1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh nghệ an lãnh đạo công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân từ năm 1996 đến 2005

99 418 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước 2.1.2.. Cho đến nay, chưa có một công t

Trang 1

Đại học quốc gia hà nội Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị

Mai Thị Thanh Châu

Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công tác chăm sóc và bảo vệ

sức khoẻ nhân dân từ 1996 đến 2005

Luận văn thạc sỹ lịch sử

Hà Nội - năm 2007

Trang 2

Đại học quốc gia hà nội Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị

Mai Thị Thanh Châu

Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công tác chăm sóc và bảo vệ

sức khoẻ nhân dân từ 1996 đến 2005

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Thu Hương

Hà Nội - năm 2007

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: Đặc điểm tình hình kinh tế- xã hội và những yêu cầu

đặt ra đối với công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân ở

tỉnh Nghệ An

7 1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An và những tác động

1.2 Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với công tác chăm sóc và

bảo vệ sức khoẻ nhân dân ở Nghệ An trong những năm đầu tái lập

tỉnh (1991-1995)

1.2.1 Vai trò quan trọng của công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ

nhân dân

1.2.2 Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với Nghệ An trong

công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân ở tỉnh Nghệ an trong

những năm đầu tái lập tỉnh (1991-1995)

9

9

12

Chương 2: Quá trình lãnh đạo thực hiện công tác chăm sóc và

bảo vệ sức khoẻ của tỉnh đảng bộ nghệ an ( 1996-2005)

2.1 Lãnh đạo thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân

dân của tỉnh đảng bộ Nghệ An từ 1996-2000

2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về công tác chăm sóc

và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp

hoá, hiện đại hóa đất nước

2.1.2 Quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác chăm sóc và bảo

vệ sức khoẻ nhân dân (1996-2000)

2.1.3 Kết quả quá trình thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức

khoẻ nhân dân của tỉnh đảng bộ Nghệ An từ 1996-2000

Trang 4

2.2 Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện chiến lược chăm sóc

và bảo vệ sức khoẻ nhân dân từ 2001-2005

2.2.1 Đảng bộ tỉnh Nghệ An quán triệt thực hiện chiến lược chăm

sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân nhằm thực hiện kế hoạch phát triển

kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005

2.2.2 Quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện chiến lược chăm sóc và

bảo vệ sức khoẻ nhân dân (2001-2005)

2.2.3 Kết quả quá trình thực hiện chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức

khoẻ nhân dân từ (2000-2005)

42

42

55

58

Chương 3: Kết quả và một số kinh nghiệm quá trình Đảng bộ

tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức

khoẻ nhân dân (1995 - 2005)

68 3.1 Kết quả quá trình thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức

khoẻ nhân dân từ 1995 - 2005

Trang 5

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trong 20 năm qua, thực hiện đường lối đổi mới, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội Trong những thành tựu đó, có sự đóng góp quan trọng của ngành y tế trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

Quan điểm chỉ đạo cơ bản xuyên suốt quá trình đổi mới đất nước là vì dân do vậy công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là một trong những mục tiêu hướng tới của công cuộc đổi mới Đặc biệt Nghị quyết Trung ương 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về một số vấn đề cấp bách trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Nghị quyết đã nêu rõ con người là nguồn tài nguyên quý báu nhất của xã hội, trong đó sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Do vậy, với bản chất nhân đạo và định hướng xã hội chủ nghĩa trong trong quá trình phát triển, ngành y tế nước ta phải đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng đã

khẳng định: "Thực hiện đồng bộ các chính sách chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ

nhân dân nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế, đặc biệt là ở cơ sở Xây dựng một số trung tâm y tế chuyên sâu, đẩy mạnh sản xuất dược phẩm, bảo đảm các loại thuốc thiết yếu đến mọi địa bàn dân cư Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ; đổi mới cơ chế chính sách viện phí, có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân Nhà nước ban hành chính sách quốc gia về y học cổ truyền, kết hợp

y học cổ truyền từ khâu đào tạo đến khâu khám bệnh và điều trị" [16, tr.107]

Trang 6

2

Bước vào thế kỷ XXI, cùng với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo chặt chẽ công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001 - 2010 đã vạch ra phương hướng phát triển và các giải pháp tổng thể phát triển công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới Đặc biệt ngày 22/01/2002, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 06 - CT/TW về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở nhằm tăng cường hơn nữa công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế

Thực hiện tốt công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đối với một tỉnh nghèo, dân số đông là một thách thức đối với Ngành y tế Nghệ An

Trong hơn 10 năm qua, xác định rõ sức khoẻ là vốn quý, đầu tư cho sức khoẻ có nghĩa là đầu tư cho phát triển, góp phần cùng địa phương xoá đói giảm nghèo Báo cáo Chính trị Đại hội lần thứ XV tỉnh Đảng bộ Nghệ An về

phát triển y tế đã nêu rõ: "Thực hiện tốt việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho

nhân dân, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế, đồng thời quan tâm thích đáng những người có công với cách mạng, người nghèo " [25, tr.31]

Được sự quan tâm của Bộ y tế, Tỉnh ủy - UBND tỉnh, ngành y tế Nghệ An đã đạt được nhiều kết quả đáng kể góp phần chiến thắng dịch bệnh, nâng cao sức khoẻ nhân dân Chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng lên, các quy trình làm việc trong bệnh viện, quy chế chuyên môn được triển khai thực hiện đồng bộ và có hiệu quả Tuy nhiên, trước quá trình chuyển đổi của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngành y tế cũng đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết Do vậy, cần phải đánh giá lại một cách khách quan những thành công, hạn chế để đúc rút những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo công tác chăm sóc và bảo vế sức

Trang 7

3

khoẻ nhân dân của tỉnh nhà, để góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này trước yêu cầu ngày càng cao của công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân

dân, tôi chọn vấn đề: "Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công tác chăm sóc

và bảo vệ sức khoẻ nhân dân từ 1996 đến 2005" làm đề tài luận văn thạc sỹ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cùng với những thành tựu của ngành y tế, rất nhiều cuốn sách, nhiều bài báo đã tổng kết, đánh giá và đưa ra những giải pháp kịp thời đối với ngành

y tế Bên cạnh đó, các công trình của các nhà khoa học trong lĩnh vực y tế, lịch sử đã góp phần đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng và các cấp chính quyền trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Nhìn tổng thể có thể chia thành những nhóm chủ yếu sau:

Nhóm thứ nhất, là những nghiên cứu của các nhà lãnh đạo, các nhà

quản lý, hoạch định chính sách, đáng kể nhất phải đề cập đến sách "Ngành y

tế Việt Nam vững bước vào thế kỷ XXI ", Nxb Y học, Hà Nội 2002 Các tác

giả tổng kết những thành tựu cũng như đăng tải những văn bản pháp lý quan trọng có tính chất cơ sở cho ngành y tế trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, đồng thời đề cập đến nhiệm vụ của ngành y tế trong thời kỳ mới và

thông tin về công tác y tế của các địa phương trong cả nước; Cuốn sách " Y tế

Việt Nam trong quá trình đổi mới " do GS TS Đỗ Nguyên Phương chủ biên,

Nxb Y học, Hà Nội 1999 tập hợp nhiều bài viết về những lĩnh vực khác nhau của ngành y tế trong quá trình đổi mới

Cuốn sách "Chính sách và giải pháp thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban

đầu" của Bộ Y tế, Nxb Y học, Hà Nội 2002 đăng tải nhiều văn bản và chủ

trương về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân và các bài viết của lãnh đạo

Bộ y tế

Nhóm thứ hai là những luận án, luận văn, các đề tài nghiên cứu khoa

học trong phạm vi cả nước và địa phương về y tế nói chung Tuy nhiên, cũng

Trang 8

4

chỉ mới dừng lại ở việc đưa tin, nhận xét, báo cáo tổng kết, phương hướng, giải pháp và chương trình hành động của ngành y tế Cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào đề cập một cách có hệ thống về quá trình lãnh đạo của một tỉnh Đảng bộ địa phương cũng như ở Nghệ An về thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Đây cũng là một thuận lợi nhưng cũng là khó khăn cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong giai đoạn từ 1996 đến 2005, luận văn làm rõ tầm quan trọng của công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân ở tỉnh Nghệ An nói riêng và trong công cuộc đổi mới trên cả nước nói chung Qua đó khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An và rút

ra một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với việc thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của luận văn là:

- Làm rõ đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của Nghệ An ảnh hưởng đến công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

- Hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quán triệt, vận dụng của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân (từ 1996-2005)

- Quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân từ năm 1996 đến 2005

Trang 9

5

- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về quá trình thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân từ năm 1996 đến 2005

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An đối với công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu công tác y tế trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân với 4 mục tiêu cơ bản: giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, cải thiện giống nòi; ngoài ra còn có những vấn

đề khác như thể dục thể thao, giáo dục - đào tạo liên quan đến công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, trên địa bàn tỉnh Nghệ An, thời gian

từ 1996-2006

5 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Luận văn vận dụng các nguyên tắc, phương pháp luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh

Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc; ngoài ra kết hợp với các phương pháp khác như: Phân tích, đối chiếu, so sánh, thống kê, tổng kết, khảo sát thực tế Những phương pháp này được sử dụng phù hợp với yêu cầu của từng nội dung

5.2 Nguồn tư liệu nghiên cứu

Trang 10

- Các văn kiện Đại hội Đảng bộ của Sở y tế Nghệ An từ 1996 - 2005

- Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khoá VI, VII, VIII,

IX

- Chương trình hành động, Kế hoạch, Báo cáo hàng năm của Sở y tế Nghệ An về công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

- Sách, báo, tạp chí của Trung ương và Nghệ An về công tác chăm sóc

và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

6 Những đóng góp của luận văn

Đánh giá một cách khách quan thực trạng của công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân của tỉnh Nghệ An từ 1996-2005 Từ đó, rút ra một

số kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhằm góp phần định hướng cho sự lãnh đạo của Đảng bộ Nghệ An về công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 6tiết

Trang 11

7

Chương 1 Đặc điểm tình hình kinh tế- xã hội

và những yêu cầu đặt ra đối với công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân ở tỉnh Nghệ An

1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế- xã hội Nghệ An và những tác động đối với công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

Nghệ An là tỉnh thuộc Bắc Trung bộ, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp Nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào Tỉnh có diện tích tự nhiên là 1.648.7km2

, đứng đầu cả nước

Tỉnh Nghệ An ở vị trí trung tâm của tiểu vùng Bắc bộ, trên tuyến giao lưu Bắc - Nam và đường xuyên á Đông - Tây, cách Thủ đô Hà Nội 297km về phía bắc, cách biên giới Việt - Lào khoảng 80km Nghệ An hội tụ đủ các tuyến giao thông quốc gia qua địa bàn là: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không Vị trí địa lý kinh tế là một lợi thế so sánh của Nghệ An trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế

* Về địa hình: Nghệ An nằm ở phía Đông Bắc dãy Trường Sơn, có độ

dốc thoải dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Diện tích đồi núi chiếm 83% diện tích tự nhiên, tập trung ở phía Tây của tỉnh Dải đồng bằng nhỏ hẹp chiếm 17% diện tích tự nhiên chạy từ Nam đến Bắc giáp biển Đông và bị các dãy núi bao bọc Địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi dày đặc và những dãy núi xen kẽ Đó cũng là trở ngại lớn cho sự phát triển, giao thông và tiêu thụ sản phẩm

* Về khí hậu: Tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang

tính chuyển tiếp của khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam Số giờ nắng trong năm từ 1.500 - 1.700 giờ, bức xạ mặt trời 74,6kalo/cm2 Nhiệt độ trung

Trang 12

8

bình năm khoảng 230C, cao nhất 430C, thấp nhất 20C Lượng mưa trung bình năm 1.800 - 2.000mm Hàng năm Nghệ An còn chịu ảnh hưởng gió Tây Nam, khô nóng Do địa hình phân dị phức tạp nên khí hậu cũng phân dị theo tiểu

vùng và mùa vụ

* Về hành chính- dân số: Tỉnh Nghệ An có 19 đơn vị hành chính gồm

thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, 10 huyện miền núi (Thanh Chương, Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Tân kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn) và 7 huyện đồng bằng (Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành) Nghệ An có hơn 3 triệu người dân, phần lớn dân cư sống trên địa bàn miền núi Tổng nguồn lao động xã hội có khoảng 1,5 triệu người, trong đó làm việc trong các ngành nghề kinh tế quốc dân là 1.380 nghìn người Hiện nay, toàn tỉnh có 103 tiến

sỹ, 406 thạc sỹ, 23.677 người có trình độ đại học, 13.544 có trình độ cao đẳng, 60 nghìn cán bộ kỹ thuật trung cấp, 58 nghìn công nhân kỹ thuật, lao động được đào tạo chiếm 14,5% số lao động đang làm việc

* Về văn hoá - nhân văn: Nghệ An là vùng đất giàu truyền thống văn

hoá và giáo dục Con người Nghệ An nổi tiếng bởi sự cần cù, cương trực, thông minh, hiếu học, có lòng yêu nước nồng nàn, có ý chí, tinh thần cách mạng và đổi mới Xứ Nghệ, mảnh đất địa linh nhân kiệt, đã xuất hiện nhiều bậc hiền tài mà kết tinh là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới

Trên quê hương Nghệ An có nhiều di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng và nhiều danh thắng nổi tiếng, nhiều nét văn hoá dân tộc đậm đà bản sắc

xứ Nghệ được giữ gìn tôn tạo và phát triển Những sản phẩm văn hoá vật thể

và phi vật thể đó là cội nguồn tinh hoa giá trị dân tộc đang hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế đến nghiên cứu, tham quan

Trang 13

9

* Về truyền thống y học: Ngoài các kinh nghiệm đấu tranh chống ngoại

xâm, đấu tranh với thiên nhiên để bảo vệ quê hương xứ sở, bảo vệ cuộc sống bình yên, nhân dân Nghệ An đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm bảo vệ sức khoẻ con người Những kinh nghiệm dân gian phong phú cùng với những kết quả nghiên cứu của các danh y lỗi lạc đã góp phần làm cho nền y học cổ truyền nước ta phát triển Trong hàng trăm danh y tỉnh nhà ở các thời kỳ lịch

sử có Hoàng Nguyên Cát, Hoàng Danh Sưởng đã có nhiều cống hiến xuất sắc cho nền y học nước nhà

1.2 Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với công tác chăm sóc

và bảo vệ sức khoẻ nhân dân ở Nghệ An trong những năm đầu tái lập tỉnh (1991-1995)

1.2.1 Vai trò quan trọng của công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Giữ gìn dân chủ, xây

dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công Mỗi người dân yếu ớt tức là cả nước yếu ớt, mỗi người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ [4, tr.23] Người luôn quan tâm tới sức khoẻ

của đồng bào, ngay từ những ngày đầu của Cách mạng Tháng Tám thành

công, Người đã chỉ rõ “Mỗi người dân khoẻ thì cả nước khoẻ” và “luyện tập

thể dục, bồi dưỡng sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước” [4,

tr.24] Để chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân tốt, Hồ Chí Minh luôn căn dặn

cán bộ y tế "Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt” [4, tr.25]

Con người là vốn quý nhất của chế độ xã hội chủ nghĩa Bảo vệ và bồi dưỡng sức khoẻ của con người là nghĩa vụ và mục tiêu cao quý của các ngành

y tế Chính vì thế, Đảng và Chính phủ ta rất coi trọng công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

Trang 14

10

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976) khẳng định:

"Bảo vệ và tăng cường sức khoẻ của nhân dân là một vấn đề rất quan trọng

gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội, với hạnh phúc của nhân dân Đó là một trong những mối quan tâm hàng đầu của chế độ ta,

là trách nhiệm cao quý của Đảng và Nhà nước ta, trước hết là của các ngành

y tế" [10, tr.126,]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (1982) cũng nêu rõ:

"Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân là một nhiệm vụ cách mạng cao cả Mỗi cán

bộ y tế, thầy thuốc cũng như những người bào chế thuốc, từ giáo sư, bác sĩ, đến y tá và nhân viên phục vụ, cần nhận rõ nhiệm vụ vẻ vang của mình, nêu cao đạo đức của người cán bộ y tế xã hội chủ nghĩa "Thầy thuốc như mẹ hiền

", hết lòng cống hiến trí tuệ, lương tâm để phục vụ người bệnh và chăm lo sức khoẻ của nhân dân" [11, tr.69,]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) của Đảng cũng

khẳng định: "Bảo vệ sức khoẻ, nâng cao thể lực của nhân dân phải trở thành

hoạt động tự giác của mỗi người, với sự quan tâm của Nhà nước và của toàn

xã hội " [13, tr.115]

"Phát triển các hoạt động y tế bằng khả năng của Nhà nước và của nhân dân, theo hướng dự phòng là chính; kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc Sắp xếp lại hệ thống y tế, củng cố y tế cơ sở, đặc biệt là ở miền núi Bảo đảm nhu cầu về thuốc chữa bệnh Phát triển bảo hiểm khám chữa bệnh, tăng ngân sách cho hoạt động khám chữa bệnh "

" Mở rộng hợp tác quốc tế về y tế, sử dụng có hiệu quả các nguồn viện

trợ quốc tế trong lĩnh vực y tế " [12, tr.115]

Vấn đề cốt lõi trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là y đức

“Thầy thuốc như mẹ hiền”, đó cũng là tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta Tại buổi

lễ kỷ niệm ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/02/1996 và đón nhận Huân chương

Trang 15

11

Sao vàng, đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đã chỉ thị cho Ngành y phải phát huy hơn nữa truyền thống vẻ vang của ngành, không ngừng nâng cao trình độ ngang tầm nhiệm vụ, rèn luyện phẩm chất, đặc biệt là nâng cao y đức, hết

lòng chăm nom người bệnh, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Thầy thuốc như

mẹ hiền”

Rất quan tâm đến sức khoẻ của nhân dân, bằng tâm huyết của mình, trong thư gửi báo Sức khoẻ và Đời sống, đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu

đã ân cần căn dặn cán bộ ngành y tế: “Công việc của người thầy thuốc được

ví như công việc của Người Mẹ, chăm lo cho con cái, cho gia đình, cho nòi giống, cho con người, từ thuở chưa lọt lòng đến giây phút thanh thản từ giã cuộc đời, giúp cho bà con vượt qua số phận hẩm hiu, những đau đớn quằn quại của bệnh tật, sự sinh nở được mẹ tròn con vuông, giúp cho lứa đôi hạnh phúc, các cụ già trường thọ” Đồng chí Tổng Bí thư dặn dò mỗi cán bộ y tế:

“Đem tình thương vĩnh cửu của Người Mẹ để làm công việc cao quý của mình”

Luôn luôn lo tới sức khoẻ của nhân dân và rất quan tâm tới Ngành y

tế, trong thư gửi cán bộ y tế nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam ngày 27 tháng

02 năm 2002, đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã ân cần dặn dò cán bộ

ngành y tế: “Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là một công việc đặc biệt

liên quan đến tài sản vô giá là sinh mệnh con người Cán bộ y tế phải không ngừng rèn luyện, gắn “đức” và “tài”, phải có “cái tâm trong sáng” mới làm được nghề cao quý này” và đồng chí Tổng Bí thư cũng nhắc nhở cán bộ y tế

rất cụ thể trong việc thực hiện nhiệm vụ:“Phải tiếp tục nâng cao y đức của

cán bộ y tế, thể hiện bằng các hành động cụ thể từ tiếp đón người bệnh, khám bệnh, chẩn đoán đến điều trị và chăm sóc tại các cơ sở y tế Mọi biểu hiện

“thương mại hoá” trong Ngành y tế, dù dưới bất kỳ hình thức nào đều cần phải sớm được khắc phục”

Trang 16

12

Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta đối với công tác chăm sóc và bảo vệ

sức khoẻ nhân dân là: "Sức khoẻ là vốn quý của mỗi con người và toàn xã hội,

là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì vậy chúng ta phải phấn đấu để mọi người đều được quan tâm chăm sóc sức khoẻ" Trong quá trình phát triển kinh tế, sự phân hoá giàu nghèo là không thể

tránh khỏi, vì vậy, bảo vệ người nghèo trong chăm sóc sức khoẻ trước sức ép của kinh tế thị trường là mục tiêu hàng đầu của nền y tế Việt Nam Mục tiêu của Đảng ta là tăng trưởng kinh tế phải đi kèm với thực hiện công bằng xã hội, sự nghiệp y tế là của toàn dân, của nhiều ngành trong đó ngành y tế đóng vai trò cơ bản

Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả

và phát triển, nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước

1.2.2 Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với công tác chăm

sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân ở Nghệ An (1991-1995)

Trước năm 1986, ngành y tế Việt Nam nói chung và ngành y tế Nghệ Tĩnh nói riêng đã phải đi lên từ những khó khăn thử thách Đây chính là giai đoạn chuyển mình của ngành trong điều kiện đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, tình hình kinh tế có nhiều khó khăn, biến động Ngành y tế vừa phải đảm nhận và hoàn thành những trọng trách lớn lao, nặng nề trong việc thể hiện "Lương y như từ mẫu", vừa đổi mới củng cố kiện toàn hệ thống tổ chức

và lực lượng đội ngũ cán bộ y tế Ngành y tế Nghệ Tĩnh đã sớm xác định đúng chức năng, vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của mình Toàn ngành phát triển phong trào thi đua "Thầy thuốc phải như mẹ hiền" để xây dựng đội ngũ cán bộ y tế với hai trọng tâm: chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho mọi người dân theo mười nội dung và nâng cao chất lượng trên mọi mặt hoạt động

Trang 17

13

Mười nội dung chăm sóc sức khoẻ ban đầu:

1 Giáo dục sức khoẻ

2 Kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở

3 Cung cấp đủ nước sạch và tinh khiết

4 Tiêm chủng, chủ yếu phòng 6 bệnh lây truyền trẻ em

5 Phòng và chống các bệnh lưu hành ở địa phương

6 Cải tiến bữa ăn, dinh dưỡng hợp lý và vệ sinh thực phẩm

7 Kế hoạch hoá gia đình và chăm sóc bà mẹ trẻ em

8 Bảo đảm thuốc thiết yếu, chủ yếu là thuốc Nam

9 Chữa bệnh tại nhà và xử lý vết thương thông thường

10 Quản lý sức khoẻ

Với phong trào thi đua "Thầy thuốc phải như mẹ hiền", ngành y tế Nghệ Tĩnh trước đổi mới đã có những hoạt động và những thành tích quan trọng, góp phần thực hiện đường lối, chính sách của Đảng trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhìn chung hiệu lực của công tác y tế Nghệ Tĩnh vẫn còn một số hạn chế, hoạt động của hệ thống các cơ quan y tế còn phụ thuộc và bị động trước các cấp chính quyền

Trên tinh thần quán triệt và nắm vững quan điểm Đại hội VI của Đảng, Đại hội đại biểu lần thứ XII Đảng bộ tỉnh Nghệ Tĩnh đã xác định Y học phòng ngừa kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc, tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu Làm tốt công tác vệ sinh phòng bệnh, phòng chống dịch, bảo vệ và làm sạch môi trường Củng cố và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và điều trị ở các cơ sở y tế từ xã đến huyện và tỉnh Củng cố tốt mạng lưới và thực hiện tốt chính sách, chế độ đối với cán bộ

y tế cơ sở Quan tâm đúng mức việc xây dựng mạng lưới y tế ở các làng, bản, các xã vùng núi cao Không ngừng nâng cao trách nhiệm và lương tâm với

Trang 18

14

tinh thần phục vụ người bệnh vô điều kiện của người thầy thuốc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh loại trừ những hiện tượng tiêu cực ở các cơ sở khám bệnh, phân phối và cấp phát thuốc Có quy hoạch và chính sách khuyến khích việc nuôi trồng cây, con làm thuốc, khai thác và chế biến dược liệu, bảo đảm có đủ thuốc thông thường từ dược liệu địa phương chữa bệnh cho nhân dân Chăm

lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ y tế, nhất là cán bộ y tế hoạt động ở miền núi và cơ sở cả về vật chất và tinh thần

Trên cơ sở đó, ngành y tế Nghệ Tĩnh chủ yếu tập trung vào 2 nhiệm vụ trọng tâm: Chăm sóc sức khoẻ ban đầu và nâng cao chất lượng mọi mặt công tác y tế Hướng tập trung vào công tác trọng tâm như: Tiếp tục kiện toàn tổ chức mạng lưới y tế, nhất là y tế cơ sở và y tế huyện; đẩy mạnh công tác bảo

vệ bà mẹ trẻ em, thực hiện kế hoạch hoá gia đình; đẩy mạnh hoạt động vệ sinh phòng dịch, phòng chống dịch, tích cực phòng ngừa khống chế các loại dịch bệnh: tả, lỵ, sốt rét ; triển khai thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng và các chương trình được các tổ chức y tế thế giới tài trợ; nâng cao chất lượng khám chữa bệnh; giải quyết tốt công tác sản xuất, lưu thông, phân phối

sử dụng thuốc và các trang thiết bị, dụng cụ y tế; đồng thời phải làm tốt các nhiệm vụ đột xuất của y tế quân sự; phòng chống thiên tai, phục vụ yêu cầu kịp thời các nhiệm vụ chính trị của địa phương

Ngày 12/8/1991, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá VIII, Quốc hội ra Nghị quyết về việc chia tách một số tỉnh, trong đó có tỉnh Nghệ Tĩnh Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 20/8/1991, UBND tỉnh Nghệ Tĩnh đã ra thông báo số 02-TB/UB về việc tách tỉnh Như vậy, sau 15 năm hợp nhất, tỉnh Nghệ Tĩnh lại được chia ra thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Ngành y tế Nghệ An cũng được thành lập lại và có sự thay đổi phù hợp với thời kỳ mới

Sau khi tách tỉnh vào tháng 8/1991, công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đứng trước nhiều khó khăn, thử thách Tình hình dịch bệnh có

Trang 19

15

nhiều diễn biến phức tạp, dịch sốt rét có nguy cơ lan rộng, bướu cổ chiếm tỷ

lệ cao, phát triển dân số còn ở mức 2,2% Môi trường ô nhiễm nặng, tỷ lệ bệnh nhiễm trùng cao Đội ngũ cán bộ y tế tương đối đông nhưng bố trí không đều, đời sống cán bộ y tế còn nhiều khó khăn, nhất là cán bộ y tế cơ sở Ngân sách cấp cho ngành y tế thấp, cơ sở vật chất xuống cấp nghiêm trọng

Từ năm 1991, tỉnh Nghệ An được tái lập Thời kỳ này, cả nước chuyển

từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, các cấp, các ngành đứng trước nhiều khó khăn trong giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi Đối với ngành y tế, khó khăn càng rõ nét hơn Trước đây, công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được bao cấp, vì vậy, khi chuyển sang cơ chế thị trường, ý thức của cán bộ y tế, ý thức của nhân dân chưa theo kịp nên gặp nhiều khó khăn, cản trở trong quá trình vận hành cơ chế mới Cán bộ y tế chủ yếu được đào tạo trong thời kỳ bao cấp, không còn phù hợp, công tác đào tạo mới chưa kịp thời Cơ sở vật chất phần lớn được xây dựng từ những năm 70, 80 đã bị xuống cấp Do tác động của cơ chế thị trường, một bộ phận cán bộ y tế có thái độ phiền hà, sách nhiễu bệnh nhân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với ngành

Tại Hội nghị tổng kết ngành y tế Nghệ An tháng 12/1991 đã nhận định: sau khi tách tỉnh, Nghệ An vẫn có diện tích rộng, dân số đông với một thành phố và 17 huyện, 451 xã, phường, thị trấn Diện tích miền núi và trung du chiếm 80% Tình hình dịch bệnh có nhiều diễn biến phức tạp, dịch sốt rét có nguy cơ lan rộng, bướu cổ chiếm tỷ lệ cao, phát triển dân số còn ở mức 2,2%, môi trường ô nhiễm nặng, tỷ lệ bệnh nhiễm trùng cao Đội ngũ y tế tương đối đông nhưng bố trí không đều, đời sống cán bộ y tế còn nhiều khó khăn nhất là cán bộ y tế cơ sở Ngân sách cấp cho ngành y tế thấp, cơ sở vật chất xuống cấp nghiêm trọng

Thực hiện Quyết định 109 về việc sắp xếp tổ chức biên chế hành chính

sự nghiệp của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng và công văn hướng dẫn 2521 của

Trang 20

16

Bộ y tế, Ngành y tế đã tiến hành hợp nhất phòng y tế, bệnh viện huyện, đội y

tế dự phòng và hiệu thuốc huyện thành thành trung tâm y tế huyện Cuối năm

1991 đã thành lập được 13/18 trung y tế huyện, năm 1993 thành lập thêm được Trung tâm y tế huyện Quỳnh Lưu, năm 1994 thành lập thêm được Trung tâm y tế Thị xã Cửa Lò

Đầu những năm 90, do tác động của cơ chế thị trường, hệ thống y tế xã, thôn, bản, ở nhiều nơi yếu, thậm chí mất trắng Năm 1991, toàn tỉnh có 103 xã trắng về y tế, không có trạm xá, không có y tế thôn bản

Mạng lưới y tế cơ sở trong thời gian đầu tái lập tỉnh bộc lộ bất cập: cơ

sở vật chất thiếu thốn, khả năng cung cấp dịch vụ y tế có chất lượng theo định hướng công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa rất nhiều hạn chế, có nơi yếu kém

Năm 1991, dịch sốt rét diễn ra trên phạm vi cả nước, ở Nghệ An, do địa hình phức tạp, đồi núi nhiều, điều kiện y tế cơ sở khó khăn nên dịch sốt rét

có điều kiện lan nhanh và diễn biến phức tạp Từ năm 1991 đến năm 1992, Nghệ An có 68 vụ sốt rét, có 108.989 người mắc bệnh và có 824 người tử vong, đặc biệt ở các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Tương Dương, Kỳ Sơn, Con Cuông số người mắc bệnh và tử vong do sốt rét rất cao

Thời kỳ này, ở Nghệ An, tỷ lệ người dân mắc bệnh bướu cổ và các rối loạn do thiếu Iốt cao so với cả nước Theo số liệu điều tra năm 1990, ở miền núi tỷ lệ người dân bị bướu cổ là 38,1%, tỷ lệ đần độn ước tính 1,6%, chậm phát triển trí tuệ khoảng 8-10% Đặc biệt ở các xã có tỷ lệ người dân bị bướu

cổ rất cao như: Phà Đánh (Kỳ Sơn) là 79%, Bắc Lý (Kỳ Sơn) là 60%, ở đồng bằng ven biển, tỷ lệ bướu cổ học sinh 8-12 tuổi là 10,5-15%

Giai đoạn này, hoạt động phòng chống lao đã thu được nhiều kết quả quan trọng Tuy nhiên, bệnh lao vẫn có những diễn biến phức tạp, làm cho công tác phòng chống lao đứng trước nhiều khó khăn, thách thức Cơ chế thị

Trang 21

17

trường làm cho sự giao lưu giữa các vùng miền, cũng đồng thời làm gia tăng nguồn lây lan các bệnh truyền nhiễm Tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và chưa có biện pháp ngăn chặn Tất cả những yếu tố trên là nguyên nhân gây nên sự quay trở lại của bệnh lao và có những diễn biến phức tạp khó kiểm soát Theo số liệu của Trung tâm phòng chống lao quốc gia, tỷ lệ nhiễm lao mới Nghệ An khoảng 75 bệnh nhân/100.000 người Trung bình mỗi năm, tỉnh Nghệ An phát hiện từ 2000- 3000 bệnh nhân lao phổi vi trùng dương tính, tuy nhiên, con số thực tế còn cao hơn nhiều và nguy hiểm chính là những bệnh nhân chưa được phát hiện và điều trị đã là nguồn gây bệnh rất lớn với cộng đồng Những vùng phát hiện có tỷ lệ cao là Thành phố Vinh, huyệnYên Thành, huyện Kỳ Sơn

Công tác điều trị bệnh lao tương đối phức tạp, phần lớn người dân chưa ý thức đủ mức độ nguy hiểm của bệnh, nhiều bệnh nhân mặc cảm không đến khám và điều trị tại các cơ sở y tế nhà nước, tự mua thuốc điều trị, không thực hiện đúng quy định hướng dẫn điều trị nên dẫn đến kháng thuốc, bệnh ngày càng trầm trọng

Trong những năm từ 1991 đến 1995, công tác phòng chống lao được triển khai trên diện rộng Riêng trong năm 1994, hoạt động chống lao được triển khai ở 300 xã, 16/19 huyện, thành phố Về chương trình chống lao cấp 2,

số người dân được bảo vệ trong chương trình là 1.963.000 người, đạt 76,1%,

đã khám và phát hiện được 1.377 người, tổng bệnh nhân được quản lý là 2.349 người Mặc dù, ngành y tế Nghệ An đã có những việc làm thiết thực, tỷ

lệ chữa khỏi bệnh đạt trên 92% nhưng Nghệ An vẫn là một trong những tỉnh

có tỷ lệ bệnh lao cao so với các tỉnh phía Bắc

Trong giai đoạn này, tỷ lệ dân số ở Nghệ An còn tăng cao, đặc biệt là ở vùng dân tộc, miền núi, vùng nông thôn Từ 1991 đến 1995, bình quân hàng

Trang 22

18

năm mức giảm sinh chỉ đạt 0,4%, tỷ lệ sinh là 31,55%, những con số cao so với cả nước

Công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em gặp nhiều khó khăn, Nghệ

An là tỉnh lớn, dân số đông, tỷ lệ phụ nữ, trẻ em cao, nhưng không có bệnh viện phụ sản, đây là một thiệt thòi lớn cho công tác chăm sóc sức khoẻ của phụ nữ và các bà mẹ mang thai ở tỉnh Nghệ An

Đầu những những năm 90, cùng với cả nước, công tác khám chữa bệnh ở Nghệ An đứng trước nhiều khó khăn Hệ thống cơ sở vật chất không đảm bảo chất lượng hoạt động, nhà cửa phần lớn được xây dựng từ những năm 80, chủ yếu là nhà cấp 4, qua nhiều thiên tai đã bị xuống cấp nghiêm trọng, trang thiết bị y tế nghèo nàn, lạc hậu, kinh phí đầu tư cho bệnh viện rất thấp Sự thay đổi cơ chế quản lý đã tác động đến hoạt động khám chữa bệnh Đời sống cán bộ y tế khó khăn, một bộ phận không yên tâm công tác, bỏ ra ngoài tìm việc làm khác, một bộ phận có biểu hiện gây khó dễ, sách nhiễu bệnh nhân Kỷ luật bệnh viện sa sút, việc thu viện phí, bán thuốc tại các khoa phòng một cách tuỳ tiện Hàng quán bừa bãi, mất vệ sinh, ảnh hưởng đến uy tín của hệ thống điều trị, lòng tin của nhân dân đối với ngành giảm sút

Ngày 19/9/1991, Bộ y tế phát động toàn ngành thực hiện đề án "Nâng cao tinh thần thái độ phục vụ, giảm phiền hà cho bệnh nhân trong các cơ sở khám chữa bệnh" Thực hiện chủ trương của Bộ y tế, Sở y tế Nghệ An đã tiến hành kiểm tra, đánh giá đúng thực trạng khám chữa bệnh ở Nghệ An và lên phương án chấn chỉnh những tồn tại, yếu kém Ngành đã tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, mở các đợt sinh hoạt, học tập cho cán bộ toàn ngành Trong đó nhận thức rõ công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân là nghĩa vụ của cán bộ y tế Đạo đức người thầy thuốc, lương tâm nghề nghiệp là truyền thống tốt đẹp của ngành học tập 12 điều y đức cũng

Trang 23

19

như quy chế bệnh viện, tổ chức kiểm tra, giám sát và chấn chỉnh việc thực hiện tại các cơ sở khám chữa bệnh

Tháng 8 năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 299

về Điều lệ bảo hiểm y tế Ngay sau đó, tháng 9 năm 1992, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã Quyết định số 2621 về việc thành lập cơ quan bảo hiểm y tế tỉnh Trong những năm từ 1992 đến 1995, hệ thống cơ quan bảo hiểm y tế từ tỉnh xuống đến các chi nhánh huyện, thành thị, xã, phường, thị trấn đã được thành lập và đi vào hoạt động

Đầu những năm 90, hoạt động y học cổ truyền đứng trước nhiều khó khăn Sự phát triển của tân dược làm cho những giá trị của y học cổ truyền bị lấn át Việc trồng thuốc không mang lại nhiều thuận lợi, tân dược lại dễ mua,

dễ sử dụng nên được lựa chọn nhiều hơn Vì vậy giai đoạn này, nhiều vườn thuốc Nam đã bị phá bỏ Hệ thống y tế cơ sở yếu dẫn đến không có cơ sở cho

y học cổ truyền phát triển sâu rộng như trước đây

Tuy nhiên, từ những giá trị thực tế to lớn của y học cổ truyền, đồng thời người dân cũng dần nhận thức được những hạn chế trong việc sử dụng tây y, công tác phát triển y học cổ truyền đã được quan tâm, đầu tư đúng mức Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương đúng đắn trong việc đẩy mạnh sự phát triển của nền y học cổ truyền dân tộc, đồng thời kết hợp có hiệu quả y học cổ truyền với y học hiện đại trong công tác khám chữa bệnh

Những con số trên cho thấy, trong những năm đầu tái lập tỉnh 1195), cùng với muôn vàn khó khăn về kinh tế- xã hội, công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân ở tỉnh Nghệ An đứng trước những khó khăn rất lớn: Tuyến y tế cơ sở chậm thay đổi, bất cập với nhu cầu khám chữa bệnh, công tác quản lý nhà nước về y tế chậm được kiện toàn, xã hội hoá công tác y tế còn lúng túng, nhiều lĩnh vực xã hội bức xúc chưa được giải quyết Nhiều cấp

(1991-uỷ Đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ về vai trò quan trọng của công

Trang 24

20

tác y tế Sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể nhân dân trong lĩnh vực y

tế thiếu chặt chẽ, hiệu quả chưa cao Những tồn tại trên đặt ra cho Đảng bộ

và nhân dân tỉnh nhà những nhiệm vụ nặng nề trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ nhân dân Thực tiễn công tác này trong giai đoạn 1991-1995 đã đặt ra những vấn đề cần giải quyết:

- Nền kinh tế tỉnh nhà tăng trưởng chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu ngân sách chi phí cho hoạt động y tế, trong khi cơ sở vật chất, trang thiết bị y

tế chưa thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu

- Tình trạng ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông gia tăng làm tăng nguy cơ bệnh tật và những khó khăn về công tác y tế

- Các dịch bệnh diễn biến phức tạp, có thể bùng phát lúc nào, các dịch bệnh tiềm ẩn ở nhiều địa phương

- Sức khoẻ nhân dân tỉnh nhà ở mức thấp và không đồng đều ở các vùng Tỷ suất chết mẹ và trẻ em, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em còn cao

- Số lượng cán bộ y tế có sự phân bố không đồng đều giữa các vùng

Tỷ lệ bác sỹ công tác ở xã thấp Việc nâng cao trình độ cho cán bộ y tế còn nhiều khó khăn do mặt bằng văn hoá thấp

- Các sai phạm về y đức, tinh thần phục vụ bệnh nhân còn chưa xứng đáng với vai trò và nhiệm vụ, uy tín của ngành còn nhiều hạn chế

- Hệ thống y học cổ truyền chưa đủ mạnh so với nhiệm vụ, chưa phát huy được tiềm năng hiện có Đội ngũ cán bộ y học cổ truyền chưa đáp ứng được yêu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

- Công nghiệp sản xuất thuốc chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về số lượng, chủng loại, chất lượng do thiếu vốn để đầu tư trang thiết bị hiện đại và thiếu cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn, quản lý

- Thiếu kiến thức và kinh nghiệm về tổ chức quản lý hệ thống y tế trong thời kỳ đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường

Trang 25

21

- Chế độ chính sách đối với cán bộ y tế còn nhiều bất cập, chưa thoả đáng, chưa thu hút được cán bộ về công tác vùng khó khăn, vùng sâu, vùng

xa

Trang 26

22

Chương 2 Quá trình lãnh đạo thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân

dân của tỉnh Đảng bộ Nghệ An

(1996- 2005)

2.1 Lãnh đạo thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân của tỉnh Đảng bộ Nghệ An (1996-2000)

2.1.1 Chủ trương của tỉnh Đảng bộ Nghệ An về công tác chăm sóc

và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước

Có thể nói, trước năm 1986, Việt Nam đã có một nền y tế khá phát triển, với một mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế rộng khắp tới tận thôn xóm

Tuy nhiên trong thời kỳ bao cấp, Nhà nước đảm bảo gần như toàn bộ mọi chi phí y tế Những nhược điểm của hoạt động y tế trong thời kỳ này có thể thấy như trì trệ, thiếu hiệu quả, người dân không được tự do lựa chọn nơi khám bệnh và chất lượng còn thấp do không được đầu tư đúng mức

Chuyển sang thời kỳ đổi mới đất nước, những thành tựu nhiều mặt của công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đã khẳng định các chính sách đổi mới y tế là đúng đắn và rất có hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế khách quan đang có nhiều thay đổi của đất nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) khẳng định về

chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ của nhân dân:"Sức khoẻ của nhân

dân, tương lai của giống nòi là mối quan tâm thường xuyên của Đảng và Nhà nước ta, là trách nhiệm của tất cả các ngành, các đoàn thể, là trách nhiệm và lợi ích thiết thân của mỗi công dân " [12, tr.76 ]

Đại hội lần thứ VI của Đảng nêu rõ đẩy mạnh công tác y học dự phòng, kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền và phương châm " Nhà nước và

Trang 27

23

nhân dân cùng làm ", trước mắt tập trung sức nâng cao chất lượng các hoạt động y tế và đạt được tiến bộ rõ rệt trong việc chăm sóc sức khoẻ của nhân dân

Có biện pháp tích cực và chính sách thích hợp, nhanh chóng củng cố mạng lưới y tế huyện, quận và cơ sở Phát động rộng rãi phong trào quần chúng và huy động lực lượng các ngành tham gia bảo vệ và làm sạch môi trường, phòng và chống dịch, phòng và chống các bệnh xã hội, nghề nghiệp Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác khám và chữa bệnh Tăng cường giáo dục cán bộ, nhân viên y tế về thái độ, tinh thần phục vụ Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ y tế, không ngừng nâng cao trình độ của nền y học và y tế nước ta Cố gắng đầu tư thêm cho công tác y tế và chăm lo tốt hơn đời sống vật chất, văn hoá của đội ngũ cán bộ y tế

Ngày 14 tháng 01 năm 1993, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung

ương Đảng khoá VII đã ban hành Nghị quyết "Về những vấn đề cấp bách của

sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân"

Nghị quyết đã đánh giá cao những đóng góp to lớn, những thành tựu của ngành y tế trong sự nghiệp chống ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, do hậu quả của khủng hoảng kinh tế - xã hội và sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống y tế đã gặp khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân Tình trạng sức khoẻ của nhân dân mặc dù được cải thiện, song còn nhiều vấn đề cần phải quan tâm, đó là, thể lực phát triển còn chậm; tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và người lớn còn cao, một số bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng, nhất là bệnh sốt rét còn lưu hành; di chứng chiến tranh còn lớn; các bệnh nghề nghiệp, ung thư, tim mạch có xu hướng tăng

Trang 28

24

Nguyên nhân của những yếu kém trên là do ngành y tế chậm đổi mới, các cấp bộ Đảng và chính quyền còn xem nhẹ việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác chăm sóc sức khoẻ, đầu tư của Nhà nước còn hạn chế

Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã thảo luận và đề ra những vấn đề có ý nghĩa cơ bản và cấp bách để định hướng cho lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân vượt qua khó khăn và tiếp tục phát triển trong điều kiện chuyển đổi cơ chế kinh tế

Quan điểm cơ bản xuyên suốt Nghị quyết là: "Sức khoẻ là vốn quý nhất của

mỗi con người và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vì vậy chúng ta phấn đấu để mọi người đều được quan tâm chăm sóc sức khoẻ " [14, tr.2]

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, ngày 20/6/1996 Chính phủ đã ra Nghị quyết số 37/CP về định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời gian 1996 - 2000, đã cụ thể hoá bằng 5 quan điểm chỉ đạo và 4 mục tiêu cơ bản

Năm quan điểm chỉ đạo công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân:

- Con người là nguồn tài nguyên quý báu nhất quyết định sự phát triển của đất nước, trong đó sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, cũng là một trong những niềm hạnh phúc lớn nhất của mỗi người, mỗi gia đình Vì vậy, đầu tư cho sức khoẻ để mọi người đều được chăm sóc sức khoẻ chính là đầu tư cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân, mỗi gia đình

- Bản chất nhân đạo và định hướng xã hội chủ nghĩa của hoạt động y tế đòi hỏi sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ

- Dự phòng tích cực và chủ động là quan điểm xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển nền y tế Việt Nam

Trang 29

25

- Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc

- Sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ là trách nhiệm của cộng đồng và mỗi người dân, là trách nhiệm của cấp uỷ Đảng và chính quyền, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội

Thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", đa dạng hoá các hình thức tổ chức chăm sóc sức khoẻ (Nhà nước, tập thể, nhân dân), trong đó y tế Nhà nước là chủ đạo, tận dụng mọi tiềm năng sẵn có trong nước

- Cải thiện giống nòi

Ngay sau khi Nghị quyết Trung ương 4 được ban hành, việc quán triệt

và thực hiện Nghị quyết đã được triển khai tích cực, khẩn trương và tương đối đồng bộ

Cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể ở hầu hết các ngành, địa phương

và cơ sở đã tích cực tham gia công tác chăm sóc sức khoẻ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 và ủng hộ, phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành y

tế trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) của Đảng một lần nữa khẳng định tầm quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân

dân, "nâng cao thể chất của nhân dân, phấn đấu đến năm 2000 giảm hẳn tỷ lệ

mắc bệnh truyền nhiễm gây dịch, cải thiện các chỉ tiêu cơ bản về sức khoẻ của người dân, nâng cao tuổi thọ bình quân và giảm tỷ lệ tử vong " [15,

tr.116]

Trang 30

26

Tiếp tục củng cố hệ thống y tế Nhà nước, đặc biệt là y tế xã, huyện Mở rộng, đa dạng hoá, nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Đổi mới và tăng cường công tác quản lý bệnh viện, kiện toàn hệ thống khám chữa bệnh đủ sức đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của nhân dân Thực hiện khám chữa bệnh miễn phí cho các gia đình chính sách, cho người nghèo Tăng đầu tư của Nhà nước kết hợp với tạo thêm nguồn kinh phí khác cho y tế như phát triển bảo hiểm, mở rộng hợp tác quốc tế Khuyến khích và quản lý tốt hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân của các tổ chức

và cá nhân Phát triển y học cổ truyền dân tộc, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại Xây dựng chính sách về quản lý và phát triển công nghiệp dược, thiết bị y tế, đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu Có chính sách đãi ngộ để sử dụng tốt cán bộ y tế, nhất là ở những nơi khó khăn Ngăn chặn tình trạng xuống cấp trong ngành y tế, từ cơ sở vật chất, trang thiết bị đến chất lượng và thái độ phục vụ Chấn chỉnh việc thu và sử dụng viện phí Chống tiêu cực trong các dịch vụ y dược Đề cao y đức " Thầy thuốc như mẹ hiền "

Như vậy, trong những năm đổi mới, đặc biệt trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bên cạnh những thành tựu đạt được, cũng còn những mặt trái của nó, ngành y tế phải trải qua những khó khăn to lớn trước những tác động của nền kinh tế thị trường

Dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương

Đảng, đặc biệt là dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương 4, khoá VII " Về

những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

", ngành y tế đã tháo gỡ từng bước những khó khăn trở ngại để củng cố và

phát triển ngành, đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng ngày càng cao của nhân dân về chăm sóc sức khoẻ

Trang 31

27

Tháng 6/1993, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đề ra Chỉ thị số 18-CT/TW về:

"Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về những vấn

đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân "

Chỉ thị đã đánh giá tình hình công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân tỉnh Nghệ An:

Những năm qua, công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân ở tỉnh

ta đã có bước chuyển biến tích cực Một số chương trình mục tiêu được triển khai có hiệu quả; mạng lưới y tế, tổ chức bộ máy đã được kiện toàn, sắp xếp, phát huy vai trò nòng cốt trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

Công tác khám chữa bệnh có bước chuyển biến tốt về tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh, đẩy mạnh cuộc vận động nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, khắc phục các hiện tượng tiêu cực ở các cơ sở y tế

Tuy vậy, thực trạng sức khoẻ và bệnh tật của nhân dân còn có những biểu hiện khá gay gắt, công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân còn nhiều mặt chưa đáp ứng với yêu cầu của nhân dân Mạng lưới y tế phát triển chưa hợp lý; Ngành y tế chậm đổi mới trong công tác tổ chức, quản lý, điều hành; coi nhẹ các hoạt động phong trào vệ sinh phòng bệnh, rèn luyện thân thể, chú trọng công tác điều trị hơn là vấn đề giáo dục dự phòng tích cực

Chỉ thị đề ra chương trình hành động trong thời gian tới với mục tiêu:

Từng bước khắc phục về cơ bản các bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng, khống chế và giảm nhanh tỷ lệ mắc bệnh sốt rét Hạ thấp tỷ lệ bệnh bướu cổ, các bệnh lao, phong, hoa liễu

Phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cả Đông y và Tây y, khuyến khích chữa bệnh bằng y học cổ truyền dân tộc, đặc biệt là các cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ ban đầu, khuyến khích mở cửa các dịch vụ y

tế tư nhân

Trang 32

28

Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ, quan tâm đến các đối tượng chính sách, chú ý đến người lao động nghèo khó, đồng bào các dân tộc vùng cao, xa xôi hẻo lánh Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, hạ thấp

tỷ lệ suy dinh dưỡng và các bệnh tật về dinh dưỡng ở trẻ em

Tăng cường y tế cơ sở nhằm chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân Đưa thầy thuốc về cơ sở, mỗi xã có 3 cán bộ y tế chuyên trách từ trên về, tất

cả các xã đều có trạm xá, được trang bị đồng bộ dụng cụ y tế, phấn đấu đến năm 1995 có đủ y tế bản là người dân tộc cho miền núi

Chỉ thị nêu ra các chính sách và giải pháp:

Công tác phòng chống các loại bệnh tật: Tăng cường sự lãnh đạo và chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng và chính quyền, hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội tạo ra phong trào chăm sóc sức khoẻ trong nhân dân Tập trung mọi cố gắng vào các vùng sốt rét trọng điểm, giảm nhanh số người mắc bệnh, số người chết và số vụ dịch Duy trì tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ em dưới 1 tuổi Thực hiện tốt công tác giáo dục dinh dưỡng và sức khoẻ cho nhân dân

Phát triển các dịch vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ Củng cố

y tế cơ sở Tiếp tục thực hiện cuộc vận động nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân, sắp xếp lại hệ thống khám chữa bệnh theo hướng đa dạng hoá các hình thức chăm sóc sức khoẻ nhân dân Phát huy việc ứng dụng, nghiên cứu và từng bước hiện đại hoá y học dân tộc, kết hợp tốt hơn nữa giữa

y học hiện đại với y học cổ truyền Đầu tư cải tạo dây chuyền sản xuất thuốc chữa bệnh, bảo đảm nguồn thuốc tốt phục vụ nhân dân Khẩn trương phát triển công tác bảo hiểm y tế, chấn chỉnh việc thu, quản lý và sử dụng viện phí tạo điều kiện để nhân dân đến khám, chữa bệnh được dễ dàng thuận tiện Thực hiện tốt hơn nữa chính sách xã hội về y tế

Trang 33

Tháng 6/1996, Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An khoá XIV đã được tổ chức Đảng bộ tỉnh đề ra chủ trương về công tác y tế bảo vệ sức khoẻ:

"Hướng vào mục tiêu y tế dự phòng chăm sóc sức khoẻ ban đầu Thực hiện các biện pháp vệ sinh môi trường, ăn muối Iốt, giáo dục phòng tránh nhiễm HIV - AIDS, khám bệnh miễn phí cho gia đình chính sách và người nghèo, chính sách đối với cán bộ y tế cơ sở Kết hợp y học hiện đại với y học dân tộc

cổ truyền, nâng cấp trang thiết bị đi đôi với nâng cao chất lượng khám chữa bệnh các bệnh viện tỉnh, huyện, phòng khám đa khoa khu vự " [22, tr.23]

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, Ngành y tế Nghệ An đã từng bước tháo gỡ những khó khăn trở ngại để củng cố và phát triển ngành đáp ứng yêu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

2.1.2 Quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác chăm sóc và bảo

vệ sức khoẻ nhân dân (1996-2000)

Sau Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIV (1996), Sở Y tế Nghệ

An ra "Chương trình hành động" và tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân từ năm 1995 - 2000 với mục tiêu tổng quát:

"Thực hiện công bằng, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, cải thiện mô hình bệnh tật bằng cách làm giảm một cách đáng kể tỷ lệ mắc và chết do các bệnh có thể phòng ngừa được, trước hết là các bệnh nhiễm trùng, suy dinh dưỡng và tình trạng đẻ nhiều, ngăn ngừa các bệnh có thể phát sinh trong quá trình công nghiệp hoá, nâng cao

Trang 34

Chương trình hành động đã đề ra mục tiêu cụ thể:

+ Cải thiện các chỉ tiêu sức khoẻ cho mọi người Phấn đấu đến năm

2000 đạt các chỉ tiêu cơ bản về sức khoẻ:

- Tuổi thọ trung bình vào năm 2000 là 70 tuổi

- Tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi đến năm 2000 còn 30%

- Tỷ suất trẻ em chết dưới 5 tuổi đến năm 2000 còn 40%

- Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi đến năm 2000 còn 30%

- Tỷ suất chết mẹ đến năm 2000 : 0,8%

- Tỷ lệ trẻ em mới đẻ cân nặng dưới 2.500 gam đến năm 2000 còn 8% + Làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết của các bệnh truyền nhiễm gây dịch và các bệnh do ký sinh trùng, khống chế các bệnh có xu hướng tăng, cải thiện cơ bản tình hình bệnh tật của nhân dân ta vào năm 2000

- Các bệnh trong tiêm chủng mở rộng, viêm phổi cấp, ỉa chảy trẻ em dưới 5 tuổi

- Khống chế cơ bản bệnh sốt rét, không để xảy ra thành dịch

- Hạ tỷ suất mắc mới lao xuống 60/100.000 dân

- Thanh toán bệnh phong, bại liệt, hạn chế tối đa viêm não Nhật Bản B, viêm gan virút B (đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng: viêm gan virút

B, viêm não Nhật Bản B)

- Khống chế sốt xuất huyết, dịch tả, dịch hạch, không để thành dịch

- Phòng chống bệnh lây lan qua đường tình dục, HIV/AIDS

Trang 35

31

- Thanh toán uốn ván sơ sinh

- Khống chế các bệnh không lây và nguy cơ mới: Bướu cổ; Tâm thần; Tai nạn giao thông, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Bệnh tim mạch, cao huyết áp

+ Các chỉ tiêu lớn về chăm sóc sức khoẻ:

- 80% dân dùng nước sạch

- 60% gia đình có hố xí hợp vệ sinh

- Môi trường về cơ bản được bảo vệ và chống ô nhiễm

- Hạ tỷ lệ người lớn có mức ăn dưới 1.800Kcal/ngày xuống 10%, đưa năng lượng trung bình trong khẩu phần ăn trên 2.100Kcal/ngày ở tất cả các vùng

- 80% bà mẹ có thai và cho con bú được dinh dưỡng tốt (trọng lượng tăng trung bình 10 - 12kg, chống thiếu máu do thiếu sắt)

- 95% bà mẹ mang thai được khám 3 lần, tiêm AT, đẻ có cán bộ y tế

- 90% trẻ dưới 5 tuổi được theo dõi dinh dưỡng và chăm sóc tốt vệ sinh

hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi, 100% có y tế thôn, bản

- Có đủ thuốc và danh mục thuốc thiết yếu đảm bảo chất lượng, giá cả

- 100% huyện có Trung tâm y tế đủ sức làm nhiệm vụ của tuyến hỗ trợ thứ nhất cho chăm sóc sức khoẻ ban đầu và phục vụ lâm sàng thiết yếu, 50% được trang bị y tế đồng bộ

- 100% tuyến tỉnh đủ sức làm nhiệm vụ tuyến hỗ trợ thứ hai đảm bảo thiết bị chủ yếu cho các khoa

Trang 36

32

- Kết hợp y học dân tộc, y học hiện đại

+ Nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc sức khoẻ, thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ Củng cố và phát triển hệ thống y tế quốc gia theo hướng hiện đại hoá, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực dành cho y tế Phát triển và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nước và thế giới, phấn đấu nâng cao trình độ một số lĩnh vực chuyên môn Xoá xã trắng về y tế, trạm y tế được xây dựng có trang bị tốt làm nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu Đến năm 2000 có 60 - 70% trung tâm y tế huyện, bệnh viện tuyến tỉnh, các trung tâm, trạm chuyên khoa được trang bị các phương tiện cần thiết phục vụ cho yêu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Sắp xếp lại bệnh viện một cách hợp lý, có quy định phân rõ tuyến điều trị Đến năm 2000 đảm bảo trẻ em được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 90% Có chính sách và biện pháp thích hợp để tất cả mọi người, đặc biệt là người có công với cách mạng, người nghèo, đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu, vùng

xa được chăm sóc sức khoẻ tốt, chấm dứt tình trạng người nghèo không được chăm sóc vì không có tiền

Để thực hiện được các chỉ tiêu đã đề ra, Sở Y tế Nghệ An nêu ra các giải pháp quan trọng và các bước tổ chức thực hiện:

Kiện toàn tổ chức và phát triển mạng lưới chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Tiếp tục củng cố mạng lưới y tế cơ sở, làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu Đào tạo nhân lực và nghiên cứu khoa học Tăng cường đầu tư và quản lý tốt các nguồn lực Thực hiện tốt chương trình y tế Quốc gia

có mục tiêu Phát triển y học cổ truyền dân tộc Công tác dược và vật tư y tế: Chấn chỉnh hệ thống sản xuất và lưu thông phân phối thuốc Xã hội hoá công tác y tế: Chăm sóc sức khoẻ là trách nhiệm của cộng đồng, của mỗi người dân

và của toàn xã hội, là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng và chính quyền các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng

Trang 37

- Quan điểm chăm sóc sức khoẻ toàn dân

- Quan điểm kết hợp y học dự phòng với chất lượng khám chữa bệnh

- Quan điểm xã hội hoá trong chăm sóc sức khoẻ

- Quan điểm đa dạng hoá trong công tác chăm sóc sức khoẻ

Tổ chức học tập các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về định hướng chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Tất cả mọi cán bộ đảng viên, quần chúng trong ngành y tế tham gia học tập Nghị quyết tỉnh Đảng bộ lần thứ XIV, quán triệt đầy đủ những nội dung mà Nghị quyết nêu lên, cụ thể hoá Nghị quyết thành hành động cụ thể của từng đơn vị, của mỗi cá nhân Coi đây

là một đợt sinh hoạt chính trị rất quan trọng của ngành trong việc đề ra định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân tỉnh nhà từ nay đến năm 2000

Phát động đợt thi đua sâu rộng trong toàn ngành chào mừng thắng lợi Đại hội VIII của Đảng

Sơ kết, tổng kết phong trào thi đua, khen thưởng kịp thời các đơn vị và

cá nhân làm tốt trong ngành

Như vậy, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV của Tỉnh cùng với quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân của Sở y tế Nghệ An đã nhấn mạnh vai trò của ngành y tế trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân ý thức rõ vai trò trách nhiệm của mình, đồng thời chuẩn bị hành trang hội nhập vào thiên niên kỷ mới, ngành y tế Nghệ An luôn hướng

Trang 38

34

lên tầm cao để chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày một tốt hơn, xứng đáng là

"Thầy thuốc như mẹ hiền" của nhân dân

2.1.4 Kết quả quá trình thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân (1996- 2000)

Dưới ánh sáng các Nghị quyết của Đảng, định hướng hoạt động y tế của ngành, công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân của tỉnh Nghệ An trong cơ chế mới đã có những bước chuyển biến to lớn, đặc biệt là sau khi có Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) về những vấn đề cấp bách trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

* Về mạng lưới y tế cơ sở: Với sự nỗ lực của ngành, được sự quan tâm

của các cấp uỷ đảng, các cơ quan ban ngành, các tổ chức xã hội, mạng lưới y

tế từ tỉnh đến cơ sở đã không ngừng được củng cố

Đến tháng 4 năm 2000, 100% (464/464) số xã trong tỉnh có trạm y tế

và cán bộ y tế hoạt động Mỗi trạm y tế có 3-5 nhân viên y tế, 20% xã có bác

sỹ Trang thiết bị cho y tế tuyến xã được nâng cấp, đảm bảo phục vụ chuyên môn 80% trạm có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi, 3687/4.792 thôn bản có cán

bộ y tế đạt 77% Riêng miền núi đạt 85% và hàng năm được đào tạo lại về chuyên môn nghiệp vụ

Công tác xã hội hoá y tế được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể

và các tổ chức xã hội quan tâm, các mục tiêu nhiệm vụ về chăm sóc sức khoẻ ban đầu được đẩy mạnh ở cơ sở Ngành y tế đóng vai trò nòng cốt phối hợp với các ngành liên quan triển khai các hoạt động vì sức khoẻ như: Tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, vận động sự đóng góp của cộng đồng vào các hoạt động y tế: tiêm chủng mở rộng, vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh

xã hội hoá công tác y tế đã tạo ra được sự chuyển biến về nhận thức, hành vi của mỗi cá nhân, cộng đồng và toàn xã hội Xây dựng nếp sống vệ sinh hơn, văn minh, tốt đẹp hơn Mỗi người, mỗi gia đình thấy được trách nhiệm của

Trang 39

* Hoạt động phòng chống sốt rét: Với quyết tâm của ngành y tế Nghệ

An, dịch sốt rét đã được khống chế và đẩy lùi Số vụ dịch và số người tử vong

do dịch sốt rét đã giảm hẳn Với kết quả này, năm 1996 trung tâm phòng chống sốt rét - côn trùng Nghệ An được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương lao động hạng Ba

* Hoạt động phòng chống bệnh bướu cổ: Giai đoạn này, công tác

phòng chống rối loạn do thiếu iốt được đặt ra một cách khẩn trương, quyết liệt

và trở thành một trong những chương trình y tế quốc gia

ở Nghệ An, tỷ lệ người dân mắc bệnh bướu cổ và các rối loạn thiếu iốt cao so với cả nước Bộ y tế đã chọn Nghệ An là một trong những tỉnh tiên phong trong chương trình phòng chống rối loạn do thiếu iốt, hạ thấp tỷ lệ bướu cổ cho nhân dân Đồng thời, ngành y tế Nghệ An cũng xác định đây là một trong những nhiệm vụ cấp bách trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ nhân dân Ngành đã có nhiều biện pháp tổ chức cho nhân dân trong vùng bướu cổ uống dự phòng bằng viên dầu iốt, viên clorua, tiêm thuốc, đồng thời vận động toàn dân dùng muối iốt

Năm 1995, phòng chống bướu cổ trở thành chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó chương trình được thực hiện qua 2 giai đoạn Giai đoạn 1 từ

Trang 40

36

1995 đến 2000, là thanh toán tình trạng thiết hụt iốt, giai đoạn 2 từ năm 2000

- 2005 là thanh toán bệnh bướu cổ và các rối loạn do thiếu iốt

Để thực hiện mục tiêu của ngành, y tế Nghệ An đã triển khai mạnh mẽ các chương trình hoạt động Trong công tác sản xuất và lưu thông muối iốt, xí nghiệp muối iốt Diễn Châu trực thuộc Công ty Chế biến Kinh doanh Xuất khẩu Nông sản Thực phẩm Nghệ An được đầu tư, sản xuất muối cung ứng kịp thời cho nhân dân theo kế hoạch được giao hàng năm Xí nghiệp tiến hành sản xuất các sản phẩm muối iốt thô Ngoài ra, xí nghiệp đã đầu tư các dây chuyền sản xuất muối iốt tinh, bột canh iốt, lượng muối sản xuất tăng lên hàng năm Bên cạnh đó, xí nghiệp còn tập trung mua dự trữ muối, đảm bảo cung ứng kịp thời, giữ được giá xuất xưởng ổn định

Việc lưu thông muối iốt được triển khai trên hệ thống khép kín từ đồng bằng đến miền núi Công ty thương mại đơn vị chủ yếu cung cấp, phân phối muối đến các vùng, miền trong toàn tỉnh Ngoài ra, hệ thống đại lý bán muối iốt được mở tận các cụm xã, thôn, bản, tới các chợ tạo thuận lợi cho nhân dân mua được muối iốt dễ dàng Ngành còn phối hợp với hội phụ nữ các cấp phân phối muối iốt đến các xã để cung cấp muối đến tận các hộ gia đình

Để hỗ trợ cho đồng bào, đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng xa, công tác cung ứng muối iốt được trợ giá, trợ cước vận chuyển từ nơi sản xuất đến các cụm xã Vì vậy việc cũng cấp muối iốt đạt hiệu quả cao Hàng năm Nghệ

An đã cung ứng đầy đủ từ 5 - 6 ngàn tấn muối iốt cho nhân dân

* Hoạt động tiêm chủng mở rộng: Tỷ lệ tiêm chủng mở rộng tăng lên

hàng năm, Ngành đã triển khai tiêm chủng đầy đủ 6 loại vacxin cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt tỷ lệ 86,5%, tỷ lệ tiêm chủng mở rộng đạt 90,2% Nhờ làm tốt công tác tiêm chủng mở rộng nên các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng giảm

rõ rệt, nhất là các bệnh truyền nhiễm có vacxin tiêm chủng cho trẻ em như: bạch hầu, ho gà, sởi, lao, viêm não Nhật Bản B, viêm gan virut B Đến năm

Ngày đăng: 02/07/2016, 10:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Khoa giáo trung ương (2006), Một số văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác khoa giáo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác khoa giáo
Tác giả: Ban Khoa giáo trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
2. Bộ Y tế (1994), Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và kế hoạch hoá gia đình, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và kế hoạch hoá gia đình
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1994
3. Bộ Y tế (1996), Kỹ năng tư vấn và chất lượng chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng tư vấn và chất lượng chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1996
4. Bộ Y tế (1997), Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác bảo vệ sức khoẻ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác bảo vệ sức khoẻ
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
5. Bộ Y tế (2001), Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2001
6. Bộ Y tế (2001), Quản lý y tế, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2001
7. Bộ Y tế (2002), Các chính sách và giải pháp chăm sóc sức khoẻ ban đầu, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chính sách và giải pháp chăm sóc sức khoẻ ban đầu
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2002
8. Bộ Y tế (2002), Ngành y tế Việt Nam vững bước vào thế kỷ XXI, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành y tế Việt Nam vững bước vào thế kỷ XXI
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2002
9. Bộ Y tế (2002), Viện phí, bảo hiểm y tế và sử dụng dịch vụ y tế, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện phí, bảo hiểm y tế và sử dụng dịch vụ y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2002
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
18. GS. TS. Đỗ Nguyễn Phương (1999), Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới
Tác giả: GS. TS. Đỗ Nguyễn Phương
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1999
19. Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1992
20. Tỉnh uỷ Nghệ An (1986), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII
Tác giả: Tỉnh uỷ Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1986
21. Tỉnh uỷ Nghệ An (1991), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII
Tác giả: Tỉnh uỷ Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1991
22. Tỉnh uỷ Nghệ An (1996), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV
Tác giả: Tỉnh uỷ Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1996
23. Tỉnh uỷ Nghệ An (1998), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An (tập I), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1998), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An (tập I)
Tác giả: Tỉnh uỷ Nghệ An
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
24. Tỉnh uỷ Nghệ An (1999), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An (tập II), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An (tập II)
Tác giả: Tỉnh uỷ Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1999
25. Tỉnh uỷ Nghệ An (2001), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV
Tác giả: Tỉnh uỷ Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w