Chính sách cơ bản trong chiến lược toàn cầu của Mỹ là nhằm chống lại các trào lưu cách mạng, đàn áp và phá hoại phong trào độc lập dân tộc, kìm giữ các nước mới trỗi dậy trong quỹ đạo củ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2BCHTƯĐ: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
DTDCND: Dân tộc dân chủ nhân dân
MTTQVN: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
MTDTGPMNVN: Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam UBTƯMTDTGPMN: Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền
Nam UBTƯMT: Uỷ ban Trung ương Mặt trận
VNDCCH: Việt Nam dân chủ Cộng hoà
Trang 3MỤC LỤC
Mở đầu 1
Chương 1: Đảng lãnh đạo xây dựng khối đoàn kết dân tộc ở miền Nam Việt Nam (1954 - 1960) 5
1.1 Tập hợp lực lượng đấu tranh đòi thi hành thi hành Hiệp định Giơnevơ (1954 - 1956) 5
1.2 Xây dựng khối đoàn kết dân tộc ở miền Nam (1957 - 1960) 21
Chương 2: Đảng lãnh đạo mở rộng khối đoàn kết dân tộc ở miền Nam Việt Nam (1961 - 1975) 38
2.1 Mở rộng Mặt trận đoàn kết dân tộc ở miền Nam (1961 - 1968) 38
2.2 Tiếp tục mở rộng Mặt trận đoàn kết dân tộc ở miền Nam (1969 - 1975) 67 Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm chủ yếu 91
3.1 Nhận xét chung 91
3.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu 104
Kết luận 113
Tài liệu tham khảo 116
Các công trình đã được công bố 123
Phụ lục .124
Trang 4Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở
MIỀN NAM VIỆT NAM (1954 - 1960) 1.1 Tập hợp lực lượng đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ (1954
- 1956)
1.1.1 Khái quát chính sách thống trị của Mỹ - Diệm và tác động của nó đối với xã hội miền Nam
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ nhờ lợi dụng vị trí đặc biệt của mình
mà trở thành đế quốc giàu có và hùng mạnh nhất thế giới tư bản Chính sách cơ bản trong chiến lược toàn cầu của Mỹ là nhằm chống lại các trào lưu cách mạng, đàn áp
và phá hoại phong trào độc lập dân tộc, kìm giữ các nước mới trỗi dậy trong quỹ đạo của CNTB, thực hiện chính sách lũng đoạn của tư bản độc quyền Mỹ và ngăn chặn sự phát triển của CNXH, đồng thời tranh giành ảnh hưởng với các đế quốc khác
Mỹ rất coi trọng vị trí chiến lược của Việt Nam trong chiến lược chung của
Mỹ, mà trọng điểm lúc đó là phải tập trung chống phá phong trào giải phóng dân tộc đang sục sôi khắp các lục địa Việt Nam có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong khu vực Đông Nam Á, là chiếc bao lơn nhô ra Thái Bình Dương, điểm giao hội của các đường giao thông quốc tế trên biển, lại có tài nguyên phong phú, được
Mỹ đánh giá là một trong những vị trí quan trọng trong tuyến mà họ gọi là để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản
Ngày 1/10/1949, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời; Liên Xô - Trung Quốc kết thành đồng minh quân sự và Trung Hoa bắt đầu ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp của Chính phủ VNDCCH Tháng 6/1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ càng làm cho Chính phủ Mỹ tin rằng Liên Xô không ngần ngại dùng vũ lực để mở rộng ảnh hưởng của họ Từ đó, Mỹ bắt đầu can thiệp vào Đông Dương Chính sách của Mỹ ở miền Nam Việt Nam gắn với chính sách của Mỹ ở Đông Dương, Đông Nam Á và cũng luôn gắn với chính sách của Mỹ đối với Liên Xô, Trung Quốc và hệ thống XHCN, nhằm bảo vệ lợi ích thực dân mới của mình, ngăn
Trang 5chặn ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc, lập phòng tuyến hàng đầu “chống cộng” ở Đông Nam Á Do vậy, sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết (7/1954),
đế quốc Mỹ đã hất cẳng Pháp, nhảy vào Việt Nam, từng bước độc chiếm quyền thống trị Nam Việt Nam, can thiệp vào Lào và Campuchia Mục tiêu chiến lược của
Mỹ ở Việt Nam là:
Tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước của nhân dân ta, thôn tính miền
Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam Việt Nam
thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến
ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam Á, đồng thời lấy miền Nam Việt Nam làm căn cứ để tiến công miền Bắc, tiền đồn của hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới ở Đông Nam châu Á, hòng đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác [36;15]
Nhằm thực hiện hiện mục tiêu trên, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm – một viên quan lại trong triều Nguyễn, lại là tín đồ Thiên Chúa giáo, chống cộng khét tiếng,
được đào tạo ở Mỹ về cầm đầu bộ máy Chính quyền Sài Gòn Đế quốc Mỹ ra sức
xây dựng và củng cố Chính quyền Ngô Đình Diệm bằng biện pháp tăng cường cố vấn
và viện trợ Mỹ, đặt Việt Nam dưới quyền bảo trợ của khối SEATO, đàn áp phong trào cách mạng Bởi vì, để áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở Việt Nam và Đông Dương, thì lực lượng ngụy quân, ngụy quyền và Chính quyền Ngô Đình Diệm chính
là lực lượng xung kích và là chỗ dựa chủ yếu của đế quốc Mỹ
Để nhanh chóng bình định miền Nam Việt Nam, tháng 11/1954, Tổng thống
Mỹ Aixenhao đã phái tướng Côlin (J.L.Collins) nguyên Tổng Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ sang Sài Gòn làm Đại sứ với một kế hoạch nô dịch và xâm lược gồm
Trang 64 Thi hành “cải cách điền địa” lừa bịp
5 Thay đổi chế độ thuế khoá, dành ưu tiên cho hàng hoá Mỹ xâm nhập vào miền Nam Việt Nam và dọn đường cho tư bản Mỹ đầu tư, bóc lột
6 Đào tạo cán bộ tay sai cho Mỹ
Kế hoạch Côlin là kế hoạch đầu tiên của chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam Với kế hoạch này và một loạt các biện pháp thâm độc, tàn bạo khác, đế quốc Mỹ muốn dựng lên ở miền Nam Việt Nam một hình thức thống trị điển hình của chủ nghĩa thực dân mới, mà đặc điểm của chủ nghĩa thực dân mới là
“nó được thực hiện không phải bằng hệ thống cai trị trực tiếp của bọn đế quốc mà thông qua một chính quyền tay sai đại biểu quyền lợi cho giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản mại bản khoác áo “dân tộc dân chủ” giả hiệu” [15;18] Để thực hiện được những mục tiêu mà kế hoạch Côlin đề ra, đế quốc Mỹ đã thực hiện hàng loạt các chính sách thâm độc trong lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế văn hoá giáo dục…
Về chính trị
Trong quá trình xâm lược và nô dịch miền Nam, đế quốc Mỹ đặt lên hàng
đầu việc xây dựng Chính quyền Sài Gòn Để tạo dựng một bộ mặt “độc lập” giả
hiệu cho Ngô Đình Diệm, Mỹ - Diệm từng bước loại bỏ ảnh hưởng của Pháp và Chính quyền Bảo Đại; dùng lực lượng quân sự để tiêu diệt lực lượng giáo phái đối lập, các lực lượng thân Pháp Tháng 3/1955, sau khi củng cố được quyền lực, Ngô Đình Diệm chủ trương tiêu diệt các giáo phái thân Pháp để loại trừ khả năng chống đối, xoá bỏ mọi quyền lợi ở các địa phương của Pháp, thống nhất quân đội dưới quyền chỉ huy của Diệm Trước áp lực của Mỹ – Diệm, “Mặt trận thống nhất toàn
lực quốc gia” bị phân hoá, nhóm Cao Đài liên minh Trịnh Minh Thế quay về hàng
Diệm Sau đó, bằng các chiến dịch “Hoàng Diệu”, “Đinh Tiên Hoàng”, Mỹ – Diệm
đã tấn công vào các phái Bình Xuyên, Hoà Hảo Khi Diệm tấn công Bình Xuyên và Hoà Hảo, phái Cao Đài chủ trương án binh bất động để chờ thời Tháng 10/1955,
Mỹ - Diệm dùng thủ đoạn chia rẽ nội bộ phái này để phá bỏ bộ máy hành chính của
Trang 7Cao Đài, uy hiếp Toà thánh Tây Ninh và đến tháng 6/1956, đại bộ phận lực lượng Cao Đài bị tiêu diệt và ra đầu hàng Diệm
Chỉ trong vòng hơn 1 năm, nhờ sự ủng hộ của Mỹ, Diệm đã diệt xong các giáo phái Các lực lượng thân Pháp ở miền Nam Việt Nam căn bản bị xoá sổ và cơ quan hành chính do người thân tín của Diệm cầm đầu được xây dựng rộng khắp
Mỹ - Diệm tiến hành thanh lọc ngụy quyền nhằm xây dựng một chế độ độc tài phát xít thân Mỹ khoác áo “độc lập”, “dân chủ”, “hợp hiến” giả hiệu Ngày 17/7/1955, Diệm tuyên bố không có hiệp thương Tổng tuyển cử Ngày 23/10/1955, Diệm tổ chức cuộc “trưng cầu dân ý” dưới lưỡi lê của quân đội để phế truất Bảo Đại và tự xưng Tổng thống Việt Nam Cộng hoà
Sau khi lên nắm quyền, Ngô Đình Diệm đã xây dựng miền Nam thành một
“quốc gia mạnh” của “thế giới tự do”, có một “đạo quân cảnh sát” và “đạo quân sen đầm” lớn mạnh chống cộng sản, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam Để tạo chỗ dựa, tháng 8/1954, Diệm tổ chức Đảng Cần lao Nhân vị do Ngô Đình Nhu làm lãnh tụ Đảng này được coi là nòng cốt của chế độ Diệm, với học thuyết “Duy linh” duy tâm phản động làm hệ tư tưởng Ở các đơn vị quân đội lớn,
ở các Bộ, Đảng Cần lao Nhân vị đều có thành lập “Đảng Đoàn” Có thể nói, không
có cơ quan nào mà không có đảng viên Đảng Cần lao Nhân vị làm nòng cốt Linh mục Cao Văn Luận đã thừa nhận rằng : “Trong hầu hết các trường hợp, viên chức cao cấp nhất của chính quyền, tại một số địa phương hay một cơ quan nào đồng
thời cũng là lãnh tụ địa phương của đảng (Cần lao Nhân vị)” [53; 264]
Tháng 10/1954, Phong trào cách mạng quốc gia của Trần Chánh Thành, tay chân của Diệm được thành lập Tổ chức này lấy giới công chức làm nòng cốt, nêu cao khẩu hiệu “chống cộng sản, chống phong kiến, chống thực dân” Để tập hợp lực lượng quần chúng, Phong trào cách mạng quốc gia tổ chức ra nhiều liên đoàn: Liên đoàn công chức cách mạng quốc gia, Liên đoàn phụ nữ cách mạng quốc gia, Liên đoàn thanh niên cách mạng quốc gia Các tổ chức này phần lớn đều có hệ thống từ tỉnh, quận và đến nhiều xã, cơ sở trong các cơ quan nhà nước và tư nhân
Đảng Cần lao Nhân vị và Phong trào cách mạng quốc gia chỉ khác về hình thức hoạt động, còn mục đích đều nhằm tập hợp bọn phản động trong giai cấp tư
Trang 8sản, địa chủ, Thiên Chúa giáo và những tên có hận thù với cách mạng làm hậu thuẫn cho Chính quyền Diệm
Ngày 4/3/1956, được Mỹ đạo diễn, Ngô Đình Diệm tổ chức tuyển cử bầu ra Quốc hội Tháng 10/1956, Ngô đình Diệm ban hành Hiến pháp của “nền đệ nhất cộng hoà” Một số nước đồng minh của Mỹ lập tức công nhận Chính quyền Diệm
là “hợp hiến, hợp pháp” và được khối SEATO bảo trợ
Cùng với những thủ đoạn chính trị “bài phong “, “đả thực”, Mỹ - Diệm thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”, đàn áp phong trào quần chúng, trả thù những người kháng chiến cũ, tiêu diệt cơ sở cách mạng ở miền Nam Chúng lấy “tố cộng” làm quốc sách Chính sách “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ - Diệm chủ trương đánh
phá cơ sở cách mạng, tiêu diệt Đảng Cộng sản, tước đoạt những quyền lợi mà Đảng
ta mang lại cho quần chúng, qua đó xây dựng củng cố chính quyền ấp, xã, tạo lập một cơ sở xã hội hạ tầng cho chế độ thực dân mới Phương châm “tố cộng, diệt cộng” của chúng là “lâu dài”, “từng bước”, “triệt để” với khẩu hiệu “giết nhầm còn hơn bỏ sót” và yêu cầu “tiêu diệt những phần tử cộng sản, những tổ chức cộng sản
và cả tư tưởng cộng sản” Lực lượng tiến hành “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ - Diệm
là lực lượng tổng hợp các cấp, các ngành quân sự, hành chính, công an, tình báo, thông tin, công dân vụ Kế hoạch “tố cộng, diệt cộng” của chúng chia thành từng giai đoạn, mỗi giai đoạn thành nhiều đợt; mỗi đợt có thí điểm, trọng điểm, bắt đầu
từ diện rộng chuyển sang chiều sâu, kết hợp nhiều thủ đoạn quân sự, kinh tế, chính trị, tâm lý rất thâm độc, tàn bạo, xảo quyệt
Từ cuối năm 1954 -1956, song song với việc hất cẳng Pháp, đàn áp giáo phái, tiếp quản những vùng kháng chiến sau khi quân đội ta tập kết và chuyển quân
ra Bắc vĩ tuyến 17 theo hiệp định Giơnevơ, Mỹ - Diệm thực hiện giai đoạn một “tố cộng” trên diện rộng, trong quân đội, cơ quan các ngành và cả trong nhân dân
Mỹ - Diệm tổ chức ra bộ máy “tố cộng”, từ trung ương xuống địa phương, lấy ấp, xã làm đơn vị cơ sở, chia nhỏ địa bàn (Nam Bộ được chia thành 6 phân khu,
23 tiểu khu và đặc khu), phân loại các tỉnh theo mức độ an ninh khác nhau, tăng cường chỉ đạo triển khai nhiều đợt học tập “tố cộng” kéo dài với khẩu hiệu thâm
Trang 9độc “tố cộng là yêu nước”, gây tâm lý sợ cộng sản, coi cộng sản là “kẻ thù dân tộc”
Thông qua bộ máy kìm kẹp, Mỹ - Diệm tiến hành bao vây có trọng điểm, thực hiện “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, phân loại đối tượng, bắt buộc tố giác lẫn nhau, mua chuộc, dụ dỗ, phân hoá, đàn áp bắt bớ, truy lùng buộc đầu thú, ly khai
Mỹ - Diệm tiến hành nhiều cuộc tàn sát đẫm máu ở Ngân Sơn, Chí Thạnh (Phú Yên), Chợ Được (Quảng Nam), Kim Đôi (Thừa Thiên), Mỏ Cày (Bến Tre)… Chúng ban hành Đạo dụ số 6 (11/1/1956) giao quyền cho cảnh sát và an ninh bắt
bất cứ ai xét ra nguy hiểm cho quốc phòng và an ninh công cộng, không cần xét xử
trước toà án Một hệ thống trại giam với những cái tên “trung tâm cải huấn” được thiết lập và phát triển ở các ấp, xã Chỉ trong vòng hai năm (1955 - 1956), chúng đã bắt bớ giam cầm, sát hại hàng chục vạn cán bộ, đảng viên
Như vậy, đế quốc Mỹ đã dùng bạo lực phản cách mạng tàn bạo để xây dựng một chính quyền tay say có bộ mặt quốc gia giả hiệu, “hợp hiến, hợp pháp” tạm thời ổn định để đánh phá phong trào cách mạng miền Nam Nhưng Chính quyền Diệm là một sản phẩm ngoại lai, được xây dựng trên một cơ sở xã hội hết sức mỏng manh, chủ yếu dựa vào hệ thống cố vấn và viện trợ Mỹ Lầu Năm góc thú nhận: “Không có sự giúp đỡ của Mỹ hầu như chắc chắn là Diệm không thể củng cố được chỗ đứng của mình ở Việt Nam trong thời gian từ 1955-1956 không có viện trợ của Mỹ trong những năm sau đó, chế độ của Diệm và hầu như chắc chắn
là một Nam Việt Nam không thể nào sống sót được… Nam Việt Nam cơ bản là sản phẩm của Mỹ” [87;35] Cho tới năm 1956, về cơ bản, Mỹ - Diệm đã tổ chức được một cơ cấu chính quyền từ trung ương xuống các tỉnh, làm công cụ thống trị nhân dân ta ở miền Nam
Về quân sự
Ngô Đình Diệm lên cầm quyền không được sự ủng hộ của nhân dân mà bằng Đôla và các thủ đoạn chính trị, bằng bạo lực phản cách mạng, cho nên Mỹ - Diệm hết sức coi trọng vệc xây dựng quân đội tay sai, coi đó là xương sống của bộ máy chính quyền thực dân mới
Trang 10Ngay từ đầu tháng 8/1955, Mỹ đã có kế hoạch cải tổ quân ngụy do Pháp nắm thành một quân đội quốc gia do Mỹ trang bị và huấn luyện, trước mắt làm chỗ dựa cho Chính quyền Ngô Đình Diệm, về lâu dài nhằm đáp ứng yêu cầu “chiến lược vành đai” của Mỹ ở Đông Nam Á
Để nắm được quân ngụy, đồng thời tạo ra những cơ sở pháp lý cho các hoạt động can thiệp trực tiếp, toàn diện của đế quốc Mỹ vào miền Nam và biến ngụy quyền miền Nam thành công cụ nô dịch của chủ nghĩa thực dân mới, Mỹ vừa tăng cường viện trợ, vừa buộc Ngô Đình Diệm phải ký với chúng một số hiệp định bất bình đẳng như Hiệp định tay đôi ngày 21/2 và ngày 7/3/1955, Hiệp định ký ngày 22
và 23/4/1955, dưới danh nghĩa “viện trợ bổ sung”, nhưng thực chất là để cho đế quốc Mỹ trực tiếp nắm giữ “hoàn toàn trách nhiệm về tổ chức, huấn luyện quân đội miền Nam” (101;97] Bộ phận chuyên lo việc huấn luyện, tác chiến, trang bị và chỉ huy cho quân ngụy Sài Gòn là hệ thống cố vấn quân sự Mỹ đã được thiết lập, cắm chốt từ Bộ Quốc phòng, Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệnh quân khu, các sư đoàn, trung đoàn và tiểu đoàn quân đội Sài Gòn
Bằng viện trợ và hệ thống cố vấn quân sự Mỹ, Mỹ - Diệm đã xây dựng quân đội tay sai thành lực lượng quân sự mạnh mang tên Quân đội Việt Nam Cộng hoà
Từ 1955-1957, Mỹ đã viện trợ cho Diệm 1,1 tỉ đôla (trong đó 60% chi dùng vào mục đích quân sự) Cho đến cuối năm 1955, Quân đội Việt Nam Cộng hoà đã có toàn bộ “10 sư đoàn, 1 liên đoàn nhảy dù, 4 trung đoàn kỵ binh thiết giáp, 11 tiểu đoàn pháo binh, 13 trung đoàn địa phương, 6 trung đoàn bộ binh giáo phái và một
số đơn vị thuộc quân chủng hải quân và không quân Quân số quân đội Sài Gòn gồm khoảng 20 vạn người” [96;60]
Nhằm xây dựng quân đội Sài Gòn thành một quân đội hiện đại, trung thành với Mỹ, đủ sức đối phó với phong trào yêu nước của nhân dân miền Nam, Mỹ - Diệm đã đặt lên hàng đầu việc đào tạo một lớp sĩ quan miền Nam thông thạo chiến thuật, kỹ thuật quân sự Mỹ và gắn bó với chế độ thực dân mới của Mỹ Ngay khi lên cầm quyền, Diệm đã từng bước gạt bỏ những sĩ quan thân Pháp, cải tổ và cho thành lập một số trường sĩ quan mới như Trường Võ bị Đà Lạt, Trung tâm huấn luyện Quang Trung Cùng với việc xây dựng quân đội đánh thuê của chủ nghĩa
Trang 11thực dân mới ở miền Nam, Mỹ - Diệm còn xây dựng cả một hệ thống sân bay quân cảng, đường giao thông chiến lược phục vụ cho các mục đích quân sự của
Mỹ - Diệm Với chính sách viện trợ về quân sự, coi viện trợ là công cụ để xâm lược
và thống trị, Mỹ - Diệm đã biến miền Nam thành căn cứ quân sự, thành pháo đài xâm lược “mạnh nhất Đông Nam Á”
Chính sách kinh tế của Mỹ - Diệm
Cùng với viện trợ quân sự là viện trợ kinh tế Mỹ đã thông qua các hình thức viện trợ để đẩy mạnh xâm nhập trên phương diện kinh tế vào miền Nam Mỹ thực hiện “viện trợ thương mại hoá” để đưa hàng hoá ế thừa vào miền Nam, chủ yếu là hàng tạp hoá, nông phẩm thừa, làm cho nền kinh tế bị lũng đoạn và phụ thuộc vào
Mỹ
Bên cạnh viện trợ thương mại hoá, Mỹ - Diệm cũng ra sức tạo điều kiện, mở đường cho tư bản Mỹ xâm nhập vào miền Nam Đặc biệt, để phát triển ảnh hưởng của Mỹ và tư bản hoá hình thức bóc lột ở nông thôn, từ năm 1955 - 1956, Mỹ - Diệm ban hành Đạo dụ số 2 ( 8/1/1955) và Đạo dụ số 7, lập “khế ước ruộng đất”, thi hành chính sách “cải cách điền địa”, “định cư, di cư”
Mỹ dùng viện trợ kinh tế cấp các ngân khoản, thành lập Ngân hàng phát triển nông thôn cho nông dân vay tiền sản xuất, tổ chức nông hội, hợp tác xã mua bán nông phẩm, phân bón, nông cụ Đó là những tổ chức trá hình của ngụy quyền liên hệ chặt chẽ với Phong trào cách mạng quốc gia về chính trị, để ràng buộc nông dân vào chính quyền cơ sở, thông qua đó mua chuộc, lừa bịp, mị dân, san bằng cách biệt giữa giai cấp địa chủ và nông dân, trong việc chiếm hữu ruộng đất Đây đồng thời cũng là những biện pháp bám giữ lấy trận địa nông thôn, giành giật nhân vật lực với cách mạng, phát triển ảnh hưởng của chính sách thực dân mới, tạo điều kiện thuận lợi bình định nông thôn miền Nam
Song song với việc thực hiện chính sách cải cách điền địa, tháng 4/1957, Mỹ
- Diệm đề ra chính sách “tái định cư và cứu tế dân di cư” trong các dinh điền, nhằm mục đích an ninh nhiều hơn là kinh tế, tạo nên những “vành đai sống” để ngăn cách các trung tâm đông dân cư với những vùng căn cứ miền núi của ta Chúng đặc biệt chú trọng vùng Tây Nguyên và Trung Bộ Diệm và Nhu đều cho rằng: khu dinh
Trang 12điền là biện pháp xẻ đường đưa dân vào chiến khu, mật khu Việt cộng, dùng dân
để đẩy Cộng sản ra khỏi vùng đó và dinh điền là nơi cung cấp tin tình báo, nơi xuất phát để hành quân ngăn chặn sự xâm nhập của Cộng sản
Chính sách “khu dinh điền” dần dần được thay thế bằng chính sách “khu trù mật”, “thị trấn nông thôn”, nhằm tách những gia đình có quan hệ với cách mạng ra khỏi nhân dân để tăng cường kìm kẹp, khống chế và bình định vùng nông thôn miền Nam
Kết quả của “cải cách điền địa”, Chính quyền Diệm đã cướp từ 80 - 90% ruộng đất mà Chính quyền cách mạng đã mang lại cho nông dân Nam Bộ Ở khu V, tất cả ruộng công điền chúng đem bán đấu giá hoặc phát canh thu tô Thuế ruộng đất chúng tăng gấp đôi, thuế đảm phụ tăng gấp rưỡi Không những cướp ruộng đất, địch còn dùng xe bọc thép phá nhà, phá làng, dồn dân lấy đất xây dựng căn cứ quân sự
Chính sách “cải cách điền địa”, “định cư di cư” của Mỹ - Diệm chỉ là một trò
hề bịp bợm, mị dân, một sự thay đổi về cách bóc lột bằng những cuộc đấu giá cạnh tranh Nó không những không mang lại quyền lợi gì cho nông dân ít đất hoặc không có đất, mà còn làm đời sống của họ thêm bấp bênh Hơn thế nữa, “Chương trình cải cách điền địa của Diệm đã không phân lại ruộng đất cho người nghèo mà rút cục chỉ lấy lại những thứ mà Việt Minh đã chia cho họ, rồi trả về cho địa chủ” [52;43]
Về văn hoá, giáo dục
Trên mặt trận văn hoá, tư tưởng, Mỹ - Diệm hạ thấp văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam và khuyến khích văn hoá phản động, đồi trụy Đây là hai mặt của chính sách nô dịch văn hoá của chủ nghĩa thực dân mới Để thực hiện những chính sách này, một mặt, Chính quyền Diệm đã cho nhập nhiều loại văn hoá đồi trụy, phản động của Mỹ vào miền Nam (Mỹ đã viện trợ cho Diệm 70 vạn tấn sách báo, tranh ảnh phản động, trả tiền cho 20 tờ báo tay sai để chống lại cách mạng) Những loại sách kiếm hiệp, khiêu dâm, những bản nhạc giật gân, những phim đồi trụy sa đoạ lan tràn, nhằm phá hoại truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Mặt khác,
Trang 13chúng nuôi dưỡng bọn bồi bút, xây dựng bộ máy tâm lý chiến, thông tin, tuyên truyền Chúng ra sức tuyên truyền cho sức mạnh của Mỹ, văn minh Mỹ, lối sống Mỹ; tuyên truyền tư tưởng chống Cộng sản; tuyên truyền, đề cao học thuyết “Duy linh - Nhân vị”, một thứ “học thuyết” duy tâm phản động, nhằm đánh vào sức mạnh đoàn kết, thống nhất, tình cảm của nhân dân ta, gây tâm lý tự ti dân tộc, phục
Mỹ, sợ Mỹ, muốn sống theo lối sống của Mỹ, đồng thời củng cố nền thống trị độc tài, phản động của tập đoàn tay sai bán nước Cùng với những thủ đoạn đó, Mỹ – Diệm tiến hành đàn áp, khủng bố, giam cầm hàng trăm trí thức, ký giả, văn nghệ sĩ Tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do sáng tác bị bóp nghẹt Hàng chục tác phẩm có giá trị hiện thực phê phán của một số nhà văn tiến bộ có tinh thần yêu nước bị cấm hay bị cắt xén…
Trên lĩnh vực giáo dục, Diệm “huấn từ” về tính Á Đông, tính dân tộc, nhưng chương trình giáo dục “cải tổ”của Chính quyền Diệm lại cắt xén, bóp méo, xuyên tạc lịch sử, văn học của dân tộc, đề cao những khía cạnh phản động “Giáo dục quốc gia” của Mỹ - Diệm cũng chỉ nhằm phục vụ cho con cái giai cấp trung lưu, thượng lưu nhiều hơn là đông đảo con em các gia đình lao động nghèo ở thành thị
và nông thôn
Chế độ thực dân mới của Mỹ - Diệm ở miền Nam cũng coi trọng các lực lượng của tôn giáo Vì vậy, ngay sau khi lên cầm quyền, Mỹ – Diệm đã cho phát triển tất cả các tôn giáo, nhằm lôi kéo các tôn giáo vào vòng ảnh hưởng của mình Song, Chính quyền Diệm đặc biệt có chính sách ưu đãi đối với Thiên Chúa giáo Diệm hết sức tạo điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần cho giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam hoạt động và phát triển Những tín đồ Thiên Chúa giáo được chú ý
sử dụng, cất nhắc, đề bạt vào những cương vị chủ chốt ở mọi cấp chính quyền, ở cả khu vực các cơ quan giáo dục, văn hoá, xã hội Linh mục Cao Văn Luận đã thừa nhận:
“Mọi chức vụ lãnh đạo quốc gia đều trong tay người công giáo” [53;315]
Mặc dù có sự kỳ thị với các tôn giáo, chỉ ưu đãi Thiên Chúa giáo, nhưng Chính quyền Mỹ - Diệm vẫn chủ động thực hiện chính sách bành trướng các tôn giáo khác ở miền Nam như Phật giáo, Cao Đài, Hoà Hảo nhằm mục tiêu ru ngủ
Trang 14quần chúng nhân dân trong các hoạt động tôn giáo, làm họ xa lánh với con đường đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc
Những chính sách thực dân mới của Mỹ và chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm đã chà đạp lên quyền tự do dân chủ, xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng
và tài sản của người dân Miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ Đặc biệt, những chính sách đó đã gây nên một thảm trạng ở miền Nam, uy hiếp nghiêm trọng đời sống của tất cả các giai cấp, tầng lớp, dân tộc và tôn giáo ở miền Nam Hậu quả của nó làm cho “mâu thuẫn giữa một bên là nhân dân miền Nam bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp
tư sản dân tộc, các tầng lớp và cá nhân yêu nước khác và một bên là đế quốc Mỹ và
bè lũ Ngô Đình Diệm, đại biểu cho bọn thân Mỹ và phản động nhất trong giai cấp địa chủ và giai cấp tư sản mại bản ở miền Nam sẽ ngày càng sâu sắc thêm” [25;520] Trước sự tàn bạo của kẻ thù, nhân dân miền Nam đã đoàn kết, đấu tranh kiên cường bất khuất chống lại ách thống trị của Mỹ - Diệm, giành lấy quyền sống, quyền tự do
1.1.2 Tập hợp lực lượng đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ
Ngay từ tháng 7/1954, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (mở rộng) đã vạch ra chủ trương chuyển hướng công tác ở miền Nam Hội nghị chỉ rõ: “Đế quốc Mỹ là
kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, và hiện đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương” [19;225] Để triệt để phân hoá, cô lập kẻ thù và tập hợp lực lượng các mạng, Hội nghị đã đề ra khẩu hiệu “hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”, nhằm củng cố khối liên minh công nông, đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác, tranh thủ những nhân sĩ yêu nước, yêu hoà bình và dân chủ, thành lập mặt trận rộng rãi chống đế quốc Mỹ và tay sai Trong tình hình mới, cùng với việc đề ra phương châm, sách lược cho cách mạng cả nước, Hội nghị đã
đề ra phương châm công tác ở miền Nam là: kết hợp chặt chẽ công tác hợp pháp và công tác không hợp pháp, nhưng lấy công tác không hợp pháp làm chính, đồng thời hết sức lợi dụng mọi khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp mà tuyên truyền, giáo dục quần chúng đông đảo, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh Tuyệt đối không nên để bộc lộ lực lượng, nhưng cũng không được vì lý do bí mật mà thủ tiêu công tác Tổ chức công khai phải thật rộng rãi, tổ chức bí mật phải thật trong sạch
và vững chắc
Trang 15Ngày 5/9/1954, Bộ Chính trị đã họp và ra Chỉ thị “Về tình hình mới và nhiệm vụ công tác mới của miền Nam” Sau khi phân tích đặc điểm tình hình miền Nam, Chỉ thị xác định kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân miền Nam là “Đế quốc
Mỹ, hiếu chiến Pháp và tay sai của chúng” [19;273] Từ đó, Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ chung cho miền Nam là: “Củng cố hoà bình, đòi tự do dân chủ và cải thiện dân sinh, tiến tới thực hiện thống nhất và hoàn thành độc lập, dân chủ trong
toàn quốc” [19;273] Chỉ thị cũng chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt cho cách mạng miền
Nam là:
Thi hành triệt để Hiệp định đình chiến (tập kết quân đội, rút quân ra bắc Đấu tranh đòi Pháp phải thi hành đúng Hiệp định ( ) Đoàn kết rộng rãi, tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình, đấu tranh
để đánh đổ Chính phủ Ngô Đình Diệm thân Mỹ, vận động lập nên một chính phủ không thân Mỹ, phản đối khối xâm lược Đông Nam Á của Mỹ; tán thành đình chiến và hoà bình; thừa nhận quyền tự do dân chủ của nhân dân; tán thành thống nhất bằng tổng tuyển cử; cải thiện dân
sinh; tán thành thương lượng với Chính phủ ta [19; 274]
Để hoàn thành những nhiệm vụ trên, Chỉ thị nêu rõ: Đảng chủ trương thành lập một Mặt trận chung cho toàn quốc, lấy tên thích hợp với thời kỳ mới, nhằm thu hút tất cả những ai tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ Về công tác quần chúng, Chỉ thị khẳng định, cần phải thay đổi hình thức tổ chức và đấu tranh của công đoàn, nông hội, thanh niên, phụ nữ cho thích hợp cuộc đấu tranh hợp pháp và nửa hợp pháp Chỉ thị cũng chỉ ra phải thực hiện tuyên truyền vận động đồng bào thiểu số, đồng bào tôn giáo, đồng bào miền Bắc đã di cư vào Nam; tiến hành vận động cả trong bộ máy ngụy quyền và hàng ngũ ngụy quân Đặc biệt, Bộ Chính trị chú ý đến việc xây dựng phong trào bảo vệ hoà bình ở miền Nam, nhằm tập hợp các tầng lớp nhân dân đấu tranh thực hiện đình chiến, củng cố hoà bình, chống đế quốc Mỹ, chống khối Đông Nam Á của Mỹ
Những chủ trương của Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ 6 và Hội nghị Bộ Chính trị đã vạch ra được những phương hướng đầu tiên cho giai đoạn mới của các
Trang 16mạng miền Nam; từ việc xác định rõ kẻ thù chủ yếu, đến việc chỉ rõ phương châm đấu tranh cách mạng và phương châm công tác ở miền Nam trước bước ngoặt của lịch sử Đây là những vấn đề hết sức quan trọng, đặt cơ sở cho việc xác định đường lối cách mạng miền Nam sau này Đường lối đó phù hợp với thực tiễn cách mạng miền Nam, tạo ra một lực lượng to lớn, đoàn kết được toàn dân trong một mặt trận dân tộc thống nhất, để phục vụ cho mục đích trước mắt của cách mạng
Trên cơ sở chủ trương của Trung ương về tình hình và nhiệm vụ mới của cách mạng miền Nam, tháng 10/1954, Hội nghị thành lập Xứ uỷ Nam bộ được triệu tập, Hội nghị đã nhận định tình hình của địa phương, đề ra nhiệm vụ và biện pháp
cụ thể cho các cấp Đảng bộ ở Nam bộ Hội nghị khẳng định nhiệm vụ cụ thể của cách mạng miền Nam là giữ gìn và củng cố hoà bình, tranh thủ thực hiện tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, tiến tới thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước Phương châm và sách lược của cách mạng miền Nam là đoàn kết mọi lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình trong mặt trận dân tộc thống nhất, chống âm mưu, chính sách của đế quốc Mỹ và tay sai Để tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân vào mặt trận cần chú ý khẩu hiệu dân sinh, dân chủ Phương châm công tác của cách mạng miền Nam là kết hợp công tác bí mật với công tác công khai và nửa công khai; tổ chức và hoạt động của Đảng phải hết sức giữ bí mật, tổ chức và hoạt động của quần chúng thì cần lợi dụng các hình thức công khai…
Sau hội nghị, các chủ trương của Đảng được phổ biến, quán triệt trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ở miền Nam, tạo nên sự đoàn kết, thống nhất cao trong Đảng, trong dân Trên toàn miền Nam, cùng với việc chuyển hướng các tổ chức của Đảng, các tổ chức quần chúng trung kiên được xây dựng, thực hiện chuyển đổi vùng hoạt động của cán bộ, bố trí cán bộ để lãnh đạo phong trào Chính
vì vậy mà phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam từ đấu tranh vũ trang đã chuyển sang đấu tranh chính trị, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi hoà bình, đòi dân sinh, dân chủ ngày càng phát triển mạnh mẽ
Trang 17Ngay khi Hội nghị Giơnevơ thành công, trong tháng 8 và 9 năm 1954, ta đã
tổ chức vận động cho hàng triệu quần chúng mít tinh, hội thảo, mừng hoà bình Ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng hàng vạn người lao động, trí thức, học sinh sinh viên đã tập hợp trên các đường phố lớn hoan nghênh Hiệp định Giơnevơ, chào đón hoà bình Đi đầu và làm nòng cốt trong phong trào này là giai cấp công nhân Ngày 8/1/1954, hơn 5.000 công nhân và nhân dân Sài gòn; 15.000 công nhân và nhân dân Huế; 25.000 công nhân và nhân dân Đà Nẵng… đã biểu tình đòi thi hành Hiệp nghị Giơnevơ, đòi trả tự do cho tù chính trị, đòi trao trả hết
tù binh Ngày 2/8/1954, 5.000 công nhân ở đồn điền cao su An Lộc bãi công liên tiếp 3 ngày, để chào mừng Hiệp định Giơnevơ, đòi tăng lương 20% và đòi bãi bỏ thuế đảm phụ chiến tranh
Phong trào đấu tranh chính trị cũng bắt đầu lan rộng khắp các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Phan Rang, Phan Thiết Tiêu biểu nhất cho phong trào đấu tranh chính trị lúc này là Phong trào Hoà Bình Sài Gòn – Chợ Lớn Ngày 1/8/1954, thực hiện chủ trương của Thành uỷ, một số đồng chí thuộc Đảng bộ Sài Gòn – Chợ Lớn, trong đó có luật sư Nguyễn Hữu Thọ, đã vận động tổ chức phong trào này Đây là một hình thức mặt trận đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ Mục đích của Phong trào là muốn hòa bình ở Đông Dương, quyền tự do dân chủ được bảo đảm, nước Việt Nam tiến hành tổng tuyển
cử, thống nhất đất nước Phong trào Hoà Bình đã thu hút nhiều nhân sĩ trí thức tôn giáo tiêu biểu và đông đảo quần chúng đô thị tham gia, chứng tỏ được sức mạnh đoàn kết của nhân dân miền Nam chống lại chế độ Mỹ - Diệm Phong trào đã hoạt động sôi nổi và nhanh chóng lan ra khắp các thành thị, các tỉnh của miền Nam Tuy nhiên, Phong trào hoà bình nhanh chóng bị đàn áp Nhiều người tham gia phong trào bị địch bắt, tra tấn dã man
Tháng 8/1955, Hội nghị BCHTƯĐ lần thứ 8 nhận định: phong trào đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử sau Hiệp định Giơnevơ đang lan rộng khắp toàn quốc Ở miền Nam, cuộc vận động đó đã biết kết hợp đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị, biết lợi dụng những hình thức hợp pháp và nửa hợp pháp, nhưng vì
sự lãnh đạo chưa được vững chắc, cho nên có nơi bộc lộ lực lượng, và nhìn chung,
Trang 18cả miền Nam thì cuộc vận động phát triển chưa đều, chưa tận dụng được các điều kiện khách quan thuận lợi để thành lập mặt trận đấu tranh rộng rãi chống Mỹ – Diệm Hội nghị chủ trương: phải ra sức tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình vào một Mặt trận rộng rãi có một cương lĩnh chung thích hợp để đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, thực hiện thống nhất nước nhà trên
cơ sở độc lập, dân chủ và bằng phương pháp hoà bình Chủ trương của Đảng đã đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân miền Nam, thúc đẩy phong trào đấu tranh tiếp tục dâng cao
Cùng với phong trào dấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử, các phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống cũng diễn ra sôi nổi, như Phong trào cứu đói ở Thừa Thiên, Quảng Trị (1955), Phong trào cứu tế nạn nhân ở Sài Gòn - Chợ Lớn (1955), Phong trào chống lệnh giải toả đô thành và đòi cải thiện sinh hoạt (1955 - 1956) Phong trào diễn ra quyết liệt là phong trào đấu tranh của công nhân miền Nam, điển hình là cuộc đấu tranh công khai hợp pháp ngày 1/5/1956 của 20 vạn công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn, gồm công nhân thuộc ba tổ chức nghiệp đoàn hợp pháp ở miền Nam, những người lao động công chức trí thức, học sinh, nhà công thương và cả một số binh sĩ, cảnh sát của ngụy quyền Sài Gòn
do đảng viên và quần chúng trung kiên làm nòng cốt Phong trào đấu tranh đã hô vang các khẩu hiệu: tự do nghiệp đoàn, giải quyết nạn thất nghiệp, trả phụ cấp gia đình cho cả công nhân ở các sở tư, cải cách điền địa triệt để có lợi cho nông dân, thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình
Ngày 6/6/1955, Chính phủ VNDCCH tuyên bố sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương với những nhà đương cục miền Nam (bắt đầu từ 20/7/1955), để bàn việc tổ chức tuyển cử tự do, nhằm thống nhất đất nước vào tháng 7/1956 Để ủng hộ tuyên
bố trên, phong trào đòi hiệp thương tổng tuyển cử cũng diễn ra mạnh mẽ, liên tục
và thống nhất toàn Nam Bộ, hoặc từng miền, từng tỉnh và rất sâu rộng từ Quảng Trị đến Cà Mau Phong trào thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các tín đồ tôn giáo, đồng bào dân tộc ít người, đồng bào miền Bắc bị cưỡng ép di cư vào Nam hình thành sự phối hợp giữa nhân dân thành thị và nông thôn với nhiều hình thức đấu tranh phong phú: mạn đàm, mít tinh, đình công, bãi thị, ký kiến nghị Ở nông
Trang 19thôn, chỉ tính trong hai năm 1955 – 1956, đã có trên 7 triệu lượt người tham gia Riêng đợt 20/7/1955, ở Nam Bộ đã có trên 500.000 lượt người tham gia [70;17] Ở
đô thị, phong trào cũng diễn ra sôi nổi Ngày 10/7/1955, hưởng ứng lời kêu gọi của Mặt trận Liên Việt, 80% dân chúng Sài Gòn - Chợ Lớn đã đình công, bãi thị để biểu dương ý chí thống nhất của toàn dân “Đợt tháng 7/1955, ở khắp các thành thị miền Nam đã có hàng triệu đồng bào rầm rộ tổ chức biểu tình, mít tinh, kết hợp với bãi công bãi thị, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, hoà bình thống nhất đất nước” [70;17]
Có thể nói, phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam với nội dung đòi
Mỹ - Diệm phải thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước trong những năm 1955 - 1956 đã diễn ra mạnh mẽ, liên tục, lôi cuốn đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia Phong trào cho thấy, trong thực tiễn đã hình thành lực lượng đấu tranh dân tộc rộng lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng với những hình thức đấu tranh hợp pháp và bất hợp pháp như mít tinh, biểu tình, đình công, bãi công… tổ chức theo nghiệp đoàn, ngành nghề, theo giới… làm phân hoá hàng ngũ kẻ thù, làm cho Mỹ - Diệm phải lúng túng đối phó
1.2 Xây dựng khối đoàn kết dân tộc (1957 - 1960)
1.2.1 Tập hợp lực lượng, đưa cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công
Giữa năm 1956, Mỹ - Diệm công khai từ chối hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước Chúng triển khai thực hiện giai đoạn 2 “tố cộng, diệt cộng”, đánh phá có chiều sâu, hòng quét sạch cơ sở Đảng với những khẩu hiệu: “tiêu diệt nội tuyến, diệt trừ nội tâm”, “đạp lên oán thù để thực thi dân chủ, nhân vị quốc gia” Với sắc lệnh “đặt Đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật” (5/1957), nhiều biện pháp quyết liệt được áp dụng: tổ chức học tập “tố cộng” rộng rãi trong nhân dân, trong chính quyền, phân loại quần chúng để phát hiện cơ sở Đảng, tận dụng bọn đầu hàng, đầu thú, bọn gián điệp nằm vùng để chỉ điểm truy lùng cán bộ Chúng cưỡng bức nhân dân “tố giác tội ác của Cộng sản”, gây căm thù đối với Cộng sản, cô lập cán bộ, chia rẽ Đảng với quần chúng nhân dân
Mỹ - Diệm còn tập trung lực lượng mở nhiều đợt càn quét, khủng bố tàn sát đẫm máu nhân dân Nhiều chiến dịch dài ngày diễn ra trên diện rộng, có trọng
Trang 20điểm, nhất là các chiến khu cũ của ta như chiến dịch “Thoại Ngọc Hầu” (6/1956 - 10/1956) ở 18 tỉnh miền Tây Nam Bộ, Chiến dịch “Trương Tấn Bửu” (7/1956 - 12/1956) ở miền Đông Nam Bộ và giáp biên giới Campuchia Ở vùng miền núi thuộc cực Nam Trung Bộ, chúng thi hành chính sách “lấy người dân tộc trị người dân tộc” với những trận càn quét kéo dài liên miên
Sự khủng bố điên cuồng của Mỹ - Diệm đã làm cho tình hình miền Nam luôn luôn căng thẳng, nhiều cơ sở đảng bị phá vỡ, hàng vạn quần chúng, đảng viên bị giết hại, bị bắt giam Cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề
Tình hình trên cho thấy rằng, khả năng thực hiện điều khoản chính trị Hiệp định Giơnevơ không còn tồn tại nữa Nhân dân miền Nam không thể chỉ sử dụng đấu tranh chính trị, trong khi Mỹ - Diệm đã dùng bạo lực phản cách mạng để đàn
áp phong trào cách mạng, mà phải vũ trang để chống lại kẻ thù
Trước tình hình đó, tháng 6/1956, Bộ Chính trị đã họp và ra Nghị quyết “Về tình hình, nhiệm vụ và công tác miền Nam” Nghị quyết nêu rõ: cách mạng miền Nam có nhiệm vụ đấu tranh nhằm thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống Mỹ - Diệm Mặt trận đó phải có sách lược:
Luôn luôn nhằm đúng kẻ thù trước mắt; cô lập, phân hoá chúng đến cao độ; đoàn kết bất cứ người nào đoàn kết được, trung lập bất cứ người nào
có thể trung lập được, lập mặt trận chống Mỹ - Diệm rộng rãi, bao gồm
cả những người thuộc các tầng lớp trên thân Pháp và chống Mỹ - Diệm, bao gồm cả nhân dân trong nước và kiều bào ở ngoài nước Mặt trận ấy
cố nhiên phải dựa trên cơ sở công nông liên minh và do Đảng ta lãnh đạo [21;226]
Nghị quyết cũng chỉ ra rằng, hình thức đấu tranh trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị, không phải là đấu tranh vũ trang Tuy vậy, Nghị quyết cũng lưu
ý rằng, đấu tranh chính trị không có nghĩa là tuyệt đối không dùng hình thức tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định, hoặc không tận dụng những lực lượng vũ trang của các giáo phái chống Diệm Trong trường hợp này, phải tổ chức tự vệ trong quần chúng nhằm đấu tranh chống địch và giải thoát cán bộ khi cần thiết; phải củng
Trang 21cố lực lượng vũ trang và bán vũ trang, xây dựng căn cứ địa làm chỗ dựa, đồng thời xây dựng cơ sở quần chúng vững mạnh làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang Như vậy, Nghị quyết Bộ Chính trị đã đề ra chủ trương mới cho việc tập hợp lực lượng cách mạng, xây dựng khối đoàn kết dân tộc
ở miền Nam Những chủ trương ấy dánh dấu bước phát triển mới trong đường lối
và phương pháp cách mạng miền Nam
Tháng 8/1956, đồng chí Lê Duẩn - Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng
đã soạn thảo “Đường lối cách mạng miền Nam” Bản “Đường lối cách mạng miền Nam” xác định rõ tính chất của xã hội miền Nam, bản chất độc tài phát xít của chế
độ Mỹ - Diệm, chỉ ra kẻ thù chính của dân tộc ta lúc này là đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngô Đình Diệm Trên cơ sở đó, “Đường lối cách mạng miền Nam” đã chỉ ra nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là: “Đánh đổ chính quyền độc tài phát xít Mỹ - Diệm, thực hiện một chính quyền liên hiệp dân chủ có tính chất dân tộc độc lập, để giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách đế quốc phong kiến độc tài phát xít Mỹ - Diệm để cùng với toàn quốc thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập dân tộc” [21;787] Để thực hiện nhiệm vụ đó, Đề cương đã phân tích những bài học kinh nghiệm lịch sử và chỉ rõ: cần thiết phải xây dựng một mặt trận dân tộc, nhằm tập hợp mọi lực lượng để chống kẻ thù chung “là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng ta hiện nay để chiến thắng quân thù” [21;821]
“Đường lối cách mạng miền Nam” vạch rõ, mặt trận phải có tính giai cấp rõ ràng, đồng thời phải bao hàm các lực lượng yêu nước, tiến bộ trong dân tộc, đặt quyền lợi Tổ quốc lên trên hết Phải tránh “tả” khuynh cô độc, hẹp hòi, đồng thời
đề phòng hữu khuynh xa rời lập trường đúng đắn của giai cấp công nhân Phải xây dựng khối liên minh công nông vững chắc làm cơ sở cho mặt trận, đồng thời phải hết sức coi trọng việc mở rộng thành phần mặt trận trong các tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, sinh viên, học sinh Phải đi sâu vào vận động xây dựng sự đoàn kết hết thảy các dân tộc thiểu số Tranh thủ những nhân sĩ yêu nước, những tầng lớp tư sản dân tộc có xu hướng chống chính sách độc quyền, chèn ép của Mỹ - Diệm Tranh thủ, xây dựng sự đoàn kết với các tôn giáo Cao Đài, Hoà Hảo, Phật giáo, Thiên
Trang 22Chúa giáo cả bên dưới và bên trên, nhưng căn bản là đoàn kết quần chúng cơ bản
ở bên dưới
Với những quan điểm, tư tưởng cách mạng đúng đắn, những nội dung nhiệm
vụ cụ thể sát thực, cùng những bài học kinh nghiệm thực tiễn phong phú, bản
“Đường lối cách mạng miền Nam” đã có tác dụng hướng dẫn, chỉ đạo trực tiếp và kịp thời phong trào cách mạng miền Nam đang có nhiều khó khăn, biến động lớn, làm cơ sở cho BCHTƯ xác định, cụ thể hoá đường lối và phương pháp cách mạng miền Nam trong thời kỳ mới
Tháng 12/1956, thực hiện chủ trương của Đảng, Liên khu uỷ khu V ra nghị quyết củng cố và mở rộng Mặt trận Trên cơ sở Chỉ thị của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Liên khu uỷ, Khu uỷ khu V đã đưa nhiều đoàn cán bộ người Kinh đến các buôn làng ở các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên, vận động, tổ chức, đồng bào các dân tộc thành một khối đoàn kết Sức mạnh đoàn kết của nhân dân ở các vùng núi này đã góp phần đánh bại nhiều cuộc càn quét đẫm máu của Mỹ - ngụy, nhằm gom dân của chiến dịch “thượng du vận” Điển hình là cuộc nổi dậy và làm chủ buôn làng của đồng bào huyện Bác Ái (bắc tỉnh Ninh Thuận) Từ năm 1957, hầu hết các buôn làng ở đây đều có cơ sở cách mạng Tháng 7/1958, tại vùng núi
Gô - Rô (Trà Bồng), đồng bào Quãng Ngãi mở Đại hội nhân dân các dận tộc chống
Mỹ Đại hội quyết tâm đoàn kết nhất trí và khẳng định: phải đánh Mỹ, sớm chừng nào hay chừng đó Đánh Mỹ - Diệm thì mới sống được dù có cực, có khổ mấy cũng quyết đánh Các tỉnh đã xây dựng được Ban cán sự, Ban tự quản và các căn cứ địa Lần lượt, các đơn vị vũ trang của tỉnh, huyện ra đời Thanh thế lực lượng cách mạng ngày càng cao
Cuối năm 1956, bên cạnh việc đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận, Xứ
uỷ Nam Bộ đã quyết định phải tích cực xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, lập các đội vũ trang bí mật, xây dựng căn cứ ở rừng núi Theo phương hướng đó, các đảng bộ đã tiến hành xây dựng lực lượng vũ trang, tiến hành vũ trang tuyên truyền mang tính tự vệ Liên tỉnh miền Trung Nam Bộ xây dựng được 3 đại đội vũ trang Các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre đã tổ chức được các đơn
vị vũ trang Ở khu 8, đã tổ chức các đơn vị vũ trang dưới danh nghĩa giáo phái ly
Trang 23khai để hoạt động vũ trang tuyên truyền, hỗ trợ cho quần chúng diệt trừ bọn ác ôn, phá ách kìm kẹp của Mỹ – Diệm
Ở khắp các đô thị miền Nam, các phong trào đấu tranh “Chống viện trợ”
Mỹ, đòi xây dựng một nền kinh tế độc lập; chống thuế… thu hút được mọi tầng lớp nhân dân tham gia Từ tháng 8/1957, đặc biệt sang năm 1958, phong trào này phát triển rất mạnh Hàng vạn công nhân của 150 xưởng dệt ở Sài Gòn - Chợ Lớn, Gia Định đã ba lần tổ chức đại hội có chủ xưởng cùng tham gia (vào tháng 3, tháng 6
và tháng 11/1958); công nhân di cư ở trại Tam Hoà và 8 trại định cư ở ngoại ô Sài Gòn họp đại hội 2 lần vào tháng 7 và tháng 8/1958; đại hội đại biểu của 450 nghiệp đoàn thuộc Tổng liên đoàn lao động miền Nam mở ngày 9/8/1958… Tất cả các đại hội đó đều lên án viện trợ Mỹ, đưa kiến nghị cho Chính quyền Diệm đòi cấm nhập cảng hàng ngoại hoá, đòi giải quyết nạn thất nghiệp, đòi khuyến khích công thương nghiệp và nông nghiệp trong nước Trong năm 1958, có 25 cuộc đại hội của các chủ ngành dệt toàn miền Nam, các chủ sản xuất giày, xà phòng…đưa kiến nghị cho
Bộ Kinh tế, tỏ thái độ bất bình với viện trợ Mỹ, đòi hạn chế 80% hàng nhập cảng, đòi giảm thuế máy móc nguyên liệu nhập cảng, giảm thuế môn bài Đặc biệt là trong đại hội ngành dệt toàn miền Nam tháng 3/1958 ( lấy tên là “đại hội Diên hồng ngành dệt”), các đại biểu đến dự đều ăn mặc bằng vải nội hoá, để chống lại hàng ngoại hoá…Trước phong trào đấu tranh rộng lớn, Chính quyền miền Nam phải hứa cấm nhập cảng một năm hàng vải ngoại quốc
Cùng với phong trào đấu tranh chống lệ thuộc kinh tế vào đế quốc Mỹ, phong trào chống giải toả, đuổi nhà, di dân đã thu hút hàng chục vạn nhân dân thành thị Trong năm 1957, nhiều nơi mở đại hội đấu tranh: đại hội đại biểu của trên 3.000 gia đình khu Tam giác (Sài Gòn), đại hội của hàng vạn đồng bào buôn bán ở các chợ Sài Gòn - Chợ Lớn…Nhiều nơi đã tổ chức biểu tình đòi ở lại chỗ cũ: 3.000 người ở đường Trương Tấn Bửu kéo đến dinh Độc Lập của Diệm; 1.000 gia đình ở trại Trần Hưng Đạo, trại Tân Sơn Nhất kéo đến Tổng Liên đoàn lao động yêu cầu can thiệp Phong trào đã bị Diệm khủng bố, đốt hàng trăm ngôi nhà nhưng vẫn phát triển mạnh Nhân dân lao động ở Sài Gòn - Chợ Lớn, các nghiệp đoàn công nhân nhà máy, đồn điền, giới báo chí, các ngiệp đoàn giáo dục tư thục, các
Trang 24nhà công thương nghiệp, các tổ chức Hội phụ nữ, Hội Phật giáo, Tin lành… vừa đấu tranh, vừa kêu gọi quyên góp lương thực, quần áo, tiền bạc, cứu giúp đồng bào
bị đốt nhà
Phong trào chống thuế cũng diễn ra sôi nổi, nhiều giới đã phối hợp chống thuế Cuối năm 1957, 200.000 bạn hàng của 50 chợ Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Sóc Trăng, Mỹ Tho, Biên Hoà… họp kiến nghị phản đối tăng thuế môn bài, thuế chỗ Giáo viên, học sinh đòi giảm thuế trường tư Văn nghệ sĩ đòi giảm thuế sân khấu, thuế xuất bản nhạc phẩm Nông dân chống tăng thuế điền thổ, chống truy thu thuế điền thổ…
Bên cạnh đó, còn có những phong trào rộng lớn như: phong trào chống bắt lính (1957); phong trào hưởng ứng bức công hàm 7/3/1958 của Chính phủ VNDCCH gửi nhà cầm quyền miền Nam, đề nghị hai miền giảm quân số và trao đổi buôn bán với nhau; phong trào đòi cải thiện đời sống, đòi tự do dân chủ… đều
có sự phối hợp hành động của nhiều giới
Một cuộc đấu tranh công khai hợp pháp, lớn nhất của các giới là cuộc đấu tranh diễn ra trong ngày Quốc tế lao động 1/5/1958 Nửa triệu công nhân, lao động
và nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn đã xuống đường biểu tình đòi quyền dân sinh, dân chủ Cuộc biểu tình khổng lồ này diễn ra trong lúc Mỹ - Diệm điên cuồng đánh phá phong trào cách mạng ở nông thôn, nên nó có ý nghĩa to lớn Nó chẳng những có tác dụng tập hợp lực lượng, biểu dương sức mạnh đoàn kết của các tầng lớp nhân dân đô thị, mà còn có tác dụng hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của nông dân Trong cuộc đấu tranh này, vai trò tiền phong của giai cấp công nhân miền Nam đã thể hiện rõ, “nâng cao thêm uy tín của giai cấp công nhân trong các tầng lớp nhân dân miền Nam, góp phần tích cực thực hiện mặt trận thống nhất rộng rãi của các
tầng lớp nhân dân chống Mỹ - Diệm” [25;521]
Cho đến năm 1958, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam đã thu hút được đông đảo các giai cấp, tầng lớp (công nhân, nông dân, tiểu thương, tiểu chủ, các dân tộc miền núi, các tôn giáo, đồng bào di cư, học sinh, sinh viên, trí thức và có cả một số công chức, binh sĩ của Diệm) tham gia Mặt trận đoàn kết chống Mỹ - Diệm đã được hình thành và hoạt động công khai,
Trang 25hợp pháp với nhiều hình thức phong phú, kết hợp với những cuộc đấu tranh bất hợp pháp Tính chất chống Mỹ của phong trào thể hiện rõ Phong trào phát triển sôi nổi, rộng khắp ở Nam bộ và lan ra Tây Nguyên, Liên khu V, trên thực tế đã hình thành một mặt trận rộng rãi chống Mỹ - Diệm
Ngô Đình Diệm từ khi lên nắm chính quyền đã liên tục thi hành chính sách bạo lực, nhằm dập tắt phong trào cách mạng của quần chúng Nhưng bạo lực không dập tắt nổi, mà chính bạo lực lại làm cho phong trào ngày càng trở nên sâu rộng Hoảng sợ trước khí thế đấu tranh của đồng bào miền Nam, Mỹ - Diệm càng bộc lộ
rõ bộ mặt phát xít Chúng điên cuồng khủng bố trắng Ngày 1/12/1958, Mỹ – Diệm gây ra vụ đầu độc hơn 6.000 tù chính trị ở trại tập trung Phú Lợi, làm chết hơn 1.000 chiến sĩ cách mạng, làm trên 4.000 người khác bị trúng độc nặng Đầu năm
1959, Diệm tuyên bố “đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh” Tháng 5/1959,
Mỹ - Diệm ban hành Luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền Nam, công khai giết hại những người yêu nước, tàn sát đồng bào miền Nam với những hình thức man rợ thời trung cổ
Trước những chính sách phát xít của Mỹ - Diệm, cách mạng miền Nam đã chịu nhiều tổn thất Đến năm 1959, nhiều xã không còn chi bộ; cả Nam Bộ chỉ còn 5.000 Đảng viên; ở đồng bằng Liên khu V, 70% chi uỷ viên, 60% huyện uỷ viên, 40% tỉnh uỷ viên bị địch bắt, giết; 12 huyện không còn cơ sở đảng; có tỉnh chỉ còn một chi bộ Đảng Tính đến năm 1959, ở miền Nam có gần nửa triệu người bị bắt, bị
tù đầy và gần 7 vạn người bị giết hại Cách mạng miền Nam đứng trước những thử thách cực kỳ nghiêm trọng
Trong khi đó, ở miền Bắc, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi căn bản trong công cuộc cải cách ruộng đất và khôi phục kinh tế; cải tạo XHCN và bước đầu phát triển kinh tế, văn hoá Những thành tựu của cách mạng XHCN ở miền Bắc ngày càng phát huy tác dụng đối với cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Đi đôi với sự ủng hộ về tinh thần, nhân dân miền Bắc không ngừng chi viện sức người, sức của cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược
Lúc này, trên thế giới, hệ thống XHCN không ngừng lớn mạnh về kinh tế và quân sự Năm 1959, nhân dân Liên Xô đã hoàn thành vượt mức những nhiệm vụ
Trang 26năm đầu của kế hoạch 7 năm xây dựng CNXH mà Đại hội lần thứ 21 đề ra Về khoa học - kỹ thuật, Liên Xô cũng đạt được những thành tựu vĩ đại trong việc phóng vệ tinh nhân tạo, phóng tên lửa lên khoảng không vũ trụ và chế tạo thành công tên lửa vượt đại châu cực mạnh Sự lớn mạnh của Liên Xô, của phe XHCN,
sự thức tỉnh của các dân tộc bị áp bức đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc Nhân dân các nước: Cuba, Angiêri, Triều Tiên, Công gô… đã vùng đậy tiến hành cuộc chiến tranh anh dũng chống bọn thực dân xâm lược để giành độc lập dân tộc
Cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của nhân dân ta là một bộ phận của phong trào độc lập và bảo vệ hoà bình của nhân dân Á - Phi và thế giới Cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân ta ở miền Nam ngày càng nhận được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân thế giới
Như vậy, vào năm 1959, tình hình ở cả hai miền đất nước và quốc tế đòi hỏi Đảng ta phải bổ sung, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng miền Nam Tháng 1/1959, nhằm đáp ứng yêu cầu của cách mạng miền Nam, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (khoá II) của Đảng đã họp và ra nghị quyết lịch sử Nghị quyết chỉ
rõ, đế quốc Mỹ thông qua Chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm để thực hiện chính sách thực dân của mình Do vậy, miền Nam đã trở thành thuộc địa kiểu mới và căn
cứ quân sự của đế quốc Mỹ Thành phần cốt cán trong chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm là những phần tử phong kiến, tư sản mại bản phản động nhất và những phần tử lưu manh côn đồ phản bội, quyết tâm làm tay sai cho đế quốc Mỹ Cho nên, ở miền Nam Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam với bọn đế quốc xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam, trước hết là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến Trong đó mậu thuẫn chủ yếu ở miền Nam là mâu thuẫn giữa dân tộc ta, nhân dân ở miền Nam với đế quốc Mỹ và tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm
Nghị quyết 15 của Đảng đã phân tích sâu sắc thái độ của các giai cấp, tầng lớp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc, địa chủ, các dân tộc thiểu số, các tín đồ tôn giáo, binh lính trong quân đội miền Nam, chỉ ra khả năng tập hợp ngày càng đông đảo các lực lượng yêu nước, dân chủ ở miền Nam trong
Trang 27một mặt trận dân tộc thống rộng rãi, lấy liên minh công nông làm cơ sở, do Đảng lãnh đạo, nhằm cô lập đến cao độ và đánh đổ chế độ độc tài tàn bạo của Mỹ - Diệm
Trên cơ sở phân tích đặc điểm tình hình và thái độ chính trị của các giai cấp
ở miền Nam, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 đã vạch ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là “giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng nước Việt Nam hoà bình, thống nhất,
độc lập, dân chủ và giàu mạnh” [24;81] Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền
Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bạo lực cách mạng, đồng thời căn cứ vào thực tiễn cách mạng miền Nam, Nghị quyết 15 của BCHTƯ vạch rõ: miền Nam, dưới ách thống trị của Mỹ - Diệm là một chế độ cực kỳ phản động và tàn bạo, cho nên ngoài con đường đấu tranh cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác để tự giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền
về tay nhân dân Con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân đánh
đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng nên chính quyền cách mạng của nhân dân
Để tập hợp lực lượng, thực hiện nhiệm vụ cách mạng đề ra, Hội nghị chủ trương thành lập một mặt trận riêng cho miền Nam, nhằm tập hợp tất cả các lực lượng chống đế quốc và phong kiến, bao gồm 4 giai cấp: công nhân, nông dân, tiểu
tư sản, tư sản dân tộc và các nhân sĩ yêu nước, lấy liên minh công nông làm cơ sở,
Trang 28do Đảng lãnh đạo Đối với địa chủ và tư sản mại bản, cần phải phân hoá cao độ, lôi kéo những phần tử chống Mỹ - Diệm, trung lập những phần tử lừng chừng, nhằm cô lập hơn nữa bọn tư sản mại bản thân Mỹ và bọn địa chủ phản động nhất, ngoan cố theo Mỹ - Diệm
Để cô lập cao độ và đánh đổ Mỹ - Diệm, Mặt trận dân tộc thống nhất ở miền Nam phải:
Rất rộng rãi, phải đoàn kết tất cả các dân tộc đa số và thiểu số, các đảng phái các tôn giáo và những cá nhân yêu nước, đoàn kết với ngoại kiều, đặc biệt là Hoa kiều; không phân biệt chủng tộc, tôn giáo chính kiến, điều cố yếu là chống Mỹ - Diệm, tán thành tự do dân chủ, cải thiện dân sinh và hoà bình thống nhất Việt Nam [24;87]
Nghị quyết 15 ra đời với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, đáp ứng nhu cầu bức thiết nhất của cách mạng miền Nam, làm xoay chuyển tình thế và mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên Nó đáp ứng nguyện vọng tha thiết của đồng bào miền Nam Nghị quyết là ngọn cờ tập hợp được đông đảo nhân dân miền Nam vùng lên đập tan xiềng xích nô lệ, giành quyền làm chủ
Dưới ánh sáng của Nghị quyết 15, một làn sóng cách mạng đã lan ra khắp miền Nam Ở Liên khu V, từ tháng 2 đến tháng 4/1959, nhân dân huyện Vĩnh Thạnh (Bình Định) đã nổi dậy, dời làng vào rừng sâu, thành lập các làng chiến đấu, giành thế làm chủ cuộc đấu tranh công khai với địch ở gần 60 làng với hơn 5000 dân
Tháng 4/1959, nhân dân làng Tà Boóc, huyện Đắc Lây (Kon Tum) và nhiều làng ở Kon Tum, Đắc Lắc đã nổi dậy diệt ác, trừ gian, dời làng vào rừng chống Mỹ – Diệm Điển hình nhất là cuộc khởi nghĩa Trà Bồng Sáng ngày 28/8/1959, được
sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhân dân các dân tộc Trà Bồng (Quảng Ngãi) đoàn kết chặt chẽ, nổi dậy đồng loạt quét sạch quân địch trên địa bàn huyện Nhân dân các huyện Ba Tơ, Sơn Trà, Minh Long cũng lần lượt nổi dậy tiêu diệt địch, hình thành vùng giải phóng, lập chính quyền cách mạng Thắng lợi của Trà Bồng
có ý nghĩa to lớn, nó góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng ở miền Nam sang thời kỳ mới
Trang 29Tháng 10/1960, tại vùng căn cứ Kốn Hà Nùng (An Khê - Gia Lai), đại biểu các dân tộc Tây Nguyên và vùng núi phía tây các tỉnh Nam Trung Bộ tổ chức Đại hội thành lập Phong trào dân tộc tự trị Tây Nguyên, nhằm đoàn kết chặt chẽ các dân tộc đấu tranh cho độc lập, thồng nhất của nước nhà, thực hiện chính sách đại đoàn kết bình đẳng, tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc trong đại gia đình Tổ quốc Việt Nam Đại hội đã kêu gọi các dân tộc hãy đoàn kết chặt chẽ chống Mỹ – Diệm
và xác định Phong trào dân tộc tự trị Tây Nguyên là một bộ phận của Mặt trận đoàn kết chống Mỹ ở miền Nam Đại hội bầu cụ Y Bih Alêô, một cán bộ kháng chiến cũ, một nhân sĩ có uy tín trong đồng bào tỉnh Đắc Lắc làm chủ tịch phong trào
Ở Nam Bộ, đêm 17/1/1960, Tỉnh uỷ Bến Tre phát lệnh đồng khởi Nhân dân
Bến Tre đã đoàn kết vùng dậy, diệt ác, phá đồn, đập tan bộ máy cai trị, kìm kẹp của địch ở thôn xã Từ Bến Tre, phong trào lan nhanh ra nhiều vùng trong các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long “Đồng khởi” là một hình thức khởi nghĩa từng phần của nông dân, bao gồm nông dân không đạo và có đạo, nông dân người Kinh và người các dân tộc, được sự hưởng ứng của những tầng lớp yêu nước khác ở nông thôn và sự giúp đỡ của một số binh lính giác ngộ trong quân ngụy, nhất là trong lực lượng bảo
an, dân vệ Phong trào đã dùng lực lượng chính trị kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân đập tan bộ máy chính quyền ở bên dưới Kết quả, ở một nửa số xã miền Nam chính quyền địch đã tan rã, hàng nghìn binh lính, sĩ quan địch đầu hàng Các khu trù mật, dinh điền, trại tập trung bị phá tan và hình thành vùng giải phóng rộng lớn do nhân dân lao động làm chủ
Phong trào “Đồng khởi” ở nông thôn đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh ở đô thị Tháng 1/1960, 8.000 công nhân đồn điền cao su Biên Hoà đình công
và nhận được sự ủng hộ của công nhân cao su toàn Nam Bộ Ngày 1/5/1960, hàng ngàn công nhân Sài gòn - Chợ Lớn xuống đường “đả đảo đế quốc Mỹ”, đòi quyền
tự do dân chủ Ngày 20/9/1960, 2 vạn đồng bào Khơme, trong đó có hàng ngàn sư sãi ở Trà Vinh, kéo vào thị xã đòi tự do tín ngưỡng Ngày 4/10/1960, hàng vạn đồng bào huyện Cao Lãnh kéo vào thị xã Sa Đéc đấu tranh chống khủng bố, chống bắt phu, bắt lính Ngày 15/10/1960, 6 vạn đồng bào Bến Tre kéo vào thị xã đòi huỷ
bỏ Luật 10/59 …Trong năm 1960, có 10 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính
Trang 30trị, điển hình nhất là phong trào đấu tranh nhân ngày 20/7, ngày đấu tranh thống nhất nước nhà Ngày này, trên khắp miền Nam, từ thành thị đến nông thôn, nhân dân đã xuống đường biểu tình, mít tinh chống chính sách xâm lược và gây chiến của Mỹ Trong thời gian này ở Trung Nam Bộ, phong trào đã lôi cuốn 400 xã (trong tổng số 509 xã), với hàng nghìn cuộc biểu tình lớn nhỏ, thu hút hơn 60 vạn người tham gia Phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam phát triển mạnh, càng đẩy mạnh sự phân hoá trong nội bộ Chính quyền Diệm, làm cho nội bộ ngụy quyền khủng hoảng triền miên và dẫn đến đảo chính liên tiếp (nhất là sau vụ đảo chính ngày 11/11/1960)
Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng ở miền Nam không những đã động viên được hàng triệu quần chúng quyết tâm đứng lên đấu tranh, mà cách mạng còn trung lập được những phần tử cần trung lập, tranh thủ, lôi kéo được nhiều người đứng trong hàng ngũ của địch về với cách mạng, cô lập cao
độ kẻ thù và tập hợp thêm nhiều lực lượng yêu nước vào mặt trận đoàn kết chống
Mỹ - Diệm Cuộc đấu tranh quyết liệt của đông đảo các tầng lớp nhân dân miền Nam đặt Đảng ta trước một thực tiễn phải có một tổ chức cách mạng công khai, có đường lối đấu tranh đúng đắn, đứng ra động viên, tổ chức toàn thể nhân dân đoàn kết lại, đánh đổ Mỹ – Diệm Và Đảng tiếp tục có những bước đi để đáp ứng yêu cầu bức thiết
đó của nhân dân miền Nam
1.2.2 Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời
Nghị quyết 15 của Đảng đã thổi bùng lên cao trào khởi nghĩa từng phần rộng lớn ở miền Nam, đưa cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công Tháng 9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng được triệu tập tại Hà Nội Đại hội nhận định: cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam là một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, phức tạp Quá trình thực hiện nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là quá trình tập hợp, đoàn kết, tổ chức và phát triển các lực lượng đấu tranh chống Mỹ - Diệm Để đảm bảo cho cuộc đấu tranh cách mạng giành được thắng lợi, Đảng khẳng định, ở miền Nam phải “thực hiện một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống Mỹ - Diệm lấy liên minh công nông làm cơ sở” [25;920]
Trang 31Để tập hợp được lực lượng, mặt trận nêu cao mục tiêu phấn đấu của mình là: hoà bình, độc lập dân tộc, tự do dân chủ, cải thiện dân sinh… Trên cơ sở đó, mặt trận phải đoàn kết được các giai cấp và các tầng lớp yêu nước, các dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số, các đảng phái và tôn giáo yêu nước, và tất cả những người có khuynh hướng chống Mỹ - Diệm; đoàn kết tất cả những lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ bất cứ lực lượng nào có thể tranh thủ, trung lập những thế lực cần phải trung lập, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân vào phong trào đấu tranh chung chống Mỹ - Diệm, giải phóng miền Nam, hoà bình thống nhất Tổ quốc
Nghị quyết 15 và Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng đã soi sáng con đường tiến lên của nhân miền Nam Đường lối cách mạng miền Nam đã được xác định rõ ràng trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm phong phú nhiều năm đấu tranh của đồng bào miền Nam trong những điều kiện mới Đường lối đó là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam, tạo điều kiện để những tổ chức cách mạng có thể hoạt động công khai; đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải có một hình thức tổ chức công khai để tập hợp tất cả lực lượng yêu nước toàn miền Nam dưới ngọn cờ duy nhất, chung quanh một chương trình hành động cụ thể
Thực hiện Nghị quyết 15 và Nghị quyết Đại hội III, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, ngày 20/12/1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, thuộc vùng giải phóng Tây Ninh, đại biểu các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo và các đảng phái đã họp Đại hội, quyết định thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Thông Tấn
xã Giải phóng và Đài phát thanh Giải phóng - cơ quan ngôn luận của Mặt trận ra đời, đã góp phần quan trọng trong việc giác ngộ, tập hợp lực lượng yêu nước ở miền Nam Nhân sĩ, trí thức lần lượt rời Sài Gòn và các thành phố khác của miền Nam vào căn cứ đi theo cách mạng
Đại hội thông qua Tuyên ngôn, Chương trình của MTDTGPMNVN Cương lĩnh của Mặt trận đánh giá rất cao ý nghĩa chiến lược của vấn đề đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và Chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm Tuyên ngôn khẳng định:
Trang 32Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chủ trương đoàn kết tất
cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo và thân sĩ yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị, để đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, thực hiện độc lập, dân chủ, hoà bình trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc [67;7]
Để thực hiện chủ trương trên, Đại hội đã thông qua Chương trình hành động của Mặt trận gồm 10 điểm, làm cơ sở cho khối đoàn kết dân tộc ở miền Nam cùng phấn đấu:
1 Đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và Chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, thành lập chính quyền liên minh dân tộc dân chủ
2 Thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi và tiến bộ
3 Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, thực hiện cải thiện dân sinh
4 Thực hiện giảm tô, tiến tới giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân, làm cho người cày có ruộng
5 Xây dựng nền văn hoá, giáo dục dân tộc, dân chủ
6 Xây dựng một quân đội bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân
7 Thực hiện dân tộc bình đẳng, nam nữ bình quyền, bảo vệ quyền lợi thích đáng của ngoại kiều và kiều bào
8 Thực hiện chính sách ngoại giao hoà bình trung lập
9 Lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền, tiến tới hoà bình, thống nhất
Tổ quốc
10 Chống chiến tranh xâm lược, tích cực bảo vệ hoà bình thế giới
“10 điểm” trong Chương trình hành động của MTDTGPMNVN thể hiện mục tiêu phấn đấu của nhân dân miền Nam là đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của
đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngô Đình Diệm, xây dựng một miền Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc Khẩu hiệu “hoà bình trung lập”, “tiến tới hoà bình thống nhất” là một chủ trương sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng miền Nam, nhằm tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước chống Mỹ - Diệm, từ lực lượng công nông, đến các lực lượng tiến bộ thuộc các
Trang 33giáo phái, các nhóm tư sản dân tộc, các nhân sĩ yêu nước Tập hợp đông đảo nhất lực lượng chống Mỹ – Diệm cũng là cô lập Mỹ – Diệm đến mức cao nhất Đó là con đường dẫn tới độc lập, dân chủ, thống nhất một cách chắc chắn Khẩu hiệu trên lại có khả năng tranh thủ được sự ủng hộ của nhân dân và chính phủ các nước láng giềng, các nước XHCN và nhân dân thế giới, đưa cách mạng miền Nam tiến lên
Đại hội cử ra Uỷ ban Trung ương lâm thời của Mặt trận, gồm các đồng chí Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát, Võ Chí Công Đại hội kêu gọi:
Tất cả hãy đứng lên, tất cả hãy đoàn kết lại! Hãy siết chặt hàng ngũ, tiến lên chiến đấu dưới ngọn cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam để đánh đổ ách thống trị tàn ác của đế quốc Mỹ và tay sai của
Mỹ là Ngô Đình Diệm để cứu nước cứu nhà [67;20]
MTDTGPMNVN ra đời với Tuyên ngôn, Chương trình hành động 10 điểm,
đã đáp ứng kịp thời nguyện vọng bức thiết nhất của tuyệt đại bộ phận các tầng lớp
xã hội ở Việt Nam là phải chấm dứt chế độ độc tài tàn bạo, phải độc lập, dân chủ, hoà bình, thống nhất Tổ quốc Các lực lượng yêu nước và dân chủ đã đoàn kết với nhau trong đấu tranh những năm vừa qua, lúc này hơn lúc nào hết, lực lượng đoàn kết của họ càng phát triển mạnh mẽ và sâu rộng trong một tổ chức cách mạng có cương lĩnh, chương trình hành động thống nhất Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận
đã giương cao ngọn cờ đoàn kết chống Mỹ, đã tập hợp hàng triệu người ở nông thôn cũng như thành thị, hàng chục tổ chức chính trị, quân sự, tôn giáo vào khối đoàn kết dân tộc chống Mỹ - Diệm
Sự ra đời của MTDTGPMNVN là cả một quá trình phấn đấu, chuẩn bị gian khổ, tập hợp lực lượng yêu nước cách mạng từ vĩ tuyến 17, qua miền Trung, Tây Nguyên vào tận mũi Cà Mau Mặt trận thật sự trở thành người đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam Đánh giá về sự kiện trọng đại này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ:
Một mặt trận của nhân dân đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi là một lực lượng tất thắng Hiện nay, trong cuộc đấu tranh anh dũng chống chế độ tàn bạo của Mỹ - Diệm, đồng bào ta ở miền Nam cũng có “Mặt trận dân tộc giải phóng” với chương trình hoạt động thiết thực và phù hợp với
Trang 34nguyện vọng chính đáng của nhân dân Do đó có thể đoán rằng đồng bào miền Nam nhất định sẽ thắng lợi, nước nhà nhất định sẽ thống nhất, Nam - Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà [58;92]
* *
* Như vậy, từ năm 1954 - 1960, đế quốc Mỹ đã nhảy vào miền Nam, dựng lên Chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, phá hoại Hiệp định Giơnevơ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta Mỹ – Diệm đã thiết lập một hình thức thống trị điển hình của chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam Đế quốc Mỹ không đặt bộ máy cai trị và quân đội chiếm đóng ở miền Nam, nhưng bằng chính sách “viện trợ” quân sự
và kinh tế, bằng hệ thống “cố vấn” và cơ quan kiểm tra, Mỹ đã khống chế miền Nam về mọi mặt Về chính trị thì bộ máy Chính quyền miền Nam hoàn toàn do Mỹ nắm; các “quốc sách” của chính quyền ấy đều do Mỹ quyết định Về quân sự, Mỹ trực tiếp xây dựng, huấn luyện, trang bị quân đội miền Nam và dùng hệ thống phái đoàn quân sự MAAG để trực tiếp chỉ huy quân đội ấy Về kinh tế, miền Nam đã biến thành thị trường tiêu thụ hàng hoá ế thừa của Mỹ và các nước phe Mỹ; những quyền lợi kinh tế lớn ở miền Nam đều dần dần lọt vào tay Mỹ, hoặc do Mỹ lũng đoạn Về văn hoá, Mỹ đưa vào miền Nam “lối sống Mỹ” cực kỳ hủ bại, gieo nọc độc của “văn hoá” Mỹ vào thanh niên và nhân dân miền Nam Đồng thời, Mỹ – Diệm ra sức thi hành chính sách khủng bố cực kỳ man rợ, hòng tiêu diệt phong trào yêu nước của đồng bào miền Nam và dìm cách mạng miền Nam trong máu lửa Dưới ách thống trị tàn bạo của Mỹ - Diệm, nhân dân miền Nam không còn con đường nào khác, ngoài con đường vùng dậy đấu tranh lật đổ Mỹ – Diệm, tự giải phóng mình Trong điều kiện đó, Đảng đã chủ trương tập hợp lực lượng dân tộc và quyết định thành lập MTDTGPMN để huy động mọi lực lượng chống Mỹ, cứu nước MTDTGPMN ra đời đã đáp ứng được nhu cầu bức thiết của cách mạng miền Nam Trong cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ, sự tập hợp lực lượng mới còn
có nhiều khả năng rộng lớn hơn nữa Các tổ chức, các nhóm, các cá nhân bất bình
Trang 35với chế độ Mỹ – Diệm ngày càng nhiều và ngày càng tăng MTDTGPMN sẽ là ngọn cờ đoàn kết dân tộc ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, dân chủ, hoà bình
và thống nhất Tổ quốc
Chương 2
ĐẢNG LÃNH ĐẠO MỞ RỘNG KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở
MIỀN NAM VIỆT NAM (1961 - 1975)
2.1 Mở rộng Mặt trận đoàn kết dân tộc ở miền Nam (1961 - 1968)
2.1.1 Củng cố và mở rộng Mặt trận đoàn kết dân tộc, đánh bại chiến tranh đặc biệt (1961 - 1965)
Thắng lợi của cao trào khởi nghĩa từng phần rộng lớn ở miền Nam đầu năm
1960 đã làm cho “thời kỳ tạm ổn định của chế độ Mỹ - Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp, suy sụp nghiêm trọng đã bắt đầu” [26;153] Hình thức thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài phát xít Ngô Đình Diệm bị thất bại, chiến lược thống trị thực dân mới của Aixenhao bị phá sản hoàn toàn Để cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ bị động thay đổi chiến lược, chuyển sang hình thức “chiến tranh đặc biệt”,
để đối phó với cách mạng miền Nam, chiếm lại những địa bàn và vùng dân cư đã mất do phong trào khởi nghĩa từng phần của quần chúng
Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” là một trong ba loại chiến tranh của học thuyết “phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” thực thi ở miền Nam Việt Nam là dùng quân đội Chính quyền Sài Gòn làm nòng cốt với vũ khí Mỹ và do cố vấn Mỹ chỉ huy; dùng “quốc sách” lập “ấp chiến lược”, hòng dồn dân vào các trại tập trung trá hình; tăng cường “viện trợ” để củng cố và
ổn định thành thị miền Nam Tất cả âm mưu và thủ đoạn này nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam vừa mới hình thành; tách nhân dân với Đảng,
cô lập và thủ tiêu cách mạng miền Nam; củng cố chế độ thực dân mới ở miền Nam, tiếp tục thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ Đứng trước âm mưu thâm độc của kẻ thù, đồng bào miền Nam chỉ còn có một con đường là đoàn kết chặt chẽ dưới lá cờ của MTDTGPMN, kiên quyết đấu tranh dưới mọi hình thức:
Trang 36đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và làm công tác binh vận, để đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc
Từ khi MTDTGPMNVN ra đời, phong trào cách mạng của nhân dân ta ngày càng phát triển rầm rộ, sôi nổi, trên quy mô rộng lớn, khắp các vùng nông thôn, đồng bằng rừng núi và đô thị miền Nam Ở nhiều vùng rộng lớn của nông thôn Nam Bộ và rừng núi miền Nam Trung Bộ, nhân dân đã vùng lên phá thế kìm kẹp của địch và tự quản đời sống của mình Đặc biệt, với Tuyên ngôn và Chương trình hành động của mình, Mặt trận đã kết nạp hàng chục đoàn thể yêu nước đại diện cho các giai cấp, tầng lớp, công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, phụ nữ, các tôn giáo, các dân tộc, các chính đảng tiến bộ Trong đó có, Nhóm “những người đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập của Tổ quốc Việt Nam” của những binh sĩ yêu nước trong quân đội miền Nam, Nhóm “binh sĩ trở về với nhân dân đấu tranh chống Mỹ - Diệm”, Hội Liên hiệp sinh viên, học sinh giải phóng miền Nam Việt Nam (thành lập ngày 9/1/1961), Đảng Dân chủ miền Nam Việt Nam (31/1/1961),
“Giải phóng quân miền Nam Việt Nam” (15/2/1961), Hội Phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam ( 8/3/1961), Hội chấn hưng đạo đức của Phật giáo, Hoà Hảo (30/3/1961), Nhóm Công thương gia yêu nước ở miền Nam (31/3/1961), Hội Lục hoà phật tử miền Nam Việt Nam (8/4/1961), Hội Nông dân giải phóng miền Nam Việt Nam (24/4/1961), Hội Liên hiệp thanh niên giải phóng miền Nam Việt Nam (24/4/1961), Hội những người công giáo yêu nước kính Chúa (4/1961), Hội Cao đài tiên thiên, Hội Lao động giải phóng miền Nam Việt Nam (1/5/1961), Phong trào dân tộc tự trị Tây Nguyên (19/5/1961), Hội những người kháng chiến cũ ở miền Nam Việt Nam (gia nhập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ngày 1/7/1961); Đảng Xã hội cấp tiến (đảng của những người trí thức yêu nước - thành lập ngày 7/1/1961); Hội văn nghệ giải phóng miền Nam Việt Nam (15/7/1961); Hội các nhà báo yêu nước và dân chủ miền Nam Việt Nam (11/11/1961), Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam (đảng của những người theo chủ nghĩa Mác-Lênin, có một vai trò rất quan trọng trong Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam - 1/1/1962); Đoàn thanh niên nhân dân cách mạng Việt Nam (1/1/1962)…
Thông tấn xã Giải phóng và Đài phát thanh Giải phóng cùng với trên 30 tờ báo Trung ương và địa phương ra đời và hoạt động, đã nói lên tiếng nói chính nghĩa của Mặt trận, càng cổ vũ các tầng lớp đồng bào ta ở miền Nam kiên quyết
Trang 37đấu tranh chống Mỹ – Diệm và làm cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta được dư luận thế giới hiểu rõ và nhiệt tình ủng hộ Tuy nhiên, còn một bộ phận tín đồ Cao đài, Hoà Hảo, Công giáo, trước đây chống ta thì nay vẫn còn giữ thành kiến với cách mạng, nhất là một số người cầm đầu đã bị mua chuộc vẫn muốn có vị trí và tổ chức độc lập của họ
Để tập hợp rộng rãi hơn nữa các lực lượng dân tộc ở miền Nam vào Mặt trận đoàn kết dân tộc chống Mỹ - Diệm, ngay từ tháng 1/1961, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị “Về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam” Sau khi phân tích tình hình miền Nam, Chỉ thị đã đề ra nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam lúc này là:
Tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng trong Mặt trận dân tộc giải phóng, phát động một phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ của quần chúng, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta tạo mọi điều kiện và nắm mọi thời cơ thuận lợi để đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, giải phóng miền Nam [26;159]
Để thực hiện nhiệm vụ đó, Chỉ thị khẳng định: “Cần mở rộng Mặt trận dân tộc giải phóng” [26;163] “Điều kiện cơ bản để mở rộng Mặt trận là phải ra sức tăng cường lực lượng công nông, thực hiện khẩu hiệu công nông binh liên hiệp, đẩy
mạnh đấu tranh làm tan rã hàng ngũ địch và tiêu diệt sinh lực địch” [26; 163] Để
mở rộng Mặt trận dân tộc giải phóng khắp mọi nơi và xây dựng cho được mặt trận
ở bên trên (tỉnh, miền, Trung ương), phải tuyên truyền giáo dục cho quần chúng thấy rõ đường lối, chính sách của Đảng và chương trình của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, thấy rõ sự suy yếu, tan rã của địch, khả năng và sức mạnh của quần chúng Phải chú trọng thu hút rộng rãi trí thức, sinh viên, học sinh, các phần
tử tiêu biểu và tiến bộ của giai cấp tư sản, những đồng bào dân tộc thiểu số và tín
đồ Cao Đài, Hoà Hảo, Công giáo có xu hướng chống Mỹ - Diệm Phải ra sức lãnh đạo và giúp đỡ Đảng Dân chủ để tập hợp thêm tư sản, trí thức vào Mặt trận
Tháng 10/1961, Hội nghị R lần thứ nhất (mở rộng) của Trung ương Cục miền Nam đã quán triệt chủ trương của Bộ Chính trị và đề ra phương hướng cho cách mạng miền Nam Nghị quyết khẳng định: để tập hợp được mọi lực lượng chống Mỹ – Diệm và thuận lợi cho việc đoàn kết nhân dân sản xuất và chiến đấu,
Trang 38phải đẩy mạnh công tác mặt trận, dân vận, củng cố cơ sở công nông liên minh, nhằm tăng cường tổ chức, giáo dục, bồi dưỡng quần chúng công nông, đồng thời
mở rộng tổ chức và ảnh hưởng của Mặt trận trong các tôn giáo và tầng lớp trên, xúc tiến thành lập Uỷ ban mặt trận các cấp, nhất là Trung ương và tỉnh Thành phần Ban Chấp hành mặt trận từ Trung ương đến tỉnh cần rộng rãi, tiêu biểu cho mọi tầng lớp xu hướng Đối với đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, để có thể phát huy triệt để khả năng cách mạng của đồng bào các dân tộc ít người, khắc phục tư tưởng
“dân tộc lớn” và ngăn ngừa tư tưởng dân tộc hẹp hòi, Chỉ thị chỉ rõ: “Cần phát huy hơn nữa ảnh hưởng và tác dụng của phong trào dân tộc ở Tây Nguyên nhằm động viên
và đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ các tầng lớp, các dân tộc ở Tây Nguyên để đấu tranh hàng ngày và cùng nhân dân toàn miền Nam tiến lên đánh đổ Mỹ – Diệm” [26;705]
Với mục đích lôi kéo nhóm hoà bình trung lập ở đô thị và thành phố lớn, tranh thủ mọi cơ hội để liên hiệp hành động với các tổ chức, phe phái cùng mục tiêu chung chống Mỹ – Diệm, mở rộng khối đoàn kết dân tộc ở miền Nam, Chỉ thị vạch rõ: “Ngoài Mặt trận Dân tộc Giải phóng cần có nhiều hình thức nhẹ nhàng
khác tập hợp mọi lực lượng, khuynh hướng chống Mỹ – Diệm” [26;705] Và “phát
huy rộng rãi ảnh hưởng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng trên thế giới” [26;705], tranh thủ mọi điều kiện để Mặt trận Dân tộc Giải phóng ra nhập hoặc tham gia các hoạt động của các tổ chức hoà bình, dân chủ trên thế giới, kêu gọi sự ủng hộ quốc
tế
Thực hiện chủ trương trên của Đảng, từ ngày 16/2/ đến 3/3/1962, tại vùng KàTum (Tây Ninh), hơn 100 đại biểu đại diện các chính đảng, các đoàn thể, các lực lượng vũ trang giải phóng, các dân tộc, các giai cấp, các tôn giáo và nhiều nhân sĩ yêu nước tiêu biểu đã họp Đại hội MTDTGPMNVN lần thứ nhất
Đại hội đã đánh giá công tác của Mặt trận từ ngày thành lập đến Đại hội lần thứ nhất (20/12/1960 – 2/1962) và khẳng định:
Một mặt trận dân tộc đoàn kết rộng rãi - Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, tập hợp ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đảng phái, tôn giáo, dân tộc, cả binh lính sĩ quan và nhân viên chánh quyền miền Nam; uy thế của Mặt trận dân tộc giải phóng ngày càng phát triển
to lớn ở trong nước và trên thế giới [27;943]
Trang 39Đại hội đã đề ra phương hướng của cách mạng miền Nam và xác định nhiệm vụ chung của MTDTGPMNVN, trong đó nhấn mạnh: “Thi hành chánh sách trung lập” [16;19] Sở dĩ, Đại hội đưa ra “chính sách trung lập”, bởi vì lúc này, khuynh hướng hoà bình trung lập đang phát triển trên các lục địa, nhiều nước nhờ
áp dụng chủ trương này mà bảo vệ được chủ quyền, thực hiện hoà hợp dân tộc và xây dựng được chế độ dân chủ Hơn nữa, ở miền Nam, các khuynh hướng chính trị, phe phái, các tôn giáo, các dân tộc chỉ có thể thực hiện được sự thống nhất trên cơ
sở chủ trương trung lập Có thể thấy, chủ trương “thi hành chính sách trung lập” là một sách lược mềm dẻo, để lôi kéo đông đảo và rộng rãi mọi lực lượng yêu nước chống Mỹ - Diệm
Để thực hiện chính sách đó, Đại hội nhấn mạnh: MTDTGPMN chủ trương đoàn kết rộng rãi trong hàng ngũ của mình các dân tộc, các tầng lớp, các giai cấp, các đảng phái, các tôn giáo, và tất cả những cá nhân yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị Đại hội đã đánh giá cao sự liên hiệp hành động giữa MTDTGPMN với tất
cả các tổ chức và cá nhân có thiện chí ở ngoài hàng ngũ Mặt trận, để cùng nhau phấn đấu thực hiện một số yêu sách nhất định
Đại hội xác nhận 10 chủ trương trước mắt của Mặt trận được công bố ngày 17/1/1962, trong đó có nội dung cơ bản là yêu cầu đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam; thực hiện các quyền tự do dân chủ; giải tán quốc hội và huỷ bỏ hiến pháp hiện thời, xây dựng quốc hội và hiến pháp mới dân chủ…
Đại hội khẳng định: “Con đường duy nhất đúng để cứu mình, cứu nước là đoàn kết rộng rãi, cùng nhau phấn đấu để ngăn chặn cuộc chiến tranh tàn khốc xâm lược miền Nam Việt Nam do đế quốc Mỹ và tay sai gây ra, thực hiện một miền
Nam độc lập, dân chủ và hoà bình trung lập…” [16;23]
Đại hội đã bầu ra Ủy ban Trung ương chính thức gồm 52 vị (trong đó 31 vị
có mặt tại đại hội, dành 21 ghế trong đó có 3 ghế phó chủ tịch cho các lực lượng yêu nước chưa có mặt tại đại hội sẽ tham gia Mặt trận)
Ngày 3/3/1962, Uỷ ban Trung ương chính thức họp phiên toàn thể đầu tiên, bầu luật sư Nguyễn Hữu Thọ, một trí thức yêu nước làm Chủ tịch Mặt trận Năm Phó chủ tịch là: bác sĩ Phùng Văn Cung, đồng chí Võ Chí Công, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Đại Đức Sơn Vọng, ông Bih Alêô; giáo sư Nguyễn Văn Hiếu làm Tổng
Trang 40thư ký Mặt trận Uỷ ban Trung ương của MTDTGPMNVN gồm đầy đủ các đại diện của các giai cấp, đảng phái, các dân tộc, tôn giáo, các đoàn thể và các nhân sĩ yêu nước Mặt trận đã được củng cố và tăng cường thành trung tâm của khối đoàn kết, là ngọn cờ tập hợp tất cả mọi lực lượng yêu nước, mọi khuynh hướng hoà bình, trung lập ở miền Nam
Đại hội là một sự kiện chính trị quan trọng, góp phần cổ vũ, động viên khối đoàn kết của nhân dân miền Nam trong sự nghiệp chống Mỹ và tay sai Hàng triệu người trên khắp miền Nam đã tổ chức mít tinh hoan nghênh UBTƯMTDTGP và bày tỏ niềm tin tưởng vào chính sách đúng đắn, chính nghĩa của Mặt trận Bình luận về sự kiện này, Thông tấn xã Giải phóng viết:
Đại hội Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ nhất thành công, biểu dương chói lọi hơn bao giờ hết truyền thống đoàn kết, quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta Đại hội đánh dấu một giai đoạn lịch sử quyết định của dân tộc vô cùng đau thương nhưng anh dũng tuyệt vời: giải phóng phần đất miền Nam yêu quý khỏi nanh vuốt của đế quốc
Mỹ và tay sai Đại hội chính là dấu hiệu báo trước những đòn nặng nề
mà nhân dân miền Nam sẽ giáng vào đầu bọn cướp nước và bán nước, những thất bại nhục nhã mà kẻ thù ngoan cố của chúng ta không thể tránh khỏi, dù chúng lao mình vào một cuộc phiêu liêu tuyệt vọng đen tối nhất [44;212]
Sau Đại hội lần thứ nhất, phạm vi và ảnh hưởng hoạt động của Mặt trận ngày càng mở rộng Mặt trận đã tổ chức lãnh đạo nhân dân miền Nam kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và làm công tác binh vận cả nông thôn và thành thị,
mở rộng vùng giải phóng Ở vùng giải phóng, Uỷ ban Mặt trận các cấp đã được thành lập và chuyển sang làm chức năng của chính quyền cách mạng, có nhiệm vụ đoàn kết, tổ chức nhân dân chiến đấu, sản xuất và xây dựng cuộc sống mới “Đến 10/1962, tất cả các miền (Trung Trung bộ, Nam Trung bộ, Tây nguyên, Đông Nam
bộ, Sài Gòn – Gia Định, Trung Nam bộ, Tây Nam bộ) đều có Uỷ ban Mặt trận Trong số 41 tỉnh thành, từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau thì 38 tỉnh thành đã có Uỷ
ban Mặt trận ra mắt nhân dân” [44;200] Và “uy tín của Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam ngày càng thêm to lớn trong quần chúng nông thôn cũng như thành thị” [44;198] Tại nhiều vùng rộng lớn ở miền Nam, Chính quyền