Thực hiện chủ trương chung của Đảng - Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, Đảng bộ huyện Lập Thạch đã lãnh đaọ nhân dân tích cực thực hiện và triển khai sâu rộng phong trào xây dựng đời sống văn hóa.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
LƯU THỊ HOA
ĐẢNG BỘ HUYỆN LẬP THẠCH (TỈNH VĨNH PHÚC) LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA TỪ NĂM 2001 - 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
LƯU THỊ HOA
ĐẢNG BỘ HUYỆN LẬP THẠCH (TỈNH VĨNH PHÚC) LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA TỪ NĂM 2001 - 2012
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Xanh
Hà Nội, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lưu Thị Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp cao học được hoàn thành tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội Có được bản luận văn tốt nghiệp này, cùng với sự nỗ lực của bản thân Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và rèn luyện tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS.Phạm Xanh người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ và chỉ bảo những kiến thức về chuyên môn thiết thực, những chỉ dẫn khoa học quí báu trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Đảng bộ huyện Lập Thạch (tỉnh Vĩnh Phúc) lãnh đạo phong trào xây dựng đời sống văn hóa
từ năm 2001 đến năm 2012”
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ủy ban nhân dân huyện Lập Thạch, Phòng văn hóa, ban tuyên giáo của huyện Lập Thạch ….và các cơ quan liên quan, các cá nhân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi thu thập số liệu cũng như những tài liệu cần thiết liên quan tới đề tài
Cuối cùng, một lần nữa một lần nữa xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo, các đơn vị và cá nhân đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2015
Học viên
Lưu Thị Hoa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU i
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài 8
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu đề tài 8
6 Đóng góp của Luận văn 9
7 Kết cấu của Luận văn 9
NỘI DUNG 11
Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN LẬP THẠCH TRONG PHONG TRÀO XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 11
1.1 Những điều kiện có ảnh hưởng đến phong trào xây dựng đời sống văn hóa huyện Lập Thạch và chủ trương của Đảng bộ 11
1.1.1 Điều kiện tự nhiên-kinh tế xã hội 11
1.1.2 Tình hình xây dựng đời sống văn hóa trước năm 2001 16
1.1.3 Chủ trương của Đảng và Đ ảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về phong trào xây dựng đời sống văn hóa (2001 - 2005) 21
1.2 Sự chỉ đạo thực hiện phong tra ̀o xây dựng đời sống văn hóa 26
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Lập Thạch 26
1.2.2 Quá trình thực hiện và kết quả đạt được 28
Chương 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN LẬP THẠCH TĂNG CƯỜNG CHỈ ĐẠO PHONG TRÀO XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TỪ NĂM 2006 ĐẾN 2012 47
2.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong phong trào xây dựng đời sống văn hóa 47
2.2.1 Yêu cầu mới 47
2.1.2 Chủ trương mới của Đảng và Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 49
Trang 62.2 Quá trình chỉ đạo và thực hiện phong trào xây dựng đời sống
văn hóa của huyện Lập Thạch 52
2.2.1.Chủ trương mới của Đảng bộ huyện Lập Thạch 52
2.2.2 Kết quả của phong trào xây dựng đời sống văn hóa huyện Lập Thạch 54
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 76
3.1 Một số nhận xét 76
3.1.1 Ưu điểm 76
3.1.2 Hạn chế 83
3.2 Kinh nghiệm chủ yếu 86
3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, quản lý điều hành của chính quyền, sự phối hợp với các tổ chức trong hệ thống chính trị huyện 86
3.2.2 Kết hợp đồng bộ quá trình xây dựng đời sống văn hóa với quá trình phát triển kinh tế - xã hội 88
3.2.3 Xã hội hoá các hoạt động văn hoá Phát huy tính chủ động sáng tạo cũng như tính tự quản của nhân dân trong xây dựng đời sống văn hóa 90
3.2.4 Đào tạo và nâng cao trình độ cho cán bộ làm công tác văn hóa 91
3.2.5 Kiểm tra, sơ kết, rút kinh nghiệm và nêu gương điển hình tiên tiến trong phong trào xây dựng đời sống văn hoá 94
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 107
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
ĐVVH : Đơn vị văn hóa
GS GĐVH
: :
Giáo sư Gia đình văn hóa HĐND
LVH
: :
Hội đồng nhân dân Làng văn hóa MTTQ : Mặt trận tổ quốc
NQ : Nghị quyết NVH
NSVH
: :
Nhà văn hóa Nếp sống văn hóa PGS : Phó giáo sư
TU : Tỉnh ủy
TW : Trung ương UBND : Ủy ban nhân dân TDTT : Thể dục thể thao VHTT : Văn hóa thông tin VHVN : Văn hóa văn nghệ
Trang 8
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử nhân loại đã chứng minh vai trò to lớn cũng như tầm ảnh
hưởng vĩ đa ̣i của văn hóa Đây là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n không thể thiếu trong mo ̣i sinh hoạt xã hội , từ chính tri ̣, kinh tế đến sinh hoa ̣t cô ̣ng đồng Cuô ̣c sống ngày càng phức tạp, khó khăn thì vai trò của văn hóa càng được thể hiện, giá trị của văn hóa càng được đề cao Thực tế li ̣ch sử dân tô ̣c Viê ̣t Nam đã cho thấy sức mạnh cũng như tầm ảnh hưởng của văn hóa đối với công cuộc dựng nước và giữ nước Chính bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt đã giúp dân tô ̣c
ta đánh ba ̣i được mo ̣i âm mưu “đồng hóa” và xâm lược của kẻ thù Văn hóa chính là “chất keo” kết dính các mối quan hệ kinh tế , chính trị, xã hội…tạo nên sự phát triển đồng thuâ ̣n , hài hòa, bền vững và bản sắc riê ng cho từng quốc gia-dân tô ̣c
Từ khi ra đời , Đảng cô ̣ng sản Viê ̣t Nam luôn xác đi ̣nh văn hóa là mô ̣t lĩnh vực rất quan trọng Đấu tranh cho nền văn hóa dân tộc , xây dựng và phát triển văn hóa, hướng văn hóa phu ̣c vu ̣ mô ̣t cách có hiê ̣u quả vào sự nghiê ̣p đổi mới đất nước hiê ̣n nay là mô ̣t vấn đề có tính chiến lược Dưới sự lãnh đa ̣o của Đảng, nền văn hóa truyền thống Viê ̣t Nam đã phát triển lên mô ̣t tầm cao mới ,
được bổ sung những nô ̣i dung tính chấ t mới, trở thành mô ̣t “ lợi khí” sắc bén
của nhân dân ta trên những chặng đường đấu tranh giải phóng dân tộc , giành
đô ̣c lâ ̣p, tự do, thống nhất đất nước , xác lập vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Ngay khi Đảng cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, xu thể hội nhập quốc tế đã diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên đất nước ta trong tất
cả các lĩnh vực Lĩnh vực văn hóa cũng đứng trước nhiều cơ hội và thách thức Cơ hội lớn là có thể tiếp nhận các trào lưu văn hóa tiến bộ của nhân loại
để theo kịp thời đại Thách thức lớn là những trào lưu văn hóa từ bên ngoài đến Việt Nam có thể làm xáo trộn, một số yếu tố tiêu cực có thể len lỏi làm
Trang 9phá vỡ thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam Bước sang thời kỳ mới, khi đất nước tiến hành đổi mới toàn diện theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng
và Nhà nước ta càng ý thức rõ hơn về giá trị của văn hóa dân tộc Chính vì vậy, bên cạnh việc đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, Đảng ta cũng đề ra chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (16/7/1998) Đảng đã nêu rõ: “Phải xây dựng môi trường văn hóa từ trong mỗi gia đình, làng, bản, xã phường, khu tập thể, cơ quan… xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong việc xây dựng nếp sống văn minh” [21, tr.105]
Đến Đại hội XI, Đảng tiếp tục khẳng định: “Phải củng cố và tiếp tục xây
dựng môi trường văn hoá lành mạnh, phong phú, đa dạng Đưa phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; xây dựng nếp sống văn hoá trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, làm cho các giá trị văn hoá thấm sâu vào mọi mặt đời sống, được thể hiện cụ thể trong sinh hoạt, công tác, quan hệ hằng ngày của cộng đồng và từng con người, tạo sức đề kháng đối với sản phẩm độc hại “[25, tr.223]
Từ quan điểm đó đến nay trong đường lối cách mạng của mình, Đảng cộng sản Việt Nam phát triển thành luận điểm: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới Đảng và Nhà nước đã có nhiều những chủ trương, chính sách quan trọng, định hướng đúng đắn sự phát triển của văn hóa; đảm bảo sự cân đối, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa; chăm lo đời sống tinh thần của nhân dân, hướng tới sự phát triển bền vững Một trong những giải pháp phát triển văn
