Quan hệ đó gồm một số nguyên tắc qui định quyền hạn của hai vợ chồng trên các tài sản chung, sự đóng góp tiền bạc của hai vợ chồng trong thời gian hôn nhân.. Sự qui định về quan hệ tài s
Trang 1Phần mở đầu
Gia đình Việt Nam từ ngàn xa vẫn đợc coi là nền tảng của xã hội, trong các bộ luật đầu tiên của ta nh bộ luật Hồng Đức đời nhà Lê, bộ luật Gia Long đời nhà Nguyễn đã có nhiều điều khoản qui định về các quan hệ trong gia đình, quan hệ giữa vợ chồng với nhau, quan hệ giữa cha mẹ và con cái Gia đình cũng đặt ra những quan hệ về tài sản, đặc biệt là quan hệ tài sản giữa vợ chồng Quan hệ đó gồm một số nguyên tắc qui định quyền hạn của hai vợ chồng trên các tài sản chung, sự đóng góp tiền bạc của hai vợ chồng trong thời gian hôn nhân Sự qui định
về quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một điều cần thiết để bảo vệ quyền lợi của gia
đình, tránh những tranh chấp có thể xảy ra làm tổn thơng đến hoà khí và sự đoàn kết trong gia đình
Quan hệ sở hữu này tồn tại ở hai hình thức: sở hữu tài sản chung và sở hữu tài sản riêng Trong chế độ sở hữu tài sản chung, một phần hoặc toàn thể tài sản của hai vợ chồng hợp thành một khối chung, khối tài sản này bao gồm mọi tài sản hiện hữu và tơng lai của hai vợ chồng có trớc và trong thời gian hôn nhân Trong chế độ này, vợ và chồng có thể qui định quyền hạn của mỗi ngời trong việc quản lý khối tài sản Họ có thể thoả thuận với nhau ngời chồng một mình quản lý hoặc hai vợ chồng đều có quyền quản lý chung Hình thức thứ hai là sở hữu tài sản riêng Đó là chế độ đơn giản nhất vì mỗi vợ chồng vẫn giữ nguyên quyền sở hữu đối với tài sản của mình, họ chỉ phải cùng nhau đóng góp vào các chi tiêu chung của gia đình Quan hệ vợ chồng dù ở thời kỳ nào, từ phong kiến, thực dân đến XHCN vẫn là các quan hệ nền tảng của xã hội Nó đợc điều chỉnh bởi các qui phạm pháp luật do Nhà nớc công nhận, đặt ra và đảm bảo bằng sức mạnh của Nhà nớc Mà trong quan
hệ vợ chồng, quan hệ tài sản có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt, không một gia
đình nào lại không có yếu tố tài sản Dù nghèo hay giầu quan hệ tài sản cũng góp phần chi phối quan hệ vợ chồng, vì vậy quan hệ tài sản giữa vợ chồng là quan hệ không thể thiếu đợc trong sự điều chỉnh của pháp luật
Nhìn chung, qua các thời kì lịch sử, hai hình thức này đã đợc qui định và điều chỉnh trong các bộ luật Tuy nhiên, tuỳ từng giai đoạn, nó đợc chính thức công nhận trong điều luật
Trong bài viết này, em xin phép viết về quan hệ tài sản giữa vợ chồng, song
đây là quan hệ có phạm vi rộng: gồm quan hệ sở hữu, quan hệ thừa kế, quan hệ cấp
Trang 2dỡng, vì thời gian có hạn em chỉ đề cập đến quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ chồng Rất mong sự chỉ bảo của các thầy cô
Trang 3Phần nội dung
Ch ơng I
quan hệ tài sản giữa vợ chồng trong bộ luật Hồng Đức
Bộ luật Hồng Đức đời nhà Lê đợc coi là một bộ luật tiến bộ trong thời kỳ phong kiến, đặc biệt là những quy định về quan hệ vợ chồng Bộ luật này tuy không
có điều khoản nào rõ rệt nói về chế độ tài sản nhng nó công nhận khối tài sản trong gia đình gồm tài sản của vợ (thê điền sản) và tài sản của chồng(phu điền sản) Ngời chồng đứng ra quản trị của cải của ngời vợ Song ngời vợ đợc công nhận là có tài sản riêng, nhất là khi số tài sản đó là của đợc cho hoặc thừa kế
Quan hệ tài sản giữa vợ chồng đợc quy định trong từng trờng hợp cụ thể Điều
375 luật Hồng Đức quy định vợ chồng không có con mà ngời vợ tái giá thì của chung của hai vợ chồng đợc đem chia đôi, vợ đợc nhận một phần làm của riêng Điều 376
định rằng trong trờng hợp hai vợ chồng có con chung, nhng côn đã chết, và vợ lại chết trớc chồng, thì của riêng của vợ (thê điền sản) đợc đem chia làm ba phần Ngoài ra,
điều 374 cũng nói đến của riêng của chồng(phu điền sản)
Nh vậy, tục lệ của ta đợc phản ánh rõ rệt trong bộ luật Hồng Đức đã phân biệt
rõ ràng giữa tài sản riêng của vợ và tài sản riêng của chồng Các tài sản ấy chỉ đ ợc tạm thời nhập chung trong thời gian hôn nhân Có thể nói những quy định trong bộ Luật Hồng Đức ngời phụ nữ đã đạt đợc những vị trí nhất định trong gia đình Dù toàn bộ tài sản chung trong gia đình hay tài sản riêng của từng ngời đều do ngời chồng quản lý, song đã có sự tách bạch tài sản riêng Ngời vợ đã đợc công nhận là
có quyền có tài sản riêng Đây là sự công nhận mang tính pháp lý vô cùng quan trọng về sau Nó ảnh hởng đến cả mối quan hệ sau này của ngời phụ nữ Đó là khi ngời chồng, ngời con - ngời trụ cột trong gia đình chết đi thì ngời phụ nữ vẫn có một phần tài sản riêng của mình
Ch ơng II
Quan hệ tài sản giữa vợ chồng trong bộ luật Gia Long
Trang 4Sang đến thời nhà Nguyễn, bộ luật Gia Long đợc ra đời Những quy định về quan hệ tài sản giữa vợ chồng cũng giống nh các quy định khác trong bộ luật, chỉ chép nguyên văn bộ luật Mãn Thanh Chính vì vậy, sự thay đổi trong quan hệ tài sản mang một xu hớng khác so với bộ luật Hồng Đức
Ngời đàn bà đã đi lấy chồng thì không có của riêng và ngời chồng là chúa tể tất cả của cải trong gia đình, có quyền sử dụng tuỳ theo ý muốn mà không cần phải
có vợ tham dự Điều 76 của bộ luật cho rằng tất cả tài sản của vợ đều đợc nhập vào gia sản của chồng
Trong bộ luật này, sự bất bình đẳng trong quan hệ vợ chồng dợc thể hiện rõ Ngời
vợ không có môt vị trí, vai trò nào: tài sản của mình thì bị nhập vào gia sản của chồng, không có quyền quản lý, định đoạt Tất cả đều do ngời chồng quyết định
Nếu nh trong bộ Luật Hồng Đức, ngời phụ nữ đã đợc pháp luật công nhân là
có tài sản riêng khi tài sản đó đợc cho tặng hoặc thừa kế thì sang bộ Luật Gia Long mọi qui định trong bộ Luật Hồng Đức bị thay đổi ngợc lại, ngời phụ nữ bị khinh rẻ, thân phận của họ bị phụ thuộc vào ngời đàn ông Về mặt nhân thân và đặc biệt về tài sản ngời vợ càng không thể có một chút quyền hành trong gia đình đối với tài sản kể cả tài sản mà mình đợc cho, thừa kế Tất cả phải thuộc về ngời chồng Khi tài sản của mình đợc cho, thừa kế ngời phụ nữ không đợc sở hữu thì quyền quản lý,
định đoạt đó ngời phụ nữ cũng phải chuyển cho ngời chồng quyết định Ngời đàn
ông trong thời kỳ này đợc tôn vinh Tất cả tài sản trong gia đình không tính đến của chung, của riêng mà đều thuộc về sở hữu của ngời đàn ông Anh ta là chủ toàn bộ vì vậy có quyền quyết định riêng không cần đến ý kiến của ngời vợ Đây là một trong những bộ luật phản ánh sự bất công, sự bất bình đẳng đối với ngời phụ nữ nói chung và ngời vợ nói riêng
Trang 5Ch ơng III
Quan hệ tài sản giữa vợ chồng trong bộ dân luật giản yếu
Trớc năm 1960, văn bản luật dân sự chủ yếu tại miền Nam là tập Dân luật Giản Yếu, nhng văn bản này chỉ quy định về hôn nhân và tử hệ chứ không hề nói
đến tài sản giữa vợ chồng Vì thế, quan hệ tài sản tại miền Na m tr ớc năm 1960 hoàn toàn dựa trên án lệ
