1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tinh hình sản xuất trái cây và rau củ quả tại Việt Nam

23 491 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 377,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, những loại này có diện tích và sản lượng còn rất khiêm tốn ví dụ diện tíchcủa Nhãn xuồng cơm vàng mới chỉ có 200 ha, tập trung ở Bà Rịa-Vũng Tầu, không đủ tiêuthụ trong nước v

Trang 1

A GIỚI THIỆU CHUNG

1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI:

Phát huy lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng ở một nước nhiệt đới, các tỉnh tại Việt Nam

đã hình thành các vùng nguyên liệu trái cây khá tập trung phục vụ cho chế biến công nghiệp

và tiêu dùng Đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long có diện tích trồng cây ăn trái lớnnhất, chiếm khoảng 36,5% diện tích cả nước Tổng lượng giống cây ăn trái các tỉnh ĐBSCLsản xuất bình quân trong vài năm gần đây vào khoảng 26 đến 27 triệu cây/năm Số lượnggiống cây ăn trái này được lưu thông khắp cả nước kể cả sang một số nước láng giềng

Cả nước hiện có khoảng 765.000 ha cây ăn trái, sản lượng hơn 6,5 triệu tấn vớinhững loại trái cây chủ yếu như: dứa, chuối, cam, quýt, bưởi, xoài, thanh long, vải thiều,nhãn, chôm chôm, sầu riêng Kim ngạch xuất khẩu trái cây trong những năm gần đây daođộng ở khoảng 150 đến 180 triệu USD/năm Tuy nhiên, các loại cây ăn trái đang trồng hầuhết đều cho năng suất không cao, chất lượng kém (không đẹp, kích cỡ không đều, vị khôngđặc trưng), giá thành cao, nên khả năng cạnh tranh thấp Điều này dẫn tới cây ăn trái nước tađang đứng trước thách thức lớn khi hội nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Theo dự báo của Tổ chức Nông – lương thế giới (FAO), nhu cầu tiêu thụ rau quả trênthị trường thế giới hàng năm tăng khoảng 3,6%, trong khi đó thì khả năng tăng trưởng sảnxuất chỉ là 2,6% nên thị trường thế giới đối với mặt hàng rau quả luôn ở tình trạng cungkhông đủ cầu, dễ tiêu thụ và giá cả luôn trong tình trạng tăng Các nước càng phát triểncông nghiệp thì nhu cầu nhập khẩu rau lại càng tăng, đời sống càng được nâng cao thì nhucầu đối với các loại hoa tươi càng tăng Có thể khẳng định rằng thị trường thế giới đối vớirau quả là rất có triển vọng

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

_ Các chiến lược phát triển của người dân, doanh nghiệp, Nhà nước

_ Các biện pháp đưa ra

3 BỐ CỤC NỘI DUNG:

Trang 2

Chương 1: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÂY RAU QUẢ TẠI VIỆT NAM

Chương 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ CỦA VIỆT NAM

Chương 3: KẾT LUẬN

B NỘI DUNG Chương 1: TÌNH HỈNH SẢN XUẤT TRÁI CÂY RAU QUẢ TẠI VIỆT NAM

1 Thực trạng sản xuất trái cây:

Diện tích cây ăn quả cả nước trong thời gian qua tăng khá nhanh, năm 2005 đạt 766,9ngàn ha (so với năm 1999 tăng thêm ngàn ha, tốc độ tăng bình quân là 8,5%/năm), cho sảnlượng 6,5 triệu tấn (trong đó chuối có sản lượng lớn nhất với khoảng 1,4 triệu tấn, tiếp đếncây có múi: 800 ngàn tấn, nhãn: 590 ngàn tấn) Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có diệntích cây ăn quả lớn nhất (262,1 ngàn ha), sản lượng đạt 2,93 triệu tấn (chiếm 35,1% về diệntích và 46,1% về sản lượng) Do đa dạng về sinh thái nên chủng loại cây ăn quả của nước tarất đa dạng, có tới trên 30 loại cây ăn quả khác nhau, thuộc 3 nhóm là: cây ăn quả nhiệt đới(chuối, dứa, xoài…), á nhiệt đới (cam, quýt, vải, nhãn…) và ôn đới (mận, lê…) Một trongcác nhóm cây ăn quả lớn nhất và phát triển mạnh nhất là nhãn, vải và chôm chôm Diện tíchcủa các loại cây này chiếm 26% tổng diện tích cây ăn quả Tiếp theo đó là chuối, chiếmkhoảng 19% Trên địa bàn cả nước, bước đầu đã hình thành các vùng trồng cây ăn quả khátập trung, cho sản lượng hàng hoá lớn Một số vùng cây ăn quả tập trung điển hình như sau:

+ Vải thiều: vùng vải tập trung lớn nhất cả

nước là Bắc Giang (chủ yếu ở 3 huyện Lục Ngạn,

Lục Nam và Lạng Giang), có diện tích 35,1 ngàn

ha, sản lượng đạt 120,1 ngàn tấn Tiếp theo là Hải

Dương (tập trung ở 2 huyện Thanh Hà và Chí

Linh) với diện tích 14 ngàn ha, sản lượng 36,4

ngàn tấn

Trang 3

+ Dứa: đây là một trong 3 loại cây ănquả chủ đạo được khuyến khích đầu tư pháttriển trong thời gian vừa qua nhằm phục vụxuất khẩu Các giống được sử dụng chính baogồm giống Queen và Cayene; trong đó giốngCayene là loại có năng suất cao, thích hợp đểchế biến (nước quả cô đặc, nước dứa tựnhiên…) Các địa phương có diện tích dứa tập trung lớn là Tiền Giang (3,7 ngàn ha), KiênGiang (3,3 ngàn ha); Nghệ An(3,1 ngàn ha), Ninh Bình (3,0 ngàn ha) và Quảng Nam (2,7ngàn ha).

+ Bưởi: Việt Nam có nhiều giống bưởi ngon, được người tiêu dùng đánh giá cao nhưbưởi Năm roi, Da xanh, Phúc Trạch, Thanh Trà, Diễn, Đoan

Hùng…Tuy nhiên, chỉ có bưởi Năm Roi là có sản lượng mang ý nghĩahàng hoá lớn Tổng diện tích bưởi Năm Roi là 9,2 ngàn ha, phân bố chính

ở tỉnh Vĩnh Long (diện tích 4,5 ngàn ha cho sản lượng 31,3 ngàntấn, chiếm 48,6% về diện tích và 54,3% về sản lượng bưởi NămRoi cả nước); trong đó tập trung ở huyện Bình Minh: 3,4 ngàn hađạt sản lượng gần 30 ngàn tấn Tiếp theo là tỉnh Hậu Giang (1,3 ngànha)

+ Xoài: cũng là loại cây trồng có

tỷ trọng diện tích lớn của Việt Nam Hiện cónhiều giống xoài đang được trồng ở nước ta;giống có chất lượng cao và được trồng tập trung

là giống xoài cát Hoà Lộc Xoài cát Hoà Lộc đượcphân bố chính dọc theo sông Tiền (cách cầu MỹThuận khoảng 20-25 km) với diện tích 4,4 ngàn

ha đạt sản lượng 22,6 ngàn tấn Diện tích xoài Hoà Lộc tập trung chủ yếu ở tỉnh Tiền Giang(diện tích 1,6 ngàn ha, sản lượng 10,1 ngàn tấn); tiếp theo là tỉnh Đồng Tháp (873 ha, sảnlượng 4,3 ngàn tấn)

+ Thanh long: được trồng tập trung chủ yếu ở Bình Thuận (diện tích khoảng 5 ngàn

ha, sản lượng gần 90 ngàn tấn, chiếm 70 % diện tích và 78,6% về sản lượng thanh long cả

Trang 4

nước) Tiếp theo là Tiền Giang, có 2 ngàn ha Thanh long là loại trái cây

có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất so với các loại quả khác

Ngoài ra, còn có một số loại cây ăn quả khác cũng

có khả năng xuất khẩu tươi là: Sầu riêng cơm vàng hạt

lép, Vú sữa Lò rèn, Nhãn xuồng cơm vàng Tuy nhiên,

những loại này có diện tích và sản lượng còn rất khiêm tốn (ví dụ diện tíchcủa Nhãn xuồng cơm vàng mới chỉ có 200 ha, tập trung ở Bà Rịa-Vũng Tầu), không đủ tiêuthụ trong nước và giá bán trong nước thậm chí còn cao hơn giá xuất khẩu

Về chủng loại các trái cây có lợi thế cạnh tranh, Bộ Nông nghiệp và PTNT xác định

11 loại trái cây có lợi thế cạnh tranh, bao gồm: Thanh long, Vú sữa, Măng cụt, Cây có múi(Bưởi, Cam sành), Xoài, Sầu riêng, Dứa, Vải, Nhãn, Dừa và Đu đủ

Theo đề án qui hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản cả nước đếnnăm 2010 và tầm nhìn 2020 mới nhất của Thủ tướng Chính phủ thì trong đó, đối với cây ănquả Chính phủ định hướng: Trong những năm tới mở rộng diện tích 11 loại cây ăn quả cólợi thế; riêng đối với nhãn, vải chỉ trồng mới bằng các giống rải vụ, chất lượng cao và cảitạo vườn tạp Diện tích cây ăn quả đến năm 2010 đạt 1 triệu ha, tầm nhìn năm 2020 khoảng1,3 triệu ha Bố trí chủ yếu ở Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng Sông Cửu Long,Đông nam bộ, Đồng bằng Sông Hồng và một số vùng khác có đủ điều kiện

2 Thực trạng sản xuất rau:

Bảy vùng địa lí nước ta có tỉ lệ phát triển cây rau khác nhau, tương ứng với điều kiện

tự nhiên và tập quán canh tác của mỗi vùng Từ trước tới nay, lợi thế về điều kiện tự nhiêngiúp cho khu vực đồng bằng sông hồng chở thành vùng trồng rau lớn nhất của cả nước raucác loại có diện tích gieo trồng hơn 7 vạn ha, chiếm 27.8% diện tích rau cả nước, khoảng30% sản lượng rau của cả nước Rau được trồng tập trung nhiều ở vành đai xung quanh cáckhu công nghiệp và thành phố Vùng sản xuất rau lớn thứ hai là khu vực đồng bằng sôngcửu long

Diện tích và sản lượng rau Việt Nam

Năm Diện thích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn)

Trang 5

Nhìn vào bảng trên ta có thể rằng diện thích và sản lượng rau giai đoạn 2000 đến

2009 tăng liên tục Sự gia tang này nhầm đáp ứng được hai nhu cầu, đó là tiêu dung trongnước và xuất khẩu Ngày nay, xu hướng phát triển hàng hóa ngày càng tang và sản xuất raucũng không phải ngoại lệ Tuy nhiên, mức độ thương mại hhoas lại không giống nhau giữacác vùng Nguyên nhân là do xu hướng tập trung chuyên canh khác nhau ở các vùng trong

cả nước, những vùng sản xuất nhỏ lẻ manh mún sẽ có tỉ suất hàng hóa thấp

Về cơ cấu chủng loại rau được tiêu thụ ở mỗi vùng khác nhau Chỉ có thành thị, tỉ lệ tiêuthụ với tất cả các sản phẩm đều cao

Các loại rau được tiêu thụ rộng rãi nhất là rau muống (95%), cà chua (88%) và tỉ lệtiêu thụ rau gần gấp 3 lần so với tỉ lệ tiêu thụ quả

Một sô loại rau tập trung là:

+Nấm: Trồng chủ yếu ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh phía Bắc(Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh,…)

+Khoai tây: Trồng chủ yếu ở khu vực Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh

+Măng: Trồng tập trung ở các tỉnh niềm núi phía Bắc, một số tỉnh phía nam như BạcLiêu

Còn lại tất cả rau củ chủ yêu trồng rải rác ở cả nước

3 Những biện pháp bảo quản rau thu hoạch quả hợp lí cho khâu xuất khẩu:

Bảo quản hoa quả sau thu hoạch là khâu quan trọng trong quy trình sản xuất nhằmnâng cao chất lượng sản phẩm, phục vụ xuất khẩu Nhưng hiện nay, đa số nông dân và các

cơ sở sản xuất, thu mua đều thu hoạch và mua bán rau quả theo tập quán, không có quytrình bảo quản sau thu hoạch

Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sản phẩm, làm hạn chế khả năngxuất khẩu của trái cây Việt Nam Đây là một trong những vấn đề được đặt ra trong hội nghịđánh giá hiện trạng và định hướng phát triển cây ăn quả do Bộ NN&PTNT vừa tổ chức

Công nghệ, cơ sở vật chất yếu và thiếu

Trang 6

Theo Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, thế mạnh của ViệtNam là có nhiều loại rau quả rất ngon, nhu cầu thị trường nước ngoài rất lớn nên rất có điềukiện xuất khẩu rau quả Tuy nhiên, xuất khẩu rau quả của Việt Nam hiện đang vấp phảinhiều khó khăn, vướng mắc Khó khăn lớn nhất là các nước nhập khẩu thường xuyên yêucầu phải cung cấp đủ số lượng và chất lượng trong khi các nhà cung ứng của Việt Nam chưađáp ứng được yêu cầu này Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là khâu thuhái, bảo quản sau thu hoạch của ta còn yếu kém Công nghệ sau thu hoạch như xử lý, bảoquản, vận chuyển còn lạc hậu, cơ sở vật chất kèm theo như kho lạnh chuyên dùng, thiết bịrửa, phân loại, xử lý, buồng ủ chín… ít được các doanh nghiệp đầu tư.

Mặt khác, sản xuất cây ăn quả của nước ta chủ yếu theo quy mô nhỏ (vườn hộ giađình) nên phần lớn chưa ứng dụng kỹ thuật cơ khí vào thu hái, lựa chọn và bảo quản Hiệnnay, mới chỉ có 10% lượng vải quả và nhãn được đưa vào chế biến nhưng do chưa có côngnghệ và cơ sở vật chất thích hợp nên tỷ lệ tổn thất tới 25-30% Một số loại quả như chuối,vải, nhãn được sấy khô, tuy đã kéo dài thời gian sử dụng nhưng không giữ được hương vị tựnhiên Do tỷ lệ áp dụng kỹ thuật thu hái, phân loại bảo quản còn thấp, kỹ thuật bảo quảnmới chỉ dừng lại ở việc đóng gói bao bì và lưu giữ tại cảng bằng các kho mát chuyên dùng,

kỹ thuật bảo quản còn lạc hậu nên ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, khiến xuất khẩu quảtươi bị hạn chế

Thiếu các vùng nguyên liệu an toàn

Theo TS Hoàng Lệ Hằng, Phó trưởng Bộ môn Bảo quản, chế biến (Viện Nghiên cứurau quả), khâu bảo quản sau thu hoạch theo đúng quy trình tùy thuộc rất lớn vào nguyên liệuđầu vào Nếu hoa quả không tươi ngay từ khâu thu hoạch thì dù công nghệ bảo quản có tốtđến đâu cũng khó đối với các nhà nhập khẩu Thời gian qua, việc quy hoạch các vùngnguyên liệu an toàn phục vụ xuất khẩu rau quả chưa được quan tâm đúng mức nên chưa đápứng được nhu cầu nhập khẩu của khách hàng

Mặt khác, đa số hộ nông dân chưa áp dụng rộng rãi hệ thống thực hành nông nghiệptốt (GAP) trong quá trình sản xuất nên hiệu quả sản xuất thấp Cho đến nay, ở miền Namchỉ có một vài cơ sở sản xuất thanh long được cấp giấy chứng nhận của EuroGAP Đặc biệt,việc sử dụng hóa chất bảo quản hiện nay vẫn chủ yếu là các chất chống thối mốc, chống nảymầm nhưng chưa được kiểm soát chặt chẽ, khiến người tiêu dùng không yên tâm

Cần những giải pháp hợp lý

Trang 7

Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, do quá trình bảo quản còn kém nên có sự sụtgiảm đáng kể về chất lượng (tỉ lệ lên đến 20% so với giá trị sản phẩm) Vì vậy, yếu tố quantrọng đặt ra đối với ngành rau quả Việt Nam là triển khai đồng bộ các giải pháp: quy hoạchvùng nguyên liệu, đầu tư công nghệ, máy móc thiết bị từ khâu thu hái đến khâu bảo quản.Trước mắt, cần xây dựng hệ thống bảo quản, dự trữ hiện đại, bảo đảm tiêu chuẩn quốc tế đểbảo đảm chất lượng rau quả và làm giảm tổn thất sau thu hoạch.

Theo Cục Chế biến, thương mại nông- lâm - thủy sản và nghề muối (Bộ NN&PTNT):Cần nghiên cứu hoàn thiện và áp dụng các công nghệ bảo quản hoa quả tiên tiến, hiện đạinhư bảo quản mát, bảo quản trong môi trường khí quyển cải biến, chiếu xạ… nhằm giảmtổn thất sau thu hoạch, kéo dài thời gian bảo quản, vận chuyển đi xa và bảo đảm vệ sinh antoàn thực phẩm, ứng dụng các công nghệ tiên tiến như công nghệ lạnh, chiên sấy chânkhông… Theo Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) thì cần tập trung đầu tư công nghệ sau thuhoạch, nhất là các khâu sơ chế, chế biến, bảo quản và vận chuyển trái cây Trong đó, ưu tiêncho đầu tư các thiết bị chế biến và bảo quản hoa quả, kho lạnh, xe lạnh, thiết bị xử lý nồng

quả của Việt Nam:

Theo Tổ chức nông lương Liên hợp quốc

(FAO), nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thế giới tăng bình quân 3,6%/năm, nhưng mức cungchỉ tăng 2,8%/năm Điều này cho thấy thị trường xuất khẩu rau quả có nhiều tiềm năng Tuynhiên, trong nhiều năm qua thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam đã giảm mạnh Nếu

Trang 8

năm 2001, xuất khẩu 42 nước và vùng lãnh thổ, thì năm 2004 còn lại 39 và năm 2005 chỉcòn 36.

Nguyên nhân của sự suy giảm này, trước hết là giống cây ăn trái của Việt Nam mới chỉdừng ở mức độ khai thác các giống đã có sẵn chứ chưa đầu tư thích đáng cho việc phát triểncũng như bảo quản những giống mới có chất lượng cao, phù hợp thị hiếu của các thị trườngkhác nhau Hầu hết các cơ sở giống đều thiếu hẳn vườn cây đầu dòng hoặc không có vườncung cấp mắt ghép được nhân từ cây đầu dòng được xác nhận Đối với giống cây có múisạch bệnh được sản xuất trong nhà lưới mỗi năm cũng chỉ khoảng 500.000 cây/năm trongkhi đó nhu cầu cần đến 4 đến 5 triệu cây giống mỗi năm và giá bán lại cao (12000đ đến15000đ/cây), do đó nhà vườn khó mua được giống tốt

4.1 Một số hạn chế về sản xuất:

Trong những năm qua sản xuất rau quả của Việt Nam đã đạt được những kết quảnhất định nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế do những yếu kém nội tại của ngành rau quả cũngnhư những bất cập trong thực hiện các chính sách phát tiển Cụ thể là:

-Về phát triển vùng chuyên canh rau quả xuất khẩu:

Trong những năm qua, những nỗ lực xây dựng vùng nguyên liệu tốt cho chế biếnxuất khẩu đã góp phần hình thành được nhiều vùng quả tập trung như vùng xoài cát HoàLộc (Tiền Giang), Thanh Long (Bình Thuận), vải thiều Bắc Giang, nho (Ninh Thuận), bưởiNăm Roi (Vĩnh Long) Năm 2006, Việt Nam phấn đấu đưa diện tích cây ăn quả lên 760

Trang 9

nghìn ha, tăng 5 nghìn ha so với năm 2005 và đạt kim ngạch xuất khẩu rau quả phấn đấu đạt

330 triệu USD Để đạt mục tiêu này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tập trungphát triển các loại cây ăn quả có lợi thế như loại cây có múi gồm cam, quýt, bưởi; dứa, xoài,nhãn, vải, thanh long, sầu riêng, măng cụt, vú sữa Phát triển các giống cây ăn quả chấtlượng cao, đặc sản ở các vùng như cam, quýt (Canh, Cần Thơ), bưởi (Phúc Trạch, ĐoanHùng, Năm Roi)

Tuy nhiên, diện tích các vùng chuyên canh còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích755.000 ha cây ăn quả hiện có trên cả nước; phần lớn diện tích vẫn là vườn tạp, phát triểntheo quy mô hộ gia đình Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự không ổn định của xuấtkhẩu là do quy hoạch chưa có trọng tâm, chưa tập trung tối ưu để tạo ra những vùng sảnxuất có tính cạnh tranh Số vùng chuyên canh như vải thiều Bắc Giang, vú sữa Lò Rèn,thanh long Bình Thuận, nho Ninh Thuận còn quá ít nên khi khách hàng cần sản lượng lớn,thời gian giao hàng ngắn thì khó có thể thu gom đủ Ngoài ra, do giống và quy trình chămsóc không đồng đều, nguồn nguyên liệu lại không ổn định, ảnh hưởng đến chất lượng chếbiến

Nhiều chính sách còn chưa thực sự cụ thể hoá, mức độ phát huy hiệu lực còn rất hạnchế do không đủ các nguồn lực về tài chính, trình độ quản lý, thủ tục rườm rà, khó vậndụng: Nghị quyết 09 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấunông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm chưa có hướng dẫn và chính sách cụ thể; Quyết định 80

về khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng chưa cụ thể hoá các quychế hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, thuỷ lợi, xúc tiến thương mại, khuyến nông và chế tài xử phạtcác trường hợp vi phạm hợp đồng nên khi triển khai còn gặp nhiều lúng túng, hiệu lực chưacao

Chính sách về đất đai vẫn còn những hạn chế cần phải khắc phục, điều chỉnh đểkhuyến khích hơn nữa người nông dân tích tụ đất, lập trang trại sản xuất hàng hoá với sốlượng lớn, quy cách đồng đều, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu thị trường Chưa có chế tài

để gắn kết giữa quyền lợi với nghĩa vụ và trách nhiệm sử dụng đất của người dân nên sảnxuất hàng hóa chưa thực sự đạt hiệu quả cao

Các chính sách về kinh tế trang trại còn chưa được cụ thể hoá, khó áp dụng trongthực tiễn Do đó, sự phát triển của kinh tế trang trại còn mang tính tự phát, hiệu quả hoạtđộng còn chưa cao Để loại hình kinh tế đặc thù này phát triển ngang tầm với ưu thế vốn cócủa nó, cần phải xây dựng một kế hoạch phát triển lâu dài dựa trên thế mạnh của từng vùng

Trang 10

Việc thực hiện các chính sách chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tếnông thôn còn chậm, thiếu đồng bộ Tuy diện tích rau, quả và hoa, cây cảnh có tăng nhưngtại khu vực sản xuất nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến thì năng suất, chấtlượng rau quả còn thấp, không đủ cho các nhà máy Những nơi dân tự trồng thì rải rác, phântán, diện tích manh mún, chủng loại không ổn định, chất lượng không đồng đều Việc thựchiện chủ trương đa dạng hoá nông nghiệp, nâng cao năng xuất, chất lượng, hạ giá thành sảnphẩm chưa được nhiều.

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn từ nguồn ngân sách Nhànước thiếu sự cân đối giữa các ngành hàng, nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế(TD: đầu tư phát triển thuỷ lợi chủ yếu tập trung cho cây lúa, phần lớn diện tích cây ăn quảchưa có công trình thuỷ lợi) Sự chuyển biến trong điều chỉnh cơ cấu đầu tư còn chậm, chưathực sự phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

Về Giống, mặc dù đã có những văn bản pháp quy đối với quản lý giống, việc thực thivẫn còn nhiều bất cập Hệ thống quản lý chất lượng giống còn yếu kém, số cán bộ quản lýngành giống ở cấp tỉnh quá ít, cấp huyện hầu như không có Do đó, hệ thống sản xuất, cungứng giống cho dân chưa được giám sát chặt chẽ, đặc biệt việc quản lý giống lưu thông trênthị trường còn lỏng lẻo nên vẫn còn tình trạng sử dụng giống kém chất lượng, nhất là giốngcây ăn quả, gây thiệt hại cho nông dân

Thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm trong những năm gần đây rất đáng lo ngại Đặcbiệt, trong sản xuất rau quả, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, chất bảo quản không đúngquy định hoặc cấm lưu hành trên thị trường đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, ảnhhưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về VSATTP đếnnay về cơ bản đã hoàn thành, tuy nhiên việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn VSATTP cònchậm, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý và và các tiêu chuẩnquốc tế Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về VSATTP còn yếu, phân tán, chưa phối hợpchặt chẽ giữa các bộ ngành

4.2 Nguyên nhân của tồn tại:

Xét về nguyên nhân khách quan, xuất phát điểm của nông nghiệp Việt Nam thấptrong khi nguồn lực của cả Nhà nước và nhân dân còn hết sức hạn hẹp Hơn nữa, một bộphận cán bộ và một số ngành, địa phương chưa nhận thức đầy đủ được tầm quan trọng vàtính cấp thiết của việc phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá theo hướng công nghiệp

Trang 11

hoá, hiện đại hoá, có năng suất, chất lượng cao, đa dạng hoá sản phẩm và định hướng thịtrường nên chưa thực sự quan tâm chỉ đạo và có cơ chế chính sách đủ mạnh để thực hiện Công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp còn nhiều bất cập Nhiều chủtrương chính sách đã được ban hành những còn chậm trong việc hướng dẫn tổ chức thựchiện Một số chính sách chậm được điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu của chuyển đổi cơcấu và phát triển sản xuất Việc tuyên truyền phổ biến các chính sách để nâng cao nhận thứccủa người nông dân, giúp họ định hướng sản xuất hợp lý ở những nhiều nơi vẫn còn chậm

và chưa thực sự quan tâm

Để phát huy lợi thế so sánh của rau, hoa, quả Việt Nam trên thị trường thế giới, để thúcđẩy xuất khẩu rau, hoa quả cần phải có cơ chế quản lý và chính sách kinh tế thực sự tạo môitrường thuận lợi, khuyến khích xuất khẩu, phát huy tiềm năng của mọi thành phần kinh tếđầu tư sản xuất và tham gia xuất khẩu rau, hoa, quả Đồng thời, thực thi đồng bộ các giảipháp kinh tế - tổ chức - kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả của kinh doanh rau, hoa, quả xuấtkhẩu, thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất khẩu rau, hoa, quả phát triển

5 Mục tiêu và phương hướng phát triển sản xuất rau quả thời kỳ đến năm 2015:

Để thực hiện mục tiêu đưa sản lượng trái cây lên 9 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩuđạt 350 triệu USD vào năm 2010, thì phải quy hoạch vùng sản xuất cây ăn trái tập trung antoàn theo hướng GAP (sản xuất nông nghiệp tốt) và ứng dụng công nghệ sau thu hoạch tiêntiến nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường trong vàngoài nước; xây dựng thương hiệu trên cơ sở đảm bảo chất lượng, khối lượng và uy tín vềbao bì, nhãn hiệu, dịch vụ giao hàng; xây dựng chiến lược phát triển thị trường trong nướclàm cơ sở cho xuất khâu, đồng thời tăng cường quảng bá trái cây Việt Nam

Phát triển cây ăn quả theo hướng xây dựng các vùng sản xuất tập trung chuyên canh(qui mô phải đạt trên 1.000ha), tạo ra khối lượng sản xuất đủ lớn, có chất lượng cao, đồngđều đáp ứng được yêu cầu của thị trường, trên cơ sở phát huy lợi thế và tiềm năng của từngloại cây trồng ở từng vùng Tập trung phát triển 11 loại cây ăn quả có lợi thế cạnh tranh,trong đó có một số loại cây chủ lực phục vụ xuất khẩu như: Cam sành, Thanh long, Xoài cátHoà Lộc, Bưởi Năm Roi, Vải, Vú sữa và Măng cụt Mỗi tỉnh cần chọn từ 1 đến 2 hoặc 3 cây

ăn quả có hội đủ các điều kiện phát triển sản xuất thành sản phẩm hàng hoá chủ lực có đủsức cạnh tranh trên thị trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Ngày đăng: 02/07/2016, 18:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w