Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không tách rời đường lối đúng đắn của Đảng – đó là đường lối phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, kết hợp và phát huy sức mạ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LAN ANH
ĐẢNG VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
(1969 – 1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LAN ANH
ĐẢNG VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA
CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM
1.1 Sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
1.1.1 Yêu cầu lịch sử đối với việc thành lập Chính phủ Cách mạng lâm
thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam 12
1.1.2 Sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
1.2 Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách mạng
1.2.1 Lãnh đạo tranh thủ sự công nhận quốc tế 28
1.2.2 Lãnh đạo phối hợp hoạt động và phát huy ưu thế ngoại giao “tuy
hai mà một, tuy một mà hai” trên bàn đàm phán Hội nghị Paris 31
1.2.3 Lãnh đạo đấu tranh cáo tội ác đế quốc Mỹ, tranh thủ dư luận thế
giới bên ngoài bàn đàm phán Hội nghị Paris 56
Chương 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA
CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM
2.1 Bối cảnh lịch sử sau khi ký kết Hiệp định Paris và chủ trương
của Đảng
2.1.1 Những diễn biến mới trên trường quốc tế và trong nước 64
2.2 Đảng chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách mạng
2.2.1 Chỉ đạo hoạt động đấu tranh thi hành Hiệp định Paris 73
2.2.2 Chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động tranh thủ sự ủng hộ quốc tế 99
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 110
Trang 43.1.1 Chủ trương phối hợp hoạt động và phát huy ưu thế ngoại giao
hai miền là một sáng tạo độc đáo của Đảng 110
3.1.2 Chủ trương đối với hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được Đảng hoạch định trên
cơ sở phân tích đặc điểm tình hình và nhiệm vụ cách mạng của giai đoạn
3.1.3 Đảng đã chỉ đạo Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam triển khai các mũi tiến công ngoại giao khác nhau, nhằm tạo
3.1.4 Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đối ngoại của Chính
phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam giai đoạn 1973 –
1975 vừa có sự thống nhất căn bản, vừa có bước phát triển nhất định so với
3.1.5 Quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ
Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vẫn còn một số hạn chế,
3.2.1 Nắm vững tình hình, nhiệm vụ cách mạng cả nước, cũng như của
miền Nam, để xác định chủ trương đối ngoại thích hợp 132
3.2.2 Kiên trì các nguyên tắc đối ngoại, song có sách lược, biện pháp
linh hoạt, mềm dẻo trong chỉ đạo thực hiện 134
3.2.3 Kết hợp linh hoạt các mũi tấn công ngoại giao; đồng thời, kết
hợp các phương thức, cách thức ngoại giao khác nhau 140
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCT: Bộ Chính trị
BCHTƯ: Ban Chấp hành Trung ương
BLHQS: Ban Liên hợp quân sự
CHDC: Cộng hòa dân chủ
CHND: Cộng hòa nhân dân
CHMNVN: Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thần thánh của dân tộc Việt Nam là một bản trường ca bất hủ về tinh thần đấu tranh, lòng yêu nước và khát khao độc lập, tự do Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không tách rời đường lối đúng đắn của Đảng – đó là đường lối phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, kết hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của các mặt trận quân sự, chính trị, văn hóa, ngoại giao… làm nên sức mạnh nội lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đánh bại
ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ - một đế quốc hùng mạnh, trong gần 200 năm lập quốc chưa từng nếm mùi thất bại Trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước, ngoại giao trở thành một trong những mặt trận quan trọng, ở
đó, Đảng đã lãnh đạo kết hợp sức mạnh ngoại giao hai miền, lãnh đạo hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN một cách hiệu quả từ khi Chính phủ ra đời (1969) đến khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi (1975), góp phần vào thắng lợi chung của ngoại giao cả nước trong sự nghiệp giành độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc
Hiện nay, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới - đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thì việc “ôn
