29 Hình 3.2: Phân bố năng suất đánh bắt trungbình của cá nục sồ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ trong năm 2013 dựa trên số liệu điều tranguồn lợi hải sản bằng lưới kéo đáy ..... lợi nhằm cung cấ
Trang 1Trang
Trang 225
Trang 436
3.2.4 Chiều dài lần đầu sinh sản (Lm50)
37 3.2.5 Mùa sinh sản
38 3.2.6 Hệ số tử vong
40 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .
43 KẾT LUẬN 43
KIẾN NGHỊ 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC 50
Phụ lục A
50 Phụ lục B
51 Phụ lục C 54
Phụ lục D
57 Phụ lục E 60
Phụ lục F
68 Phụ lục G
69
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Trang
Hình 1.1: Cá nục sồ Decapterus maruadsi (Temminck & Schlegel, 1843)
2 Hình 2.1: Hệ thống trạm điều tra nguồn lợi hải sản bằng lưới kéo đáy ở vịnh Bắc Bộ
và điểm lấy mẫu sinh học nghề cá (Viện Nghiên cứu Hải sản,2013) 20 Hình 2.2: Các cách đo chiều dài cá (Jennings et al.,2002) 22 Hình 3.1: Phân bố năng suất đánh bắt trung bìnhcủa cá nục sồ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ trong năm 2012 dựa trên số liệu điều tra nguồnlợi hải sản bằng lưới kéo đáy 29 Hình 3.2: Phân bố năng suất đánh bắt trungbình của cá nục sồ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ trong năm 2013 dựa trên số liệu điều tranguồn lợi hải sản bằng lưới kéo đáy 29 Hình 3.3: Mật độ (kg/km2) cá nục sồtại vịnh Bắc Bộ trong mùa gió Đông Bắc và mùa
gió Tây Nam giai đoạn 2012 – 2013
ở vùng biển vịnh Bắc Bộ trong giai đoạn 2012 – 2013
33 Hình 3.7: Tần suất chiều dài và đường cong sinh trưởng Von Bertalanffy của cá nục
sồ đực ở vùng biển vịnh Bắc Bộ trong giai đoạn 2012 –
2013 33 Hình 3.8: Biểu đồ tỉ lệ đực/cái hàng tháng trongquần thể cá nục sồ ở vùng biển vịnh
Bắc Bộ trong giai đoạn 2012 - 2013
Trang 7sinh dục theo kích cỡ chiều dài trong quần thể cá nục sồ ở vùng biển vịnh Bắc Bộtrong giai đoạn 2012 - 2013 36 Hình 3.11: Biến động hệ số thành thục sinh dục của
cá nục sồ theo tháng/năm ở vùng biển vịnh Bắc Bộ trong giai đoạn 2012
-2013 37 Hình 3.12: Biểu đồ tương quan tỉ lệthành thục sinh dục và chiều dài của cá nục sồ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ trong giaiđoạn 2012 - 2013 37 Hình 3.13: Biến động GSI hàngtháng của cá nục sồ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ trong giai
đoạn 2012 – 2013
39 Hình 3.14: Đường cong sản lượng chuyển đổi từ tần suất chiều dài của cá nục sồ cái
ở
vùng biển vịnh Bắc Bộ trong giai đoạn 2012 - 2013
40 Hình 3.15: Đường cong sản lượng chuyển đổi từ tần suất chiều dài của cá nục sồ ởvùng biển vịnh Bắc Bộ trong giai đoạn 2012 –
2013 41 Hình 3.16: Đường cong sản lượngchuyển đổi từ tần suất chiều dài của cá nục sồ đực ở
vùng biển vịnh Bắc Bộ trong giai đoạn 2012 – 2013
41 DANH MỤC BẢNG
TrangBảng 1.1: Các tham số sinh trưởng của cá nục sồ ở các nước Đông Nam Á trên vùng biển Đông (theo dự án SEAFDEC)
8 Bảng 1.2: Hệ số tử vong của cá nục sồ ở các vùng biển trong khu
Trang 8Đông Bắc và mùa gió Tây Nam (2012 – 2013)
FAO Tổ chức Lương thực và Nông
nghiệp Liên hợp quốc
Food and Agriculture Organization of the United
GSI Hệ số thành thục sinh dục Gonado Somatic Index
thể đạt tới
L-infinity
FL (mm) Chiều dài đến chạc vây đuôi Fork Length
SL (mm) Chiều dài tiêu chuẩn Standard Length
W sd (g) Khối lượng tuyến sinh dục Gonad Weight
Trang 9N Số lượng mẫu hoặc cá thể Sample size or Number of
sinh trưởng Von Bertalanffy
Curvature parameter
Trang 10Bắc Bạch Long Vĩ, phía Nam đảo Long Châu, Đông Bắc hòn Mê và vùng khơi ThanhHóa – Hà Tĩnh, ngược lại ở mùa gió Tây Nam (tử tháng 4 – 9) cá nục sồ phân bố nhiều
ở các khu vực gần bờ Cá nục sồ sinh sản rải rác quanh năm, tập trung ở các tháng 3 –
4 và tháng 7 – 8, tháng 8 – 10 là giai đoạn cuối của mùa sinh sản [12] Cá con phân bốchủ yếu ở khu vực Cát Bà, Nga
Sơn, Nam Hà, hòn Mê và Bạch Long Vĩ
Trong những năm gần đây, trước áp lực của hoạt động khai thác ngày càng tăng ởvịnh Bắc Bộ, nguồn lợi hải sản ở đây đã có sự suy giảm, trong đó có nguồn lợi cá nục
sồ Quản lý nghề cá nói chung đang đối mặt với nhiều thách thức do thiếu thông tin vềhiện trạng nguồn lợi và đặc điểm sinh học cơ bản của các loài hải sản Đánh giá nguồn
Trang 11lợi nhằm cung cấp thông tin khoa học cho công tác quản lý nghề cá trở lên cần thiết.Nhằm cập nhật thông tin về hiện trạng nguồn lợi và đặc điểm sinh học cơ bản của loài
cá nục sồ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc
điểm sinh học và nguồn lợi của loài cá nục sồ Decapterus maruadsi (Temminck & Schlegel, 1843) ở vùng biển vịnh Bắc Bộ”
Với các nội dung nghiên cứu như sau:
1 Nghiên cứu một số đặc điểm nguồn lợi cá nục sồ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, gồm:
năng suất khai thác, đặc điểm phân bố nguồn lợi theo không gian và thời gian, trữlượng nguồn lợi tức thời trong vùng biển nghiên cứu
2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cá nục sồ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, gồm
các tham số của phương trình sinh trưởng von Bertalanffy, tần suất chiều dài, tỉ lệđực cái trong quần thể, xác định chiều dài sinh sản lần đầu (Lm50), mùa sinh sản,biến động tỉ lệ thành thục sinh và biến động hệ số thành thục sinh dục tương đối củaloài
3 Nghiên cứu xác định các hệ số tử vong của loài cá nục sồ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ,
gồm hệ số tử vong tự nhiên, hệ số tử vong do khai thác và hệ số khai thác
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Góp phần cập nhật thông tin về đặc điểm nguồn lợi và một số tham số sinh họccủa loài cá nục sồ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đánh giá nguồn lợi cá nục sồ Decapterus maruadsi (Temminck & Schlegel,
1843) tại vùng biển vịnh Bắc Bộ nhằm cung cấp thông tin khoa học cho công tác quản
lý nghề cá là cần thiết vì mục tiêu phát triển nghề cá bền vững Trong đánh giá nguồnlợi, thông tin về đặc điểm sinh học là dữ liệu đầu vào, là nền tảng để thực hiện các môhình đánh giá nguồn lợi từ đó đưa ra các tư vấn cần thiết cho công tác quản lý nghề cá.Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cập nhật thông tin về hiện trạng nguồn lợi
và đặc điểm
sinh học của loài, làm cơ sở cho việc đánh giá nguồn lợi và quản lý nghề cá
Trang 13CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá nục sồ
Loài cá nục sồ (Decapterus maruadsi) thuộc họ cá khế (Carangidae) (Hình 1.1),
là loài cá nổi nhỏ phân bố rộng ở vùng biển nhiệt đới, từ phía Đông Ấn Độ Dương quaTây Thái Bình Dương tại những vùng nước ấm và dọc ven biển Trung Hoa, Việt Nam,Nhật, Malaysia, Philippines, Indonesia Ở biển Việt Nam, cá nục sồ bắt gặp ở hầu hếtcác vùng biển, từ vịnh Bắc Bộ đến ven biển miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nam
Bộ [12] Hiện tại giống Decapterus trên thế giới đã phát hiện được 11 loài [34, 39], trong đó ở Việt Nam cho đến nay đã bắt gặp 4 loài là D maruadsi, D lajang, D kuroides và D russelli [22] Trong 4 loài này, cá nục sồ (D maruadsi) là loài có sản
lượng cao nhất [22] Hệ thống phân loại của cá nục sồ được mô tả như sau:
Giới (Kingdom): Animalia
Ngành (Phylum): Chordata
Lớp (Class): Actinopterygii
Bộ (Order): Perciformes
Họ (Family): Carangidae
Giống (Genus): Decapterus
Loài (Species) : Decapterus maruadsi
(Temminck & Schlegel, 1843)
• Synonym:
Caranx maruadsi Temminck et Schlegel, 1842, Fauna Japan Pisces
Caranx scombrinus Valenciennes, 1846
Decapterus scombrinus Valenciennes, 1846
Decapterus maruadsi Matsubara, 1955, Fish Morph.a.Hier., p.554
Decapterus maruadsi Trương, 1955, Hoàng Bột Hải ngư loại điều tra báo
cáo, p.105
Decapterus maruadsi Thành, 1962, Nam Hải ngư loại chí, p.387, fig.324
• Tên địa phương
English: Amberstripe scad, Deep-bodied round scad, Round scad, Stonebrass, Whitetipscad, Blue Mackerel Scad,galunggong
Trang 14Malay/Indonesian: Basung, Curut, Sadin, Selar, Selayang, Selayang mata besar
Spain: Macarela japonesa
má và nắp mang, phủ vẩy tròn, nhỏ Vây lưng dài và thấp, có một tia vây độc lập phíasau vây Vây ngực dài, mút vây đạt đến hoặc vượt quá lỗ hậu môn Vây đuôi chia nángsâu Phần lưng màu xanh xám, bụng màu trắng bạc Đỉnh vây lưng thứ hai có màutrắng Vây lưng thứ nhất có 7-8 gai cứng, vây lưng thứ nhì có 1 gai cứng và 32-33 tiamềm Vây hậu môn có 3 gai cứng, rời tiếp theo là 28-29 tia mềm Các vây lưng, vây
ngực và vây đuôi màu vàng nhạt.” Kích cỡ khai thác
Thông thường cá nục sồ có chiều dài từ 110 – 190mm Ở cá 1 tuổi, chiều dài thânđạt đến 130 – 140mm; 2 tuổi đạt 160 – 170mm Chiều dài cá lớn nhất có thể đạt350mm, song chủ yếu tập trung tại lứa tuổi 1 – 2 Tuổi thọ lớn nhất đánh bắt được là 4tuổi [17]
Trang 15Cá đánh bắt được có chiều dài dao động từ 60 – 239 mm, chủ yếu là nhóm chiềudài từ 120 – 189 mm Thành phần chiều dài của cá đánh bắt được trong mùa gió mùa
Đông Bắc và Tây Nam hơi khác nhau Thành phần chiều dài của cá nục sồ đánh bắtđược bằng các loại lưới khác nhau gần như nhau Điều này có thể được giải thích bởi
sự di cư thẳng đứng theo ngày đêm của loài này [3]
• Tính ăn
Cá nục sồ thuộc loại ăn tạp, trong dạ dày có nhiều chủng loại thức ăn như: Bộ
chân mái chèo (Temora, Saphirina); Bộ có vỏ (Pypocypris), giáp xác lớn (Lucifer); Giáp xác hai vỏ (Ostracoda); Bơi nghiêng (Amphipoda); ấu trùng chủ yếu là ấu trùng cua; bộ lưỡng túc (Hyperidae); lớp cá (họ cá trỏng, họ cá bạc má) [2, 17] Con mồi cơ
bản giống nhau về chủng loại nhưng kích thước thay đổi tùy theo kích thước của cá, cánhỏ 101 – 150 mm do chưa phát triển đầy đủ, cỡ miệng còn nhỏ nên ăn chủ yếu là Bộchân chèo và Bộ có vỏ; cá cỡ trung bình 151 – 200 mm ăn Bộ có vỏ và lớp cá; cá cỡ
201 mm ăn chủ yếu là cá, tiếp theo là ấu trùng Hoạt động bắt mồi của cá cũng khác
nhau trong mùa vụ khai thác và các lớp nước [12]
• Di cư
Chu Tiến Vĩnh & ctv (1998) dựa trên tín hiệu ghi lại được trên băng giấy dò cá
và phân tích sản lượng của lưới kéo đáy và tầng giữa của tàu N/C Biển Đông, sự di cưthẳng đứng theo ngày đêm của cá nục sồ thể hiện rất rõ Ban ngày các đàn cá ở gần sátđáy và ban đêm di chuyển lên các tầng nước trên, nhất là ở Vịnh Bắc Bộ khi chuyển từmùa đông sang xuân hè [22] Sự di cư này xảy ra phần lớn ở cá trưởng thành sinh dục
Cá nục sồ khi đẻ nổi lên tầng mặt và thường đẻ vào ban đêm do đó hiện tượng dichuyển từ tầng đáy lên tầng trên là do sự thay đổi trạng thái sinh lý trong mùa sinh sảntạo nên [3] Nguyễn Tiến Cảnh (1984) cho rằng cá nục nói chung và cá nục sồ nóiriêng thường nổi lên tầng trên chủ yếu để ăn mồi, vì ban đêm sinh vật phù du tập trungphân bố nhiều ở tầng trên hơn tầng đáy [1] Nguyên nhân của hiện tượng di cư thẳngđứng này đêm của cá nục còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau và chưa có đủ cơ sở kếtluận vấn đề này, do đó cần phải được tiếp tục nghiên cứu và bổ sung thêm Về thựctiễn, hiện tượng di cư thẳng đứng ngày đêm có ý nghĩa quan trọng vì nó ảnh hưởngtrực tiếp đến sản lượng khai thác cá nục bằng nghề lưới kéo đáy và nghề lưới vó kếthợp ánh sáng đèn ở nước ta [3]
Trang 16Ngoài tập tính di cư thẳng đứng theo ngày đêm, cá nục còn có tập tính di cư sinhsản Từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, cá nục sồ ở Vịnh Bắc Bộ di chuyển từ vùnggiữa vịnh đến phía Bắc vịnh để đẻ trứng và từ tháng 4 đến tháng 8, chúng di chuyểnvào vùng gần bờ Tây vịnh Bắc Bộ Ở vùng biển Phan Thiết – Vũng Tàu, cá nục sồ dichuyển theo hướng Nam - Bắc và từ vùng xa bờ tới gần bờ [22]
• Sản lượng khai thác
Sản lượng cá nục sồ có những biến động rõ rệt trong vòng 60 năm qua (1950 –2010) Sản lượng khai thác đạt đỉnh trong những năm 90 (trên 100 ngàn tấn), tuynhiên, sau đó sản lượng liện tục giảm dần, đến năm 2010 chỉ còn dưới 50 nghìn tấntrên khắp thế giới
Hình 1.2: Biểu đồ sản lượng khai thác cá nục sồ trên thế giới (FAO FishStat)
1.2 Một số đặc điểm tự nhiên vịnh Bắc Bộ
• Nhiệt độ nước biển
Chế độ thủy học của vịnh Bắc Bộ bị chi phối bởi các yếu tố quan trọng: chế độgió mùa, nước từ lục địa với nhiệt độ thấp và nước từ biển ngoài có nhiệt độ ổn địnhvới độ muối cao[19]
Trong mùa gió Đông Bắc, nhiệt độ phân bố theo xu hướng tăng dần từ bờ ra khơi
và từ Bắc vào Nam, nhiệt độ nước tầng mặt dao động trong phạm vi từ 14oC – 24oC,nhiệt độ thấp nhất vào tháng 2 có thể tới 12,2oC Sự chênh lệch nhiệt độ tầng đáy vàtầng mặt không nhiều vì vịnh nông, sóng gió lớn làm cho khối nước luôn luôn xáotrộn, nhiệt độ tầng đáy từ 14 – 23oC [19]
Trang 17Trong mùa gió Tây Nam, nhiệt độ tầng mặt ở vùng nước nông phía Tây và Bắc
có trị số cao khoảng 30oC, các vùng khác có nhiệt độ thấp hơn (dưới 28oC), nhiệt độtầng đáy giảm dần theo độ sâu Nhiệt độ có xu hướng giảm dần từ Bắc vào Nam và từ
bờ ra khơi; nhiệt độ trung bình trong tháng 5 là 26,5oC, đến tháng 8 trên toàn vịnh xấp
xỉ 28,6 – 29,8oC Nhiệt độ nước tầng mặt dao động trong phạm vi từ 28oC – 31oC.Nhiệt độ nước tầng đáy giảm dần theo độ sâu từ 29,2 – 24,5oC [19]
• Độ mặn nước biển
Trên bề mặt, độ mặn nước biển trung bình năm của vịnh Bắc Bộ ở dải ven bờ daođộng trong khoảng 20,52 – 31,3%o Khu vực giữa vịnh độ mặn thường cao và ổn địnhhơn, đạt tới 32,3%o Độ mặn tầng đáy trong toàn năm dao động từ 29 – 34,6%o Độmặn trong năm phân bố theo xu thế tăng dần từ Bắc xuống Nam và từ bờ ra khơi [19] Trong mùa gió Đông Bắc, nước bị xáo trộn mạnh, độ mặn tầng mặt và tầng đáy ítchênh lệch Đến tháng 4 độ mặn nước tầng mặt vùng ven bờ giảm xuống 26%o vàngoài khơi 34%o [19]
Trong mùa gió Tây Nam, lượng mưa lớn, nước ngọt từ lục địa đổ ra nhiều, độmặn tầng mặt giảm Vào tháng 8 độ mặn tầng mặt giảm xuống 33,5%o ở ngoài khơi và11%o ở dải ven bờ Tại vùng cửa sông, độ mặn có thể giảm xuống 5%o [19]
• Đặc điểm nền đáy
Ở vịnh Bắc Bộ, đáy biển nói chung bằng phẳng, chất đáy phần lớn là bùn cát, cátpha bùn Chướng ngại vật tự nhiên chiếm phạm vi hẹp, do đó có lợi cho nghề lưới kéođáy hoạt động
• Đặc điểm khí tượng
Đặc điểm khí hậu thể hiện rõ nét là mùa gió mùa Đông Bắc (mùa khô) từ tháng
11 tới tháng 3 năm sau và mùa gió Tây Nam (mùa mưa) từ tháng 5 – 9 Tháng 4 vàtháng 10 là thời kì chuyển tiếp [19]
• Dòng chảy
Hệ thống dòng chảy bề mặt ở vùng biển vịnh Bắc Bộ chịu ảnh hưởng rất lớn bởichế độ gió mùa thịnh hành Dòng chảy bề mặt được hình thành từ gió mùa, đó là dòng Tây Nam chảy mạnh dọc theo bờ và thể hiện rõ trong mùa mưa và dòng chảy ĐôngBắc mạnh trong mùa khô [19]
Trang 18Trong mùa gió Đông Bắc (mùa khô), dòng chảy bề mặt xuất phát từ Thái BìnhDương đi vào vịnh Bắc Bộ men dọc theo phía Tây đảo Hải Nam (Trung Quốc) đi lênphía Bắc, dòng chảy ngược theo chiều kim đồng hồ, sau đó chảy dọc theo bờ Việt Nam
và đi ra khỏi cửa vịnh Bắc Bộ chảy vào vùng biển miền Trung Trong khi đó nhánh thứhai chảy dọc theo bờ biển miền Trung vào vùng biển Đông Nam Bộ Dòng chảy dọctheo bờ Tây Nam Bộ và theo chiều ngược kim đồng hồ đi gần bờ Thái Lan, rồi chuyểnhướng đến Bắc xích đạo [18]
Trong mùa gió Tây Nam (mùa mưa), dòng chảy chảy từ phía Bắc xích đạo, đi vào vịnh Thái Lan, men dọc theo bờ Thái Lan đi lên phía Bắc và thuận chiều kim đồng hồmen dọc theo bờ Tây Nam Bộ rồi đi ra khỏi vịnh Một nhánh khác chảy dọc theo bờbiển miền Trung, chảy theo hướng Bắc Các dòng chảy vào vịnh Bắc Bộ đi lên phíaBắc sau đó thuận chiều kim đồng hồ, chảy dọ theo bờ phía Tây đảo Hải Nam cùng vớinhánh khác đi theo hướng Đông Bắc [18]
1.3 Tình hình nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá nục sồ trên thế giới
Cá nục sồ là một trong những đối tượng khai thác quan trọng và có ý nghĩa kinh tếđối với những nước thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khu vực Thái Bình Dương
và Ấn Độ Dương cũng quan tâm chú ý khai thác Những nghiên cứu về sinh trưởng,sinh sản và nguồn lợi của cá nục sồ đã được công bố, chủ yếu được thực hiện tại cácnước thuộc khu vực này
1.3.1 Các nghiên cứu về sinh học sinh trưởng
Sinh trưởng của cá được hiểu là sự gia tăng kích thước và khối lượng cơ thể trongquá trình phát triển theo thời gian Đó là kết quả của quá trình trao đổi chất (Nikolski,1963) Sự tăng trưởng kích thước và khối lượng của cá được kiểm soát bởi nguồn nănglượng đi vào cơ thể thông qua hoạt động dinh dưỡng Liên quan đến quá trình đồnghóa thức ăn, tăng trưởng không chỉ phụ thuộc vào đặc tính của loài mà còn vào cácđiều kiện yếu tố vô sinh (nhất là nhiệt độ nước) và hữu sinh (con mồi, vật dữ, ký sinh,bệnh tật…) Tăng trưởng của cá bao gồm mối quan hệ tăng trưởng giữa kích thước vàkhối lượng của cơ thể Cá có thể tăng trưởng suốt đời, nhưng theo thời gian tốc độ tăngtrưởng giảm dần Để giải thích các mối quan hệ của loài với môi trường xuất hiệntrong quá trình sinh trưởng, cần phải xác lập được các quy luật tăng trưởng cá thể
Trang 19trong mối liên quan lịch sử phát triển của loài [17] Từ những nhận thức trên, L.Bertalanffy đã đưa ra được hai công thức tổng quát cho sự tăng trưởng của cá:
𝐿𝑡 = 𝐿∞ × (1 − 𝑒−𝑘𝑡) đối với sự tăng trưởng chiều dài cá
𝑊𝑡 = 𝑊∞ × (1 − 𝑒−𝑘𝑡) đối với sự tăng trưởng khối lượng cá Những thông số cần quan tâm chính ở đây là L∞ (Chiều dài tối đa mà cá có thể đạtđược), W∞ (Khối lượng tối đa mà cá có thể đạt được) và hệ số sinh trưởng K Theo saunhững kết quả nghiên cứu đã được Nikolski (1963) đưa ra, nhiều nghiên cứu đã đượctiến hành trên khắp thế giới nhằm tìm hiểu và đưa ra các dữ liệu về sự sinh trưởng vàphát triển của nhiều loài cá kinh tế Cá nục sồ là một trong những đối tượng cá nổi nhỏ
có giá trị kinh tế được đưa vào nghiên cứu từ rất sớm ở khu vực châu Á Indonesia cócác nghiên cứu của Suherman Banon & ctv (1982); Bambang Sadhomoto & ctv.(1982 – 1983) Những nghiên cứu của Indonesia tập trung tìm hiểu các tham số sinhtrưởng và mối tương quan chiều dài khối lượng, đồng thời tìm hiểu tỉ lệ giữa sản lượng
cá và khả năng bổ sung quần đàn tại hai vùng biển Java và Arafura Kết quả thu đượctại 2 vùng biển Java và Arafura ở Indonesia không có sự chênh lệch đáng kể về kíchthước tối đa (L∞ = 270 mm; L∞=259 mm), kích thước đánh bắt (Lc = 118 mm ; Lc =
156 mm) và hệ số tăng trưởng K (K = 0,95 và K = 0,98) [45, 48] Tại Trung Quốc, cónghiên cứu của Zheng Jie (1988), Zhu & nnk (1984); Chen Li Young và Song Qiu(1997 – 1999) Những nghiên cứu của Trung Quốc ngoài những thông số trên còn đưa
ra phương trình tăng trưởng von Bertalanffy về chiều dài và khối lượng của cá nục sồcho vùng biển phía Đông của họ, làm cơ sở cho việc sử dụng hợp lý nguồn cá ở thềmlục địa phía Bắc biển Nam Trung Quốc [53, 56, 57] Ở Nhật Bản, có nghiên cứu củaTakeda (1981) về sinh trưởng cá nục sồ ở eo biển Kii và Seiji Ohshimo (2006) nghiêncứu với nội dung tương tự nhưng ở vùng biển Tây Kyushu – phía Đông biển TrungQuốc [42]
Năm 1995, Việt Nam gia nhập Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á(Southeast Asian Fisheries Development Center – SEAFDEC) Tổ chức liên chính phủnày gồm 10 nước ASEAN và Nhật Bản, được thành lập năm 1967 nhằm thúc đẩy pháttriển thủy sản ở khu vực Đông Nam Á, đào tạo nghiên cứu và cung cấp dịch vụ thôngtin Trong thời gian 2003 – 2005, SEAFDEC tiến hành dự án “Nghiên cứu nguồn lợi
cá biển ở vùng biển Đông” thực hiện ở các nước Đông Nam Á để nghiên cứu sự sinh
Trang 20trưởng của cá nục sồ tại vùng biển các nước trong khu vực như Brunei, Malaysia,Philippines, vịnh Thái Lan đã đưa ra các thông số cụ thể về hằng số tăng trưởng (K),chiều dài lý thuyết tối đa đạt được (L∞ ), các hệ số tăng trưởng a,b Các tham số sinh
trưởng được thể hiện ở Bảng 1.1
Bảng 1.1: Các tham số sinh trưởng của cá nục sồ ở các nước Đông Nam Á trên vùng biển Đông (theo dự án SEAFDEC)
Brunei
0,39 232 -2,034 3,033 2004 1,70 233 -1,524 2,624 2005
Trang 21dài cá (FL) khoảng 50 mm và đến tháng 12 có thể đạt 150 mm Cá 1 tuổi có chiều dàikhoảng 200 mm, cá 2 tuổi đạt khoảng 240 – 260 mm, cá 3 tuổi có chiều dài
270 – 290 mm, cá nhiều nhất là 6 tuổi và chiều dài tương ứng là 354 mm Trước đó,Sakamoto & Takeda (1981) đã xác định tuổi cá nục sồ ở eo biển Kii bằng mô hìnhtheo dõi phân bố kích thước chỉ ra rằng ở tháng 4 chiều dài nhóm cá 0 tuổi và 1 tuổi là
190 – 210 mm, có thể đạt 240 mm; chiều dài trung bình của cá 0 tuổi và 1 tuổi là 190
-210 mm, có thể đạt 240 mm; chiều dài trung bình của cá 0 tuổi khoảng 180 mm từ đócho thấy sự tương đồng về kích thước của nhóm cá 0 tuổi vùng biển Tây Kyushu và eobiển Kii
Trên cơ sở phân tích số liệu tần suất chiều dài, các tác giả đều đưa ra các hệ số tửvong: hệ số tử tử vong tự nhiên (M), hệ số tử vong tổng số (Z), hệ số tử vong do khaithác (F) để đánh giá cường lực khai thác (E) của quần thể cá Những thông tin về các
hệ số tử vong được thể hiện qua Bảng 1.2
Bảng 1.2: Hệ số tử vong của cá nục sồ ở các vùng biển trong khu vực
Arafura (Indonesia) 4,95 1,85 3,10 0,63 Suherman Banon (1982)
Java (Indonesia) 3,44 1,79 1,65 0,48 Bambang Sadhotomo (1983)
Nam Trung quốc 1,87 0,85 1,02 0,55 Chen Li Young (2003)
Brunei (2004) 4,60 0,55 4,05 0,88 Matzaini H Juna & ctv
(2007)
Brunei (2005) 13,01 1,45 11,56 0,89 Matzaini H Juna & ctv
(2007)
Tok Bali (Malaysia) 8,49 2,12 6,38 0,75 Samsudin Basir (2007)
1.3.2 Các nghiên cứu về sinh học sinh sản
Sinh sản là một chức năng rất quan trọng của bất kì sinh vật nào nhằm duy trì nòigiống và phát huy vị thế của mình trong sinh giới Đặc tính sinh sản của loài là sựthích nghi với những điều kiện xác định của sự sinh sản và phát triển của đàn con non,tạo nên sự bổ sung cần thiết để duy trì số lượng Số lượng và chất lượng của đàn bổ
Trang 22sung phụ thuộc vào chất lượng và thành phần số lượng của quần thể tham gia sinh sảncũng như vào điều kiện mà trứng và con non phát triển sau này Tùy theo khu vực địa
lý mà những đặc điểm về sinh sản có thể khác nhau [17]
Những nghiên cứu về sinh học sinh sản tại khu vực châu Á có thể kể tới như Li Young– Chan Chen Pi (1997 – 1999) tìm hiểu về bãi đẻ trứng của cá nục sồ ở thềm lục địabiển Bắc Trung Quốc Kết quả của nghiên cứu cho thấy mùa vụ sinh sản tập trung chủyếu vào mùa xuân, chu kì sinh sản thu ngắn lại và thời gian đẻ trứng dài hơn [54].Weizhong Chen (1999) tìm hiểu về sự phân bố của quần đàn cá nục tại vùng biển NamTrung Quốc cho thấy quần đàn cá nục phân bố từ cửa sông Dương Tử (Yangtze) tới eobiển Đài Loan Hầu hết cá nục sồ tập trung ở cửa sông Dương Tử để đẻ vào tháng
5 và tháng 6 Sau đó, chúng bắt đầu di cư về phía eo biển Đài Loan vào khoảng đầutháng 10 [28]
Sakul Supongpan và ctv (1998 – 2002) tiến hành nghiên cứu tại vùng biển Andaman– Thái Lan nhận thấy cá nục sồ đẻ quanh năm nhưng đẻ rộ nhất vào tháng 2 đến tháng
4, chiều dài Lm50 là 159 mm (đối với cá đực) và 157 mm (đối với cá cái), tỉ lệ cá đực/cácái là 1/1, bãi đẻ của chúng ở Koh Similan, Koh Rajanoi, Koh Kai, Koh Ha [46] Theo SEAFDEC (2003 – 2005), kết quả nghiên cứu sinh học sinh sản của các loài cábiển trong đó có cá nục sồ đã cho thấy chỉ số chín muồi tuyến sinh dục (GSI), chiềudài cá tham gia sinh sản lần đầu kết quả cụ thể ở một số nước như sau:
Ở Brunei, Matzaini H Juna và ctv (2007) đã chỉ ra rằng giá trị GSI cao nhất là 0,7(tháng 7/2004) Năm 2005, đỉnh sinh sản vào tháng 4 (GSI = 1,5), tháng 7 (GSI =2,3) và tháng 11 (GSI = 2,5) Chiều dài của cá tham gia vào sinh sản lần đầu Lm50 =
192 mm
Ở Malaysia, Samsudin Basir (2007) đưa ra kết quả như sau (Bảng 1.3)
Bảng 1.3: Chỉ số chín muồi tuyến sinh dục ở Malaysia của cá nục sồ
Trang 23 Ở Philippines, nghiên cứu của Rafael V Ramiscal và ctv (2007) cho thấy cá nục sồ
đẻ rải rác quanh năm Vùng biển Rosario chu kì sinh sản bắt đầu từ tháng 2 đếntháng 3 và đẻ tiếp từ tháng 7 đến tháng 9 Còn đối với biển Navosta, cá nục bắt đầu
đẻ từ tháng 1 – 2, tháng 4 – 5, tháng 7, tháng 9, tháng 11 GSI lớn nhất của cá cái =8,2 (tháng 11/2004) và GSI lớn nhất của cá đực = 2,9 (tháng 2/2004)
Ở Thái Lan, Pakjuta Khemakorn và ctv (2007) tìm hiểu đặc điểm sinh sản cá nục
sồ ở vịnh Thái Lan thấy rằng Lm50 = 166 mm đối với cá đực và Lm50 = 149 mm đốivới cá cái GSI (cá đực và cá cái) ≥ 4,0
Ở Nhật Bản, Takeda (2002) trong quá trình nghiên cứu quần đàn cá nục ở eo biển Kiithuộc quận Wakayama, đã phát hiện quần đàn có sự di cư sinh sản trong thời gian mùaxuân (tháng 3 – tháng 6) Khi tới mùa sinh sản, cá từ 2 năm tuổi trở lên di cư theo phíaBắc, quần đàn từ phía ngoài eo biển Kii vào bên trong, và tới biển Harima – nada đểsinh sản [49] Seiji Ohshimo và ctv (2006) cho rằng mùa đẻ chính của cá là tháng 6,giá trị hệ số thành thục sinh dục GSI của cá đực và cá cái khoảng 5,8 – 6,5 GSI củanoãn bào nguyên sinh và noãn bào cấp 2 có giá trị 2 – 5 và 3 – 6, còn giá trị GSI củanoãn bào cấp 3 là 4 – 11 lúc đó cá có FL ≥ 240 mm và cá được 2 tuổi Từ tháng 9 đếntháng 4 năm sau, GSI trung bình của cá cái nhỏ hơn 2 và lớn hơn 4 từ tháng 5 đếntháng 8, mùa vụ bắt đấu sinh sản từ tháng 4 và cá cái có giá trị hệ số sinh sản tương đối
là 2,4 Sự sai khác về GSI, Lm50 , mùa vụ sinh sản nguyên nhân chính có thể do điềukiện nhiệt độ của vùng địa lý xác định (những loài hay quần thể loài sống trong cácthủy vực thuộc vĩ độ thấp, tuổi sinh sản lần đầu đến sớm so với những loài hoặc quầnthể loài sống ở các thủy vực thuộc vĩ độ cao hơn) và chế độ dinh dưỡng (Trong hoàncảnh điều kiện dinh dưỡng tốt, cá sinh sản sớm và tăng số lần đẻ trứng trong năm)[17]
1.3.3 Các nội dung nghiên cứu liên quan đến đánh giá nguồn lợi
Cá nổi nhỏ là nhóm cá chiếm ưu thế tại châu Á và Thái Bình Dương [29] Chúng
là nguồn cung cấp “protein giá rẻ” cho những người thuộc bộ phận thu nhập thấp Cánục sồ là một đối tượng nổi bật trong nhóm cá này do giá trị dinh dưỡng tương đối cao,cung cấp một lượng khoáng chất tương đối lớn trên một đơn vị trọng lượng [29] Ngoài ra, cá nục sồ còn phân bố tương đối đồng đều ở các khu vực ven bờ thuộc vùngbiển châu Á – Thái Bình Dương, dễ đánh bắt, không yêu cầu trang thiết bị hiện đại,
Trang 24sản lượng khai thác lớn [3] Cá nục sồ thường tập trung di chuyển thành đàn Đàn diđộng nhanh, bề ngang hẹp Hiệu quả đánh bắt cá nục sồ bằng lưới kéo đáy phụ thuộcrất nhiều vào việc xác định trung tâm đàn cá Do vậy nghiên cứu xác định được địađiểm, quy luật phân bố nguồn lợi của cá có ý nghĩa thực tế lớn [5] Một số quốc giathuộc khu vực châu
Á – Thái Bình Dương như Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines đã tiến hành nghiên cứu
về nguồn lợi của loài này
Tại Trung Quốc, những nghiên cứu về cá nục sồ cho thấy cá nục sồ phân bố tại
ba trên bốn vùng biển chính: vùng biển Hoàng Hải (Yellow sea), vùng biển phía NamTrung Quốc (South China Sea), vùng biển phía Đông Trung Quốc (East China Sea)[28, 46, 52-54] Ở các vùng biển Trung Quốc, cá nục sồ tồn tại thành hai quần đàn độclập: Quần đàn phía Nam và quần đàn phía Đông Trung Quốc Theo kết quả nghiên cứu
đã thực hiện, quần đàn cá nục sồ ở khu vực phía Nam có trữ lượng lớn và cho sảnlượng khai thác cao hơn [28, 52, 56, 57] Đối với quần đàn phía Đông Trung Quốc,chúng phân bố ở vùng biển ven bờ, từ cửa sông Dương Tử (Yangtze) tới eo biển ĐàiLoan [28]
Ở Nhật Bản,nghiên cứu cho thấy cá nục sồ chủ yếu được khai thác tại eo biểnKii, gần quận Wakayama [49], xung quanh đảo Ishima thuộc quận Tokushima [50] vàvùng biển phía Tây quận Kyushu [42] Quần đàn cá nục tại eo biển Kii thường cónhiều đợt di cư kiếm ăn và trú đông trong năm Di cư kiếm ăn thường diễn ra trongkhoảng mùa hè tới đầu mùa thu (từ tháng 6 tới khoảng đầu tháng 11), cá từ hai nămtuổi trở lên sẽ di chuyển tới các khu vực dải san hô đá ở eo biển Kii, vịnh Osaka vàbiển Harima – nada
Di cư trú đông xảy ra đối với cá từ một năm tuổi trở lên, đàn cá hướng về phía Nam,phần rìa ngoài eo biển Kii để tránh rét
Ở Thái Lan, cá nục sồ phân bố chủ yếu tại vịnh Thái Lan [27, 29, 30, 41, 43] Ở Philippines, cá nục sồ chủ yếu đánh bắt được ở biển Sulu, biển Bohol và các vịnhVisayan, Moro, Lamon, Tayabas và bờ biển Batangas [44]
Trang 25Ngoài ra, cá nục còn được bắt gặp ở những khu vực: Biển Andaman, Ấn Độ [51];
eo biển Malacca nằm giữa Indonesia và Malaysia [33]; Biển Arafura, Indonesia [24];Biển Java, Indonesia [45]
1.3.4 Các nội dung nghiên cứu khác
Một số công trình khác cũng được tiến hành dựa trên đối tượng cá nục sồ nhưnhững nghiên cứu của Kishida so sánh hình thái học các nhóm cá nục và chu kì sinh
sản và sự phân bố ấu trùng cá nục sồ Decapterus maruadsi ở biển Đông Trung quốc (Kishida S, 1978); sự di cư của cá nục sồ Decapterus maruadsi ở eo biển Kii (Takeda
Y, 2002); sự sinh trưởng và tuổi của giống cá nục sồ ở eo biển Kii (Sakamoto vàTakeda, 1981); sinh học sinh sản cá nục sồ ở eo biển Kii (Takeda và Sakamoto, 1987);nghiên cứu tuổi và sinh trưởng của cá nục sồ vùng biển ngoài khơi Chiết Giang(Zhejiang) [57] Nghiên cứu về sự phân bố của cá nục sồ
(Decapterus maruadsi) ở biển Hoa Đông và Hoàng Hải [38] Nghiên cứu về tập tính
ăn của cá nục sồ [55]
1.4 Tình hình nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá nục sồ tại Việt Nam
Sau khi Viện Hải Dương học Đông Dương Nha Trang được thành lập (1922), nhữngnghiên cứu về cá biển bắt đầu được tiến hành Sau một thời gian gián đoạn vì bất ổn dochiến tranh, đến năm 1955 các nghiên cứu này lại được tiếp tục [13]
Trong những năm 1960 – 1965, có nhiều công bố khác nhau về sinh học của các loài
cá vịnh Bắc bộ như các công trình của Trương Nhân Thu (1960), Bùi Đình Chung(1962, 1963), Phạm Thược (1963), Druzhinin (1963), Lê Đăng Phan (1966), Nguyễn
Bá Hùng (1965) Các công trình đáng chú ý là “Sơ bộ thống kê một số loài cá kinh tếcủa vịnh Bắc Bộ” (Bùi Đình Chung, 1964) nêu đặc điểm sinh học của 18 loài cá kinh
tế in trong tập san Sinh Vật học, tập số 3 và số 4; công trình “Cá kinh tế vịnh Bắc bộ”của Nguyễn Phi Đính, Trần Nho Xy, Hoàng Phi (1971)[7] Năm 1981, Nguyễn Phi
Đính và cộng sự tiến hành nghiên cứu sinh học và nguồn lợi họ cá khế Carangidae
vùng biển
Nghĩa Bình – Minh Hải Năm 2002, Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á(SEAFDEC) phối hợp cùng với các nước trong khu vực tiến hành nghiên cứu đặc điểmsinh học, tập tính di cư, đánh giá nguồn lợi của cá nổi nhỏ trong đó có cá nục sồ, điều
Trang 26này rất cần thiết cho việc phát triển bền vững nghề cá Đến năm 2003, Viện nghiêncứu Hải sản thực hiện đề tài “Nghiên cứu nguồn lợi cá nổi nhỏ, chủ yếu là cá nục, cáBạc má và cá Cơm ở vùng biển Việt Nam” Năm 2014, Nguyễn Viết Nghĩa và Vũ Việt
Hà đánh giá tổng hợp hiện trạng nguồn lợi hải sản ở biển Việt Nam dựa trên số liệuđiều tra bằng các phương pháp khác nhau trong giai đoạn 2011 – 2013 Kết quả đãđánh giá trữ lượng, khả năng khai thác cá nổi nhỏ làm cơ sở khoa học cho việc quyhoạch, quản lý nguồn lợi Những nghiên cứu có liên quan đến sinh học, sinh trưởng, hệ
số tử vong và trữ lượng khai thác được kể đến là những công trình nghiên cứu sau:
1.4.1 Các nghiên cứu về sinh học sinh trưởng
Các nghiên cứu về sinh học sinh trưởng của cá nục sồ ở Việt Nam đã được tiến hành
từ rất sớm Nguyễn Bá Hùng (1964) nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cá nục sồbằng cách tính ngược sinh trưởng theo công thức của Lea (1910) Cá nục sồ trong vịnh
và ở cửa vịnh Bắc Bộ thu thập năm 1961 – 1963 đã cho ra kết quả hệ số đồng hóa bdao động trong khoảng 2,562 – 2,797 trong đó hệ số dị hóa a được xác định trong khi
tính hệ số b [11]
Nguyễn Phi Đính (1980) đã kết luận rằng cá nục sồ thuộc loài cá tăng trưởng khôngđồng đều (Allometric), cá tăng nhanh về chiều dài trong năm đầu, gấp 2 – 3 lần mứctăng trưởng của năm thứ hai và chiếm 34 – 51,5% tổng mức tăng trưởng của cá Từnăm thứ hai trở đi, mức tăng trưởng giảm dần theo lứa tuổi Nguyễn Phi Đính cũngđưa ra phương trình sinh trưởng của cá nục sồ được đưa ra dựa vào tương quan giữachiều dài thân và kích thước vẩy có dạng Ln = (Lc – 18,6)sn/S + 18,6, các tham sốphương trình sinh trưởng của cá nục sồ ở vịnh Bắc Bộ là L∞ = 243 mm; K = 0,32, t0 =
- 0,89 [4]
Trong báo cáo “Đặc điểm sinh vật học của cá nục sồ ở vùng biển Việt Nam”, Lê
Tự Cường (1985) đưa ra các tham số sinh trưởng của cá nục ở vùng biển Việt Nam L∞
= 228 – 387 mm, K = 0,33 – 0,20, t0 = 0,78 – 0,51 năm (đối với cá đực); L∞ = 231 –
382 mm, K = 0,32 – 0,21, t0 = 0,72 – 0,53 năm (đối với cá cái) [3]
Bùi Đình Chung và ctv (1991) đã nghiên cứu quần thể cá nục sồ ở vùng biển ViệtNam, kết quả cho thấy thành phần chiều dài cá đánh bắt được dao động từ 60 –239mm (chủ yếu là nhóm chiều dài 120 đến 189 mm) và hệ số dị hóa a = 1340 × 10-5,
hệ số đồng hóa b = 2,533 (giữa vịnh Bắc Bộ); a = 6839 × 10-5, b=2,651 (Đông Namvịnh Bắc Bộ) Các tham số sinh trưởng được ước tính là: L∞ = 243 mm, K = 0.32, to =
Trang 270,89 (giữa vịnh Bắc Bộ); L∞ = 286 mm, K = 0,21, to = 1,17 (Đông Nam vịnh Bắc Bộ)[22]
Nguyễn Phi Đính, Nguyễn Lâm Anh (1998) phân tích 1178 cá thể cá nục sồ, chiathành 15 nhóm có khoảng cách 1 cm theo phương pháp ELEFAN trên chương trìnhFiSAT – II đã cho ra các thông số sinh trưởng: L∞ = 252 mm, K = 0,44 [6]
Năm 2007, Chu Tiến Vĩnh và Vũ Việt Hà trong dự án SEAFDEC “Đánh giá nguồn lợi
cá biển ở vùng biển Việt Nam” (2003 – 2005) đã đưa ra các tham số sinh trưởng của
cá nục sồ ở các vùng biển khác nhau như Nghệ An: a = 0,001×10-1, b = 2,509, L∞ =
324 mm, K = 0,80 và Quảng Nam: a = 0,002 ×10-2, b = 2,873, L∞ = 280 mm, K = 0,50 Nhìn chung, những nghiên cứu đều đưa ra những thông số về tham số sinh trưởngtương đối giống nhau về L∞, K, các hệ số đồng hóa a, b chênh lệch không đáng kể.Nguyên nhân những sự thay đổi có thể do sự khác biệt về địa lý, quần đàn, và cườnglực khai thác
Các nghiên cứu đề cập đến hệ số tử vong (Z, M, F, E) được thể hiện qua Bảng 1.4:
Bảng 1.4: Hệ số tử vong của cá nục sồ qua các nghiên cứu trước đây tại vùng biển Việt Nam
Vịnh Bắc Bộ 1,73 0,98 0,75 0,43 Nguyễn Phi Đính (1998)
Chu Tiến Vĩnh (2007)
Bến Tre 1,60trưởng của các đàn cá con [3]
1 4.2 Các nghiên cứu về sinh học sinh sản
Năm 1985, Lê Tự Cường trên cơ sở phân tích sinh học 4000 mẫu và 75 mẫu buồngtrứng cá nục sồ cho thấy cá nục sồ ở vùng biển miền Nam đẻ kéo dài và đẻ 2 lần trongnăm: mùa đẻ chính từ tháng 4 đến tháng 9, đẻ rộ nhất vào tháng 6 – 7; mùa đẻ phụ từtháng 10 đến tháng 3, đẻ rộ nhất vào các tháng 1 – 2 Cá tập trung đi đẻ ở khu vực phíaNam đảo Côn Sơn và phía Bắc Cù lao Thu Trong khi đó, ở vịnh Bắc Bộ, mùa sinh sảncủa cá nục sồ thường kéo dài từ tháng 3 đến tháng 9 và đẻ rộ nhất vào các tháng 5, 6,
7 Vùng ven bờ phía Tây vịnh Bắc Bộ là bãi đẻ chính của cá nục sồ và cũng là nơi sinh
Nghệ An 3,10 0,60 2,60 0,80
Quảng Nam 1,00 0,60 0,40 0,40
Bình Thuận 4,30 0,60 3,60 0,90
Trang 28Kêt quả nghiên cứu của Nguyễn Phi Đính (1991) cho thấy cá nục sồ có mùa sinh sản tương đối dài (ở vịnh Bắc Bộ cá đẻ từ tháng 1 đến tháng 4), cá đẻ trứng nổi và
đẻ từ 2 – 3 đợt Cá thể nhỏ nhất tham gia đẻ có chiều dài thân khoảng 145 mm và nhóm tham gia đẻ chủ yếu có chiều dài thân 160 – 199 mm (nhóm cá 2 -3
tuổi), tỉ lệ cá đực và cá cái trong đàn đẻ là 1/1 Sức sinh sản tuyệt đối của cá nục sồ là36.700 đến 139.000 trứng, còn mức sinh sản tương đối là 421 – 1333 trứng
Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối đều tăng dần theo nhóm trọng lượng và nhóm chiều dài, chúng đạt giá trị cao nhất ở nhóm cá có trọng lượng 90 – 99 g và chiều dài
190 – 199 mm, sau đó lại giảm dần [5]
Nghiên cứu của Nguyễn Viết Nghĩa (1999) về đặc điểm sinh học của cá nục sồ chothấy cá nục sồ là cá sinh sản rải rác quanh năm, tập trung vào tháng 3 – 4 và tháng 7 –
8, tháng 8 – 10 là giai đoạn cuối của mùa sinh sản Tỉ lệ đực/cái ở các vùng biển đềuxấp xỉ 1/1 Hầu hết các cá thể cái đều ở giai đoạn II, giai đoạn IV và giai đoạn VI – IIvẫn xuất hiện, còn các cá thể đực độ chín muồi sinh dục tập trung chủ yếu ở giai đoạn
II [12]
Nghiên cứu của Chu Tiến Vĩnh và Vũ Việt Hà (2007) cho thấy chiều dài cá nục thamgia sinh sản lần đầu ở biển Nghệ An Lm50 = 260 mm (cá đực), Lm50 = 234 mm (cá cái),
cá cái có GSI = 5,1 ở tháng 3, cá đực có GSI = 4,9 ở tháng 3; ở biển Bình Thuận
Lm50 = 213 mm (cá đực), Lm50 = 188 mm (cá cái), cá cái có GSI = 3,9 ở tháng 5, cá đực
ở các tỉnh ven biển vịnh Bắc Bộ đã được đăng kí gồm có 39.511 chiếc; tàu cá thuộcdiện đăng kiểm là 12.067 chiếc, trong đó nhóm tàu có công suất 20 – 50 cv vẫn chiếm
đa số với 6.552 chiếc, chiếm 54%; nhóm tàu có công suất ≥ 90 cv là 2.878 chiếc,chiếm 24% và nhóm tàu có công suất 50 – 90 cv là 2.637 chiếc, chiếm 22% [21] Toàn
Trang 29vùng có 25 loại nghề khai thác hải sản khác nhau được sắp xếp trong 6 họ nghề chính,gồm: nghề lưới rê, nghề lưới kéo, nghề lưới vây, nghề câu, họ nghề cố định (đăng, đáy,
lờ, bóng cá, bóng mực), họ nghề khác (chụp mực, lưới vó, mành) [12] Từ năm 2007đến nay, nghề lưới rê có sự tăng lên nhanh chóng ở vịnh Bắc Bộ Tính đến năm 2011,nghề lưới rê trở thành nghề chiếm tỉ trọng lớn nhất ở vịnh Bắc Bộ (chiếm 35 – 36%tổng số tàu thuyền khai thác hải sản từng vùng) [21]
Các cảng cá ở vịnh Bắc Bộ phân bố đều theo các tính ven biển Các nơi có nghề
cá phát triển tập trung tại một số tỉnh thành như Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình,Thanh Hóa, Nghệ An và Quảng Bình Tại đây diễn ra các hoạt động thu mua, chế biến
và hậu cần nghề cá Những cảng chính có thể kể đến như Lạch Hới, Lạch Bạng, LạchTrường (Thanh Hóa); Cát Bà, Đồ Sơn (Hải Phòng); Bến cá Vân Đồn, Hạ Long, Cô Tô(Quảng Ninh); Diêm Điền (Thái Bình); Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Cửa Hội (Nghệ An);Quảng Trạch, Quảng Hới (Quảng Bình) [16]
• Thực trạng công tác điều tra nguồn lợi hải sản cá nổi nhỏ ở vịnh Bắc Bộ trong những năm vừa qua
Các nghiên cứu điều tra, đánh giá nguồn lợi ở Vịnh Bắc Bộ đã được tiến hành từrất sớm và vẫn được tiếp tục cho đến ngày nay Công tác đánh giá nguồn lợi cá nổi nhỏ
đã được thực hiện bằng nhiều phương pháp như phân tích chủng quần ảo VPA, môhình dự báo Thompson – Bell, phương pháp ước tính dựa vào sinh lượng trứng,phương pháp đánh dấu thả ra bắt lại và phương pháp thủy âm [35, 36] Năm 1998,Nguyễn Phi Đính, Nguyễn Lâm Anh áp dụng phương pháp phân tích chủng quần ảoVPA và mô hình dự báo Thompson – Bell đã xác định được trữ lượng cá nục sồ ở vịnhBắc Bộ là 45.560 tấn và khả năng khai thác tối đa ở vịnh là 14.703 tấn [6] Thông sốnày thấp hơn so với tính theo phương pháp của Silliman (1943) dựa vào hai thời kỳkhai thác khác nhau của cá nục tại thời điểm 1974 – 1975 là 57.000 – 75.000 tấn
“Nghiên cứu đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam” được Nguyễn Viết Nghĩathực hiện từ năm 1996 – 1998 ở vùng biển Việt Nam đã chỉ ra rằng cá nục sồ sốngtheo đàn gồm nhiều thế hệ, có nhiều nhóm chiều dài khác nhau Cá khai thác đượcthường tập trung ở nhóm chiều dài nhỏ hơn 12 cm và 17 – 18 cm Cá nhỏ thường xuấthiện ở các dải độ sâu dưới 50 m, ở dải độ sâu 100 – 200 m cá nhỏ hầu như không xuấthiện Đặng Văn Thi và cộng sự tiến hành nghiên cứu nguồn lợi và hệ sinh thái vùng
Trang 30biển Vịnh Bắc Bộ giai đoạn 2001 – 2005 cho thấy năng suất khai thác trung bình của
cá nục khoảng 2 kg/giờ và không chịu tác động đồng thời của 2 yếu tố thời gian và dải
độ sâu Tính trung bình về trữ lượng thì khoảng trên 60% nguồn lợi này phân bố ởvùng nước sâu trên 30 m, chiều dài trung bình của cá nục ở độ sâu trên 30 m (14,2 cm)lớn hơn chiều dài trung bình của cá ở độ sâu dưới 30m (11,4 cm) và chiều dài thànhthục ở vào khoảng 19,3 cm [18] Nghiên cứu “Hiện trạng nguồn lợi hải sản vịnh Bắc
Bộ giai đoạn 2001 – 2005” của Vũ Việt Hà và Phạm Viết Nghĩa cho thấy nhóm cá nổinhỏ chiếm ưu thế trong tổng trữ lượng của vùng biển, ước tính khoảng 403 ngàn tấn,chiếm 75,9% tổng trữ lượng ở mùa gió Tây Nam và 462 ngàn tấn, chiếm 79,2% tổngtrữ lượng ở mùa gió Đông Bắc [9] Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu trữ lượng vàkhả năng khai thác các loài cá nổi nhỏ chủ yếu là cá nục, cá trích, cá bạc má ở biểnViệt Nam” của Nguyễn
Viết Nghĩa năm 2007 đánh giá “Trong các nhóm cá nổi nhỏ, nhóm cá nục có trữ lượngcao nhất, ước tính khoảng 854 ngàn tấn, chiếm khoảng 31% tổng trữ lượng cá nổi nhỏ
ở biển Việt Nam” [14] Gần đây nhất, bằng phương pháp thủy âm đa tần số, Việnnghiên cứu Hải sản đã tiến hành đánh giá nguồn lợi cá nổi nhỏ ở Việt Nam Đây làphương pháp phổ biến tại các quốc gia có nghề cá phát triển để điều tra, đánh giánguồn lợi cá nhỏ có độ chính xác cao, tuy nhiên do thiếu thốn về trang thiết bị và kinhphí nên chưa được sử dụng phổ biến tại nước ta [10] Kết quả đánh giá bằng phươngpháp thủy âm cho thấy trữ lượng cá nục sồ vịnh Bắc Bộ trong mùa gió Tây Nam là271.744 tấn, chiếm 43,71% tổng trữ lượng cá nổi nhỏ trong mùa gió này; đối với mùagió Đông Bắc, cá nục số có trữ lượng 197.833 tấn, tương đương 31,35% tổng trữlượng trong mùa gió Tây Nam [10]
Nhận xét chung
Những nghiên cứu về cá nục sồ đã được tiến hành tại Việt Nam nói riêng và thếgiới nói chung đều được tiến hành khá sớm Các nghiên cứu phần lớn tập trung vàocác vấn đề về sinh trưởng, sinh sản và bảo vệ nguồn lợi Mỗi cách tiếp cận đều có cácnghiên cứu cơ bản, chuyên sâu nhằm cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác bảo vệnguồn lợi và quản lý nghề cá Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đều cho thấy
sự tăng trưởng của cá thể trong năm diễn ra không giống nhau và mang tính chất chu
kỳ, đặc biệt ở những khu vực cận ôn đới, liên quan đến sự thay đổi của mùa khí hậu,
Trang 31hay nói đúng hơn, thay đổi theo chế độ dinh dưỡng của cá Trong mùa xuân hè ấm áp,
cơ sở thức ăn của thủy vực phong phú, cá tăng trưởng nhanh, ngược lại so với mùađông, cá hầu như không tăng trưởng Những thông số về sinh học sinh sản của cá nụccũng được quan tâm nghiên cứu để đưa ra những thông số hữu ích nhằm phục vụ choviệc theo dõi quần đàn Các nghiên cứu khác về đánh giá nguồn lợi tại Việt Nam đãđược tiến hành từ rất sớm, có nhiều chương trình nghiên cứu đã được thực hiện và đạtđược nhiều thành tựu to lớn Các kết quả điều tra đã phục vụ khá kịp thời, mang tínhhiệu quả cao cho việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của ngành thủysản Tuy nhiên vẫn còn có những tồn tại như chương trình đánh giá nguồn lợi chưađược đầy đủ, chưa được thực hiện liên tục, vẫn bị ngắt quãng Những hạn chế vềphương tiện và trang thiết bị điều tra cũng gây khó khăn không nhỏ cho quá trình điềutra
Trang 32
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cá nục sồ Decapterus maruadsi (Temminck &
Schlegel, 1843)
2.2 Tài liệu nghiên cứu
Tài liệu sử dụng trong khóa luận do Viện Nghiên cứu Hải sản thu thập trong giaiđoạn 2012 – 2015 ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, gồm:
• Dữ liệu điều tra nguồn lợi: Do dự án điều tra liên hợp Việt – Trung “Đánh giánguồn lợi hải sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ” kết hợp với dự án “Đánhgiá hiện trạng và biến động nguồn lợi hải sản biển Việt Nam” thực hiện Chuyếnđiều tra trong mùa gió Đông Bắc được thực hiện từ tháng 10/2012 đến tháng03/2013, chuyến điều tra trong mùa gió Tây Nam được thực hiện từ tháng 4 đếntháng 9/2013
• Dữ liệu sinh học nghề cá: Do dự án điều tra liên hợp Việt – Trung đánh giá nguồnlợi hải sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ, mẫu được thu thập định kỳ hàngtháng tại các cảng cá ở Cát Bà (Hải Phòng) và Thanh Hóa Dữ liệu sinh học nghề cágồm các thông tin sinh học thu thập trong sản lượng khai thác của các tàu cá đạidiện Các thông tin này gồm tần suất chiều dài trong sản lượng khai thác và các đặcđiểm sinh học cơ bản của loài như tương quan chiều dài, khối lượng, tỉ lệ giớiđực/cái, các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của các loài là đối tượng nghiêncứu
Trong các đợt điều tra, thu mẫu sinh học nghề cá, dưới sự hỗ trợ của dự án điềutra liên hợp Việt – Trung đánh giá nguồn lợi hải sản trong vùng đánh cá chung vịnh
Trang 33Bắc Bộ, chúng tôi thực hiện việc thu mẫu bổ sung ở tháng 4/2015 nhằm thực hànhphương pháp thu và phân tích mẫu phục vụ công tác nghiên cứu
Cá nhân tôi trực tiếp tham gia thu thập số liệu trong tháng 4 tại Cát Bà, HảiPhòng và ở Lạch Hới, Lạch Bạng (Thanh Hóa)
2.3 Phạm vi nghiên cứu
2.3.1 Khu vực nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu của khóa luận là vùng biển vịnh Bắc Bộ thuộc Việt Nam,nằm ở phía Tây Bắc Biển Đông, giới hạn phía Nam là đường đóng cửa vịnh, giới hạnphía Đông là đường phân định biên giới Việt Nam – Trung Quốc trên biển (Hình 2.1)
Trang 34Hình 2.1: Hệ thống trạm điều tra nguồn lợi hải sản bằng lưới kéo đáy ở vịnh Bắc Bộ và
điểm lấy mẫu sinh học nghề cá (Viện Nghiên cứu Hải sản, 2013)
2.3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ ngày 7/3/2015 – 7/6/2015 Trong đó sử dụng số liệu lịch
sử do Viện Nghiên cứu Hải sản đã thu thập trong năm 2012 – 2013 và thu mẫu bổ sung ở tháng 4/2015
Địa điểm thực hiện nghiên cứu: Phòng Nghiên cứu Nguồn lợi Hải sản, Viện Nghiêncứu Hải sản, số 224 Lê Lai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
Trang 352.4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng dữ liệu do Viện nghiên cứu Hải sản đã thu thập trong giaiđoạn 2012 – 2015 Phương pháp nghiên cứu gồm 2 cách tiếp cận: 1) dữ liệu độc lậpnghề cá; 2) Dữ liệu phụ thuộc nghề cá
2.4.1 Dữ liệu độc lập nghề cá
Dữ liệu về nguồn lợi loài cá nục sồ được thu thập bằng tiếp cận điều tra độc lậpnghề cá, sử dụng tàu đánh lưới kéo đáy BV9262TS Lưới kéo đáy đơn sử dụng trongcác chuyến điều tra có chiều dài giềng phao 26,48 m và kích thước mắt lưới ở đụt 2a =
22 mm Tại vùng biển nghiên cứu, các trạm nghiên cứu được thiết kế cố định, gồm 50trạm thu mẫu nằm trên các mặt cắt song song với các đường vĩ tuyến, với khoảng cáchgiữa các trạm là 30 hải lý và khoảng cách giữa các mặt cắt là 15 hải lý (Bảng 2.1) Giữacác mặt cắt các trạm nghiên cứu được bố trí so le nhau
Tại mỗi trạm nghiên cứu tiến hành đánh một mẻ lưới, thời gian kéo lưới khoảng45-60 phút, tốc độ dắt lưới trung bình khoảng 4,2 hải lý/giờ Khi lưới được kéo lên,sản lượng mẻ lưới được phân tích đến loài Mẫu cá nục sồ được phân loại và nhặt riêng
để cân khối lượng, đếm số lượng cá thể thu được Tùy theo sản lượng thu được nhiềuhay ít sẽ quyết định phân tích toàn bộ sản lượng thu được hay lấy mẫu đại diện Đốivới các mẫu đại diện lấy ra từ sản lượng của mẻ lưới, tỉ lệ giữa tổng sản lượng mẻ lưới
và khối lượng mẫu được sử dụng làm hệ số nhân mẫu [47]
Bảng 2.1: Thống kê số trạm nghiên cứu đã thực hiện trong các chuyến điều tra nguồn lợi
Trang 36Hàng tháng, mỗi loài được thu thập, phân tích khoảng 200 – 300 cá thể Các chỉ tiêu phân tích bao gồm:
• Đo khối lượng, chiều dài: Có 3 cách đo đạc chiều dài chính là: đo chiều dài toànthân (Total length – TL) – tính từ mút mõm đến đầu mút của tia vây đuôi dài nhất;chiều dài đến chạc vây đuôi (Fork Length - FL) – là chiều dài tính từ mút mõm đếnđiểm chạc của vây đuôi; Chiều dài tiêu chuẩn (Standard Length – SL) – tính từ mútmõm tới điểm cuối của đốt sống cuối (Hình 2.2) Trong phạm vi đề tài này, chúng ta
chỉ tiến hành đo chiều dài FL và cân khối lượng cá thể (g)
Hình 2.2: Các cách đo chiều dài cá (Jennings et al., 2002)
• Xác định giới tính cá, độ chín muồi sinh dục
Cá được giải phẫu để xác định giới tính, giai đoạn phát triển tuyến sinh dục theothang 6 bậc của Nikolski (1963)
Tổng số 7.614 cá thể cá nục sồ đã được thu thập và phân tích sinh học từ tháng
01/2012 đến tháng 12/2013 Trong quá trình thu mẫu bổ sung ở tháng 4/2015, đã thuthập và phân tích bổ sung được 101 cá thể (Bảng 2.2)
Trang 37Bảng 2.2: Thống kê số lượng mẫu cá nục sồ đã thu thập và phân tích sinh học trong giai đoạn từ tháng 01/2012 – 12/2013 và tháng 4/2015
Trang 382.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
2.5.1 Các chỉ số nguồn lợi
2.5.1.1 Năng suất khai thác
Năng suất khai thác cá nục sồ bằng lưới kéo đáy được mô tả bằng giá trị kg/ h kéolưới, theo công thức:
(2.1)
Trong đó:
- ̅𝐶𝑃𝑈𝐸̅̅̅̅̅̅̅ là năng suất khai thác trung bình (kg/h)
- 𝐶𝑃𝑈𝐸𝑖 là năng suất khai thác mẫu thứ i và n là số mẫu, được tính bằng côngthức: (C là sản lượng của mẻ hoặc của loài; t là thời gian kéo lưới)
2.5.1.2 Trữ lượng nguồn lợi tức thời
Trữ lượng nguồn lợi tức thời được tính theo phương pháp diện tích, sử dụng sốliệu điều tra bằng tàu lưới kéo đáy theo hướng dẫn của Sparre và Venerma (1995), theocông thức:
BSi * q
Trong đó: B là trữ lượng, Si là diện tích của dải độ sâu thứ i 𝐶𝑃𝑈𝐴̅̅̅̅̅̅̅̅̅𝑖 là mật độ trungbình của các loài hải sản trên một đơn vị diện tích của dải độ sâu thứ i, q là hệ số đánhbắt Hệ số đánh bắt q = 0,5 được áp dụng đối với lưới giả đơn đánh bắt ở vùng ĐôngNam
Trang 39sản ở trạm thứ k thuộc dải độ sâu I; Cik,tik,Vik là sản lượng, thời gian và tốc độ kéo lướicủa mẻ lưới ở trạm thứ k thuộc dải độ sâu thứ I, D là độ mở ngang của miệng lướitrung bình tính theo lý thuyết lưới kéo [47]
2.5.1.3 Phân bố
Phân bố nguồn lợi cá nục sồ được tính toán dựa trên kết quả điều tra bằng tàuđánh lưới kéo đáy được ở vịnh Bắc Bộ được xây dựng dựa trên chỉ số năng suất khaithác tại các trạm đánh lưới thu mẫu và được thể hiện trên bản đồ ở hệ lưới chiếuMercator, datum WGS 84 Năng suất khai thác cao hay thấp được thể hiện bằng độ lớn
nhỏ của các điểm hình tròn biểu thị trên bản đồ 2.5.2 Các chỉ số sinh học
2.5.2.1 Tần suất chiều dài
Tần suất chiều dài và chiều dài trung bình của cá nục sồ khai thác ở vịnh Bắc Bộđược phân tích dựa trên số liệu thu thập hàng tháng Chiều dài trung bình được tínhtheo công thức của Fowler [37]:
(2.3)
Trong đó:
- ̅𝐹𝐿̅̅̅ là chiều dài đến chạc vây đuôi trung bình của cá (cm)
- 𝐹𝐿𝑗 là chiều dài của cá ở nhóm thứ j (cm)
- fj là số cá thể của nhóm thứ j
- n là tổng số cá thể
- m là số nhóm chiều dài
2.5.2.2 Tỉ lệ đực cái và các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục
Cá nục sồ sẽ được phân chia giới tính để tính tỉ lệ đực/ cái (%), xem xét sự biếnđộng giữa hai giới theo tháng, giới chiếm ưu thế và giới không chiếm ưu thế
Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục sẽ được xử lý theo phương pháp thống kê,nhằm tính toán tỉ lệ các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục theo tháng và theo kích cỡchiều dài bằng Microsoft Excel 2013 và Statistica 7
Các tham số sinh trưởng
Trang 40Tham số sinh trưởng trong phương trình von Bertalanffy (K, L∞) được tính toándựa trên số liệu tần suất chiều dài thu thập hàng tháng, sử dụng phương pháp ELEFAN[32] trên phần mềm FiSAT – II, theo công thức :
𝐿𝑡 = 𝐿∞ × (1 − 𝑒−𝐾(𝑡−𝑡 0 )) (2.4)
Trong đó:
- Lt là chiều dài của cá ở thời điểm t
- L∞ là chiều dài tối đa lý thuyết của cá có thể đạt được
- K là hằng số sinh trưởng
- t0 là tuổi lý thuyết giả định mà tại đó cá có chiều dài và khối lượng bằng 0
2.5.2.3 Hệ số thành thục sinh dục (Gonado Somatic Index – GSI)
Hệ số thành thục sinh dục là tỉ lệ giữa khối lượng tuyến sinh dục và khối lượng cá bỏnội quan, tính theo công thức của Barber và Blake [25]:
(2.6)
Trong đó:
- GW là khối lượng tuyến sinh dục -BW là khối lượng cá bỏ nội quan
2.5.2.4 Chiều dài lần đầu tham gia sinh sản (L m50 )
Là kích thước ở đó có 50% số cá thể tham gia vào sinh sản lần đầu (còn gọi làchiều dài lần đầu sinh sản), được tính theo công thức của King [40]: