1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề lý luận sử học ở miền bắc việt nam thời kỳ 1954 1975

104 367 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 681,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế đó tác giả đề xuất cần tiếp tục nghiên cứu một số vấn đề có ý nghĩa lý luận như: Lý luận tư liệu học, Nhận thức quy luật lịch sử, Nghiên cứu lịch sử sử học… Đầu những năm 90 của thế k

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU……… 2

1 Lý do chọn đề tài……… 2

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 5

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu……… 5

6 Đóng góp của luận văn ……… 5

7 Bố cục của luận văn……… 6

Chương 1: KHÁI QUÁT SỬ HỌC MIỀN BẮC VIỆT NAM THỜI KỲ 1954-1975……… 7

Chương 2: LÝ LUẬN VỀ ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ, CHỨC NĂNG CỦA SỬ HỌC……… 18

2.1 Lý luận về đối tượng của sử học……… 18

2.2 Lý luận về nhiệm vụ, chức năng của sử học……… 24

Chương 3: LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP SỬ HỌC……… 32

3.1 Về tính đảng và tính khoa học trong sử học……… 32

3.2 Về phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic trong sử học… 47

3.3 Về chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa khách quan trong sử học 55

3.4 Về tài liệu lịch sử……… 73

Kết luận……… 82

Tài liệu tham khảo……… 86

Phụ lục……… 94

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi quyết định chọn chuyên ngành Lịch sử Sử học và Sử liệu học để học tập và thực hiện luận văn cao học, tôi định hướng sẽ nghiên cứu một vấn

đề lịch sử sử học nào đó trong tiến trình sử học Việt Nam hiện đại

Tiếp cận tiến trình sử học Việt Nam hiện đại (chủ yếu từ năm 1954 đến nay) tôi nhận thấy giới sử học Việt Nam đã nghiên cứu và tích lũy được một khối lượng kiến thức khổng lồ trong nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học lịch sử Việt Nam như: Lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, Lịch sử chính trị-xã hội, Lịch sử kinh tế, Lịch sử văn hóa, Khởi nghĩa nông dân, Nhân vật lịch sử…

Lý luận sử học là lĩnh vực được quan tâm và triển khai nghiên cứu từ sớm Bài viết đầu tiên về lý luận sử học là bài đầu tiên trong số đầu tiên của Tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa (1954) Trong tiến trình sử học Việt Nam hiện đại, có ba thời điểm giới sử học Việt Nam tập trung nghiên cứu lý luận

sử học, đó là năm 1966, năm 1992, năm 2011 Mỗi thời điểm đều đã đánh dấu những nhận thức mới trong các vấn đề lý luận sử học

Thời kỳ 1954-1975, ở miền Bắc việc nghiên cứu lý luận sử học có nhiều thành tựu, giới sử học miền Bắc, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, đã xây dựng một hệ thống lý luận sử học bao gồm các luận điểm về đối tượng, về phương pháp, về nhận thức trên cở sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời phủ nhận hoàn toàn, tuyệt đối bất kỳ một quan niệm nào của sử học tư sản

Vậy hệ thống lý luận của sử học miền Bắc như thế nào, nó có yếu tố gì hợp lý và bất hợp lý Dưới góc độ lịch sử sử học, khảo cứu vấn đề lý luận sử học

ở miền Bắc thời kỳ 1954-1975 sẽ làm sáng tỏ các luận điểm về lịch sử và sử học thể hiện tư tưởng và phương pháp sử học của các học giả miền Bắc đồng thời có thể nhận thấy những giá trị cần kế thừa để phát triển lý luận sử học ở Việt Nam

Đây là công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự cố gắng rất lớn của bản thân, nhưng với mong muốn được góp phần tìm hiểu tiến trình sử học Việt

Trang 5

Nam nói riêng cùng với sự khuyến khích của các Thầy, Cô trong bộ môn Lý

luận Sử học, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Vấn đề lý luận sử học ở miền Bắc

Việt Nam thời kỳ 1954-1975” làm luận văn Thạc sỹ, Chuyên ngành Lịch sử

sử học và sử liệu học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Bài viết đầu tiên có nội dung tổng kết công tác lý luận sử học ở miền

Bắc từ 1954-1960 là của Nguyễn Hồng Phong “Công tác lý luận của ngành

sử học trong 7 năm qua” (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 21-1960) Bài viết

điểm lại các ý kiến luận bàn về lý luận sử học theo các vấn đề: Mục tiêu của

sử học, tác dụng của sử học, cơ sở lý luận của sử học, đồng thời chỉ ra những hạn chế thường mắc phải trong nghiên cứu lịch sử là bệnh giáo điều, bệnh sơ lược, bệnh tài liệu chủ nghĩa…

Từ năm 1961, các bài nghiên cứu của giới sử học trong nước và ngoài nước về vấn đề lý luận sử học nhiều hơn Đến năm 1966, cuộc Hội thảo phương pháp luận sử học đã diễn ra sôi nổi trong giới sử học Sau hội thảo

này, cuốn Mấy vấn đề phương pháp luận sử học đã được xuất bản năm 1967

Cuốn sách này bao gồm các bài viết tiêu biểu về phương pháp luận sử học được trình bày trong Hội thảo Đây là những lý giải khoa học và hình thành nên những luận điểm quan trọng về tư tưởng sử học và phương pháp sử học

Sau khi đất nước được thống nhất, các nhà sử học miền Bắc có điều kiện tiếp xúc với những công trình lý luận sử học của các học giả miền Nam

Giáo sư Trương Hữu Quýnh đã có hai bài viết “Đọc sách nhập môn phương

pháp sử học của Nguyễn Thế Anh” (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 7-1978)

và “Đọc sách Phương pháp sử học của Nguyễn Phương” (Tạp chí Nghiên cứu

lịch sử, số 5-1978) Trong hai bài viết này, tác giả đã phê phán sự không nhất quán của Nguyễn Thế Anh và Nguyễn Phương, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong các luận điểm của các ông là: Phủ nhận quy luật và tính khách quan của lịch sử, đề cao vai trò quyết định của cá nhân trong lịch sử, nhấn mạnh yếu tố chủ quan trong nhận thức lịch sử…

Trang 6

Năm 1980, nhân Kỷ niệm 20 năm thành lập Viện Sử học, giáo sư Phạm

Xuân Nam, viết bài “Về những vấn đề phương pháp luận trong công tác sử

học của chúng ta” (in trong “Sử học Việt Nam trên đường phát triển- Nxb

KHXH.H.1981) Bài viết khái lược quá trình nghiên cứu phương pháp luận sử học ở nước ta từ năm 1954 và tập trung phân tích hai vấn đề chủ yếu là “Đối tượng của sử học” và “Tính đảng tính khoa học trong sử học” Kế đó tác giả

đề xuất cần tiếp tục nghiên cứu một số vấn đề có ý nghĩa lý luận như: Lý luận

tư liệu học, Nhận thức quy luật lịch sử, Nghiên cứu lịch sử sử học…

Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, vấn đề đổi mới trong công tác nghiên cứu lịch sử đặt ra như một yêu cầu cấp thiết mà trước hết là sự đổi mới

về lý luận và phương pháp luận Tạp chí nghiên cứu lịch sử đã dành trọn số

258 (1991) là đặc san bàn về sử học và đổi mới Trong đặc san này có một số

ý kiến bàn luận đánh giá lại nội dung phương pháp luận sử học được xây dựng từ năm 1966 Đó là: Phạm vi đối tượng của sử học, tính đảng tính khoa học lịch sử, tính tất yếu của lịch sử…

Năm 2011, trong hội thảo “Sử học trong bối cảnh hội nhập và toàn

cầu hóa- Những vấn đề lý luận và phương pháp tiếp cận” do Trường Đại

học KHXHNV Hà Nội và Trường Đại học KHXHNV thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, có một số bài viết đã trình bày vấn đề nhận thức lịch sử theo một kiến giải mới

Các công trình nghiên cứu trên đây là những gợi mở rất hữu ích cho tôi trong quá trình tiếp cận, phân tích, đánh giá nội dung lý luận sử học ở miền Bắc Việt Nam thời kỳ 1954-1975

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ nội dung các vấn đề lý luận sử học ở miền Bắc Việt Nam thời

kỳ 1954-1975 Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của lý luận sử học miền Bắc Góp phần bổ sung kiến thức cho chuyên ngành Lịch sử sử học Việt Nam hiện đại nói chung và lý luận sử học nói riêng

Trang 7

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khảo cứu các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung lý luận sử học ở miền Bắc thời kỳ 1954-1975

Phân tích, đánh giá chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của lý luận sử học ở miền Bắc Việt Nam 1954-1975

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống kiến thức về lý luận sử học ở miền Bắc Việt Nam thời kỳ 1954-1975

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Lý luận sử học có nội dung rất rộng lớn, trong khuôn khổ một luận văn thạc sỹ, đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu với các vấn đề: Đối tượng và nhiệm vụ, chức năng của sử học; tính đảng và tính khoa học trong sử học; phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic trong sử học, chủ nghĩa chủ quan

và chủ nghĩa khách quan trong sử học; vấn đề tài liệu lịch sử Phần mô tả các vấn đề sẽ chiếm một vị trí quan trọng trong luận văn

Các vấn đề trên chủ yếu được khảo cứu qua các bài viết trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử và một số sách của Nhà xuất bản khoa học xã hội thời kỳ 1954-1975

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chính được áp dụng là: Phương pháp lịch sử, Phương pháp lôgic, Phương pháp phân tích, Phương pháp tổng hợp…

5.2 Nguồn tài liệu

Các bài viết đề cập đến lý luận sử học được đăng tải trên Tập san Văn

Sử Địa, Tạp chí nghiên cứu lịch sử và một số tạp chí chuyên ngành khác

Các sách đề cập đến nội dung lý luận sử học của các nhà xuất bản: Khoa học xã hội, Giáo dục, Đại học Quốc gia, Đại học Sư phạm…

Trang 8

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần bổ sung kiến thức cho chuyên ngành Lịch sử Sử học Việt Nam hiện đại nói chung và lý luận sử học nói riêng

Có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành sử các trường đại học

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục; Nô ̣i dung của luâ ̣n văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: KHÁI QUÁT SỬ HỌC MIỀN BẮC VIỆT NAM THỜI KỲ 1954-1975

Chương 2: LÝ LUẬN VỀ ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ, CHỨC NĂNG CỦA SỬ HỌC

2.1 Lý luận về đối tượng của sử học

2.2 Lý luận về nhiệm vụ, chức năng của sử học

Chương 3: LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP SỬ HỌC

3.1 Về tính đảng và tính khoa học trong sử học

3.2 Về phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic trong sử học

3.3 Về chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa khách quan trong sử học 3.4 Về tài liệu lịch sử

Trang 9

Chương 1 KHÁI QUÁT SỬ HỌC MIỀN BẮC VIỆT NAM THỜI KỲ 1954-1975

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) đã đưa cách mạng nước ta sang giai đoạn mới: miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bước đầu chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa Miền Nam còn bị đế quốc

Mỹ và tay sai thống trị, nhân dân còn phải tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ Nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng mỗi miền là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà, do đó nhiệm

vụ cách mạng ở hai miền có quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, tác động thúc đẩy cùng phát triển