cố tri tân”, nhìn lại, đánh giá một cách thấu đáo những thành tựu, hạn chế của ngoại giao cả nước những năm tháng hào hùng chống Mỹ nói chung, của CPCMLTCHMNVN nói riêng dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, rút ra những kinh nghiệm cho hiện tại là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn Với những lý do đó, chúng tôi chọn chủ đề “Đảng với hoạt
động đối ngoại của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969 -1975)” làm đề tài luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành
lịch sử ĐCSVN
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 7Về mảng đề tài này, lâu nay đã có một số sách, bài viết được công bố với nhiều góc độ và phạm vi nghiên cứu Có thể chia thành những nhóm tư liệu như sau:
Các công trình của các nhà nghiên cứu trong nước
- Các công trình chuyên khảo, tham khảo
Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 [8]; Ngoại giao Việt Nam hiện đại
vì sự nghiệp giành độc lập, tự do (1945 - 1975) [76]; 50 năm ngoại giao Việt Nam, tập 1, 2 [79]; Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước
1965 - 1975 [118]; Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh [85]; Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ và Kissinger tại Paris [80]; Quá trình Đảng lãnh đạo đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris về Việt Nam (1968 –
1973) [90]…
Đây là nhóm công trình khá phong phú, trong đó có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngoại giao kỳ cựu – những người từng tham gia đấu tranh trên mặt trận ngoại giao thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Nhìn chung, các công trình này tập trung trình bày chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam và các quan hệ ngoại giao của Việt Nam từ năm
1945 trở đi Các công trình đã phân tích một cách khái quát đường lối đối ngoại của Đảng, các sự kiện ngoại giao chủ yếu diễn ra từ sau khi nước ta giành độc lập và trong mạch chảy chung ấy, đã đề cập đến hoạt động ngoại giao của CPCMLTCHMNVN Trong một số công trình, các tác giả cũng đã khái quát quá trình Đảng lãnh đạo phối hợp hoạt động ngoại giao hai miền, hình thành nên nền ngoại giao độc đáo “tuy hai mà một” chưa từng có trong
lịch sử Trong nhóm các công trình này, hai công trình nghiên cứu: “Các
cuộc thương lượng Lê Đức Thọ và Kissinger tại Paris” (tác giả Lưu Văn
Lợi, Lê Anh Vũ); “Quá trình Đảng lãnh đạo đấu tranh ngoại giao tại Hội
nghị Paris về Việt Nam (1968 – 1973)” (tác giả Lương Viết Sang) đã cung
cấp những tư liệu phong phú, phản ánh khá rõ nét những hoạt động ngoại giao của CPCMLTCHMNVN
- Các công trình mang tính chất hồi ức, hồi ký
Trang 8Mặt trận dân tộc giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris về Việt Nam (Hồi ức) [9]; Chung một bóng cờ [47]; Trại Davis Sài Gòn - mùa xuân 1973 [52]; Từ Geneva đến Paris [11]…
Các tác phẩm này là hồi ký của những người trực tiếp tham gia vào tiến trình của Hiệp định Paris và quá trình thi hành Hiệp định nên rất sống động; nguồn thông tin phong phú, chi tiết Qua các công trình này, có thể hình dung một cách khá toàn diện, rõ nét diễn biến của quá trình đấu tranh ngoại giao Tuy nhiên, do mang tính chất hồi ký, nên một số sự kiện chưa hoàn toàn chính xác, cần có sự xác minh, đối chiếu cẩn trọng khi sử dụng
- Các công trình mang tính chất biên niên
Biên niên lịch sử Chính phủ 1945 – 2005 [5]; Việt Nam những sự
kiện lịch sử 1945 – 1975, tập II, 1965 – 1975 [121]; Lịch sử biên niên xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954 - 1975) [84]…
Các cuốn sách này đã tập hợp theo thứ tự thời gian các sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam sau khi có chính quyền Vì là các công trình biên niên, nên không có các bình luận, đánh giá sự kiện, song, sự tập hợp đầy đủ các sự kiện lịch sử nói chung, ngoại giao nói riêng của các công trình này đã có đóng góp đáng kể cho các nghiên cứu lịch sử và lịch sử ngoại giao Các công trình này là tư liệu tra cứu hiệu quả cho tác giả luận văn trong quá trình nghiên cứu
Các bài báo, tạp chí
Qua khảo sát các tạp chí tiêu biểu (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lịch sử quân sự), theo con số thống kê chưa đầy đủ của tác giả, từ năm 1969 đến năm 2010, có khoảng 40 bài viết có nội dung liên quan tới các hoạt động của CPCMLTCHMNVN Có thể liệt kê một số bài viết đáng chú ý
