TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNGKHOA NGỮ VĂN - ĐỊA LÝ ĐỖ THỊ YẾN TÌM HIỂU VỀ CHỮ NÔM MƯỢN NGUYÊN TRONG TÁC PHẨM "CHINH PHỤ NGÂM" DIỄN NÔM TÓM TẮT KHÓA LUẬN... - Thư viện trường Đại học Hải Phòng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
KHOA NGỮ VĂN - ĐỊA LÝ
ĐỖ THỊ YẾN
TÌM HIỂU VỀ CHỮ NÔM MƯỢN NGUYÊN TRONG TÁC PHẨM "CHINH PHỤ NGÂM" DIỄN NÔM
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Trang 2Hải Phòng, năm 2016
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
KHOA NGỮ VĂN - ĐỊA LÝ
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ KIM THOA
Trang 4- Thư viện trường Đại học Hải Phòng CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do- Hạnh phúc - NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Tìm hiểu chữ Nôm mượn nguyên trong tác phẩm Chinh phụ
ngâm diễn Nôm
Họ và tên sinh viên: Đỗ Thị Yến Ngày sinh: 16-12-1994
Lớp: Đại học Sư phạm Ngữ văn Khóa: K13 Trường Đại học Hải PhòngNgười hướng dẫn: TS Giảng viên chính Nguyễn Thị Kim Hoa Chứcdanh: Tổ trưởng tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn- Địa lý, trường Đại học Hải Phòng
NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ
Ý thức tổ chức kỉ luật trong quá trình nghiên cứu:
Sinh viên Đỗ Thị Yến rất có ý thức kỉ luật trong quá trình nghiên cứu
đề tài khóa luận, không quản khó khăn thực hiện đúng những yêu cầu mà giáoviên hướng dẫn đề ra, chăm chỉ chuyên cần trong việc tiến hành làm khóaluận, có thái độ tích cực, cầu thị trong học tập, nghiên cứu
Khả năng nghiên cứu và vận dụng kiến thức:
Sinh viên Nguyễn Thị Yến có khả năng nghiên cứu tốt, nhanh nhạynắm bắt những vấn đề được giáo viên hướng dẫn nêu ra Sinh viên vận dụngkiến thức một cách nhuần nhuyễn để tổ chức triển khai những vấn đề trongkhóa luận
Các nhận xét khác: Không
Hải Phòng ngày 31 tháng 5 năm 2016
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Nguyễn Thị Kim Hoa
Trang 6MỤC LỤC
PHÂN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Cấu trúc của đề tài 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHỮ NÔM VÀ TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM DIỄN NÔM 6
1.1 Những vấn đề chung về chữ Nôm 6
1.1.1 Sự ra đời và việc sử dụng chữ Nôm sáng tác các tác phẩm văn học 6
1.1.2 Chữ Nôm mượn nguyên 8
1.2 Tác phẩmChinh phụ ngâm diên Nôm 8
1.2.1 Tác giả Chinh phụ ngâm 8
1.2.2 Dịch giả điễn Nôm 9
1.2.3 Sơ lược về tác phẩm Chinh phụ ngâm 11
1.3 Tiểu kết chương 1 16
2.1 Thống kê chữ Nôm mượn nguyên trong tác phẩm 18
2.1.1 Số lượng chữ Nôm mượn nguyên 18
2.1.2 Số lượng câu xuất hiện chữ Nôm mượn nguyên 18
2.2 Phân loại chữ Nôm mượn nguyên theo đơn vị ngôn ngữ 19
2.2.1 Từ đơn tiết 19
2.2.2 Từ song tiết 29
2.3 Kết luận chương 2 37
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ PHONG CÁCH CỦA CHỮ NÔM MƯỢN NGUYÊN TRÊN PHƯƠNG DIỆN TỪ 38
3.1 Giá trị bác học 38
3.1.1 Nghĩa trừu tượng 38
Trang 73.1.2 Nghĩa khái quát 44
3.2 Giá trị trang trọng 51
3.3 Giá trị cổ kính 61
3.4 Kết luận chương 3 65
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 8LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu khoa học là một việc làm rất cần thiết với người sinh viênnói chung và sinh viên nghành sư phạm nói riêng Nhưng nghiên cứu khoahọc là một công việc khóa khăn đòi hỏi sự cố gắng, tập trung cao độ củangười nghiên cứu cũng như sự giúp đỡ của những người có liên quan Trongquá trình thực hiện đề tài này, người nghiên cứu đã nhận được sự ủng hộ vàgiúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô và các bạn sinh viên Chúng tôi xin chânthành cảm ơn:
Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Hoa, người hướng dẫn khoa học của đề tài.Ban giám hiệu trường Đại học Hải Phòng
Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, trường Đại học Hải Phòng
Các thầy giáo, cô giáo, giảng viên khoa Ngữ Văn, trường Đại học Hải Phòng.Cùng các sinh viên…
Đã ủng hộ giúp đỡ người nghiên cứu hoàn thành đề tài này!
Trang 9PHÂN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Lịch sử phát triển của bất kỳ dân tộc nào cũng như nền văn học củadân tộc đó, để tồn tại và bền vững qua thời gian nó đều phải dựa trên cơ sởcủa sự tiếp biến giữa cái cũ và cái mới Quy chiếu vào nền văn học Việt Nam
ta cũng thấy rất rõ điều này Văn học trung đại Việt Nam có điều kiện kế thừa
có chọn lọc những ánh sáng tinh hoa, những đỉnh cao thành tựu rực rỡ từ nềnvăn học dân gian truyền thống mà cha ông ta đã dày công xây dựng và giữgìn Nói thế cũng có nghĩa là nói rằng, văn học dân gian là điểm tựa, tạo đàthuận lợi cho nền văn học trung đại nước nhà Bởi thế mà văn học trung đạiViệt Nam đã nhanh chóng phát triển, sớm trở thành một bộ phận lớn của nềnvăn học Việt Nam Có thể nói, văn học trung đại Việt Nam là “thánh địa”, làmảnh đất tươi tốt cho đơm hoa kết trái và nuôi dưỡng biết bao nhà thơ, nhàvăn ưu tú
1.2 Đặng Trần Côn một nhà thơ, nhà văn xuất sắc của văn học Việt Nam.Sinh ra và lớn lên vào thời buổi lịch sử có nhiều biến động, cuộc đời Đặng TrầnCôn cũng có nhiều biến cố, thăng trầm Tuy nhiên, dù trong bất cứ hoàn cảnhnào, vẫn sáng lên một tâm hồn cao đẹp, một cốt cách thanh cao, hết sức mẫumực để đời đời con cháu ngày sau còn nhắc đến, noi theo và thán phục
Trong văn học nước nhà, Đặng Trần Côn là cây đại thụ, là nhà thơ lớn,góp phần làm giàu thêm kho tàng văn học dân tộc với khối lượng tác phẩm đồ
sộ, quý báu Khuynh hướng chung của thơ văn ông là đi sâu vào tình cảm, đisâu vào nỗi lòng trắc ẩn, phức tạp, sâu kín của con người, nhất là đối vớingười phụ nữ Cùng với những tác giả khác cùng thời, ông được người đờitôn kính, đánh giá cao bởi những cống hiến to lớn cho nền văn học dân tộc
1.3 Có thể nói, Chinh phụ ngâm là khúc ngâm có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam Chinh phụ ngâm ra đời đã gây một tiếng
vang lớn trong giới nho sĩ đương thời Người ta chú ý đến tác phẩm nàykhông phải chỉ vì nghệ thuật điêu luyện của nó mà trước hết là vì tác phẩm đã
Trang 10thể hiện một khuynh hướng mới của văn học – khuynh hướng hướng tới cuộcsống của con người Tác phẩm viết bằng chữ Hán giữa thời đại chữ Nômđang nở rộ cho nên nhiều người đã tìm cách dịch nó ra chữ Nôm Có nhiềubản dịch và phỏng dịch của Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Khản, Bạch Liên AmNguyễn, Phan Huy Ích Trong số những bản dịch đó có một bản dịch thànhcông nhất được gọi là bản hiện hành( bản đang được lưu hành).
Cũng như hầu hết kiệt tác văn chương khác, Chinh phụ ngâm là sản
phẩm tinh thần của một thời đại nhất định Đó là thời đại nội chiến tàn khốcgiữa các tập đoàn phong kiến cát cứ Lê – Trịnh – Mạc – Nguyễn, và giữa cáctriều đình này với các phong trào khởi nghĩa của giai cấp nông dân đã bị dồntới bước đường cùng
1.4 Là tác phẩm viết bằng chữ Hán trong thời kì chữ Nôm đang nở rộ,
Chinh Phụ Ngâm được rất nhiều dịch giả dịch sang chữ Nôm Đã có rất nhiều
nhà nghiên cứu văn học xem xét, mổ xẻ, phân tích tác phẩm này với bản chữNôm Tuy nhiên nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học, tức khảo sát vànghiên cứu những chữ Nôm vay mượn thì còn rất ít Mà đây là một vấn đề cóthể giúp cho độc giả tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm nàymột cách thấu đáo nhất
Từ những lý do trên cộng với lòng yêu thích tác phẩm Chinh Phụ
Ngâm của Đặng Trần Côn và bản diễn Nôm đang hiện hành, chúng tôi sẽ đi
tìm hiểu về “Tìm hiểuchữ Nôm mượn nguyên trong tác phẩm Chinh Phụ
Ngâm diễn Nôm” để nhận thức toàn vẹn hơnnhững đặc sắc của khúc ngâm
này, đánh giá phần nào những đóng góp của Đặng Trần Côn trong tiến trìnhvăn học Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Tiểu sử của Đặng Trần Côn cho đến nay được biết còn rất ít Ông sinh
và mất cụ thể năm nào cũng không được biết chính xác Các nhà nghiên cứuước đoán ông sinh vào khoảng năm 1710 đến 1720 mất khoảng 1745, sống
Trang 11vào thời Lê Trung Hưng, là người học rộng, có tài văn chương Ông đã cho ra
đời rất nhiều tác phẩm, trong số đó phải kể tới Chinh phụ ngâm khúc.
Ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVIII, tác phẩm thơ Nôm trường thiên Chinh
phụ ngâm (được diễn nôm từ nguyên tác Hán văn của Đặng Trần Côn) là kiệt tác
hàng đầu của văn học cổ điển Việt Nam, bên cạnh Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Thơ nôm của Hồ Xuân Hương.
Trải qua hơn hai thế kỉ đến nay, Chinh phụ ngâm luôn giữ nguyên giá
trị của một viên ngọc thi ca sáng ngời, một thi phẩm làm vẻ vang cho xứ sởvốn “nổi tiếng thi thư” (lời Nguyễn Trãi)
Là một tác phẩm hay, độc đáo, ngay từ khi mới ra đời Chinh phụ ngâm
khúc đã được giới nghiên cứu chú ý, đánh giá giá trị nội dung và nghệ thuật Từ
đó tới nay vấn đề nghiên cứu Chinh phụ ngâm khúc đã có một lịch sử khá lâu dài
2.1 Trước thế kỉ XX các học giả Việt Nam chủ yếu chỉ nói tới bản chữ
Hán, bản chữ Nôm hầu như chưa được bình giá Phan Huy Ích trong bài “Tân
diễn Chinh phụ ngâm khúc thành ngẫu thuật” viết: “Khúc ngâm của tiên sinh làng Nhân Mục tình cao điệu thoát vang dội khắp rừng văn”.Tác giả Phạm
Đình Hổ trong Tang thương ngẫu lục đã mượn lời học giả nước tàu đề cao hết mức tác phẩm này: “Tinh thần người viết trút cả vào đây, tác giả bài này chỉ
sống ba năm thì chết” Như vậy người đương thời rất ít khen ngợi tác phẩm
này (bản chữ Hán) Tuy nhiên, những lời bình giá đó chỉ giúp người đọc thấyđược giá trị của tác phẩm chứ chưa giúp họ phương hướng khai thác tácphẩm
2.2 Từ những thập kỉ đầu của thế kỉ XX đến những năm 80 của thế kỉ
XX, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm tới Chinh phụ ngâm khúc, chủ yếu là bản diễn Nôm Hàng loạt công trình nghiên cứu về Chinh phụ ngâm khúc ra đời Như Hoàng Xuân Hãn với Chinh phụ ngâm bị khảo; Lại Ngọc Cang với
Khảo thích và giới thiệu Chinh phụ ngâm; Thuần Phong với Chinh phụ ngâm giảng luận; Đặng Thai Mai với Giảng văn Chinh phụ ngâm… Các tác giả
trên đây chủ yếu giới thiệu tác phẩm, giải thích điển tích điển cố, hiệu đính
Trang 12một số chữ, hoặc đưa ra các ý kiến về tác giả bản diễn Nôm Tuy nhiên, họcũng đề cập tới một vài nét về nội dung, nghệ thuật tác phẩm qua lời nói đầu
hay phần khảo luận Chẳng hạn Giáo sư Đặng Thai Mai nhận xét: “Nên chú ý
đến bút pháp nhà thi sĩ Tất cả cái gì là vật chất, thực thể, bao nhiêu màu sắc,
âm thanh dường như đã bị tác giả xóa nhòa đi trong những nét bút mơ hồ, mênh mông” Các nhà nghiên cứu đã phần nào đề cập tới nội dung, nghệ thuật
của tác phẩm nhưng vẫn ở mức độ chung chung, chưa cụ thể
Như vậy có thể thấy rằng mặc dù Chinh phụ ngâm khúc đã được quantâm nghiên cứu cả về nội dung và nghệ thuật, song chưa có một công trìnhnghiên cứu, khảo sát và tìm hiểu về Chinh phụ ngâm khúc dưới góc độ chữNôm mượn nguyên
3 Mục đích nghiên cứu.
Với đề tài “ Tìm hiểu về chữ Nôm mượn nguyên trong tác phẩm Chinh
Phụ Ngâm diễn Nôm” mục đích nghiên cứu của chúng tôi là:
- Giúp người học, người dạy và những người quan tâm hiểu được về sốlượng cũng như việc sử dụng chữ Nôm mượn nguyên trong tác phẩm
- Đưa ra được những giá trị của chữ Nôm mượn nguyên trên phươngdiện từ trong tác phẩm
- Giúp cho độc giả có thêm cái nhìn về giá trị nội dung cũng như nghệ
thuật của tác phẩm Chinh phụ ngâm diễn Nôm.
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong đề tài này là tác phẩm Chinh
phụ ngâm bản diễn Nôm Hiện nay, có nhiều văn bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm khúc khác nhau đang được lưu hành Trong đề tài này, chúng tôi sử
dụng văn bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm trong “Chinh phụ ngâm khúc và hai
bản dịch Nôm”Dương Phong tuyển chọn(Nhà xuất bản Văn học).
Đồng thời chúng tôi cũng tham khảo thêm các văn bản diễn Nôm khác
của tác phẩm Chinh phụ ngâm để đối chiếu so sánh khi cần thiết.
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứunhư sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Sử dụng phương pháp này chúng tôi muốn đưa ra những kết quả chínhxác để có thể đi đến kết luận khách quan, có căn cứ những nhận định về chữNôm mượn nguyên trong khóa luận
- Phương pháp phân tích văn bản
Đây là phương pháp quan trọng trong đề tài khóa luận của chúng tôi.Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích văn bản này để đi sâu vào tìm hiểu
về giá trị chữ Nôm mượn nguyên trên phương diện từ
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của đềtài được triển khai theo 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về chữ Nôm và tác phẩm Chinh phụngâm diễn Nôm
Chương 2: Khảo sát chữNôm mượn nguyên trong tác phẩm Chinh phụngâm diễn Nôm
Chương 3: Giá trị phong cách của chữ Nôm mượn nguyên trên phươngdiện từ
Trang 14CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHỮ NÔM
VÀ TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM DIỄN NÔM
1.1 Những vấn đề chung về chữ Nôm
1.1.1 Sự ra đời và việc sử dụng chữ Nôm sáng tác các tác phẩm văn học
1.1.1.1Sự ra đời của chữ Nôm
Chữ Hán được dùng ở Việt Nam một thời gian khá dài như một thứngôn ngữ chính thống, nhưng trong sinh hoạt đời thường của cộng đồngngười Việt vẫn tồn tại tiếng Việt nhưng thứ tiếng này không có chữ viết,không có văn tự Với tinh thần dân tộc quật cường, quyết không cam chịu lệthuộc người Việt dã sử dụng chữ Hán để sáng tạo ra một loại văn tự - chữNôm để ghi tiếng nói của dân tộc là điều tất yếu
Chữ Nôm không thể hình thành sớm hơn thế kỉ thứ VII, thứ VIII Vàokhoảng giữa đời Đường đến cuối đời Đường thì mói hình thành những tiền đềcần thiết cho chữ Nôm xuất hiện và cũng chỉ mới có một vài chứng cớ lẻ tẻ về
sự manh nha của chữ Nôm Sau giai đoạn này Việt Nam giành được độc lập,cách đọc chữ Hán ở Việt Nam trở thành một cách đọc riêng biệt, thoát ly hẳnảnh hưởng của chữ Hán bên kia biên giới Cách đọc tiếng Hán ở Việt Namgiữ lại cách đọc đời Đường , quyện chặt với tiếng Việt, biến hóa song songvới tiếng Việt và truyền cho đến ngày nay đó là âm Hán Việt Âm Hán Việtchính là một trong những tiền đề cho chữ Nôm ra đời Chữ Nôm không thể rađời trước khi cố định cách đọc Hán Việt
Chữ Nôm là loại chữ mà dân tộc ta đã dùng trong gần mười thế kỉ, cuốithời Pháp thuộc chữ Nôm cũng như chữ Hán đã trở thành cổ tự Chữ Nôm làsáng tạo của cha ông ta, thể hiện tinh thần độc lập tự chủ của dân tộc ta trênlĩnh vực văn hóa, là thứ chữ của dân tộc trong một thời gian dài
1.1.1.2 Việc sử dụng chữ Nôm sáng tác các tác phẩm văn học
Thời kì nhà Trần (1226-1400), người đầu tiênsử dụng chữ Nôm đượcghi vào sử sách phải kể đến là Nguyễn Thuyên Theo Đại Việt sử kí toàn thư ,năm 1282 ông đã viết một bài văn tế ném xuống sông Lô và đuổi được cá sấu
Trang 15Nguyễn Thuyên mở đầu cho việc kết hợp thơ ca dân gian người Việt với thểthức thơ Đường để có một thể thơ Nôm luật Đường mà người đời sau gọi làthể thơ “Hàn luật” Tiếp theo là Nguyễn Sĩ Cố (? - 1312), ông có tài làm thơphú chữ Nôm, nhưng những tác phẩm của ông đều bị thất truyền TrầnKhâm(1258 - 1308) là vị vua thứ ba của nhà Trần – Trần Nhân Tông TrầnNhân Tông viết nhiều tác phẩm thiền học và thơ Thiền bằng Hán văn Tácphẩm viết bằng chữ Nôm còn lại đến nay có một số bài phú và một bài ca Đó
là bài ca Cư trần lạc đạo phú và bài Đắc thú lâm truyền thành đạo ca Ngoài
ra còn có sự đóng góp của Lý Đạo Tái (1254 -1334)- sư Huyền Quang ; MạcĐĩnh Chi(1280- 1346); Chu Văn An…
Thời kì nhà Lê có rất nhiều thơ bằng chữ Nôm, nhưng trước tiên phải
kể đến Nguyễn Trãi ( 1380- 1442) , ông đỗ thái học sinh năm 1400 và đượcgiữ chức Ngự sử đài chánh chưởng Khi nước ta bị giặc Minh xâm lược, ôngtham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo Sau thắng lợi của
cuộc khởi nghĩa này, ông thay mặt minh chủ viết bài Bình Ngô đại cáo bằng
chữ Hán Ông làm nhiều thơ bằng chữ Hán và cả bằng chữ Nôm Sau khi ông
bị hãm hại, tác phẩm của ông bị thất tán nhiều nơi Đến 1467, vua Lê ThánhTông cử người sưu tầm di cảo của ông, nhờ đó mới giữ được một phần những
tác phẩm quý giá của ông Trong đó có Quốc âm thi tập gồm 245 bài thơ
Nôm, bài nào cũng thắm đượm tinh thần dân tộc Bên cạnh đó còn có nhữngsáng tác của vua Lê Thánh Tông; Lương Như Hộc; Nguyễn Bỉnh Khiêm…
Thời kì cuối Lê – nhà Nguyễn, văn Nôm có thể kể đến một số các khúc
ngâm như Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc… Chinh phụ ngâm
khúc là một tác phẩm được diễn Nôm từ nguyên tác Hán văn của Đặng Trần
Côn dài 438 câu viết theo thể “trường đoản cú” Cung oán ngâm khúc là tác
phẩm khúc ngâm bằng chữ Nôm của Nguyễn Gia Thiều Cả hai tác phẩm nàyđều được đánh giá rất cao trong nền văn học giai đoạn này Ngoài ra còn phải
kể đến Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ, Ai tư vãn của công chúa Lê Ngọc Hân,
Phụ châm tiện lãm của Lý Văn Phức…
Trang 161.1.2 Chữ Nôm mượn nguyên
Chữ Nôm vay mượn là loại chữ Nôm vay mượn hình thể chữ Hán đểghi lại âm của người Việt mà không thay đổi hình thể của chữ Hán đã có sẵn.Trong chữ Nôm vay mượn có chữ Nôm vay mượn toàn bộ: các chữ thuộcnhóm này là chữ Nôm mượn chữ Hán, đọc theo âm Hán Việt và mượn nghĩa.Tiểu loại chữ này được dùng để biểu thị các từ Hán Việt trong các văn bảnđược phiên ra chữ quốc ngữ Đây là cách mượn kí hiệu văn tự kèm theo cảmượn ngôn ngữ, nói cách khác là mượn gần như toàn bộ
1.2 Tác phẩmChinh phụ ngâm diên Nôm
1.2.1 Tác giả Chinh phụ ngâm
Chinh phụ ngâm khúc hay còn gọi là Chinh phụ ngâm – tác phẩm Hán
văn rất nổi tiếng của Đặng Trần Côn Tiểu sử của tác giả cho đến nay vẫnchưa rõ Có người ước đoán ông sinh sau, nhỏ tuổi hơn bà Đoàn Thị Điểm, cóngười thì nói ngược lại Điều chắc chắn là ông sinh vào đời vua Lê Dụ Tông
và sống trong lúc chứ Trịnh Giang cầm quyền(1729-1740).Đặng Trần Cônquê ở làng Nhân Mục (còn gọi làng Mọc), huyện Thanh Trì, nay thuộcphường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội Ông đỗ Hương cống,nhưng thi Hội thì hỏng Sau đó làm huấn đạo trường phủ, rồi tri huyện ThanhOai, sau thăng chức Ngự sử đài đại phu
Thời Đặng Trần Côn sống là thời chế độ phong kiến Việt Nam đang bịkhủng hoảng trầm trọng Hậu quả của cuộc nội chiến giữa họ Trịnh và họNguyễn bắt đầu từ năm 1627 đã làm cho nhân dân Việt Nam , nhất là nhândân Việt Nam ở Đàng ngoài vô cùng đau khổ Chính sách tác ác của các chúađặc biệt là chúa Trịnh Giang làm cho nhân dân Đàng ngoài đã điêu đứng Cáccuộc khởi nghĩa của nông dân liên tiếp nổ ra ngày càng nhiều và ngày mộtmạnh Năm 1737 một nhà sư là Nguyễn Dương Hưng đã lãnh đạo dân nghèo
và dân đói ở các miền thuộc tỉnh Sơn Tây và tỉnh Thái Nguyên đứng lênchống lại chính quyền họ Trịnh Tiếp theo cuộc khởi nghĩa của NguyễnDương Hưng , đến cuộc khởi nghiã của Lê Duy Mật ở Thanh Hóa rồi đến các
Trang 17cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Đình Dung, HoàngCông Chất, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương,
Quyền lực của nhà nước phong kiến tỏ ra bất lực trước phong trào khởinghĩa của nông dân mỗi ngày một nhiều và một mạnh Việc đánh nghĩa quânkhông còn dễ dàng nữa.Đối với việc “tiễu phạt” nghĩa quân, các tầng lớpphong kiến có thái độ khác nhau Nhiều kẻ thấy rằng “tiễu phạt” không còn làmột dịp để thăng quan tiến chức nữa Họ đã mỏi mệt trước lực lượng đấutranh bền bỉ của nông dân Đó có lẽ cũng là một lí do khiến cho cuộc chiếnđấu giữa nghĩa quân và quân đội họ Trịnh nhiều lần đi đến chỗ tạm hòa.Nhưng mâu thuẫn giữa nông dân và chế độ phong kiến họ Trịnh là mâu thuẫnkhông thể hòa giải được Vì vậy hòa để rồi lại chiến, và mỗi lần chiến là mộtdịp làm cho hàng ngũ tướng sĩ của chúa Trịnh hao dần Do đó ngay trong giaicấp phong kiến đã nảy ra tâm lí chán ghét chiến tranh, một thứ chiến tranh tànphá đất nước, gieo tang tóc cho nhân dân, làm mòn mỏi giai cấp phongkiến.Chế độ phong kiến sẽ đi đến đâu? Nếu giai cấp phong kiến thống trị màđại biểu là chúa Trịnh nhất định cứ nhắm mắt trước yêu sách của nhân dân, và
cứ lao mình vào một cuộc nội chiến không có cách nào chấm dứt Thi nhânĐặng Trần Côn hẳn đã chứng kiến và thông cảm những nỗi lo âu như thế, ông
đã thổ lộ và đã thổ lộ một cách tài tình nỗi lo âu của mình, đó đồng thời cũng
là nỗi lo âu của rất nhiều người trong giai cấp ông, và cũng là nỗi lo âu của
quần chúng nhân dân ở Chinh phụ ngâm khúc Vì vậy tác phẩm của ông ngay
sau khi lọt lòng đã được người đương thời ca tụng, coi đó là tiếng oán ghétchung của nhân dân chống chiến tranh phi chính nghĩa dai dẳng chỉ làm đổnát đất nước, khổ đau nhân dân
1.2.2 Dịch giả điễn Nôm
Chinh phụ ngâm viết bằng chữ Hán giữa thời đại văn học Nôm đang nở
rộ cho nên nhiều người đã tìm cách dịch nó ra chữ Nôm Trong số những bảndịch đó có một bản dịch thành công nhất được gọi là bản hiện hành (bản đangđược lưu hành – vẫn được gọi là bản A) Vẫn đề đặt ra là ai là tác giả của bản
Trang 18dịch này? Các nhà văn bản học vẫn chưa nhất trí ai là tác giả của khúc ngâmtuyệt tác này Hiện nay vẫn tồn tại hai khuynh hướng:
Khuynh hướng thứ nhất cho rằng tác giả của bản A là Hồng Hà nữ sĩĐoàn Thị Điểm Hiện nay những người biên soạn sách giáo khoa phổ thôngtrung học và đa số các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng này
Khuynh hướng thứ hai cho rằng tác giả của bản A là Phan Huy Ích Trong
Nam phong tạp chí số 106 năm 1926 , Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến đã căn cứ
vào một số bài thơ của Phan Huy Ích mà chứng minh rằng dịch giả ngâm khúcthịnh hành chính là Phan Huy Ích chứ không phải là Đoàn Thị Điểm
Năm 1952, ông Hoàng Xuân Hãn cho xuất bản ở Pari quyển Chinh phụ
ngâm bị khảo Trong quyển sách dày hơn 300 trang này , ông Hoàng đã
nghiên cứu rất công phu về bản ngâm khúc nổi tiếng của Đặng Trần Côn vàcác bản dịch âm của bản ngâm khúc này, ông Hoàng khẳng định rằng dịch
phẩm Chinh phụ ngâm bản A là của Phan Huy Ích Tuy nhiên tác giả Chinh
phụ ngâm bị khảo dựa vào tài liệu của một người họ Phan là Phan Huy Chiêm
là người năm 1926 đã biên thư cho tạp chí Nam phong nhận rằng dịch giả
Chinh phụ ngâm bản A là của Phan Huy Ích, mà đưa ra nhận định ấy.
Tài liệu để chứng minh Chinh phụ ngâm khúc bản A là của Phan Huy
Ích quanh quẩn vẫn là tài liệu của họ Phan Mà trong số những tài liệu ấy lạikhông có bản nguyên văn dịch bằng chữ Nôm của Phan Huy Ích Bản Chinh
phụ ngâm mà Phan Huy Chiêm đưa cho ông Hoàng chỉ là bản dịch Chinh
Phụ Ngâm khúc chữ La Tinh mà thôi.
Như vậy cho đến nay vẫn chưa có bằng cớ nào chắc chắn khả dĩ chứng
thực rằng dịch phẩm bản Chinh phụ ngâm bản A không phải là của Đoàn Thị
Điểm Vì vậy chúng ta vẫn coi Đoàn Thị Diểm là dịch giả của Chinh phụngâm bản A- bản thịnh hành hiện nay
Hơn nữa, chúng ta thấy hoàn cảnh của Đoàn Thị Điểm rất phù hợp vớiviệc dịch tác phẩm này: Năm 37 tuổi Đoàn Thị Điểm lấy Nguyễn Kiều làm
vợ kế Nguyễn Kiều là một viên quan to của triều đình, lúc sắp kết hôn với
Trang 19Đoàn Thị Điểm là lúc ông vừa được cử làm chánh sứ, đang sửa soạn đi sứnước Thanh Kết hôn với Nguyễn Kiều chưa đầy một tháng thì nữ thi sĩ họĐoàn phải gạt lệ tiễn chồng lên đường đi sứ Cảnh cô đơn của kẻ tân hôn, vànhững nỗi lo âu của tầng lớp phong kiến trước phong trào nông dân đang nổilên rầm rộ ở nhiều nơi có lẽ đã làm cho Đoàn Thị Điểm đồng tình với nhữnglời than thở của người Chinh phụ trong khúc ngâm của Đặng Trần Côn Bàthấy những đau khổ của người Chinh phụ chính là những đau khổ đang nungnấu ở lòng bà Bà có thể đã trút hết những đau khổ lo lắng của bà vào công
tác phiên dịch Chinh phụ ngâm khúc Và nếu như vậybà đã thành công rực
rỡ-dịch phẩm của bà nhờ thi tài tuyệt diệu của mình, đã biến thành một sáng tácvăn học được người đương thời ca tụng
Hiện nay Chinh Phụ Ngâm có 7 bản dịch và phỏng dịch bằng nhiều
các thể thơ lục bát (3 bản) hoặc song thất lục bát (4 bản) của các dịch giảĐoàn Thi Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khản, Bạch Liên Am Nguyễn và haitác giả khuyết danh Nhưng bản dịch thành công nhất, phổ biến nhất đại đa số
ý kiến của các nhà nghiên cứu và của độc giả đều cho rằng là của Đoàn Thị
Điểm.Viện Nghiên Cứu Hán Nôm trong phần Di Sản Hán Nôm viết: “ …Nỗi
nhớ mong chồng và niềm ước mơ cuộc sống lứa đôi của người chinh phụ có chồng chinh chiến phương xa Nguyên văn viết bằng chữ Hán theo thể trường đoản cú của Đặng Trần Côn, bản dịch ra chữ Nôm theo thể ngâm 7-7/6-8 của Đoàn Thị Điểm”.
1.2.3 Sơ lược về tác phẩm Chinh phụ ngâm
1.2.3.1 Nội dung tác phẩm
Đề tài tác phẩm
Đề tài của tác phẩm lấy ở lịch sử Trung Hoa, và có liên quan đến một
sự tiến triển rất lớn của lịch sử thế giới, là thiên anh hùng ca của các dân tộcmiền đồng cỏ mênh mông ở Trung bắc Á châu, giáp với Trung Hoa về phíaTây bắc xứ này Các dân tộc này, như Hung Nô mà người Trung Hoa gọi là rợ
Hồ, là các dân tộc du mục nên cưỡi ngựa rất giỏi, bắn cung rất tài Khi gặp
Trang 20hỏa tai ở đồng cỏ hay nạn dịch, bầy súc vật bị hao mòn không đủ nuôi sống,
họ bèn xâm lấn các vùng xung quanh
Ở châu Âu, dưới sự thúc đẩy của họ, các rợ ở miện Bắc Âu đã trànxuống miền Nam, làm sụp đổ đế quốc La mã
Ở châu Á, từ thượng cổ, họ đã xâm lấn Trung Hoa- một miếng mồi lớn
và ngon: Hán tộc là một dân tộc lớn , định cư và sống về nông nghệp, đã tạonên những làng mạc giàu có ở Trung Nguyên, và một nền văn minh sán lạn,nhưng lại trở nên yếu hèn Các cuộc xâm lấn ấy đã là nguyên nhân các cuộcthiên đô từ Tây sang Đông của các nhà Đông Chu, Đông Hán, Đông Tấn, và
từ Bắc xuống Nam: Nam Bắc triều, Bắc Kinh, Nam Kinh
Các rợ trên đã diến ra các thiên anh hùng ca vĩ đại của cánh đồng cỏ, vàđến thế kỉ XIII, Thành Cát Tư Hãn – một lãnh tụ Mông Cổ, lập nên đế quốclớn nhất từ xưa đến nay, và cũng là dịp cho nước Việt Nam viết một trang sửanh hùng phi thường
Trấn Bắc và Nam tiến là luật tiến triển của lịch sử Trung Hoa để tranhsống Tần Thủy Hoàng Đế xây Vạn Lý Trường Thành để chặn các rợ Hồ Bị dồn
về phía Nam, đến lượt họ, người Trung Hoa lại dồn người Việt Nam xuống dướinữa, bắt buộc ta chống lại họ ở Bắc, và tiến xuống Nam xa hơn nữa, diễn lại cácluật trấn Bắc Nam tiến của lịch sử họ, trong một phạm vi nhỏ nhơn
Sự trấn Bắc của người Trung Hoa đã tạo cho họ bao nhiêu côngnghiệpvõ công làm đề tài cho văn chương Hán Các công nghiệp võ công đó
cũng đã xuất hiện trongđề tài Chinh Phụ ngâm , vì Chinh phụ ngâm thường
nhắc nhở tới tên các danh tướng hay địa danh như: Tràng thành Cam toàn(Tần); Bạch thành (Hán cao tổ); Doanh Liêu Chi á Phu (Hán Văn Đế); HàLương Lý Lăn Tô Vũ (Hán Võ Đế) ; Hoặc Liêu Diêu (Hán Võ Đế) ; Phó Giới
Tử (Hán Chiêu Đế)
Cảnh ngộ lịch sử với sự trước tác của Chinh phụ ngâm: theo Lịch Triều
Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú “ Sách Chinh Phụ Ngâm bởi Hương
Trang 21cống Đặng Trần Côn soạn, nhân đầu đời Cảnh Hưng(1740-1786) việc binh nổi dậy , người ta đi đánh giặc phải lìa nhà, ông cảm thời thế mà làm ra ”
Nội dung chủ đạo
Chinh phụ ngâm có hình thức là một lời độc thoại nội tâm mà vai
chính, cũng là vai duy nhất đứng ra độc thoại trong truyện là mộtngười vợ có chồng tham gia cuộc chiến do triều đình phong kiến chủ xướng,
kể về nỗi khổ, nỗi cô đơn buồn tủi phải xa chồng Tác phẩm mở đầu vớikhung cảnh của chiến tranh ác liệt và nhà vua truyền hịch kêu gọi mọi ngườitham gia chiến cuộc Trong bối cảnh này, nàng chinh phụ hình dung cảnhchồng nàng lên đường phò vua giúp nước, ra đi với quyết tâm giành hàng loạtthành trì dâng vua, hùng dũng trong chiếc chiến bào thắm đỏ và cưỡi conngựa sắc trắng như tuyết
Cuộc tiễn đưa lưu luyến kết thúc, người chinh phụ trở về khuêphòng và tưởng tượng ra cảnh sống của chồng nơi chiến địa Những xúc cảm
về một hình ảnh "lẫm liệt" của chồng phút chia ly đã dần mờ nhòe, thay thếvào đó là nỗi lo sợ khủng khiếp về số phận của chồng giữa chiến trường khốcliệt, đầy oan hồn tử khí, và niềm đau khổ khôn nguôi về thân phận đơn chiếccủa bản thân nàng
Trong phần tiếp theo, câu chuyện chủ yếu diễn tả tâm trạng trăn trở, côquạnh của người chinh phụ Đó là việc chồng quá hạn không về, cũng không
có tin tức gì, và người chinh phụ đành phải tính thời gian bằng chu kì quyên
hót, đào nở, sen tàn Đó là tâm trạng "trăm sầu nghìn não" khi người chinh
phụ quanh quẩn trước hiên, sau rèm, vò võ dưới đêm khuya vắng, đối diệnvới hoa, với nguyệt Đó là tâm trạng chán chường khi tìm chồng trong mộngnhưng mộng lại buồn hơn, lần giở kỷ vật của chồng mong tìm chút an ủinhưng sự an ủi chỉ le lói, thấy thân phận của mình không bằng chim muông,cây cỏ có đôi liền cành Cuối cùng, chán chường và tuyệt vọng, người chinhphụ đã không còn muốn làm việc, biếng lơi trang điểm, ngày đêm khẩn cầumong được sống hạnh phúc cùng chồng
Trang 22Kết thúc khúc ngâm, người chinh phụ hình dung ngày chồng nàngchiến thắng trở về giữa bóng cờ và tiếng hát khải hoàn, được nhà vua banthưởng và cùng nàng sống hạnh phúc trong thanh bình, yên ả.
1.2.3.2 Nghệ thuật
Chinh phụ ngâm ra đời đã gây một tiếng vang lớn trong giới Nho sĩ
đương thời Người ta chú ý đến tác phẩm này không phải chỉ vì nghệ thuậtđiêu luyện của nó mà trước hết là vì tác phẩm đã thể hiện một khuynh hướngmới của Văn học- khuynh hướng hướng tới cuộc sống của con người
Bằng văn tài xuất sắc, Đặng Trần Côn đã viết nên một tác phẩm trữtình hiếm có, mô tả tâm sự sâu xa của một người chinh phụ vò võ chờ chồng
đang dẫn thân vào “cát bụi” Chinh phụ ngâm là một trường thiên trữ tình của
một thiếu phụ Trung Hoa trẻ Chồng nàng là một vị tướng xuất quân từ kinh
đô Hàm Dương, tỉnh Thiểm Tây, đi viễn chinh xa đã năm, sáu năm chưa về.Chàng chinh chiến ở vùng biên cương Tây Bắc Trung Hoa, chống lại các rợ
Hồ, vào khoảng từ đời Tần, Hán Trên một nền truyện anh hùng ca mà chinhphụ một phần thuật lại, một phần tưởng tượng ra, để làm bối cảnh cho khúctrữ tình, tác phẩm đã lột tả rất tinh tế, sâu sắc tất cả cái trạng thái tâm lý docảnh biệt ly đã gây nên cho người thiếu phụ Tác phẩm đã bao quát cả cảnhsống gian nan mạo hiểm của chinh phu ở tiền tuyến chiến địa, đến đời sống côquạnh của người chinh phụ trong gia đình quê hương ở nội địa, từ buổi xuấtchinh cho đến lúc khải hoàn
Tác phẩm Chinh phụ ngâm diễn Nôm sử dụng thể thơ dân tộc song thất
lục bát Thể thơ này giàu nhạc tính hơn thể thơ lục bát bởi hai vần trắc ở hai
câu thất , đọc lên nghe réo rắt hơn, rất thích hợp với những tác phẩm trữ tình
dùng để ngâm hơn là để đọc Chính vì đặc tính ưu việt đó mà nhiều nhà thơ đờisau đã tiếp tục sử dụng thể thơ này để sáng tác những “khúc ngâm” hoặc những
bài thơ như Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Ai tư vãn (Lê Ngọc Hân), Tự tình khúc (Cao Bá Nhạ), Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến), Nói
chuyện với ảnh, Thư trách người tình nhân không quen biết (Tản Đà), Thức
Trang 23giấc, Hồ xuân và thiếu nữ(Thế Lữ), Tiếng đàn mưa (Bích Khê)… Tiếc rằng thể
thơ dân tộc tuyệt diệu này hiện nay hầu như không còn mấy ai sáng tác nữa
trong khi thể thơ lục bát (nghèo âm điệu hơn) vẫn được đặc biệt phát huy
Vừa sử dụng tiếng Việt một cách điêu luyện, vừa sử dụng thể thơ thuần
túy dân tộc, bản diễn nôm Chinh phụ ngâm là tác phẩm văn chương bác học đạt tới tầm nghệ thuật đỉnh cao Chính vì vậy mà Chinh phụ ngâm đã trở
thành tác phẩm “thuộc nằm lòng”, trở thành máu thịt của người Việt Nam
trong suốt mấy thế kỉ qua, giống như Truyện Kiềucủa Nguyễn Du.
1.2.3.3 Giá trị tác phẩm
Trải qua nhiều thế kỷ dân tộc Việt Nam phải đương đầu chống giặcngoại xâm, trai tráng phải tòng quân dẹp giặc, vì hoàn cảnh xã hội những
người phụ nữ phải đảm nhiệm công việc gia đình Chinh Phụ Ngâm là một
áng văn tuyệt diệu nói lên tâm sự của một người vợ có chồng đang chiến đấungoài biên thùy xa xôi Người chinh phụ sống cô đơn lạnh lẽo với trăm nhớ,ngàn thương, lời văn làm rung động lòng người
Ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVIII, tác phẩm thơ nôm trường thiênChinh
Phụ Ngâm (được diễn nôm từ nguyên tác Hán văn của Đặng Trần Côn) là kiệt
tác hàng đầu của văn học cổ điển Việt Nam, bên cạnhCung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Thơ nôm của Hồ Xuân
Hương
Cũng như hầu hết các kiệt tác văn chương khác, Chinh phụ ngâm là sản
phẩm tinh thần của một thời đại nhất định Đó là thời đại nội chiến tàn khốcgiữa các tập đoàn phong kiến cát cứ Lê - Trịnh – Mạc – Nguyễn, và giữa cáctriều đình này với các phong trào khởi nghĩa của giai cấp nông dân đã bị dồntới bước đường cùng
Cuộc chiến tranh giữa tập đoàn Lê - Trịnh với nhà Mạc kéo dài cả nửa
thế kỉ.Cuộc Trịnh – Nguyễn phân tranh cũng diễn ra liên miên suốt 45 năm với
7 lần đụng độ, gây nên cảnh “thành xương sông máu” làm kiệt quệ nhân tài vật
Trang 24lực của đất nước và khiến trăm họ phải lầm than điêu đứng Đất nước ta đãphải chịu một thảm hoạ lớn: Bắc – Nam bị chia cắt suốt 160 năm trời.
Trong thế kỉ XVIII xảy ra rất nhiều cuộc xung đột giữa quan quân triềuđình (tiêu biểu là nhà Trịnh) với các cuộc khởi nghĩa của nông dân Họ Trịnhphải dốc toàn lực để “dẹp loạn” Trai tráng bị bắt sung vào lính nhiều vô kể.Hàng ngàn vạn gia đình phải tan tác chia li, gây nên những số phận bi thảmcủa biết bao chinh phu và chinh phụ
Cả một dân tộc bị chấn thương do nội chiến kéo dài hằng thế kỉ, từ đó
kết nên một mối oán hận thấu trời, như lời thơ của Chinh phụ ngâm :
Xanh kia thăm thẳm từng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Theo lẽ tự nhiên, mọi nỗi oán hận đều đòi hỏi phải được giải toả ĐặngTrần Côn, một thi nhân lỗi lạc, đã cảm nhận sâu sắc nỗi oán hận ấy của dântộc ông Với thiên chức của nhà thơ, ông đã mang hết tâm huyết mô tả vàvạch ra thực chất của tấn bi kịch lịch sử thời đại ông bằng một áng vănchương bác học (Hán văn) rất mực điêu luyện, tài hoa Nhiều nho sĩ TrungHoa đương thời đã thán phục tác phẩm này của ông Sau đó tác phẩm đượcmột bậc danh sĩ dịch thành một áng văn chương nôm tuyệt tác Ngay lập
tức, Chinh phụ ngâm bằng thơ nôm đã đi vào lòng quần chúng nhân dân đương thời Ngoài giá trị thẩm mĩ,Chinh phụ ngâm còn mang ý nghĩa như là
sự cứu rỗi cho một thời đại đầy đau thương, tang tóc, chia li
Trải qua hơn hai thế kỉ rưỡi đến nay, Chinh Phụ ngâm luôn giữ nguyên
giá trị của một viên ngọc thi ca sáng ngời, một thi phẩm làm vẻ vang cho xứ
sở vốn “nổi tiếng thi thư” (lời của Nguyễn Trãi).
1.3 Tiểu kết chương 1
Chinh phụ ngâm là tác phẩm thuộc về thời đại đặc biệt trong cả lịch sử
xã hội cũng như lịch sử văn học Việt Nam Đó là thời đại của sự tồn tại trái
khoáy đầy thách thức với những nguyên tắc của đạo lý Nho gia “Thiên vô nhị
nhật, quốc vô nhị quân” của hai ngôi chúa - chúa Trịnh Đàng Ngoài và chúa
Trang 25Nguyễn Đàng Trong bên cạnh ngôi vua Lê lúc này đã trở thành tượng gỗ;kèm theo đó là những cuộc nội chiến hao người tốn của liên miên suốt mấy
trăm năm Bước sang thế kỷ XVIII - “Thế kỷ nông dân khởi nghĩa” tình hình
càng trở nên phức tạp và căng thẳng hơn Tuy nhiên, cũng trong thời đại này,kinh tế đô thị đã dần hình thành và phát triển, tạo nên những mảng màu tươimới và đa sắc hơn trong lòng xã hội phong kiến, làm tiền đề cho sự manh nhanhững tư tưởng và cảm xúc mới của thời đại Chinh phụ ngâm được sáng tácvào khoảng những năm 40 của thế kỷ XVIII và ngay lập tức được đánh giá rấtcao, thậm chí tạo ra “cơn sốt” diễn âm kéo dài ít nhất là đến đầu thế kỷ XIX
Với Chinh phụ ngâm, lần đầu tiên người phụ nữ - “đối tượng mà nền
văn học cũ không dám nhắc đến” trở thành “thần tượng” trong văn học Lầnđầu tiên, người đàn bà bị Nho giáo sợ hãi, Phật giáo xua đuổi bước lên địa vịthống trị trên văn đàn
Với Chinh phụ ngâm, lần đầu tiên tâm trạng con người đi vào thơ ca
không phải chỉ bằng những khoảnh khắc có tính lát cắt mà được soi chiếutrong tính nguyên khối của nó với tất cả những góc độ sáng - tối; lần đầu tiên,
cá nhân con người, cuộc sống và số phận con người mà cụ thể ở đây là ngườiphụ nữ và thân phận bi kịch của họ trở thành đối tượng chính của văn học Tất
cả đã là sự chuẩn bị hào phóng nhất cho một thời kỳ được coi là đạt đến giátrị cổ điển của văn học Việt Nam
Tuy có những hạn chế nhất định, nhưng Chinh phụ ngâm là tiếng nóikhao khát hạnh phúc, khao khát hòa bình của dân tộc ta trong một thời đạinhất định Tiếng nói ấy càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết vì nó là tiếng nói củamột người phụ nữ- nạn nhân đau khổ nhất của chế độ cũ Ðương thời tácphẩm đã góp phần vào cuộc đấu tranh cho quyền sống, quyền hưởng hạnhphúc của con người, đấu tranh chống áp bức của giai cấp thống trị
Ngày nay, tiếng nói thiết tha với hạnh phúc tình yêu của tác phẩm cònrất có ích trong việc xây dựng tâm hồn cho thế hệ trẻ, đó cũng là lí do khiếncho tác phẩm được đưa vào chương trình của phổ thông trung học
Trang 26CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CHỮ NÔM MƯỢN NGUYÊN TRONG TÁC PHẨM
CHINH PHỤ NGÂM DIỄN NÔM 2.1 Thống kê chữ Nôm mượn nguyên trong tác phẩm
2.1.1 Số lượng chữ Nôm mượn nguyên
Như đã trình bày ở phần 1.1.3, chữ Nôm vay mượn là loại chữ Nômvay mượn hình thể chữ Hán để ghi lại âm của người Việt mà không thay đổihình thể của chữ Hán đã có sẵn Trong chữ Nôm vay mượn có chữ Nôm vaymượn toàn bộ: các chữ thuộc nhóm này là chữ Nôm mượn chữ Hán, đọc theo
âm Hán Việt và mượn cả nghĩa
Như vậy chữ Nôm mượn nguyên phải đạt được 3 tiêu chí: hình thể chữHán không thay đổi, giữ nguyên nghĩa của chữ Hán và âm đọc là âm Hán Việt
Qua khảo sát tác phẩm Chinh phụ ngâm diễn Nôm, chúng tôi đã thống kê
được 560 chữ Nôm mượn nguyên trên tổng số 2852 chữ của toàn bộ tác phẩm
Trong tác phẩm, qua khảo sát ta thấy rằng có những chữ Nôm mượnnguyên chỉ xuất hiện một lần nhưng cũng có những chữ Nôm mượn nguyênxuất hiện nhiều lần
Qua khảo sát, chúng tôi thấy chữ Nôm mượn nguyên xuất hiện một lần
chiếm đa số trong văn bản, chữ được mượn nhiều lần nhất đó là chữ “thiếp” được mượn 27 lần và chữ “hoa” được mượn 21 lần.
2.1.2 Số lượng câu xuất hiện chữ Nôm mượn nguyên
Qua khảo sát, chúng tôi thấy có 338 câuxuất hiện chữ Nôm mượn
nguyên trên tổng số 412 câu trong văn bản Chinh phụ ngâm diễn Nôm, chiếm
80,82% Chúng ta thấy đó là một số lượng câu khá lớn trong văn bản có chữNôm mượn nguyên
Trang 27Số lượng chữ Nôm mượn nguyên trong các câu cũng không giốngnhau Có câu chỉ xuất hiện một chữ Nôm mượn nguyên nhưng cũng có nhữngcâu toàn bộ câu là chữ Nôm mượn nguyên
Bảng thống kê số chữ Nôm được mượn trong câu
ít Vì tác phẩm làm theo thể thơ song thất lục bát cho nên có những câu toàn
bộ là chữ Nôm mượn nguyên, ví dụ như câu 227: “Nguyệt hoa, hoa nguyệt
trùng trùng”.
2.2 Phân loại chữ Nôm mượn nguyên theo đơn vị ngôn ngữ
Để tìm hiểu chữ Nôm mượn nguyên một cách thấu đáo, chúng tôikhông chỉ khảo sát chữ Nôm trên phương diện cấu tạo hình thể mà chúng tôicòn đưa chữ Nôm mượn nguyên về phương diện từ Từ khảo sát chữ Nômmượn nguyên trên phương diện từ chúng tôi sẽ có cơ sở để đi sâu giá trị của
những từ đơn tiết và từ song tiết trong văn bản Chinh phụ ngâm diễn Nôm.
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy chữ Nôm mượn nguyên khi xét trênphương diện từ toàn bộ là từ đơn tiết và từ song tiết
2.2.1 Từ đơn tiết
Chữ Nôm mượn nguyên là từ đơn tiết trong tác phẩm Chinh phụ ngâm
diễn Nômchiếm số lượng nhiều hơn từ song tiết
BẢNG THỐNG KÊ CHỮ NÔM MƯỢN NGUYÊN LÀ TỪ ĐƠNTIẾT THEO TẦN SỐ XUẤT HIỆN
Trang 28Bảng thống kê chữ Nôm mượn nguyên là từ đơn tiết xuất hiện một lần
mượn nguyên
Chữ Nôm nguyên bản khối vuông
Phiên âm
Trang 30Chữ Nôm mượn nguyên là từ đơn tiết được mượn một lần trong tác
phẩm Chinh phụ ngâm diễn Nôm có số lượng nhiều nhất Điều này cho thấy
chữ Nôm mượn nguyên có vai trò không nhỏ trong một tác phẩm chữ Nôm.Chữ Nôm mượn nguyên xét về nghĩa từ thường có nghĩa nội hàm cao, có tínhkhái quát cho nên không dễ hiểu với quảng đại quần chúng, nhất là với tầnglớp lao động bình dân mà tác phẩm Nôm thường hướng tới Việc sử dụngkhông ít chữ Nôm mượn nguyên trong tác phẩm cho thấy sự ảnh hưởng sâucủa chữ Hán khi dịch một tác phẩm Hán sang Nôm Đồng thời số chữ trongcâu thơ song thất lục bát có hạn nên vẫn phải dùng chữ Nôm mượn nguyên đểthể hiện nội dung phong phú của tác phẩm
Trang 31Bảng thống kê chữ Nôm mượn nguyên là từ đơn tiết xuất hiện hai lần STT Câu có chữ Nôm mượn nguyên Chữ Nôm
Trang 32Chữ Nôm mượn nguyên xuất hiện hai lần chiếm số lượng khá nhiềutrong tác phẩm Các chữ Nôm mượn nguyên loại này một số từ chỉ cảm xúctình cảm, còn đại đa số là danh từ chỉ hiện tượng sự vật.
Bảng thống kê chữ Nôm mượn nguyên là từ đơn tiết xuất hiện ba lần
STT Câu có chữ Nôm mượn
nguyên
Chữ Nôm mượn nguyên
Trang 33giả nhằm nhấn mạnh tới tình cảm của người ở lại với kẻ ra đi, cụ thể đó là tìnhcảm của người chinh phụ với người chinh phu Ta cũng có thể hiểu đó là sự nhớmong, chờ đợi, sự cô đơn khắc khoải của người vợ có chồng ra chiến trận.
Bảng thống kê chữ Nôm mượn nguyên là từ đơn tiết xuất hiện sáu lần
Các từ “kiếp”, “xa”, “xuân” được tác giả lựa chọn và sử dụng tới sáu
lần Sự xa cách của người thiếu phụ có chồng ra chiến trận được thể hiện rất
rõ nét Bên cạnh đó nó cũng thể hiện nỗi lòng của người chinh phụ, nàng đangoán trách số kiếp của mình thật là trớ trêu, có lẽ nàng cũng đã ân hận về quyếtđịnh của mình, nàng thấy ân hận vì không chồng ở nhà… Hơn nữa nàng cùngthấy lo sợ trước sự rượt đuổi của tuổi xuân, nàng mong cho nàng và chồngnàng mãi được trẻ trung để rồi khi chàng trở về thiếp lại được cùng chàng ái
ân, bù đắp lại những ngày tháng xa cách trùng mây
Trang 34Bảng thống kê chữ Nôm mượn nguyên là từ đơn tiết xuất hiện bảy lần
Các từ “cách”, “đầu”, “tin”: xuất hiện trong bài thơ tới bảy lần.Các từ
này phần nào diễn tả nỗi khắc khoải khôn nguôi trong lòng người thiếu phụ.Trong thâm tâm nàng luôn tồn tại một nỗi sợ hãi, lo lắng cho chồng, ở chốnkhuê phòng một mình, nàng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết Suốt trongnhững ngày tháng xa cách, nàng luôn ngóng chờ tin tức của chồng, dõi theotừng bước chân của chồng ở nơi quan ải xa xôi
Bảng thống kê chữ Nôm mượn nguyên là từ đơn tiết xuất hiện trên mười lần
STT Câu có chữ Nôm mượn nguyên
Chữ Nôm mượn nguyên
Phiên âm
tác giả đã sử dụng từ “nguyệt”, so sánh vẻ đẹp của nàng như ánh trăng vậy,
nó trong sáng, hồn nhiên, trong đầy Hai từ “hoa”, “nguyệt” được sử dụng nhiều lần còn làm tăng thêm sự trang trọng của bài thơ Các từ “sầu”,
“sương” cũng được tác giả lựa chọn sử dụng nhiều lần, nhằm nhấn mạnh tới
Trang 35sống cô đơn, nàng “sầu” vì tin tức của chồng ngày càng biệt tăm… nỗi sầu đó
đã biến thành sự lo lắng, sợ hãi khi phải đối mặt với cái mất mát lớn lao, nàng
lo sợ mình sẽ phải nuôi con một mình tới lúc già, nàng sợ trở thành người phụ
nữ góa chồng…
Đặc biệt khúc ngâm sử dụng tới hai mươi bảy từ “thiếp” nhấn mạnh
nhân vật độc thoại ở đây chính là người vợ
Với việc lựa chọn và sử dụng những từ ngữ trên với tần số cao có tácdụng rất lớn trong việc diễn tả nỗi lòng của người chinh phụ Bên cạnh đó nócòn làm tăng thêm ý nghĩa của câu thơ, làm cho câu thơ trở lên đẹp hơn!
2.2.2 Từ song tiết
BẢNG THỐNG KÊ CHỮ NÔM MƯỢN NGUYÊN LÀ TỪ SONG TIẾT
THEO TẦN SỐ XUẤT HIỆN Bảng thống kê chữ Nôm mượn nguyên là từ song tiết xuất hiện một lần