1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng cộng sản việt nam với quan hệ của việt nam với campuchia từ năm 1979 đến năm 1997

140 516 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thổ, tính mạng và tài sản của nhân dân, đáp lời kêu cứu của nhân dân Campuchia, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo quân đội nhân dân Việt Nam giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ Pol po

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN MẠNH LINH

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỚI QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI CAMPUCHIA

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN MẠNH LINH

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỚI QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI CAMPUCHIA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các ý tưởng, các số liệu cũng như kết cấu luận văn là kết quả do quá trình nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trần Kim Đỉnh – Khoa Lịch Sử, Trường Đại học Khoa học và Xã hội Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Đó là những kết quả trung thực, khách quan, khoa học Các tài liệu tham khảo có xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 09 tháng 11 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Mạnh Linh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI VỚI CAMPUCHIA TỪ NĂM 1979 ĐẾN NĂM 1991 8

1.1 Khái quát lịch sử quan hệ Việt Nam – Campuchia đến năm 1979 8 1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ đối ngoại với Campuchia từ năm 1979 đến năm 1985 9 1.2.1 Bối cảnh lịch sử 9 1.2.2 Chủ trương và các hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm xây dựng, củng cố quan hệ hữu nghị với Campuchia 11 1.3 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong mối quan hệ với

Campuchia từ năm 1986 đến năm 1991 36 1.3.1 Bối cảnh lịch sử 36 1.3.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và các hoạt động đối ngoại với Campuchia 37 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 61

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CỦNG

CỐ, PHÁT TRIỂN QUAN HỆ ĐOÀN KẾT HỮU NGHỊ, HỢP TÁC VIỆT NAM – CAMPUCHIA TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 1997 63

2.1 Bối cảnh lịch sử 63 2.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản và các hoạt động của Nhà nước, Chính phủ Việt Nam trong việc củng cố, phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt Nam - Campuchia 64 2.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm đẩy mạnh phối hợp với Campuchia đấu tranh thi hành Hiệp định Paris về giải pháp chính trị toàn bộ cho vấn đề Campuchia 64 2.2.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm củng cố, phát triển quan hệ đoàn kết, hữu nghị và hợp tác với Campuchia, tích cực phối hợp giải quyết các vấn đề còn tồn tại giữa hai nước 69

Trang 5

2.2.3 Các hoạt động ngoại giao giữa Việt Nam với Campuchia 75

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 98

Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 99

3.1 Nhận xét 99

3.1.1 Một số thành tựu, ưu điểm cơ bản 99

3.1.2 Một số tồn tại, hạn chế 110

3.2 Một số kinh nghiệm 113

3.2.1 Cần đánh giá đúng sự biến đổi của tình hình trong nước và quốc tế để dự báo chính xác về xu thế vận động của thời đại nhằm kịp thời có những điều chỉnh phù hợp trong hoạt động đối ngoại giữa hai nước 113

3.2.2 Tiếp tục đổi mới tư duy đối ngoại trong quan hệ với Campuchia đảm bảo các nguyên tắc, yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn tình hình và xu thế vận động của thời đại, có sự kế thừa nền tảng của lịch sử quan hệ hai nước 114

3.2.3 Luôn chủ động, nhạy bén nắm bắt các vấn đề mâu thuẫn giữa các nước, nhóm nước để đề ra các chủ trương, giải pháp linh hoạt, mềm dẻo 116 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 118

KẾT LUẬN 120

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

(Association of Southeast Asian Nations)

CPP : Đảng Nhân dân Campuchia (Cambodian People’s Party) FUNCINPEC : Mặt trận Thống nhất Dân tộc vì một nước Campuchia Độc

lập, Trung lập, Hòa bình và Hợp tác

(Front Uni National pourun Cambodge Indépendant, Neutre, Pacifique, etCoopératif)

JIM : Cuộc gặp không chính thức ở Jakarta

(Jakarta Informal Meeting)

MTĐKDTCN : Mặt trận dân tộc đoàn kết cứu nước

SNC : Hội đồng Dân tộc Tối cao Campuchia

(Supreme Nation Council)

SOC : Nhà nước Campuchia

(State of Campuchea)

UNHCR : Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn

(United Nations High Commissioner for Refugees)

UNTAC : Tổ chức gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc ở Campuchia

(United Nations Transitional Authority in Campuchia)

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong hệ thống chính sách xây dựng và bảo vệ đất nước, chính sách đối ngoại luôn giữ vai trò quan trọng, góp phần tạo môi trường quốc tế thuận lợi hay khó khăn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh của đất nước Trong quan hệ đối ngoại, quan hệ với các quốc gia láng giềng và khu vực luôn được các nước quan tâm, chú trọng Đúc rút từ kinh nghiệm đối ngoại trong lịch sử dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn luôn mong muốn có quan hệ hữu nghị với tất cả các nước láng giềng, đặc biệt là các quốc gia trên bán đảo Đông Dương

Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia có vị trí địa lý cận kề, chung đường biên giới trên đất liền và trên biển, có lịch sử quan hệ bang giao lâu đời Đặc biệt từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia ra đời, mối quan hệ đó tiếp tục được hai đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước vun đắp ngày một sắt son khi cả hai dân tộc cùng đoàn kết sát cánh chiến đấu, đồng cam cộng khổ, một lòng ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc chiến đấu lâu dài chống lại bọn thực dân, đế quốc hung hãn xâm lược nhằm giành lại cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do cho nhân dân mỗi nước Trong thực tế lịch sử đã chứng minh, mối tình đoàn kết Việt Nam – Campuchia

đã trở thành sức mạnh giúp hai dân tộc lật đổ ách thống trị của bọn thực dân, đế quốc xâm lược, gây chiến tranh phi nghĩa đem lại hòa bình, độc lập tự do cho các dân tộc trên bán đảo Đông Dương Có thể nói, liên minh chiến đấu Việt Nam – Campuchia trở thành quy luật phát triển của cách mạng hai nước, là quy luật sống còn của nhân dân hai nước, là một trong những điều kiện cơ bản để cả hai dân tộc cùng sống trong tự do, hòa bình, hạnh phúc, ấm no

Tuy nhiên, lịch sử luôn có những nốt thăng, trầm của nó, quan hệ giữa Việt Nam – Campuchia là mối quan hệ đặc thù riêng biệt, với nhiều biến cố lịch

sử, không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió Ngay sau khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất đất nước, non sông thu về một mối, tập đoàn Khmer Đỏ do Pol pot, Iêng Xari và Khiêu Xamphon cầm đầu đã gây hấn, phản bội lại tình đoàn kết, gắn bó giữa hai dân tộc Để bảo vệ an ninh, quốc phòng, chủ quyền, lãnh

Trang 8

thổ, tính mạng và tài sản của nhân dân, đáp lời kêu cứu của nhân dân Campuchia, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo quân đội nhân dân Việt Nam giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ Pol pot diệt chủng; giúp đỡ nhân dân Campuchia xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng; không ngừng tăng cường, củng cố tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai đảng, hai nhà nước và hai dân tộc

Có thể nói, quan hệ với Campuchia luôn được coi là ưu tiên đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam Đảng và Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực không ngừng hoàn thiện về chủ trương, đường lối, chính sách để quan hệ giữa hai nước không ngừng phát triển toàn diện Trong bối cảnh hiện nay, trước những biến đổi lớn của tình hình trong nước và quốc tế, quan hệ của Việt Nam với Campuchia tiếp tục đạt được những thành tựu, kết quả quan trọng, đồng thời có nhiều thách thức, khó khăn Do vậy, việc nghiên cứu chủ trương của Đảng trong quá trình củng cố, phát triển quan hệ của Việt Nam với Campuchia những năm từ 1979 đến năm 1997 một cách hệ thống, toàn diện, rút kinh nghiệm từ thành tựu và hạn chế mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, gợi

mở những vấn đề, giải pháp thiết thực nhằm tiếp tục đưa quan hệ hai nước phát triển ổn định trong hiện tại và tương lai, góp phần phục vụ lợi ích của nhân dân hai nước

Xuất phát từ lý do đó, tác giả chọn đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam với

quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm 1979 đến năm 1997” làm đề tài

luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Về quan hệ Việt Nam - Campuchia từ xưa đến nay được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên do việc tiếp cận nhiều tài liệu, văn bản gốc về vấn đề này ở trong nước còn nhiều hạn chế Qua khảo cứu, chúng tôi xin điểm qua một vài nhóm công trình tiêu biểu về nội dung liên quan đến quan hệ hai nước:

- Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Việt Nam với thế giới, khu vực và các nước Đông Dương: Tam giác Trung Quốc –

Campuchia – Việt Nam của (U Bớc – sét (1981), Nxb Thông tin lý luận, Hà

Trang 9

Nội); Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của chúng ta (Lê Duẩn (1983), Nxb Sự thật, Hà Nội); Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ năm 1975 đến năm 2001 (Luận án Tiến sỹ lịch sử của Nguyễn Thị Mai Hoa, Lưu tại Thư viện Quốc gia, Hà Nội); Ngoại giao Việt Nam hiện đại

vì sự nghiệp đổi mới (Vũ Dương Huân (2002), Nxb CTQG, Hà Nội)…

Công trình “Tam giác Trung Quốc - Campuchia - Việt Nam” của U Bớc - sét cung cấp rất nhiều tư liệu, tác giả đã vẽ nên bức tranh khá đầy đủ về cuộc sống của nhân dân Campuchia trong thời kỳ Pol pot - Iêng Xary lãnh đạo đất nước Đồng thời công trình làm sáng tỏ được phần nào thái độ của Việt Nam đối lập hẳn với thái độ giới cầm quyền Bắc Kinh đối với sự sống còn của nhân dân Campuchia

Luận án: Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ năm 1975 đến năm 2001 (Luận án Tiến sỹ lịch sử của Nguyễn Thị

Mai Hoa, Lưu tại Thư viện Quốc gia, Hà Nội) đã trình bày và phân tích chủ trương đối ngoại của Đảng trong quan hệ với Trung Quốc từ sau khi đất nước hòa bình thống nhất đến năm 2001 Luận án đã đề cập đến quá trình giải quyết mặt quốc tế của vấn đề Campuchia, nhằm mục tiêu thúc đẩy bình thường hóa quan hệ Việt – Trung, bởi Trung Quốc là nước liên quan, có những ảnh hưởng, chi phối trực tiếp quá trình này

- Các công trình nghiên cứu về quan hệ chính trị - ngoại giao Việt Nam với Campuchia: Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam (1945 – 2005) (Lưu Văn

Lợi (1998), tập 2, Nxb CAND, Hà Nội); Tội ác diệt chủng của bọn Pol pot – Iêng Xari (Nxb Sự thật (1979), Hà Nội); Ngoại giao Việt Nam (1945 – 2000) (Nguyễn Đình Bin (chủ biên, 2006), Nxb CTQG, Hà Nội); Mãi mãi đứng bên cạnh nhân dân Việt Nam anh hùng (Nxb Sự thật (1982), Hà Nội)…

Nhìn chung, nhóm công trình này chú trọng đến mói quan hệ đặc biệt giữa hai nước từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (tháng 2 năm 1930) đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX, khi Quân tình nguyện Việt Nam rút về nước, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia Một số công trình đã thể hiện được mối quan hệ chính trị - ngoại giao hữu nghị, bền chặt giữa Việt Nam với Campuchia trong các giai đoạn lịch sử quan trọng đối với hai nước

Trang 10

- Các công trình nghiên cứu về quan hệ quân sự Việt Nam – Campuchia

và vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước: Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt

Nam – Lào – Campuchia (Hoàng Văn Thái (1983), Nxb Sự thật, Hà Nội); Vấn đề Campuchia (Trường Chinh (1979), Tạp chí Quân đội nhân dân số ra tháng 2, Hà Nội); Bộ đội tình nguyện Quân khu 9 qua hơn 10 năm làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia (Nguyễn Đệ (2005), Nxb QĐND, Hà Nội); Quân đội nhân dân Việt Nam và nhiệm vụ cao cả trên đất ban Campuchia (Lê Đức Anh (1986), Nxb

QĐND, Hà Nội)…

Tác phẩm Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào – Campuchia

(Hoàng Văn Thái (1983), Nxb Sự thật, Hà Nội) đã nêu bật quan hệ liên minh chặt chẽ về quân sự của Việt Nam và Campuchia trong các giai đoạn lịch sử quan trọng và cả trong thời kỳ CHND Campuchia hồi sinh đất nước sau họa diệt chủng Cuốn sách khẳng định: Trong mọi thời kỳ, những chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam không quản ngại hy sinh, gian khổ đã cùng kề vai, sát cánh với quân, dân Campuchia đánh đuổi kẻ thù chung, giành lấy những thắng lợi to lớn cho cách mạng mỗi nước

- Các công trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế - thương mại, văn hóa Việt Nam – Campuchia: Cộng hòa nhân dân Campuchia mười năm bảo vệ và

xây dựng đất nước (Phạm Thành (1989), Nxb, Sự thật, Hà Nội); Kỷ yếu tám năm hoạt động của Ban Liên lạc cựu chuyên gia Việt Nam giúp Campuchia (Ban

Liên lạc cựu chuyên gia Việt Nam giúp Campuchia (2007), Nxb, GTVT, Hà

Nội); Kỷ yếu Hội nghị về quan hệ Việt Nam – Campuchia (Viện KHXH (1980,

Trang 11

Tóm lại, thông qua các công trình trên, dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả đã phân tích, làm rõ những chuyển biến của tình hình thế giới và khu vực, chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trước những biến đổi mang tính bước ngoặt và chủ trương đối ngoại của Đảng ta đối với Campuchia Tuy nhiên, nhìn chung các công trình trên chưa đề cập đến quan hệ của Việt Nam với Campuchia một cách hệ thống, toàn diện, đặc biệt dưới góc độ nghiên cứu về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, các tác giả chưa khai thác sâu vào việc phân tích, nhận định, đánh giá về chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan

hệ với Campuchia từ năm 1979 đến năm 1997 như đề tài chúng tôi đã lựa chọn

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia trong thời gian

từ năm 1979 đến năm 1997, tuy nhiên, để có cơ sở kiểm chứng những chủ trương

đó, luận văn nghiên cứu quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện những chủ trương, quan điểm đó trong bối cảnh lịch sử chung, bước đầu có những tìm hiểu sâu vào chi tiết

4 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm 1979 đến năm 1997, trên cơ sở đó, mạnh dạn đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan

về ưu điểm, hạn chế trong chủ trương và chỉ đạo thực hiện của Đảng đối với việc củng cố, phát triển quan hệ anh em Việt Nam với Campuchia; từ đó đúc rút

ra những kinh nghiệm lịch sử phục vụ cho hiện tại và tương lai trong phát triển quan hệ đối ngoại giữa hai nước

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể như sau

- Trình bày, phân tích những nội dung cơ bản, chủ yếu trong chủ trương, chính sách làm bật lên quan điểm của Đảng đối với mối quan hệ Việt Nam với Campuchia trong thời gian từ năm 1979 đến năm 1997

Trang 12

- Dựng lại một cách khách quan bức tranh về mối quan hệ Việt Nam – Campuchia; qua đó, phân tích những thành tựu và hạn chế trong hoạch định và chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách qua các thời kỳ lịch sử

- Một số nhận xét và kinh nghiệm chủ yếu

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Những đường lối, chủ trương cơ bản thể hiện quan điểm của Đảng với mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia; những chính sách thực hiện của Nhà nước Việt Nam thông qua các sự kiện chính trong quá trình triển khai thực hiện các quan điểm đó trong phát triển quan hệ ngoại giao của hai nước với giới hạn thời gian từ năm 1979 đến năm 1997

5 Nguồn tư liệu, hướng sử dụng và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu và hướng sử dụng

- Các tác phẩm của chủ nghĩa Mác – Lenin, Hồ Chí Minh về đối ngoại, quan hệ quốc tế là cơ sở lý luận cho luận văn

- Các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết, thông tư,…của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đối ngoại, quan hệ quốc tế, quan hệ Việt Nam với Campuchia; các báo cáo của các bộ, ngành như Ngoại giao, Quốc phòng, Giáo dục và Đào tạo…(đã công bố và chưa công bố) là những tài liệu gốc của luận văn

- Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia về chính sách đối ngoại của Đảng, quan hệ Việt Nam – Campuchia,…là nguồn tư liệu quan trọng, được luận văn kế thừa, khai thác, sử dụng để làm sáng tỏ những nội dung có liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời trong quá trình nghiên cứu, là một đề tài lịch sử, quan điểm khi nghiên cứu là tuân thủ phương pháp lịch sử Ngoài việc phân tích, so sánh mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử, tác giả cố gắng trình bày các luận điểm trên cơ sở bám sát các sự kiện lịch sử, chân thực lịch sử, để tái hiện lại bức tranh sinh động trong việc giải quyết vấn đề Campuchia nhằm hội nhập với cộng động quốc tế, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của Việt Nam

Trang 13

Đồng thời với quá trình đó, tác giả kết hợp kết hợp sử dụng phương pháp lôgic

để lí giải một số vấn đề mang tính chất phức tạp trong quan hệ đối ngoại quốc tế, phát hiện ra bản chất và những đặc điểm manh tính quy luật đang ẩn mình vô vàn sự kiện phức tạp tiềm ẩn trong vấn đề Campuchia trong giai đoạn này

Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp liên ngành: Phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, quan hệ kinh tế, chính trị, thống kê để xử lí số liệu, phương pháp trao đổi, thảo luận để tranh thủ ý kiến mang tính phản biện cho những nhận định, đánh giá của mình, nhằm làm giảm bớt tính chủ quan trong quá trình nghiên cứu

6 Những đóng góp mới của luận văn

Về tư liệu: Luận văn sưu tầm, hệ thống và khai thác, giới thiệu nguồn tư

liệu phong phú, có giá trị về các chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với Campuchia của Đảng Cộng sản Việt Nam

Về nội dung khoa học:

- Trình bày hệ thống, khách quan, tương đối toàn diện, làm sáng tỏ quan điểm, chủ trương đối ngoại cũng như sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ giữa Việt Nam với Campuchia từ năm 1979 đến năm 1997

- Đưa ra những ý kiến đánh giá, nhận xét về ưu điểm, hạn chế trong đề ra chủ trương và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chủ trương của Đảng trong quan hệ giữa Việt Nam với Campuchia, qua đó, rút ra một số kinh nghiệm lịch

sử chủ yếu phục vụ hiện tại nhằm phát triển quan hệ hai nước

- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, nghiên cứu, học tập lịch sử ở một số nội dung có liên quan

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo

và phụ lục, đề tài được kết cấu thành 3 chương

Chương 1: Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng mối quan

hệ đối ngoại với Campuchia từ năm 1979 đến năm 1991

Chương 2: Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam củng cố, phát triển quan hệ đoàn kết, hữu nghị, hợp tác Việt Nam – Campuchia từ năm 1991 đến năm 1997

Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm

Trang 14

Chương 1:

CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI VỚI CAMPUCHIA

TỪ NĂM 1979 ĐẾN NĂM 1991

1.1 Khái quát lịch sử quan hệ Việt Nam – Campuchia đến năm 1979

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng nằm trên bán đảo Đông Dương, có nhiều nét tương đồng về văn hóa và phong tục tập quán Hai nước có chung đường biên giới trên bộ, trên biển và có chung dòng sông Mêkông nối liền hai nước Đất nước Campuchia và vùng đất Nam bộ và Tây Nguyên của Việt Nam trên cơ bản thuộc địa vực hạ lưu và châu thổ sông Mêkông Đây là một vùng có nền văn hóa lâu đời và tập trung những quan hệ văn hóa truyền thống Từ những kết quả nghiên cứu khảo cổ học, người ta có thể nhận ra rằng mấy ngàn năm lịch sử Việt Nam và Campuchia cùng nằm trong một khu vực văn hóa chung với những đặc trưng thống nhất trong lối làm ăn, lối sống, văn hóa nghệ thuật, tôn giáo Tất cả đã gắn bó với nhau, phát triển trong suốt chiều dài lịch sử

Trong tiến trình lịch sử, nhân dân Đại Việt và Chân Lạp1

1 Thuật ngữ Chân Lạp và Đại Việt để chỉ chung cho phần lãnh thổ thuộc Campuchia và Việt Nam ngày nay Trong suốt các thế kỷ XI-XVI, quốc hiệu Đại Việt và Chân Lạp có một thời gian ngắn bị giánđoạn: Trong đó, đối với Việt Nam, quốc hiệu Đại Việt được khởi đặt năm 1054 dưới thời vua Lý Thánh Tông kéo dài đến đầu thế

kỷ XIX, tuy nhiên quốc hiệu này có thời gian bị gián đoạn đó là dưới thời Hồ (1400-1407) có quốc hiệu là Đại Ngu và trong những năm 1407-1428 là dưới thời kỳ thuộc Minh Còn đối với Campuchia, tên Chân Lạp xuất hiện trong chính sử Việt Nam và Trung Quốc vào khoảng thế kỷ thứ VI và thứ VII, bị gián đoạn trong thời kỳ họ đánh chiếm và cai trị Chiêm Thành (từ năm 1199 đến đầu thế kỷ XII), thời kỳ mà chính sử Trung Quốc gọi họ là Chiêm Lạp và phải đến khi nhà Nguyên thành lập (năm 1279) mới gọi lại là Chân Lạp

Trang 15

đầu hình thành liên minh chiến đấu giữa cách mạng ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào trên tinh thần quốc tế vô sản

Trong suốt thời gian dài đấu tranh, cách mạng ba nước dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản đã có những bước trưởng thành to lớn, tăng cường đoàn kết, kề vai sát cánh từng bước đánh bại âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, chấm dứt chế độ thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ

Với lòng yêu hòa bình, nhân dân Việt Nam – Campuchia cùng với nhân dân Lào đã anh dũng, kiên cường, cần cù, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn kề vai sát cánh giành lấy thắng lợi cuối cùng ở Campuchia vào ngày 17 tháng 4 năm 1975 và ở Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân các nước Việt Nam, Campuchia và Lào đã chiến thắng trước chiến tranh phi nghĩa của kẻ thù xâm lược, từ đây đã mở ra một thời kỳ mới để nhân dân ba nước Đông Dương xây dựng và phát triển đất nước

Thế nhưng, tập đoàn Khmer Đỏ do bè lũ Pol pot – Iêng Xari – Khiêu Xamphon đã thi hành các chính sách phản động, dã man đẩy nhân dân Campuchia bên bờ diệt chủng Về đối ngoại, Khmer Đỏ liên tục gây xung đột ở biên giới, tàn sát hàng vạn người dân vô tội tại vùng biên giới với các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam Khmer Đỏ khước từ mọi đề nghị thiện chí, mong muốn đàm phán hòa bình từ phía Việt Nam Trước sự tấn công vũ trang mang tính chiến tranh xâm lược của tập đoàn Khmer Đỏ, các đơn vị quân đội của Việt Nam đã thực hiện quyền tự vệ chính đáng, tổng phản kích đánh đuổi bè lũ phản động Khmer Đỏ ra khỏi biên giới đất nước, đáp lời kêu cứu của nhân dân Campuchia tiến lên giải phóng đất nước Campuchia khỏi họa diệt chủng để xây dựng và khôi phục đất nước Mở ra thời kỳ mới trong lịch sử đất nước Campuchia và quan hệ của Việt Nam với Campuchia

1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ đối ngoại với Campuchia từ năm 1979 đến năm 1985

1.2.1 Bối cảnh lịch sử

Vào những năm đầu của thập kỷ 80 thế kỷ XX, tình hình trong nước và quốc tế tiếp tục có nhiều biến động tạo ra những thuận lợi và khó khăn cho cách

Trang 16

mạng Việt Nam và Campuchia, cũng như ảnh hưởng đến quan hệ giữa hai nước

Về tình hình quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc có những bước phát triển mới, những thuộc địa cuối cùng của chủ nghĩa thực dân cũ cũng đã giành được độc lập Các nước đang phát triển đã có sự liên kết chặt chẽ trong đấu tranh đòi xóa bỏ những quan điểm bất bình đẳng với các nước tư bản phát triển, đòi thiệt lập một “trật tự kinh tế mới” công bằng hơn Cuộc cách mạng khoa học

kỹ thuật diễn ra với các đợt sóng công nghệ cao, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin mang lại những biến đổi sâu sắc, toàn diện, nhanh chóng trong mọi mặt đời sống xã hội của nhân loại, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất vật chất, tạo ra những bước nhảy vọt về tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, đẩy mạnh việc cơ cấu lại các nền kinh tế, tạo ra nhiều ngành kinh tế mới và thúc đẩy kinh tế tri thức Cuộc khủng hoảng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa nói chung và trong nội tại của các nước xã hội chủ nghĩa nói riêng đang trở nên trầm trọng hơn, những mâu thuẫn, bất đồng quan điểm và chính kiến về vấn đề quốc tế, về đường lối chiến lược, sách lược của các Đảng Cộng sản tiếp tục bộc

lộ rõ rệt, ngày càng có dấu hiệu trầm trọng, rồi lâm vào khủng hoảng và suy thoái, lên đến “đỉnh của vòng xoáy trôn ốc” Ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt ở Đông Âu, tình trạng quan liêu, xa rời quần chúng, giữ lập trường tư tưởng bảo thủ bác bỏ mọi tư tưởng cải cách đổi mới diễn ra khá phổ biến làm cho đời sống nhân dân tiếp tục lâm vào tình trạng khó khăn gây ra những bất bình trong quần chúng đã tác động tiêu cực đến phong trào cách mạng thế giới

Trong lúc này, bề ngoài việc Mỹ - Liên Xô – Trung Quốc tuy đang đẩy mạnh các hoạt động hòa hoãn với nhau, nhưng bên trong là những cuộc đấu tranh ngầm về lợi ích hòng kìm chế sức ảnh hưởng lẫn nhau tại các khu vực trên thế giới, đặc biệt là tại Đông Nam Á

Bên cạnh đó, Mỹ tiếp tục duy trì bao vây, cấm vận về kinh tế đối với Việt Nam, Lào và Campuchia; Trung Quốc một mặt gây sức ép quân sự tại biên giới phía Bắc Việt Nam, một mặt tiếp tục tăng cường viện trợ cho Khmer Đỏ gây chiến làm mất ổn định tại Campuchia, đồng thời xúi giục các nước Đông Nam Á lên án, chống lại Việt Nam trên nhiều diễn đàn quốc tế và khu vực; Tàn quân

Trang 17

Khmer Đỏ, dưới sự ủng hộ của Trung Quốc, sự tạo điều kiện của Thái Lan tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động quân sự tại vùng biên giới Campuchia – Thái Lan hòng giành giật lại quyền lực đã mất

Về tình hình trong nước, Đảng, Chính phủ và nhân dân tích cực triển khai kế hoạch năm năm lần thứ nhất sau khi đất nước thống nhất (1976-1980) Trên mặt trận kinh tế, nhân dân Việt Nam đã nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định đời sống và sản xuất Song nhìn chung, kế hoạch 5 năm (1976-1980) không thành công như mong đợi khiến cho công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân, cán bộ viên chức, lực lượng vũ trang trở nên vô cùng khó khăn Nhiều nhu cầu tối thiểu như lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu thiếu thốn trầm trọng, nạn đói diễn ra ở nhiều nơi Vấn đề lương thực thực phẩm, việc làm cho người lao động, nhu cầu về giáo dục y tế…đang đặt ra những yêu cầu cấp bách Bên cạnh

đó, việc tiếp tục phải tiến hành chiến tranh chống xâm lược ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, cũng như phải gánh chịu sự bao vây, cô lập của cộng đồng quốc tế khiến cho Việt Nam lâm vào khó khăn hơn bao giờ hết

1.2.2 Chủ trương và các hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm xây dựng, củng cố quan hệ hữu nghị với Campuchia

1.2.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ với Campuchia

* Làm tròn nghĩa vụ quốc tế với Campuchia gắn với coi trọng việc củng

cố tình đoàn kết, hữu nghị, liên minh chiến đấu, hợp tác giữa Việt Nam với Campuchia

Sau khi Phnom Pênh giải phóng, ngày 8 tháng 1 năm 1979, nhằm tiếp tục củng cố quan hệ hữu nghị giữa hai nước, tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IV) diễn ra vào tháng 8 năm 1979 khẳng định “làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với Campuchia và Lào, tạo ra thế và lực mới, rất vững chắc cho cách mạng nước ta và cách mạng hai nước láng giềng anh em” [63;tr.359], bởi vậy cần phải tăng cường, củng cố hơn nữa tình đoàn kết chiến đấu giữa ba nước, hòng làm thất bại những âm mưu làm giảm uy

Trang 18

tín và cô lập Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời tạo dư luận trong và ngoài nước ủng hộ mạnh mẽ hơn nữa công cuộc giúp đỡ, xây dựng, hồi sinh đất nước của nhân dân Campuchia dưới sự phối hợp chặt chẽ của Đảng, Nhà nước, nhân dân Campuchia và Lào Theo đó, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương: “tăng cường hơn nữa tình đoàn kết chiến đấu, tình hữu nghị anh em và quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia, sự gắn bó giữa nhân dân hai nước chống kẻ thù chung .”; “Làm cho cán bộ và nhân dân ta hiểu rõ tình hình cách mạng Campuchia hiện nay, nâng cao tinh thần quốc tế và ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả của nhân dân ta đối với Bạn; Vạch trần

âm mưu và hành động của bọn đế quốc và bọn phản động phá hoại cách mạng Campuchia, chia rẽ Campuchia - Việt Nam, chia rẽ nhân dân ba nước Đông Dương;

Đề cao những thắng lợi to lớn của nhân dân Campuchia trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, đề cao Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia, góp phần tranh thủ hơn nữa sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế đối với nhân dân Campuchia” [63;tr.330]

Trước sự tấn công của các thế lực thù địch với chiêu bài lên án, đả kích

“Việt Nam xâm lược Campuchia”, nhằm đánh giá và ổn định tình hình dư luận trong và ngoài nước, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV (tháng 11 năm 1981) đã thảo luận về vấn đề Campuchia, Hội nghị khẳng định việc Việt Nam giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng

“là làm việc chính nghĩa, phù hợp với xu thế của thời đại, phù hợp với những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lenin và chủ nghĩa quốc tế vô sản”[64;tr.398]

Với nhận định đúng đắn đó, trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 3 năm 1982) đánh giá về mối quan hệ giữa ba nước Đông Dương: “Tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào –Campuchia bước sang giai đoạn phát triển mới, đã đem lại những thay đổi chưa từng có cho cục diện cách mạng của ba nước Đông Dương”[65;tr.143] và khẳng định: cùng với thời gian, “giữa nước ta với hai nước anh em, quan hệ hữu nghị về mặt Nhà nước và nhân dân, sự hợp tác về chính trị, kinh tế, văn hóa phát triển tốt đẹp, việc trao đổi hàng hóa ngày càng tăng”[65;tr.143] Cũng

Trang 19

tại Đại hội V, Đảng ta khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng trong quan

hệ với Campuchia và Lào: “Từ thế hệ này đến thế hệ khác, nhân dân ta phải giữ gìn tình hữu nghị trong sáng và truyền thống đoàn kết giữa ba dân tộc, không ngừng củng cố và tăng cường quan hệ đặc biệt và liên minh chiến đấu giữa ba nước…”[65;tr.144] Trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tôn trọng lợi ích chính đáng của mỗi nước, Việt Nam cam kết: “Luôn luôn hết lòng, hết sức làm trong nghĩa vụ quốc tế đối với hai nước anh em; đồng thời, cùng hai nước hợp tác chặt chẽ và giúp đỡ nhau về mọi mặt

để phục vụ ngày càng có hiệu quả công cuộc củng cố quốc phòng, an ninh và xây dựng kinh tế, văn hóa của mỗi nước”[65;tr.144] Đảng Cộng sản Việt Nam coi “quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào – Campuchia là một quy luật phát triển của cách mạng ba nước, là điều có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của ba dân tộc” [65;tr.144], là nhân tố đảm bảo cho việc giữ gìn độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đồng thời, cũng là nhân tố quan trọng đối với hòa bình ở khu vực Đông Nam Á Như vậy, quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam với mối quan hệ với Campuchia là không ngừng củng cố, tăng cường quan hệ đặc biệt, tình đoàn kết, hữu nghị và liên minh chiến đấu, làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại, chia rẽ, xâm lược của kẻ thù và coi đó là một tất yếu khách quan

Trên tinh thần đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra phương hướng nhiệm vụ giúp cách mạng Campuchia: Trong khoảng 3 – 5 năm tới, chúng ta phải giúp cách mạng Campuchia phấn đấu đạt được 3 mục tiêu chiến lược: (1) Tiếp tục làm cho các loại tàn quân và phản động Campuchia, nhất là tàn quân

và phản động Pol pot tiếp tục tan rã và suy tàn; (2) Xây dựng lực lượng cách mạng Campuchia lớn mạnh về mọi mặt, tự đảm đương được nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ và xây dựng đất nước, trở thành lực lượng quyết định thắng lợi cuối cùng của cách mạng Campuchia, tạo điều kiện cho Quân tình nguyện Việt Nam tập trung xây dựng lực lượng cơ động khu vực và cơ động chiến lược chung; (3) Tăng cường liên minh chiến lược, chiến đấu Việt Nam – Campuchia một cách toàn diện, vững chắc hơn nữa và mạnh hơn trên

Trang 20

cơ sở chủ nghĩa Mac – Lenin, tinh thần yêu nước và tình thần quốc tế vô sản, chống mọi kẻ thù…”[35;tr.219] Có thể thấy ba mục tiêu chiến lược trên được Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra vừa thể hiện bước tiến lên của cách mạng Campuchia, cũng là phương hướng tăng cường liên minh chiến lược và chiến đấu Việt Nam – Campuchia

Ngày 11 tháng 4 năm 1983, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam ra

Nghị quyết số 10 “Về tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia trong giai đoạn mới” với tư tưởng chỉ đạo: “Củng cố tình đoàn kết

đặc biệt và tăng cường sự hợp tác toàn diện giữa ba nước đồng thời phát triển hợp tác chặt chẽ và toàn diện với Liên Xô và cộng đồng xã hội chủ nghĩa càng cần thiết hơn bao giờ hết Đây là vấn đề chiến lược hàng đầu, là nhân tố cực kỳ quan trọng bảo đảm cho nhân dân mỗi nước xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của mình…”[66;tr.72] Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Cũng như từ trước đến nay, từ nay về sau, Đảng và nhân dân ta luôn luôn nêu cao tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, coi

sự nghiệp cách mạng của nhân dân Lào và nhân dân Campuchia anh em như sự nghiệp của bản thân mình, tự nguyện, chủ động và hết lòng, hết sức gánh vác phần trách nhiệm nặng nề của mình”[66;tr.74] Đồng thời chỉ rõ, cần “phát triển

sự hợp tác toàn diện, chặt chẽ giữa ba nước trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá và đối ngoại , trong đó việc hợp tác về kinh tế, văn hoá trở thành lĩnh vực hết sức quan trọng, tạo nền tảng cho việc củng cố liên minh chiến lược lâu dài giữa ba nước”[66;tr.74-75] Đồng thời, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng chỉ rõ phải: “làm cho cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng, trước hết là những đồng chí có trách nhiệm thường xuyên quan hệ với hai nước Bạn, nhận thức rõ ý nghĩa sống còn trong việc tăng cường liên minh với hai nước, hai dân tộc anh em trong giai đoạn mới và nắm vững những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo

cơ bản của Đảng ta trong việc tăng cường quan hệ với Bạn” [66;tr.129] Như vậy, Nghị quyết 10 Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của mối quan hệ đặc biệt giữa nhân dân ba nước Đông Dương, khẳng định sự đoàn kết hữu nghị, liên minh chiến đấu, hợp

Trang 21

tác toàn diện trên nguyên tắc tự nguyện, chủ động và hết lòng của Việt Nam với nhân dân hai nước Campuchia và Lào

Nhận thức rõ được tình hình ““Cách mạng Campuchia tuy có bước trưởng thành đáng kể, những chưa đủ mạnh để tự đảm đương cuộc đấu tranh với địch” [102] Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Nhiệm vụ của ta giúp Bạn còn rất nặng

nề và khẩn trương Trong khoảng 3 – 5 năm trước mắt, ta phải giúp cách mạng Campuchia đạt được ba mục tiêu chiến lược (…) Để thực hiện mục tiêu chiến lược đề ra, nhất là mục tiêu thứ hai, Đảng ta xác định phải ra sức giúp Bạn mạnh lên cả về chính trị, quân sự và kinh tế, văn hóa, trong đó khâu then chốt nhất là phải giúp Bạn xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng vũ trang và an ninh, đào tạo

và bồi dưỡng cán bộ…Về Quốc phòng – an ninh, tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang, công an mạnh lên cả về số lượng và chất lượng đi tới tự đảm nhiệm cuộc chiến đấu thắng lợi với mọi kẻ địch ở biên giới và nội địa, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ và xây dựng đất nước”[102] Như vậy, trong thời gian ngắn, có thể nói Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng việc giúp Đảng, Nhà nước và nhân dân Campuchia từng bước xây dựng và tự bảo vệ thành quả cách mạng là yêu cầu cấp thiết và cơ bản Đó là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam

Có thể khẳng định, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một luôn kiên định chủ trương hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả với nhân dân Campuchia, gắn với không ngừng bảo vệ và phát triển quan hệ đoàn kết, hữu nghị, hợp tác, liên minh chiến đấu giữa Việt Nam - Campuchia - Lào Đồng thời cũng chỉ rõ phương hướng và nhiệm vụ cần kíp đảm bảo sự phát triển của liên minh chiến lược và chiến đấu Việt Nam – Campuchia chống lại kẻ thù chung

* Tổ chức lực lượng giúp đỡ Campuchia củng cố thế trận, xây dựng các lực lượng vũ trang, bảo vệ chính quyền non trẻ, bảo vệ thành quả của cách mạng

Chiến thắng ngày 7 tháng 1 năm 1979 đã ghi dấu mốc son quan trọng trong lịch sử Campuchia, từ đây nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng của Khmer Đỏ và bước vào kỷ nguyên độc lập tự do Tuy nhiên, “do phát triển tiến công giành thắng lợi nhanh, lực lượng địch bị tan rã lớn, chưa bị tiêu

Trang 22

diệt gọn (tàn quân còn nhiều, một số nơi chúng còn tổ chức chỉ huy và phương tiện thông tin liên lạc, còn khống chế dân, tích trữ lương thực, đạn dược để phát động chiến tranh du kích) Lực lượng cách mạng Campuchia chưa phát triển kịp theo yêu cầu, hậu quả của chế độ nô dịch tàn bạo của bọn Pol pot – Iêng Xary còn rất nặng nề…nên còn nhiều việc phải giải quyết…”[15;tr.9]

Do đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ đạo các lực lượng, các cấp, các ngành cần khẩn trương xây dựng hệ thống chuyên gia quân sự và dân sự giúp Campuchia bảo vệ thành quả cách mạng, từng bước xây dựng, khôi phục lại đất nước

Trước mắt, cần xây dựng cơ quan chuyên trách giúp Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang và chỉ đạo chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng, do đó, ngày

24 tháng 1 năm 1979 Bộ Quốc phòng Việt Nam quyết định tách Đoàn chuyên gia quân sự 478 ở Ban B.68 về trực thuộc Bộ Quốc phòng Đoàn 478 có nhiệm vụ thường xuyên quan hệ chặt chẽ với Ban B.68 của Trung ương để báo cáo và chịu

sự hướng dẫn những vấn đề liên quan, phối hợp với chuyên gia các ngành khác để tiến hành công tác giúp cách mạng và nhân dân Campuchia Tiếp đó, ngày 26 tháng 2 năm 1979, Hội đồng Chính phủ Việt Nam quyết định tổ chức Đoàn chuyên gia kinh tế - văn hóa (lấy bí danh A.40) giúp Hội đồng Nhân dân Campuchia nghiên cứu chủ trương, chính sách, kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa ở Campuchia và giúp thực hiện những công việc kinh tế, văn hóa

mà phía Campuchia chưa có khả năng và do Campuchia yêu cầu Ngay sau khi Đoàn A.40 ở Trung ương được thành lập và sang thủ đô Phnom Pênh (Campuchia), các đoàn chuyên gia kinh tế, văn hóa của 8 tỉnh biên giới, thành phố

Hồ Chí Minh, Cửu Long, Đồng Nai, Quảng Nam – Đà Nẵng lần lượt sang giúp

đỡ Campuchia

Nhìn chung, về cơ bản, đến tháng 2 năm 1979, Việt Nam đã hình thành hệ thống chuyên gia giúp Campuchia gồm: Ban B.68 giúp xây dựng các tổ chức cơ quan chính trị của Đảng, xây dựng bộ máy chính quyền các cấp và các đoàn thể quần chúng, chỉ đạo các đoàn chuyên gia ở địa phương Đoàn A.40 giúp xây dựng khối kinh tế - xã hội, văn hóa Đoàn 478 giúp xây dựng lực lượng vũ trang

Trang 23

cách mạng Campuchia và chỉ đạo chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng Đoàn K.79 giúp về công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giúp xây dựng lực lượng an ninh Campuchia

Bên cạnh các đoàn chuyên gia trên, còn có Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ở Campuchia thực hiện các nhiệm vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao trong đó

tập trung ba nhiệm vụ chủ yếu: Một là, phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia truy quét tàn quân địch; Hai là, phát động quần chúng, xây

dựng chính quyền cách mạng, xây dựng cơ sở chính trị, phát triển lực lượng vũ

trang ba thứ quân; Ba là, giúp nhân dân Campuchia nhanh chóng ổn định đời

sống, phát triển sản xuất Xác định, trong thời kỳ đầu, nhiệm vụ truy quét tàn quân địch, tiêu diệt các căn cứ, các tổ chức phản động, giữ vững chính quyền cách mạng là nhiệm vụ hàng đầu của Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam trên chiến trường Campuchia

Ngoài việc tập trung lực lượng thực hiện tốt nhiệm vụ chủ yếu đánh địch bảo vệ địa bàn, Việt Nam còn cử nhiều đoàn công tác tham gia giúp Campuchia “tăng cường xây dựng thực lực cách mạng vững mạnh về mọi mặt”[65;tr.164], theo yêu cầu và sự thỏa thuận của Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, ngày 15 tháng 5 năm 1979, Ban Bí thư Trung ương

Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị số 75 – CT/TW về việc “tổ chức lực lượng giúp bạn K”, Chỉ thị xác định rõ về việc tổ chức các lực lượng Việt Nam tại các tỉnh của Campuchia: Thứ nhất, các đơn vị Quân đội nhân dân thuộc một

tỉnh của Việt Nam được phái lên hoạt động tại một tỉnh của Campuchia theo kế hoạch của Tiền phương Bộ Quốc phòng phải được lựa chọn chu đáo bảo đảm các yêu cầu về nhiệm vụ quân sự, chính trị được giao Nhiệm vụ, thời gian, phương thức hoạt động của các đơn vị này do Tiền phương Bộ Quốc phòng – Tổng Tư lệnh quy định Các Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ huy trực tiếp các đơn vị này, Bộ chỉ huy Quân sự cấp tỉnh của Việt Nam không chỉ huy các đơn vị nói trên Để tiện việc phối hợp các hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế, chỉ huy trưởng lực lượng quân sự đồng thời là Phó Trưởng đoàn chuyên gia cấp tỉnh;

Trang 24

Thứ hai, trưởng đoàn, phó trưởng đoàn chuyên gia cấp tỉnh do Ban Bí thư

Trung ương Đảng chỉ định, các thành viên trong đoàn do Ban B.68 và Ban Tổ chức Trung ương lựa chọn và sắp xếp Đoàn chuyên gia cấp tỉnh thuộc sự quản

lý và chỉ đạo của Ban B.68; đồng thời, chịu sự chỉ đạo về mặt công tác kinh tế của A.40 và sự chỉ đạo về mặt công tác quân sự của Đoàn 478 Các quân khu

và các tỉnh Việt Nam được Trung ương phân công giúp tỉnh bạn có nhiệm vụ giúp đỡ đoàn chuyên gia cấp tỉnh về chi viện vật chất, bổ sung nhân viên phục

vụ và các phương tiện cần thiết theo yêu cầu của A.40 và Ban B.68; Thứ ba,

các đội công tác kinh tế, y tế, kỹ thuật, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật của các tỉnh Việt Nam đưa lên hoạt động từng thời gian trên các tỉnh của Campuchia, theo yêu cầu của Ban Cán sự Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, hoặc của đoàn chuyên gia cấp tỉnh đã được Campuchia đồng ý Những đội này phải được tổ chức chặt chẽ về mặt chính trị và kỹ thuật để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao Các tỉnh của Việt Nam, khi phái các đội công tác này đến các tỉnh Campuchia phải làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, hướng dẫn kế hoạch hoạt động, cung cấp phương tiện vật tư, bảo đảm hậu cần cho các đội này chủ động triển khai công tác theo nhiệm vụ được giao Trong thời gian hoạt động ở các tỉnh của Campuchia, các đội này thuộc sự chỉ đạo, kiểm tra của đoàn chuyên gia cấp tỉnh; khi kết thúc công việc, đoàn chuyên gia cấp tỉnh có nhận xét gửi về tỉnh chủ quản để làm căn cứ đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ [63;150-151] Do yêu cầu nhiệm vụ công tác chuyên gia giúp Campuchia trên các lĩnh vực ngày càng mở rộng nên đã nảy sinh nhiều vấn đề cần được tập trung giải quyết kịp thời, đảm bảo các yêu cầu về chính trị, quân

sự, ngoại giao Nhằm mục tiêu đó, ngày 24 tháng 8 năm 1979 Ban Chấp hành

Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết số 19/NQ-TW “thành lập Ban phụ trách công tác K” để thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ, Quân ủy

Trung ương giải quyết mọi công việc có quan hệ với Campuchia; đồng thời cũng là cơ quan Tổng chuyên gia chỉ đạo các đoàn chuyên gia Việt Nam ở Campuchia Để kiện toàn về tổ chức và đưa các hoạt động của các đoàn chuyên gia vào nề nếp, trên cơ sở ý kiến của các trưởng đoàn chuyên gia, Ban phụ

Trang 25

trách “công tác K” đã ban hành quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của các đoàn chuyên gia quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa:

Đối với chuyên gia quân sự, nhiệm vụ chủ yếu là giúp Campuchia củng

cố và xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, bảo vệ chính quyền cách mạng; đồng thời phối hợp với các chuyên gia ngành kinh tế, văn hóa giúp Campuchia từng bước điều tra, nắm bắt tình hình về quân sự, chính trị, kinh tế văn hóa nhằm góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách trước mắt về đời sống sản xuất, phù hợp với đặc điểm tình hình, yêu cầu và điều kiện thực tế của từng địa phương

Về mối quan hệ công tác của các đoàn chuyên gia tại Campuchia, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quy định: (1) Đối với Bạn phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, phong tục tập quán Mọi việc đều phải bàn bạc nhất trí với Bạn

và cuối cùng do Bạn quyết định; ta không tùy tiện, không ép buộc Phải luôn giữ vững đoàn kết hữu nghị với Bạn và nhân dân Bạn (2) Những vấn đề thuộc về đường lối, chủ trương, chính sách lớn thuộc thẩm quyền xem xét, quyết định của Trung ương, Chính phủ ta, các đoàn chuyên gia quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa của ta ở cấp tỉnh, thành không được tùy tiện phát ngôn, dù là gợi ý hoặc hứa hẹn với Bạn trước khi được Trung ương và Chính phủ ta thông qua Đó là nguyên tắc (3) Quan hệ giữa các đoàn chuyên gia của ta phải gắn bó mật thiết với nhau và gắn bó với các đơn vị quân đội của ta và Bạn đóng tại địa phương (4) Các đoàn chuyên gia về quân sự, an ninh, kinh tế, văn hóa cùng hoạt động trên một địa bàn phải phối hợp với nhau chặt chẽ, thống nhất nhận định và hành động trên các mặt hoạt động (5) Kịp thời thông báo và tranh thủ ý kiến cấp ủy đảng, chính quyền tỉnh, thành, cơ quan, đơn vị cấp trên về các vấn đề thuộc thẩm quyền xem xét và giải quyết của tỉnh, thành, quân khu, quân đoàn (của ta ở phía sau) (6) Định kỳ báo cáo về đoàn chuyên gia quân sự, kinh tế, văn hóa của

ta ở Trung ương; kịp thời xin chỉ thị về những vấn đề vượt qua nhiệm vụ và quyền hạn của mình hoặc theo yêu cầu của Bạn.[42;tr.122]

Với sự hình thành đội ngũ chuyên gia giúp đỡ Campuchia về mọi mặt công tác trong củng cố thế trận quốc phòng – an ninh, xây dựng chính quyền và

Trang 26

bảo vệ thành quả cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng chỉ đạo lực lượng Quân tình nguyện và các đoàn chuyên gia trong việc giúp đỡ Campuchia phải:

“Tập trung giúp Bạn hơn hẳn địch về số lượng và chất lượng để Bạn nắm chắc lấy công việc của mình, tự đề ra chủ trương, biện pháp và trực tiếp tổ chức thực hiện Chuẩn bị cho Bạn từng bước tự đảm nhiệm, điều hành mọi nhiệm vụ công tác trong từng đơn vị, từng địa phương huyện, tỉnh, tiến tới đảm nhiệm toàn bộ địa bàn” [103]

Các đơn vị Quân tình nguyện của Việt Nam, “có nhiệm vụ phối hợp với Bạn tiếp tục tăng cường hoạt động chiến đấu giữ vững địa bàn được giao; tích cực chủ động trinh sát nắm bám các mục tiêu địch vùng giáp biên, kiên quyết tiến công phá kho tàng, không để địch xây dựng căn cứ lõm trên địa bàn đóng quân; diệt nhiều địch, thu vũ khí, phương tiện chiến tranh, bẻ gãy không cho địch thực hiện ý định phá hoại chính quyền cơ sở Bạn, tăng cường đánh phá hành lang chuyển quân, vận chuyển cơ sở vật chất cho địch vào nội địa”[103]

Bên cạnh đó, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương cũng căn dặn:

“Nhận rõ trách nhiệm nặng nề đối với sự nghiệp cách mạng của Bạn và sự liên minh đặc biệt giữa hai nước, các đồng chí phải anh dũng chiến đấu, tận tụy công tác, nâng cao ý chí, không lùi bước trước bất cứ khó khăn nào, hết lòng giúp Bạn, làm cho thế và lực của cách mạng mạnh hẳn lên, liên tục chủ động tiến công tiêu diệt địch và làm tan rã quân địch, làm cho thế và lực của chúng suy yếu nghiêm trọng hơn nữa Tất cả các đơn vị chủ lực và địa phương, cơ quan và đơn vị bất cứ ở đâu đều phải tham gia công tác vận động quần chúng xây dựng

cơ sở, giúp dân đẩy mạnh 3 phong trào cách mạng ở địa phương…Các chuyên gia quân sự cần nhận rõ yêu cầu mới một cách sâu sắc, nêu cao ý thức trách nhiệm, thấm nhuần hơn nữa quan điểm quốc tế của Đảng, phấn đấu nâng cao năng lực, rèn luyện phẩm chất, cải tiến phương pháp công tác, chân thành, vô tư, bền bỉ giúp bạn, không bao biện, không buông trôi, lúc nào cũng là tấm gương tốt cho Bạn, lấy sự trưởng thành vững chắc của Bạn làm mục tiêu và hướng nỗ lực cao nhất của mình”[69;tr.3]

Trang 27

Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Đảng ủy Quân sự Trung ương, các lực lượng làm nhiệm vụ quốc tế của Việt Nam đã cùng với lực lượng cách mạng Campuchia hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước Việt Nam và Campuchia giao, giành được nhiều thắng lợi to lớn, từng bước làm thay đổi cục diện trên thực địa ở Campuchia

1.2.2.2 Các hoạt động ngoại giao giữa Việt Nam với Campuchia

* Tăng cường hoạt động đối ngoại giữa hai nước, ký kết nhiều văn kiện quan trọng làm nền tảng cho sự phát triển tốt đẹp quan hệ hữu nghị Việt Nam – Campuchia

Ngay khi thủ đô Phnom Pênh được giải phóng, Hội đồng Nhân dân cách mạng Campuchia được thành lập do ông Hiêng Xomrin làm Chủ tịch, Việt Nam

ra tuyên bố “công nhận Hội đồng Nhân dân cách mạng Campuchia là người đại diện hợp pháp và chân chính duy nhất của nhân dân Campuchia”[18;tr.1], ủng

hộ Tuyên bố của Hội đồng Nhân dân cách mạng Campuchia: “khẳng định quyền đại diện chân chính và hợp pháp duy nhất của mình trong quan hệ quốc tế, ở Liên Hiệp Quốc, trong phong trào Không liên kết và các tổ chức quốc tế khác

mà Campuchia tham gia”[19;tr.1] và “Duy trì các quan hệ ngoại giao sẵn có của Campuchia với các nước, sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với các nước khác”[19;tr.1]

Tháng 2 năm 1979, Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm chính thức Campuchia, đây là một hoạt động ngoại giao quan trọng giữa hai nước khi lần đầu tiên lãnh đạo cấp cao của nước ngoài đến thăm Campuchia từ sau khi chế độ Pol pot bị lật đổ Trong chuyến thăm, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng khẳng định: Trong giai đoạn mới, cách mạng Việt Nam và Campuchia vẫn còn đứng trước những thử thách cam go, sự đe dọa an ninh từ bên ngoài, do vậy, cần

“tăng cường đoàn kết với nhau, tăng cường đoàn kết với nhân dân Lào anh em, với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước bạn bè gần xa, kiên quyết bảo vệ những thành quả cách mạng của chúng ta, giành thắng lợi to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân mỗi nước”[91;tr.18]; Đồng thời, hai bên đã đạt được thỏa thuận và đi đến ký kết:

Trang 28

“Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác” có giá trị trong 25 năm, gồm 9 điều

nêu ra các nguyên tắc tổng thể trong quan hệ Việt Nam – Campuchia, Điều 1 Hiệp ước nêu rõ: “Hai bên làm hết sức mình để bảo vệ và phát triển không ngừng truyền thống đoàn kết chiến đấu, quan hệ hữu nghị, hợp tác anh em Việt Nam – Campuchia, lòng tin cậy và sự giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi” Về trách nhiệm mỗi bên trong việc thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai nước, tại Điều 2 của Hiệp ước: “Trên nguyên tắc bảo vệ và xây dựng nước mình

là sự nghiệp của chính nhân dân mỗi nước, hai bên cam kết hết lòng và ủng hộ lẫn nhau về mọi mặt và bằng mọi hình thức cần thiết nhằm tăng cường khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và công việc lao động hòa bình của nhân dân mỗi nước, chống mọi âm mưu phá hoại của các thế lực

đế quốc và phản động quốc tế Hai bên sẽ tiến hành các biện pháp có hiệu quả

nhằm thực hiện điều cam kết này khi một trong hai bên có yêu cầu”[91;tr.43]

Về nguyên tắc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quan hệ hai nước, tại điều 4 của Hiệp ước ghi rõ: “Hai bên cam kết sẽ giải quyết bằng thương lượng hòa bình tất cả những bất đồng có thể nảy sinh trong quan hệ giữa hai nước Hai bên sẽ đàm phán ký một Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước trên cơ

sở đường biên giới hiện tại; quyết tâm xây dựng đường biên giới này thành biên

giới hòa bình, hữu nghị lâu dài giữa hai nước”[88;tr.43]

Nhằm giúp đỡ nhau trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế và khoa học,hai

nước đã ký Hiệp định về “Hợp tác văn hóa, giáo dục, y tế và khoa học” Về văn hóa, hai bên sẽ trao đổi các đoàn văn hóa, nghệ thuật điện ảnh, báo chí; hợp tác

về xuất bản, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, triển lãm, thông tin quần chúng;

giúp nhau đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật và trao đổi chuyên gia văn hóa Về giáo dục, trao đổi các đoàn làm công tác giáo dục và giáo viên các cấp, các ấn

phẩm của Nhà xuất bản Giáo dục của mỗi nước và trao đổi kinh nghiệm các mặt trong lĩnh vực giáo dục; hợp tác trong việc khôi phục cơ sở giáo dục, biên soạn

và xuất bản sách giáo khoa và các tài liệu giáo dục khác Trong lĩnh vực y tế,

Trang 29

hợp tác giải quyết những vấn đề y tế cấp bách trong việc chữa các bệnh phổ biến

và công tác phòng dịch, chống dịch; trao đổi kinh nghiệm trong công tác tổ chức, quản lý các cơ sở y tế; trao đổi cán bộ y tế, nhân viên kỹ thuật và các tài liệu về y, dược học; hợp tác trong công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân; hợp tác trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ y tế; hợp tác trong việc sản xuất thuốc phòng bệnh, chữa bệnh và khai thác các nguồn dược liệu; hợp tác và giúp nhau

trong việc điều trị bệnh nhân Về lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội,

hai bên sẽ trao đổi các đoàn nghiên cứu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội; hợp tác nghiên cứu về khoa học, trao đổi những kinh nghiệm thông tin khoa học

Có thể nói, những văn kiện trên được Chính phủ hai nước ký kết đã tạo khuôn khổ pháp lý quốc tế cho mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Campuchia, thúc đẩy quan hệ hai nước tiếp tục phát triển tốt đẹp

Từ đầu năm 1980, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia đã diễn ra trong hai ngày 27 và 28 tháng 1 tại thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam); Hội nghị đã ra Thông cáo và Tuyên bố về vấn đề hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác ở Đông Nam Á Các văn kiện này thể hiện bước phát triển mới trong tình hữu nghị và quan hệ hợp tác giữa ba nước Đông Dương nói chung và giữa Việt Nam với Campuchia nói riêng Theo tinh thần của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ba nước, ngày 18 tháng 8 năm

1980, Chính phủ Việt Nam ký Hiệp định Viện trợ không hoàn lại với Hội đồng Nhân dân cách mạng Campuchia, theo đó, Việt Nam sẽ giúp Campuchia một số lương thực, thực phẩm, vật tư, thiết bị, dụng cụ, giống cây, giống con

và hàng tiêu dùng để tiếp tục phục hồi sản xuất, ổn định đời sống nhân dân và các lực lượng vũ trang Campuchia Đến tháng 7 năm 1982, Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia đã nhóm họp, lần đầu tiên kể từ khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia năm 1979, Việt Nam

và Campuchia đã thống nhất ra tuyên bố về việc rút một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam về nước nhằm tăng cường sự tin tưởng của cộng đồng quốc

tế mà trước mắt là các nước ASEAN, tạo thuận lợi cho các hoạt động phối hợp đấu tranh ngoại giao của hai nước

Trang 30

Tháng 02 năm 1983, Hội nghị cấp cao ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia họp ở Viên Chăn (Lào) bàn về tăng cường hợp tác kinh tế, văn hoá giữa ba nước Hội nghị đã ra tuyên bố: “Sự có mặt của quân đội Việt Nam ở Campuchia là theo yêu cầu của Campuchia, Việt Nam sẽ rút hết quân về nước khi an ninh Campuchia được bảo đảm”[34;tr.309]; Hội nghị cũng đã thỏa thuận

sẽ triệu tập Hội nghị cấp cao Lào – Campuchia – Việt Nam sau khi lãnh đạo ba nước tham khảo ý kiến nhau thông qua các Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao, còn Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Lào – Campuchia – Việt Nam họp mỗi năm hai lần để giải quyết mọi vấn đề liên quan đến quan hệ ba nước trong thời gian giữa hai hội nghị cấp cao, bên cạnh đó Hội nghị tháng 02 năm 1983 cũng thông qua

nguyên tắc chỉ đạo quan hệ hợp tác giữa ba nước: Thứ nhất, đoàn kết hợp tác

giữa ba nước nhằm giúp đỡ nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ đất nước,

góp phần bảo vệ hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á và trên thế giới…; Thứ hai, mọi vấn đề về quan hệ giữa ba nước sẽ được giải quyết bằng thương lượng

trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, với tinh thần hiểu biết lẫn nhau, tôn

trọng lợi ích chính đáng của mỗi nước và vì lợi ích chung của cả ba dân tộc; Thứ

ba, phát triển sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau giữa hai bên hoặc ba bên về

mọi mặt, trên tinh thần hữu nghị anh em, hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng và

cùng có lợi; Thứ tư, tăng cường tình thần đoàn kết giữa ba dân tộc, chống mọi

âm mưu chia rẽ của kẻ thù, mọi biểu hiện của tư tưởng dân tộc nước lớn và dân tộc hẹp hòi [66;tr.73] Như vậy, Hội nghị cấp cao tháng 2 năm 1983 đã xác định

cơ cấu tổ chức cho một mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, thể hiện sự nhất trí cao độ về tăng cường quan hệ và cơ chế hợp tác giữa các quốc gia trên bán đảo Đông Dương

Từ năm 1983 đến đầu năm 1986, sáu tháng một lần, Việt Nam - Lào - Campuchia họp Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ba nước để phối hợp hoạt động quốc tế, đồng thời, tại các Hội nghị trên, căn cứ vào tình hình thực tiễn của Campuchia, dưới sự ủng hộ của Lào, sự thỏa thuận nhất trí của hai nước, Việt Nam

và Campuchia đều đưa ra những tuyên bố và lộ trình cho việc rút từng bộ phận

Trang 31

quân tình nguyện Việt Nam khỏi Campuchia nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho tiến trình giải quyết “vấn đề Campuchia” của các bên hữu quan Tại hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước Đông Dương lần thứ 11 tại Phnom Pênh (Campuchia) (ngày 15 tháng 8 năm 1985), Hội nghị đã nhất trí các quan điểm: sự có mặt của quân đội Việt Nam ở Campuchia là theo yêu cầu của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, Việt Nam rút hết quân về nước khi an ninh Campuchia được bảo đảm và căn cứ vào mức độ ổn định của tình hình Campuchia, hàng năm một bộ phận quân tình nguyện của Việt Nam sẽ rút về nước Chính phủ Campuchia sẵn sàng đàm phán với các nhóm hoặc cá nhân đối lập để tiến hành hòa hợp dân tộc trên cơ sở loại trừ Pol pot Tiến hành bàn bạc về tổng tuyển cử sau khi quân Việt Nam rút hết về nước…Đây là những đề nghị hết sức thiện chí của ba nước Việt Nam - Campuchia - Lào thể hiện mong muốn giải quyết vấn đề Campuchia của Việt Nam, trên cơ sở vì lợi ích của nhân dân Campuchia

Bên cạnh đó, từ thực tiễn đấu tranh, Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam nhận định vấn đề biên giới, lãnh thổ từng là trở ngại trong quan hệ Việt Nam – Campuchia, từng bị Pol pot xuyên tạc, lấy đó làm lý do gây hấn quân sự, tiến hành chiến tranh xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Để tạo điều kiện giải quyết vấn đề, với tinh thần hữu nghị, có lý có tình, Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Campuchia đã tiến hành nhiều cuộc đàm phán song phương và ký kết các Hiệp định về phân định chủ quyền biên giới giữa hai nước, đảm bảo tính pháp lý, yếu tố lịch sử và lợi ích

chung của hai nước Dựa trên cơ sở “Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác”

đã được hai nước ký vào tháng 2 năm 1979, theo đó, từ năm 1982 đến năm 1985 Việt Nam và Campuchia đã tiến hành đàm phán từng bước và đi đến ký kết 4 văn kiện sau :

1 Hiệp định về các vùng nước lịch sử giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với Cộng hòa Nhân dân Campuchia Hiệp định này được các Bộ

trưởng Ngoại giao của hai nước ký ngày 07 tháng 7 năm 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh và là một giải pháp tạm thời cho những vấn đề tồn tại về đường biên giới trên biển giữa hai nước Hiệp định gồm 3 điều: Điều 1 xác định một cách

Trang 32

chính xác một vùng biển được gọi là “vùng nước lịch sử của hai nước theo chế

độ nội thủy”[7;tr.67]; Điều 2 thông báo rằng hai bên sẽ thương lượng cùng nhau

để hoạch định đường biên giới biển giữa hai nước; Điều 3 đề cập tới một đường

cơ sở để tính chiều rộng của vùng lãnh hải và thông báo việc hai bên chấp nhận đường Brêviê là đường phân chia các đảo

2 Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia Hiệp

ước được Bộ trưởng Ngoại giao của hai nước ký ngày 20 tháng 7 năm 1983, Hiệp ước này đề ra những nguyên tắc để hoạch định biên giới giữa hai nước: Điều 1 xác định đường biên giới hiện tại, được thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương (Service Géographique de l' Indochine), thông dụng trước năm 1954 hoặc gần năm 1954 nhất, là đường biên giới quốc gia giữa hai nước, kèm theo là 26 mảnh bản đồ được hai bên xác nhận Ở nơi nào đường biên giới chưa được vẽ trên bản đồ, hoặc hai bên đều thấy chưa hợp

lý thì sẽ cùng nhau bàn bạc giải quyết; Điều 2 nhắc lại Điều 2 của Hiệp định về vùng nước lịch sử ký năm 1982; Điều 3 về việc thành lập Ủy ban liên hợp để hoạch định toàn bộ đường biên giới đất liền cũng như trên biển và để soạn thảo Hiệp ước về hoạch định đường biên giới quốc gia giữa hai nước Hiệp ước này hết giá trị sau khi Hiệp ước về hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước có hiệu lực [83;tr.129]

3 Hiệp định về quy chế biên giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia Hiệp ước cũng được hai Bộ

trưởng Ngoại giao ký ngày 20 tháng 7 năm 1983 tại Phnom Pênh (Campuchia) Hiệp định này gồm 19 điều quy định các thể thức qua lại biên giới, các quyền và nghĩa vụ đối với việc sử dụng sông ngòi trên đường biên giới Hiệp định ghi rõ:

“Ba tháng trước khi hết hạn, nếu không có bên nào muốn ủy bỏ Hiệp định này thì mặc nhiên thì mặc nhiên được gia hạn thêm”[7;tr.86] Hiệp định đã chấm dứt hiệu lực từ ngày 21 tháng 7 năm 1993

4 Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa ước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia Được Bộ trưởng

Trang 33

Ngoại giao của hai nước ký ngày 27 tháng 12 năm 1985 tại Phnom Pênh (Campuchia) Đây là kết quả hoạt động của Ủy ban liên hợp được thành lập theo điều 3 của Hiệp định được ký năm 1983 Hiệp ước này gồm 5 điều: Điều 1 đưa

ra một miêu tả chi tiết về đường biên giới trên bộ giữa hai nước từ ngã ba biên giới với Lào tới Vịnh Thái Lan; Điều 2 quy định việc xác định đường biên trong trường hợp đi theo các sông suối: “Sông, suối, rạch biên giới đổi dòng, đường biên giới vẫn giữ nguyên không thay đổi theo dòng mới nếu hai bên không có thỏa thuận nào khác”[7;tr.102]; Điều 3 nhắc lại các nguyên tắc phân định đường biên giới trên biển và thông báo về việc sẽ ký một hiệp ước riêng về biên giới trên biển; Điều 4 thông báo về việc thành lập một Ủy ban liên hợp để tiến hành việc phân giới trên thực địa và cắm mốc; Điều 5 quy định hiệp ước có hiệu lực

từ ngày hai nước trao đổi thư phê chuẩn

Với việc ký kết 4 văn kiện trên, toàn bộ đường biên giới trên đất liền, từ Đăk Lăk tới Hà Tiên đã được hai nước thống nhất xác định Trong vòng 6 năm, hai nước đã hợp tác giải quyết được một công việc đáng kể về vấn đề biên giới

mà trong suốt những năm trước đó đàm phán đều dẫn đến bế tắc Việc giải quyết những vấn đề này được tiến hành trên cơ sở thực sự bình đẳng, hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau và có tinh thần xây dựng Vì vậy, việc ký kết 4 văn kiện này là thắng lợi của tình hữu nghị, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia Đây cũng là những văn kiện có tính định hướng chiến lược và mang tính pháp lý quan trọng để hai nước đi đến việc ký kết Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 Theo điều 1 Hiệp ước 1985, đường biên giới quốc gia trên đất liền giữa hai nước được mô tả chi tiết theo bản đồ UTM tỷ lệ 1/50.000 (đường biên giới đã hoạch định được chuyển từ bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 sang)

“Hai bộ bản đồ đính kèm Hiệp ước (bản đồ Bonne và UTM) đều có giá trị như nhau” [7;tr.102] Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985 đã thể hiện rõ lập trường của hai nước tôn trọng đường biên giới hiện tại, căn cứ vào các bản đồ do chính quyền thực dân xuất bản và sử dụng bản đồ UTM của quân đội Mỹ để thuận tiện cho việc phân giới cắm mốc Hiệp ước hoạch định biên giới năm

Trang 34

1985 đánh dấu một mốc quan trọng trong quan hệ hai nước Đây là Hiệp ước được ký kết giữa hai quốc gia độc lập, có chủ quyền, trên cơ sở tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, phù hợp với thực tế khách quan về đường biên giới giữa hai nước, mà còn phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia; phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, tạo điều kiện

để hai nước xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, góp phần đem lại hòa bình cho khu vực

* Các lực lượng làm nhiệm vụ quốc tế của Việt Nam giúp đỡ Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, củng cố chính quyền cách mạng, phát triển sản xuất, ổn định đời sống

Với việc thành lập, kiện toàn, củng cố đội ngũ chuyên gia về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa sang giúp đỡ Đảng, Nhà nước và nhân dân Campuchia đã tạo điều kiện tiên quyết trong việc thực hiện nhiệm vụ quốc tế của Việt Nam với nhân dân Campuchia những năm từ 1979 đến 1985 và trong những năm tiếp theo Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã tích cực thực hiện giúp đỡ nhân dân Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, củng cố chính quyền về nhiều mặt, ổn định đời sống, phát triển sản xuất trên nhiều lĩnh vực

Giúp Campuchia phát triển kinh tế - xã hội: Trong thời gian đầu mới giải

phóng, tình hình kinh tế - xã hội của Campuchia rất khó khăn, trong đó việc tập trung giải quyết nạn đói cho 3,2 triệu người (60% dân số) Campuchia là vấn đề cần kíp trước mắt Điều quan trọng trước tiên là phải giúp Campuchia khôi phục lại hai cảng ở Kong Pông Som và Pnom Pênh; khôi phục mạng lưới đường bộ và các bến phà; khôi phục các tuyến đường sắt góp phần vận chuyển 203.000 tấn lương thực, thực phẩm viện trợ cho Campuchia giải quyết nạn đói trong nhân dân do hậu quả của chế độ Pol pot để lại, trong đó Việt Nam viện trợ 45.000 tấn, vận chuyển 150.000 tấn; tổ chức đề ra các biện pháp tích cực, khẩn trương nhờ vậy đến cuối năm 1980 đầu năm 1981, Việt Nam đã giúp Campuchia ngăn chặn được nạn đói

Trang 35

Sau hơn một năm chuẩn bị, các chuyên gia tài chính Việt Nam đã giúp đỡ

để đồng tiền mới (đồng Riel) của Nhà nước Campuchia ra đời và từng bước lưu thông vào năm 1981 Nhờ có đồng tiền mới mà hoạt động lưu thông, phân phối trở nên thuận lợi Các chợ tự do phát triển nhanh chóng và tác động trở lại với sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, nhất là ngành sản xuất nông nghiệp…Sự ra đời của đồng Riel đã xóa bỏ cơ chế quản lý bằng hiện vật, hình thành nền tài chính phân phối bằng giá trị Hệ thống cơ quan tài chính và đội ngũ cán bộ tài chính mới được thiết lập ở Trung ương, địa phương, các đơn vị sản xuất kinh doanh, hành chính sự nghiệp,…

Sau khi phát hành đồng tiền, các chuyên gia tài chính Việt Nam từng bước giúp ngành tài chính Campuchia hình thành một hệ thống luật lệ tài chính,

từ đơn giản đến phức tạp; hỗ trợ Campuchia xây dựng được chính sách thu thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp, thuế xuất nhập khẩu,…các chính sách chế độ chi tài chính cũng dần được hoàn chỉnh, nhờ đó, Nhà nước Campuchia điều hành và quản lý chi tiêu ngân sách một cách thuận lợi và chặt chẽ Có thể nói rằng, các chuyên gia tài chính Việt Nam đã giúp Campuchia làm được những điều rất khó khăn: Từ không có phân phối bằng giá trị chuyển sang phân phối bằng giá trị; từ không có ngân sách đến có các cấp ngân sách; từ không có cán bộ đến hình thành bộ máy thống nhất từ Trung ương đến địa phương; từ không có luật lệ về tài chính đến hình thành một hệ thống luật lệ tương đối hoàn chỉnh; từ không có công cụ quản lý sang có công cụ quản lý

Về hợp tác kinh tế giữa các địa phương Việt Nam và Campuchia, thì giữa

năm 1981, nhất là từ đầu năm 1982, “việc trao đổi kinh tế giữa một số tỉnh, thành phố Campuchia và Việt Nam bắt đầu xuất hiện”[16;tr.1] Tuy nhiên, việc trao đổi kinh tế giữa các tỉnh, thành phố mới đang ở thời kỳ bắt đầu, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, nên chưa đồng đều giữa các tỉnh, thành Về trao đổi hàng hóa, các tỉnh Campuchia giao sang Việt Nam các mặt hàng nông sản, thủy sản, lâm sản và chăn nuôi, còn các tỉnh, thành Việt Nam giao cho phía Campuchia các mặt hàng công nghiệp, thủ công nghiệp, thiết bị và dịch vụ Tuy việc trao đổi kinh tế giữa các tỉnh, thành Việt Nam – Campuchia mới ở bước đầu, chưa

Trang 36

đều, số lượng còn ít, “nhưng đã phát huy được tác dụng tích cực trong việc giúp Campuchia tiêu thụ được mặt hàng, thúc đẩy được lưu thông phát triển, kích thích được sản xuất một cách thiết thực”[16;tr.4]

Trong lĩnh vực giáo dục, Đoàn chuyên gia Việt Nam tập trung giúp

Campuchia củng cố, phát triển tổ chức từ Bộ Giáo dục xuống các tỉnh, huyện, thống nhất cơ cấu các phòng, ban, nhân sự, đặc biệt chú ý đến việc mở lớp ở các vùng nông thôn, theo hướng mỗi xã, thị trấn có một trường tiểu học; đồng thời tiếp nhận, phân phối và sử dụng hàng hóa các nước viện trợ cho giáo dục kịp thời, có hiệu quả, đúng đối tượng; đổi mới cách kiểm tra, thanh tra thi cử nhằm đánh giá từng cấp giáo dục và đội ngũ giáo viên làm việc tự giác, trung thực; tiến hành chỉ đạo, sơ kết học kỳ, tổng kết năm học một cách nghiêm túc, có chiều sâu để rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích Với sự giúp đỡ của chuyên gia giáo dục Việt Nam, nền giáo dục non trẻ Campuchia đã thu được những thành tựu bước đầu Tính chung trên cả nước Campuchia cứ 4 người dân thì có 1 người đi học, các xã đã có trường cấp 1, huyện có trường cấp 2, 11 tỉnh thành phố có trường cấp 3 Cả nước có 8 trường đại học và trung học kỹ thuật Trong khoảng 1 triệu người lớn không biết đọc, viết do chế độ Pol pot để lại, nay đã có 70% biết đọc và biết viết

Về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh,

mặc dù Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, hơn nữa, địch luôn có những thay đổi hòng gây ra những khó khăn nhất định cho lực lượng của ta nhưng với tinh thần

“giúp bạn là tự giúp mình”, ngày 18 tháng 5 năm 1981, Quân ủy Trung ương Việt Nam ra quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam giúp Campuchia lấy tên là Bộ Tư lệnh 719 để chỉ huy Quân tình nguyện và Đoàn 478 chuyên gia quân sự giúp Bộ Quốc phòng Campuchia trong xây dựng các lực lượng vũ trang cách mạng, củng cố quốc phòng – an ninh, tiếp tục truy quét tàn quân Khmer Đỏ, bảo vệ vững chắc địa bàn…

Đoàn chuyên gia quân sự 478 có nhiệm vụ giúp quân đội Campuchia xây dựng cơ quan Bộ Quốc phòng và phối hợp với các Bộ Tư lệnh Mặt trận Quân tình nguyện Việt Nam xây dựng lực lượng vũ trang Campuchia như sau:

Trang 37

Về phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang Campuchia: Thứ nhất,

Lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia phải có ba thứ quân và phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng Nhân dân cách mạng

Campuchia; Thứ hai, Xây dựng lực lượng bộ binh làm chính; xây dựng quân binh chủng và cơ sở đảm bảo cần thiết; Thứ ba, Về quy mô: Lấy cấp tiểu đoàn

và trung đoàn làm chính; tổ chức một số sư đoàn để sau này thay thế quân tình nguyện ở một số hướng trọng điểm; xây dựng từ thấp lên cao, theo trình độ chỉ huy và sức chiến đấu của bộ đội

Phương pháp làm việc chủ yếu là giúp quân đội Campuchia đề ra phương

hướng, chủ trương kế hoạch để trình Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia phê duyệt, sau đó cùng kiểm tra đôn đốc thực hiện Bộ đội tình nguyện Việt Nam giúp quân đội Campuchia xây dựng cơ quan Bộ Quốc phòng

theo ba bước lớn: Bước một: Giúp quân đội Campuchia tập hợp cán bộ để đào

tạo, bồi dưỡng giúp họ có thể thực hiện một số nhiệm vụ trong phối hợp với

Quân tình nguyện Việt Nam; Bước hai: Giúp quân đội Campuchia xây dựng cơ

quan Bộ Quốc phòng có thể làm việc theo chức trách, tham mưu được các văn bản để trình Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, các quyết định

về tổ chức để Quân tình nguyện Việt Nam có cơ sở pháp lý giúp Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang, biết kiểm tra đôn đốc thực hiện; kiện toàn cơ quan về

tổ chức để đủ điều kiện lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị trực thuộc từ trên xuống;

Bước ba: Chuyển cho quân đội Campuchia tự làm công tác vận động quần chúng,

làm chủ nội địa và phần lớn biên giới, tiến tới để lực lượng vũ trang nhân dân Campuchia tự đảm đương nhiệm vụ đảm bảo quốc phòng - an ninh Bên cạnh đó, hàng năm, Đoàn 478 đều giúp quân đội Campuchia cử cán bộ sang Việt Nam học tập, lập kế hoạch hiệp thương với Liên Xô để mở rộng việc đào tạo cán bộ,

sỹ quan Campuchia tại Liên Xô

Với sự giúp đỡ tận tình của các lực lượng quân sự, chuyên gia, cố vấn của Việt Nam và sự nỗ lực của Đảng, chính quyền, nhân dân, các lực lượng vũ trang Campuchia đã nhanh chóng xây dựng thực lực cho quân đội Campuchia đủ về

số lượng, dần đi vào nề nếp, nâng cao về chất lượng, từng bước hiện đại hóa khí

Trang 38

tài, vũ khí, trang bị đảm bảo cho quân đội và các lực lượng vũ trang nhân dân đủ lớn mạnh đảm đương nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, đảm bảo quốc phòng – an ninh

Đi đôi với việc xây dựng lực lượng quân đội Campuchia, Việt Nam tiếp tục giúp bạn truy quét tàn quân Khmer Đỏ Tuy lực lượng của Pol pot đã bị đánh bại nhưng vẫn còn ẩn náu khu vực biên giới Campuchia – Thái Lan, từ đó tiến hành chiến tranh du kích, gây khó khăn trực tiếp cho cách mạng Campuchia Để đảm bảo an ninh, đảm bảo cho nhân dân Campuchia xây dựng đất nước trong hòa bình, lực lượng quân tình nguyện Việt Nam và quân đội Campuchia đã liên tục mở các chiến dịch truy quét địch, tiến công các căn cứ, kho tàng trong nội địa hoặc vùng biên giới, triệt phá các hành lang vận chuyển của quân Khmer Đỏ

từ bên ngoài vào, thu và phá hủy nhiều phương tiện vũ khí, chiến tranh Mùa khô năm 1981-1982, quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp cùng quân đội Campuchia đập tan cuộc phản kích lần thứ nhất, phá vỡ âm mưu tập hợp lực lượng, xây dựng căn cứ lâu dài trong nội địa Campuchia của Pol pot; nổi bật là việc tấn công căn cứ quân khu trung tâm của Pol pot ở vùng sông Xen, sông Chinních ở Đông quốc lộ 7, nơi địch tập trung tới 5.000 quân

Trong vòng 4 năm (từ năm 1979 đến năm 1983), ở Mặt trận 479 (phía Bắc Campuchia gồm các tỉnh Xiêm Riệp, Ốtđômiênchay và Battambang) quân tình nguyện Việt Nam và quân đội Campuchia đã liên tục mở các chiến dịch như chiến dịch tổng hợp C81 địa bàn Battambang (từ ngày 15 tháng 1 đến tháng 4 năm 1982) tiêu diệt Sở chỉ huy Sư đoàn 320 của Pol pot cùng Trụ sở Trung ương Khmer Đỏ tại Nam sấp – Ôđa, phá âm mưu lấn chiếm của Khmer Đỏ để tạo thành thế hai vùng, hai chính quyền, giành lại một vùng đất rộng lớn, phì nhiêu [43;tr.202] Tiếp tục đà thắng lợi quân sự, mùa khô năm 1984 – 1985, quân đội Campuchia và quân tình nguyện Việt Nam đã quét sạch các căn cứ của tàn quân Pol pot dọc tuyến biên giới Thái Lan – Campuchia Chiến thắng này đã đưa thế trận cách mạng Campuchia chuyển sang thời kỳ mới, ổn định và vững vàng

Trong quá trình chiến đấu trên đất bạn, quân tình nguyện Việt Nam đã giúp xây dựng lực lượng quân đội Campuchia toàn diện cả về chính trị, quân sự,

Trang 39

kinh tế Trong vài năm đầu sau giải phóng, các đội công tác vũ trang của bộ đội tình nguyện Việt Nam đã phối hợp cùng quân đội Campuchia thực hiện các nhiệm vụ như cứu đói, cứu nạn, giúp dân trở về quê cũ, giúp dân khôi phục sản xuất… Từ năm 1980, quân tình nguyện Việt Nam giúp quân đội Campuchia xây dựng các phong trào: “Toàn dân đánh giặc”, “Toàn dân tham gia xây dựng đời sống, khôi phục phát triển kinh tế - xã hội”, “Toàn dân tham gia xây dựng thực lực cách mạng, củng cố chính quyền, xây dựng xã, ấp vững mạnh” [43;tr.203]

Trong chiến đấu chống Pol pot, quân tình nguyện Việt Nam và quân đội Campuchia đã lập Bộ chỉ huy thống nhất để huy động lực lượng tổng hợp đánh địch, đi đôi với việc xây dựng và kèm cặp các đơn vị chủ lực quân đội Campuchia

từ cấp sư đoàn cho tới cấp tiểu đoàn bộ đội địa phương Điều này đã làm cho lực lượng vũ trang của quân đội Campuchia trưởng thành nhanh chóng

Bên cạnh việc giúp Campuchia xây dựng và củng cố lực lượng quân đội, lực lượng chuyên gia an ninh Việt Nam đã giúp công an Campuchia tuyên truyền cho người dân Campuchia hiểu về thủ đoạn của Pol pot, tổ chức các triển lãm giới thiệu về thành tích đánh địch của công an Campuchia Mặt khác, chuyên gia an ninh Việt Nam cũng giúp công an Campuchia thực hiện tốt công tác bảo vệ, xây dựng phương án phối hợp với các đơn vị bộ đội Campuchia, đặc biệt trong các chuyến đi công tác về địa phương, góp phần đảm bảo an toàn cho cán bộ, chiến sỹ và nhân dân, phá tan các âm mưu, hoạt động chống phá, tấn công du kích chớp nhoáng của tàn quân Khmer Đỏ và bọn phản động

Đối với công tác xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền và tổ chức quần chúng: đây là một công việc rất khó khăn và phức tạp Trong những năm

tháng cầm quyền của tập đoàn Khmer Đỏ, hầu hết những đảng viên cách mạng chân chính đều bị tiêu diệt, Khmer Đỏ gieo vào đầu óc người dân Campuchia một tinh thần “bài Việt Nam” mạnh mẽ, kích động tinh thần dân tộc cực đoan Tuy nhiên, vượt qua muôn vàn khó khăn, các chuyên gia Việt Nam đã có sự phối hợp với các tổ chức vận động quần chúng của quân tình nguyện Việt Nam ở cơ sở để xây dựng “Tổ nòng cốt” của thôn xã: “Tổ nòng cốt” gồm những người có hận thù với chế độ Pol pot, có người thân bị chế độ Pol pot hãm hại Từ “Tổ nòng cốt”

Trang 40

này, chuyên gia Việt Nam đã gúp Campuchia xây dựng các tổ chức đoàn thể và chính quyền trong nhân dân Có thể nói, mô hình “Tổ nòng cốt” là một sáng tạo, một thành công lớn trong công tác xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng, tạo nên những lực lượng nòng cốt cho cách mạng Campuchia Về sau, một số lượng lớn các thành viên của tổ nòng cốt được kết nạp vào Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, trở thành nền tảng chính trị vững chắc cho hoạt động của Đảng và chính quyền ở cơ sở Với sự giúp đỡ của các chuyên gia Việt Nam, các tổ chức Đảng phát triển khá nhanh, các thành viên tích cực được cho đi học lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng rồi xem xét kết nạp Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia Cuối năm 1980, đã thành lập được 80 chi bộ và cuối năm 1981

đã phát triển lên 104 chi bộ với 904 đảng viên [10;tr.231]

Năm 1981, các chuyên gia Việt Nam xúc tiến giúp Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia chuẩn bị các điều kiện cần thiết tiến hành Đại hội Đảng

Ban B.68 đã giúp nghiên cứu xây dựng Báo cáo chính trị và đường lối cách mạng Campuchia trong giai đoạn tiếp theo Tuy nhiên, khi làm việc, chuyên

gia Việt Nam luôn cân nhắc không rập khuôn theo khuôn mẫu của Đảng Cộng sản Việt Nam mà phải tìm ra những chính sách phù hợp với tình hình thực tiễn của Campuchia

Sau đại hội, tổ chức cơ sở của Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia tiếp tục được củng cố và phát triển, trên toàn thể đất nước Campuchia, tính đến năm

1984 đã có hơn 80/136 huyện thành lập chi bộ, số huyện còn lại đều có đảng viên, các tỉnh đều thành lập được Ban Cán sự (Tỉnh ủy) [110;tr.546] Đến tháng

10 năm 1985, toàn Campuchia đã có 670 chi bộ Đây được coi là một thành tựu

to lớn so với những ngày đầu cách mạng mới thành công

Sau Đại hội lần V (diễn ra từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 5 năm 1981) của Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia; Căn cứ vào văn kiện Đại hội, tình hình thực tiễn của Campuchia, Đoàn chuyên gia Việt Nam tập trung giúp Campuchia trên các lĩnh vực: (1) Giúp củng cố hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể, xây dựng quy chế, phương pháp và nguyên tắc hoạt động; đặc biệt là trong công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp Trên cơ sở

Ngày đăng: 02/07/2016, 10:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Đức Anh (1986), Quân đội nhân dân Việt Nam và nhiệm vụ cao cả trên đất bạn Campuchia, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quân đội nhân dân Việt Nam và nhiệm vụ cao cả trên đất bạn Campuchia
Tác giả: Lê Đức Anh
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
Năm: 1986
2. Xuân Anh (1989), “Hòa bình thế giới và các vấn đề xung đột khu vực”, Tạp chí Cộng sản, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hòa bình thế giới và các vấn đề xung đột khu vực”
Tác giả: Xuân Anh
Năm: 1989
3. Bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Đức Bình - Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại buổi lễ khánh thành và bàn giao Viện Xã hội học Campuchia, ngày 26/10/1991, Lưu tại Ban Đối ngoại Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Đức Bình - Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
4. Bài phát biểu của đồng chí Đỗ Mười - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại cuộc Hội đàm với Đoàn cấp cao Đảng Nhân dân Campuchia tại Hà Nội ngày 31 tháng 10 năm 1991, Lưu tại Ban Đối ngoại Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu của đồng chí Đỗ Mười - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
6. Bài phát biểu của Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam Võ Văn Kiệt trong cuộc Hội đàm với Thủ tướng thứ nhất Campuchia N.Ranarith, ngày 16/01/1995 tại Hà Nội, Tài liệu lưu trữ tại Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu của Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam Võ Văn Kiệt
7. Ban Biên giới (Bộ Ngoại giao) (2006), Các văn bản pháp lý về việc giải quyết Biên giới Việt Nam - Campuchia, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp lý về việc giải quyết Biên giới Việt Nam - Campuchia
Tác giả: Ban Biên giới (Bộ Ngoại giao)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
8. Ban Chấp hành Trung ƣơng, Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV (khóa IV, ngày 27/7/1978), Lưu tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV (khóa IV, ngày 27/7/1978)
9. Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa V (1985), Báo cáo, kiến nghị của Ban Đối ngoại Trung ương về tình hình chủ trương quan hệ giữa nước ta với một số nước, Tài liệu lưu tại kho Lưu trữ Trung ương Đảng, Phông số 21, Đơn vị bảo quản số 298 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo, kiến nghị của Ban Đối ngoại Trung ương về tình hình chủ trương quan hệ giữa nước ta với một số nước
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa V
Năm: 1985
10. Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử giai đoạn 10 năm chuyên gia Việt Nam giúp cách mạng Campuchia (1988), Tổng kết 10 năm chuyên gia Việt Nam giúp cách mạng Campuchia (1978 – 1988), Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết 10 năm chuyên gia Việt Nam giúp cách mạng Campuchia (1978 – 1988)
Tác giả: Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử giai đoạn 10 năm chuyên gia Việt Nam giúp cách mạng Campuchia
Năm: 1988
11. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Thắng lợi và bài học. Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 1996
13. Ban Đối ngoại Trung ƣơng (1978), Thông báo một số tình hình có liên quan đến chính sách của Mỹ đối với quan hệ Việt Nam – Campuchia, Tài liệu lưu tại kho Lưu trữ Trung ương Đảng, số 88/V2-ĐN, Phông số 82, Đơn vị bảo quản 2308 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo một số tình hình có liên quan đến chính sách của Mỹ đối với quan hệ Việt Nam – Campuchia
Tác giả: Ban Đối ngoại Trung ƣơng
Năm: 1978
14. Tạ Văn Bảo (1982), Xứ sở nụ cười, Nxb. Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ sở nụ cười
Tác giả: Tạ Văn Bảo
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 1982
15. Báo cáo tình hình công tác quân sự của Quân ủy Trung ương (số 45- QUTƯ ngày 8/2/1979). Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, hồ sơ 1085 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình công tác quân sự của Quân ủy Trung ương
16. Báo cáo về vấn đề trao đổi kinh tế giữa các tỉnh, thành phố Việt Nam – Campuchia. Tài liệu lưu tại kho lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Phông: 82, tên phông: Ban Đối ngoại TW (1958 – 1991), ĐVBQ: 2308 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về vấn đề trao đổi kinh tế giữa các tỉnh, thành phố Việt Nam – Campuchia
17. Báo Nhân Dân, ngày 8/4/1978, Sự thật về Liên bang Đông Dương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thật về Liên bang Đông Dương
22. Báo Nhân dân, ngày 07/1/1989, Trích Diễn văn của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh đọc tại Lễ kỷ niệm lần thứ 10 Quốc khánh nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn văn của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh đọc tại Lễ kỷ niệm lần thứ 10 Quốc khánh nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia
23. Báo Nhân dân, ngày 21/2/1989, Bài phát biểu của Thủ tướng Campuchia Hun Sen tại JIM-2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu của Thủ tướng Campuchia Hun Sen tại JIM-2
24. Báo Nhân dân, ngày 21/2/1989, Bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch tại JIM-2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch tại JIM-2
27. Báo Nhân dân, Thông cáo của Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam ngày 03/6/1993, số 13965, ngày 04/6/1993, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông cáo của Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam ngày 03/6/1993, số 13965
28. Báo Nhân dân, Thông cáo chung Việt Nam – Campuchia, số 14220, ngày 04/4/1994, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông cáo chung Việt Nam – Campuchia

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w