Hoạt động của sử học ở miền Bắc thời kỳ 1954-1975 diễn ra trong bối cảnh nền sử học cách mạng Việt Nam, hình thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp, còn chưa được củng cố phát triển, nhiệm vụ đặt ra cho sử học miền Bắc là rất to lớn: vừa phải tham gia thực hiện những nhiệm vụ của cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng và giải quyết những vấn đề cơ bản của khoa học lịch sử, vừa phải góp phần thiết thực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Điều quan trọng nhất của sử học giai đoạn này là làm thế nào để sử học vừa đảm bảo tính khách quan khoa học vừa phục vụ trực tiếp sự nghiệp cách mạng của đất nước

Ngày 2-12-1953, Ban Bí thư Trung ương Đảng Việt Nam ra quyết định thành lập Ban nghiên cứu Lịch sử-Địa lý-Văn học trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng gọi là Ban nghiên cứu Sử-Địa-Văn Cùng với việc thành lập Ban nghiên cứu Sử-Địa-Văn, tập san Sử-Địa-Văn cũng ra đời

Chủ trương thành lập Ban nghiên cứu Lịch sử-Địa lý-Văn học của Trung ương Đảng ngay trong thời kỳ kháng chiến đã đáp ứng một yêu cầu cấp thiết của cán bộ và nhân dân, góp phần vào việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước

và chủ nghĩa quốc tế vô sản, đồng thời cũng đáp ứng được một phần yêu cầu

Trang 10

của nhiều bạn quốc tế, nhất là những bạn trong phe xã hội chủ nghĩa, muốn tìm hiểu về lịch sử, văn học, địa lý Việt Nam

Việc thành lập Ban nghiên cứu Sử-Địa-Văn là bước phát triển lớn nhất của khoa học xã hội nước ta từ sau cách mạng tháng Tám Đây là tổ chức đầu tiên lớn nhất của ba ngành xã hội Việt Nam Nó kế thừa những tổ chức và thành tựu trước đó của hoạt động văn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng và đặt cơ sở cho việc thành lập các tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội sau này ở nước ta

Từ cuối năm 1953 đến giữa năm 1957, Ban nghiên cứu Sử-Địa-Văn đã

có những hoạt động đầu tiên rất quan trọng, đã tổ chức một số cuộc hội thảo

khoa học về lịch sử Cuộc hội thảo „„Vấn đề ruộng đất và vai trò nông dân

trong lịch sử‟‟ được tổ chức ở Tân Trào-Tuyên Quang Kết quả của hội thảo

được công bố trên tập san Sử, Địa, Văn số 2-1954 Một công việc có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động khoa học của Ban nghiên cứu Sử-Địa-Văn là bắt đầu biên tập các bộ tài liệu tham khảo về lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp từ 1858 đến 1945 Một vài công trình sử học có giá trị được tổ chức biên

soạn, đáng kể nhất là cuốn „„Vài nhận xét về thời kỳ cuối nhà Lê đến nhà

Nguyễn Gia Long‟‟ của Nguyễn Khánh Toàn Tác giả đã vận dụng những

quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin vào nghiên cứu một thời kỳ phức tạp ở Việt Nam và đề xuất một số ý kiến về lý luận như nguyên nhân dẫn đến sự hình thành dân tộc Việt Nam

Cuối năm 1954, Ban nghiên cứu Lịch sử-Địa lý-Văn học đổi thành Ban nghiên cứu Văn-Sử-Địa Sau khi tiếp quản Thủ đô, Đại học Văn khoa được thành lập trong đó có khoa Ngữ văn và Khoa Sử-Địa Năm 1956 trên

cơ sở Trường Đại học Văn khoa, thành lập các Trường Đại học Tổng hợp

Hà Nội và Đại học sư phạm Hà Nội, trong các Trường Đại học này có Khoa lịch sử làm nhiệm vụ đào tạo cán bộ sử học đồng thời cũng là những cơ quan nghiên cứu lịch sử

Trang 11

Ban nghiên cứu Văn-Sử-Địa tồn tại trong gần 5 năm (12/1953-3/1958)

và có nhiều thành tích đáng kể: xuất bản 36 đầu sách, có đầu sách gồm nhiều

tập như bộ Lịch sử 80 năm chống Pháp, Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng

cận đại Việt Nam…Các công trình đồ sộ của ông cha để lại bằng Hán văn đã

được dịch ra tiếng Việt và in ấn phổ biến rộng rãi như Khâm định Việt sử

thông giám cương mục, Đại Nam thực lục tiền biên và chính biên, Đại việt sử

ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí

Cùng với 36 đầu sách là 46 số Tập san Văn-Sử-Địa với gần 300 bài nghiên cứu ra từ tháng 6-1954 đến tháng 1-1959

Ban nghiên cứu Văn Sử Địa đã làm tròn nhiệm vụ của mình trong giai đoạn từ khi thành lập đến hết năm 1959 Khi thực tế đất nước có nội dung phong phú hơn, những nhiệm vụ chung đề ra cũng cao hơn, những đòi hỏi của cách mạng, của nhân dân đối với mặt trận công tác tư tưởng, trong đó ngành

sử học là một bộ phận trọng yếu cũng cao hơn Cho nen phải có một tổ chức với một trách nhiệm cao hơn Ban nghiên cứu Văn Sử Địa

Ngày 6-2-1960, Viện Sử học trực thuộc Ủy ban khoa học Nhà nước được thành lập Viện có nhiệm vụ “căn cứ vào đường lối của Đảng và Chính phủ nghiên cứu lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà, góp phần vào cuộc đấu tranh cho hòa bình và chủ nghĩa xã hội thế giới” (theo Quyết định số 039/TTg ngày 6-2-1960 của Thủ tướng Chính phủ) Là

cơ quan nhà nước, Viện Sử học ngoài nhiệm vụ nghiên cứu của mình còn là trung nghiên cứu sử học của cả nước, tập hợp lực lượng sử học, trao đổi kinh nghiệm, phân công, phối hợp trong mọi công tác

Việc thành lập Viện sử học ở Ủy ban Khoa học Nhà nước là một sự kiện quan trọng đối với các ngành khoa học xã hội nói chúng, đối với ngành

sử học nói riêng Sự quan trọng đó là ở chỗ: nó tạo nên cái cơ sở đầu tiên cho chúng ta đi vào việc xây dựng ngành sử học Việt Nam theo tinh thần khoa học

Trang 12

Cùng với Viện Sử học, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử kế tục công việc nghiên cứu lịch sử của Tập san Văn-Sử-Địa, đã đăng tải nhiều công trình

nghiên cứu có giá trị đặc biệt là từ các cuộc hội thảo quan trọng như:“Thời

đại Hùng vương trong lịch sử”, “Sự hình thành dân tộc Việt Nam”, “Việt Nam có chế độ chiếm hữu nô lệ hay không”, “Phương thức sản xuất châu Á

ở Việt Nam”, các vấn đề về phương pháp luận sử học, đánh giá các nhân vật lịch sử…

Cũng từ năm 1960, một số cơ quan nghiên cứu thuộc lĩnh vực sử học cũng lần lượt ra đời như: Viện Khảo cổ học, Viện dân tộc học, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Ban lịch sử dân tộc và Ban nghiên cứu lịch sử Đảng của các tỉnh Khoa sử các trường Đại học Vinh, Việt Bắc…

Thời kỳ 1954-1975, sử học miền Bắc đã đạt được các thành tựu như sau:

Việc nghiên cứu vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam: Các nhà sử học

đã phối hợp với các nhà khảo cổ học, ngôn ngữ học, dân tộc học, nhân chủng học, văn học dân gian tiến hành xác minh và nêu nhiều luận cứ khoa học quan trọng Khảo cổ học bằng các di vật khai quật đã chứng minh nhiều nền văn hóa có nguồn gốc bản địa

Trong nửa cuối những năm 50 và đầu 60, các nhà sử học Việt Nam đã phê phán những luận điểm sai trái của nguồn gốc dân tộc Việt Nam và chứng minh rằng nguồn gốc các dân tộc Việt Nam chủ yếu là cư dân bản địa lâu đời

tiếp đó từ cuối những năm 60 trở đi, “Thời đại Hùng Vương” trở thành một

đề tài khoa học hấp dẫn các nhà nghiên cứu lịch sử trong những năm

1968-1971, kết quả nghiên cứu thời đại Hùng Vương được trình bày ở 4 hội nghị khoa học (1968, 1969, 1970, 1971) và công bố trong 4 tập kỷ yếu có tên

chung Hùng Vương dựng nước và trên các tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Khảo

cổ học, Dân tộc học, Ngôn ngữ học… Các kết quả nghiên cứu đã xác định cấu trúc xã hội, trạng thái kinh tế, văn hóa, sinh hoạt, phong tục tập quán của thời đại Hùng Vương và khẳng định đó là một thời đại có thực chứ không chỉ là

Trang 13

thời đại truyền thuyết hay thần thoại mà sử sách trước kia còn ghi lại để tồn nghi Sử học đã chứng minh rõ đó là giai đoạn đầu của sự nghiệp dựng nước của dân tộc ta với sự xuất hiện Nhà nước đầu tiên cũng như sự xuất hiện nền văn minh đầu tiên của dân tộc ta là nền Văn minh Sông Hồng mà văn hóa Đông Sơn là tiêu biểu

Vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam: từ năm 1955, sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, giới sử học miền Bắc nước ta đã tiến hành nghiên cứu và thảo luận sôi nổi vấn đề này Nhiều công trình nghiên cứu đã được đăng trên tập san Văn Sử Địa, tập san Đại học sư phạm, tạp chí Nghiên cứu

lịch sử Từ sau năm 1965, do yêu cầu biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam (tập 1),

cuộc thảo luận lại tiếp tục diễn ra sôi nổi Số người tham gia đông đảo bao gồm các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Nhiều nhà nghiên cứu thay đổi quan điểm Quan điểm được nhiều người tán thành là: Dân tộc Việt Nam đã hình thành từ rất sớm, trước chủ nghĩa tư bản, trong điều kiện một lãnh thổ thống nhất, một ngôn ngữ Việt Nam thống nhất, một nền văn hóa Việt Nam thống nhất và mãnh liệt, một tình cảm yêu nước thương nòi đậm đà sâu sắc Tất cả đã gắn bó đất nước Việt Nam làm một, con người Việt Nam làm một, dân tộc Việt Nam làm một Vấn đề còn lại là thời điểm hình thành Có người cho rằng dân tộc Việt Nam hình thành từ thời Hùng Vương, có người cho là thế kỷ X, XI, có người xác định là thế kỷ XV…

Vấn đề các hình thái kinh tế xã hội Việt Nam: Cuộc thảo luận “Việt

Nam có chế độ chiếm hữu nô lệ hay không” diễn ra sôi nổi trong những năm

1957-1960 trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử và trong nhiều cuộc hội thảo khoa học (đặc biệt là cuộc hội thảo năm 1966) Có hai quan điểm trái ngược nhau giữa những người chủ trương có và những người chủ trương không có chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam Phần lớn ý kiến cho rằng, ở Việt Nam không lúc nào tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ điển hình (kiểu châu Âu) nhưng có tồn tại loại hình đặc biệt là nô tỳ Tuy vậy nô tỳ không đóng vai trò lực lượng sản

Trang 14

xuất chính trong xã hội, do đó không đủ cứ liệu để xác minh là đã có chế độ chiếm hữu nô lệ thực sự ở Việt Nam

Cuộc thảo luận về chế độ phong kiến Việt Nam sôi nổi nhất ở việc xác định thời điểm khởi đầu của sự phong kiến hóa xã hội Việt Nam Điều đã được thống nhất là xác định được giai đoạn phát triển của chế độ phong kiến với Văn minh Đại Việt bắt đầu từ thế kỷ X, XI trở đi, mà đặc trưng của nó là

sự phát triển mạnh mẽ của ý thức dân tộc, sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội cùng với những chiến công oanh liệt chống ngoại xâm Tuy vậy, một số nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước còn cho rằng, nếu nghiên cứu theo khái niệm phương thức sản xuất châu Á thì sẽ rõ hơn là nghiên cứu theo khái niệm phong kiến, bởi vì nội dung phong kiến thích hợp với phương Tây hơn

là phương Đông

Đến giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến, ý kiến còn phân tán: Nên lấy thời điểm nào làm mốc, thế kỷ XVI, XVII hay thế kỷ XIX Nếu không có những thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa nảy sinh thì lấy gì làm nhân tố bên trong đã phá vỡ chế độ phong kiến dẫn nó đến suy tàn

Xác định hình thái kinh tế xã hội thời thuộc Pháp cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho đó là chế độ thuộc địa phong kiến, có ý kiến tán thành khái niệm thuộc địa nửa phong kiến, có ý kiến gọi đó là chế độ thuộc địa

Kinh tế dân chủ nhân dân cũng được nhiều người nghiên cứu chú ý Vấn đề đặt ra là đặt nó vào phạm trù nào của hình thái kinh tế-xã hội: Hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa hay là một hình thái trung gian riêng biệt

Vấn đề ruộng đất và phong trào nông dân trong lịch sử Việt Nam: vấn

đề này đã được đặt thành trọng tâm nghiên cứu ngay khi Ban nghiên cứu Lịch sử-Địa lý-Văn học được thành lập Trong hơn 20 năm nghiên cứu vấn đề ruộng đất và phong trào nông dân, các nhà sử học miền Bắc đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề, trước hết là các chế độ sở hữu ruộng đất, từ quyền sở hữu của Nhà nước, quyền sở hữu của làng xã, quyền sở hữu phong kiến, quyền sở hữu của nông dân cá thể đến các chế độ sở hữu nửa công nửa tư như lộc điền, tự

Trang 15

điền, hậu điền…Đặc biệt là chế độ ruộng công có quan hệ tới sự tồn tại dai dẳng của tàn dư công xã nông thôn và việc khẩn hoang trong lịch sử đã được nhiều người nghiên cứu

Trên cơ sở các quan hệ sở hữu và chiếm hữu ruộng đất, các mâu thuẫn giai cấp đã phát sinh và phát triển, cuộc đấu tranh giai cấp giữa nông dân và phong kiến ngày càng tăng lên Trong lịch sử dân tộc, đã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa nông dân Trong các thời kỳ bị ngoại xâm thống trị thì khởi nghĩa nông dân chống phong kiến luôn kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc Một số công trình đã bước đầu phân tích lý giải nguồn gốc, đặc điểm, tính chất và tác dụng của các cuộc khởi nghĩa nông dân Những công trình nghiên cứu về ruộng đất và nông dân sẽ đóng góp vào việc đánh giá vai trò của nông dân của nước ta trong cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam và công cuộc hợp tác hóa của nông thôn miền Bắc.v.v

Về truyền thống chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam trong lịch sử: Trong lĩnh vực này giới sử học đã đạt được nhiều thành quả hơn cả Đã có khoảng gần 30 công trình được in thành sách và trên 600 bài nghiên cứu được công bố Các công trình đã đạt được nhiều kết quả trên lĩnh vực tài liệu-sự kiện, về những khái quát kết luận khoa học phản ánh nhu cầu cấp thiết của thời kỳ 1954-1975 là nghiên cứu những cuộc khủng hoảng, những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để rút ra những bài học kinh nghiệm cho hiện tại và khơi dậy truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc Tuy nhiên trong thời

kỳ 1954-1975 các nhà sử học tập trung nhiều vào nghiên cứu những cuộc chiến trong giải phóng và chiến tranh giữ nước thời phong kiến, những phong trào chống Pháp trước cách mạng tháng Tám mà chưa có nhiều công trình nghiên cứu về kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Việc nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam: Vấn đề nghiên cứu này được đặt ra từ sau khi Ban nghiên cứu Lịch sử-Địa lý-Văn học thành lập và được triển khai mạnh mẽ sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng Yêu cầu

Trang 16

nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ một vấn đề trong lịch sử thời cận đại, hiện đại mà còn đáp ứng những yêu cầu về nghiên cứu lịch sử Đảng, về xác định vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp công an thông qua chính Đảng của nó

Việc nghiên cứu giai cấp công nhân và phong trào công nhân ở Việt Nam rất rộng lớn và phong phú đạt được nhiều kết quả Hàng chục cuốn sách, hàng trăm luận văn nghiên cứu về vấn đề này được công bố Các vấn đề chủ yếu được nghiên cứu là: nguồn gốc, quá trình hình thành, đặc điểm tính chất giai cấp Công nhân Việt Nam

Tuy nhiên, nhiều vấn đề phong trào công nhân Việt Nam từ sau cách mạng tháng tám, ở vùng tự do, ở miền Bắc, ở các vùng bị chiếm thời Pháp, thời Mỹ-ngụy, vấn đề liên minh công nông, quan hệ giữa phong trào công nhân và phong trào cộng sản quốc tế cần được nghiên cứu nhiều hơn, sâu hơn

Lịch sử các phong trào cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo: Phong trào xô viết nghệ tĩnh được nghiên cứu và công bố trong nhiều công trình ở cả Trung ương và địa phương Nghệ tĩnh, cả ở trong nước và ngoài nước Các công trình đã xác minh rõ sức mạnh của một phong trào quần chúng lần đầu tiên được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, những sáng tạo cách mạng của phong trào, tinh thần hy sinh anh dũng của quần chúng cách mạng trong đấu tranh và ý nghĩa tập dượt đầu tiên của cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng làm sáng tỏ ý nghĩa quốc tế của phong trào

Phong trào đấu tranh 1936-1939 được nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ cuộc tập dượt cách mạng lần thứ hai mang nhiều tính sáng tạo trong kết hợp đấu tranh dân chủ với đấu tranh dân tộc, đấu tranh công khai, hợp pháp với đấu tranh bí mật bất hợp pháp, kết hợp giải quyết yêu cầu dân tộc với nghĩa

vụ đoàn kết quốc tế chống phát xít, chống chiến tranh

Lịch sử cao trào cách mạng tháng Tám được triển khai một cách khá toàn diện: từ việc chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, ra sức xây dựng, chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ

Trang 17

trang đến quá trình khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa Các bài học kinh nghiệm của cách mạng tháng Tám được phân tích khá sâu sắc

Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tuy chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ đúng tầm vóc nhưng những nội dung cơ bản của cuộc kháng chiến đều đã được đề cập tới: chiến dịch Việt Bắc, chiến dịch Biên giới, chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, chiến thắng Điện Biên phủ…

Kháng chiến thắng lợi, Hiệp định Giơnevơ được ký kết Miền Bắc Việt Nam được giải phóng tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển

tư bản chủ nghĩa Những công trình sử học nghiên cứu về hai mươi năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam, về giai cấp công nhân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, về liên minh công nông, về giai cấp nông dân tập thể, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong sản xuất và chiến đấu…đã ra đời góp phần làm rõ hoạt động mọi mặt của miền Bắc trong thời kỳ 1954-1975

Ngay trong khói lửa chiến tranh, hàng chục công trình sử học đã đi sâu nghiên cứu vạch rõ bản chất của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ, những âm mưu, thủ đoạn và sự thất bại không thể tránh khỏi của chúng ở miền Nam Việt Nam Đồng thời nhiều công trình nghiên cứu cũng ghi lại những sáng tạo cách mạng, những phẩm chất anh hùng, những chiến công hiển hách của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

Về lịch sử thế giới: Việc nghiên cứu, phổ biến lịch sử thế giới đặc biệt

là lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã trở thành nhiệm vụ không thể thiếu của các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy và phổ biến lịch sử ở Việt Nam Trước hết là nghiên cứu giảng dạy và phổ biến lịch sử các nước Lào, Campuchia, các nước lớn như Liên Xô, Trung Quốc, Ấn độ, Mỹ…, các nước Đông Nam Á Phong trào giải phóng dân tộc ở Á, Phi, Mỹ La Tinh, phong trào không liên kết đặc biệt là phong trào giải phóng dân tộc có khuynh hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội đã được nhiều tác giả chú ý Trọng tâm nghiên cứu lịch sử thế giới được nhiều cơ quan tham gia nhất là phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trước

Trang 18

hết là lịch sử cách mạng tháng Mười, lịch sử xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác trong đó lịch sử cách mạng Cu Ba được đặc biệt chú trọng

Công tác sưu tập và công bố các nguồn sử liệu: Cùng với các ngành khảo cổ học, dân tộc học, sinh viên khoa Sử các trường Đại học đã phát hiện

và cung cấp nhiều nguồn tư liệu (hiện vật, truyền miệng, thành văn…) có giá trị được sử dụng vào nghiên cứu lịch sử Một thành tựu về công tác sử liệu thời kỳ này là việc sưu tầm, dịch thuật các tài liệu thành văn Trong tổng số hàng nghìn đầu sách lịch sử bằng chữ Hán-Nôm lưu trữ chủ yếu ở các thư

viện, các bộ sử có giá trị lớn trong lịch sử đã được dịch và xuất bản như: Đại

Việt sử ký toàn thư, Việt sử lược, Đại việt thông sử, Lê triều tạp kỷ, Lê quý

kỷ sự, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Việt sử tiêu án, Việt sử bị khảo, Nghệ An ký, Gia Định thành thông chí… Ngoài ra đã biên soạn và xuất bản 12 tập tài liệu tham khảo lịch

sử cận đại Việt Nam

Về lý luận sử học: Điểm lại quá trình nghiên cứu về lý luận sử học của giới sử học miền Bắc Việt Nam từ năm 1954-1975, có thể ghi nhận những hoạt động chủ yếu như sau:

Trong những năm 1954-1965, xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu về lý luận sử học Trên tạp chí nghiên cứu lịch sử và tiền thân là tập san nghiên cứu Văn-Sử-Địa thống kê được khoảng 50 bài viết về lĩnh vực này Điều đáng lưu ý là trong số đó có tới 18 bài trích dịch của các tác giả nước ngoài mà phần lớn là của các tác giả Trung Quốc (13/18) Số liệu này chứng

tỏ nhu cầu tìm hiểu về lý luận sử học trong giai đoạn 1954-1965 tương đối nhiều Một trong những phương pháp để nắm bắt tri thức lý luận sử học là dịch đăng bài viết của các tác giả nước ngoài Ở đây ta cũng lại thấy ảnh hưởng to lớn của tư tưởng sử học Trung Quốc đối với sử học Việt Nam trong giai đoạn 1954-1965

Trang 19

Vấn đề được bàn nhiều nhất trong giai đoạn này là xác định mục tiêu của sử học, tác dụng của sử học và cơ sở lý luận của sử học Vấn đề được nêu

lên không chỉ có ý nghĩa thuần túy về lý luận sử học mà còn để “đoạt tuyệt

với những ảnh hưởng của nền sử học cũ”

Năm 1966, trải qua trên mười năm hoạt động, bản thân khoa học lịch

sử Việt Nam nảy sinh yêu cầu cần phải cụ thể hóa và hệ thống hóa những vấn

đề phương pháp luận, chấn chỉnh những sai lầm đã xảy ra trong thực tiễn nghiên cứu, xuất phát từ yêu cầu đó, một cuộc thảo luận khá sôi nổi về phương pháp luận sử học đã diễn ra trong giới sử học miền Bắc Cuộc thảo luận thu hút đông đảo các nhà sử học tham gia 18 bài viết được đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử trong 2 năm 1966, 1967 Sáu bản báo cáo chính được

in thành cuốn“Mấy vấn đề phương pháp luận sử học” (Nxb KHXH.H.1967)

Nội dung phương pháp luận sử học được trình bày là: Đối tượng và nhiệm vụ của sử học; tính đảng và tính khoa học trong khoa học lịch sử; phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc trong nghiên cứu lịch sử; chủ nghĩa khách quan

và chủ nghĩa chủ quan trong công tác sử học; vấn đề phân kỳ lịch sử

Nội dung trên đây chưa phải là toàn bộ lý luận về phương pháp luận sử học mà “các vấn đề phương pháp luận đề xuất trong hội nghị này chính là xuất phát từ tình hình nghiên cứu sử học miền Bắc nước ta” 97, tr 6

Cuộc thảo luận về phương pháp luận sử học trong những năm 1966,

1967 đánh dấu một trình độ nhận thức mới về lý luận sử học của giới sử học miền Bắc Việt Nam Các vấn đề trình bày đã thể hiện được tư tưởng và nội dung cơ bản của phương pháp luận sử học Kết quả đạt được từ cuộc thảo luận dường như đã khiến các nhà sử học không trở lại đề tài phương pháp luận sử học trong nhiều năm sau đó

Nội dung chính của vấn đề lý luận sử học ở miền Bắc thời kỳ

1954-1975 sẽ được trình bày cụ thể trong các chương tiếp theo của luận văn

Trang 20

Chương 2

LÝ LUẬN VỀ ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ,

CHỨC NĂNG CỦA SỬ HỌC 2.1 Lý luận về đối tượng của sử học

Lý luận về đối tượng là bộ phận cơ bản trong hệ thống lý luận sử học Các nhà nghiên cứu nói chung không thể không biết đối tượng nghiên cứu của mình là gì Nhận biết được đối tượng mới có thể tìm ra con đường tiếp cận đối tượng và khám phá bản chất của đối tượng Đối tượng của sử học là lịch

sử nhưng lịch sử là gì đã là câu hỏi đã có nhiều cách lý giải trong giới sử học Việt Nam

Bài viết đầu tiên bàn luận tới đối tượng nghiên cứu của sử học là của nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Phong trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 20,

tháng 11/1966, với tiêu đề “Các nhà sử học cần phải lấy các vấn đề thời sự

quan trọng làm đối tượng nghiên cứu” Bài viết đặt vấn đề “có một số người

nghiên cứu sử học cho rằng lịch sử là cái đã qua cho nên chỉ có cái gì thuộc

về quá khứ thì mới có thể trở thành đối tượng nghiên cứu của nhà sử học được Lại cũng có một số người khác thì đồng ý là sử học có thể lấy các vấn

đề hiện đại làm đối tượng nghiên cứu nhưng lại thấy cái khó khăn là ở phía phương pháp Sử học có thể lấy các vấn đề có tính chất thời sự để nghiên cứu được không Nhà sử học nghiên cứu và viết các vấn đề có tính chất thời sự như thế nào? Đó là những câu hỏi được đặt ra và cần được thảo luận, giải đáp” 57, tr 2

Để chứng minh cho vấn đề thời sự quan trọng cũng là đối tượng nghiên cứu của sử học, tác giả đã luận giải như sau:

Thứ nhất, khoa học lịch sử là khoa học nghiên cứu về quá trình phát triển của sự vật và hiện tượng Sự vật, hiện tượng nào cũng có quá trình phát sinh, phát triển và kết thúc rồi bước kết thúc ấy lại làm nảy sinh một số quá trình mới Nhà sử học thông qua tài liệu nhiều mặt về quá trình phát sinh, phát triển và kết thúc của sự vật và hiện tượng ấy mà nghiên cứu lịch sử của nó

Trang 21

Như thế bất cứ một sự kiện gì đã phát sinh ra, nếu nó đã trải qua một giai đoạn phát triển nhất định dù là đã kết thúc hay chưa kết thúc thì đều có thể trở thành đối tượng nghiên cứu của nhà sử học Do đó đối tượng nghiên cứu những vấn đề thời sự của người nghiên cứu lịch sử rất rộng rãi

Thứ hai, đối với những sự kiện nào đó mới vừa nảy sinh và ở bước đầu phát triển ví như phong trào hợp tác hóa mới bắt đầu, phong trào cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh mới bắt đầu, chưa có một quá trình, chưa kết thúc, thì như thế những phong trào đó có thể trở thành đối tượng cho người nghiên cứu lịch sử được không Câu trả lời là có thể vì rằng đó tuy là những

sự kiện mới xuất hiện và chưa trải qua một giai đoạn phát triển, song nó cũng không phải là một sự kiện đột xuất, ngẫu nhiên, cô lập Nó xuất hiện ra là do những điều kiện lịch sử nhất định, những tiền đề nhất định, là do sự tiến triển của tình hình kinh tế, chính trị nước ta trong một khoảng thời gian nhất định Như thế là nó có một “quá khứ”

Thứ ba, không phải bất cứ vấn đề thời sự nào nhà sử học cũng có thể nghiên cứu theo ý nghĩa lịch sử của nó Những sự kiện cá biệt nào đó đều là

sự kiện thời sự, nó cũng thuộc lịch sử Nhưng lịch sử không phải là những sự kiện lẻ tẻ mà là tổng hợp những sự kiện lẻ tẻ đó, là tổng số của nó Cái tổng số

ấy biểu hiện bản chất của lịch sử Phương pháp lịch sử mô tả cả những chi tiết, những cái cá biệt ngẫu nhiên, những bước đường quanh co phức tạp của hiện thực song không có nghĩa là một sự kiện ngẫu nhiên nào đó đều là đối tượng có thể nghiên cứu được Trong trường hợp sự kiện ngẫu nhiện, cá biệt

có ảnh hưởng lớn tuy không phải là ảnh hưởng quyết định, ảnh hưởng đó có thể tốt, có thể xấu thì sự vật cá biệt ngẫu nhiên ấy lại có thể và cần phải trở thành đối tượng nghiên cứu của sử học

Tại cuộc hội thảo về phương pháp luận sử học năm 1966, nhà sử học Nguyễn Hồng Phong lại đề cập tới vấn đề đối tượng của sử học với nội dung

rộng rãi hơn, trong bài viết “Mấy vấn đề phương pháp luận sử học”, Ông

khẳng định bộ phận chính yếu nhất đó là lịch sử chính trị Ông viết “Thời gian

Trang 22

qua các nhà sử học của ta đã tập trung chú ý làm nổi bật một đặc trưng cơ bản, một mặt chủ yếu của lịch sử dân tộc là cuộc đấu tranh chính trị (chống ngoại xâm và chống bọn phản động trong nước) luôn luôn nổi bật lên hàng đầu và tác động mạnh mẽ đến các mặt hoạt động khác của xã hội Sự chú ý đến mặt đấu tranh chính trị của lịch sử nước ta là hoàn toàn cần thiết và chính đáng Những điều ấy phù hợp với yêu cầu của cuộc đấu tranh trước mắt…”97, tr 22

Mặt khác, tác giả nhấn mạnh tới lịch sử kinh tế trong nghiên cứu lịch

sử, đó là, trong giai đoạn cách mạng này, nếu truyền thống đấu tranh yêu nước và cách mạng của nhân dân trong quá khứ có tác dụng cổ động cho sự nghiệp đấu tranh chống Mỹ, cứu nước như thế nào thì truyền thống lao động cần cù, dũng cảm và thông minh của nhân dân trong lịch sử cũng có tác dụng tích cực to lớn đối với sự nghiệp xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa của chủ nghĩa xã hội của nhân dân như thế Việc cần chú trọng đến lịch sử kinh tế, lịch sử sản xuất không những là do yêu cầu của thời kỳ kiến thiết chủ nghĩa

xã hội mà còn do thực tế khách quan của lịch sử nước ta Đồng thời, ông cũng chỉ ra ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu lịch sử kinh tế: Về mặt phương pháp luận, việc không chú ý đầy đủ đến việc nghiên cứu lịch sử kinh tế

sẽ tạo điều kiện cho chủ nghĩa chủ quan phát triển trong sử học Hay cũng có thể nói trong một số trường hợp nhất định, tình trạng thiên lệch ấy cũng lại là một biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan Nó vi phạm tính hoàn chỉnh của lịch sử, trở ngại cho việc tìm hiểu bộ mặt chân thực của lịch sử, cũng trở ngại cho việc phát hiện ra những quy luật lịch sử chính xác

Tác giả Nguyễn Hồng Phong cũng trở lại vấn đề thời sự có phải là đối tượng của sử học không và ông tiếp tục khẳng định quan điểm của mình, đối tượng của sử học là các sự kiện của quá khứ, của lịch sử phát triển xã hội Nhưng vấn đề là thế nào là quá khứ: quá khứ có thể là một sự kiện ngày hôm qua, mà cũng có thể là từ trăm năm hay nghìn năm về trước Về mặt lý luận, thừa nhận rằng nghiên cứu một sự kiện vừa xảy ra, đang còn là thời sự khó

Trang 23

hơn là nghiên cứu một sự kiện đã đi hẳn vào quá khứ Vì rằng cái đã đi hẳn vào quá khứ là cái đã trải qua một quá trình phát triển của nó Mọi nhân tố đã

rõ ràng ổn định Còn thời sự là cái đang diễn biến, chưa kết thúc, mọi nhân tố còn đang hoạt động Nếu nhà sử học chỉ khoanh vùng cho mình những sự kiện đã phủ bụi thời gian, hay đợi đống lửa trở thành tro tàn nguội lạnh mới nghiên cứu là tự mình từ bỏ một lĩnh vực ở đó mình có thể phát huy tác dụng tốt, từ bỏ một lợi khí tư tưởng sắc bén, từ bỏ tham gia chiến đấu trực tiếp và tức thời trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt

Tác giả Đinh Xuân Lâm trong bài viết “Đối tượng của sử học và lịch sử

hiện tại” trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 93, năm 1966 cũng đồng tình với

ý kiến cho rằng lịch sử hiện tại (thời sự) là bộ phận rất quan trọng trong đối tượng sử học Tác giả cho rằng trong nghiên cứu lịch sử hiện tại, các nhà sử học mác xít có đủ khả năng, thừa dũng cảm và có nhiệm vụ nói lên sự thật Sự thật được nói ra đó sẽ phục vụ đắc lực cho sự nghiệp chiến đấu và cách mạng của chúng ta, góp phần tích cực vào việc cải tạo xã hội hiện tại cũng như thúc đẩy xã hội phát triển nhằm tới một tương lai tươi sáng Nghiên cứu tốt lịch sử hiện tại sẽ có tác dụng rất lớn trong việc cổ động quần chúng phát huy mạnh

mẽ vai trò sáng tạo của họ về mọi mặt

Tác giả đặt ra câu hỏi: “Tại sao từ một nhận thức đúng đắn như vậy đến thực hành trong công tác chuyên môn của chúng ta từ trước đến nay vẫn thiếu một sự thống nhất chặt chẽ Tại sao hiện nay những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử vẫn còn có tư tưởng ngại ngần do dự khi đi vào lịch sử hiện tại?” 35, tr 34

Tác giả đã phân tích, có tình trạng trên một số người cho rằng nghiên cứu lịch sử hiện tại có khó khăn về tài liệu Nhưng thực tế cho thấy khó khăn không phải ở chỗ thiếu tài liệu Cuộc sống chiến đấu và sản xuất sôi nổi của nhân dân đã và đang hàng ngày cung cấp cho người hiện tại biết bao sự việc

vô cùng phong phú và sinh động đòi hỏi phải đi sâu tìm hiểu Người nghiên cứu lịch sử hiện tại có thể vừa dựa vào kinh nghiệm sống trực tiếp của bản

Trang 24

thân vừa dựa trên một tổng thể tư liệu và chứng cứ vô cùng phong phú, trên

cơ sở đó khôi phục bầu không khí lịch sử của thời đại là một yếu tố tối cần thiết đối với bất cứ một công trình nghiên cứu lịch sử giá trị nào Một khó khăn trong nghiên cứu lịch sử hiện tại là đối với những tài liệu tối mật mà người nghiên cứu chưa thể tiếp cận thì cần nhất trí rằng không phải một lúc cần nghiên cứu tất cả và nghiên cứu là phải công bố ngay Người nghiên cứu vẫn có thể nghiên cứu hiện tại với những tài liệu có được trong tay, tuyệt đối không thể cầu toàn đến lúc có đủ tài liệu rồi mới nghiên cứu Công tác nghiên cứu lịch sử không phải “nhất thành vạn biến” mà là người sau nối tiếp người trước tiến dần tới một công trình hoàn bị Còn việc công bố toàn bộ hay công

bố đến mức nào kết quả nghiên cứu thì căn cứ vào lợi ích của cách mạng là nguyên tắc tối cao để quyết định

Cũng tại cuộc hội thảo về phương pháp luận sử học năm 1966, tác giả

Nguyễn Công Bình viết bài “Vấn đề đối tượng của sử học” Bài viết gồm hai

phần, phần thứ nhất “Hai quan niệm đối lập về đối tượng sử học” Trong phần này, tác giả đã phê phán quan niệm tư sản về đối tượng của sử học khi coi lịch sử chỉ là lịch sử của các cá nhân xuất chúng và đó là những sự kiện lịch sử rời rạc, tản mạn và tất nhiên được sắp xếp tùy theo ý chí chủ quan của nhà sử học Nguyên nhân là ở chỗ tuy sử học tư sản đã đề ra đối tượng

sử học là những sự vật có quan hệ tới người tức là các quan hệ xã hội về các mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng và cố gắng tìm mối quan hệ nhân quả trong các hiện tượng xã hội Nhưng vì lấy quan hệ tư tưởng làm nhân tố quyết định các quan hệ xã hội khác, họ không tìm được nguyên nhân thật sự quyết định chế độ chính trị, động cơ tư tưởng của con người, may ra họ mới tìm được mối quan hệ nhân quả bình thường của một số sự kiện, chứ không tìm được mối quan hệ nội tại giữa các sự kiện, tức không phát hiện được những quy luật khách quan của lịch sử

Khác với sử học tư sản, sử học mác xít coi lịch sử là một quá trình thống nhất và bị những quy luật chi phối, mặc dù quá trình đó cực kỳ phức

Trang 25

tạp và có rất nhiều mâu thuẫn Vậy đối tượng của khoa học lịch sử dứt khoát không thể chỉ là những hiện tượng lịch sử riêng rẽ, cô lập, không mang tính quy luật, những hiện tượng đã bị tách rời khỏi quá trình thống nhất của sự phát triển lịch sử, cũng không chỉ là những quy luật khái quát đã tước bỏ sự phát triển phong phú cụ thể của lịch sử thế giới, lịch sử từng dân tộc Từ lập luận trên, tác giả khẳng định “Đối tượng của khoa học lịch sử là quá trình phát triển thực tế của xã hội loài người cũng như của từng nước, từng dân tộc trong toàn bộ tính thống nhất, tính phức tạp, tính muôn màu muôn vẻ của nó, nói khác đi là sự chuyển biến cụ thể của các phương thức sản xuất trong lịch

sử thế giới, lịch sử từng dân tộc, là sự biểu hiện cụ thể phong phú cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử, là sự thể hiện một cách sinh động vai trò sáng tạo, quyết định của quần chúng nhân dân lao động đối với lịch sử” 97, tr 78

Phần thứ hai bài viết của tác giả Nguyễn Công Bình có tiêu đề về đối tượng của sử học nước ta ngày nay Sau khi điểm lại quá trình nghiên cứu qua hơn 10 năm của sử học nước ta, tác giả nhận định: Toàn bộ lịch sử Việt Nam

kể từ khi có một Nhà nước đầu tiên ra đời là lịch sử đấu tranh giai cấp Lý luận đấu tranh giai cấp soi đường cho chúng ta nghiên cứu một cách sáng tạo các giai đoạn lịch sử và sự kiện lịch sử Sử học nước ta đang cố gắng phác lại quá trình diễn biến cụ thể với những nội dung tính chất hình thức khác nhau của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc qua các giai đoạn lịch sử Ngoài ra, tác giả đã đề cập tới lịch sử kinh tế, lịch sử văn hóa, tư tưởng là những bộ phận quan trọng của sử học nhưng còn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ trong sử học nước ta

Tóm lại, từ quá trình diễn giải đối tượng của sử học của các tác giả, có

thể khái quát những điểm chính sau:

Thứ nhất, lịch sử - đối tượng của sử học được hiểu là toàn bộ hoạt động

của xã hội loài người trong quá khứ, cụ thể là quá trình phát triển của từng nước, từng dân tộc qua các biểu hiện về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng…

Trang 26

Thứ hai, lịch sử - đối tượng của sử học được diễn đạt với sự chi phối

của yếu tố triết học lịch sử, đó là sự chuyển biến cụ thể của các phương thức sản xuất trong lịch sử thế giới, lịch sử từng dân tộc, là sự biểu hiện cụ thể phong phú cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử, vai trò quyết định của quần chúng nhân dân lao động đối với lịch sử

2.2 Lý luận về nhiệm vụ, chức năng của sử học

Bài viết đầu tiên trên số 1 (tháng 6-1954) của Tập san nghiên cứu Sử

Địa Văn có tiêu đề “Khoa học lịch sử và công tác cách mạng” Bài viết đề cập

đến vai trò và nhiệm vụ của sử học đối với sự nghiệp cách mạng do Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo Bài viết như một sự chỉ dẫn cho những người làm công tác nghiên cứu lịch sử quán triệt vai trò, nhiệm vụ của sử học đó là:

Nghiên cứu khoa học lịch sử chính là để có phương hướng hành động,

để giải quyết những vấn đề cách mạng cụ thể, Khoa học lịch sử chính là khoa học hành động, khoa học chiến đấu, khoa học cách mạng Khoa học lịch sử giúp chúng ta xây dựng một lập trường cách mạng chính xác

Khoa học lịch sử không những giải quyết vấn đề nhận thức mà nó còn giải quyết cả những vấn đề tình cảm Nó làm cho ta càng yêu mến đất nước và càng kiên quyết bảo vệ lấy đất nước Yêu nước là yêu tất cả những cái gì tốt đẹp của quá khứ, hiện tại do bao nhiêu công sức lao động đã lập nên Có thấy cái tốt đẹp của quá khứ, hiện tại mới thấy được tương lai và mới càng hăng hái tin tưởng đem tất cả khả năng của mình tham gia vào cuộc chiến tranh ái quốc đang quyết liệt Sức mạnh nhất định thắng của dân tộc ta ngày nay là do

cả một quá trình phát triển lịch sử dân tộc xây dựng nên

Học tập lịch sử theo quan điểm khoa học sẽ giúp chúng ta xây dựng được tinh thần quốc tế vững mạnh Tinh thần ái quốc và tinh thần quốc tế của những người cách mạng là những động lực rất mạnh thúc dục họ hoạt động Khoa học lịch sử chính là khoa học góp vào việc rèn đúc cho chúng ta tinh thần ấy

Trang 27

Trên tập san Nghiên cứu lịch sử số 2 (tháng 4-1954), tác giả Nguyễn

Khánh Toàn có bài “Ngành sử học phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”,

bài viết đã đề cập tới nhiệm vụ của sử học ở những góc độ sau đây:

Mục đích chủ yếu của khoa học lịch sử tiên tiến là nắm được quy luật

để vận dụng đến cao độ động tác của nó, để phát huy đến cao độ những truyền thống cao quý và đẹp đẽ của dân tộc, đồng thời lấy những truyền thống đó để bồi dưỡng cho những thế hệ hiện tại và tương lai Như vậy là cung cấp cho họ một vũ khí tinh thần mạnh mẽ để phấn đấu cho một cuộc đời ngày càng ấm

no, hạnh phúc, để tiếp tục sáng tạo lịch sử ngày càng có ý thức, làm cho lịch

sử nước nhà ngày càng thêm phong phú và huy hoàng

Lịch sử là sự nghiệp của nhân dân, là do nhân dân sáng tạo ra Lịch sử không phải chỉ ghi chép những việc đã qua, như là những đồ cổ sắp xếp theo thứ tự trong viện bảo tàng, hay để nuôi dưỡng một tinh thần hoài cổ nghèo nàn và bất lực Lịch sử không chỉ hạn chế ở những biến cố chính trị hay quân

sự Lịch sử xây dựng trên cơ sở của đời sống xã hội về mọi mặt, trong đó nhân dân là động lực chính

Nếu lịch sử do quần chúng sáng tạo ra thì việc nghiên cứu phải dựa trên

sự tích cực tham gia của quần chúng Sử học phải trở thành một công cụ đấu tranh của quần chúng, cho nên những vấn đề lịch sử phải được phổ biến rộng rãi trong quần chúng

Tác giả Trần Huy Liệu trong bài viết “Mấy ý kiến về công tác sử học

của chúng ta”, đăng trên tập san Nghiên cứu lịch sử, số 3, tháng 5-1959, sau

khi “kiểm điểm sơ qua tình hình công tác sử học của ta hiện nay” đã chỉ ra những công việc của nhà sử học hiện tại:

Một là, đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênnin mà nghiên cứu, biên soạn lịch sử Việt Nam Trước tình hình hiện nay và khả năng của chúng ta, đối tượng nghiên cứu chủ yếu vẫn là lịch sử Việt Nam Phải nghiên cứu để nhận rõ qui luật tiến triển của lịch sử nói chung và đặc điểm của xã hội Việt Nam nói riêng Nắm vững được qui luật tiến triển của lịch sử và nhận rõ

Trang 28

được đặc điểm của xã hội Việt Nam, sẽ thấy được suy vong tất nhiên của chế

độ phong kiến và chế độ thực dân cũng như sự tiến lên tất yếu của chủ nghĩa

xã hội

Hai là, phê phán những quan điểm phản duy vật, phản lịch sử trong các tác phẩn, đặc biệt là các tác phẩm cận đại và hiện đại Công tác nghiên cứu lịch sử không đặt ngoài sự chiến đấu chung của giai cấp, của dân tộc Trong cuộc đấu tranh tư tưởng và trên cương vị công tác sử học, phải phê phán nghiêm khắc những quan điểm của giai cấp bóc lột, của thực dân phong kiến

và tư sản Tuy vậy, tiến hành việc phê phán, lại nên chú trọng đặc biệt đến những tác phẩm cận đại và hiện đại vì những tác phẩm này còn đương tương đối phổ biến và còn có ảnh hưởng trong nhân dân

Ba là, đứng trên cương vị công tác sử học để phục vụ cho cuộc đấu tranh thống nhất tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Để phục

vụ cho hai nhiệm vụ lớn kể trên, những người công tác sử học nhất định phải giành được thẳng lợi trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng

Bốn là, góp phần vào việc xây dựng một nền sử học mới Đây là một nhiệm vụ lâu dài Dân tộc ta có một nền văn hóa lâu đời trong đó có sử học Thừa hưởng vốn cũ của dân tộc, được soi sáng bằng duy vật sử quan, những cán bộ công tác trong lĩnh vực sử học phải cố gắng góp phần vào việc xây dựng nền sử học mới

Năm là, đào tạo cán bộ sử học Cách mạng Việt Nam phát triển không ngừng, công tác sử học cũng phát triển không ngừng Để phục vụ cho sự phát triển của cách mạng và của công tác sử học, việc đào tạo thêm cán bộ là một yêu cầu cấp thiết

Cũng trên tập san Nghiên cứu lịch sử, số 3, năm 1959, tác giả Minh

Tranh có bài “Sử học phải phục vụ cách mạng như thế nào”, tác giả đã đặt vấn

đề rằng: sử học nghiên cứu quá khứ, vậy thì để việc nghiên cứu quá khứ phục

vụ được thực tiễn cách mạng đang diễn ra trước mắt thì không thể cắt đứt hiện tại với quá khứ, cắt đứt thực tiễn cách mạng ngày nay với quá trình diễn biến

Trang 29

của các hội ngày hôm qua Cần phải hiểu hiện tại chính là sự tiếp nối Sự phát triển của quá khứ hay nói cách khác hiện tại là do các yếu tố tiêu cực của quá khứ cấu thành Không thể hiểu được hiện tại nếu không hiểu quá khứ

Sau khi điểm qua những công việc mà sử học Việt Nam đã làm được từ sau 1954, tác giả khẳng định: Nhiệm vụ của sử học là phải phục vụ thiết thực nhiệm vụ cách mạng Nó nghiên cứu những vấn đề trong phạm vi của nó để góp phần vào nhận thức những quy luật phát triển của xã hội, đặc biệt là xã hội Việt Nam đã dẫn đến tình hình hiện nay, do đó góp phần làm hiểu được những bước đường tiến tới của dân tộc ta, của xã hội trong tương lai Nhiệm

vụ ấy vinh quang nhưng có rất nhiều khó khăn mà những người làm công tác

sử học cần sẵn sàng khắc phục Nhưng nhiệm vụ cách mạng không phải là cái gì trừu tượng mà là những cái rất cụ thể Cho nên công tác sử học muốn phục vụ thiết thực cách mạng cũng không thể vượt ra khỏi phạm vi không gian và thời gian, trong đó có những nhiệm vụ cách mạng cụ thể nhất định được 89, tr 6-7

Cuối bài viết, tác giả kết luận “cách mạng là một cuộc chiến đấu gay

go, sử học phải là vũ khí của cách mạng, nó phải có tính chiến đấu, nó phải là một vũ khí của cách mạng Đúng như Nghị quyết Trung ương lần thứ 14 đề

ra, công tác sử học phải giúp ích thiết thực cho công cuộc phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hóa ở miền Bắc và công cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà Có như vậy, công tác sử học mới có lý do tồn tại” 89, tr 8

Trên tập san Nghiên cứu lịch sử số 8, 1959 có bài viết “Tích cực đẩy

mạnh việc học tập chủ nghĩa Mác-Lênnin một cách hệ thống trong cán bộ sử học” của Viện Sử học Việt Nam Bài viết đã đề cập tới vai trò, nhiệm vụ của

sử học ở những khía cạnh sau:

Nghiên cứu sử học không phải là “vì sử học” để thỏa mãn “đòi hỏi” của trí tuệ, vì “tò mò” hay chỉ đơn thuần vì tình cảm “uống nước nhớ nguồn” mà chủ yếu chính là vì hiện tại, vì tương lai để phục vụ cho nhiệm vụ cải tạo xã hội hiện tại Mục đích chủ yếu của khoa học lịch sử tiền tiến của chúng ta là nghiên cứu lịch sử để nắm được qui luật của lịch sử để có thể vận dụng nó

Trang 30

vào công cuộc đấu tranh cách mạng, công cuộc xây dựng xã hội mới Nghĩa là

sử học sẽ cung cấp cho thế hệ hiện tại và tương lai một võ khí tinh thần mạnh

mẽ để phấn đấu cho một cuộc đời hạnh phúc tươi đẹp

Sử học có thể giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng là vì lịch sử là quá trình phát triển khách quan của vật chất và các hình thái đặc thù của vật chất, cho nên lịch sử là môn học nói về sự phát triển Mỗi hiện tượng xã hội cũng như tự nhiên đều ở trong trạng thái vận động phát triển và biến hóa không ngừng, cho nên không thể hiểu được đối tượng nếu không nghiên cứu lịch sử của nó, không thể hiện được hiện tại nếu không hiểu quá khứ, không hiểu được quá trình của nó

Nghiên cứu lịch sử làm nổi bật lên qui luật của lịch sử sẽ giáo dục thế giới quan Mác-Lênnin rất hiệu quả Cũng do đó mà khoa học lịch sử sẽ giúp vào việc giáo dục tư tưởng chính trị hiện đại, giúp mọi người hiểu rõ những vấn đề chiến lược và chiến thuật của chủ nghĩa Mác-Lênnin, vấn đề chính sách của Đảng Vì rằng chiến lược và chiến thuật cách mạng của Đảng, chính sách của Đảng không phải rút ra từ chủ quan của các nhà lãnh đạo Đảng mà xuất phát từ yêu cầu khách quan, từ qui luật phát triển khách quan của xã hội

Những bài viết trên đây xuất hiện trong những năm 1954-1959 và đều

là của những tác giả đang giữ cương vị lãnh đạo ngành sử ở miền Bắc Việt Nam Vì thế có thể dễ dàng nhận thấy mục đích chính của những bài viết này

là xác định cho người làm công tác sử học quan điểm lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin và hướng sử học vào phục vụ cho những nhiệm vụ chính trị trước mắt một cách thiết thực nhất

Cho đến năm 1966, tại cuộc hội thảo về phương pháp luận sử học, tác

giả Nguyễn Hồng Phong trong bài viết “Mấy vấn đề phương pháp luận sử

học” đã khái quát bốn nhiệm vụ chính của sử học như sau:

Một là, khôi phục sự thật lịch sử, phát hiện sự thật lịch sử, lặp lại sự thật lịch sử một cách chính xác, giúp cho người bây giờ hiểu được quá khứ chân thực của lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại Muốn khôi phục được sự thật lịch

Trang 31

sử, nhà sử học cần sưu tầm, xác định tài liệu, phải phân tích sự kiện, giải thích

sự kiện, vạch ra được nguồn gốc và mối liên hệ giữa sự kiện Nghĩa là vạch rõ được bản chất của các sự kiện, lý giải các sự kiện theo quan điểm lịch sử Đòi hỏi nhà sử học phải nắm được duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Hai là, nêu được sự thể hiện của quy luật phổ biến của lịch sử trong quá trình lịch sử cụ thể của các dân tộc và giai đoạn lịch sử Đây không phải chỉ là tìm dẫn chứng minh họa cho quy luật phổ biến mà chủ nghĩa duy vật lịch sử

đã tìm ra mà là làm sáng tỏ quy luật ấy thông qua sự biểu hiện phong phú cụ thể đầy phức tạp và mâu thuẫn của nó trong lịch sử xã hội

Bên cạnh đó, sử học còn có nhiệm vụ phát hiện và nghiên cứu về các quy luật đặc thù của cách mạng nước ta nghĩa là những quy luật xuất hiện và phát huy tác dụng trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và xã hội chủ nghĩa các nước nông nghiệp lạc hậu chưa qua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa…

Quy luật đặc thù không phải là quy luật chỉ có ở một nước nào đó mà chỉ của riêng nước đó Những quy luật đặc thù của cách mạng Việt Nam mà Đảng ta đã tổng kết không phải chỉ có tính chất Việt Nam và chỉ áp dụng ở Việt Nam Cho nên nhiệm vụ của các nhà sử học là phải góp phần cùng các nhà khoa học xã hội khác tìm hiểu nghiên cứu cái quy luật đặc thù của lịch sử phát triển xã hội Việt Nam, của cách mạng Việt Nam

Ba là, sử học có nhiệm vụ nghiên cứu sự tác động của quy luật phổ biến trong những điều kiện riêng biệt của xã hội nước ta

Mỗi quy luật chung của xã hội khi tác động trong thực tiễn của lịch sử mỗi nước, không bao giờ thể hiện “thuần túy” như trong lý luận Lịch sử tất

cả các nước trên thế giới đều phát triển theo các quy luật chung nhưng mỗi nước lại có những điểm khác rất phong phú và phức tạp Từ chỗ nắm được quy luật chung đến chỗ nắm được vận động của nó trong thực tế cụ thể là cả một bước khó khăn đòi hỏi nhiều hiểu biết và công phu nghiên cứu Cho nên nhiệm vụ nghiên cứu sự tác động của quy luật lịch sử trong các điều kiện cụ

Trang 32

thể riêng biệt mỗi nước là một nhiệm vụ khoa học khó khăn và cũng có ý nghĩa rất quan trọng

Bốn là, sử học có nhiệm vụ tổng kết lý luận những kinh nghiệm lịch sử

Sử học cần phối hợp với các nhà triết học cùng nghiên cứu và giải đáp các vấn đề có tính chất lý luận là: thế nào là quy luật đặc thù của lịch sử, vấn đề quy luật đặc thù và hình thức đặc thù của quy luật phổ biến Thế nào là kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm lịch sử có phải là quy luật đặc thù không Cái chung và cái riêng trong kinh nghiệm lịch sử Thế nào là tính lặp lại trong lịch

sử, kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã giải quyết vấn đề này như thế nào

Nhiệm vụ tổng kết lý luận về mặt lịch sử là nhiệm vụ lớn nhất, nhiệm

vụ chủ yếu của sử học

Tác giả Chiêm Tế trong bài viết “Khắc phục khuynh hướng hiện đại

hóa lịch sử, một biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan trong công tác nghiên cứu

sử học của chúng ta” trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 95, năm 1967 đã

vạch ra nguyên nhân của khuynh hướng hiện đại hóa lịch sử là ở chỗ không nhận thức đẩy đủ mục đích và nhiệm vụ của sử học Từ đó đã diễn đạt mục đích và nhiệm vụ của sử học như sau:

Mục đích và nhiệm vụ của khoa học lịch sử là phát hiện những qui luật của xã hội, tổng kết những kinh nghiệm của quá khứ, rút ra những bài học lịch sử để phục vụ chủ yếu của hiện tại và tương lai

Nói một cách khác nghiên cứu lịch sử là nhằm mục đích đem sử học phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng đề ra trước mắt chúng ta, tức là lấy cái xưa phục vụ cái đời nay Phương châm đó là biểu hiện của sự thống nhất cao độ giữa tính khoa học và tính cách mạng, tính đảng của nền sử học mác xít

Sử học mác xít công khai tuyên bố lấy việc phục vụ sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản làm phương hướng và nhiệm vụ cơ bản của mình

Sở dĩ làm được như vậy là vì sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản và qui luật phát triển khách quan của lịch sử là hoàn toàn nhất trí với nhau

Trang 33

Tóm lại, các bài viết trên đây đã trình bày khá nhiều ý kiến về mục

đích, nhiệm vụ, vai trò, chức năng của sử học Tựu trung lại có thể qui nạp vào hai nội dung chính là: Những diễn giải về chức năng của sử học và những diễn giải về nhiệm vụ của sử học

Về chức năng của sử học, các ý kiến tập trung vào 2 điểm:

Thứ nhất là chức năng nhận thức: Sử học mang lại cho con người tri thức lịch sử, đó là những hiểu biết về quá khứ Những hiểu biết này là cơ sở

để con người luận giải các vấn đề của xã hội hiện tại và dự đoán sự phát triển của xã hội trong tương lai

Thứ hai là chức năng giáo dục: Sử học khảo cứu quá khứ, mang lại những tấm gương, những giá trị truyền thống, những bài học kinh nghiệm cho con người hiện tại và xã hội tương lai

Về nhiệm vụ của sử học, có thể qui nạp thành 4 nhiệm vụ chính:

Thứ nhất, sử học có nhiệm vụ khôi phục lịch sử một cách chân thực, giúp mọi người nhận diện lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc đúng đắn

Thứ hai, sử học có nhiệm vụ giải thích, đánh giá lịch sử một cách khách quan Chứng minh được sự vận hành của các qui luật phổ biến và qui luật đặc thù trong tiến trình lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc

Thứ ba, sử học phải tìm được trong lịch sử những tấm gương, những giá trị, những bài học kinh nghiệm, giúp con người hiện tại hoàn thiện nhân cách đạo đức phẩm chất, giúp xã hội hiện tại lựa chọn được phương hướng phát triển đúng đắn hợp qui luật

Thứ tư, sử học có nhiệm vụ phục vụ thiết thực cho sự nghiệp cách mạng, cho những yêu cầu của cách mạng

Trang 34

Chương 3

LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP SỬ HỌC 3.1 Về tính khoa học và tính đảng trong sử học

Trong giai đoạn 1954-1975, nghiên cứu về tính đảng và tính khoa học trong sử học tuy có số lượng bài viết không nhiều nhưng luôn được coi là nội dung trọng tâm của phương pháp luận sử học

Tháng 6 năm 1963, trong tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 51, hai tác giả

Trung Thực và Hồ Hải viết bài “Mối quan hệ giữa tính đảng và tính khoa học

trong việc nghiên cứu lịch sử Đảng” Bài viết chỉ rõ, trong công tác nghiên

cứu khoa học xã hội nói chung và công tác nghiên cứu lịch sử Đảng nói riêng, tính đảng và tính khoa học luôn luôn kết hợp chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau Nếu đem tách rời hoặc đối lập hai tính chất đó thì nhất định không tránh khỏi những sai lầm trong khi biên soạn và giảng dạy lịch sử Đảng; Quán triệt tính đảng và tính khoa học là phải đứng trên lập trường và quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin để phân tích lịch sử Đảng, giải thích những quy luật lịch

sử mà Đảng ta đã nhận thức và vận dụng trong khi lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh cách mạng; qua đó rút ra những bài học lịch sử thành công cũng như thất bại để làm phong phú lý luận cách mạng của Đảng ta và góp phần vào kho tàng kinh nghiệm của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Hai tác giả Trung Thực và Hồ Hải khẳng định, tính đảng và tính khoa học trong công tác nghiên cứu lịch sử Đảng là thống nhất: tính đảng của giai cấp vô sản chẳng những không hạn chế mà còn hoàn toàn bảo đảm cho người làm công tác nghiên cứu lịch sử Đảng nhận thức hiện thực, tìm hiểu và phân tích quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta một cách khách quan, toàn diện và do đó đúng đắn nhất Cho nên chỉ có quan điểm của giai cấp vô sản mới là quan điểm khoa học nhất Thấm nhuần tính khoa học không phải là chỉ nói lên một cách khách quan về sự diễn biến của những sự kiện lịch sử

mà thôi Thầm nhuần tính đảng không có gì khác với sự thấm nhuần tinh

Trang 35

thần khoa học của chủ nghĩa duy vật lịch sử Tính đảng hoàn toàn không giống với những thiên kiến có tính chất biệt phái, cũng không phải chỉ tán dương một chiều mọi chủ trương của Đảng trong lịch sử Những cương lĩnh, chủ trương và hành động của một tổ chức, một cá nhân lãnh đạo nào đó đều được thực tiễn lịch sử chứng minh là đúng hay sai Tính đảng và tính khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin cho chúng ta phương pháp khoa học để chứng minh sự đúng đắn đó

Từ đó các tác giả đã phân tích về nguyên tắc tính đảng và tính khoa học, hai tác giả cho rằng, nguyên tắc tính đảng và tính khoa học đòi hỏi chúng

ta luôn đi sâu nghiên cứu để làm phong phú và chính xác những tài liệu lịch

sử và lý luận cách mạng của Đảng ta Nói cách khác chủ nghĩa duy vật biện chứng đòi hỏi phải thực hiện một cách nghiêm túc nguyên tắc thống nhất giữa

lý luận và thực tiễn, có nghĩa là không thể xem những chân lý khách quan, những kết luận về lịch sử là một cái gì hoàn toàn bất biến Sự bất biến của loài người về lịch sử là vô hạn, nhưng sự hiểu biết của mỗi thế hệ và mỗi cá nhân

là có hạn Chính sự phát triển của khoa học lịch sử đã khắc phục và giải quyết mâu thuẫn đó; Tính đảng và tính khoa học đòi hỏi người cán bộ nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng có một cách nhìn dứt khoát đối với các sự kiện lịch

sử, đứng hẳn trên lập trường của giai cấp công nhân để đánh giá những biến

cố lịch sử, đề cao vai trò của quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng như là một động lực chính thúc đẩy sự phát triển lịch sử

Qua phân tích về tính đảng và tính khoa học hai tác giả đi đến kết luận rằng “tính đảng và tính khoa học trong công tác nghiên cứu lịch sử Đảng là thống nhất, có như vậy mới tránh được tình trạng hoặc đem đối lập hai cái với nhau, hoặc nhấn mạnh một cách phiến diện mặt này hay mặt khác Không thể

có tính khoa học mà không bao gồm tính đảng, cũng như không thể có tính đảng mà không thể hiện tính khoa học trong đó Nếu chỉ nhấn mạnh tính khoa học mà xem nhẹ tính đảng, không khỏi sa vào chủ nghĩa khách quan tư sản phản khoa học Trái lại, nếu chỉ biết có tính đảng mà phủ nhận tính khoa học

Trang 36

thì không khỏi mắc vào bệnh cô độc hẹp hòi Nhận thức này đưa tới một kết luận là: tính khoa học và tính đảng tuy thống nhất nhưng không phải là một, không thể lấy cái nọ thay thế cái kia” 87, tr 15

Trung Thực và Hồ Hải đã phân tích quan điểm của Đảng đó là “Trung ương Đảng đã đề ra phương châm về tính khoa học và phương châm về tính đảng làm hai phương châm riêng nêu lên hàng đầu Phương châm thứ nhất nhấn mạnh cơ sở khoa học tức là lý luận và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin Phương châm thứ hai nêu cao tính đảng trong mọi mặt công tác nghiên cứu lịch sử Đảng Phương châm thứ ba bảo đảm tính chân thực và chính xác của các tài liệu biên soạn lịch sử Đảng, có thể coi là biểu hiện sự thống nhất giữa tính khoa học và tính đảng Mọi sự xuyên tạc đối với lịch sử Đảng, dầu là cố ý hay vô tình đều trái với tính đảng và tính khoa học Bọn

sử gia tư sản phản động cố tình xuyên tạc lịch sử để nói xấu Đảng và đả kích quần chúng cách mạng Sử học mác-xít cần lột trần sự xuyên tạc của chúng Nhưng cũng có những cán bộ sử học của ta, vì thiếu thái độ khoa học, thiếu cách làm việc khoa học, hoặc vì chưa quán triệt đầy đủ tính đảng, có khi nhấn mạnh một mặt không chủ yếu nào đó mà xem nhẹ mặt chủ yếu của lịch

sử, có khi dựa vào những tài liệu không đúng, không toàn diện nên vô tình

đã trình bày sai sự thật lịch sử Đảng Vì vậy, bảo đảm tính chân thật của tài liệu biên soạn, giảng dạy tức là bảo đảm tính khoa học và tính đảng trong công tác sử học” 87, tr.15

Trong bài viết “Mấy điều suy nghĩ về tính chất và phương pháp công

tác nghiên cứu lịch sử Đảng” của tác giả Hoàng Trung Thực, tạp chí nghiên

cứu lịch sử số 57, 12-1963 đã nêu lên quan điểm: trong cuộc đấu tranh cho chủ nghĩa cộng sản, Đảng mác-xít dựa vào quy luật phát triển của xã hội, dựa vào sự hiểu biết về quy luật ấy và vận dụng quy luật một cách tự giác để mưu lợi ích cho nhân dân Vì vậy, sử học mác-xít phản ánh trung thành và khách quan những sự kiện lịch sử, vạch ra tính tất yếu, phân tích nguyên nhân và động cơ phát triển của quá trình lịch sử Sử học mác-xít công khai nêu rõ lập

Trang 37

trường giai cấp và tính đảng của mình là đấu tranh cho sự thắng lợi cuối cùng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra một vấn đề mà một số cán bộ sử học thường vướng mắc, đó là vấn đề quan hệ giữa tính khoa học và tính đảng trong công tác nghiên cứu lịch Đảng, cụ thể như khi đề cao vai trò của Đảng thì không nói lên được tính thừa kế truyền thống dân tộc trong sự nghiệp của Đảng, hoặc ngược lại nhấn mạnh tính kế thừa ấy thì sự giảm nhẹ mất sự sáng tạo vĩ đại của Đảng; lúng túng giữa việc nêu cao sự anh dũng, sự sáng suốt của Đảng với việc phê bình những sai lầm trong quá khứ của Đảng; vướng mắc giữa việc tôn trọng và phát triển theo những điều mà Trung ương Đảng đã kết luận với việc phát hiện những cái mới, khác với kết luận của Trung ương.v.v

Tác giả Hoàng Trung Thực cũng cho rằng tính đảng và tính khoa học trong công tác nghiên cứu lịch sử Đảng cũng như trong các khoa học xã hội khác là thống nhất Về mặt tư tưởng và phương pháp, tính khoa học bao gồm

cả tính đảng trong đó Khi nói đến tính khoa học, thường thường người ta nghĩ ngay đến việc phản ánh thế nào cho được khách quan những sự kiện và quá trình lịch sử Nói đến tính đảng, người ta thường nghĩ ngay đến ý thức tổ chức trong việc phát biểu, truyền bá ý kiến này hay ý kiến nọ có phù hợp với đường lối hiện hành của Đảng hay không Điều đó quan trọng nhưng cũng từ chỗ đó một số cán bộ nghiên cứu khoa học đôi khi đem đối lập tính tổ chức với tính khoa học nên thấy lúng túng, vướng mắc

Khi phân tích về công tác nghiên cứu lịch sử Đảng, Hoàng Trung Thực

đã chỉ ra rằng “Đây là một môn khoa học xã hội, khác với các khoa học tự nhiên ở chỗ hiệu lực của nó trực tiếp động chạm đến cuộc đấu tranh giai cấp

mà Đảng ta đang tiến hành hàng ngày, vì vậy nó phải nghiêm chỉnh giữ tính

kỷ luật và ý thức tổ chức là một điểm quan trọng có ý nghĩa khoa học về việc xây dựng Đảng Mặt khác, cần nhận rõ ý thức tổ chức và kỷ luật chỉ là một điểm cơ bản trong tính đảng chứ không phải là toàn bộ tính đảng Tính đảng còn có một mặt cơ bản nữa là đấu tranh chống lại những quan điểm sai lầm,

Trang 38

phi khoa học hoặc phản khoa học, ngược lại với lợi ích của quần chúng nhân dân Bảo đảm tính chân thật và sự chính xác của các tài liệu biên soạn về lịch

sử Đảng là một phương châm quan trọng Phương châm này chính là sự kết hợp, sự thống nhất chặt chẽ giữa tính khoa học và tính đảng Chừng nào còn hiểu lầm về ý thức tổ chức và kỷ luật như một sự phục tùng thiếu tự giác, chừng nào còn hiểu lầm tính khách quan khoa học như một thứ khách quan siêu giai cấp thì chừng đó chúng ta còn sa vào sự lúng túng, đối lập tính đảng với tính khoa học trong việc nghiên cứu lịch sử Đảng Tính khoa học và tính đảng kết hợp lại tức là tính tự giác cao độ của giai cấp công nhân, của người mác-xít hiểu thấu quy luật tiến hóa của lịch sử Vì vậy, trong khi phục tùng một cách tự giác những kết luận của Trung ương, người cán bộ nghiên cứu lịch sử Đảng không hạn chế sự đi sâu tìm tòi cái mới và khi phát hiện một điểm mới khác với kết luận hiện hành của Trung ương thì họ cần tự đặt cho mình nhiệm

vụ chứng minh điểm mới ấy để góp phần làm phong phú lý luận về lịch sử Đảng, chứ không thủ tiêu ý kiến một cách vô nguyên tắc Đó chính là sự thể hiện sâu sắc nhất tính đảng của người nghiên cứu khoa học” 86, tr 13

Đến cuối tháng 6 năm 1966, Hội nghị về phương pháp luận vận dụng vào công tác sử học đã đánh dấu một bước tiến mới đáng chú ý Lần đầu tiên

có một hội nghị rộng rãi trao đổi về vấn đề phương pháp luận Hội nghị đã đề cập tới các nội dung cơ bản của phương pháp luận sử học trong đó có vấn đề tính đảng và tính khoa học trong sử học Tính đảng, tính khoa học là vấn đề

cơ bản không chỉ để soi sáng cho riêng khoa học lịch sử mà là vấn đề cơ bản tất cả các ngành khoa học, xã hội khác Hội nghị đã đánh giá khuyết điểm lớn của công tác sử học trong mười năm (1953-1963) là tính đảng, tính khoa học chưa cao, để từ đó rút kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu trong những năm tiếp theo

Bài nghiên cứu “Mấy vấn đề phương pháp luận sử học” của Nguyễn

Hồng Phong được trình bày trong Hội nghị, đã đề cập tới tính đảng và tính khoa học trong sử học

Trang 39

Theo ông, „„Sử học mác xít và sử học tư sản đều có tính đảng, chỗ khác nhau căn bản giữa hai thứ tính đảng đó là: tính đảng của giai cấp tư sản đối lập với tính khoa học, còn tính đảng của giai cấp vô sản thì thống nhất với tính khoa học Sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học của giai cấp vô sản thể hiện ngay trong chủ nghĩa Mác-Lênin Triết học Mác-Lênin vừa là thế giới quan của giai cấp vô sản đồng thời cũng là qui luật khách quan của tự nhiên và xã hội Lập trường của giai cấp vô sản, tức là quyền lợi giai cấp của

nó đồng thời cũng là sự phát triển khách quan của lịch sử‟‟ 97, tr 59

Tác giả Nguyễn Hồng Phong kết luận, tính đảng trong sử học tức là tính chiến đấu của nó Một công trình nghiên cứu sử học có tính đảng là phải thể hiện thế giới quan của giai cấp vô sản, quan điểm lập trường của giai cấp

vô sản, tức là phải đúng với chủ nghĩa Mác-Lênin, phải phù hợp với đường lối, chính sách Đảng tức là phù hợp với nhiệm vụ cải tạo xã hội cụ thể” và

“Một công trình sử học có tính đảng cũng đồng thời phải có tính khoa học Tức là tính chiến đấu của sử học không thể mâu thuẫn với tính chân thực của

nó Nếu tính chiến đấu của sử học toát ra từ nhiệm vụ của sử học là nhận thức

xã hội để cải tạo xã hội thì tính khoa học của sử học cũng gắn liền với nhiệm

vụ ấy Muốn cải tạo được xã hội thì phải nhận thức đúng về xã hội

Khi phân tích về tính chất giai cấp của khoa học xã hội, Nguyễn Hồng Phong đã phân tích như sau: Khoa học xã hội là một khoa học có giai cấp tính, có đảng tính sâu sắc Chỉ có giai cấp vô sản, giai cấp cuối cùng trong lịch

sử mà quyền lợi của nó phù hợp với quyền lợi của toàn nhân loại, nguyện vọng của nó phù hợp với yêu cầu khách quan của sự tiến bộ xã hội mới có thể phát minh ra quy luật phát triển của xã hội loài người Cho nên có thể nói khoa học về xã hội cũng là khoa học của giai cấp vô sản Thế giới quan của giai cấp vô sản là quy luật khách quan của lịch sử Đảng tính vô sản thống nhất với tính khoa học Do đảng tính của khoa học xã hội sâu sắc như vậy nên

sự ra đời của khoa học xã hội gắn liền với sự ra đời của giai cấp vô sản và cuộc đấu tranh cách mạng của nó

Trang 40

Trong Hội nghị về phương pháp luận năm 1966, bài nghiên cứu

“Nguyên tắc tính đảng và tính khoa học trong khoa học lịch sử” của tác giả

Lê Thái Hòa đã khẳng định: nguyên tắc tính đảng và tính khoa học là một trong những vấn đề mấu chốt của phương pháp sử học

Trong một xã hội có giai cấp “không thể có một khoa học xã hội vô tư được” Lê nin đề ra vấn đề trên đây là để nhấn mạnh rằng trong lĩnh vực khoa học xã hội, trong lĩnh vực tư tưởng, thoạt nhìn có vẻ trừu tượng, có vẻ “thuần túy” khoa học, thực ra cũng đang diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt, cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các hệ tư tưởng đối lập nhau 97, tr 123

Tác giả Lê Thái Hòa cho rằng, tính đảng trong khoa học lịch sử bao gồm nhiều mặt, nhiều vấn đề Nội dung của tính đảng vô sản trong khoa học lịch sử có mấy vấn đề như sau: một là, đứng vững trên lập trường của giai cấp

vô sản; hai là, nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin để nghiên cứu các vấn đề lịch sử, giải thích lịch sử và phát hiện các quy luật phát triển của lịch sử; ba là, nhận thức và nắm vững đường lối, chính sách của Đảng khi nghiên cứu và giải quyết các vấn đề khoa học lịch sử; bốn là, có tính chiến đấu; Năm

là, có tinh thần tự chủ, độc lập suy nghĩ; Sáu là, có ý thức tổ chức và kỷ luật

Đặt biệt, khi phân tích về tính đảng trong khoa học lịch sử phải có ý

thức tổ chức và kỷ luật, tác giả đã đánh giá rằng, tính đảng vô sản đặt trách

nhiệm cho nhà sử học mác-xít tuyệt đối phục tùng lợi ích của giai cấp công nhân và của dân tộc, tuyệt đối phục tùng lợi ích của Đảng Khoa học lịch sử là một bộ phận công tác của Đảng Khoa học lịch sử có tính đảng là sự phục tùng của nó đối với sự kiểm soát của Đảng, không để cho những quan điểm của Đảng Tính đảng phải quán triệt trong nếp suy nghĩ và mọi hoạt động của mình, lúc nào cũng nghĩ đến lợi ích của giai cấp và của dân tộc, nghĩ đến lợi ích của Đảng Lợi ích của giai cấp công nhân và của dân tộc phù hợp với nhu cầu phát triển khách quan của lịch sử Thế giới quan của giai cấp vô sản, chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa duy nhất khoa học Bởi vậy cho nên triệt để phục vụ lợi ích của giai cấp vô sản là mục đích của mọi ngành khoa học khác

Ngày đăng: 02/07/2016, 10:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1962), Sự cần thiết chỉnh lý tài liệu trong công tác nghiên cứu và phiên dịch, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 37, tr. 5-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 1962
2. Bơruyha (1962), Nhà sử học đứng trước thời đại mình, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Bơruyha
Năm: 1962
3. Phan Văn Ban (1961), Một số ý kiến về việc phân kỳ lịch sử Cận đại và Hiện đại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 26, tr. 15-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Phan Văn Ban
Năm: 1961
4. Hoàng Thị Châu (1967), Về việc tìm sử liệu trong ngôn ngữ dân tộc, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 100, tr. 44-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Năm: 1967
5. Bùi Văn Chép, Vũ Dương Ninh (1964), Vài ý kiến về tính khách quan trong sử học mác xít, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 94, tr. 12-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Bùi Văn Chép, Vũ Dương Ninh
Năm: 1964
6. Côn. I (1956), Khoa học lịch sử khủng hoảng hay chính hệ thống tư tưởng phản động bị khủng hoảng, Tập san Văn Sử Địa, số 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập san Văn Sử Địa
Tác giả: Côn. I
Năm: 1956
7. Côn. I (1961), Triết học sử học tư sản trên bước đường cùng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 32, số 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Côn. I
Năm: 1961
8. Côn. I (1962), Triết học sử học tư sản trên bước đường cùng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Côn. I
Năm: 1962
9. Phan Hữu Dật (1954), Thử tìm hiểu sử liệu Việt Nam trong ngôn từ, Tập san Văn Sử Địa, từ số 1 đến số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập san Văn Sử Địa
Tác giả: Phan Hữu Dật
Năm: 1954
10. Đới Dật (1956), Vấn đề phân định thời kỳ lịch sử Cận đại Trung Quốc, Tập san Văn Sử Địa, số 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập san Văn Sử Địa
Tác giả: Đới Dật
Năm: 1956
11. Phan Hữu Dật (1968), Về vấn đề phân kỳ xã hội nguyên thủy, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 108, tr. 50-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Phan Hữu Dật
Năm: 1968
12. Bạch Thọ Di (1959), Cổ và kim trong việc giảng dạy lịch sử, Tập san Văn Sử Địa, số 6, tr. 82-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập san Văn Sử Địa
Tác giả: Bạch Thọ Di
Năm: 1959
13. Bạch Thọ Di (1962), Vấn đề của lịch sử và lý luận, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 38, tr. 48-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Bạch Thọ Di
Năm: 1962
14. Lâm Đình (1980), Cần khai thác sử liệu một cách nghiêm túc, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5 (194), tr. 88-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Lâm Đình
Năm: 1980
16. Giu Cốp. E (1960), Lịch sử và hiện tại, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Giu Cốp. E
Năm: 1960
17. GuLuCa A.V (1966), Bàn về đối tƣợng của khoa học lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: GuLuCa A.V
Năm: 1966
18. GuLuCa A.V (1966), Bàn về đối tƣợng của khoa học lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: GuLuCa A.V
Năm: 1966
19. GơRuSin B.A, Mác và phương pháp hiện đại về nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
20. Hoàng Tôn Hán (1963), Nghiên cứu khoa học cần phải sưu tầm tài liệu thật phong phú, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học cần phải sưu tầm tài liệu thật phong phú
Tác giả: Hoàng Tôn Hán
Năm: 1963
21. Lê Văn Hảo (1969), Thực trạng khoa học xã hội vùng đô thị miền Nam, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 123, tr. 32-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng khoa học xã hội vùng đô thị miền Nam
Tác giả: Lê Văn Hảo
Năm: 1969

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w