1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN Quản lý tiểu học: Chỉ đạo công tác dạy học giúp học sinh học tập đạt hiệu quả cao ở các dạng bài về câu kể trong phân môn luyện từ và câu lớp 4

16 621 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 157,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học Luyện từ và câu kiểu câu kể với các dạng: Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì? làm sao để vừa đảm bảo sử dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, vừa đổi mới, sáng tạo phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh. Người giáo viên phải biết cách hướng dẫn, gợi mở, khuyến khích học sinh phát hiện và mạnh dạn trình bày những điều mình nghĩ, để phát huy tối đa năng lực tư duy độc lập hoặc kỹ năng hợp tác với bạn bè tìm tòi, khám phá nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và vận dụng vào thực tiễn giao tiếp một cách có hiệu quả cao.

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ "Luyện từ và câu" là một phân môn quan trọng trong chương trình bậc học

Tiểu học

Trong quá trình học tập phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4, học sinh bắt đầu được học về khái niệm về các loại câu, có kỹ năng phân tích câu, phân biệt được các loại câu Học phần này, học sinh gặp khó khăn trong việc hình thành kiến thức khái niệm về câu, khó khăn trong việc phân biệt các kiểu câu, đặc biệt

là kiểu câu kể với ba dạng câu Ai lµm g×? Ai thÕ nµo? và Ai lµ g×?

khiến cho học sinh khó phân biệt và hay nhầm lẫn trong quá trình học và thực hành làm bài tập; kể cả trong giao tiếp nhiều khi các em còn sử dụng câu chưa chính xác

Trong việc dạy học của giáo viên, các giáo viên thường bám vào sách giáo khoa và tổ chức dạy học theo hướng dẫn của sách giáo viên là cơ bản, rất ít giáo viên nghiên cứu kỹ và tìm tòi một cách sáng tạo và phù hợp với đối tượng học sinh nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và dẫn dắt các em tự tìm hiểu, khám phá, rút ra bài học và luyện tập thực hành một cách hiệu quả

Với những cơ sở nêu trên, tôi đã đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về dạy học các dạng câu kể trong chương trình dạy học lớp 4, tìm ra biện pháp dạy học phù hợp với dạng bài và đối tượng học sinh, đề xuất cách dạy, chỉ đạo giáo viên thực nghiệm góp phần nâng cao chất lượng dạy học kiểu câu kể trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4

Là người trực tiếp chỉ đạo hoạt động dạy học trong nhà trường, tôi đã

nghiên cứu và Chỉ đạo công tác dạy học giúp học sinh học tập đạt hiệu quả cao ở các dạng bài về câu kể trong phân môn luyện từ và câu lớp 4 và đã đạt

kết quả mong muốn đối với học sinh khối lớp 4 trường tôi

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Cơ sở lí luận.

“Phương pháp giáo dục Tiểu học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

(Luật giáo dục).

Trong môn Tiếng Việt, muốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh”, người thầy cần biết tổ chức cho học sinh được “Tự bộc lộ” năng lực nhận thức

và hành động qua các kỹ năng nghe, đọc, nói, viết cùng sự hợp tác trong học tập với bạn bè

Ở lớp 4, là lớp học bắt đầu giai đoan 2 của bậc học Tiểu học, nội dung kiến thức Tiếng Việt và văn học đã được học phân chia rõ ràng; Phân môn "Luyện từ

và câu" nội dung về từ và câu cũng được học thành tiết riêng để trang bị kiến

Trang 2

thức cho học sinh Thông qua nội dung dạy học và cách tổ chức hoạt động trên lớp, phân môn "Luyện từ và câu" góp phần mở rộng, hệ thống hóa vốn từ trang

bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ và câu; rèn luyện cho học sinh các

kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu; bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu, có ý thức sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp phù hợp với chuẩn mực văn hoá

Trong đó kiến thức về ngữ pháp của phân môn luyện từ và câu lớp 4, học sinh nắm được các khái niệm: Danh từ, động từ, tính từ, nắm được các kiểu câu đơn và thành phần của câu đơn, các kiểu câu phục vụ cho những mục đích nói chuyên biệt: Câu kể, câu hỏi, câu khiến, câu cảm Với thời lượng là 20 tiết dành

cho dạy các kiểu câu, trong đó dạy về câu kể là 12 tiết trong 9 tuần từ tuần 16

đến tuần 26, chiếm gần 2/ 3 thời lượng của dạy các kiểu câu phục vụ cho những mục đích nói

Dạy học "Luyện từ và câu" kiểu "câu kể" với các dạng: Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì? làm sao để vừa đảm bảo sử dụng linh hoạt các phương pháp và

hình thức tổ chức dạy học, vừa đổi mới, sáng tạo phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh Người giáo viên phải biết cách hướng dẫn, gợi mở, khuyến khích học sinh phát hiện và mạnh dạn trình bày những điều mình nghĩ,

để phát huy tối đa năng lực tư duy độc lập hoặc kỹ năng hợp tác với bạn bè tìm tòi, khám phá nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và vận dụng vào thực tiễn giao tiếp một cách có hiệu quả cao

II Thực trạng

Trường Tiểu học Nga Mỹ trong các năm gần đây mỗi năm đều có hai lớp 4 Các đồng chí giáo viên được phân công dạy lớp 4 đều có trình độ trên chuẩn, luôn nhiệt tình trong công tác giảng dạy và tiếp cận trong phương pháp đổi mới tương đối nhanh

Học sinh 100% có đầy đủ sách giáo khoa phục vụ học tập, đa số các em ngoan ngoãn, tích cực trong học tập

Nội dung chương trình, sách giáo khoa và yêu cầu của phân môn đó định hình rất rừ về phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và biện pháp dạy học cụ thể Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những khó khăn nhất định

Giáo viên dạy lớp 4 không phải năm nào cũng ổn định mà có sự chuyển đổi

ở các năm (Do giáo viên dạy theo lên lớp 5, giáo viên mới ra trường, cách bố trí đội ngũ giáo viên cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh trong từng năm) Do đó việc tích lũy kinh nghiệm trong dạy học có phần hạn chế Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sách giáo khoa, ít sáng tạo nên chưa dẫn dắt học sinh tìm tòi, chưa lôi cuốn được học sinh ham học Khi dạy

học các dạng bài trong kiểu câu kể phần hình thành kiến thức (I Nhận xét đến

II Ghi nhớ) nhiều giáo viên còn tỏ ra lúng túng, việc tổ chức dạy học của giáo

viên chưa phát huy được hết tính tích cực của học sinh trong tiết học, việc tổ chức cho học sinh tìm hiểu các câu hỏi bài tập do một số câu hỏi chưa tường

Trang 3

minh, chưa rõ ý muốn hỏi nên học sinh thấy khó để tìm ra câu trả lời đúng Giáo viên cũng còn nhiều băn khoăn chưa thấy thỏa mãn trong việc hướng dẫn học sinh tìm tòi để rút ra ghi nhớ khi ở một số tiết ngữ liệu sách giáo khoa đưa ra cho học sinh tìm hiểu nhận xét chưa đầy đủ hoặc chưa rõ ràng để trên cơ sở đó học sinh tự rút ra được ghi nhớ hoàn chỉnh

Đối với học sinh, khi học phần này, các em chưa có thói quen phân tích

dữ kiện của đầu bài, thường hay bỏ sót, bỏ qua những từ ngữ quan trọng thể hiện yêu cầu của bài nên dẫn dễ đến làm thiếu, làm sai Thực tế có nhiều học sinh sau khi học xong rất thuộc lý thuyết nhưng khi làm bài tập phần luyện tập hoặc vận dụng vào thực tiễn giao tiếp thì còn làm sai, còn vụng về lúng túng và chưa đạt kết quả theo yêu cầu

Chẳng hạn ở khóa trước, sau khi học xong các dạng câu kể Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?, trong quá trình vận dụng làm bài tập và sử dụng giao tiếp

hàng ngày học sinh vẫn chưa nắm chắc và phân biệt một cách chắc chắn về các dạng câu kể này

Kết quả khảo sát chất lượng học sinh thời điểm giữa học kỳ I khối 4, ở 2 lớp 4A và 4B về luyện từ và câu như sau:

Lớp SL SLĐiểm 9-10TL SLĐiểm 7- 8TL Điểm 5 - 6SL TL Điểm dưới 5SL TL

Để giúp học sinh "được hoạt động trong môi trường giao tiếp dưới sự

hướng dẫn của thầy " để "các em chiếm lĩnh chúng bằng chính hoạt động có ý

thức của mình " ( SGV- Tiếng Việt 4- Tập 1- trang 8) giúp các em tìm hiểu, rút

ra kiến thức, nắm chắc và vận dụng vào làm bài tập và sử dụng các kiểu câu kể

Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì? cho hiệu quả Tôi đã: Chỉ đạo công tác dạy học giúp học sinh học tập đạt hiệu quả cao ở các dạng bài về câu kể trong phân môn luyện từ và câu lớp 4

III Các giải pháp chỉ đạo và tổ chức thực hiện

1.Giúp giáo viên nắm chắc phương pháp dạy học phần hình thành kiến thức kiểu câu kể.

Yêu cầu giáo viên nghiên cứu kỹ nội dung sách giáo khoa và sách giáo viên (hướng dẫn giảng dạy) nắm chắc nội dung chương trình, nội dung dạy học các dạng bài về câu kể để tìm cách dạy học phù hợp đối tượng học sinh trong các tiết dạy chính khóa

Trang 4

Yêu cầu giáo viên hệ thống hóa các bài trong chương trình lớp 4 về câu kể

17 2 Câu kể Ai làm gì? Vị ngữ trong câu kể Ai làm gì?

19 1 Chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì ?

20 1 Luyện tập về câu kể Ai làm gì?

21 2 Câu kể Ai thế nào? Vị ngữ trong câu kể Ai thế nào?

22 1 Chủ ngữ trong câu kể Ai thế nào?

24 2 Câu kể Ai là gì? Vị ngữ trong câu kể Ai là gì?

25 1 Chủ ngữ trong câu kể Ai là gì?

26 1 Luyện tập về câu kể Ai là gì?

Khi giáo viên nghiên cứu kỹ sách giáo khoa và hướng dẫn giảng dạy, của mục tiêu của từng bài dạy, áp dụng vào các tiết học chính khóa của chương trình, đối tượng học sinh lớp dạy để đưa ra phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp cho từng đối tượng học sinh trong lớp Chẳng hạn như trong phần ngữ liệu ở bài tập nhận xét, giáo viên có thể đưa thêm ví dụ để học sinh tìm hiểu, từ đó học sinh rút ra ghi nhớ một cách đầy đủ và dễ dàng hơn; hoặc là giáo viên thay đổi câu hỏi, thay đổi cách hỏi, thay đổi từ ngữ trong câu hỏi cho phù hợp với nhận thức của học sinh để học sinh dễ hiểu, hiểu đúng và tìm hiểu bài tích cực Sau khi đã rút ra ghi nhớ có thể cho những học sinh tiếp thu bài nhanh lấy thêm ví dụ, phân tích ví dụ để tất cả học sinh có thể khắc sâu hơn nội dung kiến thức vừa học

Các bài học phần câu kể có cấu tạo của bài học lí thuyết gồm ba phần:

I Nhận xét; II Ghi nhớ; III Luỵên tập

Phần nhận xét trong các dạng bài về câu kể thường có cấu cấu trúc là tổ hợp

các bài tập mà bài tập 1 là nội dung ngữ liệu dạy học, các bài 2,3,4 yêu cầu học sinh phân tích ngữ liệu để tự rút ra kiến thức Cách tổ chức hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu qua làm các bài tập này khác cách tổ chức cho học sinh làm bài tập phần luyện tập thực hành đó là: Tổ chức cho học làm bài tập dưới sự gợi

mở, dẫn dắt của giáo viên qua các bước:

Bước 1: Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập

+ Hai học sinh đọc to yêu cầu bài tập - Lớp đọc thầm

+ Hỏi để học sinh nêu lại yêu cầu của bài tập

+ Giáo viên giải thích cho rõ thêm yêu cầu của bài tập

+ Tổ chức cho học sinh làm mẫu một phần của bài tập (nếu cần).

Bước 2: Tổ chức cho học sinh làm bài tập bằng các hình thức:

+ Cá nhân

+ Trao đổi theo nhóm, theo cặp

Trang 5

Bước 3: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả bằng nhiều hình thức.

Sau khi mỗi học sinh, nhóm học sinh báo cáo kết quả, giáo viên cần đặt câu hỏi: Em nào có ý kiến khác? Để giáo viên nắm được cách hiểu của học sinh từ

đó có biện pháp dẫn dắt các em đi đúng hướng, cuối cùng giáo viên chốt lại ý kiến đúng mà học sinh đã nêu rồi ghi bảng, tiếp đó giáo viên hỏi để học sinh tự nêu được ghi nhớ

2 Giúp giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện phần nhận xét một cách linh hoạt, có sáng tạo để từ đó học sinh tự tìm ra kiến thức cần nắm được và rút ra ghi nhớ bằng cách: Phân tích tốt ngữ liệu, khai thác ngữ liệu, khái quát vấn đề để rút ra ghi nhớ.

Để thực hiện hướng dẫn học sinh lớp 4 phân tích ngữ liệu và tự rút ra được nội dung bài học ở phần ghi nhớ (Học sinh tìm hiểu và tự chiếm lĩnh kiến thức) rất cần bài tập phần phân tích ngữ liệu đảm bảo:

- Ngữ liệu đầy đủ, ngắn gọn, chính xác để học sinh có thể từ đó rút ra ghi nhớ

- Hệ thống câu hỏi tường minh để học sinh trả lời theo đúng mục đích câu hỏi

- Nội dung ghi nhớ phải đầy đủ với nội dung kiến thức học sinh đã tìm hiểu Tuy nhiên phần phân tích ngữ liệu của 12 tiết trong các dạng bài về câu kể không phải bài nào sách giáo khoa cũng trình bày đạt các yêu cầu trên Chính vì vậy ở các tiết này giáo viên và học sinh còn thấy có nhiều khó khăn vướng mắc

và đôi khi lúng túng Do đó tôi đã chỉ đạo giáo viên mạnh dạn điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng học sinh lớp 4 và nhận thức của học sinh trường mình

2.1 Bổ sung thêm hoặc thay đổi một số ngữ liệu trong bài tập 1 của phần

nhận xét đã đưa ra để đảm bảo ngữ liệu đầy đủ, chính xác giúp học sinh tìm hiểu phân tích rồi tự rút được ghi nhớ hoàn chỉnh

Đổi mới phương pháp dạy học, người thầy đóng vai trò là người tổ chức, dẫn dắt còn học sinh là người tìm tòi, tự chiếm lĩnh kiến thức bằng chính các hoạt động của các em Chính vì vậy để các em có thể nhận xét và tự rút ra nội dung ghi nhớ trong các tiết dạng bài “lí thuyết” một cách tự nhiên, đầy đủ mà không mang tính áp đặt thì tôi thấy ngữ liệu đưa ra cần đầy đủ, chính xác Phần ngữ liệu trong sách giáo khoa đưa ra thường là một đoạn văn, đoạn thơ để học

sinh có thể tìm hiểu luyện từ và câu trong đoạn( trong văn cảnh) Tuy nhiên các

ngữ liệu này thường không đầy đủ nội dung kiến thức cần chuyển tải tới học sinh theo nội dung ghi nhớ- đó chính là mục tiêu cần đạt được của tiết học Nếu giáo viên cứ để học sinh tìm hiểu theo như các ngữ liệu mà sách giáo khoa đã đưa ra ở một số tiết và yêu cầu học sinh rút ra ghi nhớ thì các em chỉ nêu được một, hai phần của ghi nhớ mà không nêu được đầy đủ như nội dung ghi nhớ trong sách giáo khoa và sau đó giáo viên cho học sinh đọc phần ghi nhớ hoặc giáo viên bổ sung cho đầy đủ thì làm như vậy tôi cho là đã áp đặt một phần đối với học sinh

Chính vì vậy, để đảm bảo dạy học theo tinh thần đổi mới, làm cho học sinh

dễ hiểu, tự chiếm lĩnh được kiến thức thông qua thực hành rèn luyện kĩ năng tôi

đã mạnh dạn chỉ đạo cho giáo viên khi dạy các bài này cần đầu tư tìm hiểu kĩ và

Trang 6

bổ sung thêm hoặc thay đổi một số ngữ liệu trong bài tập 1 của phần nhận xét đã đưa ra cho phù hợp để đảm bảo ngữ liệu đầy đủ, chính xác giúp học sinh tìm hiểu phân tích rồi tự rút được ghi nhớ hoàn chỉnh như sau:

*Phần ngữ liệu trong bài tập 1- Trang 166 TV 4 – Tập 1- Bài: Câu kể Ai làm gì?

Trên nương, mỗi người một việc Người lớn đánh trâu ra cày Các cụ già nhặt cỏ, đốt lá Mấy chú bé bắc bếp thổi cơm Các bà mẹ tra ngô Các em bé ngủ khì trên lưng mẹ Lũ chó sủa om cả rừng.

Theo Tô Hoài

Đoạn văn trên thiếu ví dụ về chủ ngữ trả lời câu hỏi: Cái gì?

Sau khi làm hết các bài tập phần nhận xét tôi đưa ra thêm một ví dụ nữa:

Ví dụ : Chiếc quạt quạt mát cho bé ngủ.

Để học sinh phân tích, làm rõ chủ ngữ trả lời cho câu hỏi Cái gì? (Chiếc

quạt), sau đó mới đưa ra các câu hỏi gợi mở để học sinh rút ra ghi nhớ một cách hoàn chỉnh

* Phần ngữ liệu trong bài tập 1- Trang 6 tập 2- Bài: Chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì?

Một đàn ngỗng vươn dài cổ, chúi mỏ về phía trước, định đớp bọn trẻ Hùng đút vội khẩu súng gỗ vào túi quần, chạy biến Thắng mếu máo nấp vào sau lưng Tiến Tiến không có súng, cũng chẳng có kiếm Em liền nhặt một cành xoan, xua đàn ngỗng ra xa Đàn ngỗng kêu quàng quạc, vươn cổ chạy miết.

Theo Tiếng Việt 2, 1988

Đoạn văn trên thiếu ví dụ về chủ ngữ là đồ vật, cây cối được nhân hoá

Vậy sau khi làm hết các bài tập phần nhận xét tôi đưa ra thêm hai ví dụ nữa :

Ví dụ : a Cây bàng gọi chim về ríu rít.

b Anh bút chì làm việc miệt mài giúp tôi được điểm tốt

Để học sinh phân tích sau đó mới đưa ra các câu hỏi gợi mở để học sinh rút

ra ghi nhớ một cách hoàn chỉnh

* Phần ngữ liệu trong bài tập 1- Trang 57- Tuần 24- Tập 2- Bài: Câu kể Ai

là gì?

Hôm ấy, cô giáo dẫn một bạn gái vào lớp và nói với chúng tôi: “Đây là Diệu Chi, bạn mới của lớp ta Bạn Diệu Chi là học sinh cũ của Trường Tiểu học Thành Công Bạn ấy là một họa sỹ nhỏ đấy Các em hãy làm quen với nhau đi.”

Cả lớp tôi vỗ tay rào rào, đón chào người bạn mới Diệu Chi bẽn lẽn gật đầu chào lại.

Tương tự như các ví dụ trên, đoạn văn trên cũng thiếu ví dụ về bộ phận trả

lời cho: Cái gì là gì ? Con gì là gì ?

Sau khi làm hết các bài tập phần nhận xét tôi đưa ra thêm hai ví dụ nữa:

Ví dụ: a Cái bút là đồ dùng học tập không thể thiếu của em

b Con trâu là động vật ăn cỏ

Để học sinh phân tích sau đó mới đưa ra các câu hỏi gợi mở để học sinh rút

ra ghi nhớ một cách hoàn chỉnh

* Phần ngữ liệu trong bài tập 1- Trang 61- Tuần 24- Tập 2- Bài : Vị ngữ

Trang 7

trong câu kể Ai là gì ? cũng thiếu ví dụ về vị ngữ là danh từ

Một chị phụ nữ nhìn tôi cười, hỏi:

- Em là con nhà ai mà đến giúp chị chạy muối thế này?

- Em là cháu bác Tự Em về làng nghỉ hè.

Nguyễn Thị Ngọc Tú

Sau khi làm hết các bài tập phần nhận xét tôi đưa ra thêm một ví dụ nữa :

Ví dụ: Mẹ em là giáo viên.

để học sinh phân tích sau đó mới đưa ra các câu hỏi gợi mở để học sinh rút ra ghi nhớ một cách hoàn chỉnh

* Phần ngữ liệu trong bài tập 1- Trang 68- TV 4 – Tập 2- Bài : Chủ ngữ

trong câu kể Ai là gì ? :

a Ruộng rẫy là chiến trường

Cuốc cày là vũ khí

Nhà nông là chiến sĩ

Hậu phương thi đua với tiền phương

Chưa đảm bảo dấu hiệu của câu: Đầu câu viết hoa, cuối câu có dấu chấm Trong khi chúng ta đang dạy kiến thức về câu cho học sinh vì vậy cần đảm bảo câu chính xác cả về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp

Tôi thay đổi các câu làm ngữ liệu như sau:

a Thước kẻ, bút mực là đồ dùng học tập không thể thiếu

b Kim Đồng và các bạn anh là những đội viên đầu tiên của đội ta

Thêm ví dụ về con gì là gì ?

c Khỉ con là loài vật rất thông minh

Để học sinh phân tích sau đó mới đưa ra các câu hỏi gợi mở để học sinh rút

ra ghi nhớ một cách hoàn chỉnh

2.2 Điều chỉnh nội dung câu hỏi bài tập trong phần nhận xét cho rõ ràng, đúng mục đích cần hỏi để học sinh dễ trả lời và trả lời đúng yêu cầu

*Bài tập 3- Trang 36- TV 4 – Tập 2- Bài: Chủ ngữ trong câu kể Ai thế nào ?

Câu hỏi như sau:

Chủ ngữ trong các câu trên biểu thị nội dung gì? Chúng do những từ ngữ

nào tạo thành?

Thay đổi câu hỏi cho học sinh dễ hiểu là:

Chủ ngữ trong các câu trên biểu thị nội dung gì? chúng do loại từ ngữ nào

tạo thành?

Tương tự với các bài tập:

* Bài tập 4- Trang 29 - TV 4 – Tập 2- Bài : Vị ngữ trong câu kể Ai thế nào ?

* Bài tập 4- Trang 171- TV 4 – Tập 1- Bài : Vị ngữ trong câu kể Ai làm gì ?

Trong thực tế dạy học các tiết này trên lớp nếu những câu hỏi trên chưa

được thay đổi từ những bằng từ loại như tôi đã gạch chân ở trên thì học sinh sẽ

không hiểu đúng ý muốn hỏi của câu hỏi, câu trả lời của các em là nêu lại những

từ ngữ tạo thành chủ ngữ hoặc vị ngữ Sau khi thay đổi một từ hoặc thêm một từ như trên thì các em đã trả lời trúng ngay mục đích muốn hỏi

Trang 8

3 Giúp giáo viên giúp học sinh nắm vững khái niệm câu kể, ghi nhớ về

từng dạng câu kể.

3.1 Dạy nắm vững khái niệm câu kể.

Sau khi học xong, tất cả học sinh đều thuộc ghi nhớ về khái niệm câu kể nhưng để hiểu và nắm vững khái niệm câu kể thì chỉ có những học sinh tiếp thu nhanh mới đạt được Vì vậy, để giúp học sinh hiểu chắc chắn khái niệm câu kể thì ngay từ bài học dạy khái niệm về câu kể giáo viên phải giúp hộc sinh phân tích tốt ngữ liệu

Đoạn văn ngữ liệu (bài tập 1) trang 161 – Tiếng Việt 4 – tập 1 có 3 câu kể

và 1 câu hỏi

Bu-ra-ti-nô là một chú hề bằng gỗ Chú có cái mũi rất dài Chú người gỗ được bác rùa tốt bụng Tooc-ti-na tặng cho chiếc chìa khóa vàng để mở một kho

báu Nhưng kho báu đó ở đâu?

Từ sự phân tích đoạn ngữ liệu này giáo viên giúp học sinh phát hiện và so sánh đặc điểm của câu hỏi với các câu còn lại bằng cách gợi mở để học sinh phát hiện đặc điểm của kiểu câu mới Từ đó rút ra nội dung so sánh giữa câu hỏi

và câu kể bằng bảng so sánh sau:

Dùng để hỏi những điều chưa

biết

Dùng để kể, tả hoặc giới thiệu về sự vật nói lên ý kiến, tâm tư, tình cảm của mỗi người

Cuối câu hỏi có dấu chấm hỏi (?) Cuối câu kể có dấu chấm (.)

Trang 9

Khi đọc, giọng bình thường Khi đọc, cần cao giọng ở cuối câu

VD: Những kho báu ấy ở đâu? VD: Bu-ra-ti- nô là một chú bé người gỗ

Từ sự so sánh đó, học sinh rút ra kết luận về câu kể, giáo viên chốt lại và khắc sâu ghi nhớ về khái niệm câu kể cho học sinh cả về nội dung và dấu hiệu hình thức

Nắm được khái niệm câu kể, giáo viên giúp học sinh hiểu câu kể thường dùng để kể, tả, giới thiệu hoặc nói lên ý kiến, tâm tư, tình cảm mỗi người Để phân biệt được các kiểu câu kể, trước hết các em cần nắm được khái niệm câu

kể, xác định đúng câu kể

3.2 Phân biệt để nắm vững về từng dạng câu kể

Để xác định đúng từng dạng câu kể, trước tiên học sinh phải thuộc ghi nhớ, nhớ được những điều kiện cần thiết làm cơ sở cho việc xác định đó là dạng câu kể gì? Vì vậy, trong mỗi tiết luyện từ và câu, sau khi tổ chức cho học sinh khai thác ngữ liệu, khái quát các vấn đề, giáo viên cho học sinh tự rút ra ghi nhớ theo cách hiểu của các em Sau đó đối chiếu ghi nhớ trong sách giáo khoa để bổ sung cho đầy đủ Giáo viên gọi 2-3 học sinh nêu lại ghi nhớ đồng thời học sinh khác nhẩm thuộc, gọi học sinh nào đã thuộc ghi nhớ xung phong đọc trước lớp Giáo viên tuyên dương, khen ngợi những học sinh này

Sau khi rút ra ghi nhớ, giáo viên hỏi, học sinh nêu và giáo viên tóm tắt nội dung cần ghi nhớ như sau:

Câu kể Ai làm gì?

(gồm 2 bộ phận)

Trang 10

Chủ ngữ Vị ngữ

(Trả lời câu hỏi Ai (cái gì? con gì?) (Trả lời câu hỏi làm gì?)

Ở các tiết học tăng buổi ở buổi thứ 2 về môn Tiếng Việt, giáo viên dành thời gian tổ chức luyện tập, ôn tập cho học sinh khoảng 2 tiết về phần câu kể, giúp học sinh phân biệt để khắc sâu hiểu biết về kiểu câu kể trên cơ sở so sánh

với kiểu câu hỏi Khắc sâu từng dạng câu kể Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?

bằng cách so sánh chi tiết điểm giống nhau và khác nhau của 3 dạng câu này về cấu trúc, về dấu hiệu, về từ loại sử dụng và về nội dung ý nghĩa của từ trong câu

Câu kể Ai làm gì? Câu kể Ai thế nào? Câu kể Ai là gì?

Gồm 2 bộ phận Gồm 2 bộ phận Gồm 2 bộ phận

Chủ ngữ Vị ngữ Chủ ngữ Vị ngữ Chủ ngữ Vị ngữ (trả lời Ai (trả lời (trả lời (trả lời (trả lời Ai? (trả lời (con gì?, câu hỏi Ai (con gì? câu hỏi (con gì? câu hỏi cài gì?) làm gì?) cái gì?) thế nào?) cái gì?) là ai, là

cái gì?)

Từ đó học sinh sẽ nhận ra ngay điểm giống nhau là: cả 3 kiểu câu kể đều có

2 bộ phận: chủ ngữ và vị ngữ; bộ phận chủ ngữ đều trả lời cho câu hỏi Ai (con gì? Cái gì?), và học sinh cũng phân biệt được điểm khác nhau là vị ngữ trong câu Ai làm gì? trả lời cho câu hỏi làm gì? Vị ngữ trong câu Ai thế nào trả lời cho

Ngày đăng: 03/07/2016, 11:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w