hóa dân tộc là phong trào xây dựng đời sống văn hóa Phong trào đã góp phần
quan trọng thực hiện mục tiêu của Đảng đề ra, hướng tới xây dựng nền văn
Trang 10hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc đồng thời cũng kế thừa và phát huy từ
truyền thống “Đại đoàn kết toàn dân tộc”
Song song với các phong trào khác như: Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, Phong trào xây dựng nếp sống mới, phong trào xây dựng nông
thôn mới….Phong trào xây dựng đời sống văn hóa đã được triển khai thực
hiện ngày càng sâu rộng trong cả nước, trên khắp các khu vực, vùng miền; được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể từ Trung ương đến các địa phương, cơ sở quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tạo điều kiện Đặc biệt, được cán bộ và các tầng lớp nhân dân trong cả nước tham gia hưởng ứng đông đảo, nên đã đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng Phong trào đã có vai trò đặc biệt quan trọng, làm thay đổi diện mạo và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân ở cơ sở, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế và văn hóa - xã hội của các địa phương và cả nước trong giai đoạn 2000 đến 2010
Kết quả đó đã tạo ra sự chuyển biến về nhận thức trong các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội về vai trò, vị trí của văn hóa và trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa trong giai đoạn mới, góp phần quan trọng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc
Thực hiện chủ trương chung của Đảng - Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, Đảng
bộ huyện Lập Thạch đã lãnh đaọ nhân dân tích cực thực hiện và triển khai sâu
rộng phong trào xây dựng đời sống văn hóa Mặc dù trong quá trình thực hiện
gặp nhiều khó khăn nhưng những kết quả mà nhân dân Lập Thạch đã đạt được đã làm thay đổi bộ mặt xã hội của huyện đồng thời có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với việc phát triển kinh tế-chính trị-văn hóa xã hội của toàn tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 11Bên cạnh thành quả đạt được, quá trình triển khai thực hiện phong trào
xây dựng đời sống văn hóa của huyện Lập Thạch cũng còn tồn tại những bất cập nhất định do nhiều nguyên nhân mang lại Lập Thạch là một huyện miền núi còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp so với các huyện trên địa bàn tỉnh Hơn thế, địa bàn huyện rộng bao gồm hơn 20 đơn vị hành chính
xã vì thế quá trình quản lý còn gặp khó khăn, thiếu đồng bộ Nhân dân vẫn còn quen với nếp sống, quan điểm văn hóa thời kỳ bao cấp Vì vậy để vận động nhân dân thực hiện phong trào xây dựng đời sống văn hóa trên các lĩnh vực như: cá nhân tiêu biểu, gia đình văn hóa, làng văn hóa…sẽ gặp phải những khó khăn nhất định Tuy nhiên dưới sự chỉ đạo từ Đảng bộ Vĩnh Phúc, Đảng bộ huyện Lập Thạch đã vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng để đưa
ra những biện pháp đúng đắn thực hiện tốt phong trào và đem lại nhiều kết quả, để lại những bài học kinh nghiệm thiết thực
Chính vì vậy, Tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “ Đảng bộ huyện Lập Thạch (Tỉnh Vĩnh Phúc) lãnh đạo phong trào xây dựng đời sống văn hóa từ năm 2001 đến năm 2012” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng
cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hoá và công tác xây dựng đời sống văn hoá là một vấn đề hấp dẫn, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau
Những công trình, bài viết nghiên cứu chung về văn hoá, tiêu biểu là
các công trình: Văn hóa đổi mới (1994) của Thủ tướng Phạm Văn Đồng nêu
lên một số luận điểm về mối quan hệ giữa văn hóa và sự nghiệp đổi mới; Cơ
sở văn hóa Việt Nam và bản sắc văn hóa Việt Nam (1998) của GS Trần Quốc Vượng; Cơ sở văn hóa Việt Nam và bản sắc văn hóa Việt Nam của PGS.TS Trần Ngọc Thêm; Văn hoá và văn minh (1998) của tác giả Hồ Sỹ Quý; Văn hoá và cách tiếp cận mới (1991) của Phan Ngọc; Văn hoá và văn hoá thế kỷ
Trang 12mới của Nhà xuất bản Khoa học xã hội Các công trình này đã đưa ra nhiều
cách hiểu, định nghĩa khác nhau về văn hoá cũng như các cách tiếp cận nghiên cứu về văn hoá giúp tác giả có cách nhìn nhận, quan niệm đúng đắn về
sự phong phú, đa dạng của văn hoá
Để nhấn mạnh tầm quan trọng và vai trò của văn hoá trong thời kỳ đổi
mới đất nước đã có các công trình nghiên cứu như: Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của Nguyễn Khoa Điềm trên Tạp chí Tư tưởng văn hoá - 2001; Những điểm mới về văn hoá trong văn kiện Đại hội X của Bùi Đình Phong trên tạp chí Tư tưởng Văn hoá - 2006; Về phát triển văn hoá và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Phạm Minh Hạc và Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên); Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển văn hoá trong thời kỳ đổi mới của TS Nguyễn Danh Tiên
Những công trình nghiên cứu về đời sống văn hoá, tiêu biểu là các công
trình, bài viết: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa ở
nước ta (1999) của GS Hoàng Vinh; Những vấn đề về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở hiện nay (1985) của Nguyễn Văn Hy; Văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa của TS Nguyễn Hữu Thức; Một số giá trị văn hóa truyền thống với đời sống văn hóa ở cơ sở nông thôn hiện nay (1998) của Phạm Việt Long và Nguyễn Đạo Toàn; Các vùng văn hóa Việt Nam của Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận; Văn hóa các vùng truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ của Hội văn
nghệ dân gian Nghệ An; hay một số công trình mang tính tổng kết thực tiễn cuộc vận động xây dựng làng văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa cơ sở có
giá trị như: Xây dựng môi trường văn hóa, một số vấn đề lý luận và thực tiễn (2006) do Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương ấn hành; Về xây dựng môi trường văn hoá cơ sở (2004) của Tiến sĩ Văn Đức Thanh; Quá trình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá của Đảng bộ tỉnh Sơn La từ năm 1996 đến năm 2010
của Lâm Thị Thu Hương, luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam;
Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lãnh đạo xây dựng nếp sống văn hoá từ năm 2000 đến
Trang 13năm 2010 của Vi Thuỳ Dịu, luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Các công trình này đã đưa ra một số khái niệm, nội dung, những kinh nghiệm trong thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa
Những công trình nghiên cứu về văn hoá và xây dựng đời sống văn hoá
ở ở Vĩnh Phúc, đáng chú ý là các công trình, bài viết: Văn hiến làng xã vùng đất tổ của Vũ Kim Biên; Địa chí Vĩnh Phúc của Nhà xuất bản Khoa học xã hội; Di sản văn hoá phi vật thể Vĩnh Phúc của Sở văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc; Văn hoá ẩm thực Vĩnh Phúc của Nguyễn Xuân Lân; Địa chí văn hoá dân gian vùng đất tổ của Ngô Quang Nam - Xuân Thiêm (chủ biên); Truyền thống hiếu học và hệ thống văn miếu, văn từ văn chỉ ở Vĩnh Phúc của Nguyễn Hữu Mùi; Văn hoá các dân tộc thiểu số ở Vĩnh Phúc của Lâm Quý; Lễ hội Vĩnh Phúc của Lê Kim Thuyên; Mấy vấn đề phật giáo ở Tây Thiên, Tam Đảo, Vĩnh Phúc của Viện nghiên cứu Tôn giáo cùng một số bài đăng trên các báo và tạp chí như: Vĩnh Phúc tiếp tục thực hiện tốt phong trào Toàn dân xây dựng đời sống văn hoá của Trần Kiều Quỳnh đăng trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam; Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở đi vào chiều sâu của Đặng Quang Giới đăng trên Báo Vĩnh Phúc điện tử; Xây dựng đời sống văn hoá ở huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc của Minh Hiếu đăng trên
báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Tuy nhiên, đối với huyện Lập Thạch chưa có một công trình chuyên khảo nào trình bày về Phong trào này Liên quan đến phong trào xây dựng đời sống văn hóa có một số Kỷ yếu hội thảo và báo cáo đáng chú ý như: “Kỷ yếu Hội nghị tổng kết 20 năm phong trào xây dựng làng văn hóa (1989-2009)”
Kỷ yếu bao gồm hệ thống các báo cáo tổng kết và báo cáo tham luận của các đại biểu cơ sở trên địa bàn tỉnh, nêu rõ những mặt đã làm được, những tồn tại-hạn chế của việc thực hiện phong trào xây dựng làng, bản, khu dân cư văn hóa trong 20 năm đầu sự nghiệp đổi mới Ngoài ra, khi tìm hiểu về phong trào xây dựng đời sống văn hóa của huyện Lập Thạch từ năm 2001 đến năm 2012
Trang 14cũng có rất nhiều những Báo cáo tổng kết 10 năm, 5 năm và báo cáo hàng năm về vấn đề này
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên bước đầu đưa ra những đánh giá góp phần làm rõ hơn những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn đối với việc xây dựng đời sống văn hoá Những công trình, bài viết trên là nguồn tài liệu quý giá để giúp tác giả có cái nhìn toàn diện, so sánh và đưa ra những đánh giá sát thực Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Lập Thạch trong việc xây dựng đời sống văn hóa, cũng như đánh giá vai trò của xây dựng đời sống văn hóa đối với sự phát triển của kinh tế xã hội, chính trị ở địa phương từ năm 2001 đến năm 2012
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ nội dung, phương thức lãnh đạo thực hiện phong trào xây dựng đời sống văn hóa của Đảng bộ huyện Lập Thạch từ năm 2001 đến 2012 Nêu bật tính chủ động, sáng tạo của Đảng bộ huyện Lập Thạch trong quá trình vận dụng đường lối văn hóa vào điều kiện cụ thể ở địa phương
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp đầy đủ các tài liệu có liên quan đến đề tài, hệ thống hóa các
tư liệu khai thác được từ các công trình nghiên cứu, các tài liệu lưu trữ ở địa phương và cả những tài liệu khảo sát thực tế
- Quá trình Đảng bộ huyện Lập Thạch lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng về phong trào xây dựng đời sống văn hóa từ năm 2001 đến năm 2012
- Làm rõ quá trình thực hiện và những kết quả mà Đảng bộ huyện Lập Thạch đạt được trong việc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa trên một số lĩnh vực cụ thể như: xây dựng gương người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến; xây dựng gia đình văn hoá; Xây dựng làng, bản, ấp, khu phố văn hoá;
Trang 15Xây dựng công sở, doanh nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang… có nếp sống văn hoá…nhằm góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
- Đánh giá những ưu điểm, hạn chế của Đảng bộ huyện Lập Thạch trong quá trình thực hiện phong trào xây dựng đời sống văn hóa từ năm 2001 đến năm 2012
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu
- Những quan điểm, chủ trương của Đảng và Đảng bộ huyện Lập Thạch về xây dựng, phát triển văn hoá nói chung, xây dựng đời sống văn hoá nói riêng
- Quá trình Đảng bộ huyện Lập Thạch chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa từ năm 2001 đến năm 2012
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu, làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Lập Thạch lãnh đạo và thực hiện phong trào xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn huyện Từ đó chỉ ra những tác dụng cụ thể của việc thực hiện phong trào đối với tình hình kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội của huyện Lập Thạch
Giới hạn không gian: Địa bàn huyện Lập Thạch bao gồm 20 xã (bao gồm 02 thị trấn)
Giới hạn thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2012
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu đề tài
Nguồn tài liệu:
- Các văn kiện Đảng và nhà nước có liên quan đến phong trào xây dựng
đời sống văn hóa
-Các văn kiện của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc, Huyện Lập Thạch bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, quyết định, báo cáo…có
Trang 16liên quan đến việc thực hiện phong trào xây dựng đời sống văn hóa đang lưu giữ tại đại phương
- Các sách báo đã xuất bản, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, luận văn, luận án có liên quan tới đề tài
- Khảo sát thực tế
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các phương pháp: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp liên ngành và phương pháp khảo sát thực tế trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu
6 Đóng góp của Luận văn
- Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Lập Thạch trong việc chỉ đạo và thực hiện phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương Những kết quả đã đạt được của địa phương góp phần định hướng trong bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc đồng thời là một trong những nội dung quan trọng trong mục tiêu chiến lược của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
- Bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở của Đảng bộ tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng công tác này
ở địa phương
- Luận văn cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho công tác tuyên truyền vận động xây dựng nếp sống văn hóa mới ở cơ sở địa phương, có thể dùng tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy, học tập lịch sử địa phương trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Trang 17Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Lập Thạch
trong phong trào xây dựng đời sống văn hóa từ năm 2001 đến 2005
Chương 2: Đảng bộ huyện Lập Thạch tăng cường chỉ đạo phong trào
xây dựng đời sống văn hóa từ năm 2006 đến 2012 Chương 3: Một số Nhận xét và kinh nghiệm chủ yếu
Trang 18NỘI DUNG Chương 1:
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
HUYỆN LẬP THẠCH TRONG PHONG TRÀO XÂY DỰNG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1 Những điều kiện có ảnh hưởng đến phong trào xây dựng đời sống văn hóa huyện Lập Thạch và chủ trương của Đảng bộ
1.1.1 Điều kiện tự nhiên-kinh tế xã hội
Vị trí đi ̣a lý: Lập Thạch là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của
tỉnh Vĩnh Phúc, cách tỉnh lỵ Vĩnh Yên 20km, nằm ở vị trí từ 105°30′ đến 105°45′ kinh độ Đông và 21°10′ đến 21°30′ vĩ Bắc Có vị trí địa lý như sau:
+ Phía Bắc giáp huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang và dãy núi Tam Đảo
+ Phía Đông giáp huyện Tam Đảo và huyện Tam Dương
+ Phía Tây giáp huyện Sông Lô và thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ + Phía Nam giáp huyện Vĩnh Tường và một phần tỉnh Phú Thọ
Trong sách Đi ̣a chí Viê ̣t Nam, nhà sử học Phan Huy Chú có viết: “Lập Thạch thuộc phủ Tam Đái, trấn Sơn Tây, Lập Thạch là đất khoa mục nhất trong năm huyê ̣n Trong phủ thì Lập Thạch và Bạch Hạc là giàu nhất” Tổng
diện tích tự nhiên của huyê ̣n là 173,10 km2 Toàn huyện có 20 đơn vị hành chính gồm 2 thị trấn và 18 xã
Đi ̣a hình: Lập Thạch có cấu tạo địa tầng rất cổ Khu vực xung quanh
núi Sáng và các xã Quang Sơn, Hợp Lý, Bắc Bình, Liễn Sơn ở hữu ngạn sông Phó Đáy có diện tích hàng chục km2 có tuổi đại nguyên sinh Như vậy, huyện Lập Thạch nằm trên một địa tầng rất vững vàng, rất cổ xưa, nơi trẻ nhất cũng cách ngày nay trên 200 triệu năm Từ địa tầng đó đã xuất hiện hai thành tạo magma xâm nhập đáng kể là khối núi Sáng và các khối núi khác nằm hai bên
bờ sông Phó Đáy Địa bàn huyện có thể chia thành 3 tiểu vùng:
Trang 19- Tiểu vùng miền núi bao gồm 9 xã, thị trấn (Quang Sơn, Ngọc Mỹ, Hợp Lý, Bắc Bình, Vân Trục, Xuân Hòa, Thái Hòa, Liễn Sơn, TT Hoa Sơn)
- Tiểu vùng trũng ven sông, bao gồm 3 xã (Sơn Đông, Triệu Đề, Đồng ích)
- Tiểu vùng giữa, bao gồm 8 xã thị trấn (TT Lập Thạch, Liên Hòa, Bàn Giản, Xuân Lôi, Tử Du, Tiên Lữ, Đình Chu, Văn Quán)
Địa hình Lập Thạch khá phức tạp, thấp dần từ Bắc xuống Nam, ruộng đất xen kẽ những dãy đồi thấp Độ cao phổ biến từ 11 – 30 m là huyện thuộc vùng núi thấp, nhiều sông suối Địa hình bị chia cắt đa dạng, dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Về khí h ậu: Lập Thạch thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió, nhiệt độ
trung bình từ 22°C, số giờ nắng trung bình trong năm là 1.450 đến 1.550 giờ, lượng mưa trung bình 1.500-1.800 mm/năm, độ ẩm trung bình khoảng 84% Khí hậu Lập Thạch được chia làm 4 mùa rõ rệt Mưa nhiều vào mùa khô gây úng lụt vùng trũng do nước từ các dãy núi lớn, như Tam Đảo, và từ sông Lô, sông Đáy trút vào đồng chiêm, nhiều khi tràn ngập ra cả đường liên huyện, liên xã gây ngập lụp một số cụm dân cư tại các xã Mùa đông khí hậu khô hanh thậm chí gây hạn hán tại nhiều vùng đồi, núi trên địa bàn huyện
Về thủy văn : Phía Nam và phía Đông huyện Lập Thạch có sông Phó
Đáy ngăn cách huyện Vĩnh Tường và huyện Tam Dương với tổng lưu lượng khá lớn Ngoài ra, huyện còn có hệ thống các ao hồ phục vụ cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn Tuy nhiên lượng nước chủ yếu tập trung vào mùa mưa, mùa khô chỉ chiếm 10% tổng lượng dòng chảy Nguồn nước của huyện được đánh giá là phong phú dồi dào, tuy nhiên phân bố không đều trong năm Về mùa khô vẫn có thời điểm thiếu nước Để đảm bảo hài hoà nguồn nước cho phát triển kinh tế cần quan tâm xây dựng thêm những công trình điều tiết và có biện pháp khai thác nước ngầm bổ sung mới đảm bảo cho sản xuất và sinh hoạt
Trang 20Tài nguyên thiên nhiên: Theo khảo sát, đánh giá sơ bộ của các nhà địa
chất thì trên địa bàn Lập Thạch có khá nhiều loại tài nguyên khoáng sản nhưng đa phần chưa có chương trình nào điều tra, thăm dò một cách kỹ lưỡng
để đưa vào khai thác sử dụng một cách có hiệu quả:
Ngoài ra , huyê ̣n Lập Thạch có nhiều cảnh quan thiên nhiên có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái và du lịch nghỉ dưỡng: Cụm du lịch Sơn Đông - Đình Chu – Văn Quán – Xuân Lôi: Cụm di tích này gắn liền với đền thờ Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn, đền thờ thầy giáo Đỗ Khắc Chung, làng tiến sỹ, chùa Am xã Sơn Đông, xã Văn Quán có đình Ngõa, rừng Thề là nơi
tụ nghĩa của Trần Nguyên Hãn, xã Xuân Lôi (Kẻ Lối) có đền thờ Tam Thánh (Trần Hưng Đạo), chùa Giã Khách, đền thờ bà chúa Lối Trên địa bàn huyện còn có những cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, thơ mộng hấp dẫn khách du lịch như khu hồ Vân Trục với những cánh rừng nguyên sinh
Đi ̣a lý hành chính : Theo những điều ghi chép trong chính sử và Đại
Nam nhất thống chí, được Đào Duy Anh dẫn lại trong cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời, tên huyện Lập Thạch xuất hiện từ đời nhà Trần (1225-
1400) Trong giai đoạn này huyện mang tên Lập Thạch thuộc châu Tam Đới,
lộ Đông Đô Đến đời nhà Lê, nhà Nguyễn, huyện Lập Thạch vẫn thuộc châu Tam Đới sau đổi tên là phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây Tới năm Minh Mệnh thứ
2 (1821), phủ Tam Đới đổi tên là phủ Tam Đa và năm Minh Mệnh thứ ba (1822) thành lập tỉnh Vĩnh Yên Huyện Lập Thạch vẫn giữ nguyên tên cũ và địa lý hành chính cũ bất di bất dịch cho tới ngày nay
Trong thời kỳ này địa dư huyện Lập Thạch khá rộng, đến đầu thế kỷ 20 (năm 1903) huyện có tới 11 tổng (Bạch Lưu, Đạo Kỷ, Đông Định, Đông Mật,
Hạ ích, Hoàng Chỉ, Nhân Mục, Sơn Bình, Thượng Đạt, Tử Du và Yên Xá) và bao gồm tới 81 làng Tới năm 1927, do sáp nhập một số làng với nhau và phân bố lại một số tổng, huyện Lập Thạch còn 70 làng, vẫn giữ nguyên số lượng tổng tuy tổng Đông Định đổi tên thành tổng Đại Lượng và tổng Sơn Bình đổi thành tổng Bình Sơn
Trang 21Sau Cách mạng Tháng Tám Quốc hội và Chính phủ Việt Nam xoá bỏ cấp phủ và tổng là hai cấp trung gian, mở rộng cấp xã, nhỏ hơn tổng nhưng lớn hơn làng xã trước kia, bao gồm một số thôn xóm cũ Nhiều tên xã mới ra đời và có xã lấy tên các anh hùng dân tộc, các liệt sĩ cách mạng, các nhà hoạt động chống Pháp đặt tên xã mình (như xã Hải Lựu đổi là xã Hồng Phong, xã Xuân Hoà là xã Quang Trung) Một số xã là sự kết hợp 2 từ đầu hoặc 2 từ cuối, hoặc 1 từ đầu 1 từ cuối trong hai thôn hợp nhất (như: xã Quang Yên là 2 thôn Quang Viễn và Yên Thiết hợp lại; Phương Khoan là Phương Ngạc + Khoan Bộ; Triệu Đề là Triệu Xá + Đại Đề) Cũng có xã thống nhất lấy một tên tiêu biểu nhất, chung cho cả các thôn trong xã mình, (xã Tứ Yên gồm 4 thôn: Yên Lập, Yên Lương, Yên Phú, Yên Kiều; xã Đôn Nhân gồm 4 thôn: Đôn Hạ, Đôn Mục, Đôn Thượng, Đôn Nhân)
Trải qua một số lần điều chỉnh địa dư và tên gọi, đến năm 1968 (năm hợp nhất Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vinh Phú), huyện Lập Thạch còn
38 xã Trong suốt thời kỳ trực thuộc tỉnh Vĩnh Phú, huyện Lập Thạch có hai lần thay đổi địa lý hành chính: năm 1977 huyện Lập Thạch được hợp nhất với huyện Tam Dương thành một huyện lấy tên là Tam Đảo, huyện lỵ đóng tại phố Miễu (Hoa Lư), xã Liễn Sơn Năm 1978, huyện Tam Đảo lại được tách thành 2 huyện: Huyện Tam Dương hợp với huyện Bình Xuyên và lấy tên là Tam Đảo; còn huyện Lập Thạch giữa nguyên địa dư và địa danh cũ; huyện lỵ được chuyển về đóng tại Xuân Hòa
Từ ngày 1 tháng 1 năm 1996, huyện Lập Thạch có 39 đơn vị hành chính cấp cơ sở (38 xã và 1 thị trấn) Tới năm 2000 các khu dân cư thuộc các
xã, thị trấn trong huyện được đổi thành các thôn, làng và khu phố Toàn huyện có 422 thôn, làng, khu phố, trong đó có 389 thôn, 27 làng và 6 khu phố Đến năm 2003, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc công nhận các thôn và tổ dân phố hiện có của tỉnh Vĩnh Phúc, trong đó huyện Lập Thạch có 411 thôn thuộc 38 xã và 11 tổ dân phố thuộc thị trấn Lập Thạch Năm 2003, Chính phủ
Trang 22ra nghị định về việc thành lập thị xã Phúc Yên và huyện Tam Đảo, huyện Lập Thạch chuyển 3 xã Bồ Lý, Đạo Trù, Yên Dương về huyện Tam Đảo mới Sau khi điều chỉnh, từ ngày 1 tháng 1 năm 2004 huyện Lập Thạch còn lại 32.30,17
ha diện tích tự nhiên và 207.326 nhân khẩu với 36 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm 35 xã và 1 thị trấn), vẫn là huyện rộng nhất của tỉnh Vĩnh Phúc Ngày 23 tháng 12 năm 2008, tách thị trấn Tam Sơn và 17 xã: Bạch Lưu, Cao Phong, Đôn Nhân, Đồng Quế, Đồng Thịnh, Đức Bác, Hải Lựu, Lãng Công, Nhạo Sơn, Nhân Đạo, Như Thụy, Phương Khoan, Quang Yên, Tam Sơn, Tân Lập, Tứ Yên, Yên Thạch để thành lập huyện Sông Lô
Kinh tế: Huyê ̣n Lâ ̣p Tha ̣ch đang trên đà phát triển kinh tế toàn diê ̣n
Theo thống kê tốc độ tăng trưởng GTSX đạt 15,4%/năm trong toàn giai đoạn 2000-2010 Trong đó nông lâm nghiệp tăng 7,24%/năm; công nghiệp – xây dựng tăng 18,36%/năm và thương mại dịch vụ tăng 22,81%/năm
- Giai đoạn 2000-2005 đạt 14,91%/năm, trong đó nông lâm ngư nghiệp đạt 8,54%; công nghiệp – xây dựng đạt 23,49% và thương mại dịch vụ đạt 20,63%
- Giai đoạn 2005-2010 đạt 18,85%, trong đó nông lâm ngư nghiệp đạt 7,5%; công nghiệp – xây dựng đạt 16,78% và thương mại dịch vụ đạt 28,75%
Dân số, lao động: Dân số trung bình năm 2010 là 118.772 người, trong
đó thành thị có 12.515 người (chiếm 10,54% dân số toàn huyện), nông thôn 106.257 người, chiếm 89,46% Mật độ dân số trung bình 686 người/km2 Dân
cư phân bố không đồng đều theo đơn vị hành chính Mật độ dân số cao nhất là thị trấn Lập Thạch (1690 người/km2), tiếp đến là xã Triệu Đề (1247 người/km2) Thấp nhất là xã Vân Trục (341 người/km2)/ng, số lao động trong
độ tuổi năm 2010 là 63.556 người chiếm trên 53% tổng dân số Trong đó lao động nông lâm nghiệp, thuỷ sản có 48.081 người (chiếm 75,65%), lao động công nghiệp - xây dựng 7.228 người (chiếm 11,37%) còn lại là lao động thương mại - dịch vụ chiếm 12,98% với 8.247người Trên địa bàn huyện có 7 dân tộc anh em sinh sống: Kinh, Dao, Cao Lan, Sán Dìu, Tày, Nùng, Hoa
Trang 23Về văn hóa, Lập Thạch là vùng đất cổ kính nhất của tỉnh Vĩnh Phúc, là
nơi sinh tụ của người Việt cổ Có tên từ thế kỷ XIII, là nơi sản sinh ra nhiều anh hùng và danh nhân văn hoá làm phong phú thêm cho lịch sử phát triển của huyện, của tỉnh Vĩnh Phúc qua các thời kỳ chống ngoại xâm và xây dựng đất nước Những dấu ấn tín ngưỡng nguyên thủy của cư dân bản địa qua trường kỳ lịch sử hiện nay đang được ngày càng tái hiện lại
Trên địa bàn huyện có trên 151 di tích lịch sử văn hóa ở khắp các xã, thị trấn, trong đó có 100 đình chùa, 14 miếu, 24 đền, 06 nhà thờ họ, 07 các di tích khác như lăng mộ, điếm Có 48 di tích lịch sử văn hóa trong đó có 12 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 31 di tích xếp hạng cấp tỉnh Với bề dày văn hóa, nhân dân Lâ ̣p Tha ̣ch luôn ý th ức giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc, duy trì, phát triển dòng văn học dân gian truyền thống và tạo nên những công trình văn hoá nghệ thuật đặc sắc có giá trị cho muôn đời sau Những làn điệu dân ca như hát xoan ghẹo, hát ví, hát trống quan, hát chèo, hát
ca trù, v.v biểu diễn trong các dịp lễ tết, hội hè, đình đám được nhân dân rất yêu thích Kho tàng ca dao, tục ngữ rất phong phú, đa dạng, phản ánh kinh nghiệm sản xuất, chế giễu những thói hư tật xấu trong xã hội, thể hiện tính sáng tạo thông minh của người dân Lâ ̣p Tha ̣ch
Những truyền thống văn hiến cũng như giá trị văn hóa các dân tộc ở Lập Thạch chính là nguồn tài sản vô giá, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của Lâ ̣p Tha ̣ch trong tương lai
1.1.2 Tình hình xây dựng đời sống văn hóa trước năm 2001
Trong hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986 - 2000), dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Lập Tha ̣ch đã đoàn kết một lòng vượt qua thử thách, giành được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực Kinh tế phát triển tương đối toàn diện và đạt mức tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
có xu hướng tăng lên, nông lâm nghiệp giảm xuống; cơ chế kinh tế mới được
Trang 24khẳng định và đem lại hiệu quả rõ rệt Một số công trình quan trọng được xây dựng và đưa vào sử dụng phục vụ cho sự phát triển nền kinh tế - xã hội của tỉnh Đặc biệt, trong lĩnh vực văn hoá, xã hội đã có chuyển biến tích cực, nhất
là trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Đảng bộ tỉnh đã tập trung chỉ đạo các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị
xã hội tập trung vận động nhân dân xây dựng nếp sống văn hoá và xây dựng nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ngày 5 tháng 4 năm 1988 về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” với các tiêu chí:
- Quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng, khu dân cư, nhà ở, mạng lưới dịch vụ sản xuất và thương nghiệp, quy hoạch hệ thống các công trình văn hoá xã hội và phúc lợi công cộng (như: trường học, bệnh xá, trạm xá, nhà trẻ, mẫu giáo, nhà văn hoá thông tin, công trình thể dục, thể thao…) phù hợp với điều kiện của từng xã, phường, thị trấn, gắn chặt với công tác quốc phòng, an ninh
- Tổ chức thực hiện mục tiêu no ấm, đoàn kết, văn minh, tiến bộ Tích cực thực hiện sinh đẻ có kế hoạch và bố trí dân cư hợp lý; phát triển hệ thống truyền thông và hệ thống giáo dục phổ thông, xây dựng nếp sống văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, phát huy truyền thống yêu quê hương đất nước, thực hành sống lành mạnh, tiết kiệm, loại bỏ những hủ tục mê tín, dị đoan (như ma chay, cưới xin lãng phí, rượu chè, cờ bạc,…)
- Dân chủ hoá và công khai hoá công tác quản lý kinh tế, quản lý xã hội, làm cho nhân dân được thực sự làm chủ về kinh tế, chính trị và xã hội, đề cao kỷ luật, pháp luật, kỷ cương
Từ năm 1991 đến 2000, vấn đề xây dựng đời sống văn hoá trong nhân dân tiếp tục được Đảng bộ quan tâm, chú trọng Với chủ trương tiếp tục xây dựng nếp sống văn hoá cơ sở, lấy xóm, thôn, tổ dân phố làm địa bàn thực hiện các hoạt động văn hoá ở khu dân cư, từ giữa năm 1993 công tác xây dựng đời sống văn hoá mà trọng tâm là xây dựng làng xã, phường, thị trấn văn hoá có
Trang 25bước phát triển vượt bậc so với các giai đoạn trước đó, Ban Chấp hành Đảng
bô ̣ huyê ̣n Lâ ̣p Tha ̣ch đã triển khai Chương trình văn hoá theo tinh thần nghị
quyết Trung ương 4, khoá VII ngày 14/1/1993 “Về một số nhiệm vụ văn hoá văn nghệ những năm trước mắt”; Uỷ ban nhân dân các cấp đã ban hành
Quyết định kiện toàn Ban chỉ đạo nếp sống văn hoá, nhằm đẩy mạnh phong trào xây dựng nếp sống văn hoá ở cơ sở, nâng cao chất lượng văn hoá hướng vào mục tiêu chuyển đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng nông thôn mới có đủ 5 công trình, thành lập trung tâm văn hoá thể dục thể thao, kiện toàn các Ban văn hoá xã Được sự chỉ đạo sát sao của Đảng bộ huyê ̣n, sự vào cuộc tích cực của các đoàn thể, nhận thức về xây dựng nếp sống văn hoá
đã được nâng cao trong cán bộ, đảng viên và đông đảo quần chúng nhân dân Ban chỉ đạo xây dựng làng xã văn hoá được thành lập, chỉ đạo triển khai xây dựng làng văn hoá theo 4 tiêu chuẩn Quy định của UBND tỉnh Vĩnh Phúc: Kinh tế phát triển, có cảnh quan đẹp; tổ chức tốt các hoạt động văn hoá, thông tin, thể thao, bảo tồn và phát huy tốt các giá trị văn hoá truyền thống; xây dựng nếp sống, lối sống văn minh, có 60% số gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá; chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương Đồng thời phát động các gia đình học tập, đăng ký xây dựng gia đình văn hoá theo 4 tiêu chuẩn: Gia đình hoà thuận, hạnh phúc, tiến bộ, giữ gìn phong tục tốt đẹp; làm kinh tế giỏi, thực hiện tốt kế hoạch hoá gia đình và tổ chức cuộc sống gia đình khoa học, các thành viên trong gia đình đang độ tuổi đi học đều được đến trường Không có người mắc các tệ nạn xã hội; đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng thôn, làng, tổ dân phố theo nếp sống văn hoá; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước và các quy định của địa phương Phong trào xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá đã trở thành nội dung trọng tâm của cuộc vận động xây dựng và thực hiện nếp sống văn hoá.[66, tr.2]
Việc tổ chức thực hiện các phong trào trên trong địa bàn huyện đã kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của
Trang 26dân tộc, của địa phương, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá của nhân loại, nhiều hủ tục, mê tín dị đoan trong việc cưới, việc tang, lễ hội bước đầu bị loại trừ, nhiều loại văn hoá phẩm phản động, đồi truỵ từng bước bị đẩy lùi Đời sống văn hoá có nhiều khởi sắc Cùng với việc lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc vận động “xây dựng xã, phường, thị trấn, khu dân cư văn hoá” và “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”, cấp
uỷ, chính quyền các địa phương từng bước cho bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá, phục dựng một số lễ hội truyền thống nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác giáo dục truyền thống cho nhân dân các dân tộc trong huyê ̣n Các hoạt động thông tin, báo chí, phát thanh và truyền hình, văn hoá văn nghệ
đã bám sát chủ trương của Đảng và Nhà nước, nêu gương các nhân tố mới và các điển hình tiên tiến; đồng thời, phê phán các hiện tượng tiêu cực, đấu tranh chống tham nhũng, góp phần làm lành mạnh các quan hệ xã hội
Tuy nhiên dưới sự lãnh đa ̣o của Đảng bô ̣ huyê ̣n Lâ ̣p Tha ̣ch bên ca ̣nh những thành công bước đầu trong công tác xây dựng đời sống văn hóa vẫn còn nhiều khó khăn hạn chế : Dưới tác động của nền kinh tế thị trường cùng
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng giao lưu trên các lĩnh vực đã làm cho sự thâm nhập của văn hoá với lối sống phương Tây vào xã hội Việt Nam nói chung và huyê ̣n Lâ ̣p Tha ̣ch nói riêng, với những tác động đa chiều, gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc nhìn nhận các giá trị truyền thống, nhất là thuần phong mỹ tục trong đời sống của các tầng lớp nhân dân như lối sống chạy theo đồng tiền, thị hiếu không lành mạnh Nhiều gia đình cán bộ có chức, có quyền tổ chức đám tang, đám giỗ, đám cưới linh đình Phong trào xây dựng gia đình, làng, xã văn hoá phát triển còn chậm, chưa thật vững chắc,
số làng, xã, gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá còn thấp Đời sống văn hoá và mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân còn thấp, tình trạng phục hồi đình chùa, miếu, xây nhà thờ,…kéo theo các hoạt động mê tín dị đoan vẫn diễn ra ở một
số địa phương, các hủ tục trong việc cưới, việc tang và lễ hội đôi lúc chưa
Trang 27được ngăn chặn kịp thời, các tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, các sản phẩm văn hoá độc hại xâm nhập vào trong đời sống nhân dân diễn biến ngày càng phức tạp Thiết chế văn hoá cơ sở chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức, ở nhiều địa phương cơ sở vật chất phục vụ cho nhu cầu vui chơi giải trí còn thiếu, xuống cấp, thiếu kinh phí hoạt động, đội ngũ cán
bộ làm công tác văn hoá còn thiếu về số lượng, hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác Phong trào văn hoá văn nghệ diễn ra chưa thường xuyên Các hình thức sinh hoạt dân gian, truyền thống còn diễn ra tự phát, chưa có sự quản lý của cơ quan chức năng
Trong thời kỳ đất nước đang trên con đường đổi mới, quá trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam đã tạo ra những điều kiện thuận lợi, những cơ hội lớn đối với việc giao lưu và kế thừa phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tuy nhiên, trong dòng chảy hội nhập quốc tế cũng gây ra những khó khăn, thách thức không nhỏ đối với việc bảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc cũng như trong xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh mang nét riêng của đất nước nói chung của tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Lập Thạch nói riêng; nhất là trong việc cưới, việc tang và lễ hội, cũng như trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật truyền thống của các dân tộc
Do vậy, đòi hỏi công tác xây dựng đời sống văn hóa của huyện trong thời gian tới cần có sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc,
sự phối kết hợp giữa các sở, ban, ngành, các địa phương tập trung xây dựng đời sống văn hóa theo hướng xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, xây dựng nếp sống văn hóa văn minh và hệ thống thiết chế văn hóa hiện đại đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân để nó thực sự là mục tiêu và động lực cho sự phát triển
Trang 281.1.3 Chủ trương của Đa ̉ ng và Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về phong trào xây dựng đời sống văn hóa (2001 - 2005)
Chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam
Bước vào thời kỳ đổi mới, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, cùng với đổi mới kinh tế - xã hội, Đảng đã có nhận thức mới, quan điểm mới
về văn hoá Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hoá, Đại hội VI khẳng định, đồng thời với xây dựng kinh tế, phải coi trọng các vấn đề văn hoá, tạo ra môi trường văn hoá thích hợp cho sự phát triển
Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội xác định một trong 6 đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa là có nền văn hoá đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Cương lĩnh chủ trương xây dựng nền văn hoá mới, tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú, đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến
bộ, khẳng định và biểu dương những giá trị chân chính Cương lĩnh khẳng định tiếp tục tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá, làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại Chống tư tưởng, văn hoá phản tiến bộ, trái với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội
Tháng 1-1993, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa
VII họp bàn và ra Nghị quyết số 04-NQ/TW Về một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt Nghị quyết đánh dấu sự phát triển trong nhận
thức của Đảng về vị trí và vai trò của văn hóa khi khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” [19, tr.51] Từ thực tiễn cuộc sống, Đảng khẳng định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã
Trang 29hội, thể hiện tầm cao, chiều sâu sự phát triển và những giá trị trường tồn của dân tộc mà còn là nguồn nội lực nội sinh thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển
Nghị quyết đề ra nhiệm vụ trung tâm của văn hóa, văn nghệ những năm giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX là “góp phần xây dựng con người Việt Nam có trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vững vàng ngang tầm với sự nghiệp đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh” [19, tr.53]
Về nhiệm vụ cơ bản và lâu dài của nền văn hóa, văn nghệ dân tộc, Hội nghị chỉ rõ: Phải xây dựng và phát triển nền văn hóa mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa - một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đây là sự nghiệp cao cả, trọng đại, nhưng cũng rất khó khăn, do vậy phải tiến hành từng bước, có mục tiêu rõ ràng nhằm xây dựng con người Việt Nam có trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống ngang tầm sự nghiệp đổi mới; trên cơ sở đó, tập trung vào một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệ những năm trước mắt, lấy việc sáng tạo những giá trị mới và việc bồi dưỡng và phát huy mọi tiềm năng làm mục tiêu lớn nhất Hội nghị cũng xác định những nguyên tắc và tư tưởng chỉ đạo, đề ra các biện pháp nhằm thúc đẩy sự nghiệp văn hóa phát triển
Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII (7/1998) khẳng định: Văn hoá là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Thiếu nền tảng tinh thần lành mạnh và tiến bộ thì không có
sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hoá, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện
Nghị quyết nêu 5 quan điểm về xây dựng và phát triển văn hoá thời kỳ mới, đó là: Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Xây dựng và phát triển nền văn hoá là sự nghiệp của toàn dân, do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò
Trang 30quan trọng Văn hoá là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng
Trên cơ sở quan điểm chung, Đảng đề ra 10 nhiệm vụ cụ thể trong công tác xây dựng nền văn hóa tiên tiến đạm đà bản sắc văn hóa dân tộc: Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính: có tinh thần yêu nước, có ý thức tập thể, có lối sống lành mạnh; Xây dựng môi trường văn hoá; Phát triển sự nghiệp văn học - nghệ thuật; Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá; Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ; Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng; Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số.; Chính sách văn hoá đối với tôn giáo; Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá; Củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hoá
Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ nêu trên, đòi hỏi phải quán triệt 4 giải pháp cơ bản: Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước với thi đua yêu nước và phong trào: "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá"; Tăng cường xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách về văn hoá; Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hoá; Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hoá
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII và Chỉ thị số CT/TW ngày 12/8/1998 của Bộ Chính trị, trong phiên họp thường kỳ tháng 8
38 1998, Chính phủ tập trung bàn thảo và thông qua Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII Ngày 17/9/1998 Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 Với những nội dung cụ thể là: Tổ chức tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII; xây dựng các đề án phát triển văn hóa, văn học nghệ thuật, thông tin; xây dựng luật pháp và các cơ chế, chính sách về văn hóa
Trang 31Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc là sự cụ thể hóa một bước Nghị quyết, đồng thời là bước khởi động đầu tiên đưa Nghị quyết vào cuộc sống Điều đó cũng chứng tỏ quyết tâm của Đảng trong việc đưa sự nghiệp văn hóa lên một tầm cao mới ngang tầm với đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (tháng 7/2004) đã khẳng định Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa VIII thực sự có ý nghĩa chiến lược về văn hóa
của Đảng ta Nghị quyết đã đề cập toàn diện đến những nội dung cơ bản của công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở như xây dựng nếp sống văn hóa mới trong sáng, lành mạnh, văn minh; tổ chức các hoạt động thông tin cổ động, phong trào văn nghệ quần chúng, xây dựng các thiết chế văn hóa như thư viện, bảo tàng, bưu điện văn hóa…Đồng thời đã khơi dậy và phát huy sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, mọi nguồn lực xã hội để xây dựng đời sống văn hóa
Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc:
Quán triệt quan điểm, chủ trương, đường lối, của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá và xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đời sống văn hoá trên địa bàn tỉnh như: Nghị quyết số 11-NQ/TU, ngày 11/11/ 2002 của Tỉnh
uỷ “về một số nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng trong thời gian tới” Nghị quyết số 13-NQ/TU, ngày 03/12 /2002 của Tỉnh uỷ “về phát triển khoa học công nghệ và môi trường đến năm 2010” Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 29/7/2002 của Tỉnh uỷ “về phát triển giáo dục – đào tạo thời kỳ 2001- 2005” Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 23/10/2002 của Tỉnh uỷ “về xây dựng gia đình văn hoá – làng văn hoá, đơn vị văn hoá đến năm 2005”.Chỉ thị
Trang 32số 03-CT/TU, ngày 04/02/2002 của Tỉnh uỷ “về việc đẩy mạnh thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh” Nghị quyết số 04 -NQ/TU, ngày 29/7/2002 của Tỉnh uỷ “về phát triển Giáo dục - Đào tạo thời kì 2001- 2005” Nghị quyết số 13-NQ/TU, ngày 03/12/2002 của Tỉnh uỷ “về phát triển khoa học công nghệ và môi trường đến năm 2010” Nghị quyết số 15- NQ/TU, ngày 11/6/2003 của Tỉnh uỷ “về đẩy mạnh công tác khuyến học, phát triển các trung tâm học tập cộng đồng, hướng tới xây dựng một xã hội học tập” Chỉ thị số 14-CT/TU, ngày 05/8/2005 của Tỉnh uỷ “về việc xây dựng tiêu chuẩn đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
Các văn bản này đã đề cập đến một số nội dung của công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở như xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội
Đặc biệt, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2000 -
2005 đã đề cập toàn diện các nội dung của công tác xây dựng đời sống văn hóa như sau: Đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở; nâng cao chất lượng phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hoá; Tiếp tục thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập và phát triển; Khuyến khích nhân dân luyện tập thể dục thể thao, nâng cao sức khoẻ Tăng cường công tác quản lý, nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá, thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, phát thanh và truyền hình Xã hội hoá các lĩnh vực văn hoá, xây dựng cơ chế khuyến khích, thu hút đầu tư vào lĩnh vực văn hoá [1, tr.50]
Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ tỉnh về vấn đề xây dựng đời sống văn hóa, góp phần nâng cao chất lượng đời sống văn hóa vật chất và tinh thần cho nhân dân, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã ra Nghị quyết số 09-
NQ/TU về xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, đơn vị văn hoá đến năm
2005 Nghị quyết xác định phấn đấu đến năm 2005: Toàn tỉnh có 80% trở lên
Trang 33số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa; 50% trở lên số làng (thôn, bản, khu phố) đạt tiêu chuẩn văn hóa; 100% xã, phường, thị trấn quy hoạch xong đất dành cho xây dựng thiết chế văn hóa thể thao xã và làng (thôn, bản, khu phố); 80% số xã, phường, thị trấn xây dựng được nhà văn hóa xã; 100% làng (thôn, bản, khu phố) xây dựng và hoàn thiện hương ước làng, quy ước khu phố Đồng thời ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 11 tháng 6 năm
2003 về đẩy mạnh công tác khuyến học, phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng, hướng tới xây dựng một xã hội học tập Nghị quyết chỉ rõ: Tập
trung huy động các nguồn lực xã hội, nhất là các nguồn lực trong nhân dân để đầu tư xây dựng, hoàn thiện các thiết chế văn hóa cơ sở, trong đó ưu tiên nguồn vốn tập trung để hoàn thiện các công trình trọng điểm về văn hóa, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân.[77, tr.5]
1.2 Sự chỉ đạo thực hiện phong tra ̀o xây dƣ̣ng đời sống văn hóa
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Lập Thạch
Ngày 16/7/1998, Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng (khoá VIII) ban hành Nghị quyết “Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII nêu 5 quan điểm chỉ đạo, 10 nhiệm vụ cụ thể và 4 giải pháp lớn
Dựa vào kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Huyện
uỷ xây dựng kế hoạch nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết
Tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt huyện và cơ sở học tập, quán triệt Nghị quyết, thành phần gồm các đồng chí Uỷ viên BCH Đảng bộ huyện; báo cáo viên cấp huyện; trưởng, phó các phòng ban, ngành, đoàn thể; thủ trưởng các
cơ quan, đơn vị của tỉnh, Trung ương đóng trên địa bàn; lãnh đạo và giảng viên trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện; Bí thư, phó bí thư Đảng uỷ, chủ tịch, phó chủ tịch UBND, cán bộ văn hoá thông tin các xã, thị trấn; bí thư các chi Đảng bộ trực thuộc
Trang 34Sau hội nghị cấp huyện, Huyện ủy chỉ đạo các chi, đảng bộ cơ sở tổ chức nghiên cứu quán triệt nội dung Nghị quyết tới toàn thể cán bộ, đảng viên
và tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân Kết quả 100% chi, đảng bộ cơ sở triển khai quán triệt, học tập Nghị quyết với hơn 91% cán bộ, đảng viên tham
dự Xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để vận dụng các nội dung Nghị quyết vào tình hình thực tế của địa phương, đơn vị
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể đã tổ chức các hội nghị lồng ghép để triển khai đến đoàn viên, hội viên với hơn 85% lượt hội viên tham gia Trên
cơ sở các văn bản chỉ đạo của huyện, cấp uỷ, các ngành đoàn thể đã cụ thể hoá việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) bằng các kế hoạch, chương trình hành động cụ thể, thiết thực phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, tiêu biểu như: UBND huyện phát động phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”; Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”; Hội phụ nữ với phong trào “Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”; phòng Lao động TB&XH với công tác xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm Cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, nhiệm vụ phát triển văn hoá được xác định là một trong các chỉ tiêu quan trọng được kiểm điểm, đánh giá hàng năm của cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể từ huyện đến cơ sở [62, tr.4]
Để cụ thể hoá việc triển khai thực hiện Nghị quyết trung ương 5 (khoá VIII), các kết luận, chỉ thị của Đảng về văn hoá, Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện đã ban hành các văn bản chỉ đạo các địa phương trên địa bàn huyện thực hiện tốt phong trào xây dựng đời sống văn hóa:
- Ngày 18/4/2002, Ban Thường vụ Huyện uỷ Lập Thạch ban hành Nghị quyết số 05-NQ/HU về việc xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, mừng thọ, lễ hội
Trang 35- Ngày 18/7/2003, UBND huyện Lập Thạch xây dựng chương trình số 376/CT-UB về xây dựng Gia đình văn hóa - làng - đơn vị văn hóa đến năm
2005 và những năm tiếp theo
- Tại kỳ họp thứ 9, HĐND huyện Lập Thạch khóa XVI ban hành Nghị quyết số 11/2003/NQ-HĐ về xây dựng Gia đình văn hóa - làng - đơn vị văn hóa đến năm 2005 và những năm tiếp theo
Như vậy, những chủ trương chỉ đạo của huyện ủy Lập Thạch đã góp phần là “kim chỉ nam” định hướng cho mọi hoạt động của cấp cơ sở Nhờ vậy
từ năm 2001 đến năm 2005, phong trào xây dựng đời sống văn hóa tại địa phương đã thu được những kết quả nhất định, làm thay đổi dần tình hình kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội của huyện Lập Thạch theo chiều hướng tích cực
1.2.2 Quá trình thực hiện và kết quả đạt được
Trong 5 năm (2001- 2006) qua quán triệt Nghị quyết của Trung ương Đảng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, HĐND huyện; phong trào xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn huyện Lập Thạch đã được triển khai sâu rộng và bước đầu đạt được những thành tựu, biểu hiện trên lĩnh vực sau:
Hoạt động thông tin và tuyên truyền về xây dựng đời sống văn hóa
Đảng bộ huyê ̣n Lâ ̣p Tha ̣ch nhận thức rõ hoạt động thông tin, tuyên truyền, cổ động là một bộ phận quan trọng của công tác tuyên truyền, giáo dục của Đảng nhằm tuyên truyền phổ biến những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân, qua đó, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng địa phương
Từ nhận thức đó, Đảng bộ, chính quyền các cấp trong huyện đã chú trọng hiện đại hoá cơ sở vật chất - kỹ thuật và các phương tiện thông tin đại chúng Hệ thống thông tin tuyên truyền được tăng cường đầu tư Đài phát thanh huyện, xã được đầu tư nâng cấp, mua sắm thêm nhiều trang thiết bị mới
Trang 36hiện đại nhằm nâng cao chất lượng và tăng thời lượng các buổi phát thanh: 100% đài truyền thanh xã, thị trấn được đầu tư ngân sách để xây dựng hệ thống cơ sở vật chất đảm bảo yêu cầu của công tác phát thanh, truyền thanh
Tổ chức tiếp âm đài 3 cấp vào 3 buổi trong ngày; các đài phát thanh xã, thị trấn đã xây dựng những chương trình riêng, chương trình phát thanh chuyên
đề để kịp thời phản ánh mọi mặt của đời sống địa phương.[75, tr.6]
Bên cạnh hoạt động của hệ thống đài phát thanh-truyền thanh huyện, các xã, thị trấn, hoạt động thông tin tuyên truyền cổ động còn có sự đóng góp tích cực, hiệu quả của các đội thông tin lưu động huyện thông qua các chương trình lưu động để truyền tải chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương tới quần chúng nhân dân Những khẩu hiệu, panô, tranh cổ động, cổng chào cũng góp phần rất quan trọng cho công tác tuyên truyền
Hoạt động thông tin tuyên truyền cổ động từ 2001 đến 2005 được tiến hành rộng khắp từ huyê ̣n đến cơ sở, bằng nhiều hình thức khác nhau đã thu hút sự quan tâm của đông đảo quần chúng nhân dân Năm 2002 đội thông tin lưu động của huyện đã dàn dựng được 2 kịch bản thông tin đi biểu diễn ở cơ
sở 45 buổi Nội dung chủ yếu về phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới, phòng chống các tệ nạn xã hội-bạo lực gia đình Năm 2005 biểu diễn được
52 buổi thu hút 93.578 lượt xem Trung tâm văn hóa huyện Lập Thạch cũng thường xuyên tôt chức các triển lãm hình ảnh và hiện vật phục vụ hoạt động tuyên truyền theo những nội dung được chỉ định.[78, tr.7]
Hoạt động thông tin luôn tập trung bám sát các yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, như tuyên truyền các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, của tỉnh, địa phương, tuyên truyền về các cuộc vận động, các phong trào do các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương tổ chức theo phương châm thiết thực, hiệu quả, tránh lãng phí, phô trương Hoạt động tuyên truyền, kẻ
vẽ khẩu hiệu, panô cổ động trực quan đã góp phần tạo nên sự khởi sắc bộ
Trang 37mặt nông thôn, làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần của các tầng lớp nhân dân Theo thống kê năm 2003 toàn huyện vẽ được 7.857 lượt khẩu hiệu trên tường trong đó có 2.504 lượt khẩu hiệu phục vụ cho bầu cử Quốc hội khóa XI [75, tr5]
Ngoài ra, công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện xây dựng đời sống văn hóa còn được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức như: Tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh; thông qua các buổi giao lưu văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của các Chi hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội thi tìm hiểu Quy ước làng văn hóa Hoạt động sơ kết, tổng kết và biểu dương những gương điển hình tiên tiến được thực hiện thường xuyên, đã kịp thời động viên những cá nhân, tập thể có nhiều thành tích trong quá trình thực hiện, góp phần làm cho các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các ban ngành, đoàn thể, đặc biệt là người dân nhận thức rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc xây dựng đời sống văn hoá trong đời sống xã hội, nhất là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới hiện nay Qua đó, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, giảm tệ nạn xã hội, lành mạnh hóa môi trường
Để đáp ứng nhu cầu về thông tin và nhu cầu đọc sách báo của nhân dân, nhất là các đối tượng thanh thiếu nhi, người cao tuổi, hưu trí, các thư viện, nhà văn hoá và các điểm bưu điện văn hoá xã đã tích cực khai thác nguồn sách báo, tạp chí của Trung ương, tỉnh, địa phương để đưa vào phục vụ nhân dân Trên địa bàn huyện có 6 thư viện phục vụ nhu cầu độc giả Trong
đó có 1 thư viện trung tâm huyện và 5 thư viện cấp xã (Sơn Đông, Đình Chu, Ngọc Mỹ, Quang Sơn, thị trấn Lập Thạch) Hằng năm, thư viện trung tâm huyện đều phân bổ các sách, báo tạp chí về thư viện địa phương nhằm đẩy mạnh tuyên truyền kịp thời các nội dung, chủ trương của Đảng và Nhà nước Năm 2005, thư viện huyện mở cửa phục vụ bạn đọc 467 buổi với 7.564 lượt
Trang 38bạn đọc, đổi và cấp 312 thẻ, luân chuyển 26.853 cuốn sách, báo xuống cơ sở Ngoài ra, trung tâm văn hóa huyện Lập Thạch phối hợp với Ban tuyên giáo huyện cũng biên soạn các cuốn sách, tập thơ, bài báo nhằm tuyên truyền cho phong trào xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn huyện [78, tr.7] Tính đến năm 2004, có 23 bài báo viết về phong trào xây dựng đời sống văn hóa của huyện Lập Thạch chủ yếu được đăng tải trên báo Vĩnh Phúc, cổng thông tin điện tử của Tỉnh ủy, huyện ủy… Như vậy, hoạt động thông tin, tuyên truyền trên đã giúp người dân trên địa bàn huyện hiểu được bản chất của xây dựng đời sống văn hóa mới Từ đó nhân dân tích cực hưởng ứng, tham gia góp phần thúc đẩy phong trào xây dựng đời sống văn hóa của huyện Lập Thạch đạt kết quả cao
Hoạt động xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, khu phố-đơn
vị văn hóa:
Đây là hoa ̣t đô ̣ng tro ̣ng tâm của phong trào xây dựng đời sống văn hóa Trong những năm qua Huyện uỷ - UBND huyện đã có các văn bản hướng dẫn triển khai cuộc vận động đến cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể từ huyện đến cơ sở Tổ chức nhiều hội nghị chuyên đề, các buổi toạ đàm để quán triệt quan điểm đường lối của Đảng về xây dựng Gia đình Văn hoá - Làng Văn hoá (GĐVH-LVH) và triển khai thực hiện nhiệm vụ đến toàn thể cán bộ chủ chốt, lãnh đạo các cơ quan đơn vị, thủ trưởng các ngành, đoàn thể và cán bộ, đảng
viên của các cơ quan thuộc Huyện uỷ, UBND huyện
Về xây dựng làng văn hoá: Việc xây dựng làng văn hoá được các cấp
uỷ, chính quyền triển khai đồng bộ, rộng khắp Năm tiêu chuẩn làng văn hoá
bao gồm: 1 Đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển; 2.Có đời sống văn hóa lành mạnh, phong phú; 3.Môi trường cảnh quan sạch đẹp; 4.Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; 5.Có tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng
được tuyên truyền sâu rộng đến mọi tầng lớp dân cư, mọi người, mọi nhà
Trang 39đồng tình hưởng ứng và nâng dần ý thức tự giác thực hiện, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống văn minh Huyện Lập Thạch cũng triển khai kế hoạch chỉ đạo 5 điểm xây dựng làng văn hoá cấp tỉnh ở các xã: Đình Chu, Sơn Đông, Bàn Giản, Vân Trục, Đồng Ích Đến năm 2005, toàn huyện có 118/214 thôn đạt danh hiệu thôn dân cư văn hoá, đạt 55% Trong đó có 16 thôn dân cư được khen thưởng và cấp giấy công nhận khu dân cư văn hoá 3 năm, có 7 thôn được đề nghị Tỉnh công nhận danh hiệu thôn văn hoá.[82, tr.8]
Hàng năm, Ban chỉ đạo huyện đều hướng dẫn cho cơ sở tổ chức tốt việc đăng ký xây dựng các danh hiệu văn hoá Tại liên hoan đại biểu các Làng, xã, GĐVH của Huyê ̣n Lâ ̣p Tha ̣ch năm 2005, toàn huyện có 35 làng đạt tiêu chuẩn LVH cấp xã , 10 làng đạt tiêu chuẩn LVH cấp huyện và 5 làng đạt tiêu chuẩn LVH cấp tỉnh Ban chỉ đạo phong trào thường xuyên kiểm tra đánh giá chất lượng phong trào ở cấp cơ sở.[82, tr.12] Kết quả xây dựng Làng văn hóa huyện Lập Thạch giai đoạn 2000-2005 ngày càng tăng cao [Phụ lục 1]
Bám sát vào tiêu chí xây dựng làng văn hóa có đời sống kinh tế ổn định
và phát triển, Ban chỉ đạo huyện Lập Thạch tích cực đẩy mạnh phong trào xoá đói giảm nghèo khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, có nhiều hộ vươn lên làm giàu chính đáng Xây dựng các phong trào thi đua làm kinh tế giỏi, làm giàu hợp pháp, có nhiều mô hình làm kinh tế mới
và hiệu quả như: Mô hình phát triển trang trại nuôi lợn siêu nạc ở các xã Quang Sơn, trồng thanh long ruột đỏ xã Vân Trục, trồng cây cảnh xã Triệu
Đề, làm nghề thủ công mây tre đan xã Cao Phong Từ đó tuyên truyền nhân rộng mô hình tiên tiến tới toàn thể nhân dân góp phần tăng thu nhập, phát triển kinh tế
Phong trào xây dựng làng văn hoá đã góp phần tích cực vào việc xây dựng các cộng đồng dân cư ổn định về chính trị, từng bước phát triển kinh tế
xã hội, xây dựng nông thôn mới
Trang 40Về xây dựng gia đình văn hoá: Xác định việc xây dựng gia đình văn
hóa có ý nghĩa quan trọng, tác động trực tiếp đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là động lực để xây dựng đời sống văn hóa trong cộng đồng dân cư, Ban chỉ đạo huyện ủy thường xuyên duy trì và thực hiện tốt công tác tuyên truyền,
vận động các gia đình tích cực thực hiện Điển hình như cuộc vận động “Ông
bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền”; “gia đình hiếu học”; “gia đình nông dân hạnh phúc”; kết hợp với hoạt động của các CLB “dân số KHHGĐ”;
CLB “Phụ nữ không sinh con thứ 3”… thông qua đó, góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội, khơi dậy tinh thần thi đua, tình đoàn kết, gắn bó trong cuộc sống với mục đích xây dựng quê hương ngày càng văn minh giàu đẹp Các xã, thị trấn bám sát 3 tiêu chuẩn gia đình văn hoá để chỉ đạo, triển khai đến cán bộ, đảng viên và nhân dân Trên cơ sở đó, phát động mọi người, mọi nhà gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; tham gia tích cực các phong trào, các cuộc vận động ở địa phương, từ năm
2001 đến 2005, nhiều phong trào của Trung ương, tỉnh, huyện phát động được thực hiện tốt ở huyện Lập Thạch như: phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư, phong trào xây dựng nhà văn hoá thôn với mức huy động nhà nước và nhân dân cùng làm, phong trào làm cổng nghĩa trang liệt sỹ theo mẫu thống nhất chung toàn huyện, xây dựng nhà ăn bán trú trường học mầm non, góp quỹ xây dựng giao thông nông thôn, ủng hộ, tôn tạo đền thờ thầy giáo Đỗ Khắc Chung Mỗi phong trào đều có ý nghĩa và kết quả thiết thực, động viên toàn dân chung sức góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
- xã hội, giữ vững an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội Trong ngày hội đại đoàn kết hàng năm, những gia đình văn hoá được biểu dương, ghi nhận, tỷ lệ này hàng năm đều tăng [82, tr.16]
Nội dung xây dựng “Gia đình văn hóa” cũng được triển khai thường xuyên thông qua hoạt động tích cực của tổ nhân dân tự quản, các câu lạc bộ không sinh con thứ ba, phụ nữ giúp nhau làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo,