Ngôn ngữ học đại cương có ba khái niệm quan trọng ảnh hưởng tới việc nghiên cứu ngôn ngữ, đó là: nghĩa học, kết học, dụng học. Để hiểu và sử dụng đúng bất kì ngôn ngữ nào, ta đều phải biết tới ba khái niệm này. Vậy nghĩa học, kết học, dụng học là gì?
Trang 1Đề: Sau khi kết thúc môn, em hiểu thế nào về ba bình diện: nghĩa học, kết học, dụng học
A Mở đầu
Ngôn ngữ học đại cương có ba khái niệm quan trọng ảnh hưởng tới việc nghiên cứu ngôn ngữ, đó là: nghĩa học, kết học, dụng học Để hiểu và
sử dụng đúng bất kì ngôn ngữ nào, ta đều phải biết tới ba khái niệm này Vậy nghĩa học, kết học, dụng học là gì?
B Nội dung chính
1 Nghĩa học
Nghĩa học có thể được hiểu như là một thuật ngữ của lí thuyết chung
về tín hiệu Nó là một trong ba bộ môn của lô gích học nghiên cứu về các tín hiệu, các thuộc tính và chức năng của chúng Đó là: nghĩa học, dụng học
và kết học Theo cách hiểu này, nghĩa học nghiên cứu mối quan hệ giữa các tín hiệu và hiện thực mà chúng biểu đạt
Trong nghiên cứu ngôn ngữ, nghĩa học được hiểu là một bộ môn của ngôn ngữ học nghiên cứu về ý nghĩa của các từ nói riêng và các đơn vị ngôn ngữ nói chung (thành ngữ, câu, văn bản) Ngữ nghĩa học nghiên cứu ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, mối quan hệ giữa hình thức và nội dung của tín hiệu ngôn ngữ Ngoài ra, ngữ nghĩa học còn nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nghĩa của từ, tức là giữa nghĩa cơ bản (hoặc nghĩa gốc) của nó với các nghĩa phát sinh hoặc nghĩa cụ thể được sử dụng trong phát ngôn
Ví dụ:
- Ngữ nghĩa học nghiên cứu về ý nghĩa của các tiếng: trong ngôn ngữ, nhiều tiếng tự bản thân nó đã toát lên một ý nghĩa, cảm xúc Tiêu biểu
là từ tượng thanh hay tượng hình, tức là những trường hợp mà âm thanh
Trang 2của ngôn ngữ có quan hệ khá chặt chẽ với những gì chúng biểu đạt trong thực tế khách quan Ngữ nghĩa học phải chỉ ra được quan hệ giữa vỏ phát
âm với lớp nghĩa ẩn tàng sau nó
Chẳng hạn, H Schreuder (1970) đã nhận ra rằng, tổ hợp âm ‘ash’ trong tiếng Anh rất hay được dùng để biểu đạt những động tác nhanh hoặc đột ngột, ví dụ: flash (lóe sáng), dash (lao tới, ném mạnh), crash (đâm sầm xuống), hay tổ hợp âm vị /bl/ (cũng trong tiếng Anh) thường xuất hiện trong các từ biểu thị sự khó chịu, ghê tởm hay chán ngấy, ví du: bland smile (nụ cười nhạt nhẽo), blare (làm om sòm), blast (nguyền rủa)… Thậm chí, tác giả còn thấy rằng, trong một số trường hợp, mối quan hệ giữa âm thanh ngôn ngữ (không chỉ là từ tượng thanh) và ý nghĩa chặt chẽ tới mức chúng có thể ảnh hưởng tới việc thay đổi ý nghĩa của từ trong quá khứ, khiến hiện nay một số tổ hợp âm trong tiếng Anh biểu thị những ý nghĩa tiêu cực thay vì ý nghĩa trung hòa như trước đây Chẳng hạn, âm vị /u/ khi kết hợp với một số âm vị khác (ví dụ như với /l/, /ʃ/ hay /p/) thường biểu đạt những sự vật, sự việc được đánh giá tiêu cực, ví dụ: allure (cám dỗ, quyến rũ), shrew (người dàn bà đanh đá, độc ác), putrid (thối tha, đồi bại) Những hiên tượng tương tự trong tiếng Pháp cũng đã được P Guiraud (1971) đề cập đến trong tác phẩm “La semantique”
Trên địa bàn tiếng Việt, Nguyễn Hữu Quỳnh (1994) cũng đã nêu nhận xét rằng, một số vần và nguyên âm “có khả năng biểu thị một nét nghĩa nào đó về trạng thái, họat động, tính chất.” Ví dụ: vần ‘it’ trong tiếng Việt biểu thị một nét nghĩa chung là ‘làm kín, làm chặt thêm’ của các từ ‘bịt’,’khít’,‘thít’…, trong khi vần ‘óp’ mang nét nghĩa ‘giảm thể tích, thu nhỏ khối lượng’ như trong các từ ‘bóp’, hay‘tọp’ Nghiêm túc hơn, các nhà phong cách học cũng đã bàn khá nhiều về giá trị tu từ học của các yếu tố ngữ âm trong các ngôn ngữ Xa hơn nữa, W Humboldt cũng đã nhìn nhận ý nghĩa biểu trưng của các đơn vị ngữ âm trong các ngôn ngữ
Trang 3- Ngữ nghĩa học còn nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nghĩa của từ: trong quá trình sử dụng và du nhập các ngôn ngữ khác, ngôn ngữ bản địa có sự thay đổi theo chiều hướng đi sâu với việc cho ra đời những nghĩa khác nhau của một từ Đây là một cách tiết kiệm từ ngữ mà vẫn tạo được cách dùng phong phú Ngữ nghĩa học sẽ đi vào tìm hiểu các nghĩa khác nhau của từ, xác định nghĩa gốc, nghĩa chuyển và nét nghĩa chung giữa các nghĩa, phương thức tạo ra nghĩa mới
Ở đây xin lấy ví dụ về việc nghiên cứu phương thức tạo nghĩa mới Trong ngôn ngữ học, người ta đã tổng kết được ba phương thức chủ yếu mà các ngôn ngữ thường dùng để biến đổi ý nghĩa của từ Đó là:
+ Giữ tên gọi cũ để chỉ những sự vật, hiện tượng hay khái niệm mới hoặc đã thay đổi Ví dụ: Trong tiếng Anh, từ ‘boat’ vừa có nghĩa là
“thuyền” vừa có nghĩa là “tàu thuỷ” (loại nhỏ); trong tiếng Ba Lan, từ
‘pióro’ vừa có nghĩa là “cái lông” (ví dụ: ‘lông ngỗng’) vừa có nghĩa là
“cái bút”; trong tiếng Pháp, từ ‘bureau’ vừa có nghĩa là “cái bàn làm việc” vừa có nghĩa là “phòng làm việc” hay “cơ quan”…
+ Hoán dụ: phương thức làm biến đổi ý nghĩa của từ bằng cách lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này để chỉ một sự vật, hiện tượng khác trên
cơ sở mối quan hệ tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng ấy Ví dụ: Chẳng hạn, trong tiếng Việt, ‘má hồng’ thường được dùng để chỉ ‘cô gái’, hay
‘mày râu’ chỉ ‘đàn ông’, hoặc ‘tay chơi’ dùng để chỉ ‘người ăn chơi’;
‘miệng ăn’ chỉ ‘người ăn’, song ‘con ngươi’ (con người) được dùng để chỉ
‘đồng tử’; ‘nhà’ dùng để chỉ ‘chồng’ hoặc ‘vợ’; ‘mùi’ dùng để chỉ ‘mùi hôi’…
+ Ẩn dụ: là phương thức biến đổi ý nghĩa của từ bằng cách lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này để chỉ sự vật, hiện tượng khác trên cơ sở của
sự giống nhau về một khía cạnh nào đấy giữa hai sự vật hay hiện tượng ấy
Ví dụ: Các từ ‘chín’ trong “chuối chín” và “nghĩ chín” của tiếng Việt,
Trang 4‘vưxoki’ (cao) trong ‘‘vưxoki gost’’ (‘khách quý’) của tiếng Nga, hay ‘soft’ (‘nhẹ, dẻo, mềm’) trong ‘‘soft winter’’ (‘mùa đông ôn hoà, dễ chịu’) của tiếng Anh, là những ẩn dụ loại này ‘Mũi’ trong “mũi dao”, “mũi thuyền”;
‘quất’ trong “mưa quất”, ‘mũ’ trong “mũ đinh” của tiếng Việt
2 Kết học
Trong nghiên cứu ngôn ngữ, kết học được hiểu là một bộ môn của ngôn ngữ học nghiên cứu về việc kết hợp, tạo lập hoặc nhận biết các mối quan hệ giữa các từ, các câu, các đoạn, Theo cách hiểu đơn giản, kết học nghĩa là ngữ pháp học Nó giúp chúng ta nói, viết đúng quy tắc ngữ pháp
Để hiểu được điều đó, ta buộc phải nắm vững chức năng ngữ pháp của từ, câu,…và biết kết hợp theo nguyên tắc chung
Ví dụ:
- Kết học nghiên cứu vai trò ngữ pháp của từ trong câu:
Dưới bình diện nghiên cứu kết học, ta sẽ thấy trong từ ‘worker’ của tiếng Anh, ngoài hai thành phần ý nghĩa biểu vật và biểu niệm nêu trên, còn
có các thông tin sau đây: là một danh từ số ít, là một từ phái sinh (căn tố động từ + phụ tố) Do đó, trước nó thường phải có quán từ (‘the’ hoặc ‘a’)
và khi kết hợp nó với động từ thì động từ phải được biến đổi ở ngôi số ít Hoặc như từ ‘nhà’ trong tiếng Việt: Nó có ý nghĩa sự vật, do đó nó
là danh từ; nó là danh từ có biệt loại, do đó có thể kết hợp với loại từ
‘ngôi’; nó là danh từ đếm được, nên có thể trực tiếp kết hợp với các từ chỉ
số lượng Chẳng hạn, có thể nói: ‘cái nhà này’, ‘một ngôi nhà’, ‘một nhà’… nhưng không thể kết hợp nó với ‘sẽ’ hay ‘rất’ vốn là những từ đi kèm với động từ hoặc tính từ
- Kết học nghiên cứu cách liên kết nội dung:
Trong văn bản tiếng Việt, để liên kết, ta có thể dùng các cách: + Liên kết lô gíc:
Trang 5Dùng các phương tiện nối kết như các kết từ (ví dụ: và, còn, nhưng, song, mặc dù, dù, dẫu, thì,…), phụ từ (ví dụ: cũng, lại, cứ, luôn,…) hay những từ ngữ chuyên dùng để nối kết (ví dụ: như vậy, quả vậy, quả thật, ấy thế nhưng, cuối cùng, rốt cuộc, không những thế,…)
Sắp xếp các phát ngôn theo một trật tự lô gíc Ví dụ sau: “Nó
khuỵu cẳng Một củ khoai ở mẹt biến mất.”, ta có thể giải thích mối quan
hệ ở đây là quan hệ nhân-quả (‘Vì nó khuỵu cẳng nên củ khoai ở mẹt biến mất’) nhưng cũng có thể hiểu đó là quan hệ thời gian (‘Sau khi nó khuỵu cẳng thì củ khoai ở mẹt biến mất’), hay quan hệ liên hợp (‘Nó khuỵu cẳng
và một củ khoai ở mẹt biến mất’)
+ Liên kết chủ đề:
Lặp từ vựng: dựa trên việc sử dụng những yếu tố từ vựng (từ, tên gọi, cụm từ) trong các phát ngôn khác nhau, khiến cho chủ đề của văn bản được duy trì Ví dụ: Đoạn văn sau lặp lại nhiều từ “tôi”, “xin đừng kể” để nhấn mạnh tâm trạng, mong ước của tôi: “Tôi nghĩ đó là chuyện buồn Tôi chưa đến bảy mươi Mặc dầu vậy xin đừng kể, ngày hôm nay xin đừng kể bất cứ điều gì buồn.”
Đối nghĩa: là phương thức liên kết chủ đề sử dụng những đơn vị ngôn ngữ (từ hoặc cụm từ) có ý nghĩa đối lập nhau trong những phát ngôn khác nhau để tạo ra sự liên kết nội dung giữa các phát ngôn đó Ví dụ:
“Nhà cao cửa rộng con rể ở
Tiền lắm bạc nhiêu cháu ngoại tiêu.”
Liên tưởng: Biện pháp liên tưởng thể hiện ở việc sử dụng trong những phát ngôn khác nhau những đơn vị ngôn ngữ (từ, cụm từ) có liên quan về nghĩa với nhau hoặc được liên hệ mạnh mẽ với nhau để tạo sự liên kết giữa các phát ngôn đó Ví dụ: “Ở đây tuyệt nhiên không có một nhà thờ
Trang 6nào Mà em thì muốn cầu nguyện biết bao Dù sao thì em vẫn muốn cầu nguyện Em mang theo cây thánh giá bằng gỗ của mẹ.”
3 Dụng học
Trong nghiên cứu ngôn ngữ, dụng học được hiểu là một bộ môn của ngôn ngữ học nghiên cứu về sự đóng góp của bối cảnh tới nghĩa, về việc sử dụng từ ngữ trong các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ Ngữ dụng nghiên cứu
lý thuyết hành vi ngôn từ, hàm ngôn hội thoại, tương tác lời nói và cả
những cách tiếp cận khác tới hành vi ngôn ngữ Ngữ dụng học nghiên cứu sâu về ngữ cảnh của phát ngôn, cùng với những hiểu biết có từ trước đó liên quan tới chủ đề, ý đồ được suy ra của người nói, và các yếu tố khác Trong các hoạt động giao tiếp cụ thể, ý nghĩa của từ phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoài ngôn ngữ, ví dụ như: mối quan hệ giữa người nói và người nghe, hoàn cảnh giao tiếp, các quy định của xã hội về ứng xử ngôn ngữ, các quan niệm về giá trị văn hóa …Vì vậy, ý nghĩa ngữ dụng của từ là
ý nghĩa được bổ sung vào các thành phần ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của từ trong các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ cụ thể Ý nghĩa ngữ dụng còn là thành phần ý nghĩa biểu thị được thái độ, tình cảm của người nói và tác động đến thái độ, tình cảm của người nghe Muốn xác định ý nghĩa ngữ dụng của từ phải căn cứ vào các tình huống giao tiếp ngôn ngữ
cụ thể, tức là dựa vào ngữ cảnh hoặc/và chu cảnh vật lí, trong đó từ được sử dụng
Ví dụ:
- Dụng học nghiên cứu về các nhân tố trong giao tiếp: các nhân tố gồm nhân vật, hoàn cảnh, nội dung, mục đích, cách thức giao tiếp
Ví dụ: Hoạt động giao tiếp giữa vua Trần và các bô lão trong hộ nghị Diên Hồng như sau:
Trang 7Nhân vật giao tiếp: Vua là lãnh đạo tối cao của đất nước, bô lão là đại diện cho các tầng lớp nhân dân
Cách thức giao tiếp: Hoạt động nói, nghe, đáp lời diễn ra kế tiếp và thay thế cho nhau Hai nhân vật luân phiên nói (hỏi, đáp) và nghe
Hoàn cảnh: rộng: xã hội phong kiến với những lễ giáo; hẹp: đất nước có giặc ngoại xâm hung hãn, vua cùng các bô lão bàn sách lược tại điện Diên Hồng
Nội dung: vua nêu vấn đề, các bô lão hiến kế
Mục đích: sách lược với nạn ngoại xâm, thể hiện sự thống nhất hành động: quyết tâm đánh giặc
- Dụng học nghiên cứu về thái độ, tình cảm của người nói trong ngôn từ sử dụng Ví dụ: Các từ ‘thâm sì’, ‘trắng dã’ của tiếng Việt không chỉ biểu thị sắc thái ‘đen’ hay ‘trắng’ mà còn biểu thị thái độ khinh bỉ, chê bai Từ ‘hy sinh’ biểu lộ sự khâm phục, đau xót còn từ ‘toi mạng’, gắn với thái độ, tình cảm tiêu cực đối với đối tượng được nói tới
C Kết thúc
Mỗi ngôn ngữ đều mang trong mình ba mặt: ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng Ba mặt ấy kết hợp hài hòa làm ta dễ dàng sử dụng một loại ngôn ngữ Đồng thời, sự khác biệt của ba mặt trên cũng tạo nên đặc trưng riêng của các ngôn ngữ trên thế giới Ngôn ngữ luôn luôn phát triển theo thời gian, và trải qua lịch sử hoạt động và phát triển lâu dài của mình, ba mặt: ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng cũng có sự thay đổi để phù hợp hoàn cảnh mới, góp phần vào mục đích chuyển tải thông tin tốt hơn Có những bình diện còn đan xen vào nhau, khó phân biệt Vì vậy, sử dụng các khái niệm của ba bình diện này cần linh hoạt Cái quan trọng là làm cho ngôn ngữ dễ dàng sử dụng và cao hơn là dùng có nghệ thuật, chứ không phải chỉ nhìn vào các khái niệm, quy tắc để sử dụng
Trang 8Tài liệu tham khảo
1 Anh, Đào Duy (1982) Chữ Nôm- Nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến NXB KH xã hội Hà Nội
2 Catford J.C (1988) A practical Introduction to Phonetics Oxford: Oxford University Press
3 Cẩn, Nguyễn Tài (1995) Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt, NXB Giáo dục