Có nhiều công cụ để kích cầu du lịch. Trong đó, chính sách thị thực nhập cảnh là một trong những nhân tố cốt lõi để điều tiết tăng hay giảm lượng khách quốc tế đến một quốc gia. Bài viết đưa ra các đánh giá về chính sách visa của Việt Nam đối với khách du lịch, đồng thời cung cấp một số kiến nghị, đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện chính sách visa dành cho khách du lịch của nước ta.
Trang 1ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH THỊ THỰC DU LỊCH CỦA VIỆT NAM
TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Trần Nhị Bạch Vân
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, đang ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước Du lịch xác lập và nâng cao hình ảnh, vai trò, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng và Nhà nước
Trải qua quá trình phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
du lịch Việt Nam đang đi đúng định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế, bảo đảm được an ninh, trật tự an toàn xã hội, đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và từng bước tạo dựng cơ sở ban đầu để phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế quốc dân
Tháng 7/1995, Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Đến tháng 7/2000, Việt Nam tiếp tục gia nhập WTO…Những sự kiện này đánh dấu những bước tiến đáng kể của Việt Nam trong xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế Đồng thời mang lại những lợi ích to lớn đối với ngành du lịch quốc gia Theo Tổng Cục du lịch Việt Nam, lượng du khách nước ngoài đến Việt Nam tăng mạnh từ khoảng 250.000 lượt người (năm 1990) lên đến 2.140.100 lượt người (năm 2000) Trong năm 2014, lượng khách du lịch đã tăng lên đến 7.874.312 lượt người
Những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch đã góp phần mang lại một số thành tựu quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đưa Việt Nam trở thành một điểm đến du lịch ngày càng được nhiều du khách quốc tế biết đến
1 Vai trò của chính sách thị thực
Có nhiều công cụ để kích cầu du lịch Trong đó, chính sách thị thực nhập cảnh là một trong những nhân tố cốt lõi để điều tiết tăng hay giảm lượng khách quốc tế đến một quốc gia Theo ý nghĩa đó, thị thực nhập cảnh (hay còn gọi là visa) được xem là một loại chứng nhận quan trọng của chính phủ một nước cấp cho người nước ngoài muốn đến nước đó trong một khoảng thời gian xác định Thông thường visa được cấp bằng cách đóng dấu (mộc) hoặc dán một tờ giấy vào sổ hộ chiếu, tùy theo từng nước, nhưng có giá trị như nhau
Tương tự nhiều quốc gia trên thế giới, thị thực nhập cảnh của Việt Nam được coi
là một công cụ chính sách nhằm đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội Đây là một công cụ mạnh mẽ cho phép hoặc từ chối nhập cảnh đối với người nước ngoài Tuy nhiên, yêu cầu thị thực được xem là một rào cản không nhỏ đối với các biện pháp kích cầu du lịch của một quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa
Nhận thức được vấn đề đó, Việt Nam đã tham gia ký kết các hiệp định miễn thị
Trang 2thực song phương và đơn phương miễn thị thực cho một số thị trường du lịch lớn của Việt Nam, cũng như đơn giản hóa thủ tục xin visa thông qua hệ thống cấp thị thực nhập cảnh tại cửa khẩu quốc tế (Visa on arrival) Như vậy, chính sách thị thực thông thoáng là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển du lịch của Việt Nam trong những năm gần đây
Trong một nghiên cứu về Chương trình miễn visa của Hoa Kỳ (Visa Waiver Program) cho phép công dân của một số quốc gia nhất định được tới Hoa Kỳ để du lịch hoặc công tác (các mục đích của visa du lịch) trong thời gian ít hơn 90 ngày mà không cần xin visa Để áp dụng chương trình này, Hoa Kỳ đã đưa ra một số tiêu chí nghiêm ngặt đối với những quốc gia thành viên như phát hành hộ chiếu sinh trắc học (hộ chiếu
có chứa một microchip mang những dữ liệu cá nhân, một bức ảnh số và dấu vân tay), chia sẻ thông tin về tội phạm quốc tế thông qua Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL) giữa các nước thành viên Mặc dù Hoa Kỳ ban hành các biện pháp kiểm soát chặt chẽ đối với chương trình miễn thị thực, song một số công dân nước ngoài vẫn
có thể lạm dụng chương trình này để nhập cảnh vào Hoa Kỳ và làm việc bất hợp pháp hay nhập cảnh vào Canada để xin tị nạn Nghiên cứu này cho thấy rằng ngay cả hệ thống miễn visa hiện đại và nghiêm ngặt như của Hoa Kỳ, cũng có những lỗ hổng nhất định, gây ảnh hưởng về mặt an ninh, chính trị quốc gia
Như vậy, việc hạn chế thị thực giúp chính phủ quản lý hiệu quả dòng chảy xuyên biên giới của người dân và ngăn chặn nhập cư bất hợp pháp của một số đối tượng không mong muốn như tội phạm, khủng bố Tuy nhiên, việc áp dụng thị thực gây trở ngại nghiêm trọng đối với những nước phụ thuộc nhiều vào thương mại và du lịch Do đó, theo xu hướng chung, các nước trên thế giới đang triển khai thực hiện các biện pháp đơn giản hóa thủ tục visa để chào đón các nhà đầu tư và đẩy mạnh hoạt động du lịch quốc gia
Hiện nay, Việt Nam đang triển khai ba chính sách thị thực cơ bản nhằm kích cầu
du lịch và tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm:
1 Miễn thị thực song phơng;
2 Miễn thị thực đơn phương;
3 Đơn giản thủ tục xin thị thực nhập cảnh thông qua hệ thống cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế
2 Chính sách thị thực dành của Việt Nam đối với khách du lịch quốc tế 2.1 Những thông tin cơ bản
Giống như hầu hết các nước trên thế giới, thị thực Việt Nam có hai loại: (1) Thị thực dán: là loại được dán trực tiếp vào trang hộ chiếu; (2) Thị thực rời: là loại được cấp
tờ rời kèm theo hộ chiếu hoặc giấy tờ đi lại có giá trị thay hộ chiếu
Về giá trị thị thực cũng có hai loại: (1) Thị thực có giá trị nhập, xuất cảnh một lần (gọi tắt là thị thực một lần); (2) Thị thực có giá trị nhập, xuất cảnh nhiều lần (gọi tắt
là thị thực nhiều lần)
Trang 3Theo quy định của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước
ngoài tại Việt Nam năm 2014 (sau đây gọi là Luật Xuất nhập cảnh năm 2014), thị thực
du lịch có ký hiệu DL, cấp cho người vào du lịch; có giá trị 30 ngày và có thời hạn không quá 03 tháng Quá trình xin thị thực được thực hiện ở cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài (Đại sứ quán, lãnh sự quán của Việt Nam ở nước sở tại) hoặc tại cửa khẩu quốc tế của Việt Nam
2.2 Các trường hợp miễn thị thực du lịch của Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam cho phép công dân của 23 quốc gia được được miễn thị thực nhập cảnh du lịch vào Việt Nam trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm: Lào, Campuchia, Singapore, Myanmar, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Brunei, Thụy Điển, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan, Pháp, Ý, Đức, Vương quốc Anh, Tây Ban Nha, Nga, Belarus và Kyrgyzstan1
Đối với khách du lịch là công dân của các nước trong khối ASEAN, hệ thống miễn thị thực được áp dụng trong vòng 30 ngày, (ngoại lệ đối với công dân Brunei là 14 ngày và công dân Philippines là 21 ngày); công dân của 13 quốc gia còn lại được miễn thị thực đơn phương trong thời gian 15 ngày, bao gồm Thụy Điển, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan, Pháp, Ý, Đức, Vương quốc Anh, Tây Ban Nha, Belarus và Nga
Bên cạnh đó, nhằm khai thác tiềm năng du lịch ở đảo Phú Quốc (Kiên Giang), Chính phủ đã thực hiện chính sách miễn thị thực cho người nước ngoài và người Việt Nam mang hộ chiếu nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại đảo Phú Quốc với thời gian tạm trú không quá 30 ngày, theo Quyết định số 80/2013/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 Theo đó, người nước ngoài vào 01 cửa khẩu quốc tế của Việt Nam (kể cả đường hàng không và đường biển), lưu lại khu vực quá cảnh ở cửa khẩu đó, rồi chuyển tiếp đi đảo Phú Quốc cũng được miễn thị thực theo quy định này Trường hợp du khách muốn đi thăm các địa phương khác hoặc lưu lại tại đảo trên 30 ngày, Cục quản lý xuất nhập cảnh
sẽ cấp thị thực Việt Nam cho du khách ngay tại Phú Quốc
Chính sách miễn thị thực của Việt Nam hiện nay đã góp phần tích cực, thúc đẩy
sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam
2.3 Trường hợp được cấp thị thực nhập cảnh tại cửa khẩu (Visa on arival -VOA)
Hệ thống này cho phép khách du lịch nộp hồ sơ xin cấp thị thực nhập cảnh trực tuyến thông qua các cơ quan du lịch quốc tế Việt Nam mà không cần đến các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài Theo đó, du khách quốc tế sẽ được cấp Công văn
nhập cảnh (Approval letter upon arrival) do Cục quản lý xuất nhập cảnh phê duyệt, cho
phép họ nhập cảnh và nhận visa tại cửa khẩu quốc tế của Việt Nam Thời gian xử lý theo quy trình của hệ thống này mất từ 02 đến 03 ngày làm việc Tuy nhiên, du khách vẫn có thể nhận được Công văn nhập cảnh sớm hơn, trong thời gian 01 ngày với mức phí cao hơn
Trang 4Hiện nay, việc cấp thị thực nhập cảnh cho khách du lịch tại các cửa khẩu quốc tế của Việt Nam vẫn còn hạn chế Theo Luật Xuất nhập cảnh năm 2014, du khách có đủ điều kiện để xin thị thực tại cửa khẩu quốc tế khi vào Việt Nam tham quan, du lịch theo chương trình do doanh nghiệp lữ hành quốc tế tại Việt Nam tổ chức hoặc khởi hành từ các nước không có cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực của Việt Nam
2.4 Gia hạn thị thực du lịch
Gia hạn thị thực du lịch cho phép du khách kéo dài thời gian lưu trú của họ một cách hợp pháp tại Việt Nam sau khi đã hết hạn thị thực được cấp Việc gia hạn có thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng và có thể gia hạn nhiều lần
Để hoàn tất quá trình gia hạn visa cần từ 04-07 ngày làm việc Đặc biệt, du khách cần hoàn tất hồ sơ thủ tục xin visa ít nhất hai tuần trước khi hết hạn visa Trong trường hợp khẩn cấp, du khách có thể thanh toán khoản phí bổ sung để có được gia hạn visa nhanh hơn khoảng 02-03 ngày Để gia hạn thị thực, hộ chiếu cần phải có giá trị ít nhất là 6 tháng
2.5 Thị thực quá cảnh
Hiện nay, Việt Nam không yêu cầu thị thực quá cảnh đối với khách du lịch nước ngoài quá cảnh tại sân bay quốc tế của Việt Nam để di chuyển sang nước thứ ba Tuy nhiên, nếu du khách muốn ra khỏi khu vực quá cảnh tại sân bay quốc tế trong thời gian chờ chuyến bay, họ vẫn phải xin thị thực một lần
3 Đánh giá chính sách thị thực du lịch của Việt Nam
Chính sách thị thực thông thoáng là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển du lịch Theo báo cáo của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) và Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), khách du lịch coi thị thực chủ yếu như một thủ tục áp đặt chi phí, bao gồm chi phí trực tiếp là mức phí phải trả để xin thị thực và các chi phí gián tiếp như khoảng cách, thời gian chờ đợi và mức độ phức tạp của quy trình cấp thị thực Nếu những chi phí này vượt quá ngưỡng thì khách
du lịch tiềm năng không muốn thực hiện chuyến đi nữa hoặc sẽ chọn một điểm đến khác thay thế Báo cáo này khuyến nghị các nước mở rộng các điều kiện thuận lợi về thị thực
và chuyển sang hệ thống cấp thị thực tại cửa khẩu
Chính sách miễn thị thực song phương, đơn phương và đơn giản hóa thủ tục xin visa hiện nay của Việt Nam đã góp phần tích cực vào sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam Cụ thể như thị trường khách Nhật Bản và Hàn Quốc đã tăng lên 650.000 lượt vào năm 2014; thị trường khách Nga sau 5 năm miễn thị thực đã tăng từ 49.000 lượt khách lên 365.000 lượt khách vào năm 2014 Mở rộng chính sách miễn thị thực không chỉ đảm bảo thực hiện thành công chiến lược phát triển du lịch mà còn góp phần nâng cao mức tăng trưởng kinh tế - xã hội Theo số liệu thống kê, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam có mức chi tiêu bình quân từ 1.200 USD đến 2.500 USD tùy từng thị trường khách và loại hình du lịch Sự gia tăng số lượng khách quốc tế sẽ mang lại những lợi ích kinh tế trực tiếp lớn hơn rất nhiều so với lợi ích từ việc thu lệ phí visa Ngoài ra, tiêu
Trang 5dùng của khách du lịch quốc tế sẽ nâng cao thu nhập cho khu vực tư nhân và các khoản thuế đóng góp cho khu vực nhà nước, cũng như góp phần đẩy mạnh nhu cầu về các sản phẩm phụ trợ như vận tải, ăn uống, hàng thủ công mỹ nghệ…, tạo việc làm và các lợi ích xã hội cho cộng đồng
Tuy nhiên, chính sách thị thực của Việt Nam đang gặp những vướng mắc trong công tác triển khai thực hiện, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Việt Nam đang là nước có chính sách thị thực khó khăn hàng đầu trong khu vực khi chỉ áp dụng chính sách miễn visa cho công dân của 23 nước và vẫn giữ mức phí cấp visa cao thứ nhì châu Á (khoảng 70 USD), trong khi các nước khác trong khu vực như Thái Lan đã nới lỏng chính sách visa cho 61 quốc gia, Malaysia đã áp dụng miễn thị thực cho 155 quốc gia và Singapore cho phép 150 quốc gia áp dụng hệ thống này Theo số liệu thống kê của Tổng Cục Du lịch Việt Nam, lượng du khách quốc
tế đến Việt Nam vẫn còn thấp hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực Thực tế cho thấy rằng, du khách đến từ các thị trường ở xa thường có xu hướng kết hợp nhiều điểm đến trong chuyến đi như: Thái Lan – Philippines – Việt Nam, Hay Việt Nam – Lào – Campuchia Tuy nhiên, thủ tục visa bất tiện nhất khu vực cộng với chi phí cao làm cho nhiều người từ bỏ ý muốn đến thăm Việt Nam
Thứ hai, theo phản ảnh của các du khách quốc tế trên các diễn đàn mạng về du lịch Việt Nam, rất nhiều bất cập đã được chỉ ra như tình trạng quan liêu của một số nhân viên hải quan khi cấp thị thực tại sân bay cho du khách, thủ tục cấp thị thực tại cửa khẩu kéo dài hàng giờ đồng hồ trong khi khu vực chờ cấp visa tại nhiều sân bay quốc tế lại thiếu trang thiết bị cần thiết như ghế, băng chờ…để tạo sự thoải mái cho du khách trong thời gian chờ đợi Có thể nói, đây là những rào cản ban đầu, ảnh hưởng đến tâm lý khách du lịch trong việc cảm nhận và hưởng thụ những nét đẹp của ngành du lịch Việt Nam
Thứ ba, theo quy định mới của Luật xuất nhập cảnh năm 2014, người nước ngoài nhập cảnh theo diện đơn phương miễn thị thực thì sau khi rời Việt Nam sẽ không thể quay trở lại trong vòng 30 ngày nếu không được cấp visa hợp lệ Quy định này gây ra nhiều khó khăn đối với du khách quốc tế trong trường hợp mua vé máy bay khứ hồi đến Việt Nam du lịch, sau đó tiếp tục đi một số nước khác trong khu vực như Lào, Campuchia rồi quay lại Việt Nam để du lịch tiếp hoặc trở về nước Thông thường một chuyến thăm quan qua mỗi nước chỉ kéo dài vài ngày, rất ít du khách lưu trú ở Thái Lan, Lào, Campuchia…trên 30 ngày để khi quay về Việt Nam lại được hưởng chính sách miễn thị thực 15 ngày như quy định Bất cập này dẫn đến việc nhiều khách phải nộp thêm 45 USD để xin thị thực nhập cảnh vào lại Việt Nam Đồng thời, đây cũng là một trong những rào cản của du lịch Việt Nam, trong bối cảnh ngành du lịch các nước đang tăng cường quảng bá những tuyến du lịch kết nối các điểm đến trong khu vực
Mặt khác, thời gian miễn visa cho các thị trường Thụy Điển, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan, Pháp, Ý, Đức, Vương quốc Anh, Tây Ban Nha, Belarus và Nga trong vòng 15 ngày là quá ít và chưa phù hợp Tính đến đầu năm 2015,
Trang 6theo số liệu thống kê của Tổng Cục Du lịch Việt Nam, lượng khách đến từ các quốc gia được hưởng chính sách miễn thị thực 15 ngày có xu hướng không tăng Vì đa số du khách từ những nước này phải di chuyển khá xa để đến tham quan Việt Nam, nhưng thời gian lưu trú được miễn thị thực quá ngắn nên hầu hết những du khách này vẫn phải xin visa như trước đây để lưu trú trên 15 ngày Như vậy, tính cạnh tranh của các tour dài ngày tham quan Việt Nam của du khách quốc tế vẫn không có sự tăng trưởng rõ nét
Thứ tư, Luật Xuất nhập cảnh năm 2014 có những quy định mới về visa dành cho khách tàu biển, gây ra không ít khó khăn cho các hãng lữ hành chuyên đón khách tàu biển quốc tế tại Việt Nam Theo đó, khách tàu biển nhập cảnh phải làm thủ tục xin visa theo từng cá nhân riêng lẻ (thay vì trước đây chỉ cần một giấy phép tham quan cho cả tàu); lệ phí cấp visa cũng tăng gấp 9 lần từ khoảng 5 USD (hơn 100 ngàn đồng)/khách lên 45 USD (gần 1 triệu đồng)/khách So với quy trình cũ, thủ tục nhập cảnh đối với khách du lịch tàu biển trở nên phức tạp hơn, thời gian bị kéo dài hơn và chi phí cũng tăng lên nhiều lần Tuy khách tàu biển quốc tế đa phần thuộc hạng sang với mức chi tiêu rất cao nên mức tăng lệ phí visa không ảnh hưởng nhiều đến chi phí chuyến đi của họ, nhưng đa phần du khách đều chọn Việt Nam làm nước quá cảnh, tham quan trong thời gian ngắn (từ 1-2 ngày), trước khi di chuyển sang nước thứ 3 như Thái Lan, Phi-lip-pin nên những thay đổi này đã làm mất đi thiện cảm của các đối tác lẫn du khách quốc tế và thể hiện mức độ thiếu chuyên nghiệp của du lịch Việt Nam
Trước những phản ánh từ doanh nghiệp lữ hành quốc tế, Thủ tướng Chính phủ
đã đưa ra quyết định kịp thời điều chỉnh những vướng mắc trong Luật Xuất nhập cảnh mới Theo đó, khách quốc tế đến du lịch bằng đường biển chỉ phải dán thị thực rời và lệ phí sẽ là 5 USD thay vì 45 USD, tháo gỡ một vướng mắc lớn trong hoạt động thu hút khách du lịch đường biển
Thứ năm, chính sách miễn thị thực nhập cảnh như hiện nay cũng mang lại không
ít phức tạp trong vấn đề an ninh, trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam như tình trạng lợi dụng chính sách miễn thị thực để nhập cư và lao động trái phép, tiến hành các hoạt động trái pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội như lừa đảo, kinh doanh bất hợp pháp thường xảy ra ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh…
4 Kết luận và kiến nghị
Không thể phủ nhận rằng việc đảm bảo an ninh quốc gia và chủ quyền đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển ngành công nghiệp du lịch của mỗi quốc gia Trong bối cảnh thế giới hiện nay, việc đảm bảo chủ quyền và an ninh quốc gia là một trong những yếu tố quan trọng nhất mà tất cả các nước quan tâm Do đó, chính sách miễn và đơn giản hóa thị thực cần phải được xem xét trên cơ sở chủ quyền và an ninh của đất nước Tuy nhiên, việc triển khai chính sách miễn và đơn giản hóa thủ tục xin visa du lịch, phù hợp với thông lệ quốc tế là một xu thế tất yếu của quá trình toàn cầu hóa mà Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc
Trang 7Để Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn, chính phủ cần đẩy mạnh việc tiển khai một số nội dung dưới đây:
4.1 Thúc đẩy việc xây dựng hệ thống thị thực chung ASEAN
Hệ thống này khi được hình thành sẽ thúc đẩy du lịch nội khối, thúc đẩy hội nhập, tăng trưởng và sức cạnh tranh của ngành du lịch, đồng thời làm sâu sắc thêm sự hiểu biết xã hội và văn hóa trong khu vực ASEAN Tuy nhiên, cần có lộ trình cụ thể, rõ ràng cho từng giai đoạn áp dụng chính sách Ví dụ, trong giai đoạn đầu tiên thị thực chung sẽ chỉ được cấp cho các nhà ngoại giao, và trong giai đoạn tiếp theo sẽ cấp cho công dân của các nước trong khu vực ASEAN nhằm thúc đẩy du lịch nội khối, tăng cường hiểu biết lẫn nhau Sau đó sẽ mở rộng ra một số quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc – những thị trường du lịch quan trọng của các các nước thành viên ASEAN
4.2 Thiết lập hệ thống thị thực điện tử (E-visa)
Hiện nay, Việt Nam đã triển khai Hệ thống quản lý cấp thị thực trực tuyến và Trung tâm tích hợp dữ liệu (Thuộc Bộ Ngoại giao) cho phép người dùng kê khai trực tuyến để đăng ký visa vào Việt Nam ở mức độ dịch vụ công cấp độ 3; đồng thời rút ngắn thời gian xin cấp visa vào Việt Nam xuống còn 2-3 ngày làm việc thay vì sau 5 ngày như trước đây
Hệ thống này được cài đặt nhiều ngôn ngữ để người nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài truy cập, tìm hiểu thông tin; đồng thời, cung cấp quy chuẩn việc in ấn thị thực Việt Nam một cách thống nhất, giúp tăng cường công tác quản lý của Bộ Ngoại giao trong việc cấp thị thực, nắm bắt tình hình xuất nhập cảnh và tạo thuận lợi cho các cơ quan chức năng tại cửa khẩu kiểm tra, kiểm soát về xuất nhập cảnh vào Việt Nam
Ngoài ra, trung tâm Tích hợp dữ liệu là nền tảng hạ tầng công nghệ thông tin quan trọng của Bộ Ngoại giao, gồm các trang thiết bị hạ tầng, hệ thống mạng, máy chủ hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế Hệ thống này đảm bảo các yếu tố về an ninh, môi trường, hoạt động ổn định 24/7, phục vụ cho các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của
Bộ Ngoại giao
Tuy nhiên, trong thời gian tới, Việt Nam cần đẩy mạnh việc triển khai hệ thống thị thực điện tử (E-visa) Với hệ thống này, du khách có thể dễ dàng đăng kí và nhận visa trực tuyến thông qua địa chỉ email sau khi đã nộp phí trực tuyến bằng thẻ visa hoặc mastercard E-visa không những mang lại sự tiện lợi cho du khách mà còn hỗ trợ nước tiếp nhận giảm được khối lượng công việc hành chính, như các bước tiếp nhận, đọc từng
tờ đơn, nhập thông tin…
Thực tế, nhiều nước đã chính thức đưa hệ thống E-visa vào sử dụng và tùy tình hình riêng của mỗi nước mà họ linh động trong một số chính sách cụ thể Ví dụ, Thổ Nhĩ Kỳ và Georgia áp dụng eVisa cho khách có mục đích du lịch và thương mại, nhưng Myanmar, Cambodia hay Ấn Độ lại chỉ áp dụng với khách du lịch Riêng E-visa của Ấn
Độ chỉ cho phép sử dụng hai lần cho một năm
Trang 84.3 Cải thiện chính sách thị thực của Việt Nam
Hiện nay, việc miễn thị thực trong vòng 15 ngày đối với công dân đến từ các nước Thụy Điển, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan, Pháp, Ý, Đức, Vương quốc Anh, Tây Ban Nha, Belarus và Nga (những thị trường lớn và có mức chi tiêu cao) được kỳ vọng là cơ hội cho ngành du lịch Việt Nam trong việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra quốc tế và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Tuy nhiên, thời gian miễn thị thực trong vòng 15 ngày cho các quốc gia trên là khá ngắn và chưa hợp lý Để chính sách miễn visa đơn phương đạt hiệu quả cao hơn, cần có sự điều chỉnh phù hợp về thời gian lưu trú, căn cứ trên tình hình thực tế và nhu cầu của khách du lịch Việc nâng thời gian miễn visa từ 15 lên 30 ngày, sẽ góp phần bù đắp chi phí ngân sách tổn thất trong việc miễn thị thực; đồng thời tăng chi tiêu của du khách góp phần thúc đẩy các hoạt động và dịch vụ du lịch nội địa
Bên cạnh đó, Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh) và trong tương lai, sân bay Long Thành sẽ là trung tâm trung chuyển của khu vực Do đó, lượng khách quá cảnh ở đây trong thời gian tới cũng sẽ tăng lên Ngành du lịch Việt Nam cần học tập chiến lược miễn thị thực trong vòng 72 giờ từ Sân bay Changi (Singapore) và một số sân bay của Trung Quốc dành cho du khách quá cảnh Đây được xem là một chiến lược tốt để thu hút du khách đến với các tour tham quan nội đô thành phố trong vòng 72 giờ mà không cần thị thực nhập cảnh Theo đó, hành khách muốn được hưởng chính sách này cần phải xuất trình đầu đủ các giấy tờ liên quan như thị thực, vé máy bay… để đến nước thứ ba Chính sách này nếu được áp dụng tại Việt Nam sẽ góp phần kích cầu du lịch trong thời gian tới
4.4 Nâng cấp trang thiết bị tại các cửa khẩu quốc tế
Nhiều phản ánh cho rằng hệ thống cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế của Việt Nam không thực sự mang lại tiện ích cho du khách quốc tế Trong khi đó, các thủ tục xin visa ở Thái Lan và Lào đơn giản hơn rất nhiều Mặt khác, khu vực cấp thị thực tại các sân bay hầu như thiếu trang bị các trang thiết bị cần thiết như ghế ngồi, bảng thông báo điện tử để hạn chế tình trạng lộn xộn và chờ đợi hàng giờ trong mùa cao điểm du lịch Bên cạnh đó, cần ban hành Quy chế ứng xử đối với ngành du lịch để cải thiện thái
độ làm việc và chất lượng dịch vụ của các nhân viên hải quan, góp phần loại bỏ những tiêu cực trong việc cấp thị thực tại cửa khẩu quốc tế như hiện nay
4.5 Cung cấp thông tin chính xác và kịp thời trên trang web chính thức
Trong thời điểm hiện tại, có rất nhiều trang web kinh doanh có tên gọi như: evisa.com.vn; e-visa.vn; hoặc Vietnam-evisa.org cung cấp các thông tin về thủ tục visa
và các dịch vụ hỗ trợ du khách trong việc xin cấp thị thực tại sân bay quốc tế Tuy nhiên, những trang web này hầu như không công bố đầy đủ các quy định hiện này của chính phủ về chính sách visa, mà chủ yếu tóm lược và đề xuất tư vấn khách hàng qua đường dây nóng (hotline) Như vậy, với những thông tin không kịp thời và đầy đủ trên nhiều
Trang 9trang web của các đại lý du lịch, du khách tiềm năng rất dễ bị loạn thông tin và không còn hứng thú với điểm đến này nữa Chính vì thế, tổng cục Du lịch Việt Nam và các trang web chính thống khác của các bộ, ngành có liên quan, cần đăng tải thông tin kịp thời và đầy đủ, ít nhất bằng 2 ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng Anh nhằm tăng khả năng tiếp cận với các chính sách, quy định hiện hành của Việt Nam về thủ tục visa như thời gian, lệ phí Quan trọng hơn, trong thời đại bùng nổ thông tin, cần tăng tính tương tác giữa chính phủ và công dân (cụ thể là du khách) thông qua các kênh phi chính thức, như các diễn đàn về du lịch Việt Nam, để kịp thời giải đáp các thắc mắc của du khách về chính sách thị thực và các vấn đề khác liên quan Trong thực tế, có rất nhiều diễn đàn thảo luận về vấn đề xin thị thực Việt Nam Hầu hết những người tham gia đều chia sẻ kinh nghiệm của họ, nhưng những thông tin đó hầu như không còn đúng với những thay đổi mới trong chính sách thị thực của Việt Nam Như vậy, nếu các cơ quan chức năng nắm bắt được vấn đề này, họ sẽ kịp thời tư vấn cho du khách tiềm năng thông qua các kênh chính thức và phi chính thức để họ hiểu đúng và đủ về những quy định hiện hành
về chính sách thị thực của Việt Nam
Các cơ quan chức năng cần tiến hành các cuộc khảo sát xã hội học định kỳ để nắm được mức độ hài lòng của du khách quốc tế về thủ tục visa nhập cảnh của Việt Nam Từ đó, các chuyên gia có thể nhận ra những yếu tố mà ngành du lịch Việt Nam đã làm tốt và những yếu tố cần cải thiện để nâng cao chất lượng các dịch vụ công của chính phủ nhằm thu hút nhiều hơn nữa lượng khách quốc tế đến Việt Nam
Trong trường hợp du khách muốn gia hạn thị thực ở Việt Nam, chính phủ nên thiết lập một website riêng để cung cấp những thông tin rõ ràng và áp dụng hệ thống nộp
hồ sơ gia hạn thị thực trực tuyến (cung cấp dịch vụ công mức độ 4) Điển hình như trang web e-Xtend của chính phủ Singapore Đây là những nỗ lực để đơn giản hóa thủ tục visa, tạo ra khả năng tiếp cận dễ dàng và thuận tiện hơn cho khách du lịch quốc tế Do
đó, áp dụng công nghệ cao trong việc triển khai thực hiện chính sách visa sẽ góp phần quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam ra thế giới, làm tăng lợi thế cạnh tranh của Việt Nam so với các điểm đến khác trong khu vực
4.6 Hoàn thiện cơ chế xây dựng chính sách du lịch
Không thể phủ nhận một thực tế rằng, trong việc hoạch định chính sách du lịch của nước ta, đang thiếu sự phối hợp thiếu chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và đặc biệt là tiếng nói của các đối tượng bị chính sách chi phối, cụ thể ở đây là các doanh nghiệp lữ hành quốc tế và khách du lịch Đây là những đối tượng trực tiếp triển khai và thụ hưởng các hoạt động dịch vụ du lịch trong khuôn khổ của chính sách Do đó, những đóng góp của họ sẽ góp phần nâng cao tính khả thi của chính sách Ví dụ các doanh nghiệp lữ hành nắm rất rõ đặc điểm của từng loại hình khách du lịch để tham gia góp ý, xây dựng những chính sách ưu tiên phù hợp đối với từng loại hình khách du lịch cho chủ thể hoạch định chính sách Đối với khách tàu biển chỉ ghé qua Việt Nam ngắn ngày (từ 1-2 ngày) thì không nên áp dụng hệ thống visa thông thường như với khách nhập cảnh bằng đường hàng không có thể lưu trú từ 15 ngày tới một tháng Vì vậy, để nâng cao
Trang 10hiệu lực, hiệu quả của hoạt động hoạch định chính sách về du lịch ở nước ta, trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo, cần mở rộng sự tham dự một cách có hiệu quả của các bộ, ngành liên quan, các tổ chức xã hội và các đối tượng chịu sự điều chỉnh của chính sách, thông qua cơ chế phối hợp, tham gia góp ý vào dự thảo của tất cả các bên liên quan, bao gồm: Chính phủ, doanh nghiệp, người tiêu dùng, người nước ngoài, các nhà tài trợ, các nhà khoa học, chuyên gia, để nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả của chính sách, tạo được sự đồng thuận trong xã hội Sự hợp tác chặt chẽ và đồng thuận xã hội được coi là một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển du lịch của Việt Nam