Có được những thành tích to lớn đó là do Đảng bộ Liên khu IV đã chú trọng đến công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ngày càng vững mạnh, đoàn kết, thống nhất
Trang 1B ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN ĐOÀN PHƯỢNG
Trang 2B ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN ĐOÀN PHƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS LÊ MẬU HÃN
HÀ NỘI 2006
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Công trình khoa học này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Phó giáo sư sử học, Nhà giáo nhân dân Lê Mậu Hãn Các số liệu, kết quả sử dụng trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có xuất xứ rõ ràng Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2006
Tác giả luận văn
Nguyễn Đoàn Phượng
Trang 5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1.XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẢNG TỪ NĂM 1946 ĐẾN NĂM 1950 6
1.1 Tổ chức Đảng ở Liên khu IV trước năm 1946……… 6
1.2 Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong những năm 1946 - 1948……… 16
1.3 Tiếp tục xây dựng hệ thống tổ chức Đảng, củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Liên khu uỷ trong những năm 1948 - 1950
26 Chương 2. XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẢNG TỪ NĂM 1951 ĐẾN NĂM 1954 39 2.1 Tình hình mới và yêu cầu đối với công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Liên khu IV 39
2.2 Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng thời kỳ 1951 - 1953……… 43
2.3 Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng thời kỳ 1953 - 1954……… 61
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ………. 75
3.1 Một số nhận xét 75
3.2 Bài học kinh nghiệm 84
Kết luận……… 89
Danh mục tài liệu tham khảo……… 91
Phụ lục……… 100
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử Việt Nam hiện đại, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và can thiệp Mỹ (1946 - 1954) của nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi vang dội
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ nước Việt Nam DCCH, nhân dân, các lực lượng vũ trang ta đã đánh bại âm mưu xâm lược, nô dịch Việt Nam lần thứ hai của đế quốc Pháp, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa một nửa đất nước phát triển theo con đường đi lên CNXH
Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á giành được chính quyền về tay nhân dân bằng một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc năng động và sáng tạo, do Đảng Cộng sản lãnh đạo Nó đã chặt đứt một mắt xích quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu trào lưu chống chủ nghĩa thực dân trên phạm vi quốc tế
Với trận toàn thắng ở Điện Biên Phủ, nhân dân Việt Nam trở thành người lính xung kích, người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận chống chủ nghĩa thực dân, đánh bại chủ nghĩa thực dân Pháp, mở đầu cho thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển rầm rộ khắp châu Á, châu Phi, và Mỹ La Tinh, đưa đến sự toàn thắng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong thế kỷ thứ XX
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là
sự tổng hợp những nỗ lực phi thường của Đảng, Chính phủ ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và những nỗ lực, hy sinh to lớn của cả dân tộc Việt Nam với quyết tâm: "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" [74; 480]
Trong chiến công chung của cả nước có phần đóng góp to lớn, có hiệu quả của quân và dân Liên khu IV Suốt chín năm kháng chiến, quân và dân Liên khu IV đã đánh hàng nghìn trận, tiêu diệt hàng chục ngàn tên địch, đồng thời đã
Trang 72
có 134.600 thanh niên nhập ngũ, hơn hai triệu lượt người đi dân công hoả tuyến, 120.000 người đi mở đường chiến lược, cung cấp cho chiến trường 870.000 tấn lương thực, thực phẩm, làm 530km đường chiến lược, 145 cầu lớn, nhỏ Có được những thành tích to lớn đó là do Đảng bộ Liên khu IV đã chú trọng đến công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ngày càng vững mạnh, đoàn kết, thống nhất trong ý nghĩ và hành động dưới sự chỉ đạo trực tiếp, tập trung và toàn diện của Liên khu uỷ IV, nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Xuất phát từ mong muốn tìm hiểu quá trình xây dựng hệ thống tổ chức
Đảng ở Liên khu IV, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Xây dựng hệ thống tổ chức
Đảng ở Liên khu IV trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954)” làm đề tài luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Liên khu IV như Quân khu IV: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 1990; PGS.TS Trình Mưu (Chủ biên): Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu IV, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2003; Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Kỷ yếu hội thảo khoa học): Một số vấn đề lịch
sử kháng chiến chống thực dân Pháp ở Liên khu IV (1945 - 1954), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2000 Ngoài ra còn có sáu cuốn lịch sử Đảng bộ sáu tỉnh (Thanh Hoá - Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế)
đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng bộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở các tỉnh thuộc Liên khu Qua tìm hiểu các công trình trên, chúng tôi thấy cho đến nay, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện quá trình xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Liên khu IV trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954) Tuy mức độ liên quan đến đề tài luận văn có khác nhau, nhưng những công trình trên là cơ sở
Trang 83
quan trọng để tác giả tham khảo và kế thừa trong việc thu thập, xử lý nguồn tư liệu vào quá trình thực hiện đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn
Hệ thống hoá, khái quát hoá nguồn tư liệu đã có, nhằm làm rõ quá trình xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Liên khu IV trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954) Đồng thời, làm rõ vị trí, vai trò quan trọng của Liên khu IV, tinh thần chủ động, sáng tạo của các cấp bộ Đảng và cán
bộ đảng viên trực tiếp chiến đấu trên chiến trường các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh
- Bình - Trị - Thiên Từ đó, góp phần làm rõ quá trình Đảng ta lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, chống thực dân Pháp xâm lược
Khẳng định tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng, góp phần tổng kết công tác xây dựng Đảng và giáo dục truyền thống quang vinh của Đảng
Góp phần xây dựng bức tranh toàn cảnh về thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, bước đầu nêu lên bài học kinh nghiệm về xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong thời kỳ này và ý nghĩa của nó trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay
Nhiệm vụ của luận văn
Làm rõ quá trình lãnh đạo của BCHTƯ, của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Liên khu IV trong những năm nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc trường chinh chống Pháp (1946 – 1954) Bám sát tiến trình lịch sử, phân tích, làm rõ quá trình chỉ đạo thực hiện công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng của Liên khu uỷ IV và các cấp bộ Đảng trực thuộc, những mặt thành công và chưa thành công
Rút ra bài học kinh nghiệm qua thực tế công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Liên khu IV thời kỳ 1946 - 1954
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Trang 94
Tìm hiểu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, và đặc biệt là Liên khu uỷ IV đối với công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn trình bày quá trình xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Liên khu
IV (bao gồm các tỉnh: Thanh Hoá - Nghệ An – Hà Tĩnh – Quảng Bình – Quảng Trị – Thừa Thiên Huế), trong những năm (1946 – 1954)
5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu
Nguồn tư liệu
- Văn kiện Đảng toàn tập, từ tập 7 đến tập 16
- Hồ Chí Minh toàn tập, từ tập 4 đến tập 8
- Các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Trung ương, Liên khu uỷ IV khai thác tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm lưu trữ quốc gia, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
- Hồi ký của các đồng chí lãnh đạo Liên khu IV
- Tư liệu trong các sách lịch sử Đảng bộ các tỉnh, thành phố thuộc Liên khu IVvà sách, báo, tạp chí, có liên quan đến đề tài
Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, tác giả đã sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc để tái hiện lại quá trình xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Liên khu IV Đồng thời, tác giả cũng sử dụng phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh để định lượng các tổ chức đảng, để so sánh sự phát triển của tổ chức cơ sở Đảng giữa thời kỳ này với thời kỳ khác
6 Đóng góp của luận văn
Sưu tầm, bổ sung thêm một bước để xây dựng một hệ thống tư liệu tương đối hoàn chỉnh về hệ thống tổ chức cơ sở Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống
Trang 105
Pháp ở Liên khu IV Trình bày một cách rõ nét sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh, đặc biệt là Liên khu uỷ IV trong quá trình chỉ đạo công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng thời kỳ 1946 - 1954
Góp phần tổng kết công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng ta trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp
Bước đầu rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong chiến tranh cách mạng ở Việt Nam, phục vụ cho công tác xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới
Trang 116
Chương 1
XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẢNG TỪ NĂM 1946 ĐẾN NĂM 1950
1.1 Tổ chức Đảng ở Liên khu IV trước năm 1946
Liên khu IV được hợp nên từ vùng đất Ái Châu (Thanh Hoá), Hoan Châu (Nghệ An, Hà Tĩnh), Ô Châu (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên) trong lịch
sử, kéo dài 642km từ đèo Tam Điệp đến đèo Hải Vân
Liên khu IV chia thành hai khu vực: Thanh - Nghệ - Tĩnh với trung tâm là hai thành phố Vinh và Thanh Hoá: Bình - Trị - Thiên với Huế là trung tâm Đèo Ngang là phân giới thiên nhiên của hai khu vực ấy
Trải dài từ 160
10 - 20030 vĩ bắc, 1030
50 - 108010 kinh đông, Liên khu IV
có vị trí chiến lược quan trọng Điều kiện tự nhiên, địa hình phức tạp, núi rừng hiểm trở tạo nên thế thiên hiểm trong phòng thủ Núi non đồ sộ, sông ngòi nhiều
mà ngắn, dốc tạo ra thế chia cắt chiến trường bất lợi cho cả đôi bên Điều kiện khí hậu cũng góp phần không nhỏ vào sự thành bại và cho cả những tính toán trước mắt và lâu dài Nếu toàn bộ miền Trung được ví như cái đòn gánh, gánh hai đầu hai thúng gạo Bắc Bộ và Nam Bộ, thì Liên khu IV là nửa cái đòn gánh
ấy, hai đầu quan hệ khăng khít với Liên khu III và Liên khu V - mà ở đó có Huế
là trung tâm, Quảng Trị nằm giữa giao thông huyết mạch của Đông Dương, Quảng Bình là bình phong án ngữ cổ họng bắc - nam, còn Thanh - Nghệ - Tĩnh
có đường 6 góc xiên; đường 7 đường 8 và đường 12 thẳng đứng từ Lào về
Từ xa xưa trong lịch sử, mảnh đất này luôn luôn là điểm tựa, nơi cung cấp nhân tài, vật lực cho các cuộc nổi dậy, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm
Đến giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, triều đình Huế đớn hèn từng bước đầu hàng, thừa nhận sự cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, các phong trào đấu tranh yêu nước liên tục diễn ra ở Nghệ An, Hà Tĩnh và các tỉnh khác trong khu IV Mặc dù diễn ra sôi nổi, quyết liệt, thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, nhưng kết quả các phong trào đều thất bại, đều bị đàn áp
Trang 127
Vượt qua tầm nhìn của các bậc tiền bối yêu nước lớp trước và cùng thời, đồng chí Nguyễn Ái Quốc - người con yêu quý của dân tộc Việt Nam với lòng yêu nước nồng nàn đã dấn thân nhận lấy trách nhiệm lịch sử ra đi tìm đường cứu nước với mong muốn khát vọng cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi” [100; 66] Sau gần chục năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển, tìm đường cứu nước, Người đã đến với Cách mạng tháng Mười, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoạt động cách
mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Tháng 3/1930, Phân cục Trung ương lâm thời Trung Kỳ được thành lập, đặt trụ sở chính ở Vinh và một trụ sở Đà Nẵng, và ngay sau đó lập ra Tỉnh bộ Vinh (bao gồm Vinh - Bến Thuỷ, Nghi Lộc, Hưng Nguyên và thị xã Thanh Hoá) do đồng chí Lê Mao, uỷ viên thường trực Phân cục phục trách và Tỉnh bộ Nghệ An do đồng chí Nguyễn Liễn đảm nhiệm
Cùng thời gian, được Phân cục trung ương lâm thời Trung Kỳ uỷ nhiệm, đồng chí Trần Hữu Thiều về Hà Tĩnh triệu tập hội nghị tại Can Lộc đã bầu BCH tỉnh bộ lâm thời và được cử làm bí thư Tháng 4/1930, Tỉnh bộ lâm thời Quảng Trị thành lập Đồng chí Lê Thế Tiết nhận nhiệm vụ của Phân cục trung ương lâm thời Trung Kỳ, tổ chức hội nghị tại Triệu Phong và giữ trách nhiệm bí thư
Riêng ở Thừa Thiên, tháng 3/1930, đồng chí Nguyễn Phong Sắc, bí thư Phân cục trung ương lâm thời Trung Kỳ đã đến Huế để vận động việc thống nhất các tổ chức cộng sản trong tỉnh, gặp gỡ Dương Văn Lan (Đông Dương Cộng sản Đảng) và Lê Viết Lượng (Đông Dương Cộng sản liên đoàn) Tháng 4/1930, tỉnh bộ Thừa Thiên thành lập do Lê Viết Lượng làm bí thư Tại Thanh Hoá, Nguyễn Doãn Chấp được xứ uỷ Bắc Kỳ uỷ nhiệm, đã lập tỉnh bộ lâm thời
Thanh Hoá do Lê Thế Long làm bí thư và ra tờ Tiến lên
Sự kiện các tỉnh bộ Đảng Cộng sản Việt Nam lần lượt được thành lập ở các địa phương (trừ Quảng Bình) từ tháng 3 đến tháng 7/1930 đã thúc đẩy các tổ chức cơ sở Đảng phát triển sâu rộng trong các nhà máy, xí nghiệp và vùng nông thôn rộng lớn Nhiều tổ chức quần chúng cũng được xây dựng khiến cho khí thế
Trang 13Đứng trước tình hình đó, ngay từ cuối tháng 9/1938, Trung ương Đảng đã
có thông báo nêu rõ phương hướng và biện pháp cần kíp trước mắt về chuyển hướng các mặt hoạt động của Đảng đến Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ sáu (11/1939), đã nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc và thành lập chính quyền cộng hoà dân chủ, chuyển đổi từ phương thức hoạt động hợp pháp - bán hợp pháp sang bí mật - bất hợp pháp để dự bị các điều kiện bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc
Trước đòn phản công của kẻ thù, hầu hết các đảng bộ đã kịp thời chuyển sang hoạt động bí mật, tuy nhiên cũng không tránh khỏi những tổn thất, nhất là
về tổ chức và mạng lưới cơ sở Đảng Ngày 2/3/1940, Trung ương Đảng đã gửi thư cho Đảng bộ Trung Kỳ chỉ rõ những thiếu sót về công tác tuyên truyền, khiến cho dân chúng không hiểu rõ tính chất của cuộc chiến tranh, phải tuyên truyền ''để cho dân chúng thôi không góp phần về người và của cho chiến tranh
đế quốc” và phải “củng cố các cơ sở bất cứ nơi nào đã có cơ sở và tìm cách thích hợp để nối liền chúng với những trung tâm không có cơ sở'' [48; 10]
Thời gian mới rút vào bí mật, Đảng bộ Quảng Trị và Thừa Thiên ít bị tổn thất hơn Trong số những đảng bộ phục hồi sớm nhất có Đảng bộ Hà Tĩnh Tháng 3/1940, được sự chỉ đạo trực tiếp của xứ uỷ viên Trần Mạnh Quỳ, tỉnh uỷ lâm thời Hà Tĩnh được lập lại Các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (9/1940), Nam Kỳ (11/1940) và binh biến Đô Lương (1/1941) nổ ra, làm xuất hiện tư tưởng bạo động vũ trang ở nhiều nơi, nhất là Đảng bộ Hương Sơn Mặc dù cuộc khởi nghĩa không được xứ uỷ Trung Kỳ đồng ý, nhưng vẫn nổ ra vào sáng 15/5/1941 tại đồn điền Sông Con, Cẩm Lĩnh (Hương Sơn), khiến quân thù có cớ huy động
Trang 14Do việc hai đại biểu của xứ uỷ Trung Kỳ trên đường từ Cao Bằng trở về
sa vào tay giặc tại ga Cầu Giát (Nghệ An) nên nghị quyết của Hội nghị Trung ương Tám và chương trình hành động của Mặt trận Việt Minh chưa được triển khai tới các đảng bộ Ngày 16/8/1941, cơ quan xứ uỷ Trung Kỳ đặt ở Nghệ An
bị phá vỡ Từ tháng 8 – 10/1941, chiến khu Ngọc Trạo của Thanh Hoá nằm trong tổng Trạc Nhật, huyện Thạch Thành liên tiếp bị địch tấn công và chịu nhiều tổn thất
Mãi tới đầu năm 1942, trên địa bàn Quảng Trị mới lập ra các uỷ ban Việt Minh, uỷ ban vận động Việt Minh, chuyển các hội phản đế thành hội cứu quốc,
tổ chức in tuyên ngôn Việt Minh và thư của Nguyễn Ái Quốc để phân phát xuống các phủ huyện, hoặc gửi tới một số nhân sĩ trong tỉnh Phủ uỷ Diễn Châu (Nghệ An) liên hệ được với các cơ sở cách mạng Vinh và Nghi Lộc Đồng chí Nguyễn Chí Thanh thoát khỏi nhà tù Buôn Ma Thuột, bắt tay vào khôi phục lại phong trào ở Thừa Thiên Đến cuối 1942, tỉnh uỷ Thanh Hoá mới nhận được Nghị quyết Trung ương Tám và chương trình hành động của Việt Minh, chuyển Thanh Hoá ái quốc hội sang đoàn thể cứu quốc Sau đó, nhờ liên hệ trực tiếp với Trung ương Đảng, tỉnh uỷ lâm thời Thanh Hoá được chính thức công nhận với nhiệm vụ nối lại liên lạc giữa các đảng bộ để nhanh chóng khôi phục xứ uỷ Trung Kỳ Cũng nhờ có được các văn kiện trong tay, Hội Việt Minh cứu quốc
Hà Tĩnh chuyển thành mặt trận cứu quốc, phát triển cơ sở tại Can Lộc, Đức Thọ,
Trang 15An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá Cuối năm 1943, Nguyễn Xuân Linh từ lớp tập huấn quân chính ở chiến khu Ngọc Trạo nhận nhiệm vụ về Nghệ An hoạt động Nhờ những hoạt động không mệt mỏi đó, đến giữa năm 1944, phong trào cách mạng
có nhiều dấu hiệu hồi phục ở Thanh Hoá, Quảng Trị và Thừa Thiên Ngày 24 -
6, tỉnh uỷ Thanh Hoá mở hội nghị tại Hà Trung nhằm hướng dẫn phong trào toàn tỉnh gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa Ở Quảng Trị, một số đảng viên từ Thái Lan trở về kết hợp với các đồng chí mãn hạn tù, bắt tay vào khôi phục các cơ sở cách mạng Tại Thừa Thiên, do chưa bắt được liên lạc với Trung ương, tỉnh uỷ triệu tập hội nghị mở rộng ở ngã ba Sình, dựa trên tinh thần nghị quyết Trung ương Tám đề ra nhiệm vụ cho công tác tuyên truyền, phê phán tư tưởng cơ hội hữu khuynh
Đêm 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, phát xít Nhật trở thành kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương
Sau cuộc đảo chính, nhiều tù chính trị thoát khỏi lao tù bằng cách vượt ngục hoặc được trả lại tự do Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên đều có hàng trăm chiến sĩ trở về, kể cả những người tạm lánh sang Lào và Thái Lan trong thời kỳ bị địch khủng bố, tạo thêm nguồn sinh lực mới cho Đảng
bộ Do bị bắt qua nhiều thời kỳ khác nhau, hoàn cảnh và nơi giam cần cũng khác nhau, lại mất liên lạc với tổ chức lâu ngày, nên nhiều vấn đề về nhận thức đường lối chưa thống nhất, nhiều đồng chí còn quá dè dặt sợ vỡ cơ sở hoặc nằm in không dám hoạt động Đó là một thực tế mà trong thư gửi các đồng chí Trung
Kỳ, Thường vụ Trung ương Đảng đã chỉ rõ: ''Trước cuộc đảo chính 9/3/1945, ở Trung Kỳ, chúng ta đứng trước một tình trạng vô cùng nguy hiểm; các tổ chức
Trang 1611
của Đảng không thống nhất, các đồng chí nghi kỵ nhau, không khí hoài nghi, chia rẽ tràn ngập, chủ nghĩa cô độc và đầu óc địa phương nặng nề Từ cuộc đảo chính, nhờ tình thế biến đổi thuận tiện và một số đồng chí ra sức phấn đấu, những nạn trên đây mới bớt được một phần nhỏ Bởi vậy nhiệm vụ trước mắt của các đồng chí Trung Kỳ lúc này là phải cải tổ các tổ chức của Đảng từ trên xuống dưới'' [48; 401 - 402]
Mặc dù Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” được truyền đạt về các địa phương chậm (sớm nhất là tháng 4/1945 đến Thanh Hoá, tháng 6/1945 về tới Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên), nhưng ngay sau khi có chỉ thị trong tay, Thanh Hoá đã nhanh chóng tham gia vào việc xây dựng chiến khu Hoà - Ninh - Thanh, (tức chiến khu Quang Trung)
để chuẩn bị cho khởi nghĩa (5/1945); Việt Minh liên tỉnh Nghệ - Tĩnh phát truyền đơn, đăng bài trên báo kháng địch kêu gọi mọi người đem máu xương hiến dâng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc (6/1945) Nhiều hội nghị tỉnh uỷ và tỉnh bộ Việt Minh của các tỉnh đã diễn ra từ tháng 3 - 7/1945 Khoảng giữa tháng 7/1945, đồng chí Tố Hữu được Trung ương phái vào Trung Bộ để thống nhất Đảng bộ Trung Kỳ, thành lập xứ uỷ Ngày 26/7/1945, thường vụ Trung ương Đảng gửi thư cho các đồng chí Trung Kỳ nêu rõ:
''Tình hình biến chuyển mau lẹ và thuận tiện Hàng ngũ quân thù ngày một rối loạn thêm Sau cuộc chính biến 9/3/1945, Đảng bộ Trung Kỳ cũng như toàn Đảng đã được thêm một số cán bộ có năng lực, cựu chính trị phạm Đất Nhật đang bị quân Đồng Minh đánh dữ Cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh vào Đông Dương không xa Tình hình chủ quan và khách quan rất thuận tiện Giờ tổng khởi nghĩa sắp tới
Tất cả những đồng chí cộng sản Trung Kỳ phải kịp đứng lên gánh vác một phần nhiệm vụ của Đảng trao cho Phải kíp chạy lại dưới là cờ chói lọi của Đảng, tụ tập chung quanh BCHTƯ Đảng, đặng chuẩn bị lĩnh đạo một cuộc chiến đấu quyết liệt, tống cổ giặc Nhật ra khỏi nước, đánh đổ chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, giành lấy độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc” [48; 402 - 403]
Trang 1712
Căn cứ vào nhận định và lời kêu gọi của Trung ương Đảng, ngày 8/ 8/1945,
Đại hội đại biểu Việt Minh liên tỉnh Nghệ - Tĩnh quyết định nhiều vấn đề tổ chức,
xây dựng lực lượng, công tác tuyên truyền, bầu BCH Tuy nhiên, ngay sau khi hội
nghị kết thúc, BCH đã nhận thấy các quyết định trên không còn phù hợp với tình
hình thay đổi mau lẹ nên đã lập ra Uỷ ban khởi nghĩa, phát động khởi nghĩa giành
chính quyền và đã giành thắng lợi mau chóng ở Can Lộc (16/8), Thạch Hà, Cẩm
Xuyên (17/8), thị xã Hà Tĩnh, Đức Thọ, Kỳ Anh, Quỳnh Lưu (18/8), Nghi Xuân,
Hương Sơn (19/8), thành phố Vinh, Hương Khê, Diễn Châu (21/8), Nghĩa Đàn
(22/8), Nam Đàn, Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông (23/8), Nghi Lộc, Yên
Thành (25/8)
Ngày 23/8, khởi nghĩa nổ ra và giành thắng lợi ở Huế Chiều 30/8 một
cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại Ngọ Môn Trước hàng vạn quần chúng, Bảo
Đại đọc chiếu thoái vị, nộp ấn kiếm cho phái đoàn chính phủ cách mạng lâm
thời, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ phong kiến
Đất nước và con người Liên khu IV có một quá trình đấu tranh vô cùng
gian nan và vất vả với thiên nhiên khắc nghiệt và kẻ thù hung bạo Con người
cần cù nhẫn nại, lại hết sức thông minh, tài hoa, sắc sảo là những tố chất vô cùng
cần thiết để Liên khu IV bước vào cuộc kháng chiến gian khổ trường kỳ, bảo vệ
những thành quả mà cách mạng đã đem lại cho nhân dân Báo cáo chính trị tại
Đại hội Đảng bộ Liên khu IV (7/ 1949) đã chỉ rõ điều này:
Sẵn có phong trào Tân Việt, Thanh niên Cách mạng đồng chí hội nên
Đảng bộ Liên khu IV có cơ sở nhiều nơi ngay khi mới thành lập Đảng (6/1/ 1930), nên từ Xô viết Nghệ An cho đến toàn quốc khởi nghĩa ở các tỉnh,
nhất là Nghệ, Tĩnh, Trị phong trào không một lúc nào bị dập tắt với sự hoạt
động của người cộng sản
Trong hoàn cảnh bí mật gian khổ, luôn luôn bị đàn áp kìm hãm trong nhà
lao đế quốc, người đảng viên cộng sản ở Liên khu IV đã rèn đúc được một ý chí
kiên quyết, bền bỉ và trung thực
Phát huy những truyền thống quý báu và niềm tự hào chính đáng, đảng bộ
và nhân dân các dân tộc trong Liên khu IV đã kết một lòng quyết tâm vượt qua
Trang 1813
mọi khó khăn, thử thách bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, cùng quân và dân cả nước đánh thắng đội quân xâm lược đông tới hàng chục vạn tên, đuổi chúng ta khỏi bán đảo Đông Dương
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam DCCH đọc bản Tuyên ngôn độc lập Người long trọng tuyên bố với thế giới: "Một dân tộc đã gan góc chống ách
nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy" [10; 3]
Sau khi giành được chính quyền, việc giữ chính quyền gặp muôn vàn khó khăn thử thách Quân Nhật có hơn 6 vạn đang chờ quân đồng minh vào giải giáp, trong đó riêng ở Nghệ Tĩnh gần 10.000, ở Thừa Thiên Huế gần 5.000
Quân Anh với danh nghĩa đồng minh vào tước khí giới quân Nhật, đem theo đạo quân Pháp đánh chiếm Nam Bộ
Quân Tưởng, lấy danh nghĩa quân đồng minh kéo sang tước khí giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra, nhằm âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, lập chính quyền phản động Ở các tỉnh khu IV có khoảng hai vạn tên Lợi dụng thời cơ, bọn phản động Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội ra sức chống phá điên cuồng và xảo quyệt
Chính quyền của ta còn non trẻ Tình hình kinh tế tài chính kiệt quệ, lực lượng vũ trang còn non trẻ, vũ khí trang bị thô sơ
Đặc biệt, hệ thống tổ chức đảng ở nhiều địa phương chưa được củng cố Trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số địa phương thiếu đoàn kết Xứ uỷ Trung bộ và hệ thống tổ chức Đảng ở một số tỉnh trước đây bị kẻ thù đàn áp, khủng bố đã bị tan rã đến sau 19/8/1945 vẫn chưa được khôi phục
Đứng trước tình thế hết sức khó khăn chung của đất nước sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta đã xác định phải ra sức xây dựng, củng cố chính
Trang 1914
quyền dân chủ nhân dân , đẩy mạnh tăng gia sản xuất, giải quyết nạn đói, đẩy lùi
nạn dốt, phát triển lực lượng, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc thành quả
cách mạng đã giành được; đồng thời tăng cường công tác xây dựng Đảng về mọi
mặt, đặc biệt là về xây dựng hệ thống tổ chức Đảng để tiếp tục chèo lái con
thuyền cách mạng của dân tộc tiến lên Trong chỉ thị "Kháng chiến – kiến quốc",
BCHTƯ Đảng đã chỉ rõ phải kết nạp thêm đảng viên, "phải sinh hoạt cho đều và
không vì lẽ gì để cho nó rời rã, loạc choạc"[49; 29] Đây là chủ trương hết sức
quan trọng nhằm nhanh chóng củng cố và phát triển hệ thống tổ chức Đảng từ
trung ương đến cơ sở
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, ngày 31/8/1945, Hội nghị
đại biểu các tỉnh Trung Kỳ họp tại Huế (có đại biểu của 18 tỉnh Trung Bộ) đã
quyết định thành lập đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương ở Trung Bộ; bầu
BCH Xứ uỷ do Nguyễn Chí Thanh, Uỷ viên Trung ương Đảng làm Bí thư Công
việc chủ yếu của Xứ uỷ Trung bộ lúc đó là:
- Gấp rút thành lập cấp uỷ các cấp trước hết là các tỉnh uỷ đến huyện uỷ
cấp cơ sở và tương đương
- Ra sức kiện toàn Đảng những nơi đã có tổ chức Đảng, phát triển đảng
những nơi chưa có, đưa ra khỏi đảng những phần tử cơ hội
- Nhanh chóng phổ biến các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của Chủ
tịch Hồ Chí Minh đến từng cơ sở và đảng viên
- Tích cực bồi dưỡng đào tạo cán bộ, đảng viên bằng cách mở các lớp đào
tạo từ Xứ xuống đến các huyện
- Lãnh đạo các tổ chức quần chúng và lãnh đạo chính quyền [46; 251-252]
Trước tiên là Thường vụ Xứ uỷ cử cán bộ cùng với các địa phương củng
cố và phát triển hệ thống tổ chức Đảng từ tỉnh đến cơ sở, thành lập và kiện toàn
cơ quan lãnh đạo đảng ở các cấp Từ tháng 9 – 11/1945, các tỉnh lần lượt mở hội
nghị cán bộ hoặc chấp hành mở rộng của các đảng bộ
Ngày 10/9/1945, tại xóm Rào, thôn An Tiêm (Triệu Phong) đã diễn ra Hội
nghị cán bộ toàn tỉnh Quảng Trị bàn về việc củng cố xây dựng chính quyền các
Trang 20An, đồng chí Nguyễn Thái được cử làm Bí thư tỉnh uỷ Hà Tĩnh
Cuối 1945, các tỉnh uỷ lâm thời hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh họp kiểm điểm công tác xây dựng Đảng, phân công những đồng chí có năng lực và tín nhiệm xuống giúp các huyện, đề ra nhiều biện pháp xây dựng hệ thống tổ chức Đảng, bầu bổ sung thêm tỉnh uỷ viên
Ngày 7/10/1945 Quảng Bình tổ chức hội nghị cán bộ Đảng toàn tỉnh, hội nghị cử đồng chí Nguyễn Đình Chuyên làm Bí thư tỉnh uỷ
Tháng 10/1945, Thừa Thiên tổ chức hội nghị cán bộ đảng toàn tỉnh tại Huế do đồng chí Tố Hữu chủ trì Hội nghị đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng và củng cố các tổ chức Đảng Hội nghị cử đồng chí Nguyễn Văn Sơn làm
Bí thư tỉnh uỷ
Tháng 11/1945, Thanh Hoá tổ chức hội nghị tỉnh uỷ, hội nghị cử đồng chí
Lê Chủ làm Bí thư tỉnh uỷ
Nội dung chủ yếu của các hội nghị này là nhằm kiểm điểm các mặt hoạt động từ sau ngày khởi nghĩa giành chính quyền và đề ra những chủ trương, biện pháp thiết thực, thực hiện nhiệm vụ cấp bách mà Trung ương đã đề ra Đó là: ổn định đời sống nhân dân, củng cố và xây dựng hệ thống tổ chức Đảng, xây dựng
và củng cố chính quyền cách mạng Các hội nghị này có giá trị như những đại hội, quyết định những vấn đề lớn về bảo vệ và xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng chế độ xã hội mới, bầu BCH Đảng bộ tỉnh, và sau đó là cấp huyện và cơ sở
Để tập trung củng cố và xây dựng hệ thống tổ chức đảng từ tỉnh xuống cơ
sở, sau khi mở hội nghị ở cấp tỉnh, các tỉnh uỷ đã phân công cán bộ về các địa
Trang 2116
phương thành lập và kiện toàn các ban huyện uỷ Các huyện uỷ lại đưa cán bộ
về các làng, xã củng cố và xây dựng các chi bộ Các cấp uỷ đảng từ tỉnh xuống tới các làng, xã từng bước được xây dựng
Ở các chi bộ, việc tiến hành rà xét lại số đảng viên cũ để khôi phục đảng tịch cho những đồng chí còn giữ được phẩm chất cách mạng và công tác kết nạp đảng viên mới gồm một số quần chúng tích cực trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ cách mạng ở địa phương, có giác ngộ về Đảng, được tiến hành hết sức chặt chẽ, khẩn trương làm tăng nhanh số lượng đảng viên trong các đảng bộ, giúp các địa phương, cơ quan, đơn vị sớm củng cố và phát triển thêm các tổ chức đảng của mình Tuy nhiên, trong quá trình đó cũng có đảng bộ xem nhẹ tiêu chuẩn đảng viên, làm cho Trung ương lo ngại về "những phần tử phức tạp có thể len vào Đảng" [49; 28-29]
Với những cố gắng của các đảng bộ, đến cuối 1945, số lượng đảng viên
so với những ngày giành chính quyền đã tăng lên đáng kể; hệ thống tổ chức Đảng được xây dựng và củng cố một bước Nhiều xã, cơ quan, xí nghiệp ở đồng bằng và một số trường học đã có chi bộ Sinh hoạt đảng được tiến hành thường xuyên để quán triệt đường lối, chính sách mới của Đảng, khắc phục các nhận thức, tư tưởng sai trái, bàn việc chỉ đạo các mặt công tác cấp bách trước mắt Các tỉnh uỷ chủ động phối hợp với Xứ uỷ Trung bộ mở các lớp bồi dưỡng chính trị cho cán bộ, đảng viên Trong thực tế những ngày đầu sau Cách mạng Tháng Tám, mặc dù sự lãnh đạo của Xứ uỷ đối với các đảng bộ cấp dưới chưa được thường xuyên, nhưng đội ngũ cán bộ đảng viên ở các địa phương đã hăng hái hoạt động, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu, luôn luôn là hạt nhân lãnh đạo chính quyền và phong trào cách mạng của nhân dân
Thực hiện chủ trương của Trung ương "Đảng tuyên bố tự giải tán", thực chất là rút vào hoạt động bí mật, từ tháng 11/1945; các đảng bộ đều mang tên
"công nhân cứu quốc hội" và lấy danh nghĩa "Đoàn thể" và "Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác" để tiếp tục hoạt động, giữ vững vai trò lãnh đạo cách mạng, làm nòng cốt trong mọi phong trào và không ngừng phát huy ảnh hưởng của Đảng Đóng vai trò quan trọng đối với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ở 6 tỉnh khu IV
Trang 2217
trong những ngày đầu xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng là các đồng chí: Hoàng Quốc Việt, đại diện Trung ương Đảng ở Trung Bộ, Nguyễn Chí Thanh - Bí thư Xứ uỷ, Tố Hữu - Uỷ viên thường vụ Xứ uỷ
1.2 Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong những năm 1946 - 1948
Vào giữa năm 1946, quan hệ giữa ta và Pháp trở nên căng thẳng Nhân dân ta hết sức nhân nhượng, tranh thủ thời gian hoà bình quý báu để xây dựng
và củng cố lực lượng, nhưng quân Pháp ngày càng lấn tới, gây ra những vụ khiêu khích trắng trợn Khả năng của một cuộc chiến tranh Việt - Pháp không thể tránh khỏi Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách của nhân dân ta lúc này là: Tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược
Tháng 7/1946, Hội nghị cán bộ Đảng tỉnh Thừa Thiên Huế được tổ chức tại trụ sở Uỷ ban kháng chiến Trung Bộ Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Bí thư
Xứ uỷ Trung kỳ chủ trì hội nghị Đến dự Hội nghị còn có đồng chí Hoàng Quốc Việt, đại diện Trung ương Đảng Hội nghị đã đề ra ba nhiệm vụ lớn, trong đó nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là xây dựng hệ thống tổ chức Đảng: "Cấp tốc kiện toàn các huyện uỷ, xây dựng chi bộ cơ sở, đoàn kết nội bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng"[5; 228] Hội nghị bầu đồng chí Nguyễn Sơn làm Bí thư tỉnh uỷ
Hội nghị cán bộ Đảng tháng 7/1946 có giá trị như một đại hội BCH Tỉnh
uỷ đã kiện toàn, sức mạnh của Đảng bộ được tăng thêm, đáp ứng kịp thời công tác lãnh đạo chuẩn bị cuộc kháng chiến
Cuối tháng 10/1946, Hội nghị cán bộ đảng toàn tỉnh Quảng Trị được triệu tập Dự Hội nghị có đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Uỷ viên Trung ương Đảng,
Bí thư Xứ uỷ Hội nghị cũng nhấn mạnh tăng cường các cấp uỷ đảng, đảm bảo
sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ mới
Sau Hội nghị cán bộ, tỉnh uỷ đã quyết nghị đưa một số cán bộ cấp tỉnh bổ sung về các huyện, thị Cơ quan tỉnh uỷ biên chế gọn nhẹ, gồm một số đồng chí chủ chốt và một số làm công tác văn phòng…
Tháng 11/1946, trước yêu cầu tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Trung ương Đảng quyết định bỏ cấp xứ,
Trang 2318
chia Trung Bộ thành hai khu: Khu IV và khu V Khu IV gồm sáu tỉnh Bắc Trung
Bộ từ Thanh Hoá đến Thừa Thiên Khu uỷ Đảng khu IV được thành lập cuối tháng 11/1946 tại Hà Tĩnh do đồng chí Hoàng Quốc Việt, Uỷ viên thường vụ Trung ương Đảng, đại diện Trung ương ở Trung bộ làm Bí thư (các khu uỷ viên lúc đầu có Hoàng Quốc Việt, Hoàng Văn Hoan, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Vinh sau bổ sung: Nguyễn Sơn, Hồ Viết Thắng, Phạm Thể) Sự kiện này đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng đối với các tỉnh bắc trung Bộ Từ đây, đảng bộ và nhân dân các tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên đã có một cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, tập trung, thống nhất, đó là khu uỷ IV Để dồn sức cho cuộc kháng chiến, Hội nghị thành lập khu uỷ, chủ trương phải tổ chức bộ máy gọn nhẹ Ở các cấp lãnh đạo chỉ để lại một bộ phận nhỏ (Thường vụ) để chỉ đạo chung, còn lại tập trung cán bộ cho cơ sở Cán bộ khu của tỉnh nào thì trả về tỉnh đó, tỉnh nào yếu được tăng cường thêm Hội nghị cũng xác định: Chiến khu là ở trong lòng dân, phải dựa vào dân Lúc này nhiệm vụ quân sự là chủ yếu, do đó phải tập trung lựa chọn các đồng chí có khả năng về quân sự đưa vào đội ngũ lãnh đạo
Tuy nhiên, việc thực hiện chủ trương trên đã làm hẫng hụt những người phụ trách và theo dõi chung, do đó đã dẫn đến thực trạng Khu uỷ không nắm được tình hình cơ sở để chỉ đạo thống nhất Mặt khác, trong thời gian này, còn
có những ý kiến khác nhau giữa các đồng chí lãnh đạo chủ chốt về một số nội dung kháng chiến nên công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Khu uỷ đối với các địa phương còn nhiều bất cập Trong khi đó ở các tỉnh, nhiều đồng chí cán bộ có trình độ, năng lực và kinh nghiệm được tăng cường về đã làm tăng sức mạnh cho các đảng bộ địa phương Trên tinh thần chỉ đạo của Trung ương và tình hình thực tế của mỗi tỉnh, các đảng bộ đã chủ động triển khai nhiệm vụ kháng chiến ở địa phương mình
Cũng trong khoảng thời gian này, các đảng bộ tỉnh cũng lần lượt mở các Đại hội đại biểu để kiểm điểm tình hình, xác định rõ nhiệm vụ mới và đặc biệt là kiện toàn cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh Tại các Đại hội Đảng bộ này, các tỉnh đã đi sâu kiểm điểm tình hình hoạt động sau hơn một năm khôi phục hệ thống tổ chức
Trang 2419
Đảng, đặc biệt là Đảng bộ Nghệ An:"So với các tỉnh Trung Bộ thì Đảng bộ Nghệ An phát triển được nhiều nhất" (cuối năm 1946 Nghệ An đã có 2.876 đảng viên, chưa kể đảng viên trong quân đội) [7; 242]
Nhìn chung, các đại hội đều phản ánh phần lớn các đảng viên hết sức trung thành, tận tụy Tuy vậy, trong lúc kết nạp đảng viên, nhiều nơi không chấp hành đúng nguyên tắc, thủ tục và tiêu chuẩn đề ra, khá đông các đồng chí còn có
tư tưởng cô độc, hẹp hòi, công thần, địa vị, độc hành, độc đoán Các Đại hội nhấn mạnh trong năm 1947 phải củng cố chi bộ ở khắp các xã, các ngành chuyên môn, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong tình hình mới (Riêng
ở Quảng Bình, sau Đại hội tỉnh uỷ đã quyết định đưa một số cán bộ cấp tỉnh bổ sung về các huyện, thị Cơ quan tỉnh uỷ biên chế gọn nhẹ chỉ gồm một số đồng chí chủ chốt và một số người làm công tác văn phòng) Tại Đại hội của các tỉnh này, vấn đề kiện toàn cơ quan lãnh đạo các tỉnh cũng được thực hiện, đồng chí Nguyễn Chí Thanh trực tiếp làm Bí thư Tỉnh uỷ Thừa Thiên - Huế, đồng chí Đặng Thí được cử làm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Trị, đồng chí Nguyễn Đình Chuyên được cử làm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Bình, đồng chí Kiều Hữu Thao được
cử làm Bí thư Tỉnh uỷ Hà Tĩnh, đồng chí Hồ Sĩ Khảng (Hồ Viết Thắng) làm Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An, đồng chí Lê Chủ được cử làm Bí thư tỉnh uỷ Thanh Hoá
Như vậy chỉ sau một năm, mặc dù tình hình diễn ra rất phức tạp, khó khăn chồng chất, nhưng hệ thống tổ chức Đảng ở Liên khu IV đã được củng cố lại Đặc biệt, trước yêu cầu tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Phápxâm lược, tháng 11/1946, BCHTƯ Đảng quyết định thành lập các Khu
uỷ (sau đổi thành Liên khu uỷ) trong đó có Liên khu uỷ IV Đây là một bước chuyển quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng đối với các tỉnh Bắc Trung Bộ
Từ đây, nhân dân các tỉnh (6 tỉnh) đã có một cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, tập trung, thống nhất, đó là Khu uỷ IV Mặc dù vẫn còn những hạn chế, song sự phục hồi hệ thống tổ chức Đảng ở Liên khu IV đã thể hiện sức sống mãnh liệt, sức sáng tạo lớn của những người cộng sản ở đây, tạo cơ sở tốt để Đảng bộ liên khu vững vàng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ
Trang 2520
Với dã tâm thôn tính đất nước ta một lần nữa, thực dân Pháp đã không chịu thi hành Hiệp định sơ bộ 6/3, Tạm ước 14/9/1946, các cuộc hành binh lấn chiếm của quân Pháp được diễn ra liên tục Quân Pháp ngang nhiên nắm quyền thuế quan ở Hải Phòng, tướng Valuy trực tiếp ra lệnh cho đại tá Đebơ chỉ huy quân Pháp đóng ở Hải Phòng bằng mọi lực lượng có trong tay phải nhanh chóng làm chủ Hải Phòng, đẩy quân đội Việt Nam ra khỏi thành phố Cùng với việc đánh chiếm Hải Phòng, quân Pháp cũng đã tiến công đánh Lạng Sơn Cuộc chiến tranh của thực dân Pháp nhằm đánh chiếm miền Bắc đang đến gần
Tháng 12/1946, tình hình ngày càng nghiêm trọng hơn, thực dân Pháp đã tăng thêm quân, chiếm đóng trái phép ở Đà Nẵng và Hải Dương, đưa thêm viện binh đến Hải Phòng, mở rộng đánh chiếm Đồ Sơn, Đình Lập, liên tiếp gây ra nhiều vụ xung đột, khiêu kích ở Hà Nội
Ngày 18/12/1946, tướng Moóclie gửi cho ta hai tối hậu thư đòi chiếm đóng sở tài chính, đòi ta phải phá bỏ mà công sự và chướng ngại trên các đường phố, đòi để chúng giữ gìn trị an ở Hà Nội Chúng tuyên bố nếu yêu cầu trên không được thực hiện, thì chậm nhất là sáng 20/12/1946 quân Pháp sẽ chuyển sang hành động
Tình thế khẩn cấp đó đòi hỏi, Đảng, Nhà nước - đứng đầu là Hồ Chủ tịch phải có một sự lựa chọn lịch sử, phải có một quyết định chiến lược để làm xoay chuyển vận nước đang lâm nguy
Ngày 18, 19/12/1946 tại làng Vạn Phúc, Hà Đông, Ban thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Hồ Chí Minh chủ trì, đã quyết định chủ trương phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên phạm vi cả nước và đề ra đường lối, chủ trương kháng chiến của Đảng Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến:
''Hỡi đồng bào toàn quốc
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Trang 26Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm
Kháng chiến thắng lợi muôn năm! [74; 480 - 481]
Tiếp đến ngày 21/12/1946, Người đã gửi thư đến nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp và nhân dân các nước Đồng Minh nói về mục tiêu và ý chí đấu tranh vì độc lập tự do của Việt Nam và khẳng định: ''Cuộc kháng chiến rất lâu dài và đau khổ Dù phải hy sinh bao nhiêu và thời gian kháng chiến đến bao giờ, chúng ta cũng nhất định chiến đấu đến cùng, đến bao giờ nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập và thống nhất Chúng ta có 20 triệu chống lại 10 vạn thực dân Cuộc thắng lợi của chúng ta rất được bảo đảm'' [74; 484)
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng gọi của non sông đất nước, là ý chí ''quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh'', là quyết tâm
"thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ'' của tất cả những người dân Việt Nam yêu nước
Đáp lời kêu gọi thiêng liêng của Hồ Chủ tịch, ngay trong đêm 19/12/1946, quân dân Nghệ An với lực lượng áp đảo, theo sự chỉ đạo và kế hoạch đã vạch ra của Khu uỷ và BCH Khu IV đã chủ động tiến công quân Pháp,
Trang 2722
nhanh chóng bức địch đầu hàng, bắt toàn bộ tù binh, thu toàn bộ vũ khí, quân
trang, quân dụng
Tại Thừa Thiên - Huế, chiều 19/12/1946, Uỷ ban kháng chiến Thừa Thiên
Huế họp cán bộ các mặt trận, các huyện Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Bí thư
Tỉnh uỷ thông báo tình hình khẩn cấp và giao nhiệm vụ cho các đơn vị, điạ
phương 2h30' sáng 20/12/1946, bộ đội cùng dân quân, tự vệ đã đồng loạt nổ
súng trên hầu hết các vị trí có quân Pháp đóng
Tiếp đó, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt đặc biệt ở thành
phố Huế Có nhiều nơi ban đêm ta tiến công đánh chiếm, ban ngày địch lại phản
kích, ta phải rút lui để bảo toàn lực lượng
Tại Quảng Bình, Quảng Trị, cuộc chiến đấu cũng diễn ra vô cùng ác liệt Đến giữa năm 1947, quân Pháp đã xây dựng hàng trăm đồn, bốt lớn nhỏ Ngoài
các đồn, bốt do quân Pháp và nguỵ quân phụ trách, một số nơi chúng còn tổ
chức hương vệ để giữ các thôn xóm
Để tiến hành bình định, địch dựa vào hội tề và các đảng phái phản động,
tìm mọi cách bắt bớ, giết hại đảng viên của ta Hệ thống tổ chức Đảng chịu
nhiều tổn thất Ở vùng bị tạm chiếm, lực lượng cán bộ, đảng viên bị phân tán,
hầu hết các cơ sở Đảng và chính quyền và các tổ chức, quần chúng bị tê liệt
Nhiều nơi có một số cán bộ, đảng viên không bám đất, bám dân để tiếp tục chiến
đấu, cán bộ cơ sở không liên lạc được với cấp trên
Trước tình hình đó, ban lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên - Quảng Trị đã xác định
phải nhanh chóng tập hợp lại tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần
chúng để tiếp tục lãnh đạo nhân dân phát triển chiến tranh du kích, phá tề, trừ
gian, đẩy mạnh tăng gia sản xuất Với chủ trương này, tổ chức cơ sở Đảng được
khôi phục, củng cố lại, các chi bộ Đảng trở về bám trụ trong lòng dân, lực lượng
kháng chiến đã lấy lại được thế của mình Kết quả này đã được Trung ương
khẳng định: ''Do dân và quân ta một lòng hy sinh phấn đấu và chuyển qua cách
đánh du kích mau lẹ nên tình hình đã trở lại'' [49; 176]
Trang 2823
Nhằm tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, tháng 6/1947, Hội nghị Thường vụ Trung ương
mở rộng quyết định thành lập phân khu Bình - Trị - Thiên, thuộc khu IV
Cũng trong thời gian này, ở Thanh - Nghệ - Tĩnh, khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các đảng bộ tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh công tác tiêu thổ kháng chiến, phát triển các lực lượng vũ trang, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tiết kiệm, củng cố hệ thống chính quyền và các đoàn thể quần chúng, sẵn sàng chiến đấu; đồng thời xây dựng địa bàn này thành căn cứ cho cuộc kháng chiến chống Pháp theo nghị quyết của Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng (6/1947)
Tình hình những ngày đầu kháng chiến diễn ra hết sức phức tạp, nhưng Đảng bộ khu IV vẫn chưa được củng cố vững chắc Trong lãnh đạo, chỉ đạo, Khu uỷ chưa có sự tập trung thống nhất Nhiệm vụ kháng chiến ở các địa phương chủ yếu vẫn do các tỉnh uỷ dựa vào chủ trương của Trung ương và căn
cứ vào tình hình thực tế ở cơ sở để chỉ đạo, điều đó đã làm tăng tư tưởng cục bộ địa phương, cô độc, hẹp hòi Trước thực tế đó, ban thường vụ Trung ương đã nghiêm khắc phê bình BCH Đảng bộ khu Trong Nghị quyết Hội nghị thường vụ Trung ương mở rộng (6/1947) đã nhấn mạnh: “Cách làm việc và tinh thần kỷ luật kém, nặng óc địa phương và óc bản vị”, “cách lãnh đạo không biết nắm khâu chính và thi hành cương quyết nghị quyết'' [49; 220 - 221]
Trong thời gian đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư yêu cầu tất cả các đảng viên và các tổ chức Đảng phải nghiêm khắc tự phê bình và phê bình về mọi mặt Trong thư gửi các đồng chí Trung Bộ, Người chỉ rõ nhiệm vụ của toàn Đảng trong cuộc kháng chiến là: ''Phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng, nhằm vào một mục đích: Đánh đuổi thực dân Pháp, làm cho nước được thống nhất độc lập'' [75; 76] Người yêu cầu đảng viên
ở Trung Bộ phải tẩy sạch những khuyết điểm: Địa phương chủ nghĩa (chỉ chăm
lo lợi ích của địa phương mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ), óc bè phái (ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng Ai không thân với mình thì dù có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe), cô độc, hẹp hòi, ham chuộng hình thức, ích kỷ, kiêu
Trang 2924
ngạo…Đây là những khuyết điểm đã tồn tại từ lâu và đã được các tổ chức Đảng
thường xuyên đưa vào nội dung sinh hoạt nhưng chưa có nhiều chuyển biến
Tháng 10/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm ''Sửa đổi lối làm
việc'', chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong phạm vi cả nước.Từ
những chỉ dẫn của Người, Đảng bộ Liên khu IV đã liên tục triển khai các đợt
học tập lý luận và sinh hoạt chính trị ở tất cả các tổ chức Đảng, nhằm sửa chữa
sai lầm, khuyết điểm, củng cố hệ thống tổ chức và phát triển Đảng viên mới theo
khẩu hiệu : ''Làm cho đoàn thể thành một đoàn thể quần chúng” mà Nghị quyết
Hội nghị cán bộ Trung ương tháng 4/1947 đề ra
Tháng 7/1947, Hội nghị cán bộ toàn khu xác định, tất cả các cấp uỷ Đảng
phải tổ chức kiểm điểm sâu sát tới từng đồng chí đảng viên để kịp thời uốn nắn
những tư tưởng lệch lạc của tập thể và cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ chính trị của mình, đồng thời đề ra những biện pháp chấn chỉnh công tác lãnh
đạo, chỉ đạo của Khu uỷ cũng như các đảng bộ địa phương Hội nghị đã chỉ ra
nhiệm vụ kháng chiến của từng tỉnh, từng vùng và yêu cầu các tỉnh Thanh -
Nghệ - Tĩnh phải ra sức giúp đỡ các tỉnh Bình - Trị - Thiên Những chủ trương
này là một bước tiến quan trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Khu uỷ,
đồng thời bước đầu củng cố khối đoàn kết giữa các đảng bộ ở Bình – Trị –
Thiên với các đảng bộ ở Thanh – Nghệ – Tĩnh
Thực hiện tốt chủ trương trên của Khu uỷ IV, tổ chức Đảng đã có bước
phát triển mới :
Trong quân đội, số đảng viên từ 104 trước kháng chiến đã lên tới 1.300
vào tháng 10/1947 và trên 2.300 vào tháng 5/1948
Ở các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh, tháng 10/1947 có 11.425 đảng viên
(Thanh Hoá 2000, Nghệ An 4.576, Hà Tĩnh 4.560) đến tháng 5/1948 đã lên tới
trên 15.500 đảng viên (Thanh Hoá trên 4.000, Nghệ An gần 6.000, Hà Tĩnh trên
5.500)
Đến tháng 10/1947, Thừa Thiên Huế đã có 94 chi bộ với 1133 đảng viên
Ở Quảng Trị, từ 700 đảng viên trong những ngày đầu kháng chiến đã lên
tới 1.670 đảng viên
Trang 3025
Ở Quảng Bình, năm 1947 có 850 đảng viên, đến tháng 5/1948 đã có 1.500 đảng viên [79; 160] Việc xây dựng chi bộ tự động công tác (chi bộ theo phương châm đạt ba chuẩn, ba danh hiệu do liên Khu uỷ đề ra là: Tự động, tiến bộ và gương mẫu) có nhiều kết quả tốt Đến tháng 5/1948, đã có 113 số chi bộ bảo đảm 4 nội dung đề ra cho loại chi bộ này (đoàn kết nội bộ; sinh hoạt đều đặn; thi hành chỉ thị nghị quyết kết quả, mau chóng không chờ sự giúp đỡ của cấp trên; lãnh đạo được mọi mặt công tác trong địa phương, chú ý điểm đoàn kết nhân dân) Các Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh, huyện được duy trì đúng quy định để kiểm điểm, đánh giá tình hình các mặt, bàn nhiệm vụ, chủ trương công tác trong năm và kịp thời kiện toàn cấp uỷ, bổ sung những cán bộ mới thay thế cho số được điều động đi nhận công tác cấp trên, trong quân đội và ở nơi khác, để tăng thêm số lượng uỷ viên nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của các huyện
uỷ, tỉnh uỷ (ở Thanh Hoá, đầu 1947, đồng chí Tố Hữu được chỉ định làm Bí thư tỉnh uỷ, năm 1948 Liên khu uỷ cử đồng chí Hồ Viết Thắng, khu uỷ viên về trực tiếp làm bí thư, ở Nghệ An, đồng chí Ngô Xuân Hàm được cử làm Bí thư, ở Hà Tĩnh, đồng chí Kiều Hữu Thao được cử làm Bí thư)
Liên khu IV là một địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng, thực dân Pháp tìm mọi cách chiếm bằng được Để đạt được mục tiêu ấy, quân Pháp sử dụng mọi khả năng về người và phương tiện chiến tranh, đồng thời dùng mọi âm mưu, thủ đoạn rất thâm độc, xảo quyệt Chúng không từ một hành động dã man, tàn bạo nào nhằm khuất phục và dập tắt phong trào kháng chiến của nhân dân ta Mặc dù phải chịu hy sinh, tổn thất, nhưng quân và dân Liên khu IV đã đứng vững, đánh thắng được chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh và chia cắt chiến lược của địch Khu IV vẫn nối liền chiến trường Trung Lào, từng bước củng cố
và xây dựng lực lượng về mọi mặt để tiếp tục kháng chiến
Những năm 1946 - 1948, là giai đoạn khó khăn trong việc bảo vệ, duy trì, củng cố và khôi phục hệ thống tổ chức Đảng Do tương quan so sánh lực lượng quá chênh lệch giữa một bên là quân đội viễn chinh thiện chiến với đầy đủ các loại vũ khí hiện đại, với một bên là những chiến sĩ vừa bỏ tay cày, với giáo mác, gậy tre làm vũ khí nhất tề xông lên đánh giặc, nên trong ngày đầu kháng chiến
Trang 3126
chúng ta đã gặp nhiều khó khăn, tổ chức Đảng bị tổn thất nặng nề, đặc biệt ở Bình - Trị - Thiên
Đối diện với khó khăn, thử thách đó, những người cộng sản ở Liên khu IV
đã kiên cường, bền bỉ vượt qua khó khăn xây dựng củng cố, tổ chức Qua đó, lực lượng kháng chiến dần được phục hồi, Đảng bộ các cấp vẫn được củng cố, đội ngũ đảng viên được tôi luyện và phát triển Đến đầu năm 1948, số lượng đảng viên và tổ chức cơ sở đảng đã tăng lên đáng kể, cụ thể như sau :
SỐ LƢỢNG ĐẢNG VIÊN VÀ TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG ĐẦU NĂM 1948 [12; 15-18]
(*Liên chi I:Tổ chức Đảng khối cơ quan )
Qua hơn một năm kháng chiến, vai trò của khu uỷ ngày càng được khẳng định Những ngay đầu kháng chiến, sự lãnh đạo, chỉ đạo của khu còn lúng túng khuyết điểm, chủ yếu là nhờ sự chủ động sáng tạo của cấp uỷ và chính quyền các tỉnh đã lãnh đạo và chỉ đạo, phong trào kháng chiến của địa phương từng bước trưởng thành, ngày càng vươn mạnh hơn Các cấp bộ Đảng đã quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và chính phủ, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn địa phương mình Đặc biệt các cấp bộ Đảng ba tỉnh phía trước (Bình - Trị - Thiên) đã vượt qua khó khăn, gian khổ, nêu cao ý thức, quyết tâm, trách nhiệm nặng nề trước vận mệnh của tổ quốc, tính mạng và đời sống của nhân dân, bám đất, bám dân, lãnh đạo và chỉ đạo phong trào kháng chiến từng bước đi lên
Trang 3227
Những thắng lợi và thất bại, sai lầm trong thời kỳ này là những bài học quý, nóng hổi cho Đảng bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân Liên khu IV bước vào giai đoạn mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
1.3 Tiếp tục xây dựng hệ thống tổ chức Đảng, củng cố và tăng cường
sự lãnh đạo của Liên khu uỷ trong những năm 1948 - 1950
Sau thất bại Việt Bắc thu - đông năm 1947, thực dân Pháp phải thay đổi chiến lược ''đánh nhanh, thắng nhanh'' sang ''đánh kéo dài'', ráo riết thực hiện chính sách ''dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh'', rải quân để bình định, củng cố các vùng chiếm đóng của chúng ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Bình - Trị - Thiên và đồng bằng Bắc bộ, thực hiện
"chiến tranh tổng lực" đánh phá cơ sở kinh tế, chính trị và lực lượng hậu bị của
ta
Trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, đầu năm 1948, với lực lượng được tăng thêm từ Pháp sang và ở Nam bộ ra, chúng tập trung lực lượng mở nhiều cuộc hành quân mở rộng vùng chiếm đóng, thực hiện âm mưu dập tắt ''các đốm lửa du kích ở đồng bằng'' và tiêu diệt các căn cứ Việt Minh ở trên núi Chúng tập trung càn từng đợt ở từng địa bàn: ''Tuần lễ Hải Lăng'', ''Tuần lễ Gio Vĩnh'', ''Tuần lễ Ninh Lệ …''
Ở đồng bằng, địch sử dụng chiến thuật ''tầm thực'' và ''vết dầu loang'', càn quét, lùng sục cán bộ và du kích Chúng ra sức xây dựng và củng cố bộ máy hội
tề, xây dựng đồn bốt, bắt dân đi phu, nộp thuế Chúng tổ chức nhiều cuộc càn lớn vào khu du kích, tiến hành khủng bố nhân dân, gây nhiều tội ác man rợ, điển hình là các cuộc thảm sát hàng ngàn dân lành ở Triệu Phong, Hải Lăng … Sau cuộc càn quét, địch xây dựng một số cứ điểm để giữ đất, nhằm thực hiện âm mưu đẩy chủ lực ta ra khỏi căn cứ ở đồng bằng Địch còn ra sức phá hoại sản xuất, nhổ lúa, ngô, cướp phá lương thực, bắn giết trâu, bò và người đang làm ruộng, công khai tuyệt bố tiến hành cuộc chiến tranh lúa gạo, bao vây, ngăn chặn việc tiếp tế cho các chiến khu
Quân Pháp còn liên tiếp mở nhiều cuộc tiến công lên các chiến khu vùng rừng núi: Đơn Quế, Bang, Rợn, Thuận Đức (Quảng Bình) Thuỷ Ba Thượng
Trang 33bộ, đảng viên bị đánh bật khỏi cơ sở lên vùng rừng núi, thiếu lương thực, thuốc chữa bệnh Phong trào kháng chiến sa sút nghiêm trọng và gặp nhiều khó khăn, thử thách
Để kịp thời lãnh đạo quân và dân cả nước đánh bại âm mưu chiến lược mới của địch, Hội nghị BCHTƯ Đảng mở rộng (từ ngày 15 đến 17/1/1948) đã
đề ra nhiệm vụ cho thời kỳ mới:
Về quân sự: Chuyển sang giai đoạn thứ hai, giai đoạn cằm cự, đánh táo bạo, phản công bộ phận, nếu nước Pháp có biến lớn
Về chính trị: Củng cố toàn dân đoàn kết, phá chính sách ''dùng người Việt hại người Việt'' của thực dân Pháp, phá mọi chính quyền bù nhìn
Về kinh tế tài chính: Phá kinh tế tài chính địch, thực hiện khẩu hiệu tăng gia sản xuất, tự cấp tự túc, cải thiện dân sinh, tịch thu tài sản của bọn phản quốc cấp cho dân nghèo và bộ đội
Về hành chính: Kiện toàn cơ quan hành chính từ trên đến dưới
Về văn hoá: Giáo dục động viên văn hoá thật sự tham gia kháng chiến, ủng hộ kháng chiến, đào tạo nhân tài và cán bộ cung cấp cho các ngành kháng chiến [50; 23-24]
Đặc biệt về xây dựng tổ chức Đảng, Hội nghị nhấn mạnh:
''Phải tích cực gây cơ sở Hội trong vùng địch kiểm soát nhất là những nơi tập trung công nhân
Phải đặt công tác củng cố thành vấn đề trọng yếu, củng cố các chi bộ để
có thể tự động lãnh đạo mọi mặt công tác địa phương…chấn chỉnh bộ máy chỉ đạo và chuyên môn ở các cấp của Hội…
Trang 34bộ bằng cách mở những trường chuyên môn Phải có chính sách dìu dắt cán bộ rộng rãi, phổ biến chính sách ấy xuống tất cả cấp dưới’’ [50; 49]
''Các cấp bộ Hội, từ trung ương trở xuống, thực hành tự chỉ trích ráo riết, tích cực bài trừ thói tình cảm riêng, ra sức bỏ bệnh hẹp hòi, chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bè phái… thực hiện sự thống nhất tư tưởng và hành động giữa các cấp bộ Hội và các ngành hoạt động của Hội’’ [50; 49]
Tháng 4/1948, Hội nghị cán bộ phân khu Bình - Trị - Thiên đã đánh giá tình hình, đề ra chủ trương: Toàn Đảng bám sát dân, tranh đấu tư tưởng, thống nhất nội bộ Đảng, xây dựng cơ sở ở những nơi xung yếu, phát triển Đảng trong quần chúng đông đảo
Tháng 5/1948, Đại hội Đại biểu Đảng bộ Liên khu lần thứ nhất họp giữa lúc địch đang tăng cường đánh phá ở Bình – Trị - Thiên và lăm le tiến công Thanh – Nghệ – Tĩnh
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư nhắc nhở Đại hội:
1 Phải đoàn kết chặt chẽ nội bộ để đoàn kết được toàn dân đưa kháng chiến đến thắng lợi, và muốn thật thà đoàn kết chặt chẽ về mọi mặt phải tẩy cho sạch, cho tận gốc các bệnh thành kiến, bè phái, địa phương chủ nghĩa; phải thực hành cho kỳ được chính sách đại đoàn kết toàn dân; muốn vậy phải sáng suốt và rộng rãi, khéo chia công việc, khéo dùng nhân tài, phải “tìm hiền, kính sĩ”, chớ bao biện, chớ “đố hiền tật năng”
2 Khu uỷ phải ra sức giúp đỡ Bình – Trị – Thiên về mọi mặt nhất là về quân sự, chính trị
3 Phải ra sức tăng gia sản xuất và tiết kiệm để đi đến tự cấp, tự túc
4 Phải ra sức đào tạo, giúp đỡ, cất nhắc cán bộ mới và cán bộ giỏi hơn cán bộ cũ mới là một đoàn thể mạnh mẽ
Trang 3530
5 Mọi công việc đều phải lấy tinh thần thi đua mà làm; mỗi đồng chí phải là người xung phong trong cuộc thi đua ái quốc
Tổng Bí thư BCHTƯ Đảng Trường Chinh dự Đại hội, đã nhận xét: Cán
bộ Liên khu IV có tinh thần tích cực, nhẫn nại, xung phong, quả cảm và óc sáng kiến, nhưng chủ quan, hẹp hòi, bản vị, địa phương, chưa tiến kịp sự đòi hỏi của thời cuộc; quần chúng, đảng viên bên dưới tiến bộ nhanh hơn cán bộ phụ trách bên trên; nhân dân nói chung đoàn kết rộng rãi và bền chặt, nhưng nội bộ Hội không thống nhất; kinh nghiệm của Hội rất nhiều nhưng đúc kết kinh nghiệm chưa đầy đủ Tổng Bí thư chỉ rõ nhiệm vụ của đại hội là phải kiểm thảo chủ trương, chính sách, công tác, thực tế của Hội và khu uỷ; tổng kết kinh nghiệm của Hội; quyết định phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch cho thời kỳ mới; bầu lại khu uỷ và chuẩn bị cử đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc
Đại hội làm việc khẩn trương, dân chủ, với tinh thần thẳng thắn phê bình
và tự phê bình; kiểm điểm đánh giá tình hình và quyết định nhiệm vụ công tác trong giai đoạn mới; nghe báo cáo và các đề án công tác cụ thể về quân sự, kinh
tế, xã hội, dân vận, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân và công tác đảng
vụ
Về quân sự, Đại hội nhận định: Địch khó có khả năng đánh lớn vào Thanh – Nghệ – Tĩnh nếu chúng ta không chủ quan mất cảnh giác Đại hội tập trung đánh giá tình hình Bình – Trị – Thiên; phê phán nhận thức sai lầm và những biểu hiện của tư tưởng hữu khuynh, biệt lập trong các cấp, nhất là trong một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt, cán bộ các cấp chưa kịp thời đề ra được những chủ trương thích hợp để ổn định, giữ vững, phát triển phong trào Đồng thời, khẳng định: Phải xây dựng cơ sở quần chúng, lãnh đạo tổ chức nhân dân đấu tranh, vận động toàn dân tham gia đánh giặc, giữ làng; trừng trị bọn Việt gian, giải tán hội tề, vận động binh lính địch; phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với hoạt động quân sự; phối hợp chặt chẽ giữa các vùng trong từng khu vực, giữa các chiến trường trong liên khu với chiến trường toàn quốc, tránh để địch dồn lực lượng đánh phá từng khu một
Trang 3631
Đại hội chủ trương “Tất cả cho Bình – Trị – Thiên”, chuyển khẩu hiệu:
“Tất cả cho kháng chiến” sang khẩu hiệu “Tất cả để chiến thắng” và đề ra các nhiệm vụ lớn :
- Đẩy mạnh ở Bình – Trị – Thiên
- Thúc đẩy phong trào kháng chiến, đề phòng địch đánh Thanh – Nghệ – Tĩnh, ráo riết chuẩn bị lực lượng, phát huy tác dụng tích cực của hậu phương Thanh – Nghệ – Tĩnh đối với tiền tuyến Bình – Trị – Thiên
- Mở rộng mặt trận Trung Lào
Đặc biệt về công tác xây dựng tổ chức đảng, Đại hội đề ra những biện pháp quan trọng nhằm “xây dựng Đảng thành một Đảng quần chúng”, đẩy mạnh xây dựng “chi bộ tự động công tác”, phải tiếp tục tăng cường tổ chức học tập và quán triệt sâu sắc những nội dung chỉ đạo của BCHTƯ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tiếp tục củng cố sự đoàn kết, nhất trí trong toàn Đảng bộ, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên mới (tập trung vào các thành phần trung kiên, nhất là ở những nơi xung yếu và trong lòng địch); ra sức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giỏi về chuyên môn, vững vàng về chính trị; tích cực đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng tốt cán bộ
Đại hội bầu BCH Đảng bộ Liên khu chính thức đầu tiên do đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư Thành công của Đại hội đã mở ra thời kỳ mới trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Liên khu uỷ Từ đây, các tỉnh Bắc, Trung
bộ đã thực sự có một cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất và toàn diện
Thực hiện chủ trương chung sau đại hội, những cán bộ, đảng viên trước đây bị bật đất, sau khi được học tập và được cán bộ tỉnh, huyện hướng dẫn động viên, lần lượt trở về, được nhân dân hết lòng giúp đỡ, từng bước chắp nối lại liên lạc với nhiều cơ sở trong vùng sâu, khôi phục lại tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng Phần lớn các chi bộ ly hương trở về hoạt động và lãnh đạo quần chúng
Số lượng các chi bộ đảng viên tăng nhanh:
Cuối năm 1948, tỉnh Quảng Bình có 72 chi bộ, 2.170 đảng viên (tăng 600 đảng viên so với trước tháng 5/1948)
Trang 3732
Quảng Trị có 70 chi bộ, 2.626 đảng viên (tăng 600 đảng viên)
Thừa Thiên có 103 chi bộ, 2.049 đảng viên (tăng 549 người)
Số đảng viên trong quân đội tăng gấp đôi
Nghệ An, Hà Tĩnh có 19.804 đảng viên sinh hoạt trong 441 chi bộ Đảng bao gồm 41 chi bộ cơ quan, 69 chi bộ xí nghiệp, 311 chi bộ xã, 148 chi bộ được Hội nghị cán bộ Liên khu uỷ công nhận là chi bộ khá với tiêu chuẩn nội bộ đoàn kết, toàn dân đoàn kết, sinh hoạt đều đặn, có ý thức lãnh đạo và làm việc dân chủ [7; 275]
Tháng 8/1948, khu uỷ chủ trương mở một đợt thi đua phát triển đảng trong toàn Đảng bộ Kết quả, sau năm tháng phát động, số đảng viên của Đảng
bộ từ 26.500 đồng chí lên 41.000 đồng chí và tổ chức cơ sở Đảng tăng hơn 300 chi bộ Ở các tỉnh Thanh - Nghệ – Tĩnh, công tác xây dựng chi bộ tự động gắn với phát triển đảng viên mới được tổ chức thành các phong trào rầm rộ làm cho
số đảng viên và chi bộ tự động công tác tăng nhanh Trong khi đó, ở các tỉnh Bình - Trị - Thiên, công tác phát triển đảng còn nhiều hạn chế, một số đảng viên chưa coi trọng công tác phát triển đảng, có chi bộ chưa phát triển thêm đảng viên
TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN ĐẢNG Ở ĐẢNG BỘ LIÊN KHU IV TRONG NĂM 1948[11]
Trang 3833
Trong số mới phát triển, có nhiều đồng chí thuộc thành phần trung kiên ở trong quân đội, dân quân, nhưng số đảng viên là công nhân, phụ nữ và người dân tộc ít người chưa nhiều, cụ thể như sau:
- Công nhân: 1.568 đồng chí/50.000 công nhân toàn Liên khu
- Nữ: 2.627 đồng chí/324.315 hội viên cứu quốc
- Dân tộc ít người: Chiếm tỷ lệ rất nhỏ và chủ yếu ở Thanh - Nghệ - Tĩnh
- Quân đội: 4.004 đồng chí/hơn 10.000 quân nhân
- Du kích: riêng các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh có 6.772 đồng chí
Từ ngày 18 - 23/12/1948, Liên khu uỷ họp hội nghị mở rộng chủ yếu bàn
về công tác xây dựng tổ chức Đảng Hội nghị nhận định: Phong trào Liên khu
IV vẫn trầm trọng, không tiến mạnh lên được chủ yếu là chưa làm tốt công tác cán bộ Nhiều cán bộ đang giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ đạo chủ chốt, tuy kiên cường, dũng cảm, tận tuỵ hy sinh nhưng trình độ không theo kịp sự phát triển của tình hình mới, đang trở thành lực cản của phong trào Những cán bộ mới, trẻ, có kiến thức và có năng lực không được chú ý đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng
và đề bạt …
Để thực hiện tốt ba nhiệm vụ trọng tâm về xây dựng Đảng (phát triển và củng cố đảng, đào tạo cán bộ, củng cố giao thông liên lạc) mà Hội nghị Trung ương mở rộng đã đề ra, Hội nghị Liên khu uỷ quyết định:
- Tích cực gây dựng cơ sở Đảng trong vùng địch kiểm soát, những nơi xung yếu, những nơi quan trọng, các xí nghiệp, các đường giao thông, xung quanh vị trí địch, khắp các xã thôn …
- Tích cực phát triển Đảng trong các tầng lớp trung niên, chú ý phụ nữ, trí thức
- Thi đua xây dựng chi bộ tự động công tác
- Làm tốt công tác cán bộ, mạnh dạn đề bạt cán bộ mới, trẻ có năng lực,
có triển vọng, kiên quyết đưa nhiều cán bộ cũ đi bồi dưỡng, trao đổi cán
bộ giữa hai vùng, giữa các tỉnh trong liên khu, với khu III, tăng cường cán bộ cho Bình - Trị – Thiên; lập đội dự bị sẵn sàng thay thế cho cán
bộ đương nhiệm được điều động đi nhận công tác khác
Trang 3934
Để tiếp tục đẩy mạnh công tác phát triển Đảng, Hội nghị đề ra nhiệm vụ
cụ thể của từng Đảng bộ như sau:
- Thanh Hoá tiếp tục giữ mức phát triển 40%
- Nghệ An, Hà Tĩnh nâng mức phát triển lên 100%
- Quảng Bình gây lại cơ sở ở những chi bộ đã ly hương, phấn đấu đạt mức 40%
- Quảng Trị, Thừa Thiên : Trên đà phát triển của chiến tranh du kích, phá
tề, trừ gian phải phát triển tăng lên 60%
- Huế: Tập trung phát triển cơ sở ở trong các nhà máy và các tầng lớp nhân dân lao động
Thực hiện chủ trương đề ra, các Đảng bộ tiếp tục triển khai các đợt sinh hoạt chính trị, lấy việc củng cố, chi bộ làm nhiệm vụ chính trong công tác xây dựng Đảng, đồng thời tổ chức thành các đợt thi đua phát triển Đảng Chỉ trong một thời gian ngắn, ở các nơi gần vị trí địch, dọc đường giao thông đã có chi bộ hoặc đảng viên hoạt động Đảng số trong các đảng bộ tăng nhanh Tính đến tháng 6/1949:
Quảng Bình tăng từ 1.500 lên 3.740
Quảng Trị từ hơn 2.000 lên 5.399
Thừa Thiên từ 1.800 lên 2.989
Thuận Hoá từ 39 lên 99 đảng viên
Trong các căn cứ, chi bộ Đảng phát huy vai trò lãnh đạo nhân dân và dân quân du kích, đẩy mạnh mọi hoạt động, xây dựng làng chiến đấu, bám sát giặc, đánh giặc giữ làng
Cũng trong thời gian này các Đảng bộ trong liên khu cũng tiến hành Đại hội để tổng kết những mặt làm được và chưa làm được trong thời gian vừa qua,
đề ra nhiệm vụ trung tâm trong thời gian tới và bầu BCH Đảng bộ mới
Ngày 20/3/1949, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ III đã được triệu tập tại một địa điểm ở chiến khu Ba Lòng Đến dự đại hội có 82 đại biểu chính thức Đại hội đề ra nhiệm vụ trung tâm trong thời gian công tác năm
1949 là phát triển chiến tranh nhân dân; huấn luyện trang bị lực lượng bộ đội,
Trang 4035
tập trung đủ sức đánh lớn trong tổng phản công, củng cố và kiện toàn chính quyền của ta, xây dựng Đảng theo phương châm của khu uỷ, trọng tâm là huấn luyện cán bộ đảng viên
Đại hội đã bầu BCH Đảng bộ mới (Nguyễn Quang Xá, Đặng Đình Giáp, Trần Trọng Hoãn, Nguyễn Đức Kỳ, Võ Trí Hưu, Nguyễn Cao, Phạm Ngọc Căn, Nguyễn Long, Lê Nam Thắng, Hoàng Đức Sản, Bùi Tá Bàng, Lê Bá Nam, Lê Liêm, Hồ Sĩ Thản) Đến tháng 9/1947, Tỉnh uỷ được bổ sung thêm các đồng chí: Phan Trọng Tỉnh, Phan Văn Khánh, Nguyễn Hoạt, đồng chí Nguyễn Quang Xá được Đại hội bầu làm Bí thư tỉnh uỷ
Vào tháng 4/1949, Đại hội các Đảng bộ Nghệ An và Hà Tĩnh khai mạc Đại hội Đảng bộ Nghệ An họp tại làng Cát Văn (Thanh Chương), Đại hội Đảng
bộ Hà Tĩnh họp tại Nga Khê (Can Lộc) Các Đại hội đã tự nhận thấy khuyết điểm là phát triển Đảng còn hẹp hòi "chưa có sự tập trung hết những phần tử trung kiên có năng lực nhất là những mầm non tương lai" [7; 276]
Đại hội nhấn mạnh, phát triển mạnh mẽ đảng viên và cơ sở Đảng trong các xí nghiệp và miền núi, đồng thời đẩy mạnh việc xây dựng chi bộ ''tự động công tác'', làm cho lãnh đạo của Đảng được thấu suốt trong mọi hoạt động của quần chúng
Đại hội các Đảng bộ hai tỉnh đã bầu BCH mới, Tỉnh uỷ Nghệ An do đồng chí Lê Nguyên Mân (tức Minh Châu) làm Bí thư, Tỉnh uỷ Hà Tĩnh, do đó đồng chí Nguyễn Sáng làm Bí thư
Ngày 17/4/1949, tại chiến khu Dương Hoà, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên đã diễn ra Về dự đại hội có 130 đồng chí đại diện cho hơn 2000 đảng viên toàn tỉnh Sau khi nhận xét, đánh giá công tác xây dựng tổ chức Đảng trong thời gian vừa qua đã phát triển mạnh mẽ đều khắp, Đảng đã phát huy được vai trò lãnh đạo toàn diện, Đại hội đã thông qua nghị quyết nêu rõ: Đi đôi với phát triển, phải củng cố tổ chức vững mạnh trên, trên cơ sở tăng cường sự lãnh đạo, mở rộng và thực hiện chế độ dân chủ của Đảng, sửa đổi lề lối làm việc và
có chính sách của cán bộ hợp lý