Tôi mạnh dạn đưa ra giải pháp mới nhằm mục đích khắc phục thực trạng trên đó là: “Cải tiến dụng cụ và cách tiến hành thí nghiệm để thực hiện thành công một số thí nghiệm trong 7 bài thực hành bắt buộc của môn hóa học 9 trong điều kiện khó khăn về cơ sở vật chất..”
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, vì vậy khi truyền thụ kiến thức hóa học ở bậc học phổ thông thường xuyên gắn liền với các thí nghiệm hóa học (dùng các thí nghiệm hóa học để dẫn dắt vấn đề, tạo niềm tin khoa học cho học sinh) và luôn liên hệ với các sự vật, hiện tượng thực tế xảy ra xung quanh ta Trong bối cảnh hiện nay ngành giáo dục đang trên đà phát triển để ngang tầm với thế giới, hàng loạt sự cải tiến về chương trình, phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm để đạt đến chuẩn kiến thức, kĩ năng Trong sự cải tiến ấy ngành giáo dục cũng đã chú trọng cải tiến cả dụng cụ và hóa chất nhằm mục đích phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học
Thế nhưng thực tại ở các địa phương việc giảng dạy của giáo viên bộ môn hóa học còn không ít những khó khăn, đặc biệt là các tiết dạy những bài thực hành bắt buộc theo chương trình Những khó khăn thường gặp đó là:
1 Nhân viên làm công tác thiết bị: Là những người không được đào tạo chuyên môn hóa học, nên không đáp ứng được yêu cầu cho việc chuẩn bị dụng cụ
và hóa chất trước các tiết thực hành
2 Dụng cụ và hóa chất để thực hiện các thí nghiệm: Chưa hoàn thiện, có dụng
cụ không sử dụng được, hóa chất thì không còn nguyên chất vì thời gian để quá lâu
3 Việc phân công giảng dạy của nhà trường cho giáo viên bộ môn hóa học còn chồng lấn, xen kẽ nhiều tiết, nhiều môn trong một buổi dạy
Chính vì những khó khăn trên, nên để thực hiện được tiết dạy bài thực hành đòi hỏi người giáo viên phải mất rất nhiều thời gian để chuẩn bị từ dụng cụ cho tới hóa chất Từ thực trạng đó đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết những tiết dạy của bài thực hành bắt buộc
Để góp phần nhỏ vào việc khắc phục những khó khăn mà giáo viên bộ môn hóa học gặp phải trong các tiết thực hành hóa học, giúp cho giáo viên và học sinh hoàn thành tốt 7 bài thực hành bắt buộc của chương trình hóa học lớp 9, khắc phục được những khó khăn, vướng mắc của giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường THCS, trợ giúp cho giáo viên mới ra trường còn thiếu kinh nghiệm và chưa có điều kiện để nghiên cứu nhiều trong thực tế giảng dạy, tốn ít thời gian để chuẩn bị cho tiết thực hành, nên giáo viên cho dù dạy nhiều tiết và nhiều môn trong một buổi vẫn thực hiện hoàn chỉnh bài thực hành đồng thời lôi cuốn học sinh ham thích và đam mê khi được thực hành hóa học Tôi mạnh dạn đưa ra giải pháp mới nhằm
mục đích khắc phục thực trạng trên đó là: “Cải tiến dụng cụ và cách tiến hành thí nghiệm để thực hiện thành công một số thí nghiệm trong 7 bài thực hành bắt buộc của môn hóa học 9 trong điều kiện khó khăn về cơ sở vật chất ”
Trang 2II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lý luận của vấn đề:
Khoa học tự nhiên luôn dề cao và coi trọng kết quả thực nghiệm Trong quá trình dạy học hoá học thí nghiệm hoá học giữ vai trò đặc biệt quan trọng Vì vậy có thể nói thí nghiệm là cơ sở của việc học hoá học và rèn luyện kỹ năng thực hành
Vì vậy xu hướng chung của việc đổi mới chương trình dạy học bộ môn hoá học ở trong nước và thế giới tăng tỉ lệ giờ cho thí nghiệm và nâng cao chất lượng
