1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Học thuyết mác lê nin về chủ nghĩa cơ hội tiểu luận cao học

17 432 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 74,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vào cuối thế kỉ XIX, cùng với sự ra đời của chủ nghĩa Mác thì một loạt các học thuyết mang nhiều màu sắc khác nhau của CHCH cũng nảy sinh và thâm nhập vào PTCS và CNQT. ảnh hưởng của các học thuyết cơ hội như: CNCS không tưởng Vaitlinh, Chủ nghĩa cải lương Pruđông, Chủ nghĩa vô chính phủ Bacunin, Chủ nghĩa Latxan, Chủ nghĩa Đuyrinh...đã gây chia rẽ nghiêm trọng PTCN quốc tế. Đồng thời những kẻ cơ hội với học thuyết của mình âm mưu lũng đoạn PTCS quốc tế, lái phong trào đi theo hướng mà chúng mong muốn; và với nội dung trong từng học thuyết của mình, chúng âm mưu biến GCCN vĩnh viễn chỉ là những người làm thuê cho GCTS, hoặc phủ nhận sứ mệnh lịch sử của GCCN, hoặc thủ tiêu đấu tranh bằng bạo lực cách mạng, muốn chế độ sản xuất nhỏ vĩnh viễn tồn tại, hoặc muốn “dung hoà” lợi ích của GCVS với GCTS, phong kiến cầm quyền... Tóm lại là chúng âm mưu và thực hiện việc dùng GCVS và PTCS quốc tế làm phương tiện để đạt đựơc lợi ích ích kỷ của chúng. Trong khi đó, chủ nghĩa Mác mới ra đời và đang trong giai đoạn phát triển để hoàn thiện bước đầu. Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn,song vì số phận của PTCS quốc tế, vì số phận của GCVS toàn thế giới mà Mác và Ăngghen đã quyết định phát động những cuộc đấu tranh toàn diện với CNCH để chống lại sự “đầu độc” GCCN của chúng và để giành lấy vị trí xứng đáng của chủ nghĩa Mác trong PTCS và CNQT. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh của chủ nghĩa Mác chống CNCH – một kẻ thù nhiều mặt – chưa bao giờ là một cuộc đấu tranh dễ dàng. Nhưng Mác và Ăngghen, với tài năng và tâm huyết của mình, đã chiến thắng một cách xuất sắc trước bọn cơ hội. Có thể nói rằng, nhận thức của GCVS lúc đó càng hạn chế bao nhiêu, sự nguy hiểm và thâm độc của CNCH càng lớn bao nhiêu thì cuộc đấu tranh của chủ nghĩa Mác chống CNCH càng có vai trò, vị trí, ý nghĩa to lớn bấy nhiêu. Sự chiến thắng của chủ nghĩa Mác trong cuộc đấu tranh chống CNCH thời kì 18471895 không những đã thanh toán gần như toàn bộ những học thuyết cơ hội trong giai đoạn đầu của PTCS và CNQT mà còn làm trong sạch nhận thức của GCVS khi đó, giúp họ nhận thức được sâu sắc hơn về vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình. Thắng lợi của cuộc đấu tranh đó còn để lại nhiều bài học, kinh nghiệm quí báu cho cuộc đấu tranh chống CNCH trong thời đại hôm nay. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, bên cạnh sự phá hoại điên cuồng của các thế lực thù địch trong và ngoài nước thì những tư tưởng cơ hội chính trị cùng với những biểu hiện cơ hội, thực dụng cũng phát triển với nhiều hình thức và mức độ khác nhau, nó đã, đang và tiếp tục là mối nguy hại to lớn đối với sự đoàn kết thống nhất,năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đe doạ tới vận mệnh của Đảng và chế độ XHCH. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống những tư tưởng, biểu hiện cơ hội đang là vấn đề đặt ra một cách vô cùng cấp thiết trong tình hình hiện nay. Bước đầu nghiên cứu cuộc đấu tranh của C.Mác Ph.Ăngghen chống CNCH thời kì 18471895, tác giả mong muốn góp phần làm rõ hơn nội dung cuộc đấu tranh của C.Mác Ph.Ăngghen chống CNCH, đồng thời góp phần rút ra những bài học kinh nghiệm và ý nghĩa từ cuộc đấu tranh đó để có thể vận dụng vào cuộc đấu tranh chống CNCH hiện nay, góp phần bảo vệ tính cách mạng, khoa học, sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH ở nước ta.

Trang 1

mở đầu

Vào cuối thế kỉ XIX, cùng với sự ra đời của chủ nghĩa Mác thì một loạt các học thuyết mang nhiều màu sắc khác nhau của CHCH cũng nảy sinh và thâm nhập vào PTCS và CNQT ảnh hởng của các học thuyết cơ hội nh: CNCS không tởng Vaitlinh, Chủ nghĩa cải lơng Pru-đông, Chủ nghĩa vô chính phủ Bacunin, Chủ nghĩa Latxan, Chủ nghĩa Đuyrinh đã gây chia rẽ nghiêm trọng PTCN quốc tế Đồng thời những kẻ cơ hội với học thuyết của mình âm mu lũng

đoạn PTCS quốc tế, lái phong trào đi theo hớng mà chúng mong muốn; và với nội dung trong từng học thuyết của mình, chúng âm mu biến GCCN vĩnh viễn chỉ là những ngời làm thuê cho GCTS, hoặc phủ nhận sứ mệnh lịch sử của GCCN, hoặc thủ tiêu đấu tranh bằng bạo lực cách mạng, muốn chế độ sản xuất nhỏ vĩnh viễn tồn tại, hoặc muốn “dung hoà” lợi ích của GCVS với GCTS, phong kiến cầm quyền Tóm lại là chúng âm mu và thực hiện việc dùng GCVS

và PTCS quốc tế làm phơng tiện để đạt đựơc lợi ích ích kỷ của chúng

Trong khi đó, chủ nghĩa Mác mới ra đời và đang trong giai đoạn phát triển

để hoàn thiện bớc đầu Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn,song vì số phận của PTCS quốc tế, vì số phận của GCVS toàn thế giới mà Mác và Ăngghen đã quyết

định phát động những cuộc đấu tranh toàn diện với CNCH để chống lại sự “đầu

độc” GCCN của chúng và để giành lấy vị trí xứng đáng của chủ nghĩa Mác trong PTCS và CNQT Tuy nhiên, cuộc đấu tranh của chủ nghĩa Mác chống CNCH – một kẻ thù nhiều mặt – cha bao giờ là một cuộc đấu tranh dễ dàng Nhng Mác và Ăngghen, với tài năng và tâm huyết của mình, đã chiến thắng một cách xuất sắc trớc bọn cơ hội Có thể nói rằng, nhận thức của GCVS lúc đó càng hạn chế bao nhiêu, sự nguy hiểm và thâm độc của CNCH càng lớn bao nhiêu thì cuộc đấu tranh của chủ nghĩa Mác chống CNCH càng có vai trò, vị trí,

ý nghĩa to lớn bấy nhiêu Sự chiến thắng của chủ nghĩa Mác trong cuộc đấu tranh chống CNCH thời kì 1847-1895 không những đã thanh toán gần nh toàn

bộ những học thuyết cơ hội trong giai đoạn đầu của PTCS và CNQT mà còn làm trong sạch nhận thức của GCVS khi đó, giúp họ nhận thức đợc sâu sắc hơn

về vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình Thắng lợi của cuộc đấu tranh đó còn để lại nhiều bài học, kinh nghiệm quí báu cho cuộc đấu tranh chống CNCH trong thời

đại hôm nay

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, bên cạnh sự phá hoại điên cuồng của các thế lực thù địch trong và ngoài nớc thì những t tởng cơ hội chính trị

Trang 2

cùng với những biểu hiện cơ hội, thực dụng cũng phát triển với nhiều hình thức

và mức độ khác nhau, nó đã, đang và tiếp tục là mối nguy hại to lớn đối với sự

đoàn kết thống nhất,năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đe doạ tới vận mệnh của Đảng và chế độ XHCH Vì vậy, cuộc đấu tranh chống những t t-ởng, biểu hiện cơ hội đang là vấn đề đặt ra một cách vô cùng cấp thiết trong tình hình hiện nay

Bớc đầu nghiên cứu cuộc đấu tranh của C.Mác - Ph.Ăngghen chống CNCH thời kì 1847-1895, tác giả mong muốn góp phần làm rõ hơn nội dung cuộc đấu tranh của C.Mác - Ph.Ăngghen chống CNCH, đồng thời góp phần rút

ra những bài học kinh nghiệm và ý nghĩa từ cuộc đấu tranh đó để có thể vận dụng vào cuộc đấu tranh chống CNCH hiện nay, góp phần bảo vệ tính cách mạng, khoa học, sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, bảo vệ vai trò lãnh

đạo của Đảng và con đờng đi lên CNXH ở nớc ta

chơng 1

những vấn đề lý luận về chủ nghĩa cơ hội

và chủ nghĩa cơ hội thời kì 1847-1895

1.1 Khái niệm chủ nghĩa cơ hội

“Cơ hội”, “kẻ cơ hội”, “chủ nghĩa cơ hội”, “cơ hội chính trị” là những thuật ngữ, khái niệm đợc các nhà nghiên cứu, nhà chính trị, nhà quản lý sử dụng từ lâu, song đến nay vẫn cha có công trình nghiên cứu nào tơng đối đầy

đủ, toàn diện về những vấn đề này Do vậy, các khái niệm “cơ hội”, “kẻ cơ hội”, “chủ nghĩa cơ hội” và “cơ hội chính trị” đợc dùng khá đa nghĩa

Chủ nghĩa cơ hội đợc biểu hiện nh là chủ trơng chính trị lìa bỏ con đờng cách mạng, dùng nhiều thủ đoạn để thoả hiệp với kẻ thù, là “kẻ dấu mặt nguy hiểm”, là kẻ “khoác áo chủ nghĩa Mác để chống lại chủ nghĩa Mác”, ngoài miệng thì tuyên bố ủng hộ chủ nghĩa Mác nhng thực tế thì tớc bỏ nội dung cách mạng của chủ nghĩa Mác

Trang 3

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì khái niệm CNCH đợc

đa ra nh sau: “ “chủ nghĩa cơ hội”: 1.Quan điểm, chủ trơng lợi dụng cơ hội, mu cầu những lợi ích trớc mắt và cục bộ, bất kể việc làm đúng hay sai 2.Khuynh h-ớng t tởng – chính trị trong phong trào công nhân, chủ trơng chính sách tuỳ thời, thoả hiệp” [48,tr.169]

Trong thời kì 1847-1895, C.Mác và Ph.Ăngghen đã liên tục phải tiến hành cuộc đấu tranh chống lại nhiều trào lu CHCN trong PTCS và CNQT nhng các

ông cha đa ra một quan niệm hoàn thiện về CNCH, mà chỉ qua kinh nghiệm của cuộc đấu tranh đó để đi đến kết luận về CNCH là “vì những lợi ích nhất thời hàng ngày mà quên đi những quan điểm chủ yếu lớn, chạy theo những thành công chốc lát và đấu tranh cho những thành công chốc lát mà không tính đến hậu quả về sau, hy sinh tơng lai của phong trào vì hiện tại” [25, tr.346]

Sau C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã đa ra một khái niệm khá hoàn chỉnh nh sau: “Chủ nghĩa cơ hội là ở chỗ hy sinh những lợi ích căn bản để có

đ-ợc những lợi ích cục bộ và tạm thời Nội dung chính là ở đó, nếu ta muốn cho chủ nghĩa cơ hội một định nghĩa có tính chất lý luận” [39, tr.70]

Qua đó có thể thấy, CNCH là một hiện tợng nảy sinh trong cuộc đấu tranh giữa GCVS với GCTS, giữa CNXH và CNTB, đó là việc làm cho chính trị và t tởng của PTCN thích nghi với lợi ích và nhu cầu của các giai tầng phi vô sản,

đem lợi ích của một bộ phận công nhân thích ứng với những biến đổi nhất thời, trớc mắt mà hy sinh lợi ích cơ bản, có tính chiến lợc của GCCN Chủ nghĩa cơ hội thờng gắn liền với chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa giáo điều

1.2 Nguồn gốc và bản chất của chủ nghĩa cơ hội

1.2.1 Nguồn gốc

Thứ nhất, nguồn gốc giai cấp, CNCH đợc hình thành ngay trong sự phát

triển của TBCN Trong quá trình phát triển của mình, PTCN đã thu hút những tầng lớp “tân binh mới”, đó là những ngời xuất thân từ các giai tầng phi vô sản

mà chủ yếu chính là tầng lớp tiểu t sản – lực lợng của nền sản xuất nhỏ, nền sản xuất mà hàng ngày hàng giờ có xu hớng tự phát theo khuynh hớng TBCN, sẵn sàng tiếp tay cho GCTS chống lại GCVS khi lợi ích của họ bị đe doạ, còn khi gặp rủi ro thì họ lại đứng vào hàng ngũ đảng tiên phong của GCVS và trở thành “bạn đờng” của GCVS Họ có thể là những phần tử trí thức t sản hay tiểu

t sản mà mục đích tối cao là lợi ích của chính họ là của tầng lớp bé nhỏ của họ, chính thế giới quan và tâm lí phi vô sản đã biến họ thành những kẻ CHCN trong PTCN Hoặc họ có thể là tầng lớp tiểu chủ, thợ thủ công điều này đợc lí giải:

“Chủ nghĩa t bản tất nhiên phải tạo ra một loạt “tầng lớp trung gian” mới

Trang 4

Chính những ngời sản xuất nhỏ mới này cũng không tránh khỏi lại bị rơi vào hàng ngũ của giai cấp vô sản Hoàn toàn dĩ nhiên là thế giới quan tiểu t sản vẫn thấm và còn thấm vào hàng ngũ các đảng công nhân rộng rãi” [35, tr.29] Khi gia nhập phong trào của GCCN, một mặt, “những ngời này đã cung cấp cho GCCN những nhân tố giáo dục thực sự, mà một trong những nhân tố giáo dục thực sự và là nhân tố giáo dục quan trọng nhất đối với phong trào giai cấp công nhân, đó là chủ nghĩa xã hội khoa học” [22, tr.253-254] Mặt khác, chính vì vị trí xã hội đặc biệt: là lực lợng đứng giữa, là tầng lớp “đệm” giữa GCTS và GCVS mà họ không thể thấy hết và không cảm nhận đợc hết những gì mà những ngời vô sản phải chịu đựng Họ chỉ nghĩ đến những cải cách chắp vá tiểu

t sản, tức là họ mong muốn cải cách đem lại trật tự xã hội cũ những chỗ dựa mới và có thể nhờ đó mà biến tai hoạ cuối cùng thành một quá trình thái hoá dần dần, từng phần một và càng hoà bình càng tốt Bởi thế, C.Mác và Ph

Ăngghen đã chỉ ra rằng: “Thay vì thái độ đối lập chính trị kiên quyết thì thái độ của họ là sự trung gian rộng rãi; thay cho cuộc đấu tranh chống chính phủ và giai cấp t sản là mu toan thuyết phục và tranh thủ họ về phía mình; thay cho sự kháng cự quyết liệt chống sự ngợc đãi từ bên trên là sự thuần phục một cách ngoan ngoãn” [13, tr.517] Điều đó tất yếu đa họ đến với chủ nghĩa cải lơng, xét lại và cơ hội

Thứ hai, nguồn gốc kinh tế, theo Ăngghen, việc một bộ phận GCCN tham

gia vào sự thống trị về kinh tế thị trờng của GCTS, sự “bám đuôi giai cấp t sản” trong việc sử dụng về kinh tế địa vị độc quyền đó và việc tham gia vào hởng lợi nhuận của nó làm cho một bộ phận công nhân tự bắt mình lệ thuộc về kinh tế vào GCTS và làm tay sai cho chúng trong PTCN Sự mua chuộc của GCTS có thể diễn ra theo nhiều cách khác nhau hoặc “trực tiếp” hoặc “gián tiếp” cùng một lúc đã gây ra rất nhiều tác hại cho PTCN Trớc hết, tầng lớp công nhân đặc quyền đặc lợi do GCTS tạo ra tự nó đã gây ra sự phân biệt, chia rẽ, thậm chí là mâu thuẫn trong PTCN, tạo điều kiện tốt cho CNCH hoành hành, tác động và

mở rộng ảnh hởng Tiếp đó, tầng lớp trên trong PTCN bị GCTS mua chuộc tức

là những kẻ CHCN - đã “cố tình phát triển” PTCN nằm trong “giới hạn” “có thể chấp nhận đợc” đối với GCTS, tức là làm cho PTCN trở thành “cái đuôi” của GCTS Và sự phản bội của một bộ phận công nhân, việc PTCN chỉ “dậm chân tại chỗ” tạo hình ảnh xấu trong mắt một bộ phận công nhân khác về những

“con ngời xã hội chủ nghĩa”, về CNXH, gây tâm lý hoài nghi, hoang mang về thắng lợi của PTCN, của CNXH

Trang 5

Mặt khác, sự phát triển phồn vinh tạm thời của CNTB dẫn đến cách nhìn nhận phiến diện, đề cao vị thế của CNTB trong tầng lớp tiểu t sản Những phần

tử cơ hội chỉ nhìn thấy điểm tiến bộ của CNTB nh việc CNTB đã phá huỷ

ph-ơng thức sản xuất cũ và làm cho lực lợng sản xuất phát triển mà không nhận thức đợc rằng đến một trình độ phát triển nào đó thì chính CNTB sẽ làm trở ngại cho sự phát triển của lực lợng sản xuất Những mâu thuẫn trong đời sống thực tế, trong lịch sử sinh động của CNTB, của PTCS và CNQT là những mâu thuẫn mà chủ nghĩa Mác đã có thể giải đáp đợc Song vì quần chúng là ngời học tập, kiểm định lý luận đó trên thực tiễn lịch sử, nên các phần tử cơ hội đã lợi dụng, phóng đại đặc điểm này hay đặc điểm khác trong sự phát triển của CNTB, hoặc “một số bài học” của sự phát triển đó thành lý thuyết phiến diện một chiều ca ngợi CNTB Những lý thuyết ấy đã ảnh hởng không nhỏ đến nhận thức của quần chúng và làm lũng đoạn PTCS và CNQT nửa cuối thế kỉ XIX

Thứ ba, nguồn gốc chính trị – tởng Sự đàn áp dã man của GCTS đối với t

PTCN, đặc biệt là đạo luật chống những ngời XHCN của các chính phủ t sản cuối thế kỉ XIX làm cho một số kẻ kém ý chí, bạc nhợc, run sợ, quỳ gối xin tha thứ và tình nguyện làm tay sai cho GCTS để “lập công chuộc tội” Việc áp dụng chính sách “tự do chủ nghĩa” giả hiệu của giai cấp thống trị làm nảy sinh ảo t-ởng cải lơng, thoả hiệp, thậm chí là tự thủ tiêu ý thức đấu tranh ở một bộ phận công nhân Sự tham gia hoạt động chính trị của nhiều giai tầng khác nhau trong khi cha đợc giác ngộ lý luận cách mạng sẽ dễ dẫn đến tiếp thu những t tởng phi vô sản cũng là mảnh đất tốt cho CNCH phát triển dới nhiều màu sắc khác nhau, nh V.I.Lênin nhận xét: trong Đảng đã “xuất hiện những phần tử chỉ lĩnh hội đợc một số khía cạnh của chủ nghĩa Mác, một số bộ phận riêng biệt của thế giới quan mới, hoặc một số khẩu hiệu và yêu sách riêng biệt, mà lại không thể

đoạn tuyệt dứt khoát với tất cả những truyền thống của thế giới quan t sản nói chung và của thế giới quan dân chủ – t sản nói riêng”[36,tr.77]

1.2.2 Bản chất và đặc trng của chủ nghĩa cơ hội

Các nhà kinh điển mácxít chỉ ra rằng, những biểu hiện cụ thể của CNCH rất đa dạng, phong phú, thay đổi theo những điều kiện kinh tế – xã hội, lịch sử

cụ thể; nhng về bản chất, về nội dung xã hội và chính trị thì CNCH ở đâu cũng giống nhau Đó là “sự hy sinh lợi ích căn bản của quần chúng cho lợi ích tạm thời của một số hết sức ít ỏi công nhân, nói cách khác, tức là sự liên minh của một bộ phận công nhân với giai cấp t sản để chống lại quần chúng vô sản” [37, tr.307-308] Và nh để “chứng minh” cho bản chất của mình, bọn CNCH đã cắt xén chủ nghĩa Mác cho phù hợp với lợi ích của GCTS, núp dới chiêu bài bảo vệ,

Trang 6

phát triển chủ nghĩa Mác, tiêu diệt linh hồn cách mạng của chủ nghĩa Mác mà thực chất là “ôm hôn chủ nghĩa Mác để bóp chết chủ nghĩa Mác” [37, tr.280] Chúng luôn tránh đặt vấn đề một cách rõ ràng và tránh những tình huống khiến mình phải bày tỏ quan điểm, chúng thoả hiệp vô nguyên tắc, lúc thì ngả theo phái này, lúc lại ngả theo phái kia, thậm chí, cùng một lúc có thể chấp nhận cả quan điểm cách mạng và phản cách mạng trong cùng một vấn đề chỉ để “lẩn tránh một cách khéo léo mọi sự trình bày rõ ràng những nguyên tắc của họ” [34, tr.478]

Đặc trng của CNCH thể hiện trên một số nội dung sau: Những ngời CHCN

đã đa ra những luận điểm coi thờng: “Giai cấp công nhân không thể tự giải phóng mình đợc Muốn đạt đợc mục đích đó, giai cấp công nhân phải tự đặt mình dới sự lãnh đạo của giai cấp t sản “có học và có của”, vì chỉ có bọn này mới có “thì giờ và cơ hội” nghiên cứu những điều “có lợi cho công nhân”, và vì thế mà họ khuyên GCCN “không nên đấu tranh với giai cấp t sản dới bất cứ hình thức nào, mà phải tranh thủ họ bằng sự tuyên truyền mạnh mẽ” [22, tr.248] Đến khi nhận ra rằng đấu tranh giai cấp là một tất yếu khách quan không thể phủ nhận đợc thì những ngời CHCN buộc phải nói đến đấu tranh giai cấp, và “ngời ta thừa nhận trên giấy cuộc đấu tranh giai cấp, bởi lẽ đơn giản là không thể bác bỏ nó đợc nữa, nhng trên thực tế, ngời ta lại làm lu mờ cuộc đấu tranh ấy, che lấp nó, làm suy yếu nó”[28, tr.561] Từ những quan điểm nh vậy, những ngời CHCN muốn áp đặt cho đảng của GCCN một đờng lối chiến lợc hoàn toàn sai trái, thiếu chín chắn, phục vụ lợi ích trớc mắt, nhất thời của một nhóm ngời nào đó

Bớc đầu của con đờng đúng đắn mà PTCN phải đi tới là thành lập một chính đảng công nhân với tính cách là lực lợng chính trị độc lập của GCCN đối lập với những lực lợng chính trị của GCTS Những phần tử CHCN đã tìm mọi cách để ngăn cản, làm cho phong trào đấu tranh của GCCN đi chệch khỏi con

đờng này CNCH đã đa ra lý luận nhợng bộ đối với kẻ thù của GCVS, chứ không phải là lý luận đấu tranh Họ luôn luôn sợ rằng cuộc đấu tranh quyết liệt của GCVS chống lại GCTS sẽ “đi quá xa”, làm cho GCTS mếch lòng, gây nên

sự căm ghét của GCTS đối với PTCN Từ đó, những ngời CNCH đòi hỏi chuyển quyền lãnh đạo phong trào vào tay những phần tử t sản, tiểu t sản “có học thức

nh họ” [28, tr.539] C.Mác và Ph.Ăngghen đã cảnh báo, “nếu nh trong chừng mực nào đó, sự lãnh đạo của đảng rơi vào tay những ngời ấy thì đảng sẽ mất sinh lực ngay và sẽ không còn năng lực vô sản nữa” [22, tr.254-255]

Trang 7

Chủ nghĩa cơ hội đã tuyệt đối hoá, đề cao quá mức vai trò của đấu tranh kinh tế, trong khi phủ nhận tính chất chính trị của cuộc đấu tranh giai cấp, hạ thấp vai trò, ý nghĩa của đấu tranh chính trị, bó hẹp đấu tranh chính trị thành một sự chắp vá xã hội, cải lơng CNCH đã chống lại việc đấu tranh giành tự do chính trị cho GCVS, chống lại việc giành chính quyền bằng phơng pháp đấu tranh cách mạng triệt để V.I.Lênin đã khẳng định rằng tất cả những luận điệu này của CNCH là sự xuyên tạc, bóp méo, phản bội lại chủ nghĩa Mác, là sự phủ nhận chân lý đã đợc nêu ra trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “bất cứ cuộc

đấu tranh nào cũng là đấu tranh chính trị, phong trào công nhân chỉ trở thành phong trào có tính chất giai cấp khi nào nó chuyển sang đấu tranh chính trị” [16, tr.394]

Với bản chất muốn thoả hiệp với GCTS, không dám và không muốn giành lấy chính quyền, những ngời CHCN ra sức thuyết phục mọi ngời, thuyết phục

Đảng của GCCN rằng, với trật tự hợp pháp của chế độ xã hội TBCN “là có thể

đủ để thực hiện mọi yêu sách của đảng bằng con đờng hoà bình” Họ cho rằng, GCCN không cần phải tiến hành cách mạng, không cần đấu tranh lật đổ chính quyền của GCTS, không cần giành lấy chính quyền mà vẫn có thể tiến lên CNXH đợc Họ khẳng định rằng xã hội TBCN đang dần phát triển, “tiến hoá” thành CNXH; và với những điều kiện kinh tế – xã hội, chính trị – xã hội của CNTB, dới sự thống trị của GCTS, những lý tởng XHCN hoàn toàn có thể trở thành hiện thực Họ “chân thành” khuyên GCCN “hãy hớng tất cả sức lực và toàn bộ nghị lực của mình vào việc thực hiện những cuộc cải cách tiểu t sản và

có tính chất vá víu, có tác dụng củng cố chế độ xã hội cũ và qua đó, có thể, ngời

ta (giai cấp t sản) sẽ biến thảm họa cuối cùng thành một quá trình hoà bình chuyển hoá, diễn ra dần dần, theo từng phần và tuỳ theo khả năng” [28, tr.561] C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng: “những luận điểm CHCN chỉ là sự tự lừa dối mình và lừa dối đảng, và với những luận điểm nh vậy CNCH sẽ đa đảng của giai cấp công nhân vào con đờng lầm lạc mà thôi” [25, tr.346]

Chơng 2

cuộc đấu tranh của C.Mác – Ph.ăngghen chống chủ nghĩa cơ hội thời kì 1847-1895 và ý nghĩa

của cuộc đấu tranh ấy đối với ptcs và cnqt

2.1 C.Mác Ph.Ăngghen đấu tranh chống các phái cơ hội chủ nghĩa thời kì 1847-1895

2.1.1 Chống chủ nghĩa Pru-đông

Trang 8

Ngay từ năm 1844, trong khi viết “Bản thảo kinh tế – triết học”, C.Mác đã từng phê phán thực chất trào lu cải lơng của đông, nhng chỉ sau khi

Pru-đông cho xuất bản tác phẩm “Triết học về sự khốn cùng” (1846) thì cuộc đấu tranh của C.Mác – Ph.Ăngghen chống CN Pru-đông mới nổ ra Qua các tác phẩm: “Sự khốn cùng của triết học” (1847), “Hệ t tởng Đức” (1848), “Bàn về Pru-đông” (2/1865), “Những chỉ thị do các đại biểu của Hội đồng trung ơng lâm thời về một số vấn đề” (1866) C.Mác – Ph.Ăngghen đã phê phán nghiêm khắc lý luận vô sách lợc của chủ nghĩa Pru-đông

Thứ nhất, C.Mác Ph.Ăngghen phê phán mâu thuẫn trong hệ thống

kinh tế của Pru-đông và mầm mống của học thuyết giá trị thặng d.

Khi trình bày “mâu thuẫn kinh tế” trong xã hội t bản, Pru-đông coi phạm trù kinh tế là “quan niệm” hoặc là t tỏng hoàn toàn tách rời thực tế Chống lại điều

đó, C.Mác vạch rõ phạm trù kinh tế là biểu hiện lý luận có tính lịch sử về quan

hệ sản xuất phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhất định của nền sản xuất vật chất C.Mác nói: “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực l-ợng sản xuất Do có những lực ll-ợng sản xuất mới, loài ngời thay đổi phơng thức sản xuất của mình, và do thay đổi phơng thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài ngời thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình” [16, tr.187] Còn khi bàn về giá trị, C.Mác đã chỉ ra rằng: “những khái niệm của Pru-đông

về cái cơ sở của toàn bộ vấn đề tức là về giá trị trao đổi, vẫn không rõ ràng, không đúng và nửa vời đến chừng nào; chính vì vậy mà ông ta coi sự giải thích một cách không tởng học thuyết giá trị của Ricácđô là cơ sở của một khoa học mới” [19, tr.44] Mác coi sự giải thích nghèo nàn và duy tâm về trao đổi và giá trị trao đổi của Pru-đông không phải là cái gì mới mẻ, chẳng qua chỉ là sự giải thích không tởng theo lý luận của Ricácđô Bởi vì không thể nào tạo nên một xã hội mới, nh Pru-đông nói, mà chỉ cần thông qua giá trị cấu thành để khiến mọi ngời lao động đều đợc thù lao bình đẳng, tức là biến mọi ngời thành những ngời lao động trao đổi một lợng lao động nh nhau, để từ đó thực hiện ảo tởng cải tạo xã hội một cách hoà bình Với C.Mác: “Nh vậy, giá trị tơng đối, đo bằng thời gian lao động, tai hại thay lại là công thức của chế độ nô lệ hiện đại của ngời công nhân, chứ không phải – nh ông Pru-đông muốn – là “lý luận cách mạng” về sự giải phóng giai cấp vô sản” [16, tr.125]

Thứ hai, C.Mác phê phán Pru-đông lạm dụng phép biện chứng của Hêghen, đồng thời trình bày t tởng cốt lõi của phép biện chứng duy vật.

C.Mác chỉ ra rằng Pru-đông chỉ học đợc ở Hêghen những thuật ngữ của phép biện chứng, cái mà ông ta gọi là vận động biện chứng chẳng qua chỉ là sự

Trang 9

phân ra một cách giáo điều hai mặt tốt – xấu mà thôi Pru-đông cho rằng bất kì một phạm trù kinh tế nào cũng đều có hai mặt, mặt tốt và mặt xấu, cái lợi và cái hại cùng lẫn lộn với nhau, sẽ tạo thành mâu thuẫn vốn có của phạm trù kinh

tế Vì vậy, ông ta đề ra nhiệm vụ giữ lại mặt tốt và bỏ đi mặt xấu của nó Từ đó thấy rằng, trên thực tế, ông ta đã bóp nghẹt phép biện chứng một cách thô bạo, bởi vì hai mặt đối lập của mỗi mâu thuẫn đều dựa vào nhau tồn tại, mặt nọ tạo

điều kiện cho mặt kia Nếu xoá bỏ một mặt, thì mặt kia cũng mất điều kiện tồn tại Vả lại, cái mà Pru-đông gọi là “mặt xấu”, trên thực tế lại là mặt thực sự đại biểu cho sự tiến bộ trong hai mặt đối lập của mỗi sự vật Nhân tố TBCN trong lòng xã hội phong kiến chính là “mặt xấu” đó Học thuyết “mâu thuẫn” của Pru-đông chỉ là luận điệu xằng bậy bóp chết sự vật mới nảy sinh Chống lại sự xằng bậy đó, ở đây, lần đầu tiên C.Mác đã trình bày cực kì sâu sắc thực chất của phép biện chứng duy vật: “Cái cấu thành bản chất của sự vận động biện chứng, chính là sự cùng nhau tồn tại của hai mặt mâu thuẫn, sự đấu tranh giữa hai mặt ấy và sự dung hợp của hai mặt ấy thành một phạm trù mới Chỉ với việc

tự đề ra cho mình vấn đề loại bỏ mặt xấu ngời ta cũng đã chặn đứng sự vận

động biện chứng rồi” [16,tr.191]

Mặt khác, C.Mác còn phê phán Pru-đông đã vận dụng một cách xuyên tạc phép biện chứng của Hêghen để tuyên truyền cho quan điểm duy tâm về lịch

sử Mác đã đi đến khẳng định: của cải và lực lợng sản xuất đợc sản sinh đồng thời với đối kháng giai cấp và trong hai giai cấp đối kháng thì giai cấp tiên tiến,

đại biểu cho mặt phủ định, dần dần lớn mạnh lên, cho tới khi điều kiện vật chất cho sự giải phóng của họ trở nên chín muồi: Mác cũng nói rõ quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất cùng tính chất lịch sử, “những quan hệ trong đó các lực lợng sản xuất phát triển, đều không phải là những quy luật vĩnh cửu, mà chúng thích ứng với một trình độ phát triển nhất định của con ngời và của những lực lợng sản xuất của con ngời, và bất kì sự thay đổi nào trong lực lợng sản xuất của con ngời đều tất phải dẫn đến một sự thay đổi trong những quan hệ sản xuất của con ngời” [16,tr.201-202]

Thứ ba, C.Mác trình bày những nguyên lý cơ bản của CNXH khoa học trên cơ sở lý luận mới, phê phán lý luận cách mạng xã hội của chủ nghĩa“ ”

Pru-đông.

Ngay trong khi phê phán quan niệm duy tâm về lịch sử hay khi phê phán lý luận kinh tế của Pru-đông và trình bày lý luận kinh tế của mình, C.Mác cũng

đều lập luận một cách khoa học học thuyết đấu tranh giải phóng GCVS Đó là

sự thống nhất giữa đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị nhằm cải thiện điều kiện sinh hoạt vật chất tiến tới giải phóng bản thân, lật đổ nền thống trị của

Trang 10

GCTS Đó là việc tập hợp GCCN thành tổ chức, là chiến luỹ để công nhân đấu tranh với chủ xí nghiệp, thúc đẩy họ đoàn kết trong đấu tranh, tổ chức thành giai cấp cho nó, rồi từ đó tổ chức thành chính đảng lớn mạnh, tiến lên giành chính quyền Cho nên: “Chừng nào mà GCVS cha đợc phát triển đầy đủ để tự cấu thành giai cấp, và do đó, chừng nào ngay cả cuộc đấu tranh của GCVS với GCTS còn cha mang một tính chất chính trị, và chừng nào những lực lợng sản xuất còn cha phát triển đầy đủ trong lòng bản thân GCTS để hé ra cho ngời ta thấy đợc những điều kiện vật chất cần thiết cho sự giải phóng của GCVS và sự thành lập một xã hội mới – thì chừng đó những nhà lý luận ấy chỉ là những nhà không tởng, họ cố nghĩ ra những học thuyết và ra sức đi tìm một khoa học

có tác dụng tái tạo để phục vụ cho những nhu cầu của các giai cấp bị áp bức” [16, tr.205]

Tháng 9/1865, cuộc xung đột xoay quanh vấn đề có đa Ba Lan vào chơng trình nghị sự Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Quốc tế I hay không đã phản ánh

sự đối lập gay gắt giữa chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Pru-đông về vấn đề đấu tranh giai phóng dân tộc và CMVS Chủ nghĩa Pru-đông cho rằng, phong trào giải phóng dân tộc của Ba Lan không liên quan gì đến CMVS “Cách mạng xã hội” mà GCVS coi trọng không nhất thiết phải phát động đấu tranh chính trị Ngay cả hoạt động đấu tranh đòi ngày làm việc bình thờng cũng cần phải gạt bỏ

ra khỏi phạm vi PTCN Từ đó, chủ nghĩa Pru-đông đã đa CNVCP vào các nguyên tắc tổ chức của PTCN quốc tế và lấy cơng lĩnh “cách mạng xã hội” làm hạt nhân Chống lại việc đó, Mác đã đề ra lý luận và sách lợc “Thống nhất hành

động quốc tế trong cuộc đấu tranh giữa lao động và t bản” Mác cho rằng mục

đích hoạt động của Quốc Tế I là: “thống nhất vào một dòng chung của cuộc đấu tranh từ trớc đến nay còn tản mạn của giai cấp công nhân ở các nớc khác nhau

để tự giải phóng mình” Vì vậy, khi xác định sách lợc đấu tranh cụ thể của GCCN các nớc phải “phấn đấu làm cho công nhân các nớc không những cảm thấy mà còn hành động nh những ngời anh em và những ngời đồng chí đang

đấu tranh tự giải phóng mình trong một đạo quân thống nhất” [19,tr.258-259].Mặt khác Mác hết sức nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đấu tranh đòi giới hạn ngày làm việc và cho rằng nếu không coi giới hạn ngày làm việc là

điều kiện tiên quyết thì "mọi cố gắng khác nhằm cải thiện tình cảnh của công nhân và giải phóng họ đều sẽ không tránh khỏi thất bại"[19, tr.260]

Cuộc đấu tranh của những ngời sáng lập chủ nghĩa Mác chống CNVCP của Pru-dông kéo dài mấy chục năm,cho tới khi Công xã Pari thất bại mới triệt để xoá bỏ đợc nó, và từ đây, CNCH “vô chính phủ của những kẻ tiểu t sản” đã không còn ảnh hởng gì trong PTCS và CNQT Những môn đệ của nó cũng mất

Ngày đăng: 02/07/2016, 22:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w