánh chất lượng của lao động Lao động được đào tạo và có kỹ năng s có khả năng tạo ra mức sản lượng lớn hơn lực lượng lao động không có trình độ [35]
Dựa trên một cách tiếp cận khác về vốn con người Altinok (2007) trong
Human Capital Quality and Economic Growth đã tiến hành nghiên cứu mối quan
hệ giữa chất lượng vốn con người và tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu được tiến hành dựa vào các tiêu chí đánh giá mới về vốn con người bao gồm một tập hợp các khảo sát quốc tế về đánh giá năng lực học sinh Đây được xem là đại diện cho chất lượng vốn con người Các tiêu chí này bao gồm các kỹ năng về các môn toán học, khoa học và đọc hiểu Trước hết, tác giả đã sử dụng dữ liệu chéo (cross data) bao gồm 120 quốc gia và dữ liệu mảng (panel data) bao gồm dữ liệu về rất nhiều quốc gia trong giai đoạn từ 1960-2005 Nghiên cứu đã chỉ ra tác động tích cực của chất lượng vốn con người đến tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1960-2000 Đây là nghiên cứu đầu tiên có đưa yếu tố chất lượng giáo dục khi sử dụng dữ liệu mảng Một đóng góp quan trọng của nghiên cứu này là xét đến thêm nhiều quốc gia hơn bao gồm cả các nước có thu nhập trung bình ho c thấp (trong khi đó hầu hết các nghiên cứu trước đó chỉ tập trung vào nhóm nước thu nhập cao) Cụ thể, trong nghiên cứu này có xem xét đến 27 nước Châu Phi ở vung cận Sahara [26]
Trong một nghiên cứu cho khu vực Châu Á về mối quan hệ giữa vốn con
người và tăng trưởng kinh tế Human Capital and Economic Growth in Asia
1890-2000: a time-series analysis , Bas van Leeuwen (2005) đã dựa trên các nghiên cứu
của Lucas (1988) và Romer (1989) đã đưa ra một số kết luận về vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế Sử dụng kiểm định Johansen, nghiên cứu đã chỉ
ra đối với trường hợp Indonesia và Ấn Độ, trình độ giáo dục đồng kết hợp (cointegration) với thu nhập trong suốt thế kỷ 20 Kết luận này phù hợp với kết quả
Trang 23nghiên cứu của Lucas (1988) Nhưng với trường hợp nước Nhật, các kết luận theo cách tiếp cận của Lucas chỉ khẳng định mối quan hệ trên trong nửa đầu thế kỷ 20, trong khi đó từ sau năm 1950, quan điểm của Romer lại được khẳng định, tức là có
sự đồng kết hợp giữa tốc độ tăng của thu nhập và mức độ vốn con người [29]
Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác của Bils (2000) và Pritchett (2001) kiểm định mối quan hệ giữa số năm đi học và tốc độ tăng trưởng kinh tế nhưng đã thất bại trong việc tìm ra mối tương quan có ý nghĩa [52], [72] Bosworth và Collins (2003) cũng thất bại trong việc tìm mối liên hệ ch t ch giữa chất lượng giáo dục
và tăng trưởng Một số nhà nghiên cứu cho rằng mối liên hệ giữa giáo dục và tăng trưởng có thể không rõ ràng do lợi ích (benefit) của giáo dục không được nhìn nhận đầy đủ vì không thể kết hợp sự cải thiện về trình độ giáo dục với các yếu tố quan trọng khác trong quá trình tăng trưởng Điều này có nghĩa là việc có được các kỹ năng không mang lại lợi ích gì nếu cơ sở hạ tầng và thể chế không tồn tại để tận dụng chúng Hay nói cách khác, có một sự bổ sung cho nhau giữa sự phát triển vốn con người và các nhân tố quyết định tăng trưởng khác như cơ sở hạ tầng và thể chế[53]
Bên cạnh những nghiên cứu cho một nhóm các nước, có nhiều nghiên cứu riêng biệt cho từng quốc gia cũng tập trung vào mối quan hệ giữa vốn con người (chủ yếu thông qua đại diện là các biến về giáo dục) và tăng trưởng kinh tế ho c chất lượng trưởng kinh tế Trước hết phải kể đến các nghiên cứu về Trung Quốc Nghiên cứu của Xue Fu và các đồng sự về sự đóng góp của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế thông qua sự kết hợp mô hình của Lucas và mô hình đầu vào-đầu ra Nghiên cứu này được thực hiện thông qua hai bước Bước thứ nhất, nền kinh tế được chia làm 3 khu vực (khu vực sơ cấp (primary sector), khu vực thứ cấp (secondary sector) và khu vực cao cấp (Tertiary sector) Áp dụng phân tích định lượng với dữ liệu mảng, sản lượng của từng khu vực được hồi quy theo lao động, vốn hiện vật và vốn con người Lao động được đo bằng số người có việc làm Vốn
Trang 24hiện vật được đo bằng toàn bộ lượng tài sản cố định được tính theo giá cố định Vốn con người được phân biệt với lao động thông qua kết quả giáo dục là trình độ trên hay dưới cấp hai
Bước thứ hai của nghiên cứu là kiểm tra tác động gián tiếp của sự gia tăng sản lượng Bước này được thực hiện thông qua mô hình đầu vào-đầu ra và coi sản lượng của tất cả các ngành công nghiệp trong mỗi khu vực là điểm bắt đầu ngoại sinh và xác định tác động một cách nội sinh đối với toàn bộ nền kinh tế Do hạn chế
về dữ liệu nên nghiên cứu được thực hiện với khu vực thứ cấp (bao gồm các ngành sản xuất)
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng đóng góp của vốn con người đối với tăng trưởng của các khu vực là ít hơn so với lao động và vốn hiện vật Cụ thể, đối với sự tăng trưởng của toàn bộ khu vực thứ cấp, vốn con người đóng góp 2,6% trong khi
đó lao động đóng góp 7,4% và vốn cố định đóng góp 16,3% Hay nếu vốn con người tăng lên 1% thì tạo ra sự gia tăng sản lượng trực tiếp của khu vực này là 0,076% Thông qua bước thứ hai, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng 0,076% tăng trưởng sản lượng trực tiếp của khu vực thứ cấp tạo ra sự gia tăng sản lượng của toàn bộ nền kinh tế là 0,143% Một kết quả đáng lưu ý nữa là vốn con người có tác động mạnh hơn đến sự tăng trưởng sản lượng của ngành công nghiệp n ng so với ngành công nghiệp nhẹ Như vậy, nghiên cứu trên cho thấy rằng, vốn con người có vai trò tích cực với sự tăng trưởng của từng khu vực và của cả nền kinh tế Trung Quốc [57]
Một nghiên cứu nữa về tác động của giáo dục đến chất lượng tăng trưởng
kinh tế của Trung Quốc được thực hiện bởi Changzheng và Jim (2010) là " Effect
of Equity in Education on the Quality of Economic Growth: evidence from China"
Nghiên cứu này tập trung vào vấn đề sự bình đẳng trong giáo dục ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc Nghiên cứu này dựa trên số liệu kinh tế vĩ mô trong 27 năm từ 1978 đến 2004 để thực hiện kiểm định
Trang 25Granger mối quan hệ nhân quả giữa sự bình đẳng trong giáo dục và chất lượng tăng trưởng kinh tế và sau đó xây dựng mô hình hồi quy Kết quả cuối cùng chỉ ra rằng
sự bình đẳng trong giáo dục có mối quan hệ đồng biến với chất lượng tăng trưởng kinh tế, trong đó sự bình đẳng trong giáo dục được đo bằng hệ số Gini trong giáo dục và chất lượng tăng trưởng kinh tế được đo bằng TFP Nghiên cứu này cũng đưa
ra cơ chế về sự bình đẳng trong giáo dục đã thúc đẩy chất lượng tăng trưởng kinh tế như thế nào Cơ chế này được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:
Hình 1.1 Tác động của sự bình đẳng giáo dục đến chất lượng tăng
trưởng kinh tế
Cơ chế trên hiểu như sau: bình đẳng trong giáo dục cải thiện sự tích lũy vốn con người, tối ưu hóa cấu trúc vốn con người, gia tăng kết quả của đầu tư vào giáo dục và cải thiện các gắn kết xã hội Tất cả các tác động trên cuối cùng đều phản ánh vào hiệu quả của TFP [55]
halley và Zhao (2010) cũng tiến hành nghiên cứu "The Contribution of
Human Capital to China’s Economic Growth" về sự đóng góp của vốn con người
đối với tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc Nghiên cứu này dựa vào nghiên cứu của Schultz (1960) về đo lường vốn con người và đánh giá lại sự đóng góp của vốn
Bình đẳng trong
giáo dục
Tích lũy vốn con người
Cấu trúc vốn con người
Kết quả của đầu tư vào giáo dục
Gắn kết xã hội
Chất lượng tăng trưởng kinh tế Tiến bộ công nghệ
Trang 26con người đối với tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc So với những nghiên cứu trước đó, nghiên cứu này đã chỉ ra rằng vốn con người đóng vai trò quan trọng hơn nhiều trong tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc Vốn con người đóng góp 38,1% vào tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong giai đoạn 1978-2008 và tỷ lệ cao này cao hơn trong giai đoạn 1999-2008 Để có được kết quả trên, halley và Zhao đã bắt đầu với việc đánh giá nguồn của tăng trưởng kinh tế theo mô hình của Solow trong đó chỉ xem xét đến vai trò của vốn hiện vật và lao động Tiếp đó, hai tác giả
đã đưa vốn con người vào trong mô hình nghiên cứu dựa trên tiếp cận của Barro và Lee (1993;2000) Số năm đi học trung bình được sử dụng như là biến đại diện cho vốn con người Tuy nhiên, các tác giả cho rằng số năm đi học trung bình chưa phải
là một đại diện tốt cho vốn con người Biến số này s làm giảm vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế bởi khi đưa biến số này vào mô hình, năng suất ở các trình độ giáo dục khác nhau được coi là như nhau ở mọi thời điểm Vì lý do này, halley và Zhao tiếp tục sử dụng cách tiếp cận của Schultz về đo lường vốn con người Cách tiếp cận của Schultz đo lường chi phí cơ hội của các yếu tố đầu vào của giáo dục để hình thành nên vốn con người Như vậy, cách tiếp cận này đã tính đến năng suất và vì vậy, nó đưa ra một đại diện tốt hơn cho vốn con người Dựa theo cách tiếp cận này, các tác giả đã đưa ra kết luận về sự đóng góp của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế như đã đề cập ở trên[82]
Nghiên cứu tương tự cũng đã được thực hiện ở một số nước khác Khan (2005) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn con người và tăng trưởng kinh tế
cho trường hợp Pakistan trong "Human Capital and Economic Growth in
Pakistan" Để đưa ra những kết luận cho nghiên cứu của mình, tác giả đã sử dụng
mô hình phân tích kinh tế lượng cho nhóm các nước có thu nhập thấp và trung bình trong giai đoạn từ 1980-2002 trong đó có thêm vào một số các biến về chính sách
và thể chế bên cạnh các biến về vốn con người được đại diện bởi trình độ giáo dục
và tình trạng sức khỏe Trên cơ sở phân tích đối với một nhóm nước, tác giả so
Trang 27sánh Pakistan với các nước trong mẫu nghiên cứu và với các nước ở Nam Á và Đông Nam Á Từ đó, tác giả đưa ra những gợi ý chính sách làm thế nào để Pakistan
có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng cao một cách lâu dài Phương trình hồi quy trong nghiên cứu của Khan có dạng như sau:
Tốc độ tăng trưởng hàng năm của GDP thực tế bình quân đầu người =
a 1 (Tỷ lệ đầu tư/GDP) + a 2 (Thu nhập khởi điểm tại năm 1980) + a 3 (chất lượng thể chế) +a 4 (số năm đi học trung bình) + a 5 (tỷ lệ đi học THCS) +a 6 (tỷ lệ biết chữ của người lớn) + a 7 (tuổi thọ)
Dựa trên kết quả hồi quy, nghiên cứu đã đưa ra kết luận một quốc gia có trình độ giáo dục càng cao và tình trạng sức khỏe tốt hơn s có tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cao hơn Trên cơ sở so sánh Pakistan với một số quốc gia, tác giả đưa ra khuyến nghị chính sách rằng chính phủ nên đầu tư nhiều hơn cho giáo dục để gia tăng vốn con người, từ đó có thể đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn và bền vững hơn [37]
Cũng nghiên cứu về Pakistan nhưng nghiên cứu "The Role of Human Capital
in Economic Growth: A Comparative Study of Pakistan and India" của Abbas
(2000) đã đề cập đến vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế trong sự
so sánh với trường hợp của Ấn Độ Nghiên cứu này phân tích vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế dưới hai giác độ: vốn con người được coi là biến
kỳ (flow variables) và biến điểm (stock variables) Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng
đề cập đến vai trò của vốn con người như là một nhân tố thu hút đầu tư vào vốn hiện vật Cũng như nhiều nghiên cứu khác, vốn con người được đại diện bởi tỷ lệ nhập học
Phương trình hồi quy dùng để phân tích vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế trong nghiên cứu này có dạng sau:
Trang 28log(GDP)= a 1 + a 2 log (tỷ lệ đầu tư/GDP) + a 3 log (tuổi thọ) + a 4 log (tỷ lệ nhập học THCS)
Vai trò của vốn con người đối với thu hút đầu tư vào vốn hiện vật được phân tích thông qua phương trình hồi quy sau:
log(tỷ lệ đầu tư/GDP) = a 1 + a 2 log(GDP) + a 3 log (tuổi thọ) + a 4 log (tỷ lệ nhập học THCS)
Kết quả nghiên cứu trong giai đoạn 1970-1994 trong trường hợp hai nước cho thấy nếu vốn con người được đại diện bởi tỷ lệ nhập học THCS thì vốn con người có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của cả Pakistan và Ấn Độ Tuyên nhiên, nếu vốn con người được đại diện bởi tỷ lệ nhập học THPT thì nó lại
có tác động tích cực trong trường hợp Pakistan và ngược lại đối với trường hợp Ấn Độ[25]
Nghiên cứu của Mankiw (1992) và Barro (2002) đã tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa trình độ giáo dục và tốc độ tăng trưởng trong nghiên cứu về nhiều quốc gia [28],[ 41] Một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới vào năm 1993 về hiện tượng thần kỳ Đông Á đã đưa ra yếu tố chất lượng vốn con người là nhân tố cơ bản nằm đằng sau sự phát triển nhanh chóng của một số nước ở khu vực Đông và Đông Nam Á[19]