sau: Sự chỉ đạo của Đảng trong đấu tranh thi hành Hiệp định Paris và giải
phóng hoàn toàn miền Nam (1973 - 1975) [54], Phát huy nhân tố quốc tế trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam [55], Đàm phán và Hiệp định Paris [67], Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam với mặt trận ngoại giao và cuộc đàm phán Paris [69],
Trang 9Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam giai đoạn đàm phán Hiệp định Paris [96], Một số vấn đề về Hiệp định Paris [124]… Khảo cứu kỹ nội dung
các bài viết, có thể nhận thấy rằng, về phạm vi thời gian, các bài viết này tập trung chủ yếu vào giai đoạn đấu tranh ký Hiệp định Paris (1965 - 1973); đồng thời, đi sâu tổng kết nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, đánh giá thành tựu của đấu tranh ngoại giao Hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được đề cập đến, nhưng ở mức độ tổng quát Tuy nhiên, các bài viết này với những góc
độ tiếp cận khác nhau đã cung cấp cho tác giả luận văn những nhận thức bổ ích xung quanh vấn đề nghiên cứu
Các công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài
Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập II (1969 - 1975) [26]; Nền hòa bình mong manh – Washington, Hà Nội và tiến trình của Hiệp định Paris
[2], “The real war” [125]; “Việt Nam, The Ten Thousand Day War” [126];
“Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam” [16];
"Những bí mật của cuộc chiến tranh Việt Nam" [45]; “Cuộc chiến tranh dài
ngày nhất nước Mỹ” [51]; …
Đây là công trình nghiên cứu nước ngoài hoặc bằng tiếng Anh, hoặc
đã đã được dịch ra tiếng Việt Điều đáng lưu ý là đa phần các công trình nghiên cứu này là của những nhà nghiên cứu người Mỹ Qua các công trình này, có thể nhận thấy cái nhìn từ phía người Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam và quá trình đàm phán Hiệp định Paris Với cách tiếp cận khá độc đáo
và nguồn tư liệu rất phong phú do các tác giả có điều kiện khai thác những nguồn tư liệu đa chiều, cả đã giải mật và chưa giải mật, nên các công trình này đã cung cấp thêm một số chi tiết, sự kiện, số liệu về quá trình kết hợp đấu tranh ngoại giao của ngoại giao hai miền Nam, Bắc Việt Nam trên bàn đàm phán Paris; về những thành công của ngoại giao Việt Nam giai đoạn này dưới góc nhìn của học giả nước ngoài
Tóm lại, qua thu thập, phân tích nguồn tư liệu liên quan đến hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng những năm 1969 – 1975, có thể đưa ra những kết luận sau:
Trang 10Thứ nhất, các công trình của các nhà nghiên cứu Việt Nam khá phong
phú Tác giả của các công trình chủ yếu là những nhà ngoại giao kỳ cựu, không ít trong số họ là thành viên của các đoàn ngoại giao, đoàn Liên hợp quân sự, nên các tác giả đã phân tích cặn kẽ bối cảnh, quá trình đấu tranh cam go của ngoại giao hai miền; từ đó, khẳng định vai trò quan trọng của đấu tranh ngoại giao trong sự nghiệp cách mạng chung, làm rõ vai trò lãnh đạo của ĐCSVN Trong khi đó, các công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài tập trung lý giải nguyên nhân thất bại của đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, tuy nhiên, trong một số công trình, một số nhận xét, đánh giá còn chưa thực sự khách quan
Một cách tổng quát, thành quả của những công trình nghiên cứu nêu trên, ở những mức độ khác nhau đã soi rọi và là cơ sở để tác giả luận văn có điều kiện đi sâu nghiên cứu về hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng
Thứ hai, trong những công trình nghiên cứu trên, chưa có một công
trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN như đề tài luận văn
mà chúng tôi đã lựa chọn
Thứ ba, quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của
CPCMLTCHMNVN những năm 1969 – 1975 cần phải tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, dựa trên việc khai thác thêm những tư liệu mới, khỏa lấp những khoảng trống nghiên cứu vẫn còn tồn tại như làm rõ những chủ trương, quan điểm của Đảng đối với hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN; chỉ ra vai trò, sự đóng góp to lớn, quan trọng hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; làm rõ những tồn tại, hạn chế, đúc rút những kinh nghiệm lịch sử quan trọng từ quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN… Đó đồng thời cũng là mục tiêu, nhiệm vụ mà luận văn cố gắng hoàn thành