I Sở hữu chung về tài sản:
án lệ thời kỳ này phủ nhận một chế độ tải sản chung tại miền Nam, toàn bộ tài sản trong gia đìnhđều thuộc quyền sở hữu duy nhất của ngời chồng Nguyên tắc này đa đến hai hậu quả:
1 Ngời chồng là chủ sở hữu duy nhất không những đối với tất cả các tài sản
mà hai vợ chồng có sẵn khi lập gia đình, mà còn cả đối với tài sản khác do hai vợ chồng, hoặc do một mình ngời vợ có đợc trong thời kỳ hôn nhân
2 Ngời chồng có toàn quyền sử dụng các tài sản trong gia đình Là chủ sở hữu
gia sản, ngời chòng có toàn quyền quản lý tất cả tài sảnmà không cần có sự tham
dự của ngời vợ Ngời chồng một mình đứng ra ký kết và thu hoa lợi Ngợc lại ngời
vợ không thể ký kết một mình, một phần vì không có quyền sở hữu trên gia sản, một phần theo quy định của Dân luật GiảnYếu, ngời đàn bà khi lấy chồng trở thành vô năng lực hành vi
II Sở hữu riêng về tài sản
Các án lệ thời kỳ nàykhông có quan điểm đồng nhất về sở hữu riêng giữa vợ chồng Đầu tiên, toà án đã công nhận rằng ngời vợ có của riêng, sau đó, án lệ cơng quyết không cộng nhận cho ngời vợ có của riêng, vì cho rằng ngời đàn bà Việt Nam không thể có quyền lợi đối chọi với ngời chồng, là chúa tể của gia đình, khi
đã lấy chồng thì đời sống và tài sản của ngời vợ đều thuộc về nhà chồng
Tuy nhiên, án lệ cũng công nhận một vài trờng hợp đặc biệt, trong đó ngời vợ
đợc công nhận là có của riêng Đó là:
+Đối với t trang của vợ, các tài sản này đợc coi là tài sản riêng của vợ và tục lệ cũng thừa nhận
Trang 6+Đối với các tài sản của ngời vợ đợc cho hay thừa kế thì án lệ căn cứ vào tục
lệ, cho rằng đối với tài sản do gia đình bên vợ cho hay do vợ đợc hởng thừa kế, thì phải công nhận cho vợ đợc quyền giữ làm của riêng
+Đối vối các bất động sản thuộc sở hữu ngời vợ thì các bất động sản này thuộc sở hữu riêng của ngời vợ
Ch ơng IV
Quan hệ tài sản giữa vợ chồng trong bộ Dân luật Bắc, bộ Dân luật Trung
Trái với án lệ tại miền Nam, tại Bắc, Trung, tục lệ của ta đã công nhận từ lâu
là ngời vợ có của riêng, tục lệ này đã đợc ghi nhận trong các bộ dân luật Bắc, Trung Tuy nhiên trong thời kỳ hôn nhân của cải của hai vợ chồng gộp chung thành một khối thống nhất
I Sở hữu tài sản chung
Hai vợ chồng khi lấy nhau tài sản của họ bao giờ cũng gộp chung thành một khối duy nhất để đảm bảo cho sự sinh hoạt của gia đình Của chung của hai vợ chồng gồm có lợi tức của mọi tài sản, các tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, tài sản do vợ hoặc chồng làm việc mà tạo ra
Việc quản lý tài sản chung đều do hai vợ chồng Ngời vợ đợc đặt ngang hàng với chồng trong việc sử dụng và định đoạt tài sản chung Tuy nhiên, tuỳ từng công việc mà quyền hạn của mỗi ngời đợc xác định
Trong công việc mà ngời vợ hoặc chồng có thể làm một mình thì ngời chồng
có quyền quản lý toàn bộ tài sản chung còn ngời vợ chỉ có quyền ấy trong một phạm vi hẹp hơn- t cách đaị diện gia đình
Trong công việc mà vợ chồng phải cùng nhau làm thì việc định đoạt các tài sản trong gia đình đều phải do cả hai vợ chồng cùng làm, hoặc nếu do một bên thì phải có sự ng thuận của ngời kia
Trong công việc mà ngời chồng có thể làm một mình, còn ngời vợ muốn làm phải đợc phép của ngời chồng Việc công nhận nguyên tắc ngời chồng là chủ gia
đình, cho nên ngời chồng đợc phép một mình sử dụng tài sản riêng của mình và tài
Trang 7sản chung của hai vợ chồng nếu xét thấy cần thiết cho gia đình Còn ngời vợ chỉ có thể hành động nếu đợc chồng cho phép
II Sở hữu tài sản riêng
Tài sản riêng là tài sản của mỗi bên vợ chồng gồm có động sản hay bất động sản mà mỗi ngời đã có sẵn trớc khi kết hôn Trong thời kỳ hôn nhân, bên nào đợc hởng di sản hay đợc ngời ngoài tặng cho thì tài sản đó đợc coi là sở hữu riêng của ngời đó
Những quy định về tài sản riêng của vợ chồng vẫn mang tính tục lệ Nó cha
đ-ợc tách bạch cụ thể quyền và nghĩa vụ đối với tài sản riêng
Ch ơng V
Quan hệ tài sản giữa vợ chồng trong bộ luật Hôn nhân gia đình năm 1959
Sau 1954 nớc ta chia cắt làm hai miền, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giành độc lập, miền Bắc tiến lên xây dựng XHCN Điều không thể thiếu trong công cuộc xây dựng XHCN là đa ra các văn bản pháp luật nhằm ổn định trật tự, phát triển xã hội và một trong những quan hệ xã hội cần điều chỉnh là quan hệ hôn nhân gia đình Trớc khi miền Bắc đợc giải phóng quan hệ hôn nhân gia đình phần lớn
ảnh hởng tàn d phong kiến vì vậy cần phải thay đổi Điều đó dẫn đến sự ra đời của Sắc lệnh 13/1959 của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Sắc lệnh về Hôn nhân gia đình Đây
là văn bản luật đầu tiên của Nhà nớc ta về hôn nhân gia đình, nó mang một màu sắc dân chủ phản ánh nếp sống mới của nhân dân sau cuộc cách mạng dân tộc dân chủ thắng lợi
I Sở hữu tài sản chung:
Luật năm 1959 ghi nhận quan hệ tài sản giữa vợ chồng là quan hệ sở hữu chung Tài sản của vợ và tài sản của chồng trong hôn nhân nhập vào làm một Ngời
vợ, ngời chồng có quyền ngang nhau trong quản lý, sử dụng, định đoạt số tài sản chung đó Đây là một trong những tiến bộ so với những quy định trớc đó Lần đầu tiên ngời phụ nữ đợc bình đẳng với ngời chồng trong việc quản lý số tài sản chung
Trang 8trong gia đình Song có một hạn chế do ảnh hởng của chế độ cũ và một phần do chúng ta mới trải qua cuộc cách mạng gian khổ nên cha có một quy định cụ thể, một điều luật nào ghi nhận ngời vợ có tài sản riêng Luật 1959 cha công nhận chế
độ sở hữu riêng về tài sản giữa vợ và chồng
II Về quản lý tài sản:
Ngời vợ và ngời chồng có toàn quyền quản lý tài sản chung Họ có quyền thực hiện mọi quyền năng đối với tài sản chung trong gia đình Ngời vợ và ngời chồng
đợc tính công sức ngang nhau trong việc tạo lập tài sản Chính vì vậy họ có quyền ngang nhau trong việc quản lý và định đoạt Những tài sản lớn trong gia đình khi có
sự thay đổi đều cần có sự đồng ý của cả hai vợ chồng Đây là quy định tiến bộ nhất
từ trớc đến nay
Ch ơng VI
Quan hệ tài sản giữa vợ chồng trong
bộ luật Hôn nhân gia đình năm 1986 và năm 2000
I Sở hữu tài sản chung:
Luật Hôn nhân gia đình năm 1986 đã qui định chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản chung hợp nhất Tài sản chung của vợ chồng gồm
+ Tài sản do vợ chồng tạo ra: Hành vi tạo ra tài sản chỉ cần một bên vợ hoặc chồng thực hiện, có thể do lao động hoặc không do lao động nhng vợ chồng có sử dụng tiền hoặc các vật có giá trị trao đổi khác để phát sinh quyền sở hữu đối với tài sản
+ Thu nhập về nghề nghiệp: gồm tiền lơng, tiền thởng, tiền hu trí, trợ cấp, các thu nhập về sản xuất của gia đình
+ Thu nhập hợp pháp khác: là thu nhập do lao động mà có hoặc thu nhập không do lao động (trúng xổ số, hoa lợi lợi tức phát sinh từ tài sản riêng )
+ Tài sản do thừa kế chung: trong thừa kế theo di chúc phát sinh quyền sở hữu hợp nhất khi ngời để lại di sản không phân biệt phần quyền đợc hởng của vợ chồng
Trang 9Trong thừa kế theo luật sở hữu chung hợp nhất khi hai vợ chồng tự nguyện nhập vào tài sản chung
+ Tài sản do tặng, cho chung: khi phân biệt tài sản tặng cho là tài sản chung hay riêng thì thực hiện theo nguyên tắc: không đủ chứng cứ là tài sản riêng thì tài sản tặng cho là tài sản chung hoặc ngời tặng cho nói rằng cho tài sản đó để làm vốn
II Tài sản riêng:
Điều 14 luật Hôn nhân gia đình còn ghi nhận vợ, chồng có tài sản riêng Điều này phù hợp với điều kiện kinh tế của xã hội và nguyện vọng của nhân dân lao
động Vợ chồng có quyền sở hữu riêng đối với những tài sản có trớc khi kết hôn, tài sản thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân, tài sản đợc chia riêng cho
vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại, đồ dùng t trang cá nhân
Ngời có tài sản riêng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng Họ có toàn quyền thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu trong dân sự nhng bị hạn chế trong một số trờng hợp:
+ Tài sản chung trong gia đình không đủ chi tiêu, ngời có tài sản riêng phải bù
đắp vào các chi tiêu đó và không đợc phép đòi lại
+ Trong trờng hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung mà hoa lợi lợi tức là nguồn sống duy nhất của hai vợ chồng Việc định đoạt tài sản này phải có sự thoả thuận chung của hai vợ chồng
+ Nếu tài sản riêng đã mất giá trị sử dụng, vợ chồng sử dụng tài sản chung để phục hồi giá trị sử dụng của tài sản đó thì tài sản riêng trở thành tài sản chung + Trờng hợp vợ chồng không thể quản lý tài sản riêng của mình và cũng không uỷ quyền cho ngời khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản riêng cho họ
Tài sản riêng của vợ chồng đợc sử dụng để thanh toán nghĩa vụ riêng của họ
III Việc quản lý tài sản chung:
Vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc tạo lập tài sản cũng nh trong việc quản lý tài sản đó Vợ chồng phải cùng nhau quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung, đặc biệt đối với giao dịch liên quan tới tài sản có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình hoặc sử dụng tài sản chung vào mục đích kinh doanh thì phải có sự thoả thuận của hai vợ chồng, nếu pháp luật yêu cầu sự thoả thuận này phải lập bằng văn bản
Trang 10Nếu trong trờng hợp vợ chồng không thể tiến hành thoả thuận đợc thì cho phép một bên thực hiện giao dịch nếu ở một trong những trờng hợp sau:
+ Bên kia uỷ quyền cho họ bằng văn bản
+ Một bên mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không có năng lực hành vi trong thoả thuận
+ Một bên đi xa, vắng không có tin tức địa chỉ
+ Một bên có nhu cầu tiến hành giao dịch chính đáng nhng bên kia kiên quyết phản đối không có lý do, xuất phát từ lợi ích cấp bách của gia đình cho phép bên kia tiến hành giao dịch
Xuất phát từ nhu cầu đổi mới cơ cấu kinh tế, từ nhu cầu phát triển xã hội, luật Hôn nhân gia đình năm 2000 ra đời Tất cả các qui định trong luật 2000 đều có nội dung cơ bản nh luật 1986 trên cơ sở kế thừa luật 1986 song luật 2000 qui định cụ thể, chi tiết từng quan hệ, đặc biệt là quan hệ tài sản giữa vợ chồng Luật 2000 xác
định rõ tài sản nào thuộc tài sản chung, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản đó, xác định quyền và nghĩa vụ đối với tài sản riêng của mỗi ngời