1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh bắc giang lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương trong kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược (1945 1954)

159 580 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- DƯƠNG THỊ HẢI ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

DƯƠNG THỊ HẢI

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 – 1954)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam

Hà Nội-2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

DƯƠNG THỊ HẢI

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 – 1954)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này do chính tôi thực hiện Những số liệu và kết quả đƣa ra trong luận văn là trung thực và chính xác

Tác giả luận văn

Dương Thị Hải

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Giang, thư viện tỉnh Bắc Giang, Ban tuyên giáo tỉnh Bắc Giang, phòng tư liệu khoa học lịch sử đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn thầy cô giáo trong khoa Lịch sử nói chung và các thầy cô trong bộ môn Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam nói riêng đã truyền thụ những kiến thức quý báu cho tôi trong quá trình học cao học, đồng thời có những gợi

ý cho luận văn

Đặc biệt, hoàn thành luận văn này là nhờ sự chỉ dẫn tận tình của TS Trần Văn Thức – Người hướng dẫn trực tiếp trong quá trình chuẩn bị đề cương, tiến hành nghiên cứu và bảo vệ luận văn

Hà Nội, tháng 8 năm 2014

Học viên

Dương Thị Hải

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG TRONG NHỮNG NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1950 12

1.1.Vài nét về tỉnh Bắc Giang 12

1.1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 12

1.1.2.Truyền thống lịch sử 16

1.2 Quá trình lãnh đạo và triển khai thực hiện xây dựng lực lượng vũ trang sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1950 20

1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử 20

1.2.2 Lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang trong những năm 1945 – 1947 23

1.2.3 Lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang trong những năm 1947 – 1950 31

1.3 Lãnh đạo lực lượng vũ trang chống địch mở rộng phạm vi chiếm đóng, củng cố và phát triển lực lượng kháng chiến (1946-1950) 41

1.3.1 Chống định mở rộng phạm vi chiếm đóng sau cách mạng tháng Tám năm 1945 41

1.3.2 Góp phần phá tan cuộc tấn công Thu – Đông năm 1947 của thực dân Pháp 45

1.3.3 Chống địch càn quét, đẩy mạnh các hoạt động phối hợp với chiến trường chính (1949-1950) 49

Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG TRONG NHỮNG NĂM 1951 – 1954 59

2.1 Quá trình lãnh đạo và triển khai xây dựng lực lượng vũ trang trong những năm 1951-1954 59

Trang 6

2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử 59

2.1.2 Lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang trong những năm 1951-1953 61

2.1.3 Lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang trong những năm 1953 – 1954 66

2.2 Lãnh đạo lực lượng vũ trang chủ động tiến công địch, tiến tới giải phóng quê hương 70

2.2.1 Chủ động tiến công địch (1951-1952) 70

2.2.2 Đẩy mạnh tiến công địch tiến lên giải phóng quê hương (1953-1954) 78

Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 88

3.1 Một số nhận xét 88

3.2 Một số bài học kinh nghiệm 94

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

PHỤ LỤC 115

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin cùng thực tiễn đấu tranh cách mạng của các nước trên thế giới đã chứng minh rằng muốn chiến thắng chủ nghĩa đế quốc xâm lược, giải phóng đất nước, phải tiến hành chiến tranh nhân dân, phải động viên toàn dân tham gia đánh giặc Lực lượng nòng cốt để tiến hành chiến tranh nhân dân là các lực lượng vũ trang nhân dân Bởi vậy, việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cách mạng

Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng cách mạng và kế thừa những kinh nghiệm quý báu của cha ông ta trong lịch sử chiến tranh giữ nước, Đảng ta đã lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh, đưa cách mạng nước ta từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang ba thứ quân

là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, du kích ngày càng lớn mạnh góp phần quyết định đến sự thắng lợi của cuộc kháng chiến

Bắc Giang là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng Đây là cầu nối giữa Liên khu Việt Bắc với đồng bằng Bắc Bộ Trong kháng chiến chống Pháp, địch tăng cường chiếm đóng bình định Bắc Giang hòng cô lập Việt Bắc, tiêu diệt lực lượng cách mạng của nước ta Bởi vậy, tỉnh Bắc Giang trở thành một trong những địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang, lực lượng vũ trang nhân dân địa phương được xây dựng, củng cố, phát triển ngày càng lớn mạnh góp phần thúc đẩy chiến tranh nhân dân ở địa phương phát triển, phối hợp với lực lượng chủ lực và các địa phương khác đánh địch, góp phần cùng quân dân cả nước

Trang 8

giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ dân tộc, đưa lịch sử nước ta sang một giai đoạn mới

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng ta luôn xác định phải nắm vững hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trong xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay, bên cạnh yếu tố tích cực, thuận lợi thì vẫn còn có nhiều nguy cơ, thách thức đặt ra, trong đó có cả vấn

đề độc lập dân tộc Các thế lực thù địch vẫn chưa từ bỏ âm mưu chống phá, can thiệp, thậm chí xâm lược Vì vậy, việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân là yêu cầu luôn được đặt ra

Nghiên cứu một cách có hệ thống về sự lãnh đạo của một Đảng bộ địa phương trong việc xây dựng lực lượng lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) làm sáng rõ những

ưu điểm, khuyết điểm và rút ra những bài học kinh nghiệm để vận dụng, kế thừa vào việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương hiện nay là một việc có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn

Bắc Giang là một địa phương có phong trào chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích phát triển mạnh trong kháng chiến chống thực dân Pháp Với lòng yêu mến và tự hào về quê hương mình, việc nghiên cứu về việc xây dựng lực lượng vũ trang dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn lịch sử 1945-1954 để hiểu thêm về quê hương mình đã trở thành một nguyện vọng

của tôi Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo

xây dựng lực lượng vũ trang địa phương trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) làm luận văn Thạc sỹ Lịch sử

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trải qua gần một thế kỷ nhân dân ta đã kháng chiến chống giặc ngoại xâm bằng sức mạnh đoàn kết dân tộc Chính sức mạnh ấy đã đưa dân tộc ta dành thắng lợi qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Để

có được như vậy thì Đảng và nhà nước ta đã thực hiện động viên toàn dân, vũ trang toàn dân Muốn thực hiện động viên toàn dân, vũ trang toàn dân phải xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng lực lượng vũ trang Có thể tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này như sau:

2.1 Những công trình nghiên cứu có đề cập đến việc Đảng lãnh đạo xây

dựng lực lượng vũ trang nói chung

Điển hình là cuốn “Bốn mươi năm xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

Việt Nam” (NXB Sự thật, Hà Nội, 1984) của tập thể cán bộ nghiên cứu thuộc

Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cộng tác biên soạn Cuốn sách này đã nghiên cứu một cách có hệ thống vai trò của lực lượng vũ trang nhân dân trong cách mạng Việt Nam, quá trình xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân qua các thời

kỳ cách mạng trong suốt 40 năm qua, từ Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp, thời kỳ chống Mỹ cứu nước đến thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa

“Đảng ta lãnh đạo tài tình chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng

vũ trang nhân dân” (NXB Sự Thật, 1970) của tác giả Nguyễn Chí Thanh và

Trường Sơn, nói về vai trò của Đảng trong việc lãnh đạo, tổ chức, xây dựng, quân đội nhân dân, lãnh đạo chiến tranh nhân dân Kế hoạch công tác tư tưởng, động viện toàn dân của Đảng trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ Sự rèn luyện, giáo dục với lực lượng quân đội

“Dân quân tự vệ, một lực lượng chiến lược” (NXB Sự thật, Hà Nội,

1974) của Võ Nguyên Giáp đã nêu lên vai trò chiến lược của dân quân tự vệ

Trang 10

trong cuộc đấu tranh cách mạng, trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ, trong chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc, ý nghĩa của sự phát triển

và xây dựng các lực lượng vũ trang nói chung và dân quân tự vệ nói riêng

“Những kinh nghiệm lớn của Đảng ta về lãnh đạo đấu tranh vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng” (NXB Sự thật, 1967) của Võ

Nguyên Giáp đã Khái quát những kinh nghiệm lớn của Đảng về đấu tranh vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ Tổng khởi nghĩa tháng Tám - 1945 và kháng chiến lần thứ nhất chống thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ, xây dựng căn cứ địa cách mạng và hậu phương

“Vị trí chiến lược của chiến tranh nhân dân ở địa phương và của các lực lượng vũ trang địa phương” (NXB Quân đội nhân dân, 1973) của Võ Nguyên

Giáp Đây là bài phát biểu của đại tướng Võ Nguyên Giáp về vị trí chiến lược của chiến tranh nhân dân địa phương và của các lực lượng vũ trang địa phương gồm 2 phần chính: Chiến tranh nhân dân ở địa phương và các lực lượng vũ trang địa phương là cơ sở trọng yếu của kháng chiến toàn dân và quốc phòng toàn dân; làm tốt công tác quân sự địa phương

“Luôn luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân” (NXB Quân đội nhân dân, 1970) của tác giả

Nguyễn Chí Thanh Gồm một số bài nói và viết của đồng chí Nguyễn Chí Thanh về sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang nhân dân Công tác hoạt động chính trị trong lực lượng vũ trang

“Về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân: Biên niên những sự kiện và tư liệu” (NXB Quân đội nhân dân, 1995) do tác giả Nguyễn Huy Toán tuyển

chọn gồm những bài viết, bài nói chuyện của chủ tịch Hồ Chí Minh về quân đội: quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân Sự lãnh đạo của Đảng, công tác chính trị, hậu cần, kỹ thuật trong quân đội

Trang 11

“Về công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang nhân dân” (NXB Quân đội nhân dân, 2004) của tác giả Đinh Quang Thiệu tuyển

chọn gồm các bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về các mặt hoạt động của công tác Đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang, những yêu cầu đối với người làm công tác đảng, công tác chính trị

“Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)” Luận

án Tiến sĩ của tác giả Lê Huy Bình, năm 2007 Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang 3 thứ quân trong cuộc kháng chiến chống Pháp Quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang 3 thứ quân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Pháp Giá trị tư tưởng

Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang 3 thứ quân và sự vận dụng tư tưởng của Người trong xây dựng lực lượng vũ trang hiện nay

2.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh Bắc Giang

“Đảng bộ Hà Bắc” (Ban Lịch sử - Ban Tuyên giáo, Sở Văn hoá Thông

tin, 1986) Giới thiệu sự ra đời, quá trình trưởng thành, lớn mạnh của Đảng bộ

Hà Bắc đã lãnh đạo toàn quân, toàn dân tỉnh Hà Bắc vùng lên đấu tranh giành chính quyền chống mọi kẻ thù xâm lược và xây dựng Chủ nghĩa xã hội

“Lịch sử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bắc Giang (1930-2000)” (Ban

Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Bắc Giang, 2000) Khái quát lịch sử đấu tranh cách mạng của tỉnh Bắc Giang, vai trò của Mặt trận Tổ quốc tỉnh trong quá trình bảo vệ, củng cố chính quyền, kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ và trong sự nghiệp đổi mới

“Hà Bắc ngàn năm văn hiến” (Ty Văn hoá Hà Bắc, 1974) của tác giả

Hoàng Minh Giám Gồm những bài phát biểu, những bản tham luận trong hội

Trang 12

nghị truyền thống về đất nước và con người Hà Bắc, qua đó giúp bạn đọc hiểu biết đầy đủ hơn về xứ Bắc trên mọi đặc điểm kinh tế, chính trị, quân sự

“Bắc Giang - Những chặng đường lịch sử” (NXB Chính trị Quốc gia,

1999) của tác giả Phan Đại Doãn Giới thiệu mảnh đất, con người, truyền thống lịch sử và quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng Bộ và nhân dân Bắc Giang từ 1945-1998

“ Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Giang” (NXB Chính trị Quốc gia, 2003)

Công trình nghiên cứu về sự ra đời và phát triển của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang; Quá trình đấu tranh của nhân dân Bắc Giang chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, khôi phục lao động sản xuất, xây dựng của Đảng bộ trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội

2.3 Những vấn đề các công trình nghiên cứu chưa làm sáng tỏ

Tuy có nhiều công trình nghiên cứu công bố liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng vũ trang nói chung và xây dựng lực lượng

vũ trang Bắc Giang nói riêng giai đoạn từ 1945 đến năm 1954 nhưng vẫn còn một số vấn đề chưa làm rõ:

- Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong xây dựng lực lượng vũ trang để tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp trên địa bàn của tỉnh

- Những ưu điểm trong lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang ở tỉnh Bắc Giang

- Những hạn chế và một số kinh nghiệm rút ra từ lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong xây dựng lực

lượng vũ trang địa phương để tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp trên địa bàn của Tỉnh từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1954

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 13

- Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong xây dựng lực lượng vũ trang địa phương trong giai đoạn (1945 – 1954) trên cơ sở quán triệt nghị quyết Trung ương Đảng, Liên khu ủy Việt Bắc

- Nhận xét những ưu điểm, khuyết điểm và hạn chế trong lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang Bắc Giang trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) của Đảng bộ tỉnh

- Nêu lên một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang với việc xây dựng lực lượng vũ trang thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) để góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói chung và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, bảo vệ địa bàn Bắc Giang nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang Phạm vi nghiên cứu về không gian, thời gian của luận văn là địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời kỳ toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) bao gồm 8 huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Yên Thế, Lạng Giang, Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Dũng, Hữu Lũng và thị xã Phủ Lạng Thương

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn, tôi có đề cập đến những vấn đề có liên quan đến đề tài như bối cảnh chung của cuộc kháng chiến trên chiến trường chính Bắc Bộ, trong toàn quốc nhằm thực hiện nhiệm vụ của đề tài đặt ra

Trang 14

5.Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Đề nghiên cứu đề tài này, tôi sử dụng các nguồn tư liệu sau:

Các tác phẩm Mác – Ăngghen, Lênin viết về khởi nghĩa vũ trang, xây dựng lực lượng các mạng, lực lượng vũ trang

Các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam có liên quan đến đề tài được in trong Văn kiện Đảng toàn tập từ tập 8 đến tập 15, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Các tư liệu gốc là các bản báo cáo, Nghị quyết của Liên khu ủy Việt bắc, Tỉnh ủy Bắc Giang về những vấn đề có liên quan đến đề tài

Các tác phẩm của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, v.v, nói về lực lượng

vũ trang

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc giang tập 1 (1926-1975), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Lịch sử Đảng bộ của các huyện trên địa bàn tỉnh, các tổng kết về chiến tranh, chiến trang du kích, lịch sử kháng chiến chống Pháp của tỉnh đội Bắc Giang

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày, vận dụng hai phương pháp chủ đạo là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp thống kê, phân loại, so sánh và một số phương pháp khác trong quá trình thực hiện đề tài

6 Đóng góp của luận văn

- Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong xây dựng lực lượng vũ trang địa phương trong giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm

1945 đến năm 1954, trên cơ sở quán triệt nghị quyết Trung ương Đảng, Liên khu ủy Việt Bắc

Trang 15

- Đánh giá khách quan những ưu điểm, khuyết điểm, hạn chế và một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang với việc xây dựng lực lượng vũ trang thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)

- Cung cấp một tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về mảng đề tài quân sự

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương

Chương 1: Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang

địa phương trong những năm 1945 đến năm 1950

Chương 2: Đảng bộ tỉnh Bắc Giang tăng cường lãnh đạo xây dựng lực

lượng vũ trang địa phương trong những năm 1951 – 1954

Chương 3: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm

Trang 16

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG

VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG TRONG NHỮNG NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1950

1.1.Vài nét về tỉnh Bắc Giang

1.1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

Bắc Giang là vùng đất cổ, có bề dầy lịch sử gắn bó hữu cơ với cả nước Trong quá trình dựng nước và giữ nước, trải qua các thời kì lịch sử, tỉnh Bắc Giang ngày nay đã qua nhiều tên gọi khác nhau Bộ Vũ Ninh trong thời kì dựng nước, lộ Bắc Giang Thiên Đức Giang ở thời Lý Thời Trần đổi thành trấn Kinh Bắc Thời Nguyễn đời Minh, trấn Kinh Bắc đổi thành trấn Bắc Ninh Năm 1831, trấn Bắc Ninh đổi thành tỉnh Bắc Ninh

Từ khi thực dân Pháp xâm lược, địa giới hành chính tỉnh có sự thay đổi lớn Ngày 5 – 1 – 1889, thực dân Pháp thành lập tỉnh Lục Nam bao gồm các huyện Lục Ngạn, Đông Triều, Chí Linh Tỉnh lị đóng ở thị trấn Lục Nam ngày nay Năm 1891 tỉnh Lục Nam giải thể Ngày 10 – 1 – 1893, thực dân Pháp cắt phần phía Bắc sông Cầu cùng với phủ Đa Phúc và huyện Kim Anh của tỉnh Bắc Ninh thành lập Tỉnh Bắc Giang, tỉnh lị đóng tại phủ Lạng Thương Ngày 08-1-1896, phủ Đa Phúc và huyện Kinh Anh về tỉnh Bắc Ninh Tỉnh Bắc Giang có các đơn vị hành chính là thị xã phủ Lạng Thương, ba phủ (Lạng Giang, Yên Thế, Lục Ngạn), ba huyện (Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Dũng) và hai châu (Hữu Lũng; Sơn Động) Tháng 3 – 1897 một số xã của Sơn Động và Lục Ngạn nhập với một phần đất của tỉnh Hải Ninh thành huyện Lục Sơn Hải đặt dưới sự chỉ đạo của liên tỉnh Quảng Hồng Năm 1955, huyện Lục Sơn Hải giải thể, Sơn Động trở thành một huyện của tỉnh Bắc Giang Cuối năm 1957, Yên Thế chia thành hai huyện Yên Thế và Tân Yên Năm

1960, Hữu Lũng cắt về tỉnh Lạng Sơn Ngày 10 – 10 – 1959 , thị xã Phủ Lạng

Trang 17

Thương đổi thành thị xã Bắc Giang Ngày 27 – 10 – 1962, hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang sát nhập thành tỉnh Hà Bắc Đến ngày 6 – 01 – 1996, Hà Bắc tách thành hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang

Tỉnh Bắc Giang ngày nay bao gồm 9 huyện là Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Tân Yên, Yên Thế, Lạng Giang, Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Dũng và thị

xã Bắc Giang (nay là thành phố Bắc Giang) [21, tr.10]

Bắc Giang là tỉnh trung du, diện tích rộng 39.089 Km2, phía Đông giáp tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên; phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Vĩnh Phúc; phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương; phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn Bắc Giang có ba tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn; Kép – Hạ Long; Kép – Lưu

Xá và đường 1A góp phần quan trọng trong giao lưu kinh tế và công tác quân

sự Đường 13 nay là đường 31 từ thị xã Phủ Lạng Thương đến thị trấn Lục Ngạn, Chũ, Biến Động, An Châu nối với đường số 4 Đó là tuyến đường quan trọng, thực dân Pháp đặc biệt chú ý chiếm đóng tuyến đường này để khống chế các huyện miền núi [22, tr 7]

Bắc Giang có 3 con sông lớn: sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam chảy qua địa phận Bắc Giang, hạ lưu tập trung ở Phả Lại, một mặt chia ranh giới Bắc Giang và Thái Nguyên, Bắc Ninh; một mặt chia địa phận Bắc Giang thành 3 khu vực ảnh hưởng đến giao thông thuỷ bộ và liên lạc, dễ bị chia cắt, khó khăn khí có chiến sự Các sông trên đều thuận tiện cho việc vận tải giao thông thuỷ bộ Thực dân Pháp đã từng lợi dụng các con sông đó để tấn công

ta từ những ngày đầu xâm lược và uy hiếp ta trong quá trình bình định khủng

bố, càn quét vùng tạm chiếm

Về địa hình, Bắc Giang là một tỉnh đất đai rộng chia thành hai miền rõ rệt Miền núi có 4 huyện gồm Sơn Động, Lục Ngạn, Yên Thế, Hữu Lũng địa hình hiểm trở, nhiều rừng rậm, núi cao, có các dãy núi (Cao Minh, Bảo Đài, Yên Tử) thuận lợi cho việc trú quân, xây dựng căn cứ địa, xây dựng kho tàng

Trang 18

và thực hiện chiến tranh du kích Miền trung du, ở các huyện còn lại đa số là đồi trọc nhưng nổi lên là một số điểm cao như dãy Nham Biền (Yên Dũng), núi Mỏ Thổ, núi Nhẩm (Việt Yên), núi Dành, núi Đót (Yên Thế) [22, tr 9] Làng mạc ở miền xuôi tỉnh Bắc Giang có nét đặc biệt là ít làng đông dân, trung bình từ 80 đến 100 gia đình giải giác cách nhau từ 500 đến 1000m Trong tỉnh có một số làng to như Đại Đồng, Nội Hoàng (Yên Dũng), Tiên Lục, Đào Quán, Hoàng Hạ, Thọ Xương (Lạng Giang), Dương Lâm, Dương Sơn (Yên Thế) xung quanh có lũy tre xanh bọc kín, rất thuận lợi cho việc xây dựng làng chiến đấu vững chắc

Tóm lại, với địa hình trung bình, lại ở vào cửa ngõ Việt Bắc, Bắc Giang là một địa bàn có nhiều thuận lợi cho xây dựng lực vũ trang

Bắc Giang gồm nhiều dân tộc cùng chung sống, trình độ giác ngộ không đều nhau Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dân số tỉnh Bắc Giang có trên 34 vạn người Người kinh đông nhất cư trú lâu đời chủ yếu ở vùng trung du, 7 dân tộc ít người gồm: Nùng, Tày, Sán, Dìu, Hoa, Cao Lan, Sán Chỉ, Dao sống xen kẽ với người kinh chủ yếu ở 4 huyện miền núi: Sơn Động, Lục Ngạn, Yên Thế, Hữu Lũng Do trình độ dân trí thấp, các dân tộc này đều bị đế quốc thực dân mê hoặc, chia rẽ giữa dân tộc này với dân tộc khác để cai trị [22, tr 11]

Tuy vậy, nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang có truyền thống đoàn kết, đùm bọc lấy nhau, cần cù lao động sáng tạo, ham học hỏi đặc biệt là truyền thống chống giặc ngoại xâm góp phần bảo vệ quê hương đất nước Từ ngày

có Đảng lãnh đạo quân và dân đã đánh đuổi được quân xâm lược và xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp Qua phát động giảm tô, phát động thành lập khu tự tri, thực hiện cải cách dân chủ kết hợp với cải tạo xã hội chủ nghĩa ở địa bàn miền núi Dưới ánh sáng của các chính sách dân tộc của Đảng các địa phương cơ bản đã giải quyết được những vấn đề dân tộc

Trang 19

Vấn đề đồng bào người Hoa: Tổng số trên 6.530 người sống tập trung ở khắp các xã Phú Nhuận, Phú Qúy, Đồng Cốc, Tân Hoa, Thanh Sơn (huyện Lục Nam) [22, tr 11] Những Hoa kiều này ở Quảng Đông, Quảng Tây sang làm ăn sinh sống đã lâu đời Sau cách mạng tháng Tám, trừ một số ít tham gia công tác, còn nói chung là có biểu hiện muốn làm ăn yên ổn

Vấn đề giáo dân: Trước cách mạng tháng Tám, tỉnh Bắc Giang có 2.600 người, ở 45 xã, tập trung chủ yếu ở Việt Yên Khi quân Pháp trở lại xâm chiếm, công tác vận động tôn giáo của ta yếu, thực dân Pháp và bè lũ tay sai

đã tăng cường các hoạt động lừa bịp và dùng vũ lực cưỡng bức nên đa số các dân vùng Thiên chúa giáo hoang mang sợ hãi, một bộ phận buộc phải ngả theo địch, hoặc giữ thái độ lưng chừng

Về kinh tế, Bắc giang là tỉnh trung du sản xuất nhiều thóc lúa và đó là sản phẩm chủ yếu của địa phương Đại bộ phận nông dân sống bằng nghề nông nghiệp (94%), là tỉnh cung cấp nhiều thóc lúa cho các tỉnh bạn trong kháng chiến Bắc Giang là tỉnh có nhiều đồn điền của đế quốc và phong kiến Đại bộ phận đất đai màu mỡ đều nằm trong tay địa chủ Đến 1945, Bắc Giang có trên

100 đồn điền, nhiều đồn điền lớn như Đơ Mông Pê Pa (10.080 ha), Sếch-nay

và Boa-da-dam (7.025 ha), Tác-Ta-Ranh (6.655 ha)…Thành phần địa chủ, phú nông chiếm 4,9% dân số nhưng chiếm tới 47,5% diện tích ruộng đất Nông dân đa số là tá điền, phải nai lưng ra làm cho bọn chúng vơ vét bóc lột

Vì vậy, nhân dân đói rách, túng thiếu, căm thù bọn thực dân phong kiến, sẵn sàng đứng lên đấu tranh giải phóng quê hương [8, tr 13]

Về mặt tài nguyên: Bắc giang có nhiều tài nguyên khoáng sản quý Những nguồn lợi thiên nhiên đó đã góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống cho nhân dân, đóng góp một phần quan trọng cho nhu cầu kháng chiến

Về cơ sở công nghiệp: Không có gì đáng kể, ngoài một số cơ sở khai thác tại chỗ như mỏ Cốt Phát (Hữu Lũng), nhà máy đúc gang ở Bảo Sơn (Việt

Trang 20

Yên), nhà máy say gạo, nhà máy ép dầu ở thị xã Phủ Lạng Thương với số lượng vài chục công nhân

Tỉnh Bắc giang có một số làng nghề thủ công, nghề phụ truyền thống ở rải rác các nơi như: dệt vải, ươm tơ ở Đại Đồng, Nội Hoàng, Chí Minh, Cẩm Xuyên (Yên Dũng), đồ gốm ở Thổ Hà (Việt Yên), ép dầu làm mật, làm đường (Lục Ngạn, Sơn Động), nấu rượu ở Vân Hà (Việt Yên)

Với điều kiện đất đai màu mỡ, tài nguyên phong phú, nhân dân lao động cần cù, Bắc Giang có nhiều khả năng cung cấp nhân tài, vật lực cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng quê hương đất nước

Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân lên đất Bắc Giang, nhân dân các dân tộc Bắc Giang cùng nhân dân cả nước đã liên tục đứng lên chống thực dân

Trang 21

Pháp xâm lược Hàng loạt cuộc khởi nghĩa nổ ra như: Khởi nghĩa Cai Kinh (1882 – 1888) ở Hữu Lũng, Nguyễn Cao (1883-1887) ở Yên Thế, Cai Biểu, Tổng Bưởi (1884-1891) ở Bảo Lộc, Phượng Nhỡn, Lục Ngạn, Lưu Kỳ, Hoàng Thái Nhân (1884-1891) Cuộc khởi nghĩa lớn nhất, bền bỉ nhất cho sức chiến đấu và tinh thần bất khuất của nhân dân cả nước và nhân dân Bắc Giang nói riêng trong phong trào chống thực dân Pháp cuối thế Kỷ XIX đầu thế kỷ XX là cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Lương Văn Năm, Hoàng Hoa Thám lãnh đạo Cuộc khởi nghĩa kéo dài gần 30 năm (1884-1913) đã gây nhiều tổn thất về người và của cho thực dân Pháp lúc đó [22, tr 14-15]

Năm 1926, Nguyễn Khắc Nhu (Song Khê – Yên Dũng) thành lập ra hội Dân dục tài, mở trường nghĩa thục nhưng không được thực dân Pháp cho phép, Ông chuyển sang thành lập Việt Nam Quốc Dân với chủ trương vũ trang bạo động Việt Nam Quốc Dân đã có cở sở ở nhiều địa phương thuộc hai tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh Đầu năm 1928, Việt Nam Quốc Dân hợp Việt Nam Quốc Dân Đảng sau cuộc khởi nghĩa đêm ngày 09-02-1930 ở Yên Bái không thành công, Nguyễn Khắc Nhu bị bắt Ông tuẫn tiết trong nhà Lao để nêu cao khí tiết “sát thân thành nhân”

Mặc dù cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng thất bại, nhưng tên tuổi các nhà yêu nước tỉnh Bắc Giang trong tổ chức này như Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Nguyễn Thị Bắc, Nguyễn Thị Giang và các chiến sỹ yêu nước khác đã gắn liền với lịch sử đấu tranh của nhân dân ta chống lại sự thống trị của thực dân Pháp [39, tr 12]

Tháng 8-1929, Đảng bộ Đông Dương Cộng Sản Đảng thành lập và trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong tỉnh Từ đây, phong trào đấu tranh của nhân dân Bắc Giang bước sang một thời kì mới với nội dung và phương thức mới Những cuộc mít tinh, biểu tình, bãi công của công nhân nổ ra ở nhiều nơi dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản đòi quyền lợi thiết thực

Trang 22

Trong thời kì Mặt trận dân chủ (1936-1939), cơ sở Đảng được khôi phục

và phát triển ở hầu hết các địa phương, dưới sự lãnh đạo của đảng viên cộng sản, các tổ chức quần chúng công khai, hợp pháp lần lượt được thành lập dưới nhiều hình thức đều hướng về mục tiêu của Đảng đề ra tự do, dân chủ, cơm

áo, hòa bình

Với những điều kiện thuận lợi nhất định bước vào thời kỳ vận động giải phóng dân tộc (1939-1945), Bắc Giang được Trung ương chọn xây dựng thành một địa bàn cách mạng trọng yếu Giữa năm 1944, Trung ương chọn Hiệp Hòa cùng với Phú Bình, Phổ Yên (Thái Nguyên) để xây dựng An toàn khu II Nhiều làng đã trở thành những cơ sở vững chắc trong suốt thời kỳ cách mạng tháng Tám, nhiều hội nghị quan trọng của Trung ương, Xứ ủy Bắc

Kì đã được tổ chức ở Bắc Giang

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương, ngay trong đêm Hội nghị mở rộng của Ban thường vụ Trung ương Đảng đã họp ở làng Đình Bảng (Từ Sơn), do đồng chí Trường Chinh chủ trì, nhận định tình hình và đề ra chủ trương mới của Đảng Ngày 12-03-1945, Ban thường

vụ trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của

chúng ta” Một cao trào chống Nhật sôi nổi diễn ra trong cả nước

Ngay khi biết tin Nhật đảo chính Pháp, mặc dù chưa có chỉ thị Trung ương, căn cứ vào tình hình địa phương, một số nơi trong tỉnh đã phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền [48, tr 228] Ngày 12-03-1945, dưới sự lãnh đạo của đặc phái viên Trung ương Lê Thanh Nhị và đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh, Bí thư ban cán sự tỉnh, một cuộc mít tinh được tổ chức tại đình Xuân Biều có 70 tự vệ và 300 quần chúng tới dự Tuyên bố thủ tiêu chính quyền cũ, thành lập Ủy ban giải phóng xã Xuân Biều - Hiệp Hoà Tiếp

đó, ngày 13-03-1945 tự vệ, quần chúng Xuân Biều và các xã lân cận kéo đến đồn Vát phá kho thóc (Hiệp Hoà)

Trang 23

Ngày 15-03-1945, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại chợ Vân (Hiệp Hoà) Chính quyền địch ở Vân Xuyên, Trung Định tan rã, chính quyền cách mạng thành lập Chỉ trong mấy ngày khí thế cách mạng của quần chúng đã làm rung chuyển bộ máy chính quyền địch, làm tan rã một phần hệ thống chính quyền ở thôn, xã

Ngày 16-03-1945, Ban cán sự tỉnh Bắc Giang họp tại Đồng Điều (Phủ Yên Thế) Hội nghị quyết định phát động cao trào kháng Nhật cứu nước trong toàn tỉnh và thành lập tiểu đội du kích tập trung ở tỉnh làm nòng cốt cho hoạt động vũ trang Ngày 25-3, tiểu đội du kích tập trung đầu tiên của tỉnh Bắc Giang gồm 13 người do đồng chí Văn Đài – Uỷ viên Ban cán sự tỉnh trực tiếp phụ trách được thành lập tại làng Soi (phủ Phú Bình) [12, tr 230]

Ngày 13-08-1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện Đồng thời, ngay ngày hôm đó, Hội nghị toàn quốc của Đảng quyết định phải kịp thời lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền Ngày 16-08-1945, Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào thông qua và nhiệt liệt tán thành chủ trương phát động tổng khởi nghĩa của Đảng cộng sản Đông Dương

Dù lệnh tổng khởi nghĩa chưa về đến Bắc Giang nhưng căn cứ vào chỉ thị

“Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, Tỉnh uỷ đã lãnh đạo quần

chúng nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền Được tin Nhật sẽ giao chính quyền Bắc Giang cho bọn Đại Việt vào sáng 18-08-1945, khoảng 4 giờ sáng ngày 18-08-1945, một số cán bộ phụ trách huyện Việt Yên và Yên Dũng chỉ huy một đội tự vệ xuất phát từ đình Song Khê đột nhập vào dinh tỉnh trưởng Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Đĩnh phải xin đầu hàng Trong khi đại diện Việt Minh đang điều đình với Nhật, lực lượng khởi nghĩa toả đi chiếm đóng các công sở Tự vệ quần chúng từ hữu ngạn sông Thương cùng với nhân dân thị

xã tuần hành thị uy Quần chúng các phủ huyện Lạng Giang, Yên Thế, Yên

Trang 24

Dũng, Việt Yên mang băng cờ, biểu ngữ tiến về tràn ngập các ngả đường Bắc Giang khởi nghĩa thắng lợi [47, tr.234]

Cuộc cách mạng tháng Tám thắng lợi có ý nghĩa vô cùng to lớn Đảng bộ Bắc Giang đã lãnh đạo nhân dân và lực lượng vũ trang trong tỉnh cùng nhân dân cả nước đập tan xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa thực dân phong kiến lập lên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, cách mạng nước ta bước sang một kỉ nguyên mới: kỉ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội Cũng từ đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh, lực lượng vũ trang từng bước trưởng thành và phát triển về mọi mặt cùng nhân dân chiến đấu chống thực dân Pháp thắng lợi

1.2 Quá trình lãnh đạo và triển khai thực hiện xây dựng lực lượng vũ trang sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1950

1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân phong kiến giành chính quyền

về tay nhân dân

Ngày 2-9-1945, tại Ba Đình, Hà Nội Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt

Chính phủ Cách mạng Lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập

tuyên bố khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Người khẳng định và tuyên bố với thế giới rằng:

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, sự thật đã trở thành một nước

tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” [44, tr 4]

Trải qua 15 năm đấu tranh cách mạng (1930-1945), truyền thống đoàn kết, bất khuất của dân tộc ta ngày càng phát huy cao độ, Đảng ta được tôi luyện, trưởng thành, ngày càng bắt rễ sâu vào quần chúng, dày dặn kinh nghiệm lãnh đạo Sau khi đất nước độc lập, Đảng kịp thời mở rộng đội ngũ,

Trang 25

đào tạo cán bộ, tăng cường sự lãnh đạo mọi mặt, chuẩn bị cho toàn dân bước vào một cuộc chiến tranh mới Đứng đầu Đảng và Nhà nước cách mạng là chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài, có uy tín tuyệt đối trong nhân dân Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Mặt trận Việt Minh phát triển nhanh chóng Các hội Cứu quốc của công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ được tổ chức trong cả nước Nhiều hội Cứu quốc mới ra đời, thu hút thêm nhiều tầng lớp mới tham gia như: Công thương cứu quốc, phật giáo cứu quốc, Đoàn sinh viên cứu quốc… Thực hiện chủ trương vũ trang toàn dân, nhân dân

ta tích cực xây dựng lực lượng Chỉ trong một thời gian ngắn, lực lượng vũ trang bao gồm các đơn vị giải phóng quân và các đội tự vệ chiến đấu phát triển nhanh chóng

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, Nhà nước cách mạng Việt Nam đứng trước tình thế hết sức hiểm nghèo

Chế độ thực dân phong kiến để lại nhiều hậu quả nặng nề Nền tài chính nghèo nàn, kiệt quệ, kho bạc trống rỗng, nạn đói khủng khiếp và dịch bệnh diễn ra nhiều nơi Nhiều tỉnh đồng bằng bị nạn lụt gây ra những thiệt hại lớn Các thế lực phản động bên ngoài và bên trong lại câu kết với nhau thực hiện mưu đồ xóa bỏ thành quả các mạng của ta, bóp chết chính quyền dân chủ nhân dân còn đang trong chứng nước, hòng khôi phục lại chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và Đông Dương

Nguy cơ lớn nhất đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc mới thành lập là nạn ngoại xâm Ở phía Bắc vĩ tuyến 16, hơn 20 vạn quân Tưởng

ồ ạt kéo vào nước ta Núp dưới danh nghĩa đại diện Đồng minh, quân Tưởng

đã nuôi dã tâm tiêu diệt Đảng cộng sản Đông Dương, phá tan Việt Minh, lật

đổ Chính phủ Hồ Chí Minh và dựng lên một chính quyền tay sai Ở phía Nam

vĩ tuyến 16, hơn một vạn quân Anh cũng dưới danh nghĩa đại diện Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, nhưng thực tế chúng ra sức dọn đường cho Thực

Trang 26

dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai Vào thời điểm này, đất nước ta đã có hơn 30 vạn quân các nước Anh, Pháp, Nhật, Tưởng, cùng nhiều đảng phái phản động Chưa bao giờ trên đất nước ta có nhiều kẻ thù như trong thời điểm này

Tất cả những khó khăn kể trên trực tiếp đe dọa đến sự tồn tại của nhà nước cộng hòa non trẻ Vận mệnh Tổ quốc lúc này như “ngàn cân treo sợi tóc”

Những hành động của thực dân Pháp đã xâm phạm nghiêm trọng đến độc lập, chủ quyền nước ta, gây lòng căm phẫn tột độ trong nhân dân Đến ngày 19-12-

1946 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ trên khắp cả nước

Cũng như cả nước, nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang bước đầu được hưởng những quyền lợi do cách mạng đem lại Họ hiểu rõ giá trị của những quyền lợi ấy, một lòng gắn bó và quyết tâm bảo vệ chính quyền Đây chính là nguồn sức mạnh vô tận giúp cho chính quyền cách mạng vượt qua những khó khăn, thử thách

Đầu tháng 9-1945, hàng chục vạn quân Tưởng Giới Thạch dưới danh nghĩa quân Đồng minh ồ ạt kéo qua tỉnh Bắc Giang vào miền Bắc Việt Nam

để “tước vũ khí quân đội Nhật” Đến ngày 10-9-1945, chúng đóng quân lại khoảng 2.000 tên (ở Kép, Lạng Giang một tiểu đoàn, Phủ Lạng Thương hai tiểu đoàn) Là đội quân ô hợp quen thói nhũng lạm, quân đội Tưởng đã yêu sách chính quyền ta về nhà ở, lương thực, thực phẩm và cả thuốc phiện, gây

ra rất nhiều khó khăn cho nhân dân Quân Tưởng trắng trợn bệnh vực bọn phản động Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) và thổ phỉ nổi nên chống lại chính quyền cách mạng ở địa phương, phá hoại cuộc sống yên lành của nhân nhân [9, tr 169]

Chính quyền cách mạng non trẻ của Bắc Giang đứng trước những thử thách cực kì quan trọng Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng mà trực tiếp

là Đảng bộ tỉnh Bắc Giang, lực lượng vũ trang cùng nhân dân tỉnh đoàn kết

Trang 27

một lòng, kiên quyết đấu tranh chống giặc ngoài, thù trong bảo vệ chính quyền cách mạng

1.2.2 Lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang trong những năm 1945 – 1947

Ngay sau khi thành lập, Đảng ta đã nắm lấy và dương cao ngọn cờ cách mạng giải phóng dân tộc Kể từ đây phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta được đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của chính đảng Mác-xít của giai cấp vô sản Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố cơ bản, quan trọng nhất khiến cho lực lượng cách mạng nói chung, lực lượng vũ trang cách mạng nói riêng được xây dựng đúng hướng, trưởng thành nhanh chóng để đi tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Tân Trào ngày 16 và 17 tháng 8 năm 1945

Võ trang nhân dân, phát triển quân giải phóng và Chương trình hành động

cấp bách của Chính phủ lâm thời Chỉnh đốn và mở rộng bộ đội, công cuộc

xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân có những bước phát triển mới

Toàn dân, bao gồm già trẻ, gái trai, miền ngược có, miền xuôi có, từ nông thôn đến thành thị, tất cả đều tràn đầy phấn khởi, hăng hái tham gia các hoạt động cách mạng Lớp thanh niên, học sinh, sinh viên ngày đêm luyện tập quân sự, mua sắm vũ khí, nô nức lòng quân, bảo vệ chế độ mới

Trong không khí cách mạng sôi sục ấy, các đoàn thể cứu quốc được tổ chức thêm, thu hút hàng triệu hội viên Lực lượng chính trị ấy giữ vị trí quan trọng trong công cuộc bảo vệ chính quyền nhân dân non trẻ và chủ quyền dân tộc

Từ những đoàn thể cứu quốc, Đảng tổ chức ra những đơn vị tự vệ và tự vệ chiến đấu, công cụ chuyên chính của chính quyền cách mạng ở cơ sở Trên cơ

sở những đơn vị tự vệ và tự vệ chiến đấu, dựa vào phong trào chính trị rộng lớn của quần chúng, Đảng ta lựa chọn những chiến sĩ có giác ngộ, có tinh thần chiến đấu, mở rộng hàng ngũ bộ đội tập trung “Nhân dân là nguồn vô tận của

bộ đội” [65, tr.73] Nhờ vậy chỉ vài tháng sau ngày Tổng khởi nghĩa thắng lợi,

Trang 28

mỗi tỉnh đã tổ chức được một chi đội vệ quốc quân Tổng số bộ đội cả nước cuối năm 1945 lên đến 5.000 người, cuối năm 1946 (trước ngày kháng chiến toàn quốc) lên 80.000 người [72, tr 49]

Tại tỉnh Bắc Giang, đầu tháng 10-1945, Hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang họp tại đình làng Đìa Đông (xã Dĩnh Kế, Phủ Lạng Giang) để đánh giá tình hình và đề ra nhiệm vụ mới Hội nghị bầu ra Ban chấp hành Đảng bộ

do đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh làm bí thư và quyết định những nhiệm vụ cấp bách trong thời gian tới, trong đó có nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, dẹp bọn phản động và tiêu trừ thổ phỉ bảo vệ và củng cố vững chắc chính quyền cách mạng kiên quyết đấu tranh với Tưởng Giới Thạch và chuẩn

bị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược [8, tr 196-170]

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh ngay sau khi chính quyền cách mạng được thành lập, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang đã chú trọng lãnh đạo trực tiếp công tác xây dựng lực lượng vũ trang, để sẵn sàng đối phó với bọn phản động và

âm mưu trở lại xâm lược của thực dân Pháp Các đơn vị tự vệ cứu quốc quân

và giải phóng quân có từ trước và trong cách mạng tháng Tám chuyển thành

vệ quốc đoàn làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự an ninh trong nhân dân Hầu hết những Đảng viên cộng sản trẻ đều xung phong vào các lực lượng vũ trang và cấp uỷ Đảng đã trực tiếp lãnh đạo dân quân tự vệ Phát triển nhiều hình thức vũ trang như lão du kích, nữ du kích, du kích thiếu niên… Tháng 10-1945, Bắc Giang đã thành lập một chi đội vệ quốc quân ở Hà

Vị do đồng chí Lư Giang chỉ huy, chi đội được trang bị hàng trăm súng trường, là đơn vị mạnh đầu tiên của tỉnh [25, tr 39] Tháng 1-1946, Bắc Giang thành lập một đại đội nam tiến theo chủ trương của Bộ Quốc phòng Tháng 4-1946, tỉnh quyết định thành lập Ban chỉ huy tự vệ cấp huyện, cấp

xã Ở cấp huyện và tỉnh đều có uỷ viên quân sự nằm trong uỷ ban hành chính [25, tr 38] Ngày 19-7-1946, đơn vị cảnh vệ Phủ Lạng Thương được thành

Trang 29

lập cho vệ quốc quân, làm nhiệm vụ bảo vệ chính quyền và các cơ quan của tỉnh Trên cơ sở nòng cốt của chi đội Vệ quốc đoàn Bắc Giang, tháng 8-1946, tại huyện Hiệp Hoà, Trung đoàn 118 của Chiến khu 12 thành lập Trung đoàn tập trung ngay vào việc huấn luyện quân sự và cùng với lực lượng tự vệ du kích sẵn sàng đánh địch [8, tr 53-54]

Cuối năm 1946, nhiều huyện tổ chức xây dựng đại đội, trung đội du kích tập trung thường trực, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương và bổ sung lực lượng cho các đơn vị bộ đội của tỉnh [8, tr 39] Ở Lục Nam, tuy gặp khó khăn nhưng được sự giúp đỡ của bộ đội chủ lực đang hoạt động ở địa phương và sự chỉ đạo tích cực của cán bộ quân sự tỉnh, trung đội du kích tập trung được thành lập Trung đội đã bám trụ kiên cường và cố gắng khắc phục khó khăn xây dựng khu du kích Kiêm Lao, Nam Điện, Bông Am Mặc dù mới được thành lập nhưng các đội du kích đã được đào tạo và huấn luyện cách đánh du kích qua các tài liệu được Bác Hồ biên soạn như “Nguyên tắc của cách đánh

du kích” trong đó nêu rõ:

1: Giữ quyền chủ động

2: Hết sức nhanh chóng

3: Bao giờ cũng giữ thế tiến công

4: Phải có kế hoạch thích hợp và chu đáo [8, tr 54]

Và nhấn mạnh đánh du kích cần chú ý những mưu mẹo sau:

Tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, náu phía Đông, đánh phía Tây

Tránh trận gay go, không sống chết giữ đất

Hoán chỉnh vi linh (nghĩa là phân tán), hoán linh vi chỉnh (nghĩa là tập trung)

Mình yên thì đánh quân thù động, mình khỏe thì đánh quân thù mệt [8, tr 54] Như vậy, những luận điểm về chiến tranh du kích đã làm rõ thêm ý nghĩa quan trọng của chiến tranh du kích chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp

Trang 30

xâm lược Vấn đề then chốt để hình thành chiến tranh du kích là phải dựa vào dân, phải tập trung vận động, tổ chức một lực lượng quần chúng trung kiên nhất vào Mặt trận Việt Minh và hướng dẫn nhân dân cùng thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng Tỉnh ủy quyết định mở các lớp huấn luyện quân sự nâng cao kỹ thuật, chiến thuật, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật cho cán bộ, chiến sỹ, lực lượng vũ trang đồng thời chuẩn bị ý chí quyết tâm cho kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Tháng 9-1946, phong trào luyện tập quân sự được phát động rộng rãi trong toàn quân, toàn dân Khắp mọi nơi từ thành thị đến nông thôn đều dấy lên một không khí luyện tập quân sự sôi nổi như Nội Hoàng, Đại Đồng (Yên Dũng), có buổi tập đã lên tới 300 người tham dự [25, tr 41]

Lực lượng vũ trang địa phương ngày càng phát triển nhưng trang bị còn thô sơ thiếu thốn nhiều Mỗi trung đội du kích tập trung mới chỉ có một vài ba khẩu súng, còn lại chủ yếu là giáo mác, dao, kiếm [25, tr 40]

Phong trào mua sắm vũ khí, rèn đúc vũ khí được phát động rộng rãi trong nhân dân toàn tỉnh Nhiều gia đình đã hăng hái đóng góp từ con dao, thanh sắt

để rèn đúc vũ khí Một số gia đình giàu có thì bỏ tiền mua súng kíp, súng trường, mìn, lựu đạn ủng hộ du kích xã, phủ, huyện Trong phong trào này, nhân dân đã đóng góp hàng tấn đồng gồm mâm, thau, nồi, đỉnh cho bộ đội và dân quân du kích rèn đúc vũ khí Do sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân nên chỉ trong một thời gian ngắn, dân quân du kích nhiều xã đã có một số súng trường và lựu đạn, xã ít nhất cũng có 2 súng trường Xã Cần Dĩnh (nay là xã Hương Sơn, Lạng Giang) đã mua vũ khí đủ trang bị cho một trung đội du kích Phong trào tự tạo vũ khí thô sơ trong các lực lượng vũ trang và nhân dân phát triển mạnh Các công binh xưởng được thành lập kịp thời sửa chữa vũ khí và rèn giáo mác Từ những cố gắng trên, bộ đội, du kích, tự vệ trong tỉnh

đã nhanh chóng khắc phục được một phần khó khăn về vũ khí [25, tr 55]

Trang 31

Theo chủ trương của cấp trên, các ban cấp dưỡng từ tỉnh đến huyện, xã được thành lập Mỗi ban có từ 7 đến 15 người, gồm đại biểu của các ngành, giới làm nhiệm vụ vận động nhân dân đóng góp và lập kế hoạch cung cấp cho các lực lượng vũ trang về mặt hậu cần Từ cuối năm 1946, phong trào “Hội

mẹ chiến sĩ”, “Mùa đông binh sĩ” được phát động ở hầu hết các thôn, xã Bộ đội về đóng quân ở đâu cũng được nhân dân chăm sóc, may vá áo, đùm bọc như những người con trong gia đình [25, tr.40]

Về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong lực lượng vũ trang cũng

được tỉnh đặc biệt chú trọng Cán bộ chiến sỹ trong lực lượng vũ trang được học tập các nội dung về giữ vững lập trường giai cấp công nhân, kiên quyết đấu tranh chống bọn phản động thân Tưởng, học tập chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc‟‟ của Trung ương Đảng, phẩm chất của người cán bộ chiến sỹ, v.v…

Về công tác Đảng cũng được quan tâm Cán bộ chỉ huy các lực lượng vũ

trang luôn luôn được cấp uỷ Đảng hết sức quan tâm Nhiều cán bộ có năng lực phẩm chất, từng trải trong đấu tranh cách mạng đã được cử vào các ban chỉ huy phụ trách quân sự, chính trị, đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của đảng đối với lực lượng vũ trang

Như vậy, chỉ trong thời gian ngắn (9-1945 đến 12-1946) dù hoạt động trong điều kiện Đảng phải tạm thời rút vào hoạt động bí mật, song Đảng bộ vẫn luôn quán triệt đường lối cách mạng, sách lược đấu trạnh của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang ở địa phương vượt qua những gian nan thử thách, từng bước trưởng thành

Thực dân Pháp ngày càng lấn tới với dã tâm trở lại xâm lược nước ta một lần nữa Chúng ngang nhiên vi phạm Hiệp định sơ bộ (6-3-1946), liên tiếp khiêu khích và gây xung đột với ta ở nhiều nơi Ngày 17, 18 tháng 12 năm

1946, quân Pháp trắng trợn gây hấn một số nơi ở Hà Nội, gửi tối hậu thư đòi Chính phủ ta phải đầu hàng

Trang 32

Ngày 7 tháng 6 năm 1946, quân Tưởng rút khỏi Bắc Giang Ngày 20 tháng 6 năm 1946, quân Pháp đưa lực lượng đến đồn Trú tại thị xã Phủ Lạng Thương Ngay sau khi kéo đến đồn Trú, chúng đã âm mưu biến Bắc Giang thành bàn đạp để mở các cuộc tấn công vào vùng căn cứ địa Việt Bắc sau này Chúng cho quân đánh chiếm huyện Sơn Động, Lục Ngạn để nối liền Lạng Sơn và Hà Nội [22, tr 53]

Ngày 18-12-1946 Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị khẩn cấp, quyết định phát động nhân dân cả nước tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và đề ra đường lối kháng chiến “Toàn dân, toàn diện, trường kì và tự lực cánh sinh” Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

Chấp hành nghị quyết, đường lối của Trung ương Đảng về chuẩn bị mọi lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang tiếp tục đẩy mạnh lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương phát triển về mọi mặt

Về quân số, thực hiện chủ trương của Bộ Quốc phòng về xây dựng và

kiện toàn lực lượng dân quân du kích, tự vệ địa phương trong toàn quốc, tháng 4-1947 Tỉnh uỷ ra nghị quyết về việc thành lập các đội du kích tập trung ở các huyện, thị xã và hệ thống lãnh đạo dân quân tự vệ từ tỉnh đến xã

do cơ quan quân sự các cấp chỉ huy, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp

uỷ Đảng Cơ quan lãnh đạo nhân dân các các cấp được tổ chức lãnh đạo tập trung công tác huấn luyện xây dựng cơ sở hiệp đồng hỗ trợ nhau trong chiến đấu [22, tr 53]

Ngày 13- 5-1947, Tỉnh uỷ quyết định thành lập trung đội nữ binh gồm 42 đội viên với nhiệm vụ chính là tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia kháng chiến và động viên thanh niên tham gia tòng quân Do gặp nhiều khó khăn, phức tạp trong công tác và hiệu quả thấp nên đến tháng 12-1947 đội nữ binh phải giải thể

Trang 33

Nhờ quán triệt đường lối kiện toàn, phát triển lực lượng dân quân du kích,

tự vệ, của Trung ương mà đầu năm 1947, lực lượng dân quân du kích của tỉnh

đã phát triển Phong trào du kích cũng theo đó trên đà phát triển Các đội du kích tập trung đã hình thành ở nhiều nơi như Yên Dũng, Hiệp Hoà, Lạng Giang Đặc biệt, Yên Dũng có các nhà sư Đàm Văn, Sư Thế, Sư Đề cũng xung phong vào du kích để trực tiếp chiến đấu Dân quân tự vệ phát triển đến mọi lứa tuổi, mọi giới

Ở Sơn Động, Lục Ngạn, tại các xã Bồng An, Thanh Luận, Trường Sơn đã thành lập đội du kích gồm 70 người, đội du kích này có nhiệm vụ vừa gây dựng cơ sở, vừa chống địch càn quét, bảo vệ dân, bảo vệ cơ sở Nhờ đó, sau một thời gian phong trào du kích chiến tranh ở Sơn Động đã được củng cố và phát triển

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp uỷ Đảng và chính quyền, trên địa bàn tỉnh đã hình thành 3 lực lượng: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích Cả ba lực lượng đều ra sức hoạt động mở rộng phạm vi chiếm đóng một số nơi trong tỉnh Mỗi thứ quân có nhiệm vụ và vị trí chiến lược quan trọng trong chiến tranh toàn dân, kết hợp, hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển trong quá trình xây dựng và chiến đấu

Về huấn luyện quân sự, phong trào luyện tập quân sự được tiếp tục phát

triển trong toàn tỉnh, toàn quân đều hăng hái luyện tập Đặc biệt, bộ đội, dân quân, du kích, đánh nhỏ lẻ, học tập 12 điều chiến thuật của Hồ Chí Minh đưa ra

Về trang bị vũ khí, trong Chỉ thị “Sửa soạn khởi nghĩa” (tháng 5 năm

1944), những vấn đề về trang bị, huấn luyện cho lực lượng vũ trang cách mạng đã được đề cập một cách đầy đủ, cụ thể Trả lời câu hỏi “Lấy gì đánh quân thù ?”, bản Chỉ thị viết: “một dân tộc bị áp bức cũng như một giai cấp bị bóc lột, muốn tự giải phóng phải cầm võ khí trong tay mà chiến đấu; không thể vỗ tay mà đánh đuổi được giặc Dân ta muốn đánh đuổi Nhật, Pháp cũng

Trang 34

không thể không sắm và tập dung võ khí” [79, tr.491-495] Tiếp đó, bản Chỉ thị nêu ra ba cách kiếm vũ khí là:

1 Dân ta phải tự chế lấy những vũ khí thô sơ để trang bị cho tự vệ (như dao chiến đấu, gậy tày, giáo hay đinh ba, súng, nỏ… và các dụng cụ phá hoại khác

2 Các tổ chức Việt Minh ở các địa phương phải dùng mọi phương pháp động viên nhân dân đóng góp “quỹ mua súng” để có tiền mua súng đạn trang

bị cho tự vệ, du kích

3 Lấy vũ của quân địch để trang bị cho quân ta bằng cách đánh các đồn trại, kho súng, các đội quân tuần tiễn của địch để tước lấy vũ khí hoặc bằng cách vận động binh lính địch để họ giác ngộ đem súng về cho ta [79, tr.149-145]

Trong tỉnh, ngoài vũ khí được cấp trên cung cấp, lực lượng vũ trang cũng

ra sức rèn đúc vũ khí thô sơ Đồng thời, tỉnh phát động phong trào “giết giặc, cướp súng giặc tự trang bị vũ khí cho mình” Ở khắp nơi rộ lên phong trào cướp súng giặc, để tự trang bị vũ khí cho mình Tiêu biểu như du kích Nam Điện thu 1 trung niên, 3 súng trường (12 – 1947), du kích xã Tự Lạn phối hợp với bộ đội chủ lực trung đoàn Bắc Bắc giệt giặc, thu 150 khẩu súng

Về kinh tế, tỉnh chủ trương phát động phong trào tăng gia sản xuất trong

lực lượng vũ trang đồng thời kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân

Về giáo dục tư tưởng chính trị: Cán bộ, chiến sỹ, dân quân du kích được

học tập về đường lối, chủ trương của Đảng, học tập nắm rõ chỉ thị của Bộ Tổng chỉ huy và Khu uỷ 12 về “phá tan cuộc tấn công Thu Đông của địch” Cán bộ, chiến sỹ, dân quân du kích được học tập về cách vận động, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, nói rõ về âm mưu của địch, vv Cán

bộ, chiến sỹ, dân quân du kích được học tập huấn lệnh của Bộ Tổng Tham mưu “du kích vận động chiến”, trong đó chỉ thị phê phán “những khuynh hướng sai lầm” như cố giữ đất, không bảo tồn lực lượng chủ lực hoặc bỏ chạy, không tích cực bám địch, nhắc nhở địa phương đề phòng đánh địch lan

Trang 35

rộng, có kế hoạch chống càn quét, tổ chức làng chiến đấu, phải tích cực bám địch, hết sức tránh địch bao vây, có biện pháp bảo vệ dân, chuẩn bị làm vườn không nhà trống [22, tr 61]

Nhờ công tác giáo dục tư tưởng chính trị được chú trọng, tinh thần chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉnh lên cao, ý thức tự giác của lực lượng vũ trang cũng được nâng lên

Về công tác Đảng trong lực lượng vũ trang, Tỉnh uỷ đã quyết định các

cấp uỷ phải cử cấp uỷ viên sang phụ trách quân sự từ tỉnh đến huyện, xã Các chi bộ đều cử từ 1 đến 3 số đảng viên tham gia du kích, xây dựng các đơn vị

du kích tập trung bổ sung quân số cho tỉnh và bộ đội chủ lực

Ở Sơn Động, Lục Ngạn một số cán bộ đảng viên trẻ đã về cơ sở hoạt động, lãnh đạo nhân dân Huyện uỷ, uỷ ban huyện đã dựa vào các xã Bồng

Am, Thanh Luận, Trường Sơn để gây cơ sở Sau một thời gian, phong trào du kích chiến tranh ở Sơn Động đã được củng cố và phát triển

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang địa phương đã gây được

cơ sở và đánh địch càn quét làm thất bại cuộc tấn công lên Việt Bắc 1247), làm phá sản hoàn toàn chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp

(12-12-1.2.3 Lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang trong những năm 1947 – 1950

Trong trận đầu ra quân ở Việt Bắc, thực dận Pháp đã hứng chịu thất bại nặng nề, chúng buộc phải chuyển hướng từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang chiến lược „đánh lâu dài”, thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt trị người Việt”

Ở Bắc Giang chúng tăng cường mạng lưới phòng nhì (gián điệp), chỉ điểm, các đội biệt kích (Com măng đô), ngày đêm hoạt động phá hoại cơ sở kháng chiến của ta Mặt khác, chúng mở rộng một số vị trí chiếm đóng ở rừng

Rẻ, cầu Nhạc, thị trấn Lục Nam, Cẩm Lý thuộc Sơn Động, Lục Ngạn Ở

Trang 36

những nơi địch tạm chiếm, chúng ra sức phát triển nguỵ quân, củng cố nguỵ quyền, thực hiện âm mưu chia để trị, tuyên truyền kích động hằn thù giữa các dân tộc, chia rẽ giữa bộ đội và nhân dân

Trước tình hình chuyển biến ở trong nước và quốc tế, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương mở rộng họp từ ngày 15 đến ngày 17-01-1948 đã đề ra nhiệm vụ kháng chiến cho thời kì mới là đánh mạnh được chuyển sang giai đoạn thứ hai, phát triển chiến tranh du kích, xúc tiến việc luyện quân lập công, học tập kinh nghiệm chiến dịch Việt Bắc, tập dược cách đánh những trận vận động tiêu diệt địch, chuyển bị điều kiện, thời cơ giành thắng lợi

Từ ngày 14 đến 18-06-1948, tại xóm Vân Cầu - Hồng Kiều, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất được triệu tập Đại hội đánh giá tình hình mọi mặt công tác từ ngày toàn quốc kháng chiến đề ra phương hướng lãnh đạo kháng chiến, phát triển chiến tranh du kích lên một bước mới [21, tr 55]

Về quân số, tháng 8- 1948 Đại đội 55 của tỉnh được thành lập gồm 100

đội viên Đội quân chủ lực này đã giúp đỡ các đội quân địa phương, dân quân

du kích luyện tập, gây dựng các cơ sở kháng chiến Nhiều cơ sở kháng chiến

đã được hình thành ở nhiều nơi thuộc Sơn Động như An Châu, An Lạc, Vĩnh Khương, An Bá, Tuấn Đạo Ở Lục Ngạn có các căn cứ du kích : Trù Hựu, Mỹ

An, Biên Sơn, Giáp Sơn, Hồng Giang, Đồng Cốc, Kim Sơn ở những nơi này lực lượng du kích phát triển mạnh

Ở các xã sát vị trí địch, lực lượng du kích phát triển mạnh Lực lượng dân quân tự vệ cũng có sự phát triển đáng kể với gần 36.000 người, chủ yếu phục

vụ chiến đấu, rào làng, làm chông mìn, cạm bẫy và giữ trật tự an ninh xã hội trong nhân dân

Về huấn luyện quân sự, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 3 (tháng 6

năm 1947) nhấn mạnh phải làm sao cho trình độ quân sự của bộ đội ta “tiến

Trang 37

cho kịp địch và hơn địch” và chỉ ra những yêu cầu về huấn luyện quân sự cho

Tỉnh đội đã mở nhiều lớp huấn luyện ngắn ngày cho bộ đội địa phương, dân quân du kích về cách đánh du kích, hướng dẫn nhân dân sơ tán về nơi an toàn Tỉnh cũng mở nhiều lớp đào tạo cán bộ từ tiểu đội đến trung đội [21, tr 69] Lượng lượng vũ trang địa phương ngày đêm ra sức học tập, luyện tập và phổ biến cách đánh chông, mìn, cạm bẫy Đối với cán bộ đảng viên, Tỉnh uỷ yêu cầu nhất thiết phải học quân sự để biết những tác động cơ bản của người chiến sỹ Cán bộ huyện và bí thư chi bộ phải học thêm chiến lược quân sự, thực hiện phương châm học đi đôi với hành Tỉnh uỷ tiếp tục đưa du kích tập trung của một số huyện xã lần lượt đi chiến đấu tiễu phỉ ở Phổng, Bảo Đài, Cấm Sơn và phục vụ tiêu hao sinh lực địch Ngoài ra, tỉnh còn điều một số cán bộ, bộ đội du kích sang nam phần Bắc Ninh để vừa tham gia chiến đấu, vừa học tập kinh nghiệm du kích chiến tranh

Ngày 28 tháng 8 năm 1948, Hội nghị liên tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang đã quyết định tổ chức một đợt diễn tập quân sự trong 20 ngày với sự tham gia của các lực lượng vệ quốc đoàn, bộ đội địa phương, dân quân du kích Cuộc diễn tập gây ảnh hưởng rất tốt đến phong trào phát triển dân quân du kích ở Bắc Giang, Bắc Ninh [21, tr 55]

Trang 38

Việc huấn luyện cho đội ngũ cán bộ chỉ huy cũng được chú trọng Cán bộ các Ban chỉ huy huyện đội đã được đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị, quân

sự qua các lớp huấn luyện do quân khu tổ chức

Nhằm thực hiện nghị quyết của Đại hội Đảng bộ, Tỉnh uỷ phát động phong trào thi đua tăng sản xuất trong lực lượng vũ trang Hưởng ứng phong trào thi đua ái quốc, lực lượng vũ trang đẩy mạnh sản xuất, tự cấp, tự túc, thực hành tiết kiệm Đồng thời, Tỉnh uỷ cũng phát động nhân dân ủng hộ lương thực, thực phẩm cho lực lượng vũ trang Nhờ đó, tuy còn khó khăn song vấn

đề kinh tế trong lực lượng vũ trang cũng được đảm bảo

Về giáo dục chính trị, ở các xã thuộc Lục Nam, Sơn Động có nhiều người Hoa, do đó, công tác giáo dục tuyên truyền Hoa – Việt đoàn kết và ủng hộ kháng chiến cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang được đặc biệt chú trọng

Đồng thời, Tỉnh uỷ cũng tổ chức các đợt học tập chính trị cho chiến sĩ nhằm nâng cao nhận thức cho các đơn vị Nội dung học tập chủ yếu gồm các tài liệu “Trường kì kháng chiến, nhất định thắng lợi”, “ Sơ giải về chủ nghĩa duy vật lịch sử”, “Lời dạy của Hồ Chí Minh đối với các lực lượng vũ trang” Tỉnh ủy đã mở nhiều lớp huấn luyện chính trị và nghiệp vụ tuyên truyền cho cán bộ các đoàn thể như hai lớp cho đoàn thanh niên kháng chiến gồm 80 học viên, 5 lớp cho cho giới phụ nữ gồm 300 học viên, 7 lớp cho thiếu niên nhi đồng gồm 600 học viên Những cán bộ dự các lớp học đều được cử về địa phương hoạt động thúc đẩy các phong trào ở địa phương phát triển, điển hình như phong trào ghi tên tòng quân đã có 1.000 người tình nguyện và tuyển chọn vào bộ đội chủ lực gần 8.000 thanh niên [26, tr 171]

Bước vào năm 1949, tình hình có nhiều thay đổi Quân và dân ta trên khắp cả nước tích cực, chủ động tiến công địch và giành nhiều thắng lợi quan trọng Quân địch ngày càng lún sâu hơn vào thế bị động lúng túng Trước tình hình trên, ngày 13- 5-1949, Chính phủ Pháp cử tướng Rơve sang Việt Nam để

Trang 39

nghiên cứu thực tế và lập kế hoạch bình định miền Bắc Việt Nam Triển khai

kế hoạch Rơve, quân Pháp tăng cường các cuộc hành quân càn quét âm mưu

mở rộng vùng chiếm đóng, củng cố vùng tạm chiếm Tại Bắc Giang, ngày 13- 7- 1949, chúng tiến hành cuộc hành quân Battinơ

Trước những diễn biến của tình hình, Trung ương Đảng đã chỉ rõ “vấn đề cấp bách chỉ ra trong cuộc kháng chiến là phải tiến nhanh lên chính quy” Theo đó, cần đẩy mạnh chiến tranh du kích, sớm tiến nhanh lên chiến tranh chính quy Phải giải quyết tốt vấn đề xây dựng bộ đội chủ lực và xây dựng hậu phương vững mạnh [54, tr 269]

Thực hiện chỉ đạo của Liên khu uỷ, đầu tháng 7- 1949, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ hai họp tại đình Cổ Trang, xã Đào Quán (Lạng Giang), nhằm kiểm điểm và đưa ra những chủ trương công tác trong nhiệm kỳ tới, trong đó “củng cố lực lượng vũ trang chiến đấu, sẵn sàng phối hợp với bộ đội chủ lực, tác chiến mọi lúc, mọi nơi trên địa bàn tỉnh” và để ra chủ trương tích cực chuẩn bị mọi mặt, phá tan cuộc tiến công lên Bắc Giang của Pháp

Dân quân, du kích là lực lượng chủ yếu quyết định sự phát triển mạnh mẽ của phong trào chiến tranh du kích trong cả nước Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Du kích là một lực lượng cực kì to lớn trong chiến tranh giải phóng dân tộc Sức du kích thật mạnh thì chiến tranh giải phóng nhất định thắng lợi Tổ chức chặt chẽ và rộng khắp, trong vùng địch và xung quanh vùng địch, làng

nào, huyện nào, tỉnh nào cũng có du kích thì nó thành một tấm lưới sắt, một

thứ “thiên la địa võng” mà địch không tài gì thoát ra được Địch đi đến đâu cũng bị chặn đánh Địch làm gì cũng bị phá hoại Du kích làm cho địch có mắt cũng như mù, có tai cũng như điếc, có chân cũng như què Một số bộ phận địch thì bị du kích tỉa dần, tỉa mòn Bộ phận địch còn sống sót, thì ăn

Trang 40

không yên, ở không yên, nghe gió thổi, chim kêu cũng hoảng sợ, rồi cũng bị

du kích tiêu diệt nốt” [46, tr 335]

Để đẩy mạnh chiến tranh du kích, Tỉnh uỷ đã nhanh chóng xây dựng phát triển lực lượng du kích Đầu 1949, toàn tỉnh xây dựng được 14 trung đội du kích tập trung, 577 đội viên Bên cạnh lực lượng du kích tầm trung, các đội lão du kích, nữ du kích, thiếu niên du kích, được hình thành ở nhiều địa phương

Tháng 4 năm 1949, Chính phủ ra sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương Tháng 8 năm 1949, Trung ương Đảng ra chỉ thị xây dựng bộ đội địa phương

và phát triển dân quân tự vệ, coi việc xây dựng bộ đội địa phương “là một công tác then chốt để đẩy mạnh chiến tranh tiến tới” Chấp hành chỉ thị ngày 18- 8- 1949 của Ban thường vụ Trung ương Đảng về việc xây dựng lực lượng địa phương và thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung du (từ ngày 1 đến ngày 24- 9-1949), Tỉnh uỷ Bắc Giang đề ra chủ trương “tích cực xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang thật lớn mạnh để đẩy mạnh du kích chiến tranh” [21, tr 68]

Ngày 19- 8- 1949, Tỉnh uỷ Bắc Giang thành lập đại đội 198 Tháng 10 –

1949, tất các huyện Bắc Giang đã kiện toàn xong các đội du kích tập trung, chuyển thành đại đội bộ đội địa phương huyện Mỗi đại đội có phiên hiệu riêng: Lạng Giang (531), Việt Yên (245), Hiệp Hoà (529), Yên Thế (533), Lục Ngạn (525), Hữu Lũng (527)

Ngày 5- 11- 1949, tỉnh thành lập đại đội 511 và ngày 6- 11- 1949, tiểu đoàn đầu tiên của tỉnh mang phiên hiệu “Tiểu đoàn 61” được thành lập gồm 3 đại đội 555, 198 551, mỗi đại đội có 145 người Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm đồng chí Bùi Hùng - Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Trương Quốc Lãm - Chính trị viên Để tăng cường khả năng chiến đấu, tỉnh thành lập một đội trợ chiến và một đại đội công binh bổ sung cho Tiểu đoàn 61 (6- 1950) Cùng với

Ngày đăng: 02/07/2016, 10:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bác Hồ với Đảng bộ và nhân dân Hà Bắc, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Hà Bắc, 1980, tr.25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với Đảng bộ và nhân dân Hà Bắc
8. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (1999), Bắc Giang những chặng đường lịch sử, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắc Giang những chặng đường lịch sử
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 1999
9. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc bộ chính trị (1996), Tổng kết cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc bộ chính trị
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 1996
16. Ban Nghiên cứu Lực sử Đảng Trung ƣơng (1979), 50 năm hoạt động của Đảng cộng sản Việt nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm hoạt động của Đảng cộng sản Việt nam
Tác giả: Ban Nghiên cứu Lực sử Đảng Trung ƣơng
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1979
17. Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Bắc Giang (2000), Lịch sử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bắc Giang (1930-2000) 18. Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Bắc Giang (2004), Những tập thể và cá nhân anhhùng tỉnh Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bắc Giang (1930-2000) "18. Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Bắc Giang (2004), "Những tập thể và cá nhân anh
Tác giả: Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Bắc Giang (2000), Lịch sử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bắc Giang (1930-2000) 18. Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Bắc Giang
Năm: 2004
22. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Giang (2004), Tổng kết chiến tranh du kích Bắc Giang trong kháng chiến chống Pháp (1945- 1954), Nxb quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết chiến tranh du kích Bắc Giang trong kháng chiến chống Pháp (1945- 1954)
Tác giả: Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Giang
Nhà XB: Nxb quân đội nhân dân
Năm: 2004
27. Bộ quốc phòng viện lịch sử quân sự Việt Nam (1962), Hồ chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân
Tác giả: Bộ quốc phòng viện lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb quân đội nhân dân
Năm: 1962
28. Bộ quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1994), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 – 1954, tập I, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 – 1954
Tác giả: Bộ quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1994
29. Bộ quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1994), Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975), tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 4), Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975), "tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nộ
Tác giả: Bộ quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1994
30. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2003), Lịch sử quân sự (tài liệu dùng cho nghiên cứu sinh), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quân sự (tài liệu dùng cho nghiên cứu sinh)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2003
31. Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2000
32. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 10, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 10
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2001
33. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 11, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 11
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2001
34. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2001
35. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 13, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 13
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2001
36. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 14, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 14
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2001
37. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2001
38. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 9, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 9
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2001
39. Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh uỷ Bắc Giang (2003), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Giang, tập 1(1926- 1975), Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Giang, tập 1(1926- 1975)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh uỷ Bắc Giang
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2003
41. Đinh Quang Thiệu (2004), Về công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang nhân dân” Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang nhân dân”
Tác giả: Đinh Quang Thiệu
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w