LỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực hiện đề tài “Phân tích hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP Xây dựng Việt nam – Chi nhánh Hà Nội”, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN MINH NGUYỆT
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Minh Nguyệt
Mã sinh viên : A19177 Chuyên ngành : Ngân hàng
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài “Phân tích hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP Xây dựng Việt nam – Chi nhánh Hà Nội”, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân trong việc tìm kiếm và nghiên cứu thì không thể không kể đến sự giúp đỡ tận tình, chu đáo từ phía nhà trường và nơi em thực tập Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến:
Giảng viên, Ths Vũ Ngọc Thắng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn đề tài Em cảm ơn thầy đã sửa chữa và bổ sung những thiếu sót của đề tài mà em đang thực hiện nhằm góp phần hoàn thiện nó Bên cạnh đó, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy,
cô trong Khoa Quản lý, Ngành Tài chính – Ngân hàng đã tổ chức buổi hướng dẫn và giải đáp thắc mắc cho những sinh viên làm khỏa luận tốt nghiệp
Do kiến thức về chuyên môn và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên bài khóa luận sẽ không tránh khỏi thiếu sót Em mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô để
đề tài hoàn thiện hơn
Cuối cùng, em xin cảm ơn các anh, chị, cán bộ nhân viên trong ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội đã giúp đỡ, cung cấp những thông tin, số liệu cần thiết và tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành đề tài
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 07 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Minh Nguyệt
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Hà Nội, ngày 06 tháng 07 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Minh Nguyệt
Trang 5MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO CHƯƠNG 1.
LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Ngân hàng thương mại 1
1.1.2 Những hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại 1
1.1.3 Hoạt động quản trị rủi ro trong ngân hàng thương mại 2
1.2 Tổng quan về rủi ro và rủi ro lãi suất của Ngân hàng th ương mại 2
1.2.1 Tổng quan về rủi ro của Ngân hàng thương mại 2
1.2.2 Rủi ro lãi suất 4
1.2.3 Các loại rủi ro lãi suất 5
1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất 6
1.2.5 Đo lường rủi ro lãi suất 8
1.3 Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng th ương mại 12
1.3.1 Khái niệm và sự cần thiết của quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại 12
1.3.2 Nội dung hoạt động quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại 12
1.3.3 Các phương pháp quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng thương mại 14
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng thương mại 22
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI CHƯƠNG 2 SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TMCP XÂY DỰNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI 26
2.1 Khái quát về ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà nội 26
2.1.1 Giới thiệu chung về ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam 26
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội 27
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và tình hình nhân sự trong ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội 28
2.1.4 Hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng TMCP Xây dựng VN – Chi nhánh Hà Nội 31
2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Xây dựng VN – CN Hà Nội 31
2.2.1 Kết quả hoạt động huy động vốn 31
Trang 62.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh 35
2.3 Phân tích thực trạng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội 37
2.3.1 Một số quy định trong về thời hạn định lại lãi suất thực tế 37
2.3.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn 38
2.3.3 Tình hình sự biến động của nợ phải trả nhạy cảm với lãi suất 42
2.3.4 Phân tích cơ cấu tài sản 46
2.3.5 Tình hình sự biến động của tài sản có nhạy cảm với lãi suất 47
2.3.6 Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội 50
2.4 Nghiên cứu, dự báo mức thay đổi của lãi suất 56
2.4.1 Tình hình lãi suất trên thị trường 56
2.4.2 Công tác nghiên cứu, dự báo biến động lãi suất của chi nhánh 57
2.5 Đánh giá hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội 57
2.5.1 Kết quả đạt được trong hoạt động quản trị rủi ro lãi suất 57
2.5.2 Những mặt còn tồn tại trong hoạt động quản trị rủi ro lãi suất 58
2.5.3 Nguyên nhân 59
CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ CHƯƠNG 3 RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG TMCP XÂY DỰNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI 62
3.1 Định hướng phát triển của ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam 62
3.2 Định hướng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam 63
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội 64
3.3.1 Các yếu tố bên ngoài 64
3.3.2 Các yếu tố bên trong 67
3.4 Các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội 69
3.4.1 Nâng cao nhận thức về quản trị rủi ro lãi suất 69
3.4.2 Hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro lãi suất 69
3.4.3 Xây dựng hệ thống giám sát, dự báo lãi suất, nhận biết và cảnh báo sớm rủi ro lãi suất 71
3.4.4 Lựa chọn mô hình đo lường rủi ro lãi suất và phương pháp quản trị rủi ro lãi suất phù hợp 72
Trang 73.4.5 Đa dạng hóa các nghiệp vụ kinh doanh của Chi nhánh nhằm tăng tỷ trọng
nguồn thu nhập từ các hoạt động không chịu sự tác động của lãi suất 73
3.4.6 Nâng cao chất các sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng góp phần đa dạng hóa cấu trúc thời hạn của lãi suất và hạn chế rủi ro lãi suất 74
3.4.7 Hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin và nguồn nhân lực 74
3.5 Một số kiến nghị 76
3.5.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 76
3.5.2 Kiến nghị đối với NHNN 77
3.5.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam 78
KẾT LUẬN
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
NHNN VN Ngân hàng nhà nước Việt Nam
NIM Hệ số thu nhập lãi cận biên
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỀU ĐỒ
Bảng 1.1: Bảng tính hệ số rủi ro lãi suất 13
Bảng 2.1: Tình hình trình độ lao động tại Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – chi nhánh Hà Nội 30
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn qua các năm 2012 - 2014 32
Bảng 2.3: Tình hình sử dụng vốn qua các năm 2012 - 2014 33
Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh các năm 2012 - 2014 35
Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh các năm 2012 - 2014 39
Bảng 2.6: Cơ cấu nguồn vốn huy động của chi nhánh các năm 2012-2014 41
Bảng 2.7: Tình hình nợ phải trả nhạy cảm với lãi suất của chi nhánh các năm 2012 - 2014 43
Bảng 2.8: Tình hình tài sản của chi nhánh các năm 2012 - 2014 46
Bảng 2.9: Tình hình tài sản có nhạy cảm với lãi suất của chi nhánh các năm 2012 -2014 48
Bảng 2.10: Phân tích trạng thái nhạy cảm với lãi suất tại chi nhánh các năm 2012 - 2014 51
Bảng 2.11: Phân tích sự thay đổi của thu nhập ròng nếu lãi suất giảm 1% 54
Bảng 2.12: Phân tích sự thay đổi của thu nhập ròng nếu lãi suất tăng 1% 55
Bảng 2.13: Tình tình thu nhập lãi thuần của chi nhánh 55
Sơ đồ 1.1: Quy trình quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại 13
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP XDVN Chi nhánh Hà Nội 28
Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động vốn qua các năm 2012 - 2014 32
Biểu đồ 2.2: Diễn biến lợi nhuận trước thuế các năm 2012 - 2014 36
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh các năm 2012 - 2014 39
Biểu đồ 2.4: Tiền gửi của khách hàng có thời hạn định lại lãi suất trên 1 tháng và dưới 12 tháng của chi nhánh các năm 2012 - 2014 45
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong hoạt động kinh doanh là điều không thể tránh khỏi, nhất lả đối với các ngân hàng Ngân hàng là một trong những đối tượng
có khả năng gặp rủi ro cao nhất và cũng gây ảnh hưởng lớn nhất đến toàn bộ nền kinh
tế khi ngân hàng gắp phải rủi ro Trong khi đó, sự phát triển của hệ thống ngân hàng lại rất quan trọng đối với nền kinh tế Bởi vậy công tác quản trị các loại hình rủi ro trong ngân hàng ngày càng được chú trọng và phát triển hơn, cùng với đó là sự ra đời của các công nghệ, khoa học và các công cụ quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Các ngân hàng tại Việt Nam đã không còn xa lạ trong việc áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro và các công cụ đo lường rủi ro hiện đại Tuy nhiên việc quản trị rủi ro của các ngân hàng vẫn còn rất hạn chế, tồn tại nhiều khó khăn cần giải quyết và vẫn chưa đạt được hiệu quả mong muốn Bên cạnh đó một trong số các loại rủi ro cần ngân hàng phải quan tâm theo dõi chặt chẽ hơn là rủi ro lãi suất bởi tính chất bất ổn định của lãi suất thị trường và quy mô ảnh hưởng của nó lên kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng là rất lớn
Lãi suất trên thị trường ở Việt Nam luôn luôn có biến động khác nhau theo từng thời kỳ và đây là vấn đề được quan tâm rất nhiều và gây ảnh hưởng lên mọi đối tượng trong nền kinh tế Cho nên quản trị rủi ro lãi suất cần được xem là một vấn đề quan trọng và cần thiết phải được quan tâm, theo dõi sát sao để ngân hàng có thể điều chỉnh kịp thời theo biến động thị trường nhằm giảm thiểu tổn thất không đáng có từ rủi ro lãi suất
Với những lý do trên, em xin chọn đề tài “Phân tích hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP Xây dựng Việt nam – Chi nhánh Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề cơ bản sau:
Làm sáng tỏ và hệ thống hóa một số điểm cơ bản về cơ sở lý luận trong hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng thương mại
Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh và hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội Từ đó đưa ra những mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân của chúng trong công tác quản trị rủi ro này của chi nhánh
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro lãi suất có thể áp dụng trong thực tiễn và phù hợp với định hướng chung của ngân hàng cho ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về thực trạng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội Qua đó, đưa
ra những kết quả đạt được và tồn tại của chi nhánh trong hoạt động này Đồng thời từ
đó đưa ra giải pháp và kiến nghị giúp chi nhánh khắc phục và hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro lãi suất
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh với hệ thống sơ đồ, bảng biểu và số liệu thực tế trong hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội để trình bày các nội dung
lý luận và thực tiễn
5 Kết cấu khóa luận
Nội dung chính của khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
Trang 12CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO CHƯƠNG 1.
LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại
Khái niệm và đặc điểm của Ngân hàng thương mại
1.1.1.
a) Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình Ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo qui định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận Trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh và cung ứng thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ như: nhận tiền gửi, cung cấp dịch vụ tín dụng, dịch
vụ thanh toán”
Có thể hiểu ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác có liên quan, được thành lập theo quy định của pháp luật và hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn có thể coi như vừa là trung gian luân chuyển tài sản từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, vừa là trung gian cung cấp các dịch vụ thanh toán, môi giới và tư vấn Trong đó, huy động vốn và cho vay là chức năng cơ bản của ngân hàng
b) Đặc điểm của Ngân hàng thương mại
Thứ nhất, ngân hàng thương mại là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ vì mục tiêu lợi nhuận
Thứ hai, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro
Thứ ba, ngân hàng thương mại kinh doanh mang tính hệ thống cao và chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Nhà nước
Thứ tư, sự tồn tại của ngân hàng thương mại phụ thuộc nhiều vào sự tin tưởng của khách hàng
Nhìn chung, ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế đặc biệt, có vai trò quan trọng không chỉ với riêng doanh nghiệp mà còn đối với sự phát triển nền kinh tế của đất nước
Những hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại
1.1.2.
a) Hoạt động huy động vốn:
Ngân hàng thương mại tiến hành huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế dưới các hình thức khác nhau như:
Nguồn tiền gửi: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn
Nguồn đi vay: vay Ngân hàng Nhà nước, vay các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường
Trang 13b) Hoạt động tín dụng
Cho vay là một trong số các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng, cho vay được phân thành nhiều loại theo các tiêu chí khác nhau như: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay tài trợ dự án; cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn
Bên cạnh đó còn có các hình thức khác như chiết khấu, bao thanh toán, bảo lãnh, cho thuê tài chính
c) Hoạt động trung gian:
Các hoạt động trung gian bao gồm: thanh toán hộ, chuyển tiền, đổi tiền, thu hộ,
mở L/C, cung cấp thông tin về kinh doanh, đầu tư và quản trị doanh nghiệp, quản lý hộ tài sản…
d) Hoạt động khác
Ngoài ra trong ngân hàng thương mại còn có các hoạt động khác liên quan đến việc quản lý và thực hiện trong ngân hàng như: hoạt động ngân quỹ, quản lý ngoại tệ, đầu tư và mua cổ phần, hoạt động quản trị rủi ro, hoạt động giám sát và điều hành
Hoạt động quản trị rủi ro trong ngân hàng thương mại
1.1.3.
Từ những năm trước đây, vấn đề quản trị rủi ro đã được các chuyên gia trong nước và quốc tế nhắc đến Thậm chí, đã có nhiều dự án hỗ trợ kỹ thuật để cải thiện hệ thống quản trị rủi ro tại các ngân hàng nhưng kết quả chưa cao Một trong những nguyên nhân là hầu hết các ngân hàng chỉ chủ yếu chú trọng rủi ro tín dụng mà xem nhẹ công tác quản trị các loại rủi ro khác Mà trên thực tế, rủi ro ngân hàng khá đa dạng: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro danh tiếng, rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động, rủi ro tập trung
Do vậy, các ngân hàng thương mại cần phải chú trọng hơn trong việc quản trị các loại rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải Mỗi ngân hàng đều phải tuân thủ quy định, quy trình và ý thức được trách nhiệm đánh giá, phát hiện sớm rủi ro và tìm cách ngăn ngừa các rủi ro phát sinh Hoạt động quản trị rủi ro nên thức hiện một cách chặt chẽ, chính xác, liên tục và trải dài trên toàn bộ hệ thống trong ngân hàng Quản trị rủi
ro cần được thực hiện bởi cả hệ thống, chứ không phải là trách nhiệm riêng của khối quản trị rủi ro trong ngân hàng
1.2 Tổng quan về rủi ro và rủi ro lãi suất của Ngân hàng th ương mại
Tổng quan về rủi ro của Ngân hàng thương mại
1.2.1.
a) Khái niệm rủi ro của Ngân hàng thương mại
Rủi ro là một yếu tố khách quan, con người không thể loại trừ hay kiểm soát được hết mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện cũng như mức độ thiệt hại do chúng gây
ra Nó có thể xuất hiện trong mọi ngành, mọi lĩnh vực và mang đến những tổn thất vô cùng to lớn Cho đến nay, trên thế giới vẫn chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi
Trang 14ro Có rất nhiều những định nghĩa về nó, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai quan điểm sau:
Theo quan điểm truyền thống: rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người
Theo quan điểm hiện đại: rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội Nếu chúng ta tích cực phân tích, tìm hiểu rủi ro thì ngoài việc tránh được những tổn thất không đáng
có còn mang lại được những thời cơ tốt đẹp đến từ tương lai
Từ những quan điểm trên, ta thấy tuy mang cả tính tích cực lẫn tiêu cực nhưng rủi ro lại khó kiểm soát và luôn song hành với mọi hoạt động kinh doanh Vì vậy đối với ngân hàng thương mại, trong những hoạt động của nó sẽ luôn tồn tại và ẩn chứa những rủi ro đe dọa
Theo dự thảo thông tư quy định về hệ thống quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng: “Rủi ro trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là khả năng xảy ra tổn thất là giảm thu nhập, vốn chủ sở hữu hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ”
Ngoài ra, theo tài liệu SSC (State Security Commission of Viet Nam) cung cấp
sử dụng trong hội thảo “Quản trị rủi ro đối với Ngân hàng thương mại” tại thành phố
Hồ Chí Minh ngày 4-5/8/2006 thì định nghĩa: “Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là khả năng một hành động hoặc một sự kiện nào đó có thể đem lại những kết quả bất lợi ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập hay nguồn vốn của tổ chức hoặc tạo ra các trở ngại ngăn cản tổ chức tiếp tục kinh doanh và tận dụng cơ hội tạo ra lợi nhuận”
Rủi ro của Ngân hàng thương mại không khác quá nhiều so với rủi ro của các loại hình tổ chức kinh doanh khác nhưng vẫn mang những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ tính đặc thù trong hoạt động ngân hàng Những rủi ro trong Ngân hàng thương mại được phân ra làm nhiều loại khác nhau
b) Phân loại rủi ro của Ngân hàng thương mại
Những rủi ro chủ yếu mà Ngân hàng thương mại có thể gặp phải bao gồm: Rủi
ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro danh tiếng, rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động và rủi ro tập trung
Rủi ro tín dụng: là rủi ro do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết với bên cấp tín dụng
Trang 15 Rủi ro thị trường: là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán và giá hàng hóa trên thị trường gây ra Rủi ro thị trường bao gồm: rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và rủi ro giá
Rủi ro hoạt động: là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc
có sai xót; do con người; do các hệ thống hoặc các yếu tố bên ngoài
Rủi ro danh tiếng: là rủi ro do khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tư hoặc công chúng có phản ứng tiêu cực về mức độ tín nhiệm của ngân hàng
Rủi ro chiến lược: là rủi ro do ngân hàng không ứng phó kịp thời trước các thay đổi của môi trường kinh doanh; do các chiến lược, chính sách kinh doanh sai lầm hoặc
do thực hiện không đúng các chiến lược, chính sách kinh doanh của ngân hàng
Rủi ro thanh khoản: là rủi ro do ngân hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ tài chính hoặc ngân hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn những phải chịu tổn thất lớn để thực hiện nghĩa vụ đó
Rủi ro tập trung: là rủi ro do ngân hàng tập trung tín dụng hoặc hoạt động kinh doanh khác vào một hoặc một số đối tác, khách hàng, lĩnh vực kinh doanh, địa bàn ở mức độ có thể ảnh hưởng đến an toàn hoặt động hoặc làm giảm khả năng duy trì các hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng
Do đặc điểm đặc thù của hoạt động ngân hàng cho nên hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro Khi rủi ro xảy ra có thể gây ra tổn thất to lớn, gây ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận của ngân hàng và thậm chí làm tê liệt toàn bộ hoạt động của ngân hàng Cũng chính vì vậy mà hoạt động quản trị rủi ro đóng một vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản trị ngân hàng hiện đại Một trong các loại rủi
ro quan trọng cần đặc biệt để ý của ngân hàng là rủi ro lãi suất Ở đây ta sẽ đi vào tìm hiểu về rủi ro lãi suất để phục vụ cho công tác quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng
Rủi ro lãi suất
1.2.2.
Trong hoạt động kinh doanh, các Ngân hàng thương mại luôn phải đối mặt với rất nhiều rủi ro và một trong những rủi ro đặc thù của ngân hàng thương mại là rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là rủi ro về mặt tài chính của ngân hàng đối với những biến động bất lợi về lãi suất Rủi ro lãi suất tại các Ngân hàng thương mại là rủi ro thua lỗ/lợi nhuận do sự thay đổi của lãi suất trong các khoảng thời kỳ mà tại các thời kỳ đó các tài sản và nguồn vốn được định giá khác nhau Rủi ro về lãi suất thường xảy ra khi có sự biến động lớn về lãi suất đầu vào và đầu ra, sự chênh lệch giữa các mức lãi suất huy động lớn cũng như chênh lệch giữa các kỳ hạn huy động và kỳ hạn đầu tư, cho vay ra thị trường
Theo Timothy W.Koch: “Rủi ro lãi suất là sự thay đổi tiềm tàng về thu nhập lãi ròng và giá thị trường của vốn ngân hàng xuất phát từ sự thay đổi của mức lãi suất”
Trang 16Khái niệm này chỉ rõ bản chất của rủi ro lãi suất hơn Quá trình chuyển hoá tài sản được coi như một chức năng đặc biệt cơ bản của hệ thống ngân hàng Quá trình này bao gồm việc huy động vốn và sử dụng vốn Kỳ hạn, mức độ thanh khoản và giá trị của các khoản trong danh mục đầu tư thuộc tài sản có thường không cân xứng với các khoản mục thuộc nợ phải trả Chính sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và
nợ phải trả này làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro giảm lợi nhuận khi lãi suất trên thị truờng biến động Như vậy, nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản có và nợ phải trả với những kỳ hạn không cân xứng với nhau, thì phải chịu những rủi ro lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản có và nợ phải trả; hoặc rủi ro lãi suất do giá trị của tài sản thay đổi khi lãi suất thị trường biến động
Rủi ro lãi suất là một loại rủi ro cơ bản, luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại nên việc xây dựng một chương trình quản lý rủi ro lãi suất là công việc rất quan trọng trong công tác quản lý rủi ro của các ngân hàng thương mại hiện nay Nếu không có sự quan tâm thích đáng đến việc quản lý rủi ro lãi suất, không dự báo được xu hướng biến động của lãi suất thì các ngân hàng thương mại có thể bị thiệt hại nặng nề từ loại rủi ro này
Các loại rủi ro lãi suất
1.2.3.
a) Rủi ro thu nhập
Khi lãi suất trên thị trường có sự biến động sẽ gây ra rủi ro làm giảm thu nhập lãi ròng của ngân hàng Đây là sự rủi ro mà sự thay đổi của lãi suất sẽ khiến các chi phí về huy động vốn và các khoản lãi thu được từ các khoản cho vay thay đổi những lượng khác nhau Điều này khiến cho thu nhập của ngân hàng bị thay đổi theo
Trong đó, thời hạn của nguồn vốn mà ngân hàng huy động được và thời hạn của các khoản cho vay, đầu tư của ngân hàng sẽ quyết định tính chất rủi ro mà ngân hàng phải đương đầu Dựa vào tính chất rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt, ta có thể phân làm 2 loại rủi ro sau:
Rủi ro tái tài trợ (Refinancing risk): Khi kỳ hạn của tài sản cho vay, đầu tư của ngân hàng dài hơn kỳ hạn của vốn huy động, nếu lãi suất thị trường tăng sẽ làm cho chi phí tái huy động vốn cao hơn khoản tiền lãi thu được Điều này gây ra rủi ro làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
Rủi ro tái đầu tư (Reinvestement Risk): Khi kỳ hạn của tài sản cho vay, đầu tư của ngân hàng ngắn hơn kỳ hạn của vốn huy động, nếu lãi suất thị trường giảm sẽ làm cho thu nhập từ lãi của các tài sản đầu tư thấp hơn chi phí tái huy động vốn Điều này dẫn đến rủi ro làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
b) Rủi ro giảm giá trị tài sản
Là rủi ro mà giá trị ròng của ngân hàng (Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu) giảm do biến động bất lợi trong giá trị thị trường của tài sản và nợ Trên thị trường, giá
Trang 17trị của tài sản có hay nợ phải trả của ngân hàng đều dựa trên giá trị hiện tại của tiền tệ
để xác định Do đó, khi lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên làm cho giá trị tài sản có và nợ phải trả giảm xuống Và ngược lại, khi lãi suất thị trường giảm thì giá trị tài sản có và nợ phải trả tăng lên Sự biến đổi của lãi suất khiến cho giá trị của tài sản có và nợ phải trả của ngân hàng thay đổi theo những lượng khác nhau làm cho giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu thay đổi Giá trị ròng của ngân hàng luôn thay đổi không ngừng và phụ thuộc vào tình hình lãi suất trên thị trường
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất
1.2.4.
a) Sự biến động của lãi suất trên thị trường
Quan hệ cung – cầu về tín dụng trên thị trường thường xuyên thay đổi cùng với nhiều yếu tố tác động qua lại làm cho lãi suất thị trường thường xuyên thay đổi và rất khó để dự báo và kiểm soát một cách chính xác Đối với những thay đổi dù nhỏ của lãi suất trên thị trường cũng sẽ gây ảnh hưởng và mang đến rủi ro cho ngân hàng:
Nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương (tức là khi giá trị tài sản có nhạy cảm với lãi suất > giá trị nợ phải trả nhạy cảm với lãi suất): thì khi lãi suất giảm sẽ làm cho thu nhập từ lãi trên tài sản giảm nhiều hơn chi phí trả lãi trên nợ phải trả, có nghĩa
là doanh thu giảm nhiều hơn chi phí, tương ứng NIM (hệ số thu nhập lãi cận biên) giảm Điều này dẫn đến rủi ro làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
Nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất âm (tức là khi giá trị tài sản có nhạy cảm với lãi suất < giá trị nợ phải trả nhạy cảm với lãi suất): Cũng tương tự như trên, ta có khi lãi suất tăng sẽ làm cho thu nhập từ lãi trên tài sản tăng ít hơn chi phí trả lãi trên nợ phải trả, có nghĩa là doanh thu tăng ít hơn chi phí, tương ứng NIM (hệ số thu nhập lãi cận biên) giảm Điều này dẫn đến rủi ro làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
Tuy nhiên, ngân hàng có thể tiến hành dự báo với một độ tin cậy nhất định và đưa ra các phương pháp điều chỉnh hành động phù hợp với từng trường hợp lãi suất trong tương lai để có thể đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất
b) Sự không phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn và tài sản
Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh cao và đầy biến động như hiện nay, các ngân hàng không có nhiều sự lựa chọn về kỳ hạn, quy mô của các khoản đầu tư
và huy động theo đúng như mong muốn của mình Chính vì vậy, luôn xuất hiện sự không phù hợp giữa về kỳ hạn giữa nguồn và tài sản Điều này làm cho khi có sự biến động lãi suất sẽ gây ra rủi ro ảnh hưởng tới ngân hàng
Đối với ngân hàng thương mại, các tài sản và nguồn vốn luôn luôn có những kỳ hạn khác nhau Ngân hàng sẽ dựa vào kỳ hạn mà đưa ra lãi suất phù hợp Để có thể giảm thiểu được rủi ro lãi suất thay đổi quá lớn mà vẫn đưa ra được nhiều dạng kỳ hạn, ngân hàng đã đưa ra kỳ hạn đặt lại lãi suất Đây là kỳ hạn mà khi kết thúc, lãi suất sẽ
Trang 18thay đổi theo lãi suất thị trường Từ đó, ngân hàng có thể chia tài sản và nguồn vốn làm hai dạng: nhạy cảm với lãi suất và kém nhạy cảm với lãi suất:
Tài sản và nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất là loại mà số dư sẽ nhanh chóng chuyển sang lãi suất mới khi lãi suất thị trường thay đổi Ví dụ: tài sản, nguồn ngắn hạn, các khoản có kỳ hạn đặt lại lãi ≤ 12 tháng, tài sản và nguồn trung, dài hạn có thời gian đáo hạn ≤ 12 tháng
Tài sản và nguồn vốn kém nhạy cảm với lãi suất là loại mà lãi suất của số dư sẽ
ít có sự biến động khi lãi suất thị trường thay đổi, thường có thời gian dài, trung hoặc dài hạn với lãi suất cố định
Sự không phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn và tài sản được đo bằng khe hở lãi suất:
Khe hở lãi suất = Tài sản nhạy cảm lãi suất – Nguồn vốn nhạy cảm lãi suất
Khe hở lãi suất của một ngân hàng có thể khác 0 hoặc bằng 0 Nếu khe hở lãi suất khác 0, tùy thuộc vào khe hở lãi suất dương hay âm thì ngân hàng sẽ gặp những rủi ro khác nhau đối với sự biến động của lãi suất thị trường Ngược lại, nếu khe hở lãi suất bằng 0 thì dù lãi suất có thay đổi thì cũng không gây ảnh hưởng đến ngân hàng
Bên cạnh đó, nếu xét thời hạn của khoản cho vay với thời hạn của nguồn mà ngân hàng huy động được để tài trợ nó, ta sẽ xác định được tính chất rủi ro mà nó đương đầu:
Nếu thời hạn cho vay > thời hạn nguồn vốn tài trợ nó, thì ngân hàng ở vị thế tái tài trợ
Nếu thời hạn cho vay < thời hạn nguồn vốn tài trợ nó, thì ngân hàng ở vị thế tái đầu tư
c) Ngân hàng sử dụng lãi suất cố định
Trong một khoảng thời gian dài trước đây, các ngân hàng thương mại luôn sử dụng chế độ lãi suất cố định theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước Chiếm phần lớn trong cơ cấu cho vay của các ngân hàng vẫn là các dự án cho vay trung và dài hạn Các
dự án này thường được xác định một mức lãi suất cố định để chủ đầu tư có thể xác định trước chi phí, doanh thu và hiệu quả của dự án trong tương lai Không những thế các khoản tiết kiệm nhỏ lẻ của người dân cũng được người gửi yêu cầu mức lãi suất cố định để tránh gặp rủi ro Chính những hợp đồng này trong tương lai sẽ mang đến rủi ro cho không chỉ ngân hàng mà cả khách hàng khi lãi suất thị trường biến đổi
d) Các nguyên nhân khách quan khác
Do sự thay đổi chính sách của Chính Phủ, Ngân hàng Nhà nước
Do sự biến động của nền kinh tế trong nước, khu vực hoặc thế giới: khủng hoảng, lạm phát, suy thoái
Trang 19 Do sự biến động về chính trị, chiến tranh
Do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, biến đổi môi trường, khí hậu
Có rất nhiều các nguyên nhân khác nhau có thể mang lại rủi ro lãi suất cho ngân hàng Cho nên ngân hàng cần tăng cường quản lý, điều chỉnh hoạt động kinh doanh sao cho có thể hạn chế tối đa các nguyên nhân này Tuy nhiên có rất nhiều những nguyên nhân mà ngân hàng không thể kiểm soát được, cho nên ngân hàng có thể dựa trên mức độ rủi ro lãi suất đo lường được theo từng trường hợp mà phân loại để quản
lý và có biện pháp phù hợp nhằm ngăn hừa rủi ro xảy ra
Đo lường rủi ro lãi suất
1.2.5.
Để phòng tránh rủi ro lãi suất, đòi hỏi ngân hàng phải tăng cường công tác quản
lý, trong đó quan trọng nhất là cần áp dụng đúng phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình lượng hóa rủi ro lãi suất đang được các ngân hàng hiện đại áp dụng là: mô hình kỳ hạn đến hạn, mô hình định giá lại và mô hình thời lượng
a) Mô hình kỳ hạn đến hạn
Mô hình kỳ hạn là một phương pháp trực quan để lượng hóa rủi ro lãi suất qua đánh giá sự cân xứng về kỳ hạn giữa Nợ phải trả và Tài sản có trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Quy tắc chung của mô hình này khi đo lường rủi ro lãi suất là:
Một sự tăng (giảm) của lãi suất thị trường đều dẫn đến một sự tăng (giảm) của giá trị tài sản (danh mục tài sản)
Khi lãi suất thị trường tăng (giảm) thì tài sản (danh mục tài sản) có kỳ hạn càng dài sẽ giảm (tăng) giá càng lớn nhưng tốc độ thiệt hại sẽ giảm dần khi kỳ hạn tăng lên
Như vậy, nếu kỳ hạn bình quân của Tài sản có dài hơn kỳ hạn bình quân của
Nợ phải trả, khi lãi suất tăng lên thì giá trị Tài sản có sẽ giảm nhiều hơn so với Nợ phải trả Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro gây ra nguy cơ mất khả năng thanh toán hoặc là mất chi phí bù đắp để giải quyết nguồn vốn
Có 2 phương pháp để lượng hóa mô hình này là: phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất đối với một tài sản và phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất đối với danh mục tài sản:
Lượng hóa rủi ro lãi suất đối với một tài sản:
Công thức tính:
Trong đó: là tỉ lệ % tổn thất của tài sản
Trang 20∆R là tỉ lệ % thay đổi của lãi suất
là giá trị thị trường của tài sản khi lãi suất thay đổi
là giá trị thị trường hiện tại của tài sản
là lãi suất sau khi thay đổi
là lãi suất hiện tại
Lượng hóa rủi ro lãi suất đối với một danh mục tài sản: Áp dụng công thức tính lượng hóa rủi ro lãi suất đối với một tài sản nhưng giá của một danh mục tài sản được tính dựa trên kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản đó Kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản được xác định:
∑ ; ∑ Trong đó: là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản có
là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục nợ phải trả
b) Mô hình định giá lại
Nội dung cơ bản của mô hình này là việc phân tích các luồng tiền dựa trên nguyên tắc giá trị ghi sổ nhằm xác định chênh lệch giữa lãi suất thu được từ Tài sản có
và lãi suất thanh toán cho vốn huy động sau một thời gian nhất định
Theo phương pháp này, các ngân hàng tính số chênh lệch giữa tài sản có và nợ phải trả đối với từng kỳ hạn và đặt chúng trong mối quan hệ với độ nhạy cảm với lãi suất của thị trường Độ nhạy cảm với lãi suất trong trường hợp này được xác định dựa trên khoảng thời gian mà tài sản có và nợ phải trả được định giá lại theo mức lãi suất mới của thị trường
Công thức để tính mức độ thay đổi thu nhập ròng khi lãi suất thay đổi như sau:
( ) Trong đó: là sự thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất của nhóm i
là chênh lệch giá trị ghi sổ giữa tài sản có và nợ phải trả
của nhóm i
Trang 21là mức thay đổi lãi suất của nhóm i
là giá trị ghi sổ tài sản có thuộc nhóm i
là giá trị ghi sổ nợ phải trả thuộc nhóm i
Cơ sở phân nhóm dựa vào mức độ biến động của thu nhập từ lãi suất (đối với tài sản có ) và chi phí trả lãi (đối với nợ phải trả) khi lãi suất thường xuyên có sự thay đổi Có thể phân chia các nhóm nợ phải trả và tài sản có theo các cách sau:
Phân chia theo tính chất nhạy cảm lãi suất: nhóm tài sản có hoặc nợ phải trả nhạy cảm với lãi suất và nhóm tài sản có hoặc nợ phải trả ít nhạy cảm với lãi suất
Phân chia theo một khung kỳ hạn nhất định: Kỳ hạn đến một ngày; trên một ngày đến 3 tháng; trên 3 tháng đến 6 tháng; trên 6 tháng đến 1 năm; trên một năm đến
5 năm; trên 5 năm Tuy nhiên cách phân chia này có thể dẫn đến sai lệch về cơ cấu giữa tài sản có và nợ phải trả trong cùng một nhóm Ví dụ trong cùng một nhóm kỳ hạn trên 3 đến 6 tháng, số lượng tài sản có và nợ phải trả là tương đương nhau nhưng nếu cơ cấu kỳ hạn của nợ phải trả là từ 3 đến 4 tháng còn của tài sản có là từ 5 đến 6 tháng, thì rõ ràng là có hiện tượng không cân xứng giữa tài sản có và nợ phải trả
Ta thấy, giả sử ngân hàng áp dụng phân chia theo tính chất nhạy cảm với lãi suất của tài sản và coi nhóm i là nhóm tài sản nhạy cảm với lãi suất Nếu chênh lệch giữa giá trị tài sản có nhạy cảm với lãi suất và giá trị nợ phải trả nhạy cảm với lãi suất
là dương (GAP > 0), thì khi lãi suất tăng dẫn đến thu nhập từ lãi suất của ngân hàng tăng, khi lãi suất giảm thu nhập sẽ giảm và ngược lại
Nhược điểm của mô hình là chỉ đề cập đến giá trị ghi sổ của tài sản mà không
đề cập đến giá trị thị trường của chúng Do đó, mô hình định giá lại chỉ phản ánh được một phần rủi ro lãi suất đối với ngân hàng Bên cạnh đó, trên thực tế các khoản tín dụng dài hạn có thể được áp dụng phương thức trả góp định kỳ hàng năm hoặc hàng quý Cho nên ngân hàng có thể tái đầu tư các khoản tiền này trong năm với mức lãi suất hiện hành trên thị trường, nghĩa là những khoản tiền này có thể được sắp xếp vào loại tài sản nhạy cảm với lãi suất
c) Mô hình thời lượng
So với hai mô hình trên, thì mô hình thời lượng hoàn hảo hơn trong việc đo mức độ nhạy cảm của tài sản có và nợ phải trả đối với lãi suất, bởi vì nó đề cập đến yếu tố thời lượng của tất cả các luồng tiền cũng như kỳ hạn đến hạn của nợ phải trả và tài sản có Thời lượng của một tài sản là thước đo thời gian tồn tại luồng tiền của tài sản này, được tính trên cơ sở các giá trị hiện tại của nó
Công thức tính trong mô hình thời lượng :
( ) ;
∑
∑
Trang 22Trong đó: là giá trị hiện tại của luồng tiền xảy ra tại thời điểm t
là luồng tiền nhận được tại thời điểm cuối kỳ t
R là mức lãi suất thị trường hiện hành (%/ năm)
n là số lần luồng tiền xảy ra trong một năm
t là thời điểm xảy ra luồng tiền (t = 1, 2, 3…, N)
D là thời lượng của tài sản
N là tổng số luồng tiền xảy ra Một số đặc điểm của mô hình thời lượng như sau:
Giữa thời lượng (D) và kỳ hạn của tài sản (M, trong đó: M = N/n): Thời lượng tăng lên cùng với kỳ hạn của tài sản có (hoặc nợ phải trả) có thu nhập cố định, nhưng với một tỷ lệ giảm dần Tức là M tăng thì D cũng tăng nhưng D tăng chậm hơn M
Giữa thời lượng (D) và mức lãi suất hiện hành (R): Khi lãi suất thị trường tăng thì thời lượng giảm
Giữa thời lượng (D) và lãi suất coupon (C): lãi suất coupon càng cao, thì thời lượng càng giảm Điều này có nghĩa là khi lãi suất coupon càng cao thì luồng tiền thu hồi càng nhanh, do đó thời lượng sẽ giảm
Thời lượng là phép đo trực tiếp độ nhạy cảm của giá trị tài sản có và nợ phải trả với lãi suất – chính là sự thay đổi của thị giá tài sản khi lãi suất thay đổi Thời lượng của tài sản càng lớn thì giá trị của tài sản càng nhạy cảm với lãi suất Cũng như vậy, giá trị thị trường của tài sản không những bị tác động bởi lãi suất thị trường mà còn chịu tác động về kỳ hạn hoàn vốn của tài sản Nếu kỳ hạn hoàn vốn ngắn thì giá trị tài sản càng ít bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi lãi suất và ngược lại
Mối quan hệ giữa sự thay đổi thị giá dP với lãi suất thị trường dR được biểu diễn theo công thức sau:
= - D
Trong đó: dP là sự thay đổi của thị giá trái phiếu
dR là sự thay đổi của lãi suất thị trường
P là giá trị hiện tại của trái phiếu (thị giá)
R là lãi suất hiện hành của thị trường (%/năm)
D là thời lượng của trái phiếu Như vậy, nếu thời lượng D càng lớn thì chỉ cần lãi suất thay đổi một lượng nhỏ cũng sẽ làm cho thị giá có sự biến động lớn Ngoài ra, khi lãi suất thay đổi thì thị giá trái phiếu biến động ngược chiều theo tỷ lệ thuận với độ lớn của thời lượng D Tức là nếu lãi suất tăng thì thị giá của trái phiếu sẽ giảm một lượng bằng D lần lượng tăng của lãi suất
Trang 23Đối với kinh doanh ngân hàng, việc sử dụng mô hình thời lượng để quản trị rủi
ro lãi suất là một giải pháp thích hợp Một chức năng quan trọng của mô hình thời lượng là cho phép ngân hàng thương mại phòng ngừa được rủi ro đối với toàn bộ hay một bộ phận riêng lẻ của bảng cân đối tài sản Tuy nhiên mô hình thời lượng là một
mô hình phức tạp, đòi hỏi nhà quản trị phải thường xuyên cơ cấu lại bảng cân đối tài sản để thời lượng của tài sản có và nợ phải trả cân xứng nhau, nhưng việc này không phải lúc nào cũng làm được Mặc dù vậy, ngày nay với việc mở rộng các nghiệp vụ trên thị trường: buôn bán vốn, chứng khoán hóa tài sản, thị trường buôn bán lại nợ
đã làm đơn giản, tăng tốc độ và giảm được chi phí giao dịch rất nhiều trong việc cơ cấu lại bảng cân đối tài sản Hơn nữa các ngân hàng cũng có thể sử dụng mô hình này thông qua các giao dịch nghiệp vụ như hợp đồng kỳ hạn, tương lai, giao dịch quyền chọn, hoán đổi mà không nhất thiết phải cơ cấu lại bảng cân đối tài sản
Cuối cùng, các ngân hàng thương mại nên lựa chọn một biện pháp đo lường rủi
ro lãi suất phù hợp với điều kiện công nghệ và thực trạng rủi ro của mình
1.3 Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng th ương mại
Khái niệm và sự cần thiết của quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng 1.3.1.
thương mại
Từ những giáo trình, sách và các công trình nghiên cứu trước đây ta có thể rút
ra được khái niệm sau: Quản trị rủi ro lãi suất chính là việc các ngân hàng giảm thiểu
và kiểm soát những tổn thất đang và sẽ gây ra đối với thu nhập của ngân hàng do biến động của lãi suất Quản trị rủi ro lãi suất là một hoạt động rất quan trọng trong chuỗi các công tác quản trị rủi ro của ngân hàng Nếu ngân hàng thương mại không thực hiện quản trị rủi ro lãi suất một cách chặt chẽ thì có thể sẽ gặp phải tổn thất lớn về thu nhập Cho nên mục tiêu quan trọng trong quản trị rủi ro lãi suất là hạn chế tới mức tối đa những tổn thất và ảnh hưởng từ biến động lãi suất đến thu nhập của ngân hàng một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục
Để đạt được mục tiêu này, các ngân hàng cần đề ra những chiến lược, chính sách hoặc sử dụng những công cụ nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro lãi suất một cách phù hợp Những phương thức quản trị rủi ro lãi suất theo phương pháp hiện đại mà các ngân hàng thương mại hiện nay đang áp dụng là: sử dụng các hợp đồng phái sinh, quản trị khe hở lãi suất, quản trị khe hở kỳ hạn
Nội dung hoạt động quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại 1.3.2.
a) Một số chuẩn mực và thông lệ quốc tế quản trị lãi suất:
Theo BIS (Bank for International Settlements) 2006, Hiệp ước vốn Basel II khuyến nghị các ngân hàng nên sử sụng mô hình VAR để xác định rủi ro lãi suất Đối với các ngân hàng không đủ điều kiện để tiến hành phân tích theo phương pháp này,
Trang 24Ủy ban đề xuất các hệ số để tính rủi ro lãi suất như sau:
Bảng 1.1: Bảng tính hệ số rủi ro lãi suất
Ủy ban cũng yêu cầu phải giám sát hoạt động quản trị rủi ro lãi suất đối với các
sổ ngân hàng và vấn đề này được nêu rõ trong trụ cột thứ 2 của Basel II Trụ cột thứ 2 như là một cảnh báo sớm đối với các nhà giám sát, trong đó các ngân hàng sẽ báo cáo
và giải thích cách tính những mô hình mà mình đã áp dụng trong tính toán các chỉ tiêu
do Ủy ban Basel yêu cầu Trong trường hợp rủi ro lãi suất mà ngân hàng gặp phải vượt quá mức trong tương quan với số vốn đủ tiêu chuẩn của ngân hàng thì các giám sát sẽ
có yêu cầu tăng mức vốn cần thiết hoặc yêu cầu giảm rủi ro mà ngân hàng đang gặp phải hoặc có thể kết hợp cả hai biện pháp Cụ thể, các giám sát đặc biệt chú ý đến các ngân hàng có rủi ro lãi suất vượt quá 20% số vốn cấp 1 và 2 Khi đó, họ phải thực hiện việc thử nghiệm về tình huống khi mà lãi suất tăng giảm 2% để xem xét tác động của
nó đến giá trị nợ phải trả và tài sản có Từ đó các giám sát viên và nhà quản trị phối hợp để có biện pháp điều chỉnh hợp lý
b) Quy trình quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại:
Như các hoạt động quản trị rủi ro thông thường khác, quy trình quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại cùng bao gồm 4 bước:
Sơ đồ 1.1: Quy trình quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại
(Nguồn: Tổng hợp từ các giáo trình quản trị rủi ro trong ngân hàng)
Nhận dạng rủi ro: rủi ro lãi suất có thể nhận biết bằng nhiều cách song cách cơ
bản nhất là xem xét chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và nợ phải trả và mức độ biến động của lãi suất trên thị trường so với lãi suất mà ngân hàng kỳ vọng
Nhận dạng
rủi ro
Đo lường rủi ro
Giám sát rủi ro
Tài trợ rủi ro
Trang 25 Đo lường rủi ro: các ngân hàng hiện tại có thể sử dụng một hoặc kết hợp 3 mô
hình lượng hóa rủi ro lãi suất sau: mô hình kỳ hạn đến hạn; mô hình định giá lại; mô hình thời lượng
Giám sát rủi ro: ngân hàng cần thiết lập và duy trì một hệ thống kiểm soát hiệu
quả, tuân thủ các chuẩn mực phân tách trách nhiệm trong điều hành Các nhân tố chính của quá trình giám sát bao gồm kiểm tra quá trình quản trị rủi ro lãi suất và những hạn mức rủi ro hiệu quả do ban điều hành của ngân hàng đề ra thông qua một số phương pháp quản trị rủi ro lãi suất hiện hành
Tài trợ rủi ro: ngân hàng cần đánh giá lại các hoạt động quản trị rủi ro lãi suất
định kỳ; giám sát tình hình rủi ro hiện tại và tiềm năng thường xuyên để đảm bảo rằng các hoạt động đều nhất quán với các mục tiêu đã đề ra và xử lý kịp thời những tổn thất xảy ra
Trên đây chỉ là các bước cơ bản nhất trong quá trình quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng thương mại Các ngân hàng cần dựa vào đó và thay đổi quy trình tùy thuộc theo đặc điểm, khả năng và tình trạng riêng của mỗi ngân hàng để hoạt động quản trị rủi ro lãi suất có thể đạt hiệu quả cao nhất Tất cả các bước trong quy trình này đều quan trọng và có liên quan mật thiết tới nhau Thực hiện đầy đủ và chính xác những bước trên, ngân hàng đã thành công một phần trong việc ngăn ngừa rủi ro trong tương lai
Các phương pháp quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng thương mại 1.3.3.
a) Sử dụng các hợp đồng phái sinh
Hợp đồng kỳ hạn:
Hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract) là một thỏa thuận giữa người mua và người bán tại thời điểm hiện tại (t = 0) rằng người mua sẽ thanh toán cho người bán theo giá kỳ hạn đã được thỏa thuận tại thời điểm t = 0 và người bán sẽ trao hàng cho người mua khi hợp đồng đáo hạn
Trang 26việc bán trái phiếu cho người mua với giá cố định đã thỏa thuận trong hợp đồng, ngân hàng sẽ tránh được thiệt hại do giá trái phiếu giảm Ngược lại, nếu ngân hàng dự báo lãi suất thị trường sẽ giảm, nhà quản trị ngân hàng có thể ký hợp đồng mua kỳ hạn các trái phiếu để thu được lợi nhuận cao hơn do không phải trả thêm phần tăng của trái phiếu
Hợp đồng kỳ hạn tiền gửi:
+
Hợp đồng kỳ hạn tiền gửi được sử dụng khi không có sự cân xứng về kỳ hạn của tài sản có và kỳ hạn nợ phải trả Huy động tiền gửi để cho vay là hoạt động dặc trung của ngân hàng, do không có sự phù hợp về kỳ hạn nên các ngân hàng thường xuyên lấy một phần nguồn ngắn hạn để cho vay với kỳ hạn dài hơn Do đó, nếu ngân hàng dự báo lãi suất sẽ tăng lên trong tương lai, để tránh khỏi rủi ro làm tăng chi phí huy động nguồn bù đắp cho khoản cho vay dài hạn, ngân hàng sẽ kỳ hợp đồng kỳ hạn tiền gửi với khách hàng Hợp đồng này là thỏa thuận khách hàng sẽ gửi tiền vào ngân hàng với mức lãi suất cố định tại thời điểm trong tương lai - khi nguồn ngắn hạn kết thúc và cần nguồn mới để tiếp tục khoản cho vay dài hạn trước đó Từ đấy, thu nhập của ngân hàng từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động là một số biết trước và chắc chắn, không phụ thuộc vào sự biến động của lãi suất thị trường
Hợp đồng lãi suất kỳ hạn:
+
Hợp đồng lãi suất kỳ hạn có đặc điểm là không có giao nhận khoản tiền gốc
mà chỉ liên quan đến phần trao đổi chênh lệch lãi suất Để tránh rủi ro thiệt hại do tăng chi phí huy động để bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho khoản vay dài hạn, ngân hàng có thể ký một hợp đồng lãi suất kỳ hạn Với hợp đồng lãi suất kỳ hạn dù lãi suất thị trường trong tương lai tăng hay giảm ngân hàng vẫn có một mức thu nhập từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động được xác định trước
Trong hợp đồng kỳ hạn, chỉ có hai bên tham gia vào hợp đồng và mỗi bên đều phụ thuộc vào bên còn lại Khi có thay đổi giá cả trên thị trường giao ngay sẽ xuất hiện rủi ro nếu một trong hai bên không thực hiện hợp đồng Ngoài ra, vì mức giá cả đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không mang tính chính xác
Hợp đồng tư ơng lai:
Hợp đồng tương lai (Futures Contract) là một thỏa thuận giữa người mua và người bán tại thời điểm ban đầu rằng việc thanh toán và giao nhận hàng hóa được thực hiện tại một thời điểm các định trong tương lai Hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn khá giống nhau nhưng tuy nhiên giữa chúng có một số điểm khác biệt:
Hợp đồng tương lai là hợp đồng được tiêu chuẩn hóa, được giao dịch một +
cách có tổ chức trên sở giao dịch Còn hợp đồng kỳ hạn là sự thỏa thuận song phương, được giao dịch trên thị trường OTC, phụ thuộc theo ý của người người mua và người bán
Trang 27Giá của hợp đồng tương lai được điều chỉnh hàng ngày theo điều kiện thị +
trường, trong khi đó, giá của hợp đồng kỳ hạn là cố định trong suốt kỳ hạn
Rủi ro tín dụng từ hợp đồng tương lai được giảm bớt do có sự đảm bảo của +
sở giao dịch
Giá của các hợp đồng tương lai phản ánh giá trị các chứng khoán được sử dụng mua bán trong hợp đồng nên khi lãi suất thị trường tăng thì giá các hợp đồng tương lai giảm Theo mô hình thời lượng thì độ nhạy cảm của giá hợp đồng tương lai đối với lãi suất được tính như sau:
= -
= -
Trong đó:
là sự thay đổi giá trị của hợp đồng tương lai
F là giá trị ban đầu của hợp đồng tương lai ( = × )
là số lượng hợp đồng
là giá của từng hợp đồng tương lai
là thời lượng của trái phiếu được sử dụng trong mua bán hợp
đồng tương lai
là mức thay đổi lãi suất Cũng như vậy, mức độ rủi ro đối với vốn tự có của ngân hàng khi lãi suất thị trường biến động được đo lường bằng công thức:
= - ( ) A
Trong đó:
là sự thay đổi vốn tự có của ngân hàng
là thời lượng của toàn bộ tài sản có
là thời lượng của toàn bộ vốn huy động
A là qui mô tài sản có
k là tỷ lệ giữa vốn huy động và tài sản có ( k = L/A )
là mức thay đổi lãi suất
Để có thể phòng ngừa rủi ro lãi suất đối với toàn bộ bảng cân đối tài sản ngân hàng phải thực hiện số lượng hợp đồng tương lai cần thiết để khoản thua lỗ nội bảng
Trang 28được bù đắp bằng lợi nhuận thu được từ các hợp đồng tương lai ngoại bảng Tức là Vậy số lượng các hợp đồng tương lai cần thiết là:
vụ thực hiện theo yêu cầu của người mua
Hợp đồng mua quyền chọn mua lãi suất – Caps:
+
Mua Caps là mua quyền chọn mua hoặc là mua một chuỗi quyền chọn mua lãi suất Khi nợ phải trả của ngân hàng có lãi suất thả nổi trong khi tài sản có có lãi suất cố định hay khi nợ phải trả có thời lượng ngắn hơn tài sản có , để phòng ngừa rủi
ro lãi suất tăng, ngân hàng có thể thực hiện mua Caps Nếu lãi suất thị trường tăng cao hơn so với lãi suất trong hợp đồng Caps, ngân hàng bán Caps sẽ thanh toán một khoản bằng giá trị hợp đồng Caps nhân với chênh lệch giữa lãi suất thị trường và lãi suất của hợp đồng Caps cho ngân hàng mua Caps Khoản tiền này dùng để bù đắp cho chi phí huy động vốn tăng do lãi suất thị trường tăng hoặc bù đắp cho sự giảm giá trái phiếu trong tài sản có của ngân hàng Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thấp hơn so với lãi suất trong hợp đồng Caps thì ngân hàng bán Caps không phải thanh toán khoản tiền nào cho ngân hàng mua Caps
Hợp đồng mua quyền chọn bán lãi suất – Floors:
+
Mua Floors là mua quyền chọn bán đối với lãi suất Khi nợ phải trả của ngân hàng có lãi suất cố định trong khi tài sản có có lãi suất thả nổi hay khi tài sản có có thời lượng ngắn hơn nợ phải trả, ngân hàng có thể thực hiện mua Floors để phòng ngừa rủi ro lãi suất giảm Nếu lãi suất thị trường giảm thấp hơn so với lãi suất trong hợp đồng Floors, ngân hàng mua Floors sẽ được thanh toán một khoản bằng giá trị hợp đồng nhân với chênh lệch giữa lãi suất Floors và lãi suất trên thị trường Khoản tiền này dùng để bù đắp cho thu nhập bị giảm do lãi suất thị trường giảm Còn nếu lãi suất thị trường tăng cao hơn lãi suất Floors thì bên bán Floors không phải thanh toán bất cứ khoản nào cho bên mua Floors
Hợp đồng đồng thời mua và bán lãi suất – Collars:
+
Trang 29Hợp đồng Collars xuất hiện khi ngân hàng thực hiện đồng thời cả hai giao dịch Caps và Floors, như việc đồng thời mua quyền chọn mua và mua quyền chọn bán Trong trường hợp tài sản của ngân hàng gặp nhiều rủi ro khi lãi suất biến động mạnh, ngân hàng mua Collars nhằm thu phí để tài trợ cho giao dịch Caps hoặc Floors Nếu lãi suất thị trường biến động thấp hơn lãi suất Floors hoặc lớn hơn lãi suất Caps trong hợp đồng Collars, ngân hàng mua Collars sẽ nhận được khoản thanh toán từ bên bán Collars tương ứng với mức chênh lệch giữa lãi suất thị trường và lãi suất trong hợp đồng Collars
Hợp đồng hoán đổi
Hợp đồng hoán đổi (Swaps) lãi suất là thỏa thuận giữa người mua (theo thông
lệ là người thanh toán lãi suất cố định) và người bán (theo thông lệ người thanh toán lãi suất thả nổi) Vào ngày giá trị giao dịch, người mua thanh toán lãi suất cố định cho người bán và người bán thanh toán lãi suất thả nổi cho người mua Trong khi thực hiện hợp đồng, cần phải đảm bảo việc trao đổi giữa lãi suất thả nổi và lãi suất cố dịnh là ngang giá Giá trị hiện tại của các dòng lãi suất cố định bằng giá trị hiện tại của các luồng lãi suất thả nổi
Ngân hàng mua Swaps (ngân hàng thanh toán lãi suất cố định) là ngân hàng có nguồn vốn huy động với lãi suất thả nổi nhưng nguồn thu từ tài sản có là lãi suất cố định Do tính chất của nợ phải trả và tài sản có có hình thức lãi suất khác nhau dẫn đến sự không cân xứng về thời lượng làm cho ngân hàng có nguy cơ gặp rủi ro lãi suất Vì vậy, ngân hàng mua thông qua giao dịch Swaps lãi suất để chuyển việc thanh toán lãi cho nguồn vốn huy động từ hình thức lãi suất thả nổi sang lãi suất cố định để phù hợp với tính chất cố định của nguồn thu từ tài sản có
Ngược lại, ngân hàng bán Swaps (ngân hàng thanh toán lãi suất thả nổi) là ngân hàng có nguồn vốn huy động với lãi suất cố định nhưng nguồn thu từ tài sản có là lãi suất thả nổi Ngân hàng bán đã sử dụng giao dịch Swaps lãi suất nhằm mục đích chuyển việc thanh toán lãi cho nguồn vốn huy động từ hình thức lãi suất cố định sang lãi suất thả nổi để phù hợp với lãi suất thả nổi của nguồn thu từ tài sản có
Thông qua việc mua/bán hợp đồng hoán đổi lãi suất, người mua và người bán thanh toán tiền cho nhau, sẽ rào chắn được rủi ro lãi suất khi lãi suất thay đổi
b) Phương pháp quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất
Kỹ thuật quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất là kỹ thuật phổ biến mà các ngân hàng sử dụng để ngăn ngừa và kiềm chế rủi ro lãi suất Kỹ thuật này yêu cầu nhà quản trị ngân hàng phải tiến hành phân tích kỳ hạn, định giá lại những cơ hội gắn với những tài sản sinh lợi của ngân hàng, những khỏan tiền gửi cũng như với những khoản vốn vay trên thị trường
Quy trình quản lý khe hở lãi suất gồm 3 bước:
Trang 30 Lựa chọn và phân loại các loại nguồn vốn vào từng nhóm riêng biệt dựa trên thời điểm sẽ định giá lại giá cả
Xác định chên lệch GAP bằng giá trị của tài sản có nhạy cảm lãi suất (RSAs – rate sensitive assets) trừ đi giá trị nợ phải trả nhạy cảm lãi suất (RSLs – rate sensitive liabilities)
GAP > 0: giá trị tài sản có nhạy cảm lãi suất lớn hơn giá trị nợ phải trả nhạy cảm lãi suất Khi lãi suất thị trường tăng, lợi nhuận của ngân hàng sẽ tăng Và ngược lại, khi lãi suất thị trường giảm, thu nhập từ lãi giảm nhanh hơn chi phí lãi phải trả, rủi
ro lãi suất sẽ xuất hiện làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Lúc này những phản ứng có thể xảy ra của ngân hàng là:
Không làm gì vì ngân hàng nghĩ có thể lãi suất sẽ tăng hoặc ổn định
Không làm gì vì ngân hàng nghĩ có thể lãi suất sẽ giảm hoặc ổn định
Trang 31Nếu ngân hàng tin vào khả năng dự báo lãi suất của mình, họ có thể thường xuyên thay đổi khe hở nhạy cảm lãi suất, đặt ngân hàng vào trạng thái nhạy cảm tài sản có hoặc nhạy cảm nợ phải trả để tăng thêm thu nhập Đây được gọi là phương pháp quản lý khe hở năng động:
thị trường tăng GAP > 0
Tăng tài sản có nhạy cảm lãi suất Giảm nợ phải trả nhạy cảm lãi suất
Thu nhập từ lãi sẽ tăng nhiều hơn chi phí lãi phải trả
Lãi suất
thị trường giảm GAP < 0
Giảm tài sản có nhạy cảm lãi suất Tăng nợ phải trả nhạy cảm lãi suất
Thu nhập từ lãi sẽ giảm ít hơn chi phí lãi phải trả Tuy nhiên, chiến lược quản lý năng động buộc các ngân hàng phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn vì khả năng dự đoán đúng chiều hướng thay đổi của lãi suất rất thấp Cho nên phần lớn các ngân hàng chỉ sử dụng để phòng ngừa rủi ro chứ không phải để tăng thu nhập
Ngoài ra, các nhà quản trị còn có thể đưa GAP về 0 để giảm thiểu rủi ro lãi suất bằng một số cách như: tài trợ cho vay dài hạn bằng nguồn vốn không có chi phí trả lãi;
sử dụng các tài sản và nợ ngoại bảng như các loại chứng khoán phái sinh
Việc quản trị khe hở lãi suất là vô cùng khó khăn và phức tạp đòi hỏi ngân hàng phải có trình độ và lựa chọn thời gian để phân tích độ nhạy cảm với lãi suất của tài sản
và nguồn vốn cho phù hợp Đồng thời, phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định như: lãi suất của các khoản mục khác nhau chưa chắc đã biến động cùng một mức như nhau; việc quản lý chặt chẽ chênh lệch ngắn hạn có thể làm bỏ sót rủi ro tái đầu tư
và những biến động đáng kể về giá trị tài sản và nguồn vốn của ngân hàng
c) Phương pháp quản lý khe hở kỳ hạn
Phương pháp này có thể khắc phục được diểm yếu của phương pháp quản lý khe hở lãi suất là không giải quyết được rủi ro đường lãi suất hoàn vốn (là loại rủi ro phát sinh khi lãi suất của những thời hạn khác nhau thay đổi theo mức độ khác nhau) Phương pháp này dựa trên chênh lệch giữa kỳ hạn hoàn vốn trung bình theo giá trị tài sản và kỳ hạn hoàn trả trung bình theo giá trị nguồn vốn Trong đó, kỳ hạn hoàn vốn trung bình theo giá trị tài sản là thời gian trung bình cần thiết để thu hồi khoản vốn đã
bỏ ra để đầu tư, tức là thời gian trung bình của dòng tiền dự tính sẽ nhận được trong tương lai Còn kỳ hạn hoàn trả trung bình theo giá trị nguồn vốn là thời gian trung bình cần thiết để hoàn trả khoản vốn đã huy động, cũng là thời gian trung bình của dòng tiền dự tính ra khỏi ngân hàng
Trang 32Ngân hàng xác định kỳ hạn hoàn vốn trung bình theo giá trị tài sản và kỳ hạn hoàn trả trung bình theo giá trị nguồn vốn theo công thức sau:
Trong đó:
t là kì hạn thanh toán
là số tiền thanh toán cả gốc và lãi trong kỳ hạn t
n là thời gian mãn hạn của danh mục
i là lãi suất Sau đó, ta xác định khe hở kỳ hạn như sau:
Khe hở kỳ hạn = Kỳ hạn hoàn vốn trung bình theo giá trị tài sản - Kỳ hạn hoàn trả trung bình theo giá trị nguồn vốn
Để phòng chống rủi ro lãi suất, các ngân hàng thường cố gắng duy trì cân đối giữa tài sản và nguồn vốn sao cho khe hở kỳ hạn tiến gần tới 0, lúc đó kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản sẽ gần bằng kỳ hạn hoàn trả trung bình của nguồn vốn Nhưng trên thực tế giá trị tài sản luôn lớn hơn nguồn vốn huy động nên để khe hở kỳ hạn tiến tới 0 cần đảm bảo:
Kỳ hạn hoàn vốn trung
bình theo giá trị tài sản =
Kỳ hạn hoàn trả trung bình theo giá trị nguồn vốn × Tổng giá trị mức nợ
Tổng giá trị tài sản
Do đó, để có thể loại bỏ rủi ro, ngân hàng cần thay đổi giá trị nguồn vốn huy động nhiều hơn giá trị tài sản Bên cạnh đó, giá trị ròng của ngân hàng lại bằng giá trị tổng tài sản trừ đi giá trị tổng nguồn vốn huy động Mà theo lý thuyết danh mục đầu tư trong lĩnh vực tài chính thì:
Lãi suất tăng sẽ làm giảm giá trị thị trường của các tài sản và của các khoản nợ mang lãi suất cố định
Kỳ hạn của các tài sản và khoản nợ càng dài thì giá trị thị trường của chúng càng giảm mạnh khi lãi suất tăng
Cho nên nếu khe hở kỳ hạn càng lớn thì giá trị ròng của ngân hàng càng nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất và ngược lại
Trong trường hợp lãi suất bên tài sản và bên nguồn vốn thay đổi một mức như nhau và khe hở kỳ hạn không gần bằng 0 thì sự thay đổi trong giá trị của danh mục tài sản và danh mục nợ sẽ khác nhau:
Trang 33 Nếu khe hở kỳ hạn dương: lãi suất tăng sẽ làm giảm giá trị ròng của ngân hàng
vì giá trị tài sản tăng nhiều hơn giá trị nguồn vốn
Nếu khe hở kỳ hạn âm: lãi suất tăng sẽ làm tăng giá trị ròng của ngân hàng vì giá trị tài sản tăng ít hơn giá trị nguồn vốn
Phương pháp này được coi là hoàn hảo nhất trong việc đo mức độ nhạy cảm của tài sản có và nợ phải trả với lãi suất do nó đề cập đến cả thời lượng của các luồng tiền
và kỳ hạn đến hạn của các nợ phải trả và có Tuy nhiên, nó vẫn còn một số hạn chế như: khó khăn trong việc xác định mô hình luồng tiền vào ra; khó khăn trong việc tìm kiếm các tài sản có , nợ phải trả có kỳ hạn hoàn vốn và kỳ hạn hoàn trả phù hợp với yêu cầu của ngân hàng
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân 1.3.4.
hàng thương mại
a) Các yếu tố bên ngoài:
Hành lang pháp lý về vấn đề quản trị rủi ro lãi suất và cơ chế điều hành lãi suất của NHNN
Hành lang pháp lý về vấn đề quản trị rủi ro lãi suất và cơ chế điều hành của NHNN có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng Bời
vì tất cả mọi hoạt động của ngân hàng đều nằm dưới sự quản lý, điều chỉnh và hướng dẫn của NHNN Cho nên những quy định, ban hành của NHNN được coi như cơ sở để các NHTM thực hiện hoạt động của mình Khi những quy định, văn bản pháp lý liên quan đến công tác quản trị rủi ro lãi suất như: quy trình quản trị rủi ro lãi suất, các chỉ tiêu đánh giá rủi ro lãi suất chưa đầy đủ và hợp lý sẽ làm cho các NHTM không thực hiện tốt được công tác này Bên cạnh đó, cơ chế điều hành lãi suất của NHNN lại tác động trực tiếp đến nguyên nhân chính của rủi ro trong quản trị rủi ro lãi suất là sự biến động của lãi suất Khi cơ chế điều hành lãi suất của NHNN thay đổi linh hoạt theo diễn biến kinh tế đất nước thì các ngân hàng cũng phải tăng cường đối mặt với từng biến động lãi suất trên thị trường Khi lãi suất thị trường thay đổi chiều biến động, tất cả mọi sự điều hành và chính sách trong hoạt động quản trị rủi ro của ngân hàng cũng phải thay đổi theo
Mức độ phát triển và sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô
Mức độ phát triển và sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô là một yếu tố chung ảnh hường đến mọi hoạt động của ngân hàng, trong đó có hoạt động quản trị rủi ro lãi suất Nền kinh tế phát triển và ổn định sẽ tạo ra môi trường hoạt động thuận lợi cho ngân hàng và các TCTD, TCKT khác Từ đó, các hoạt động nhằm phụ vụ cho việc quản trị rủi ro lãi suất như: thực hiện các công cụ phái sinh, điều chỉnh kỳ hạn khoản tài sản có
và nợ phải trả nhạy cảm với lãi suất, tăng/giảm quy mô tài sản có hoặc nợ phải trả nhạy cảm với lãi suất sẽ được thực hiện dễ dàng hơn Mặt khác, kinh tế phát triển thì
Trang 34những hoạt động dịch vụ liên quan đến thanh toán, chuyển khoản sẽ tăng lên, giảm
sự phụ thuộc vào thu nhập từ lãi của ngân hàng
Địa bàn hoạt động của ngân hàng
Những yếu tố thuộc về địa bàn hoạt động có ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng là: trình độ dân trí, mật độ dân cư, tình hình trật tự an ninh xã hội Nếu ngân hàng năm trong khu vực có trình độ dân trí cao thì những đối tượng khách hàng của ngân hàng sẽ có sự nhạy cảm với tình hình biến động trên thị trường mà cụ thể là biến động của lãi suất cao hơn Khi lãi suất biến động làm giảm lãi suất thực, khách hàng sẽ tìm đến các kênh đầu tư khác có lợi nhuận hơn và rút tiền khỏi ngân hàng Bên cạnh đó, mật độ dân cư cao hay thấp ảnh hưởng đến quy mô nguồn vốn huy động và khả năng điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn huy động khi cần thiết của ngân hàng Việc có thể dễ dàng điều chỉnh quy mô, cơ cấu và kỳ hạn của nguồn vốn sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động đề phòng rủi ro lãi suất của ngân hàng Cũng như vậy, tình hình trật tự an ninh xã hội sẽ gây tác động lên tâm lý, hành vi của khách hàng, làm ảnh hưởng đến đặc điểm nguồn vốn huy động của ngân hàng tương tự như mật độ dân cư
Các yếu tố khác
Ngoài các yếu tố như đã nêu trên, còn có một số các yếu tố khác cũng có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại chi nhánh như:
Các yếu tố từ phía các doanh nghiệp
Môi trường chính trị - xã hội: Môi trường chính trị - xã hội
Các yếu tố từ môi trường tự nhiên
Môi trường công nghệ
Môi trường cạnh tranh
Nguyên nhân và sự ảnh hưởng của các yếu tố này đến hoạt động quản trị rủi ro của chi nhánh sẽ được phân tích cụ thể trong chương 3
b) Các yếu tố bên trong:
Quy trình quản trị rủi ro và vệc kiểm tra, giám sát thực hiện quy trình của ngân hàng
Quy trình quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng sẽ là cơ sở để ngân hàng phân công trách nhiệm và việc thực hiện từng hoạt động liên quan đến quản trị rủi ro cho từng bộ phận Một quy trình làm việc rõ ràng sẽ giúp cán bộ nhân viên xác định rõ được nhiệm vụ và trách nhiệm, giúp công tác quản trị rủi ro lãi suất đạt hiệu quả cao hơn Bên cạnh đó, việc kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện quy trình này cũng là rất cần thiết Kiểm tra và giám sát định kỳ, thường xuyên ngoài nâng cao ý thức của
Trang 35nhân viên cũng có thể giúp cho ngân hàng giảm khả năng bỏ sót yếu tố gây nên nguy
cơ rủi ro trong tương lai
Hệ thống công nghệ thông tin của ngân hàng
Hệ thống công nghệ thông tin trong ngân hàng là một yếu tố đặc biệt ảnh hưởng đến hoạt động thu thập cơ sở dữ liệu, thông tin và phân tích, báo cáo, dự đoán rủi ro lãi suất trong tương lai của ngân hàng Một hệ thống công nghệ thông tin hiện đại và phù hợp sẽ cung cấp được nguồn dữ liệu và thông tin chính xác, đầy dủ và kịp thời giúp cho nhà quản trị có thể đưa ra quyết định chính xác và đúng đắn trong việc phòng ngừa rủi ro lãi suất cho tương lai
Đặc thù hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại
Đặc thù hoạt động kinh doanh của các NHTM sẽ tạo ra điểm đặc thù trong cơ cấu tài sản và nguồn vốn, cho nên sẽ gây ảnh hưởng đến việc quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng Ví dụ như, ngân hàng có định hướng tập trung vào cho vay trung và dài hạn thì tỉ trọng của nợ phải trả nhạy cảm lãi suất sẽ giảm đi trong tổng cơ cấu nguồn vốn Điều này đẫn đến chênh lệch GAP dương, ngân hàng sẽ gặp rủi ro nếu lãi suất thị trường giảm
Trình độ của đội ngũ quản trị viên, nhân viên ngân hàng
Khả năng làm việc, trình độ hiểu biết và kinh nghiệm của cán bộ nhân viên trong ngân hàng có tác động đến hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp quản trị,
mô hình đo lường rủi ro lãi suất và các nguồn lực khác Để có thể cải thiện được bộ máy quản trị rủi ro lãi suất hiện tại cùng với đưa các chuẩn mực quốc tế vào áp dụng
để hoạt động ngăn ngừa rủi ro lãi suất đạt hiệu quả cao hơn, ngân hàng cần chú trọng vào việc đào tạo và nâng cao trình độ cho cán bộ nhân viên của mình
Năng lực ngân hàng
Năng lực của ngân hàng là yếu tố cơ bản và cần thiết để có thể thay đổi phương pháp quản trị rủi ro hay mô hình đo lường rủi ro lãi suất hiện đại, tiến tiến và có hiệu quả hơn Trong đó năng lực của ngân hàng bao gồm: khả năng và kinh nghiệm làm việc của nhân viên, khả năng quản lý của lãnh đạo, tình trạng cơ sở vật chất, công nghệ thông tin
Nhận thức của nhà quản lý, ban lãnh đạo và cán bộ nhân viên
Ngay từ ban lãnh đạo và các nhà quản trị của ngân hàng cần có ý chí kiên quyết
và nhận thức đúng đắn trong việc thực hiện công tác quản trị rủi ro lãi suất Có như thế, cán bộ nhân viên và toàn thể các cá nhân từng bộ phận của ngân hàng mới thực sự nghiêm túc và tập trung thực hiện nhiệm vụ của mình
Nói chung, có rất nhiều các yếu tố có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng Chính vì vậy, ngân hàng cần dựa trên những yếu tố này
Trang 36để có thể đưa ra những chính sách phù hợp nhằm cải thiện và nâng cao khả năng quản trị rủi ro lãi suất của mình
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh rất đặc biệt Hoạt động kinh doanh của một ngân hàng có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống ngân hàng và xã hội Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng cần
đề cao công tác quản trị rủi ro để bảo vệ ngân hàng, bảo vệ khách hàng nhằm hạn chế tối đa tác động của rủi ro Đặc biệt là công tác quản trị rủi ro lãi suất cần phải được quan tâm đúng mức hơn trong thực trạng hiện nay
Với những cơ sở lý luận đã nêu ở trên, ngân hàng nên áp dụng vào thực trạng quản lý rủi ro lãi suất của mình Bên cạnh đó, sử dụng các phương pháp quản trị rủi ro một cách linh hoạt và không ngừng cải tiến sẽ mang lại hiệu quả cho ngân hàng Nhưng trước đó, ta cần phân tích về thực trạng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội để từ đó có thể đưa ra những giải pháp thiết thực trong việc hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng
Trang 37THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI CHƯƠNG 2.
SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TMCP XÂY DỰNG VIỆT NAM – CHI
NHÁNH HÀ NỘI 2.1 Khái quát về ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam – Chi nhánh Hà nội
Giới thiệu chung về ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam
2.1.1.
Tên gọi đầy đủ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xây dựng Việt Nam
Tên gọi tắt: Ngân hàng Xây dựng Việt Nam
Trụ sở chính: 145-147-149 Hùng Vương, Tân An, Long An
Vốn điều lệ: theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Giấy phép thành lập: 0047/NH-GP ngày 29/12/1993 của Ngân hàng Nhà nước
Ngày đầu thành lập, Ngân hàng đối mặt với rất nhiều khó khăn do chuyển đổi
từ kinh tế hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo chủ trương của chính phủ Với những nỗ lực chèo chống từ Ban lãnh đạo, Ngân hàng
đã vượt qua giai đọan khủng hoảng hê thống tín dụng vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước Sau 10 năm hoạt động kể từ ngày thành lập, Ngân hàng ổn định hoạt động, bước đầu có sự tăng trưởng đều theo từng năm
Ngày 17/08/2007, theo quyết định số 1931/QĐ-NHNN, Ngân hàng TMCP nông thôn Rạch Kiến được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận chuyển đổi mô hình hoạt động thành Ngân hàng TMCP đô thị Ngày 17/09/2007, đổi tên thành Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín, trụ sở chính tại số 145-147-149 Hùng Vương, Phường 2, Thành phố Tân An, Long An theo quyết định số 2136/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chính thức phát triển hoạt động ra ngoài địa bàn tỉnh Long An
Đến 31/12/2010 vốn điều lệ Ngân hàng đạt 3.000 tỷ đồng, tổng tài sản đạt 19.762 tỷ đồng; lợi nhuận đạt 302 tỷ đồng; đạt 103 điểm trên toàn quốc Trong năm
2010, thành lập công ty thành viên trực thuộc ngân hàng: Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản – VNCB AMC
Trang 38Từ năm 2011 đến 2012, trong điều kiện kinh tế Việt Nam và Thế giới ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu, Ngân hàng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Cuối năm 2012, đề án tái cơ cấu Ngân hàng với sự tham gia của nhóm cổ đông chiến lược mới chính thức được NHNN VN chấp thuận
Tháng 05/2013, Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam đã bắt đầu đổi mới toàn diện chiến lược kinh doanh Ngày 23/05/2013, Thống đốc NHNN VN ban hành quyết định số 1161/QĐ-NHNN chấp thuận việc thay đổi tên gọi của Ngân hàng TMCP Đại Tín, theo đó, tên gọi mới chính thức là Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam (Vietnam Construction Bank) Sau đó, ngân hàng lại chuyển đổi mô hình một lần nữa thành Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Xây dựng Việt Nam (Ngân hàng Xây dựng - Construction Bank – CB) theo quyết định số 250/QĐ-NHNN ngày 05/03/2015 của NHNN
Trải qua hơn 25 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, đến nay, Ngân hàng Xây dựng – CB có vốn điều lệ đạt 3.000 tỷ đồng cùng hệ thống mạng lưới 112 điểm hoạt động trên toàn quốc Là Ngân hàng 100% vốn sở hữu Nhà nước với sự hỗ trợ toàn diện của Vietcombank về quản trị, công nghệ, khách hàng, thanh khoản…Ngân hàng Xây dựng định hướng phát triển trở thành một ngân hàng bán lẻ đa năng trên nền tảng công nghệ hiện đại
Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Xây dựng Việt 2.1.2.
Nam – Chi nhánh Hà Nội
Trong thời gian hình thành và phát triển, vào ngày 13 tháng 2 năm 2008 Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam đã mở chi nhánh tại thành phố Hà Nội theo Quyết định số 347/QĐ-NHNN của NHNN VN Chi nhánh Hà Nội Của Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam từ đó bắt đầu chính thức đi vào hoạt động tại số 96 Bà Triệu – Hoàn Kiếm – Hà Nội
Sau hơn 6 năm hoạt động, ngoài việc đưa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng có chất lượng, phù hợp với nhu cầu khách hàng, mở rộng mạng lưới hoạt động bao gồm 8 phòng giao dịch trực thuộc sự quản lý của chi nhánh (PGD Cầu Giấy, PGD Đống Đa, PGD Thạch Thất, PGD Hào Nam, PGD Hoài Đức, PGD Từ Liêm, PGD Sơn Đồng và PGD Trung Hòa) Chi nhánh còn quan tâm và mở rộng các hoạt động đến các đối tượng khách hàng là các cá nhân, công ty liên doanh, doanh nghiệp nước ngoài Và
hỗ trợ sự phát triển của các khu chế xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề truyền thống tại các địa phương
Trong thời gian tới, theo xu thế phát triển và hội nhập của hệ thống NHTM Việt Nam vào nền kinh tế khu vực thế giới, chi nhánh sẽ tiếp tục đổi mới hoạt động: cung ứng thêm nhiều sản phẩm dịch vụ, thay đổi phong cách phục vụ, ưu đãi các khách hàng thường xuyên giao dịch, mở rộng mạng lưới hoạt động, hướng tới phục vụ khách
Trang 39hàng bằng những sản phẩm dịch vụ Ngân hàng hiện đại với chất lượng tốt nhất dựa trên nền tảng công nghệ ngân hàng tiên tiến nhằm thực hiện thành công mục tiêu là một trong những Ngân hàng TMCP lớn mạnh hàng đầu trong hệ thống Ngân hàng TMCP
Cơ cấu tổ chức và tình hình nhân sự trong ngân hàng TMCP Xây dựng 2.1.3.
Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
a) Cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP XDVN
Chi nhánh Hà Nội
(Nguồn: Phòng Hành chính-Tổ chức)
Giám đốc chi nhánh: Là người có trách nhiệm cao nhất, có nhiệm vụ tổ chức
điều hành chi nhánh trong mọi mặt hoạt động theo quy định của ngân hàng và tuân theo sự phân cấp ủy quyền của Tổng giám đốc, Hội đồng quản trị Giám đốc chi nhánh
có trách nhiệm quy định nhiệm vụ cho các phòng, tổ chuyên môn nghiệp vụ; các trưởng, phó phòng, tổ chuyên môn nghiệp vụ và các cán bộ nhân viên quan trọng khác
Phó giám đốc chi nhánh: Là người trợ giúp Giám đốc chi nhánh chỉ đạo điều
hành một số mặt công tác theo sự phân công của Giám đốc và còn có vai trò tham gia thảo luận ý kiến với Giám đốc trong việc thực hiện các mặt công tác của chi nhánh; Bên cạnh đó, Phó giám đốc được phép thay mặt Giám đốc điều hành một số công việc khi Giám đốc đi vắng và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về những việc đã giải quyết
và báo cáo lại khi Giám đốc có mặt…
Giám đốc chi nhánh
Phòng Kế
toán-Tài chính Phòng Ngân quỹ Phòng Kinh doanh Phòng Hành
chính-Tổ chức
Phòng Kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Phó giám đốc chi nhánh
Các phòng giao dịch
Trang 40 Phòng Kế Toán-Tài chính:
Lĩnh vực kế toán-tài chính: cán bộ nhân viên ở lĩnh vực này trong phòng có
+
nhiệm vụ thực hiện các công tác hạch toán kế toán, thống kê như: tổng hợp, cung cấp
hồ sơ, sổ sách, chứng từ kế toán và báo cáo của chi nhánh theo quy định, quyết toán kế hoạch thu, chi tài chính của chi nhánh, kiểm soát các báo cáo tài chính của chi nhánh
Phòng Kế toán-Tài chính có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn +
thông tin, cơ sở dữ liệu chính xác và kịp thời để phục vụ cho việc thực hiện quản trị rủi
ro lãi suất đạt hiệu quả cao nhất có thể
Phòng Ngân quỹ: Phòng ngân quỹ thực hiện các hoạt động liên quan đến việc
tổ chức công tác thu chi tiền mặt, chứng từ có giá và quản lý tài sản trong kho… và kiểm soát các chỉ tiêu về an toàn kho quỹ và định mức tồn quỹ Những hoạt động này luôn được thực hiện theo chế độ kiểm kê, báo cáo, thống kê kịp thời, chính xác Ngoài
ra, phòng còn định kỳ hoặc đột xuất tiến hành kiểm tra nghiệp vụ ngân quỹ tại các
phòng giao dịch trực thuộc
Phòng Kinh Doanh:
Lĩnh vực tín dụng: bộ phận tín dụng trong phòng kinh doanh có nhiệm vụ
+
xây dựng các kế hoạch kinh doanh, chiến lược phát triển khách hàng, mở rộng thị phần
cụ thể như: thiết lập hồ sơ kinh tế của khách hàng, đánh giá và phân loại khách hàng,
đề xuất các chính sách tín dụng và đưa ra các giải pháp phù hợp cho khách hàng Khi nhận được yêu cầu điều chỉnh và cảnh báo trước nguy cơ rủi ro lãi suất từ bộ phận kế hoạch tổng hợp, bộ phận tín dụng cũng sẽ có trách nhiệm điều chỉnh các chính sách tín dụng để thay đổi cơ cấu đối tượng khách hàng theo đó cho phù hợp
Lĩnh vực kế hoạch tổng hợp: bộ phận kế hoạch tổng hợp trong phòng kinh
+
doanh thực hiện nhiệm vụ quản lý điều hành nguồn vốn của chi nhánh cụ thể như: quản lý, theo dõi lãi suất huy động, cho vay, lãi điều hòa vốn nội bộ cho các đơn vị trực thuộc Thực hiện theo dõi và điều chỉnh theo các báo cáo về quản trị rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, dự trữ bắt buộc và các hệ số an toàn Khi phát hiện biến động của lãi suất thị trường, các cán bộ nhân viên phụ trách sẽ tiến hành điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh sao cho phù hợp để tránh né được nguy cơ rủi ro lãi suất có
thể xảy ra