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trang 11Làm rõ chủ trương, đường lối và sự chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN từ năm 1969 đến năm 1975; trên
cơ sở đó, rút ra những kinh nghiệm chủ yếu phục vụ hiện tại
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đi sâu phân tích, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN qua hai giai đoạn: 1969 – 1972; 1973 – 1975
- Hệ thống hóa, khái quát hóa những tư liệu đã có, bổ sung thêm những
tư liệu mới, khôi phục một cách khách quan các hoạt động đối ngoại chủ yếu của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng qua hai giai đoạn: 1969 – 1972; 1973 – 1975
- Nêu lên những thành tựu, hạn chế và đúc rút những kinh nghiệm lịch sử từ quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của những năm 1969 – 1975
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN từ năm 1969 đến năm 1975
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những đường lối, chủ trương cơ bản của Đảng trong quá trình chỉ đạo CPCMLTCHMNVN tiến hành các hoạt động đối ngoại và những sự kiện chính, quan trọng, những mốc lớn trong hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN trong phạm vi thời gian từ năm 1969 (thời điểm CPCMLTCHMNVN ra đời) đến năm 1975 (đất nước hoàn toàn giải phóng, hai cơ quan ngoại giao hai miền Nam, Bắc hợp nhất)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, dựa trên cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác- Lênin, ngoài việc sử dụng rộng rãi các
phương pháp phổ quát của khoa học lịch sử như lịch sử, logic, logic – lịch
Trang 12sử, luận văn còn sử dụng các phương pháp cơ bản khác của khoa học lịch sử
như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh, để xử lý các sự kiện,
con số, với mục đích dựng lại quá trình Đảng hoạch định chủ trương và chỉ đạo hoạt động ngoại giao của CPCMLTCHMNVN
Luận văn cũng đi sâu làm rõ những sự kiện chủ yếu, quan trọng, phản ánh đặc điểm, sự phát triển trong quá trình hoạt động ngoại giao của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm rõ những thành tựu, hạn chế của quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động ngoại giao của
CPCMLTCHMNVN bằng các phương pháp lịch sử, logic, nghiên cứu quốc
tế, phân tích, đối chiếu, thống kê Để luận giải và rút ra những kinh nghiệm
chủ yếu có giá trị lý luận và thực tiễn phục vụ hiện tại, luận văn sử dụng chủ
yếu phương pháp logic - lịch sử, so sánh và hệ thống hóa
6 Đóng góp của luận văn
- Trình bày một cách khách quan, tương đối toàn diện, có hệ thống và làm sáng tỏ các quan điểm, chủ trương, cũng như sự chỉ đạo của Đảng đối với các hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN những năm 1969 - 1975; trên cơ sở đó, rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu phục vụ hiện tại
- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu về quan hệ quốc tế, về đối ngoại của Đảng và Nhà nước VNDCCH và của CPCMLTCHMNVN; đồng thời, phục vụ công tác giảng dạy lịch sử và những môn học có liên quan
- Nguồn tài liệu tham khảo mà luận văn sưu tầm, khai thác và giới thiệu là nguồn tư liệu có giá trị, có thể sử dụng phục vụ việc nghiên cứu về ngoại giao, về quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Trang 13Trong chương 1, luận văn tập trung làm rõ những yêu cầu lịch sử đối với việc thành lập CPCMLTCHMNVN trong giai đoạn lịch sử mới; đồng thời đi sâu phân tích những hoạt động đấu tranh ngoại giao của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN trên ba nội dung chính: 1) Tranh thủ sự công nhận quốc tế; 2) Đấu tranh trên bàn đàm phán Hội nghị Paris; 3) Đấu tranh tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn bên ngoài bàn đàm phán
Chương 2 Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam từ năm 1973 đến năm 1975
Chương 2 tập trung phân tích hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN sau khi Hiệp định Paris được ký kết đến khi đất nước thống nhất Đó là hoạt động đối ngoại tích cực tranh thủ mọi sự ủng hộ quốc tế và buộc địch phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Paris Những hoạt động đối ngoại ấy đã tận dụng mọi cơ hội thuận lợi, đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhanh chóng đi tới thắng lợi
Chương 3 Nhận xét và kinh nghiệm
Trên cơ sở những nội dung nghiên cứu đã giải quyết ở chương 1 và 2, tại chương 3, luận văn đưa ra những nhận xét về quá trình hoạch định chủ trương, đường lối và chỉ đạo thực hiện của ