1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hồ chí minh với việc xây dựng cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (1946 1960)

124 279 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn góp phần tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về việc thiết lập và thực hiện "chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhâ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VĂN THị THANH MAI

Hồ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG

CƠ QUAN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

CAO NHẤT (1946-1960)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2005

Trang 2

BẢNG QUY ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tư bản chủ nghĩa Chủ nghĩa cộng sản Dân chủ cộng hoà Dân tộc dân chủ nhân dân

Uỷ ban dân tộc giải phóng

Uỷ ban giải phóng dân tộc Ban thường trực

Uỷ ban nhân dân Cải cách ruộng đất Ban chấp hành Trung ương Nhà xuất bản

Tác giả Thành phố

Trang 3

Mục lục

1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực của nhân dân……… 6

1 2 Hồ Chí Minh với sự ra đời cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước

2.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh điều hành Chính phủ thực hiện nghị quyết

của Quốc hội về tổ chức cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954) 57

Chương 3: Hồ chí minh với việc xây dựng cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất

3.1 Hồ Chí Minh với Quốc hội trước tình hình mới……… 71 3.2 Hồ Chí Minh với Quốc hội và nhiệm vụ lập pháp, lập hiến…… 77 3.3 Hồ Chí Minh báo cáo hoạt động ngoại giao trước Quốc hội…… 89

Danh mục tài liệu tham khảo……… 103

Trang 4

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991), Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm

nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động” [83; 127]

Ngày 27/3/2003, Ban Bí thư ra Chỉ thị về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo

dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới đã yêu cầu: “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu

toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh gắn chặt với tổng kết thực tiễn góp phần bảo vệ và phát triển học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới, bổ sung, phát triển đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước”

Từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 cho đến năm 1969, gần 1/4 thế kỷ trên cương vị người đứng đầu nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những đóng góp

to lớn trong việc xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân Trong từng thiết chế nhà nước (gồm lập pháp, hành pháp và tư pháp), Hồ Chí Minh vừa là người sáng lập, vừa là linh hồn của nó

Từ sau Đại hội VII, Đảng tuyên bố xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, vì thế, vị trí, vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Quốc hội) đã tăng lên mạnh mẽ

Việc nghiên cứu để làm sáng rõ tư tưởng, sự nghiệp Hồ Chí Minh trên tư cách là người tổ chức ra Quốc hội Việt Nam khoá I có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

to lớn Vì lẽ đó, chúng tôi quyết định chọn vấn đề: “Hồ Chí Minh với việc xây

dựng cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất (1946-1960)” làm đề tài luận văn thạc

sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện đã có khoảng gần 100 công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh

đã được công bố Gần với chủ đề luận văn, có các công trình sau đây: Nghiên cứu

những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật của GS

Trang 5

Nguyễn Ngọc Minh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1988; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà

nước kiểu mới - Sự hình thành và phát triển của GS TS Hoàng Văn Hảo, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do

dân và vì dân của TS Nguyễn Đình Lộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998;

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân (Chương VII của giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh) GS Đặng Xuân Kỳ làm chủ biên, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2003 Và nhiều sách, bài báo, các chuyên luận đăng trên các tạp chí

chuyên ngành như: Nhà nước và pháp luật, Lịch sử Đảng, Nghiên cứu lịch sử,

Cộng sản Các công trình đó, ở các khía cạnh và mức độ khác nhau đã bước đầu

phân tích, làm rõ sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong vấn đề nhà nước và kiến nghị tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân

Về phương diện lịch sử, các công trình nghiên cứu về những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc sáng lập ra Quốc hội với tư cách là cơ quan

quyền lực cao nhất còn chưa nhiều Có thể kể ra đây một số công trình tiêu biểu:

Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960 của PGS Lê Mậu Hãn và PGS TS Nguyễn

Văn Thư, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994, trình bày sự ra đời và hoạt động của Quốc hội khoá I Giới thiệu cuốn sách này đồng chí Nông Đức Mạnh đánh giá: Truyền thống yêu nước, cách mạng và kinh nghiệm hoạt động của Quốc hội khoá I

do Đảng lãnh đạo dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh đang tiếp tục khơi nguồn sáng tạo và soi sáng con đường cho Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam vươn lên tầm cao mới trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền mang đậm bản sắc Việt Nam và dấu ấn thời đại Trong cuốn sách này, các tác giả bước đầu trình bày sự đóng góp của Hồ Chí Minh như là kiến trúc sư của Quốc hội khoá I

Ngoài công trình trên đây còn một số cuốn sách, bài báo khác đề cập đến

vấn đề này Sau đây là những công trình tiêu biểu: Hồ Chí Minh với sự ra đời của

cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; Quốc

Trang 6

hội đầu tiên của Việt Nam dân chủ cộng hoà - Quốc hội dân tộc thống nhất của

PGS Lê Mậu Hãn, trong cuốn Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới

ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Quốc dân Đại hội Tân Trào, Văn phòng Quốc hội, 1995; Chủ tịch Hồ Chí Minh với Quốc hội

và hội đồng nhân dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Hiến pháp 1946 và

sự kế thừa, phát triển trong các hiến pháp Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 1998; Kỷ yếu hội thảo: Quá trình hình thành, phát triển và vai trò của Quốc

hội trong sự nghiệp đổi mới, Văn phòng Quốc hội, Hà Nội, 2001 Một số giáo

trình luật Nhà nước của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, của Trường đại học Luật Hà Nội, của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội đều có một phần ngắn viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh với Quốc hội khoá I

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hoá, khái quát hoá những tư liệu đã có, bổ sung thêm những tư liệu mới nhằm góp phần làm rõ hơn vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trong giai đoạn 1946 - 1960

Từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn góp phần tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về việc thiết lập và thực hiện "chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân", cũng như việc ứng dụng nó vào việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN

Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu và nguồn tư liệu như trên, luận văn có nhiệm vụ

kế thừa kết quả của những người đi trước, thu thập, xử lý tư liệu mới nhằm làm sáng tỏ một cách có hệ thống những đóng góp ở tầm vĩ mô của Hồ Chí Minh với Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Đó là:

- Kiên quyết tổ chức bầu cử Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam DCCH và thành lập chính phủ hợp hiến, hợp pháp

Trang 7

- Xây dựng hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam DCCH

- Phát huy quyền lực của Quốc hội và hoạt động của chính phủ trong khuôn

khổ hiến pháp và pháp luật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng và sự nghiệp của Chủ tịch

Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng Quốc hội Việt Nam giai đoạn 1946-1960

Phạm vi nghiên cứu

Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người sáng lập Nhà nước Việt Nam DCCH và trong hơn 1/4 thế kỷ là người đứng đầu Nhà nước, nhưng trong luận văn, tác giả

chỉ trình bày những đóng góp của Hồ Chí Minh đối với cơ quan quyền lực Nhà

nước cao nhất giai đoạn 1946-1960

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn là phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, so sánh và hệ thống hoá

Nguồn tài liệu

Tài liệu đã xuất bản

- Văn kiện Đảng giai đoạn 1930-1960

- Hồ Chí Minh toàn tập từ tập 1 đến tập 10

- Các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Quốc hội và trước Quốc hội

- Một số hồi ký của các đại biểu Quốc hội về giai đoạn lịch sử này

- Các công trình nghiên cứu khoa học, các bài báo, sách, các chuyên luận của các nhà nghiên cứu viết về Quốc hội khoá I (1946-1960), về tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật

- Một số tác phẩm lịch sử viết về giai đoạn lịch sử này

Trang 8

Tài liệu chưa xuất bản

Các tài liệu về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quốc hội, với Quốc hội và BTT Quốc hội, hoạt động của Quốc hội khoá I hiện đang được lưu tại Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Trung ương Đảng, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Trung tâm lưu trữ Quốc gia III - Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở tập hợp, hệ thống hoá, bổ sung, xử lý nguồn tư liệu một cách khoa học, luận văn có những đóng góp sau:

- Thông qua việc trình bày một cách rõ nét quan điểm và sự phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, quá trình hoạt động và việc cụ thể hoá tư tưởng của Người trong việc xây dựng cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (1946 - 1960), luận văn đã làm rõ vai trò và cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Quốc hội khoá I

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương 7 tiết

Chương 1: Hồ Chí Minh với sự ra đời của Quốc hội khoá I

Chương 2: Hồ Chí Minh với việc phát huy vai trò của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trong kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954)

Chương 3: Hồ Chí Minh với việc xây dựng cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thời kỳ 1955 - 1960

Trang 9

Chương 1

Hồ Chí Minh với sự ra đời của Quốc hội khoá I 1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực của nhân dân

1.1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực của nhân dân

Đến giữa thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc thực dân đã xâm lược, áp bức, thôn tính các dân tộc vừa và nhỏ trên những vùng rộng lớn của thế giới Năm 1858, Việt Nam bị đế quốc Pháp xâm lược và trở thành thuộc địa của chúng Nước Việt Nam bị mất quyền độc lập, nhân dân Việt Nam bị mất quyền tự do

Với thủ đoạn “chia để trị”, thực dân Pháp đã chia Việt Nam ra thành ba kỳ, cùng với Lào và Campuchia lập thành Liên bang Đông Dương (Union indochinoise), do toàn quyền Đông Dương (Gouverneur général de l’ Indochine) đứng đầu Với ba chế độ cai trị khác nhau, trong đó Nam kỳ là xứ thuộc địa, Bắc

kỳ là bán bảo hộ và Trung kỳ là xứ bảo hộ, thực dân Pháp đã thi hành chính sách cai trị hà khắc, chăm lo lập nhà tù nhiều hơn trường học, thực hiện chính sách ngu

dân, đẩy người dân Việt Nam đắm chìm trong đêm trường nô lệ

Song song với việc củng cố chính quyền liên bang, thực dân Pháp tiến hành củng cố chính quyền các xứ Nam Kỳ là đất thuộc địa không có quan hệ phụ thuộc vào Nam triều Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ là cơ quan tư vấn, có thể bàn về thuế

má, thu chi song “tuyệt đối không được đề cập đến vấn đề chính trị” Trung Kỳ là

xứ bảo hộ, vẫn duy trì triều đình nhà Nguyễn, nhưng vua An Nam không có thực quyền Quyền hành thực sự nằm trong tay Khâm sứ (Résident Supérieur) Mọi vấn

đề liên quan đến cai trị, tổ chức, tuyển dụng, thăng giáng các cấp quan lại của Nam triều đều do Khâm sứ quyết định ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, từ cấp tỉnh trở xuống còn có các quan lại kỳ hào người Việt Nam

Cùng với bộ máy chính trị, thực dân Pháp đã xây dựng bộ máy quân sự, cảnh sát, toà án, nhà tù để kìm kẹp, đàn áp nhân dân Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, cuộc sống của nhân dân Việt Nam vô cùng cực khổ Không chỉ bóc lột

Trang 10

nhân dân ta đến tận xương tuỷ, thực dân Pháp còn "thi hành chính sách ngu dân",

"tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào" [130;1] Bất công đã diễn ra ngay trong nền “công lý” của thực dân Pháp ở Đông Dương có hai thứ công lý: một thứ cho người Pháp, một thứ cho người bản xứ Người Pháp thì được

xử như ở Pháp, còn người Việt Nam thì không có hội đồng bồi thẩm, cũng không

có luật sư người Việt

Trong gần một thế kỷ thống trị ở Đông Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng, thực dân Pháp đã hai lần dâng nước ta cho Nhật (đó là mùa thu năm 1940 và ngày 9/3/1945) Không chịu khuất phục, nhân dân ta liên tục nổi dậy, song thực dân Pháp đã thẳng tay chém giết những người yêu nước, "tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu" [130; 2] Trước sự khủng hoảng đường lối cứu nước,

“sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào” [127; 477], tháng 6/1911 Hồ Chí Minh (với tên gọi là Nguyễn Tất Thành) đã rời Tổ quốc, bôn ba tìm đường cứu nước

Hồ Chí Minh đã chọn con đường sang phương Tây để tìm hiểu xem những gì

ẩn giấu đằng sau những từ: Tự do, Bình đẳng, Bác ái Muốn “xem nước Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm như thế nào sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” [173; 13], Hồ Chí Minh đã theo hành trình của tàu Đô đốc Latútxơ Trêvinlơ (Amiral Latouche Tréville) đến nước Pháp Không dừng lại ở nước Pháp, hành trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh đã đi qua châu Phi, châu Mỹ, nước Anh, và nhiều quốc gia khác

Khi Hồ Chí Minh đang bôn ba tìm đường cứu nước, tìm kiếm con đường để thực hiện khát vọng “độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi”, thì ở các nước tư bản như Pháp, Mỹ và một số quốc gia khác, tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước và vấn đề quyền con người đã đạt được những thành tựu lớn Đó là:

- Về mặt nhà nước: Thực hiện xoá bỏ chế độ một cá nhân (vua) chuyên chế,

nắm trong tay cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp và thay vào đó là việc tổ

Trang 11

chức bộ máy nhà nước hoạt động theo thuyết phân chia và kiềm chế quyền lực

- Về mặt pháp luật: Đề cao vị trí, vai trò của pháp luật trong hoạt động của

nhà nước và xã hội, xác lập nguyên tắc nhà nước pháp quyền

- Về chế độ cai trị: Xác lập chế độ cai trị bằng hiến pháp và các đạo luật được

ban hành

- Về đời sống của cá nhân: Đề cao quyền tự do của con người như quyền

được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc; quan hệ giữa nhà nước và công dân dựa trên cơ sở pháp luật

Quyền con người đã được ghi trong Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 Theo tinh thần của hai văn bản pháp lý nêu trên, Tuyên ngôn độc

lập của Việt Nam do Hồ Chí Minh tuyên bố ngày 2/9/1945 nêu rõ: “Tất cả mọi

người đều sinh ra bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [9] và: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” [9]

Sự tuyên bố về các quyền con người trong cách mạng tư sản và trong xã hội TBCN không chỉ dừng lại ở phạm vi các tuyên ngôn, mà còn được quy định trong đạo luật có hiệu lực pháp lý tối cao - đó là hiến pháp, song từ các văn bản pháp lý đến thực tế vẫn còn khoảng cách Nước Pháp và nước Mỹ đều là nơi tiến hành tổ chức nhà nước theo mô hình chế độ cộng hoà Dù là chế độ cộng hoà, nhưng quyền

tự do dân chủ không được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người Quyền tự do dân chủ chỉ giành cho những người hữu sản, không phải giành cho mọi người dân trong xã hội Hiến pháp 1791 ở Pháp (sau khi Quốc hội Pháp thông qua bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền) quy định về chế độ bầu cử đã chia công dân thành

hai loại tích cực và tiêu cực theo giá trị tài sản mà họ có "Những người không có tài sản, quần chúng lao động bị coi là công dân tiêu cực Quyền bầu cử chỉ giành

Trang 12

cho các công dân tích cực là những người từ 25 tuổi trở nên, không làm thuê cho

ai, có tên trong danh sách vệ quốc quân và phải nộp một khoản thuế trực thu ít nhất

là ba ngày lương" [186; 218] Những điều kiện do Hiến pháp tư sản quy định đã làm cho hàng triệu người lao động không có quyền bầu cử Vì vậy, "cuộc bầu cử

Quốc hội năm 1791, ở Pháp chỉ có 4 triệu 28 vạn người là công dân tích cực trên

tổng số 26 triệu dân" [186; 219] được tham gia

Trong lịch sử, vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước luôn là vấn đề phức tạp Thời kỳ phong kiến, toàn bộ quyền lực đều thuộc về nhà vua Nhà vua vừa là người ban hành ra pháp luật, lại vừa là vị pháp quan tối cao trong một nhà nước Phê phán cơ chế tổ chức quyền lực kiểu này, C Mác cho rằng: “Quyền lực của vua

là sự tuỳ tiện” [26; 335] Khi tiến hành cách mạng, giai cấp tư sản đã nêu khẩu hiệu

Tự do, Bình đẳng, Bác ái để lật đổ chế độ phong kiến, đồng thời thiết lập nên thiết chế quyền lực mới, trong đó nghị viện được lập ra để thực hiện quyền lập pháp thay cho việc ban hành các chiếu chỉ của nhà vua Giai cấp tư sản cũng đã khẳng định địa vị pháp lý của người dân là chủ thể của quyền lực, nhưng khi cách mạng thắng lợi thì toàn bộ quyền lực nhà nước đều rơi vào một số ít người, đó là giai cấp

tư sản

Là người từng được trực tiếp chứng kiến, tìm hiểu đời sống chính trị - xã hội

ở các nước tư bản, đặc biệt là Pháp và Mỹ, Hồ Chí Minh đã rút ra những nhận xét

về bản chất của các nhà nước tư sản Đó là, nền cộng hoà đã được thành lập ở Pháp

và Mỹ, nhưng tại các quốc gia đó dân chúng, nhất là công nông vẫn phải chịu cực khổ Vì đó là nền cộng hoà tư sản, là nơi quyền lực nhà nước không thuộc về nhân dân, mà nằm trong tay một số ít người – giai cấp tư sản Song cũng từ việc nghiên cứu tổ chức bộ máy nhà nước tư sản, Hồ Chí Minh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc điều hành và quản lý nhà nước bằng pháp luật Tuy nhiên, luật pháp

là một vũ khí của giai cấp thống trị dùng để cai trị giai cấp bị thống trị, cho nên luật pháp của giai cấp tư sản đẻ ra từ quyền lực, từ kẻ mạnh, từ một số ít người nên

Trang 13

sẽ không thể có lợi cho số đông

Từ đó, Hồ Chí Minh mong muốn, sau khi Việt Nam giành được độc lập, sẽ xây dựng bộ máy nhà nước, mà trong đó pháp luật là công cụ để bảo vệ quyền lợi

và nghĩa vụ của nhân dân Một trong số những mục tiêu mà Hồ Chí Minh quan tâm thường xuyên là tổ chức quyền lực nhà nước như thế nào để thực thi được quyền lực của nhân dân Vì thế, trong từng hoàn cảnh cụ thể Người đã nêu quan điểm và tiến hành các biện pháp đấu tranh thích hợp để hướng đến mục tiêu đó

Năm 1919, Hồ Chí Minh đã thay mặt Hội người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi đến Hội nghị Vécxay (Versailles) bản Yêu sách 8 điểm của nhân dân

Annam, đòi chính quyền thực dân Pháp phải thực hiện chế độ cai trị tại thuộc địa

bằng đạo luật thay cho chế độ cai trị bằng sắc lệnh Đồng thời, Người cũng đòi phải có đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp Đó là tư tưởng về "thần linh pháp quyền" đầu tiên của Chủ tịch

Hồ Chí Minh Cũng từ yêu cầu đó, năm 1922, trong Việt Nam yêu cầu ca, điểm 7

và điểm 8 của Yêu sách 8 điểm được Hồ Chí Minh thể hiện như sau:

“Bẩy xin Hiến pháp ban hành Trăm đều phải có thần linh pháp quyền Tám xin được cử Nghị viên Qua Tây thay mặt giữ quyền thổ dân” [129; 438]

Sau này, trên báo Nhân đạo (L’ Humanite) - cơ quan ngôn luận của Đảng

Cộng sản Pháp, Hồ Chí Minh đã một lần nữa nêu rõ quan điểm của Người trong

bản Yêu sách của nhân dân Annam như sau: “Báo L’Humanité ngày 18/6 mới đây

đã đăng văn bản thỉnh cầu của những người Annam gửi Hội nghị Hoà bình đòi ân

xá cho tất cả các tù chính trị người bản xứ, đòi cải cách pháp chế ở Đông Dương bằng ban hành những đảm bảo cho người bản xứ cũng như cho người Âu, đòi tự

do cho báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do dạy học, đòi thay đổi chế độ sắc lệnh bằng chế độ đạo luật; và sau cùng đòi có một đoàn đại biểu thường trực của

Trang 14

dân bản xứ được bầu vào Nghị viện Pháp Chúng tôi chỉ có thể coi các yêu sách rất đúng đắn đó cũng là của chính mình, trong thời đại mà ý muốn của nhân dân nắm quyền tự quyết” [127; 6]

Như vậy, ngay khi thực hiện những biện pháp đấu tranh chính trị đầu tiên trên lãnh địa của chủ nghĩa thực dân Pháp, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực của nhân dân đã sớm được thể hiện

Năm 1926, trong Yêu sách gửi Hội vạn quốc, Hồ Chí Minh lại tiếp tục đề

cập vấn đề quyền tự quyết của nhân dân Trong bản yêu cầu này, Hồ Chí Minh và những người Việt Nam yêu nước khác viết: “Chúng tôi yêu sách với Vạn quốc quyền độc lập hoàn toàn, tức khắc của dân tộc Việt Nam” và nếu được độc lập ngay thì nước chúng tôi sẽ “xếp đặt một nền hiến pháp theo những lý tưởng dân quyền” [105; 341] Lý tưởng dân quyền mà Hồ Chí Minh nêu ra, đó là sự tiếp nhận

có chọn lọc những thành tựu mà nhân loại đã đạt được trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế Hồ Chí Minh đã tìm thấy tư tưởng dân quyền qua những khảo nghiệm thực tế và tư tưởng đó đã từng được thể hiện rõ

trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và dân

quyền của nước Pháp năm 1791

Nghiên cứu về: “Hình thức tổ chức quản lý nhà nước mà trong đó tất cả các

cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất hoặc là được bầu ra hoặc là được thành lập bởi các cơ quan đại diện toàn quốc (nghị viện), còn công dân thì có các quyền cá nhân và quyền chính trị” [163; 79] và nền cộng hoà ở Pháp và ở Mỹ là “ hình thức nhà nước đặc biệt để thông qua đó giai cấp tư sản thực hiện sự thống trị của mình” [163; 79], Hồ Chí Minh đã thấy được tính ưu việt và những hạn chế của mô hình tổ chức nhà nước theo nguyên tắc tam quyền phân lập (gồm lập pháp, hành pháp, tư pháp) Nhận thức được tầm quan trọng của nghị viện - quốc hội trong đời sống chính trị của một quốc gia, một nội dung mới đã hình thành trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là thành lập nghị viện nhân dân (quốc hội) Đây là cơ quan đại diện để

Trang 15

nhân dân thực hiện quyền lực của mình và quyền lực đó chỉ có thể được bảo đảm bằng hiến pháp, pháp luật

Tuy nhiên, sự bất bình đẳng về quyền lợi và hưởng thụ đã không chỉ xảy ra ở thuộc địa, mà ngay tại chính quốc, nơi mà những tư tưởng chính trị – pháp lý tư sản đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử quan trọng thì bất công xã hội vẫn còn Quyền con người, quyền tự do dân chủ chỉ là đặc quyền của giai cấp tư sản, còn nhân dân lao động vẫn bị hạn chế về nhiều mặt

Trong hành trình tìm đường cứu nước, tìm hiểu về các thể chế dân chủ của các nước cộng hoà trên thế giới, Hồ Chí Minh đã ngày càng nhận thức một cách sâu sắc rằng: không thể có quyền tự do dân chủ cho nhân dân nếu dân tộc vẫn chưa giành được độc lập Người mong muốn “thủ tiêu bất bình đẳng về hưởng thụ” trong xã hội để thực hiện “hạnh phúc không phải cho một số đông mà cho tất cả mọi người” [127; 35].Vì vậy, để có sự ra đời bộ máy nhà nước tổ chức và điều hành xã hội bằng pháp luật, là nơi mọi quyền hạn, công lý “đều ở nơi dân” thì phải làm cách mạng Cuộc cách mạng đó không thể đi theo con đường của các vị cách mạng tiền bối ở Việt Nam, đồng thời cũng không thể đi theo con đường cách mạng

tư sản Sau khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và

thuộc địa của Lênin đăng trên báo L’Humanite (ngày 16 – 17/7/1920), với niềm tin

về chủ trương của Lênin và Quốc tế thứ III sẽ làm cho các thuộc địa, Hồ Chí Minh

đã quyết định đưa cách mạng Việt Nam đi theo con đường của cách mạng vô sản

đã trở thành hiện thực ở nước Nga Xôviết

Sau này, Hồ Chí Minh được đến sống, học tập và làm việc tại nước Nga XHCN của Lênin vĩ đại Tìm hiểu, nghiên cứu về nước Nga Xôviết, Người thấy cách mạng XHCN tháng Mười Nga đã thiết lập thiết chế mới, bảo đảm thực hiện quyền lực của nhân dân Cộng hoà Xôviết là mô hình tổ chức Nhà nước đầu tiên của giai cấp công nhân Khác với chế độ cộng hoà tư sản dựa trên nguyên tắc phân quyền, các Xôviết không áp dụng nguyên tắc phân quyền mà thực hiện tập quyền

Trang 16

Tất cả quyền lực Nhà nước tập trung vào tay nhân dân thông qua các Xôviết của công - nông - binh do công nhân, nông dân và binh sĩ bầu ra Xôviết tối cao và Xôviết địa phương có quyền thành lập ra các uỷ ban chấp hành Uỷ ban chấp hành chỉ là các cơ quan thừa hành của Xô viết, phải chịu trách nhiệm trước Xôviết

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 với sự ra đời của các Xôviết công - nông - binh đã khẳng định sức mạnh và vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch

sử Đồng thời cũng chứng minh trong thực tiễn, khả năng nhân dân có thể tham gia rộng rãi vào việc quản lý nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước của mình Nhân dân là chủ thể của cách mạng, của quyền lực chính trị chân chính Phải nhấn mạnh rằng, trong quá trình khảo nghiệm và lựa chọn con đường cứu nước, tìm kiếm một

mô hình nhà nước phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam, thì việc tổ chức, quản

lý, điều hành xã hội của Nhà nước Xôviết, thực tiễn đời sống chính trị - xã hội trên đất nước của cách mạng Tháng Mười đã hấp dẫn Hồ Chí Minh

Bài học kinh nghiệm của cách mạng Tháng Mười Nga và cách thức tổ chức

mô hình nhà nước Xôviết, cùng những kinh nghiệm hoạt động cách mạng trong thực tiễn đã là cơ sở để Hồ Chí Minh quyết định trở về gần Tổ quốc, xúc tiến thực hiện công cuộc “giải phóng dân tộc”, xây dựng một nhà nước thuộc về dân chúng

số nhiều Sự lựa chọn và quyết định nêu trên đã được Hồ Chí Minh thể hiện một cách sinh động qua các tác phẩm lý luận và những hoạt động thực tiễn của Người

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực của nhân dân từng bước trở thành hiện thực

Trong tác phẩm Đường Kách mệnh xuất bản năm 1927 tại Quảng Châu, tư

tưởng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân đã được Hồ Chí Minh đưa ra qua những phác họa về mô hình nhà nước và pháp luật kiểu mới ở Việt Nam Mặc dù đồng ý với tư tưởng dân chủ tiến bộ mà cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp đã

tuyên bố như trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn nhân

quyền và dân quyền của Pháp năm 1791, nhưng Hồ Chí Minh không tán thành

Trang 17

đường lối mà các chính quyền tư sản đã tiến hành sau thắng lợi của hai cuộc cách mạng Với Người, “cách mệnh Mỹ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là chưa phải cách mệnh đến nơi” vì rằng “cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai” [128; 270] Còn cách mạng Pháp thì “tư bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào

để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân” [128; 274]

Vì thế, đúc rút từ kinh nghiệm của cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp, Hồ Chí Minh chỉ cho những người cách mạng Việt Nam thấy rõ là phải làm cách mạng một cách triệt để Người viết: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” [128; 274]

Để tiến hành một cuộc cách mạng mà khi chính quyền được thành lập là của dân chúng số nhiều, Hồ Chí Minh đã hướng về một cuộc cách mệnh “đến nơi”, nghĩa là một cuộc cách mệnh mà sau đó sẽ lập ra một chính quyền thực sự của dân, không áp bức dân, không bóc lột dân Người đã tìm thấy cuộc cách mệnh đó khi đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là Cách mạng Tháng Mười Nga, một cuộc cách mạng triệt để, đem lại bình đẳng, tự do thực sự cho đông đảo quần chúng nhân dân Người viết: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An nam” [128; 280]

Nhận thức này đã đưa Hồ Chí Minh đến với định hướng cơ bản về con đường giải phóng dân tộc Việt Nam và thiết lập một thể chế quyền lực thuộc về nhân dân

mà mục tiêu trước hết là “độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào tôi” Từ định hướng chính trị cơ bản đó, Hồ Chí Minh đã từng bước đề ra chủ trương đấu tranh,

Trang 18

để tạo dựng một thiết chế quyền lực của dân, do dân, vì dân Đầu năm 1930, Chánh cương, Sách lược vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh soạn thảo

và được thông qua ở Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Cửu Long - Hương Cảng, đã nêu ra nội dung: “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập” và

“dựng ra chính phủ công nông binh” [129; 1, 2]

Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng, “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn” của các nước thuộc địa phương Đông trong đó có Đông Dương Bởi vậy, theo Người dù là địa chủ hay nông dân, người buôn hay cu li thì họ đều là người nô lệ mất nước Họ đều có ý thức rõ rệt về độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia, kiên cường bất khuất và thông minh sáng tạo Truyền thống yêu nước, đoàn kết thống nhất và tinh thần dân tộc của những người dân mất nước đã hun đúc và cổ vũ tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và lan rộng đến Thái Bình Dương, làm làm thay đổi căn bản diễn trình lịch sử thế giới nói chung và vận mệnh của dân tộc Việt Nam nói riêng Từ sau khi Pháp mở cửa cho quân Nhật vào chiếm Đông Dương, thì mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít Pháp - Nhật đã diễn ra vô cùng gay gắt Trong nước, nhân dân chán ghét cuộc đời nô lệ, mong muốn độc lập tự do và nhu cầu giải phóng dân tộc đã trở nên cấp bách hơn bao giờ hết

Trước những chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước, từ cuối năm 1939, Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời nhận định tình hình và điều chỉnh chiến lược cách mạng, hướng toàn bộ cuộc vận động cách mạng vào mục tiêu giải phóng dân tộc Vào khoảng thời gian đó, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc cũng đã từ Liên Xô về Trung Quốc, đang tìm cách bắt liên lạc với Trung ương Đảng trong nước Ngày 28/1/1941, Hồ Chí Minh đã về nước sau gần 30 năm bôn ba, hoạt động

ở nước ngoài Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và Việt Nam, Hội nghị lần thứ tám của BCHTƯ Đảng do Hồ Chí Minh chủ trì họp ở Pác Bó - Cao Bằng (10 -

Trang 19

19/5/1941) đã quyết định phải thay đổi chiến lược cách mạng cho phù hợp với yêu cầu khách quan của tình hình và nguyện vọng chung của quốc gia dân tộc Nghị quyết Hội nghị Trung ương tám xác định: Cách mạng ở Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền mà là “một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng” [68; 119] Giải phóng dân tộc là nhiệm vụ chung của tất cả các giai cấp, các đảng phái, tôn giáo Lúc này không phân biệt công nhân, nông dân, phú nông, địa chủ, tư sản bản xứ, ai có lòng yêu nước, thương nòi phải thống nhất vào một mặt trận, đem toàn lực để giành quyền độc lập, tự do cho xứ sở Tất cả các lực lượng dân tộc phải được tổ chức thành các đoàn thể cứu quốc, tập hợp trong một mặt trận “có tính chất dân tộc hơn, có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại” và “mặt trận hiệu triệu của Đảng ta hiện nay ở Việt Nam là Việt Nam độc lập đồng minh, hay nói tắt là Việt Minh” [68; 122]

Nghị quyết Trung ương lần thứ tám khẳng định:

Sau lúc đánh đuổi được Pháp – Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân

chủ mới theo tinh thần tân dân chủ Chính quyền cách mạng của nước dân chủ ấy

không phải thuộc quyền riêng của giai cấp nào mà của chung của toàn thể dân tộc

(T.G nhấn mạnh), chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền [68; 114]

Bản chương trình Việt Minh - Văn kiện kèm theo Nghị quyết Hội nghị

Trung ương lần thứ tám, chủ trương liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp - Nhật giành chính quyền độc lập cho xứ sở Đồng thời,

sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp - Nhật, “sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của

nước Việt Nam dân chủ cộng hoà lấy lá cờ đỏ sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn

Trang 20

quốc Chính phủ ấy do Quốc dân Đại hội cử ra (T.G nhấn mạnh) [68; 150] Hội

nghị cũng đã vạch ra phương thức tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và kết luận: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa

vũ trang” [68; 129]

Sự thay đổi chiến lược cách mạng đúng đắn, kịp thời và sáng tạo của Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng ở Hội nghị Trung ương lần thứ tám đã đáp ứng được khát vọng độc lập, tự do của toàn dân tộc, có ý nghĩa quyết định đến thành công của công cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1941 đến năm 1945 Tiếp đó,

ngày 6/6/1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi đồng bào toàn quốc, Kính

cáo đồng bào phải đoàn kết lại để “đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu

giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng” và kiến lập chính thể “cộng hoà dân chủ Việt Nam”

Tiếp đó, ngày 15/8/1942, Tổng bộ Việt Minh sau khi đưa ra vấn đề vũ trang khởi nghĩa đã bàn đến vấn đề chính quyền cách mạng như sau:

a Lúc vũ trang khởi nghĩa lấy được một địa phương phải thành lập ngay

Chính phủ nhân dân ở địa phương ấy Trừ bọn Việt gian và bọn phản động

ra, toàn dân nam nữ trong địa phương từ 18 trở lên, đều có quyền tuyển cử

và ứng cử để bầu chính phủ nhân dân của địa phương

b Lúc vũ trang khởi nghĩa, lấy được một địa phương khá to, phải thành lập

Chính phủ nhân dân lâm thời toàn quốc

c Lúc vũ trang khởi nghĩa, lấy được toàn quốc thì thành lập Chính phủ

nhân dân chính thức toàn quốc do toàn dân bầu ra [68; 484]

Xác định rõ phát xít Nhật và thực dân Pháp là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương, Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam đã có những thay đổi quan trọng về cách thức tổ chức bộ máy nhà nước khi cách mạng thành công Mô hình nhà nước công nông mà Xôviết Nghệ Tĩnh là phác thảo đầu tiên về sự thiết lập, củng cố và xây dựng chính quyền cách mạng đã để lại những kinh nghiệm

Trang 21

quý Qua thực tiễn lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng, tư tưởng về tổ chức chính quyền nhân dân của Đảng ta và Hồ Chí Minh đã có sự thay đổi và phát triển mới Xác định lực lượng của cách mạng là hết thảy những người dân Việt Nam yêu nước, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, Hồ Chí Minh và BCHTƯ Đảng đã thấy

rõ sự cần thiết của việc đoàn kết, liên hiệp các lực lượng dân chủ trong toàn quốc Chỉ có sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc mới đủ sức đối phó với sự câu kết chặt chẽ, sự áp bức bóc lột hà khắc của thực dân Pháp và phát xít Nhật Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương thay thế Chính phủ công nông bằng tổ chức chính phủ DCCH Tổ chức chính phủ này đã thể hiện

rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực của nhân dân Bởi rằng, trong Chính phủ đó

“trừ những bọn thù”, các tầng lớp, các giai cấp trong xã hội đều được tham gia chính quyền, có quyền lợi và nghĩa vụ bảo vệ, giữ vững chính quyền

Dưới ngọn cờ độc lập tự do được xác định rõ từ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân đoàn kết và nêu rõ quan điểm xây dựng nhà nước với chính thể DCCH Sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt, truyền thống đoàn kết, yêu nước, tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân và thực tiễn cách mạng là cơ sở để Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đưa ra mô hình nhà nước kiểu mới đó Mặt trận Việt Minh là tổ chức chính trị đã thể hiện và hiện thực hoá tư tưởng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân của

Người Các văn kiện của Việt Minh nêu rõ: sau khi đánh đuổi Nhật Pháp sẽ "lập

nên Chính phủ cách mạng của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, theo tinh thần tân dân chủ…” [68; 467]

Sự thay đổi tổ chức chính phủ công - nông – binh bằng Chính phủ Việt Nam DCCH là một bước phát triển mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thể chế chính quyền phù hợp với nội dung cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam và xu thế của thế giới

Những thuận lợi của tình hình quốc tế, sự phát triển của phong trào đấu

Trang 22

tranh yêu nước và của Mặt trận Việt Minh đã làm cho khí thế cách mạng trong cả nước dâng cao Những biến chuyển của thời cuộc, những mâu thuẫn giữa phe phát xít và phe dân chủ, giữa nhân dân Việt Nam với bọn Pháp Nhật đã thúc đẩy tình thế cách mạng mau chín muồi Chính trong bối cảnh đó, tháng 10/1944, Chủ tịch

Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào, đồng chí toàn quốc, thông báo chủ trương của Đảng về việc triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc để bầu ra một cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể nhân dân Việt Nam trước vận hội mới của đất nước Trong thư, Người đã chỉ rõ: “Cơ hội cho nhân dân

ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa Thời gian rất gấp Ta phải làm nhanh”, cho nên cần “phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta Mà cơ cấu ấy thì phải do một cuộc Toàn quốc đại biểu Đại hội gồm tất cả đảng phái cách mệnh và các đoàn thể

ái quốc trong nước bầu cử ra Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang” [129; 505]

Cuối năm 1944 đầu năm 1945, chiến tranh chống phát xít đi vào giai đoạn kết thúc Mâu thuẫn Nhật - Pháp ở Đông Dương ngày càng gay gắt và tình thế khốn quẫn của Nhật ở Thái Bình Dương đã buộc phátxít Nhật phải tiến hành đảo chính (9/3/1945), lật đổ thực dân Pháp, độc chiếm Đông Dương để rảnh tay đối phó với quân Đồng minh Ngay trong đêm 9/3/1945, Hội nghị mở rộng của Ban

Thường vụ Trung ương Đảng họp và ngày 12/3/1945, bản Chỉ thị “Nhật - Pháp

bắn nhau và hành động của chúng ta” đã ra đời Chỉ thị nêu rõ việc tổ chức chính

quyền cách mạng như sau:

- Thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng ở các nhà máy, mỏ, làng, ấp

Những uỷ ban này vừa có tính chất Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật rộng rãi, vừa có ý nghĩa “tiền chính phủ” của đồng bào trong các xí nghiệp, các làng, v.v…

Trang 23

- Thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng và Uỷ ban công nhân cách

mạng ở những vùng quân du kích hoạt động

- Thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng Việt Nam theo hình thức một

chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam” [68; 535]

Đảo chính Nhật – Pháp đã gây ra một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc ở Việt Nam và đây chính là điều kiện phát triển phong trào cách mạng Theo lời hiệu triệu của Đảng, dưới ngọn cờ cứu nước của Việt Minh, nhân dân ta đã từ chỗ “phá kho thóc giải quyết nạn đói”, tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa từng phần ở một số nơi, chính quyền cách mạng của nhân dân

đã được thành lập dưới hai hình thức: Uỷ ban dân tộc giải phóng (một hình thức

tiền Chính phủ), trong đó nhân dân học tập để chuẩn bị giành chính quyền cách

mạng và Uỷ ban nhân dân cách mạng do nhân dân dùng phổ thông đầu phiếu hay

do đại biểu hội nghị các giới bầu lên Cả hai hình thức này đều do Việt Minh với tư

cách là đại diện của các đoàn thể quần chúng cử ra

Trong tình hình đó, nhằm thống nhất lực lượng, thống nhất chỉ huy và hành động, đưa cao trào cách mạng trong nước phát triển cao hơn, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự Bắc kỳ (15 - 20/4/1945) Vấn đề quan trọng mà Hội nghị tập trung thảo luận là đề nghị triệu tập một cuộc đại biểu đại hội của các giới, các đảng phái, các thân sĩ toàn quốc để thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam và tiến tới thành lập Chính phủ lâm thời Nội dung nêu trên đã thể hiện rõ tư tưởng và chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tổ chức Đại hội Quốc dân, đồng thời cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của chủ trương đó đã được sự nhất trí của Đảng và Mặt trận Việt Minh Hội nghị cũng bàn đến việc chuẩn bị giành chính quyền và thành lập chính quyền cách mạng Nghị quyết của Hội nghị nêu rõ:

Nhân trong lúc này chúng ta cần lãnh đạo nhân dân tổ chức ra chính quyền

cách mạng hay những hình thức quá độ Trong căn cứ địa, tổ chức ra Uỷ

ban nhân dân cách mạng do dân dùng phổ thông đầu phiếu mà bầu lên hay

Trang 24

do đại biểu hội nghị các giới (công, nông, thương, phú, thanh, binh, viên chức, hành chính, các dân tộc thiểu số, cán bộ chuyên nghiệp Việt Minh

v.v.) bầu lên Nhưng trong Uỷ ban không nhất định phải đủ mặt các giới

Chính quyền ấy là một chính quyền dân chủ, là chính quyền của Mặt trận dân tộc thống nhất kháng Nhật (T.G nhấn mạnh) Các Uỷ ban nhân dân

cách mạng đó thống nhất đến tỉnh rồi lên đến từng khu một Ngoài căn cứ

địa ta chưa đánh đổ được chính quyền của địch thì tổ chức ra Uỷ ban dân

tộc giải phóng Trong chiến khu Uỷ ban nhân dân cách mạng và Uỷ ban

giải phóng dưới quyền Bộ tư lệnh và Uỷ ban quân sự cách mạng [68; 395, 396]

Trên phạm vi toàn quốc, “Hội nghị đề nghị triệu tập một cuộc đại biểu đại

hội gồm có các giới, các đảng phái, các thân sĩ toàn quốc để thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam và tiến tới thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam” (T.G

nhấn mạnh) [68; 396] Ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức UBDTGP các cấp và chuẩn bị thành lập UBGPDT Việt Nam (toàn quốc) tức là hình thức Chính phủ lâm thời Chỉ thị nêu rõ: “Uỷ ban dân tộc giải phóng là hình thức tiền chính phủ trong đó nhân dân học tập để tiến lên giữ chính quyền cách mạng” [68; 371] Sau đó, bản chỉ thị còn hướng dẫn khá cụ thể việc thành lập các UBDTGP, Uỷ ban nhân dân cách mạng và Uỷ ban khởi nghiã ở từng cấp, từng địa bàn khác nhau, đồng thời hướng dẫn cách tổ chức, điều hành Uỷ ban với tư cách là

hình thức tiền Chính phủ Chỉ thị cũng giao cho các Uỷ ban nêu trên nhiệm vụ lãnh

đạo và tổ chức cao trào kháng Nhật cứu nước, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa Một chức năng rất quan trọng của các thiết chế tiền Chính phủ ấy là phải thực thi những biện pháp bảo đảm các quyền tự do, dân chủ và cải thiện đời sống dân sinh, chứng tỏ tính ưu việt, tính cách mạng, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc của chính quyền cách mạng

ở những thôn, xã, tổng, châu “hoàn toàn” mà Giải phóng quân làm chủ thì

Trang 25

Uỷ ban nhân dân cách mạng do nhân dân cử lên đã thực thi Mười chính sách của

Việt Minh, bảo đảm các quyền và lợi ích của toàn dân Theo luật gia Vũ Đình Hoè,

chính quyền nhân dân này là “mầm mống của một chế độ pháp quyền dân chủ tư sản kiểu mới” [105; 347] Để nhân dân trực tiếp tham gia quyết định những công việc quan trọng của địa phương, các Uỷ ban nhân dân đã tạo điều kiện cho quần chúng tập dượt trong thực tiễn tham gia vào việc quản lý và điều hành xã hội

Trước tình hình phần lớn nông thôn sáu tỉnh Việt Bắc do Việt Minh lãnh đạo được giải phóng và nối liền, theo đề nghị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 4/6/1945, Khu giải phóng gồm sáu tỉnh (Cao – Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái) được chính thức thành lập Khu giải phóng được xây dựng thành một căn cứ địa vững chắc trên các mặt kinh tế, chính trị, quân sự và văn hoá Uỷ ban chỉ huy lâm thời của khu được thành lập Uỷ ban có nhiệm vụ lãnh đạo toàn khu về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, xã hội Chính sách chung của Uỷ ban lâm thời trong Khu giải phóng được cụ thể hoá thành ba điểm, dựa theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị cán bộ Việt Minh ngày 4/6/1945 Đó là:

1 Tổng động viên nhân dân trong khu để kháng Nhật

2 Căn cứ vào điều kiện cụ thể và nhu cầu của cuộc kháng chiến mà thực hiện Chương trình Việt Minh Kiến lập nền dân chủ cộng hoà và ban bố các quyền phổ thông đầu phiếu, tự do dân chủ, dân tộc tự quyết, nam nữ bình quyền

3 Cải thiện sinh hoạt cho nhân dân: bỏ sưu, bỏ thuế thân, vận động sinh sản v.v [68; 541]

Chính quyền cách mạng ở Khu giải phóng đã bước đầu mang lại những lợi ích thiết thực cho khoảng gần một triệu đồng bào các dân tộc ở khu vực sáu tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ Những Uỷ ban nhân dân cách mạng do các giới đồng bào trực tiếp cử lên, đã dùng những phương pháp cách mạng bảo đảm những quyền tự do, dân chủ cơ bản cho nhân dân và tạo điều kiện để nhân dân tham gia

Trang 26

tích cực vào việc xây dựng và củng cố chính quyền Khu giải phóng thực sự là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam dân chủ mới, bước chuyển tiếp lên chính thể DCCH

Đến giữa tháng 8/1945, cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển đến đỉnh cao Quân Đồng minh đã đánh bại quân đội phát xít Nhật Ngày 14/8/1945, vua Nhật đã tuyên bố đầu hàng không điều kiện Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã Chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang, tê liệt Còn thực dân Pháp thì ráo riết quay trở lại xâm lược Đông Dương Thời cơ Tổng khởi nghĩa đã chín muồi, “giờ Tổng khởi nghĩa đã đánh! Dân tộc ta đến lúc vùng dậy cướp lại quyền độc lập của mình” [68; 558] Trước cơ hội có một không hai ấy, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (13 - 15/8/1945), quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, giành lấy chính quyền, lập nên một nước Việt Nam độc lập, tự do trước khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương giải giáp quân đội Nhật Hội nghị quyết định thành lập Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc, ra Quân lệnh số 1, hạ lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước

Và ngay chiều ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội đã khai mạc tại đình Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (Quốc dân Đại hội Tân Trào).Với khoảng 60 đại biểu dự Đại hội, đại diện cho cả ba miền Bắc, Trung, Nam, đại diện kiều bào ta ở Lào và Thái Lan và các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc, các tôn giáo , Quốc dân Đại hội Tân Trào thực sự tiêu biểu cho khối đoàn kết nhất trí toàn dân tộc Việt Nam Đại hội nhất trí ủng hộ đề nghị của Đảng Cộng sản

Đông Dương về việc phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc, thông qua Mười chính sách của Mặt trận Việt Minh và thiết tha hiệu triệu

nhân dân toàn quốc, các đoàn thể cách mạng đứng lên đoàn kết phấn đấu, để

"giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập" [183; 186]

Những nội dung cơ bản của chính sách đối nội, đối ngoại và thể chế của

Trang 27

Nhà nước ta là Nhà nước Việt Nam DCCH hoàn toàn độc lập đã được cụ thể hoá

trong Mười chính sách của Việt Minh Với việc ban bố “những quyền của dân, do

dân: nhân quyền, tài quyền (quyền sở hữu) và dân quyền: quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp,

đi lại), quyền dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền” [68; 560], tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực của nhân dân đã được thể hiện qua nội dung hoạt động và quyết nghị của Quốc dân Đại hội Tân Trào

Quốc dân Đại hội đã cử ra UBGPDT Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch để chỉ huy cuộc khởi nghĩa giành chính quyền và khi điều kiện cho phép thì:

“Uỷ ban này cũng như Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam trước khi thành lập một chính phủ chính thức Uỷ ban này thay mặt quốc dân mà giao thiệp với các nước ngoài và chủ trì mọi công việc trong nước” [68; 560, 561] Trong tình hình cấp bách, UBGPDT giao toàn quyền chỉ huy cho Uỷ ban khởi nghĩa (Uỷ ban này

do Tổng bí thư Trường Chinh đứng đầu)

Sáng 17/8/1945, dưới lá cờ đỏ sao vàng, UBGPDT Việt Nam ra mắt Quốc dân tại đình Tân Trào và tuyên thệ: “Chúng tôi những người được Quốc dân đại biểu bầu vào ủy ban giải phóng dân tộc để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân

ta Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc

Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng quyết không lùi bước Xin thề” [144; 57]

Đánh giá sự kiện này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Quốc dân Đại hội Tân Trào có ý nghĩa là một Quốc hội lâm thời, hay một tiền Quốc hội bởi

vì cách mạng chưa thành công Quốc dân Đại hội tạo căn cứ pháp lý cho sự ra đời chế độ cộng hoà dân chủ của nước ta, cho một Chính phủ lâm thời của nước Việt

Nam dân chủ cộng hoà khi cách mạng đã thành công Đại hội thông qua Chương

trình 10 điểm giao cho Uỷ ban giải phóng thi hành” [183; 27]

Quốc dân Đại hội Tân Trào diễn ra khẩn trương và thắng lợi trong đêm

Trang 28

trước của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, mang tầm vóc lịch sử như một Quốc hội của nước Việt Nam mới Quốc dân Đại hội Tân Trào là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử tranh đấu giải phóng của dân tộc ta suốt gần một thế kỷ bị thực dân Pháp thống trị Hoạt động và những quyết nghị của Quốc dân Đại hội Tân Trào đã cho thấy Đại hội thực sự biểu thị cho ý chí của toàn dân tộc, phản ánh nguyện vọng và quyết tâm đứng lên đấu tranh giành độc lập của toàn thể nhân dân, đáp ứng được những quyền về dân sinh, dân chủ cho nhân dân lao động

Ngay sau Đại hội quốc dân, Chủ tịch UBDTGP Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước vùng lên khởi nghĩa: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho

ta Chúng ta không thể chậm trễ” [129; 554] Đồng thời, Người cũng gửi thư yêu cầu Liên hiệp quốc thực hiện lời hứa long trọng của mình về quyền được hưởng độc lập, dân chủ của tất cả các dân tộc và yêu cầu Chính phủ Pháp phải công nhận Chính phủ Việt Nam cùng các điều kiện về mối quan hệ giữa người Việt Nam và Pháp

Có thể khẳng định rằng, hoạt động và quyết nghị của Quốc dân Đại hội Tân Trào với việc thông qua ba quyết sách của quốc gia, đã thể hiện sự nhạy bén trước thời cuộc của Hồ Chí Minh trong cách mạng Tháng Tám Đó là:

Thứ nhất, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, của Tổng bộ

Việt Minh

Thứ hai, nhất trí mười chính sách lớn và hiệu triệu toàn dân vùng lên đấu

tranh để giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam DCCH trên nền tảng hoàn toàn độc lập

Thứ ba, bầu UBDTGP – tức Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam DCCH,

tạo cơ sở pháp lý cho sự ra đời một Chính phủ hợp pháp do nhân dân bầu ra

Đặt trong hoàn cảnh quân Đồng minh sắp kéo vào Việt Nam, quân Pháp ráo riết chuẩn bị khôi phục quyền thống trị và các thế lực phản động cũng đang theo

Trang 29

đuôi quân Tưởng về nước chống phá cách mạng…, mới thấy hết được giá trị những công việc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm Hồ Chí Minh - con người của những quyết sách lịch sử, đã tổ chức thắng lợi Quốc dân Đại hội Tân Trào để quyết định chuyển xoay vận nước bằng việc thành lập UBDTGP, bằng quyết định Tổng khởi nghĩa

Hồ Chí Minh đã kịp thời "hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng", chuẩn bị những bước đi vững chắc để "làm cho mọi người thấy rõ được cả tính hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào" [174; 146] cách mạng trong đêm trước của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 Quyết định kịp

thời, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo cơ sở pháp quyền đầu tiên, quan

trọng cho sự hình thành, ra đời một cơ cấu, một thể chế của nhà nước mới, Nhà nước Việt Nam DCCH sau đó - Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân

1.2 Hồ Chí Minh với sự ra đời cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

1.2.1 Xúc tiến thực hiện Tổng tuyển cử

Đáp lại lời hiệu triệu của Tổng bộ Việt Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã nhất tề đứng lên giành lại chính quyền từ tay phát xít Nhật (tiêu biểu là Hà Nội, Huế, Sài gòn) và lập nên chính quyền cách mạng trong toàn quốc Ngày 24/8/1945, Vua Bảo Đại ra Tuyên cáo thoái vị để được làm người dân một nước độc lập Việc cựu Hoàng đế Bảo Đại ra Tuyên cáo thoái vị theo yêu cầu của UBDTGP có ý nghĩa pháp lý hoá truyền thống quốc tế Đánh giá sự kiện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Cựu Hoàng đế Bảo Đại trịnh trọng tuyên bố từ bỏ tất cả các quyền lợi của ông ta Sự từ bỏ ấy như vậy là đã “hợp pháp hoá”, theo một số truyền thống ngày nay đã được thừa nhận trên thế giới” [97; 37, 38]

Như vậy, chỉ trong khoảng hai tuần lễ, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân ta đã giành được thắng lợi Chính quyền cách mạng đã được xác lập khắp cả nước, “đã được thừa nhận, hợp pháp hoá một cách vẻ vang nhất

Trang 30

bởi sự tham gia cuồng nhiệt của toàn thể nhân dân Việt Nam” [97; 38]

Ngày 25/8/1945, Hồ Chí Minh – Chủ tịch UBDTGP Việt Nam đã về đến Hà Nội Theo đề nghị của Người, UBDTGP tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam DCCH Một số đảng viên cộng sản, kể cả Tổng bí thư Trường Chinh đã

tự nguyện rút ra nhường chỗ cho một số nhân sĩ yêu nước, tiến bộ để nêu cao hơn nữa tinh thần đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc Hành động cao đẹp của những người cộng sản Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Đó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính mà chúng ta phải học” [132; 160] Chính phủ lâm thời không phải

là chính phủ của riêng Việt Minh mà là đại biểu thực sự của khối toàn dân đoàn kết Ngày 28/8/1945, Tuyên cáo của Chính phủ lâm thời nêu rõ:

Nhiệm vụ của Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam hết sức nặng nề Làm sao cho Chính phủ lâm thời tiêu biểu được Mặt trận dân tộc thống nhất một cách rộng rãi và đầy đủ Bởi vậy, Uỷ ban dân tộc giải phóng đã quyết định tự cải tổ, mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ đặng cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân giao phó Chính phủ lâm thời thật là một Chính phủ quốc gia thống nhất giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn quốc, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ dân chủ cộng hoà chính thức [193]

Ngày 2/9/1945, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc

Tuyên ngôn độc lập trước quốc dân và tuyên bố với thế giới việc thành lập nước

Việt Nam DCCH Tuyên ngôn độc lập đã khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế

giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” [9], đồng thời nhấn mạnh: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập” [9]

Quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu

lên trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên, tạo

dựng địa vị hợp pháp của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam DCCH Ngày

Trang 31

3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên nhiệm vụ phải tổ chức cuộc Tổng

tuyển cử của nước Việt Nam độc lập, “đi đến Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu

Chính phủ chính thức” [69; 27] Nội dung đó được Người nêu rõ trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 3/9/1945):

Trước chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ

thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp

Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có

một Hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng

hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống ” [130; 8]

Đề nghị này có giá trị lịch sử như một tuyên bố lập hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh Sau đó, ngày 8/9/1945, thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời, Bộ

trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 14/SL quy định thời hạn hai

tháng kể từ ngày ký sắc lệnh sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử và một Uỷ ban khởi thảo Hiến pháp gồm 7 người sẽ được thành lập Sắc lệnh ghi rõ:

Chuẩn theo Nghị quyết của Quốc dân đại biểu Đại hội họp ngày 16 17/8/1945 tại Khu giải phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hoà và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân Đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên

-Xét rằng nhân dân Việt Nam do Quốc dân Đại hội thay mặt là quyền lực

tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ cộng hoà

Xét rằng trong tình thế hiện giờ sự triệu tập Quốc dân Đại hội không những có thể thực hiện được mà lại rất cần thiết để cho toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập và chống nạn ngoại xâm” [93; 31] Nội dung của sắc lệnh đã khẳng định vị trí pháp lý và vai trò của Quốc dân Đại hội Tân Trào, đồng thời cho thấy sự phát triển mang tính liên tục từ Quốc dân

Trang 32

Đại hội Tân Trào - một Quốc hội lâm thời và Chính phủ lâm thời đến yêu cầu khách quan của lịch sử và điều kiện cần thiết đã chín muồi để tiến hành Tổng tuyển

cử, bầu Quốc hội chính thức và soạn thảo Hiến pháp cho nước Việt Nam DCCH

Công việc chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử được thể hiện bằng những việc

làm cụ thể và cơ sở pháp lý của nó là dựa trên những sắc lệnh như: Sắc lệnh số 34/SL

về thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp (gồm Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu ) và

Sắc lệnh số 39/SL (ngày 26/9/1945) về việc thành lập một Uỷ ban dự thảo thể lệ

Tổng tuyển cử gồm 9 người

Cuối tháng 12/1945, công việc chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc hội đã trở nên

vô cùng khẩn trương Hiểu rõ vai trò của cuộc Tổng tuyển cử trong đời sống chính trị của nhân dân ta, các thế lực phản động ra sức phá hoại cuộc Tổng tuyển cử, phá hoại nền độc lập non trẻ mà nhân dân ta vừa giành được Do tầm quan trọng và những diễn biến phức tạp của tình hình, cho nên cuộc đấu tranh chính trị chuẩn bị cho Tổng tuyển cử đầu tiên để bầu Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam độc lập đã được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và trực tiếp lãnh đạo

Trước hành động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) dựa vào quân Tưởng đòi phải lập lại Chính phủ, xoá bỏ chính quyền cách mạng, đòi cho đại diện của họ được giữ vị trí cao trong Chính phủ, còn Việt Nam quốc dân đảng (Việt Quốc) thì đòi nắm Bộ Nội vụ, Tài chính, Kinh tế, Quốc phòng để họ chiếm 1/3 số ghế trong Quốc hội cũng như Việt Minh Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ lâm thời, một mặt kiên quyết đấu tranh vạch trần và chống lại những hành động phá hoại của kẻ thù, mặt khác khôn khéo thực hiện sách lược nhân nhượng, hoà giải để chặn bàn tay can thiệp thô bạo của quân Tưởng

Trong khi các báo Đồng tâm, Thiết thực, Việt Nam đăng tải những bài có

Trang 33

nội dung nói xấu Đảng Cộng sản, nói xấu Việt Minh, phá hoại Tổng tuyển cử, cho rằng trình độ dân trí của nhân dân Việt Nam còn thấp kém, đa phần là mù chữ,

“chưa biết dùng quyền dân chủ Bọn đầu cơ sẽ lợi dụng Cuộc Tổng tuyển cử sẽ thất bại” [173; 128] nhưng với niềm tin vô hạn vào nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “nhân dân rất thông minh Họ sẽ biết dùng lá phiếu của họ, Tổng tuyển

cử sẽ thành công” [173; 128] Đề cập đến vấn đề Quốc hội sẽ làm những gì cho nhân dân, Hồ Chí Minh trong một bài trả lời phỏng vấn đã khẳng định rằng: "Vốn bản chất là hiện thân của dân tộc, Quốc hội sẽ làm tất cả những gì mà nhân dân

mong muốn"[141; 2] Đồng thời, trên các tờ báo Cứu quốc, Sự thật, Quốc hội

những bài viết có nội dung về Tổng tuyển cử, về quyền lợi và nghĩa vụ công dân,

về vai trò của Quốc hội, của Hiến pháp cũng lần lượt đến với các độc giả trong cả

nước Nhật báo Quốc hội - ra đời trong thời kỳ Tổng tuyển cử và phục vụ Tổng

tuyển cử đã khẳng định các nội dung: Muốn giữ vững độc lập phải đi bầu cử; Ai muốn cho đời mình có ý nghĩa, ai muốn cho dân tộc mình được mạnh? Hãy trân trọng tìm người ứng cử vào Quốc hội; Mỗi lá phiếu của chúng ta là một viên đạn

để diệt quân thù “Ngày 6/1/1946, ngày tổng tuyển cử, toàn thể dân chúng Việt Nam được quyền tự do định đoạt số phận của mình" [17]

Thông qua việc vạch trần những luận điệu phản động của kẻ địch, các tờ báo

đã cổ vũ quần chúng tích cực tham gia Tổng tuyển cử và nhấn mạnh, đây thực sự

là "dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà Tổng tuyển cử nghĩa là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ, đoàn kết" [10]

Thực hiện chủ trương thống nhất và hoà giải, ngày 27/9/1945, Hội đồng Chính phủ họp, bàn bạc và nhất trí để Nguyễn Hải Thần giữ chức Phó Chủ tịch Chính phủ Tiếp đó, ngày 23/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nguyễn Hải Thần

đã ký thoả ước chấp nhận đoàn kết và hợp tác Ngày 24/12/1945, đại biểu của Việt

Minh, Việt Quốc, Việt Cách đã gặp nhau và ký bản Biện pháp đoàn kết gồm 14

Trang 34

điều chính và 4 điều phụ Tinh thần của bản Biện pháp với nội dung: Độc lập trên

hết, kêu gọi đoàn kết, đình chỉ đăng báo công kích lẫn nhau bằng lời nói và hành động, nhất trí mở rộng Chính phủ lâm thời có đại diện của Việt Quốc và Việt Cách, thừa nhận 70 ghế trong Quốc hội cho Việt Quốc, Việt Cách không thông qua bầu cử đã được các bên thông qua

Ngày 1/1/1946, Chính phủ lâm thời cải tổ, mở rộng thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, trong đó để Nguyễn Hải Thần đại diện Việt Cách giữ chức Phó Chủ tịch và Trương Đình Tri, đại diện Việt Quốc giữ chức Bộ trưởng Bộ Y tế Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm 18 thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đã ra tuyên bố mà nội dung đối nội là "làm sao cho cuộc toàn dân tuyển cử được thành công mỹ mãn và chuẩn bị sẵn sàng việc khai Quốc hội" [10]

Ngày 3/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp của Chính phủ liên hiệp lâm thời, kiểm tra lần cuối cùng những công việc của tổng tuyển cử Ngày

5/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi đồng bào cả nước thực hiện quyền

lợi và nghĩa vụ công dân của mình Người viết: "Ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình Ngày mai, dân ta sẽ được tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước " [130; 145] Ngày hôm sau, 6/1/1946,

số đặc biệt của báo Quốc hội đã trân trọng in ở trang đầu ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và bút tích Lời kêu gọi của Người: "Khuyên đồng bào nam nữ 18 tuổi trở lên

hôm nay tất cả đi bỏ phiếu, để bầu những người đại biểu xứng đáng đứng vào

Quốc hội đầu tiên của nước ta" [17] (xem chi tiết tại Phụ lục số 2 trang 120 và 121 )

Kiên quyết chuẩn bị và tiến hành Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội, Đảng ta đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh đã cùng nhân dân cả nước tỏ rõ tư cách xứng đáng của người dân một nước độc lập và ý chí đoàn kết không chia rẽ của quốc dân trong ngày chủ nhật 6/1/1946 - "ngày hội non sông"

1.2.2 Tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá I

Trang 35

Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, là “một dịp duy nhất để tỏ rõ nguyện vọng của một dân tộc mới giành được quyền tự do độc lập” [17] đã diễn ra đúng kế hoạch, theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Như vậy

là, ba tháng sau ngày tuyên bố độc lập, với tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm của toàn dân tộc, với sự kiên định, quyết tâm tiến hành tổng tuyển cử của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, nhân dân ta đã bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam DCCH Đó là Quốc hội liên hiệp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam DCCH

Nói về quyền bầu cử và ứng cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: "Hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái " [130; 133] Do đó, Người kêu gọi nhân dân thực hiện quyền làm chủ đất nước và xã hội thông qua lá phiếu để bầu những đại biểu thay mặt mình "gánh vác công việc nước nhà"

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực của nhân dân được thể hiện rõ qua việc Người kiên quyết tiến hành Tổng tuyển cử và động viên nhân dân tham gia Tổng

tuyển cử (xem chi tiết tại Phụ lục số 1 và 2 trang 117 đến 121) Bởi rằng, tiến

hành tổng tuyển cử tự do, dân chủ theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong điều kiện cụ thể của Việt Nam không đơn giản chỉ là vấn đề nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình Đó còn là một hình thức đấu tranh chính trị của toàn dân chống lại âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch Theo Hồ Chí Minh, “về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch” [130; 145], cho nên tạo điều kiện để mọi tầng lớp nhân dân tham gia bầu cử Quốc hội có

ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc khẳng định tính ưu việt của nhà nước Việt Nam dân chủ mới

Chuẩn bị cho việc bầu cử và ứng cử, Sắc lệnh 51/SL (ngày 17/10/1945) nêu

rõ: "Tất cả những người công dân Việt Nam 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam

Trang 36

nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử" [187; 436, 437] trừ những đối tượng sau: những người điên, những người hành khất chuyên môn hay là những người do một hội thiện nào đó nuôi vĩnh viễn, hoặc là những người bị can án mà không được hưởng sắc lệnh đặc xá của Chính phủ,

Khi bầu cử, phiếu bầu của cử tri theo mẫu chung của toàn quốc sẽ do Ban phụ trách bầu cử phát cho người đi bầu và chỉ phát cho mỗi người một phiếu có đóng dấu của UBND làng (tỉnh lỵ, hay khu phố) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ tiêu chuẩn của nguời đại biểu nhân dân khi trúng cử, "sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào Phải luôn luôn nhớ

và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng" [130; 145] Vạch rõ trách nhiệm của cử tri và hướng dẫn đúng đắn để cử tri sử dụng quyền bầu cử của mình, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, "những ai muốn làm quan cách mạng thì không nên bầu" và “không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy” [130; 147] khi dùng lá phiếu cử tri tham gia bầu cử Lá phiếu cử tri có một giá trị cao quý, đó là một dấu xác nhận rằng: trong thực tiễn nhân dân đã thật sự làm chủ nước nhà

Để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, vì lợi ích của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh quyết định mời tất cả những người ngoài Mặt trận Việt Minh cùng đứng chung danh sách ứng

cử Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc ngày 25/11/1945 đã nêu rõ vấn đề này và yêu

cầu "mỗi tỉnh phải đặt ngay một cái sổ tên những người ứng cử để kịp cổ động bầu Nguyên tắc đặt sổ: đảng viên 1/3, người của các đoàn thể trong Mặt trận 1/3, người ngoài mặt trận 1/3 (song tỉnh nào, thế lực các đảng phái đối lập mạnh thì số đảng viên ra ứng cử có thể thêm lên)" [69; 33] Mặt khác, Trung ương Đảng cũng chủ trương:

Những phần tử cộng sản hay người Việt Minh không dùng danh nghĩa đoàn thể mình ra ứng cử để chứng tỏ mình không giành giật ảnh hưởng

Trang 37

hay thế lực đảng phái mà chỉ có mục đích cứu nước, và mình trúng cử là

vì mình được quốc dân yêu chuộng và tin cậy Phải đưa những người ở trong UBND có năng lực hành chính ra ứng cử, còn những người bất lực

và thiếu tư cách thì cho nghỉ để làm việc khác Cần giới thiệu những vị thân hào có tài, có đức ra ứng cử, và cùng đứng chung một sổ quốc gia liên hiệp với những người ứng cử của Việt Minh [69; 33]

Để tạo điều kiện thuận lợi cho những người ra ứng cử, ngày 2/12/1945,

Sắc lệnh số 71 được ban hành nhằm bổ khuyết Điều 11, Chương V của Sắc lệnh

51 Nội dung của Sắc lệnh số 71 ghi rõ: Vì sự giao thông khó khăn nên người ứng

cử có thể gửi đơn ứng cử ngay cho UBND nơi mình xin ứng cử Đơn và giấy chứng thực đủ điều kiện sẽ do UBND nơi trú ngụ chuyển cho UBND nơi ứng cử Khi ứng cử, người ứng cử có thể tuỳ ý mình đứng tên riêng hoặc đứng trong danh sách của Mặt trận Việt Minh giới thiệu Trong việc vận động tranh cử, các ứng cử viên được bình đẳng như nhau và chỉ phải khai cho UBND các địa phương biết trước 24 giờ Các UBND địa phương sẽ phái người đến kiểm soát cuộc hội họp để vận động tranh cử và "có quyền giải tán nếu thấy cuộc họp có tính cách phương hại đến nền độc lập và cuộc trị an" [187; 437, 438] Đây là những sắc lệnh quan trọng, chu đáo về xây dựng quyền làm chủ của công dân Việt Nam đối với vận mệnh đất nước qua việc chuẩn bị bầu cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, của nước Việt Nam DCCH

Khác với bầu cử ở các nước tư sản, ứng cử vào Nghị viện - Quốc hội là do các đảng phái giới thiệu, còn ở Việt Nam mặc dù lúc đó có Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ, song đều là đảng cách mạng nên dù là người của đảng nào ra ứng cử thì

họ cũng đều trên tinh thần vì nước, vì dân, vì thế đều được nhân dân tin tưởng, ủng

hộ Tuy nhiên, bên cạnh các đảng cách mạng, còn có những đảng đối lập như Việt Quốc, Việt Cách và với các đảng này, Hồ Chí Minh nêu rõ:

a: Xin mời các đồng chí Quốc dân đảng tham gia việc tổng tuyển cử ở

Trang 38

Cũng theo Sắc lệnh 51/SL (ngày 17/10/1945), "dân trong mỗi tỉnh bầu thẳng

đại biểu tỉnh mình dự vào QDĐH" Số đại biểu của một tỉnh hay thành phố thì

sẽ căn cứ vào dân số tỉnh (hay thành phố) ấy mà ấn định, trừ một vài thành phố đặc biệt quan trọng, thì "số đại biểu có tăng lên chút ít" Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, số đại biểu của một tỉnh hay thành phố mà căn cứ vào số dân cư

là hợp lý nhất Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã sửa nội dung trong dự

thảo "căn cứ vào trình độ văn hoá" và "căn cứ vào phong trào cách mạng" để bầu số đại biểu của một tỉnh hay thành phố thành "căn cứ vào dân số tỉnh hay

thành phố ấy mà ấn định" (T.G nhấn mạnh) Quyết định của Chủ tịch Hồ Chí

Minh rất cách mạng và sáng tạo, khẳng định một lần nữa trong thực tế lòng tin của Người vào dân, dựa vào lòng yêu nước của nhân dân để nhân dân tự chọn lấy người đại diện cho mình điều khiển công việc quốc gia

Sau đó, “khi đã nhận danh sách đại biểu toàn quốc, Chính phủ nhân dân lâm thời định ngày triệu tập Quốc dân Đại hội tại Hà Nội, Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà" [187; 447]

Trong điều kiện đất nước đứng trước vô vàn khó khăn thử thách thì những việc làm thiết thực, kịp thời của Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, chuẩn bị cho Tổng tuyển cử thật là dũng cảm và kiên quyết Với những điều

khoản chi tiết, rõ ràng trong Sắc lệnh số 51/SL và điều khoản bổ sung của Sắc lệnh

số 71/SL, Tổng tuyển cử 6/1/1946 thực sự là tự do, dân chủ và đoàn kết Trong

hoàn cảnh đầy khó khăn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 thực sự là ngày “toàn thể dân chúng Việt Nam được

Trang 39

quyền định đoạt số phận của mình” [20]

Với ý chí sắt đá và niềm tin tưởng chắc chắn rằng đi bỏ phiếu là đặt một viên gạch xây đắp nền cộng hoà dân chủ, nhân dân ta ở khắp mọi miền đất nước,

dù nhiều người phải hy sinh cả tính mạng của mình đã tiến đến thùng phiếu để thực hiện nghĩa vụ công dân Theo đúng kế hoạch đã định, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, nhân dân ta đã thực

sự được hưởng một phần độc lập, tự do bằng lá phiếu cử tri của mình trong ngày 6/1/1946

Tại Hà Nội, hàng chục vạn cử tri đã đi bỏ phiếu Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng

cử tại Hà Nội Là một lãnh tụ của Đảng và dân tộc, Hồ Chí Minh đã không chỉ động viên, kêu gọi mọi người tham gia tổng tuyển cử mà chính Người cũng nghiêm túc thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ công dân của mình Tại Hà Nội, 118 vị chủ tịch UBND và tất cả các giới đại biểu làng xã kiến nghị: "Cụ Hồ Chí Minh miễn phải ứng cử" trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới và "suy tôn Cụ làm Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà" Đáp lại tình cảm và nguyện vọng

đó, Hồ Chí Minh đã cảm tạ đồng bào và nói: "Tôi là một công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nên không thể vượt qua thể lệ tổng tuyển cử đã định" [130; 116] Người bầu cử tại địa điểm số 10 Hàng Vôi (nay là phố Lý Thái Tổ), rồi sau đó đi thăm phòng bỏ phiếu tại phố Hàng Gai, Hàng Trống

Trong cuộc bầu cử tại Hà Nội, đã có 172.765 trong tổng số 187.880, tức 91,95% cử tri của cả 74 khu phố nội thành và 118 làng ngoại thành đã đi bỏ phiếu Sáu trong tổng số 74 ứng cử viên đã trúng cử đại biểu Quốc hội Người trúng cử thấp phiếu nhất là 52,5%, người đạt phiếu cao nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh được 169.222 phiếu, tức 98,4%" [93; 48, 49]

Tại các địa phương khác, Tổng tuyển cử cũng diễn ra sôi nổi Mặc dù một số địa phương phải đối phó với âm mưu phá hoại tinh vi và trắng trợn của kẻ thù, nhưng ở miền Bắc, nói chung Tổng tuyển cử diễn ra an toàn Hải Phòng có tới 96% cử tri đi bỏ phiếu ở miền Nam, nhất là Nam Bộ, dưới bom đạn ác liệt của kẻ

Trang 40

thù, không có nơi bỏ phiếu cố định, thậm chí ngay tại bệnh viện hoặc trên trận tuyến bất chấp địch đánh phá, Tổng tuyển cử vẫn thu được kết quả tốt đẹp Nhiều tỉnh còn đạt số cử tri đi bỏ phiếu rất cao (Sa Đéc đạt 93,54%, Bạc Liêu đạt 90,97%) Tại Tây Nguyên, thực dân Pháp dùng máy bay ném bom lửa xuống ba làng để khủng bố dân chúng, song Tổng tuyển cử vẫn được tiến hành

Nhìn chung, tại 71 tỉnh thành trong cả nước, đã có "89% tổng số cử tri đi bỏ phiếu, phổ biến là 80%, nhiều nơi đạt 95%" trừ một số nơi phải bầu bổ sung, còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần

Cuộc vận động và tiến hành Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 thật sự là một cuộc đấu tranh chính trị vô cùng khó khăn và không kém phần quyết liệt, để thực thi quyền dân chủ chính trị của mọi công dân nước Việt Nam độc lập, tự do trong những tháng đầu cách mạng mới thành công Người dân Việt Nam đã dùng lá phiếu cử tri của mình hưởng dụng quyền dân chủ của người dân một nước độc lập, đồng thời góp phần thiết thực bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc Tự mình quyết định vận mệnh lịch sử của mình, tự mình lựa chọn những người có tài, có đức, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung để lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền

dân chủ mới Với thành công của cuộc Tổng tuyển cử, nhân dân Việt Nam đã bầu

ra Quốc hội khoá I của nước Việt Nam DCCH, đồng thời khẳng định trong thực tế khả năng làm chủ vận mệnh của mình Với 333 đại biểu đuợc bầu chính thức (trong đó Bắc Bộ có 152 đại biểu, Trung Bộ có 108 đại biểu, Nam Bộ có 73 đại biểu) và 70 đại biểu không thông qua bầu cử, Quốc hội khoá I gồm 403 đại biểu

Sự ra đời của Quốc hội khóa I là thắng lợi của tinh thần yêu nước, của chế

độ mới, của chính thể DCCH lần đầu tiên được thiết lập trên đất nước ta Đó đồng thời cũng là thắng lợi của việc kiên quyết tiến hành Tổng tuyển cử trong điều kiện đầy khó khăn thử thách của Chủ tịch Hồ Chí minh và Tổng bộ Việt Minh

Quốc hội khoá I là: “Kết quả của sự hy sinh, tranh đấu của tổ tiên ta,…là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già trẻ, lớn bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất

Ngày đăng: 02/07/2016, 10:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Phạm Ngọc Anh – Chủ biên (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền của con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền của con người
Tác giả: Phạm Ngọc Anh – Chủ biên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
[2]. Phạm Ngọc Anh (2004), Một số quan điểm của của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quan điểm của của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Năm: 2004
[3]. Phạm Ngọc Anh – Bùi Đình Phong (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc Anh – Bùi Đình Phong
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2003
[7]. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương (1984), Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Sơ thảo, tập 1, 1920-1954, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Sơ thảo, tập 1, 1920-1954
Tác giả: Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1984
[8]. Ban biên soạn Lịch sử Chính phủ, Biên niên lịch sử Chính phủ 1945- 1954, 1955-1960, Tài liệu lưu tại Ban chỉ đạo biên soạn lịch sử Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên niên lịch sử Chính phủ 1945-1954, 1955-1960
[14]. Báo Lao động, ngày 25/9/1957, lưu tại Thư viện Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động
[15]. Báo Nhân dân, số 152, ngày 6-10/12/1953, lưu tại Thư viện Quốc gia [16]. Báo Nhân dân, ngày 24/3/1955, lưu tại Thư viện Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân dân", số 152, ngày 6-10/12/1953, lưu tại Thư viện Quốc gia [16]. Báo "Nhân dân
[18]. Báo Sự thật số 5/3/1946, lưu tại Thư viện Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thật
[19]. Báo Sự thật, số 136, ngày 15/7/1950, lưu tại Thư viện Quốc gia [20]. Báo Việt Nam, số 6/12/1945, lưu tại Thư viện Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thật", số 136, ngày 15/7/1950, lưu tại Thư viện Quốc gia [20]. Báo "Việt Nam
[21]. Biên bản Hội đồng Chính phủ (1945-1946), Trung tâm lưu trữ Quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên bản Hội đồng Chính phủ (1945-1946)
[22]. Bùi Công Bính, Bác Hồ với Quốc hội đầu tiên của nước ta, Báo Daklak cuối tuần, 5/4/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với Quốc hội đầu tiên của nước ta
[23]. Bộ Ngoại giao (2000), Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
[24]. Bộ Quốc phòng – Viện lịch sử quân sự Việt Nam (1996). Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, nguyên nhân chiến tranh, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, nguyên nhân chiến tranh
Tác giả: Bộ Quốc phòng – Viện lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[25]. Bộ Văn hoá Thông tin – Bảo tàng Hồ Chí Minh (1996): Danh mục tài liệu hiện vật triển lãm – Một số hình ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh với Quốc hội, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hình ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh với Quốc hội
Tác giả: Bộ Văn hoá Thông tin – Bảo tàng Hồ Chí Minh
Năm: 1996
[26]. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
[27]. Cù Huy Cận, Đặt nền móng cho chế độ mới, Báo Nhân dân hàng tháng, Tháng 11/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặt nền móng cho chế độ mới
[28]. Huỳnh Ngọc Chi, Bác Hồ với ngày bầu cử Quốc hội khoá đầu tiên, Báo Sài Gòn giải phóng, 18/7/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với ngày bầu cử Quốc hội khoá đầu tiên
[29]. Phùng Quang Chí, Bác Hồ đi bầu cử, Báo Daklak, 17/5/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ đi bầu cử
[30]. Trường Chinh (1956), Tăng cường nhà nước dân chủ nhân dân của ta, Tạp chí Học tập, số 2, tháng 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường nhà nước dân chủ nhân dân của ta
Tác giả: Trường Chinh
Năm: 1956
[31]. Trường Chinh (1967), Kháng chiến nhất định thắng lợi, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháng chiến nhất định thắng lợi
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1967

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w