Trong dạy học Hoá học thí nghiệm hoá học được coi là dạng phương tiện trực quan chủ yếu được sử dụng: Là nguồn cung cấp kiến thức để học sinh tìm tòi phát hiện những tri thức cần lĩnh hội dưới những hình thức khác nhau
Thí nghiệm giúp học sinh tích luỹ được tư liệu về các chất và tính chất của chúng thí nghiệm giúp học sinh dễ hiểu và hiểu bài sâu sắc, là cơ sở, là điểm xuất phát cho quá trình học tập - nhận thức của học sinh
Cụ thể, thông qua thí nghiệm, từ xuất phát quá trình nhận thức cảm tính của học sinh để rồi sau đó diễn ra sự trừu tượng hoá và sự tiến lên từ trừu tượng đến cụ thể trong tư duy
Thí nghiệm giúp học sinh học tập kinh nghiệm, tư duy sáng tạo để tìm tòi, khám phá ra các chất và những tính chất của chúng Giúp nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học và phát triển tư duy của học sinh Đồng thời, thí nghiệm là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, là tiểu chuẩn, đánh giá tính chân thực của kiến thức,
hỗ trợ đắc lực cho tư duy sáng tạo
Nó là phương tiện duy nhất giúp hình thành ở học sinh kỹ năng, kỹ xảo thực hành và tư duy sáng tạo
Thí nghiệm giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng làm việc với các chất, sản xuất ra chúng để phục vụ đời sống con người
Đối với môn hóa học, thí nghiệm hoá học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy học Vì vậy xu hướng chung của việc cải cách bộ môn hoá học trong nước và trên thế giới là tăng tỉ lệ giờ cho các thí nghiệm và nâng cao chất lượng cho các bài thí nghiệm
Trong chương trình hóa học lớp 9 có 7 bảy bài thực hành bắt buộc
Hướng dẫn thực hiện về thực hành thí nghiệm: Phải đảm bảo dạy đủ số tiết
thực hành của từng chương và của năm học, tùy theo điều kiện cơ sở vật chất mà hiệu trưởng cho phép giáo viên tiến hành lựa theo lịch sắp xếp, miễn là đảm bảo
đủ số tiết và nội dung - Chỉ đạo chuyên môn thực hiện từ năm học 2009 -2010 của
sở GD – ĐT Thanh Hóa
- Phân loại chung về bảy bài thực hành môn hóa học lớp 9.
+ Thí nghiệm thực hành là những thí nghiệm do học sinh tự làm
+ Mục đích: Minh họa hay cụ thể hóa lại những kiến thức đã học Củng cố và làm chính xác thêm kiến thức đã có Rèn luyện kỹ năng, kĩ xảo thực hành thí
Trang 3nghiệm Bồi dưỡng khả năng quan sát , khả năng giải thích hiện tượng thí nghiệm, nhờ đó có cơ sở để giải quyết được một số vấn đề thực nghiệm
+ Bảy bài thực hành bắt buộc của hóa học lớp 9 trong đó có 4 bài thuộc hợp chất vô cơ và 3 bài thuộc hợp chất hữu cơ Nhìn chung cả 7 bài thực hành thuộc loại kiểm chứng về:
1 Tính chất hóa học (Oxit tác dụng với nước; bazơ tác dụng với dung dịch
axit, dung dịch muối; dung dịch muối tác dụng với kim loại, dung dịch muối khác
và với axit; nhôm tác dụng với oxi, sắt tác dụng với lưu huỳnh; cacbon khử CuO ở nhiệt độ cao, nhiệt phân NaHCO3; axetilen cháy và tác dụng với dung dịch brom; tính chất hóa học của axit axetic; phản ứng tráng gương của glucozo)
2 Nhận biết chất (Dung dịch axit, dung dịch bazơ, dung dịch muối; nhận biết
kim loại nhôm, sắt; muối cacbonat và muối clorua; nhận biết glucozo, saccarozo và
hồ tinh bột)
3 Điều chế chất (Axetilen)
4 Tính chất vật lí (C6H6 không tan trong nước, C6H6 hòa tan dung dịch brom)
* Chương trình học kì I hóa học lớp 9 có 3 bài thực hành thuộc hóa học vô cơ
* Tiết 9: Bài 6 Thực hành tính chất hóa học của oxit và axit.
- Trong bài thực hành có 3 thí nghiệm:
+ Thí nghiệm 1: Phản ứng của canxi oxit với nước
+ Thí nghiệm 2: Phản ứng của điphotpho pentaoxit với nước
+ Thí nghiệm 3: Nhận biết ba dung dịch H2SO4 loãng, HCl, Na2SO4
* Tiết 19: Bài 14.Thực hành tính chất hóa học của bazơ và muối.
- Trong bài thực hành có 5 thí nghiệm:
+ Thí nghiệm 1: Natri hiđroxit tác dụng với muối
+ Thí nghiệm 2: Đồng II hidroxit tác dụng với axit
+ Thí nghiệm 3: Đồng II sunfat tác dụng với kim loại
+ Thí nghiệm 4: Bari clorua tác dụng với muối
+ Thí nghiệm 5: Bari clorua tác dụng với axit
* Tiết 29: Bài 23.Thực hành tính chất hóa học của nhôm và sắt.
- Trong bài thực hành có 3 thí nghiệm:
+ Thí nghiệm 1: Tác dụng của nhôm với oxi
+ Thí nghiệm 2: Tác dụng của sắt với lưu huỳnh
+ Thí nghiệm 3: Nhận biết kim loại Al, Fe
* Chương trình học kì II hóa học lớp 9 có 4 bài thực hành, trong đó 1 bài thuộc hóa học vô cơ, 3 bài thuộc hóa học hữu cơ
* Tiết 42: Bài 33.Thực hành tính chất hóa học của phi kim và hợp chất của chúng.
- Trong bài thực hành có 3 thí nghiệm:
+ Thí nghiệm 1: Cac bon khử đồng II oxit ở nhiệt độ cao
+ Thí nghiệm 2: Nhiệt phân muối NaHCO3
+ Thí nghiệm 3: Nhận biết muối cacbonat và muối clorua
Trang 4* Tiết 54: Bài 43.Thực hành tính chất của hiđro cacbon.
- Trong bài thực hành có 3 thí nghiệm:
+ Thí nghiệm 1: Điều chế axetilen
+ Thí nghiệm 2: Tính chất của axetilen
+ Thí nghiệm 3: Tính chất vật lí của benzen
* Tiết 61: Bài 49.Thực hành tính chất của rượu và axit.
- Trong bài thực hành có 2 thí nghiệm:
+ Thí nghiệm 1: Tính axit của axit axetic
+ Thí nghiệm 2: Phản ứng của rượu etylic với axit axetic
* Tiết 70: Bài 55.Thực hành : Tính chất của gluxit.
- Trong bài thực hành có 2 thí nghiệm:
+ Thí nghiệm 1: Tác dụng của glucozơ với bạc nitrat trong dung dịch amoniac
+ Thí nghiệm 2: Phân biệt glucozo, saccarozo, tinh bột
2 Thực trạng của vấn đề:
Trường THCS Nga Nhân, tuy có 1 phòng bộ môn nhưng dụng cụ - hóa chất thiếu, không đồng bộ nên việc chuẩn bị thực hiện các thí nghiệm hóa học vô cùng vất vả do còn phải rửa dọn dụng cụ sau mỗi tiết dạy để đảm bảo đủ dụng cụ cho lớp sau Không có giáo viên phụ tá thí nghiệm Vì vậy, người giáo viên có tâm huyết,
có lòng yêu nghề, nhiệt tình và ý thức trách nhiệm cao mới có thể đảm bảo mục tiêu việc tiến hành các thí nghiệm hoặc chuẩn bị các thí nghiệm cho học sinh ở phòng bộ môn hoặc trên lớp theo quy định
Đồ dùng thí nghiệm tuy đã được cấp về nhưng cũng chưa đủ về số lượng lẫn chất lượng để dàn trải cho tất cả học sinh được thực hành thí nghiệm
Giáo viên bộ môn thì không đủ điều kiện về thời gian chuẩn bị do được phân công dạy khác phân môn trong cùng buổi mà lại khác khối, ngoài ra còn phải chuẩn
bị các đồ dùng dạy học phân môn khác trong buổi này dẫn đến giáo viên ngại làm thí nghiệm trên lớp vì phải bưng bê vất vả từ lớp này sang lớp khác và dễ vỡ dụng cụ
Thực tế việc sử dụng đồ dùng dạy học trong nhà trường nói chung, của bộ môn Hóa học nói riêng đặc biệt ở các tiết dạy có thí nghiệm và các tiết thực hành thí nghiệm ở trường tôi trong những năm qua còn nhiều hạn chế, có nhiều lí do: hoặc thiếu thốn cơ sở vật chất, hoặc do một số giáo viên mới ra trường còn vướng mắc về thao tác thực hiện, hoặc do giáo viên ngại làm thí nghiệm vì phải tốn nhiều thời gian chuẩn bị…Bên cạnh đó một số đồ dùng dạy học cho kết quả không chính xác Một số đồ dùng bị hư không đủ để học sinh thực hành theo nhóm Lượng hóa chất đã cũ, hoặc đồ dùng không đảm bảo như: rửa ống nghiệm không sạch còn lẫn lộn các hóa chất khác
Kết quả thực trạng trên, sau khi tiến hành khảo sát Khối 9 của 2 lớp, tổng số
80 học sinh, số học sinh làm thí nghiệm đạt kết quả như sau:
Trang 5Giỏi Khá Trung bình Không đạt
8 học sinh 16 học sinh 24 học sinh 32 học sinh
3 Giải pháp và tổ chức thực hiện
Qua nhiều năm giảng dạy bản thân không ngừng tìm tòi, mạnh dạn sửa đổi, cải tiến một số dụng cụ, hoá chất nhằm giúp cho tất cả các em học sinh đều có thể
tự tay tiến hành thí nghiệm:
1 Tiết 9: Bài 6 Thực hành: Tính chất hóa học của oxit và axit.
* Thí nghiệm1: Phản ứng của canxi oxit với nước
Cho một mẫu nhỏ (bằng hạt ngô) CaO vào ống nghiệm, sau đó thêm dần 1-2 ml nước
Quan sát các hiện tượng xảy ra Thử dung dịch bằng giấy quì tím hoặc dung dịch phenolphtalein, quan sát màu của thuốc thử thay đổi như thế nào
* Cách tiến hành theo hướng dẫn ( hình 1)
( Hình 1) ( Hình 2)
* Cải tiến mới: Giáo viên cho các nhóm học sinh thực hiện trên lỗ đế sứ (hình
2) Cho một mẫu nhỏ (bằng hạt ngô) CaO vào lỗ đế sứ, dùng ống hút nhỏ giọt cho
1 – 2 ml H2O vào tiếp, dùng đữa thủy tinh khuấy đều, cho tiếp mẫu giấy qùi tím vào
- Ưu điểm của cải tiến: Dễ làm , dễ quan sát, dễ rửa dụng cụ khắc phục việc học sinh khi bỏ giấy quì tím vào ống nghiệm thường bị dính trên thành ống nghiệm rồi dùng đũa thủy tinh đẩy xuống mất thời gian
- Về mặt kiến thức: CaO không làm thay đổi màu chất chỉ thi, khi tác dụng với H2O tạo Ca(OH)2, Ca(OH)2 là chất ít tan (1 gam trong 100 gam H2O), phần tan tạo dung dịch Ca(OH)2 trong làm quì tím hóa xanh, dung dịch phenolphtalein hóa đỏ
CaO + H2O Ca(OH)2
* Thí nghiệm 2: Phản ứng của điphotphopentaoxit với nước.
Đốt một ít photpho đỏ (bằng hạt đậu xanh) trong bình thủy tinh miệng rộng Sau khi photpho cháy hết, cho 2-3 ml nước vào bình, đậy nút lắc nhẹ Quan sát các hiện tượng Thử dung dịch bằng giấy qùy Nhận xét sự thay đổi màu của giấy qùy
… .
Trang 6* Cách tiến hành theo hướng dẫn ( hình 3)
( Hình 3)
* Cải tiến mới: Cho sẵn vào bình thủy tinh 2-3ml nước trước, hơ nóng đầu que
sắt (hoặc muỗng sắt) trên ngọn lửa đèn cồn rồi cho tiếp xúc với bột photpho đỏ Chất này sẽ nóng chảy bám vào đầu que sắt Đốt photpho đỏ ngoài không khí , khi photpho đỏ vừa cháy thì đưa nhanh vào bình, dùng nắp chắn hờ trên miệng bình để giữ lại nhiều khói trắng đồng thời không cho khói trắng lan tỏa trong phòng ảnh hưởng sức khỏe của học sinh, lắc bình cho bình trong suốt trở lại rồi cho quì tím vào
- Ưu điểm của cải tiến: Nếu thực hiện thí nghiệm theo sách giáo khoa, khi học sinh lấy phot pho đỏ thường là nhiều (vì do thực tế các lọ chứa photpho đỏ đã
bị chảy rữa), khi cháy trong lọ thường là dư lượng phot pho đỏ và khói trắng lan tỏa nhiều trong phòng thí nghiệm, cho nước vào sau mất thời gian Nếu cho nước vào trước và thực hiện bằng que Fe sẽ nhanh hơn, tránh lãng phí hóa chất và ô nhiễm môi trường
- Về mặt kiến thức: Phot pho cháy tạo P2O5, P2O5 tác dụng H2O tạo dung dịch axit làm quì tím hóa đỏ
4 P + 5 O2 t0 2 P2O5
P2O5 + 3 H2O 2 H3PO4
* Thí nghiệm 3: Nhận biết dung dịch.
Có 3 lọ không nhãn, mỗi lọ đựng một trong ba dung dịch là H2SO4 loãng, HCl, Na2SO4 Hãy tiến hành thí nghiệm nhận biết dung dịch chất đựng trong mỗi lọ
* Cách tiến hành theo hướng dẫn ( hình 4)
(hình 4) ( Hình 5)
* Cải tiến mới: Giáo viên cung cấp cho mỗi nhóm 3 ống nghiệm (Hình 5),
yêu cầu học sinh nêu cách nhận biết theo sơ đồ sách giáo khoa trang 23, sau đó hướng dẫn học sinh cách thực hiện trên những lỗ đế sứ còn lại ( hình 2), dán lại nhãn trên mỗi ống nghiệm để giáo viên kiểm tra kết quả thí nghiệm
Trang 7- Ưu điểm của cải tiến: Cách làm đơn giản, giáo viên dễ kiểm tra kết quả để đánh giá
-Về mặt kiến thức: Đảm bảo được yêu cầu của thí nghiệm 3
+ Dùng quì tím nhận ra dung dịch không làm đổi màu quì tím: Na2SO4
+ Dùng dung dịch BaCl2 nhận ra dung dịch H2SO4 : Có kết tủa trắng
H2SO4 + BaCl2 BaSO4 + 2HCl + Còn lại dung dịch HCl
2 Tiết 99: Bài 14 Thực hành: Tính chất hóa học của bazơ và muối.
+ Thí nghiệm 1: Natri hiđroxit tác dụng với muối
+ Thí nghiệm 2: Đồng II hidroxit tác dụng với axit
+ Thí nghiệm 3: Đồng II sunfat tác dụng với kim loại
+ Thí nghiệm 4: Bari clorua tác dụng với muối
+ Thí nghiệm 5: Bari clorua tác dụng với axit
* Cách tiến hành theo hướng dẫn ( hình 6)
Dd NaOH dd HCl Đinh Fe dd BaCl2 dd BaCl2
FeCl3 Fe(OH)3 Cu(OH)2 dd CuCl2 dd CuSO4
dd Na2SO4 dd H2SO4
( hình 6)
* Cải tiến mới: Cả 5 thi nghiệm này đơn giản giáo viên cho các nhóm tiến
hành trên các lỗ của đế sứ : Lỗ thứ nhất cho 1 ml dung dịch FeCl3, lỗ thứ 2 cho 1 ít chất rắn Cu(OH)2, lỗ thứ ba cho 1-2 ml dung dịch CuSO4, lỗ thứ tư cho 1 ml dung dịch Na2SO4, lỗ thứ năm cho 1 ml dung dịch H2SO4 loãng Dùng 3 ống hút nhỏ giọt lấy: Dung dịch NaOH nhỏ vào lỗ thứ 1,dung dịch HCl nhỏ vào lỗ thứ 2, dung dịch BaCl2 nhỏ vào lỗ 4, lỗ 5 Riêng lỗ thứ 3 dùng chỉ một đinh Fe nhỏ (màu trắng) thả vào.( Hình vẽ 7)
( hình 7)
- Ưu điểm của cải tiến: Giáo viên chuẩn bị cho tiết thực hành gọn, nhẹ, dụng
cụ cho mỗi nhóm chỉ 1 đế sứ và 3 ống hút nhỏ giọt là đủ Học sinh làm nhanh, dễ quan sát cho cả nhóm, khi rữa dụng cụ đơn giản
…
Trang 83 Tiết 29: Bài 23:Thực hành tính chất hóa học của nhôm và sắt
* Thí nghiệm 1: Tác dụng của nhôm với oxi
Lấy một ít bột Al vào một tờ bìa Khum tờ bìa chứa bột Al, rắt nhẹ bột Al trên ngọn lửa đèn cồn Quan sát hiện tượng…
* Cách tiến hành theo hướng dẫn ( hình 8)
( hình 8)
* Cải tiến mới: Giáo viên cho học sinh lấy một ít bột Al vào tờ giấy lọc, dùng cán
bút hoặc thước kẻ gạt nhẹ một ít vào ngọn lửa đèn cồn đang cháy
- Ưu điểm của cải tiến: Tiến hành như thế tiết kiệm được bột Al đồng thời không rơi đầy trên cả đèn cồn (do học sinh khi lắc theo yêu cầu sách giáo khoa hơi mạnh tay)
- Về mặt kiến thức: Al cháy sáng tạo thành chất rắn màu trắng
4Al + 3 O2 t0 2Al2O3
4 Tiết 42: Bài 33.Thực hành tính chất hóa học của phi kim và hợp chất của
chúng
* Thí nghiệm 1: Cacbon khử đồng II oxit ở nhiệt độ cao
Lấy một ít (bằng hạt ngô ) hỗn hợp CuO và C (bột than gỗ ) vào ống nghiệm, đun nóng đáy ống nghiệm bằng ngọn lửa đèn cồn Quan sát sự thay đổi màu của hỗn hợp phản ứng và hiện tượng xảy ra trong ống nghiệm đựng dung dịch Ca(OH)2
* Cách tiến hành theo hướng dẫn ( hình 9)
(hình 9)
* Cải tiến mới: Giáo viên cho các nhóm chỉ dùng cặp gỗ, 1 ống nghiệm có
gắn nút cao su có ống dẫn khí và 1 cốc thủy tinh loại 50 ml
Trang 9Lấy 1 ít hỗn hợp CuO và C (C hoạt tính đã được sấy khô) cho vào ống nghiệm, đậy kín ống nghiệm bằng nút cao su có ống dẫn khí nhúng vào cốc đựng một ít dung dịch Ca(OH)2 Dùng cặp gỗ cặp ống nghiệm và đun nóng trên ngọn lửa đèn cồn Quan sát màu của hỗn hợp và hiện tượng trong cốc thủy tính
-Ưu điểm của cải tiến: Học sinh làm nhanh, gọn, hiệu quả, hiện tượng rõ ràng, dụng cụ thí nghiệm ít
- Về mặt kiến thức: Ở nhiệt độ cao C khử được một số oxit kim loại, tạo kim loại và khí CO2, khí CO2 làm đục nước vôi trong
C + 2CuO t0 2Cu + CO2 CO2 + Ca(OH)2 CaCO3 + H2O
* Thí nghiệm 2: Nhiệt phân muối NaHCO 3
Lấy một thìa nhỏ NaHCO3 vào ống nghiệm, đun nóng ống nghiệm trên ngọn lửa đèn cồn Quan sát hiện tượng xảy ra trên thành ống nghiệm và sự thay đổi ở ống nghiệm đựng dung dịch Ca(OH)2
* Cách tiến hành theo hướng dẫn ( hình 10)
( hình 10)
* Cải tiến mới: Giáo viên cho các nhóm chỉ dùng cặp gỗ, 1 ống nghiệm có gắn
nút cao su có ống dẫn khí và 1 cốc thủy tinh loại 50 ml
Lấy 1 thìa nhỏ NaHCO3 cho vào ống nghiệm, đậy kín ống nghiệm bằng nút cao su có ống dẫn khí nhúng vào cốc đựng một ít dung dịch Ca(OH)2 Dùng cặp gỗ cặp ống nghiệm và đun nóng trên ngọn lửa đèn cồn Quan sát hiện tượng trên thành ống nghiệm và trong cốc thủy tính
Giáo viên lưu ý cho học sinh khi cốc đựng dung dịch Ca(OH)2 có dấu hiệu vẩn đục thì ngừng đun Quan sát hiện tượng theo yêu cầu
- Ưu điểm của cải tiến: Học sinh làm nhanh, gọn, hiệu quả, hiện tượng rõ ràng, dụng cụ thí nghiệm ít
- Về mặt kiến thức: Khi quan sát thấy cốc nước vôi vẫn đục thì ngừng lại, nếu tiếp tục đun thì hơi nước trên thành ống nghiệm không còn, kết tủa trắng sẽ tan khi CO2 dư
+ Ban đầu xảy ra phản ứng: 2NaHCO3 t0 Na2CO3 + H2O + CO2 + Khí CO2 Phản ứng với dd Ca(OH)2:
CO2 + Ca(OH)2 CaCO3 + H2O
+ Nếu dư CO2 xảy ra phản ứng: CO2 + CaCO3 + H2O Ca(HCO3)2
Trang 10* Thí nghiệm 3: Nhận biết muối cacbonat và muối clorua.
Có 3 lọ đựng 3 chất rắn ở dạng bột là NaCl, Na2CO3 và CaCO3 Hãy làm thí nghiệm nhận biết mỗi chất trong các lọ
* Cải tiến mới: Giáo viên cung cấp cho mỗi nhóm 3 ống nghiệm chứa 3
chất rắn trắng dạng bột NaCl, Na2CO3 và CaCO3, yêu cầu học sinh nêu cách nhận biết, sau đó hướng dẫn học sinh cách thực hiện trên những lỗ đế sứ : Cho vào 3 lỗ
đế sứ một ít các chất rắn trên, lấy 1 ít H2O cho vào 3 lỗ nhận xét hiện tượng, kết luận Nhỏ dung dịch HCl vào 2 lỗ chứa 2 chất rắn tan được trong nước Nhận xét, kết luận rồi dán lại nhãn trên mỗi ống nghiệm để giáo viên kiểm tra kết quả thí nghiệm
- Ưu điểm của cải tiến: Rèn luyện cho học sinh biết cách nhận biết chất và dán lại nhãn mát khi bị mất nhãn
- Về mặt kiến thức: CaCO3 không tan trong nước, Na2CO3 tác dụng với dung dịch HCl, còn lại NaCl không tác dụng với dung dịch HCl
Na2CO3 + 2 HCl 2 NaCl + H2O + CO2
5 Tiết 52: Bài 43.Thực hành tính chất của hiđro cacbon.
* Thí nghiệm 2: Tính chất của axetilen.
- Dẫn khí axetilen vào ống nghiệm đựng 2 ml dung dịch brom Quan sát và ghi chép hiện tượng xảy ra
- Dẫn axetilen qua ống thủy tinh vuốt nhọn rồi châm lửa đốt khí axetilen thoát ra Quan sát màu ngọn lửa
* Cách tiến hành theo hướng dẫn ( hình 11)
(hình 11) Nước CaC2 ( hình 12)
*Cải tiến mới: Ở thí nhiệm 1 và 2, giáo viên dùng ống nghiệm 2 nhánh (Hình
12 ) cho 3 – 4 mẫu CaC2 vào đáy nhánh nhỏ, cho khoảng 5 ml H2O vào nhánh lớn