Một số nghiên cứu về các nhân tố quyết định tăng trưởng đưa ra những kết luận thống nhất Sala-i-Martin (2004) nghiên cứu về tăng trưởng của nhiều quốc
gia trong Some Lessons from the Recent Empirical Growth Ông đã đưa ra một số
kết luận như sau: (i) không có một nhân tố đơn lẻ quyết định tăng trưởng; (ii) mức thu nhập khởi điểm là biến số quan trọng và có ý nghĩa nhất; (iii) quy mô của chính phủ không phải là vấn đề mà chất lượng của chính phủ và chính sách được đưa ra mới đóng vai trò quan trọng; (iv) mối quan hệ giữa vốn con người và tăng trưởng là yếu m c dù các chỉ tiêu về sức khỏe, như tuổi thọ có tương quan mạnh với tăng
Trang 29trưởng; (v) nền kinh tế càng mở càng tăng trưởng nhanh và (vi) thể chế đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng [47]
Mincer (1981) trong nghiên cứu “Human Capital and Economic Growth”
đã xem xét vai trò của vốn con người (được tích lũy thông qua quá trình đầu tư vào giáo dục) ở hai cấp độ: (i) Ở cấp độ vi mô hay dưới giác độ cá nhân và (ii) ở cấp độ
vĩ mô hay dưới giác độ quốc gia Dưới giác độ cá nhân, Mincer cho rằng tích lũy vốn con người của từng cá nhân mang lợi ích kinh tế (sự gia tăng thu nhập) cho chính cá nhân đó Dưới giác độ quốc gia, vốn con người là một đầu vào của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hiện vật Vốn hiện vật càng nhiều thì sự đóng góp của vốn con người vào tăng trưởng kinh tế càng tăng Mincer cũng cho rằng sự gia tăng của vốn con người là điều kiện và cũng là hệ quả của tăng trưởng kinh tế
1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố trong nước
Vấn đề tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế được khá nhiều các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm Điều này thể hiện ở số lượng các nghiên cứu khoa học về vấn đề trên ngày càng tăng, tuy nhiên không nhiều các nghiên cứu
về chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đề cập sâu đến yếu tố vốn con người mà đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam một cách tổng hợp dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như các nghiên cứu của Lê Huy Đức (2004), Trương Thị Minh Sâm (2004), Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá (2005); Phương Minh Ngọc (2006), Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế-Xã hội Quốc gia (2006), Trần Thọ Đạt (2009), Phạm Thị Thu Hương (2009) [1], [4],[9], [13], [28]
Trong số các nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn con người với tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trước hết phải kể đến các nghiên cứu của Trần Thọ Đạt và cộng sự bàn về vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng hay phát triển kinh tế của Việt Nam ở nhiều
giác độ khác nhau Trong nghiên cứu Tác động của vốn con người đối với tăng
Trang 30trưởng kinh tế các tỉnh/thành phố Việt Nam và Đánh giá trình độ giáo dục của lao động cấp tỉnh/thành phố Việt Nam , Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2008,
2010) đi đến kết luận trình độ giáo dục (một thước đo của vốn con người) có vai trò tích cực đối tăng trưởng kinh tế của các tỉnh/thành phố tức là tỉnh/thành phố nào có mức vốn con người cao hơn s có GDP cao hơn Kết luận này được dựa trên mô hình hồi quy với các thước đo vốn con người là số năm đi học bình quân của lực lượng lao động , chi phí cho giáo dục và thu nhập của người lao động Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra rằng thước chi phí và thu nhập đối với vốn con người là chưa phù hợp với Việt Nam [6], [8]
Trong một nghiên cứu khác về Tăng trưởng kinh tế thời kỳ đổi mới ở Việt
Nam , Trần Thọ Đạt (2010) đã kết luận mối tương quan giữa GDP/lao động và
vốn con người không được thể hiện rõ Tuy nhiên khi nghiên cứu về Giáo dục và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam , tác giả đã chứng minh được trình độ giáo dục của lực lượng lao động có tác động tích cực đến tăng trưởng và thu nhập bình quân đầu người [7] Sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas, bằng phân tích định lượng thông qua mô hình hồi quy, tác giả đã kết luận Số năm đi học bình quân đầu người của lực lượng lao động có tác động chiều hướng tích cực tới mức GDP và GDP/lao động Hệ số ước lượng thay đổi trong khoảng 0,10 đến 0,14 đối vơi GDP ho c 0,10 đến 0,16 đối với GDP/lao động
Bùi Quang Bình (2009) trong bài nghiên cứu về Vốn con người và đầu tư
vào vốn con người khẳng định vai trò của vốn con người đối với phát triển kinh tế
dựa trên nghiên cứu của Mincer Vốn con người đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế: (1) đó là các kỹ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, vốn con người là yếu tố của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình và các lao động thô (không có kỹ năng) để tạo ra sản phẩm; (2) đó là kiến thức để tạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế .[3]
Trang 31Nguyễn Bá Ngọc (2008) trong nghiên cứu về Đầu tư vào vốn con
người-vấn đề thu nhập và việc làm dựa trên sự tổng hợp các nghiên cứu về mối quan hệ
giữa đầu tư vào giáo dục (hay đầu tư cho vốn con người) với thu nhập tại nhiều quốc gia và liên hệ với thực tế của Việt Nam đã đưa ra nhận định nâng cao chất lượng vốn con người một cách toàn diện: thể lực, trình độ dân trí, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, tính năng động làm việc là yêu cầu tự thân vừa bức thiết vừa lâu dài của nền kinh tế nước ta trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế [15]
Một số nghiên cứu trong nước cũng thực hiện dựa trên cách tiếp cận vi mô
về vốn con người của Mincer người của Mincer, tức là bàn về mối quan hệ giữa vốn con người (được đại diên bởi trình độ giáo dục) với thu nhập cá nhân Nghiên
cứu của Moock và các cộng sự (1998) về “Education and Earnings in a transition
economics: The case of Vietnam” dùng dữ liệu của Điều tra mức sống dân cư
1992-1993 đã chỉ ra tác động tích cực của việc nâng trình độ giáo dục đến sự gia tăng thu nhập Các kết luận của nghiên cứu chỉ ra sự khác nhau về mức độ tác động của giáo dục đến thu nhập theo khu vực (tư nhân và nhà nước) và theo giới tính Cụ thể, khu vực nhà nước có tác động của giáo dục đến thu nhập của người lao động mạnh hơn khu vực tư nhân và tác động này là mạnh hơn đối với nữ giới [43]
Nghiên cứu Trends of education sector from 1993-1998: Evidence from
Vietnam living standard survey 1993 and 1998” của Nguyễn Nguyệt Nga (2002)
đã cho thấy trình độ giáo dục nâng lên cấp cơ sở trung học s làm gia tăng thu nhập của cá nhân Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra dạy nghề không có tác động đến sự gia tăng thu nhập của các cá nhân [70]
Bùi Quang Bình (2008) trong nghiên cứu về Vốn con người và thu nhập
của hộ sản xuất cà phê ở Tây Nguyên đã xem xét vai trò của vốn con người đối
với thu nhập của hộ sản xuất cà phê Mối quan hệ này được phân tích dựa trên cách tiếp cận của Mincer (1958) với số liệu điều tra từ các hộ gia đình trồng cà phê trong
Trang 32đó vốn con người được đại diện bởi số năm đi học (trình độ học vấn) của chủ hộ Mối quan hệ giữa trình độ học vấn của chủ hộ và thu nhập của hộ trồng cà phê được chỉ ra dựa trên phân tích hệ số tương quan Hệ số tương quan dương cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ có tác động tích cực đến thu nhập của hộ trồng cà phê [2]
Nghiên cứu gần đây nhất về vốn con người là luận án tiến sỹ của Thái Thành
Phúc (2014) nghiên cứu về Vai trò của vốn con người trong giảm nghèo bền vững
ở Việt Nam Dựa trên dữ liệu thu thập qua khảo sát điều tra bằng phương pháp
phân tích định lượng, tác giả đã đưa ra kết luận mức vốn con người (bao hàm trình
độ, kỹ năng) càng cao thì tỷ lệ thoát nghèo bền vững càng cao [18]
Như vậy, các nghiên cứu trong và ngoài nước đều khẳng định vai trò tích cực của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh
tế (phát triển kinh tế) Vốn con người trong các nghiên cứu thường được đánh giá thông qua cách tiếp cận về giáo dục Các chỉ tiêu đánh giá vốn con người theo cách tiếp cận này bao gồm: số năm đi học trung bình, tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ nhập học các cấp, kỹ năng Vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong các nghiên cứu được xem xét dưới hai giác độ vĩ mô (toàn bộ nền kinh tế) và vi mô (cá nhân)
Dưới giác độ vĩ mô, vốn con người được coi là một nguồn lực ngày càng quan trọng đóng góp vào quá trình tăng trưởng của các quốc gia trong đó có sự đóng góp cả về m t số lượng (tốc độ tăng trưởng) và chất lượng tăng trưởng (sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người) Dưới giác độ vi mô, vốn con người được đại diện bởi các biến số về giáo dục được khẳng định là có tác động tích cực đối với sự gia tăng thu nhập của cá nhân Như vậy, thông qua các nghiên cứu trong và ngoài nước có thể thấy được vốn con người là một yếu tố quan trọng giúp các quốc gia có thể duy trì tăng trưởng và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nếu
so sánh với các nghiên cứu ngoài nước thì số lượng và chất lượng các nghiên cứu
Trang 33trong nước về vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam còn hạn chế, đ c biệt là các phân tích định lượng
1.1.3 Những vấn đề thuộc đề tài luận án chưa được các nghiên cứu đã công bố giải quyết
Thứ nhất, các nghiên cứu chưa có sự đánh giá một cách hệ thống về vốn con
người trước khi đi vào phân tích vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh
tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế
Thứ hai, các chỉ tiêu đo lường vốn con người chưa được sử dụng nhất quán
và toàn diện Vốn con người chủ yếu vẫn được đánh giá dựa trên trình độ giáo dục với các chỉ tiêu tính ở mức trung bình của quốc gia như số năm đi học trung bình,
tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ nhập học bậc phổ thông Những chỉ tiêu này vẫn chưa phản ánh hết chất lượng của vốn con người vì không xét đến các yếu tố về lao động chất lượng cao, về môi trường sử dụng con người…
Thứ ba, các nghiên cứu định lượng cho trường hợp Việt Nam chủ yếu tập
trung vào nghiên cứu ở phạm vi hẹp như cấp tỉnh/thành phố mà chưa nghiên cứu ở cấp độ quốc gia
Thứ tư, rất ít các nghiên cứu có sự kết hợp giữa nghiên cứu vai trò của vốn
con người đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế theo cách tiếp cận
vĩ mô và vi mô Các nghiên cứu theo cách tiếp cận vi mô sử dụng số liệu điều tra mức số dân cư cho trường hợp Việt Nam từ năm 2004 đến nay không được thực hiện
Thứ năm, các chính sách đối với vốn con người nhằm thúc đẩy tăng trưởng
và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam chưa được đề xuất một cách
Trang 341.2 Phương hướng giải quyết các vấn đề nghiên cứu của luận án
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu đề tài luận án
Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu đề tài luận án là làm
rõ cơ sở khoa học của việc đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của vốn con người đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam
(ii) Phân tích một cách cụ thể thực trạng vốn con người, chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam và thực trạng vai trò của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam theo cách tiếp cận vĩ mô và vi mô
(iii) Đưa ra được những đánh giá tổng quát về những m t tích cực và hạn chế của vai trò vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đồng thời đưa ra được những nguyên nhân của các hạn chế
(iv) Đưa ra được phương hướng và quan điểm về phát triển vốn con người đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2025 (v) Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển vốn con người đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2025
1.2.2 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài luận án
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu nêu trên, đề tài luận án s tập trung vào trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: :
- Các tiêu chí (thước đo) đánh giá thực trạng vốn con người và chất lượng tăng trưởng kinh tế cho trường hợp Việt Nam theo cách tiếp cận vĩ mô và vi mô là gì?
Trang 35- Vốn con người có vai trò như thế nào đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam theo cách tiếp cận vĩ mô?
- Vốn con người có vai trò như thế nào đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam theo cách tiếp cận vi mô?
- Cần có các giải pháp gì để phát huy vai trò của vốn con người đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam?
1.2.3 Đối tượng và giới hạn hạ i nghi n cứu của đề t i uận án
1 3 1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vai trò của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam
1.2.3.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung trọng tâm nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề sau:
(i) Xây dựng khung khổ lý thuyết về vai trò của vốn con người đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Cụ thể, cơ sở lý thuyết của luận án s tập trung vào 3 nội dung sau:
Thứ nhất, xây dựng cơ sở lý thuyết về vốn con người Theo cách tiếp cận vĩ
mô, vốn con người được xem xét dựa trên cách tiếp cận về giáo dục thông qua một
số chỉ tiêu như số năm đi học trung bình, tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ nhập học các cấp Theo cách tiếp cận vi mô, vốn con người được xem xét dựa trên cách tiếp cận về chi phí trong đó nhấn mạnh đến chi tiêu cho giáo dục được coi là khoản đầu
tư quan trọng nhất hình thành nên vốn con người Như vậy, một cách khái quát vốn con người được xem xét chủ yếu về khía cạnh giáo dục (thể hiện kiến thức và kỹ năng tích lũy được qua giáo dục đào tạo) mà không xem xét đến các khía cạnh khác của vốn con người như vấn đề sức khỏe và thể lực
Thứ hai, xây dựng cơ sở lý thuyết về chất lượng tăng trưởng kinh tế trong đó
tập trung vào việc hình thành hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế của một quốc gia Đây là một nội dung nghiên cứu có phạm vi rất rộng vì đến nay rất nhiều các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra những
Trang 36tiêu chí đánh giá khác nhau về chất lượng tăng trưởng kinh tế bao gồm các tiêu chí đánh giá về m t kinh tế, xã hội, môi trường…Tuy nhiên, chủ đề nghiên cứu của luận án là xem xét vai trò của vốn con người đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế theo cách tiếp cận vĩ mô và vi mô Theo cách tiếp cận vĩ mô, vốn con người là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất để tạo ra sản lượng cho nền kinh tế do đó chất lượng tăng trưởng kinh được nhìn nhận theo nghĩa hẹp dựa trên quan điểm về hiệu quả sử dụng các đầu vào Theo đó, chất lượng tăng trưởng kinh
tế được xem xét dựa trên 3 tiêu chí: năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư (hệ số ICOR) và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong đó tiêu chí năng suất lao động được sử dụng trong các phân tích thống kê mô tả và phân tích định lượng như là một đại diện cho chất lượng tăng trưởng kinh tế.Theo cách tiếp cận vi
mô, vai trò của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế được tiếp cận từ hộ gia đình nên chất lượng tăng trưởng kinh tế được đánh giá thông qua thu nhập của cá nhân và hộ gia đình
Thứ ba, xây dựng mô hình đánh giá vai trò của vốn con người đối với nâng
cao chất lượng tăng trưởng kinh tế theo cách tiếp cận vĩ mô và vi mô Theo cách tiếp cận vĩ mô, luận án s sử dụng hàm sản xuất trong nghiên cứu của Mankiw và
cộng sự (1992) trong nghiên cứu "A Contribution to the Empirics of Economic
Y Theo cách tiếp cận vi mô, luận án s sử dụng
hàm thu nhập do Mincer xây dựng trong nghiên cứu vào năm 1958 Schooling,
Experience, and Earnings” ở đọ hàm thu nhập có dạng: lny = lny0 + rS+ β1X –
Trang 37- Không gian: nghiên cứu cho toàn bộ nền kinh tế Việt Nam
- Thời gian: Phân tích thực trạng được tập trung trong giai đoạn 2000-2014; đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp cho giai đoạn 2015-2025
1.2.4 Cách tiếp cận, mô hình nghiên cứu đề tài luận án
(i) Trên cơ sở lý thuyết về vốn con người theo cách tiếp cận về giáo dục,
thực trạng vốn con người Việt Nam s được phân tích theo các tiêu chí như số năm đi học trung bình, tỷ lệ nhập học, tỷ lệ biết chữ
(ii) Chất lượng tăng trưởng kinh tế theo cách tiếp cận vĩ mô được xem xét
dưới góc độ hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào bao gồm năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và năng suất các nhân tố tổng hợp (iii) Vai trò của vốn con người đối với chất lượng tăng trưởng kinh tế được
phân tích dựa trên hàm sản xuất theo lý thuyết tân cổ điển
Theo cách tiếp cận vi mô, các vấn đề nghiên cứu s được tiếp cận từ phía hộ gia đình và cá nhân, quá trình nghiên cứu đề tài luận án được triển khai theo các cách tiếp cận như sau:
(i) Trên cơ sở lý thuyết về vốn con người theo cách tiếp cận về chi phí, thực
trạng vốn con người Việt Nam s được phân tích theo các tiêu về chi tiêu cho giáo dục
(ii) Chất lượng tăng trưởng kinh tế theo cách tiếp cận vi mô được xem xét
dưới góc độ sự thay đổi trong thu nhập của cá nhân và hộ gia đình; sự bình đẳng trong thu nhập của cá nhân và hộ gia đình
(iii) Vai trò của vốn con người đối với chất lượng tăng trưởng kinh tế được
phân tích dựa trên hàm thu nhập của Mincer
Trang 381.2.4.2 Mô hình nghiên cứu đề tài luận án
Nguồn: Tác giả tự xây dựng
Xác định khách thể và
đối tượng nghiên cứu
Xác định khái niệm, tiêu
chí đo lường vốn con
người theo cách tiếp cận
Mô hình lý thuyết về vai
trò của vốn con người
đối với nâng cao chất
lượng tăng trưởng kinh
tế theo cách tiếp cận vĩ
mô và vi mô
Thực trạng vốn con người Việt Nam theo cách tiếp cận vĩ mô và vi mô
Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo cách tiếp cận vĩ mô và
vi mô
Thực trạng vai trò của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh
tế Việt Nam theo cách tiếp cận vĩ mô và vi mô
Quan điểm, phương hướng, mục tiêu và giải pháp phát triên vốn con người nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh
tế Việt Nam đến năm 2025
Bối cảnh, yêu cầu đăt ra về phát triển vốn con người đối với
nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm
2025 Chỉ ra cơ hội, thách thức, thuận lợi và khó khăn đối với
phát triển vốn con người đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng
tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2025
M t tích cực và hạn chế của vốn con người đối với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam Nguyên nhân của những hạn chế
Trang 39CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ VỐN CON NGƯỜI ĐỐI VỚI
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Từ thế kỷ XVIII, nhà kinh tế học người Anh Adam Smith đã đ t nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu khái niệm vốn con người dựa trên sự nhìn nhận giáo dục là một sự đầu tư Ông định nghĩa vốn con người là những năng lực hữu ích mà
cư dân ho c các thành viên của một xã hội có được Những năng lực này có được chủ yếu là nhờ việc cá nhân đầu tư vào học tập và tiếp thu được những kiến thức từ quá trình giáo dục đào tạo Những năng lực đó không chỉ mang lại những cơ hội tốt
Trang 40hơn cho chính cá nhân đó mà còn góp phần nâng cao chất lượng sống của cộng đồng mà cá nhân đó là một thành viên
Đến thập niên 60 của thế kỷ XX, khái niệm vốn con người đã được đề cập một cách đầy đủ và có hệ thống trong các công trình nghiên cứu của Schultz và Becker Schultz (1961) xác định kỹ năng và tri thức mà con người có thể thu nhận được là yếu tố hình thành nên vốn con người, trên cơ sở đó ông đã khởi đầu cho sự chú ý vào khái niệm vốn con người [48] Schultz phân tích chi phí giáo dục như là một hình thức đầu tư Becker phát triển lý thuyết hình thành vốn con người và phân tích tỷ lệ hoàn trả đối với đầu tư vào giáo dục Sau đó, nhiều khái niệm khác nhau
về vốn con người đã được đưa ra Từ điển kinh tế học Penguin định nghĩa vốn con người là các kỹ năng, năng lực và khả năng của một cá nhân giúp người đó kiếm được thu nhập cho mình Trên cơ sở định nghĩa này, Laroche và các đồng sự (1999) đã mở rộng khái niệm trong đó có xét đến các khả năng bẩm sinh của cá nhân Theo một nghiên cứu của Liên Hợp Quốc vào năm 1997 xác định vốn con người bao gồm kiến thức và kỹ năng mà người lao động tích lũy được Một nghiên cứu của OECD (2001) đã đưa ra khái niệm rộng hơn, trong đó vốn con người là kiến thức, kỹ năng, năng lực và các đ c tính thuộc về cá nhân có thể tạo điều kiện cho việc tạo ra các phúc lợi thuộc về cá nhân, xã hội và kinh tế Theo định nghĩa này thì vốn con người nằm trong một quá trình biến đổi không ngừng từ lúc cá nhân sinh ra đến khi mất đi Mankiw (2002) định nghĩa vốn con người là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà người lao động có thể thu được thông qua giáo dục đào tạo và tích lũy kinh nghiệm Phần lớn các nhà nghiên cứu khác cũng cho rằng vốn con người liên quan đến năng lực của từng cá nhân bao gồm kiến thức và kỹ năng [16], [38]
Xét ở mức độ rộng, khái niệm vốn con người là sự kết hợp của hai khía cạnh con người và vốn Vốn (capital) được định nghĩa là giá trị của tư bản hay hàng hóa đầu tư được sử dụng vào kinh doanh mang lại lợi ích [3] Con người (human)
là chủ thể liên quan đến các hoạt động như sản xuất, tiêu dùng và trao đổi Dưới giác độ kinh tế, vốn liên quan đến các nhân tố của sản xuất được sử dụng để tạo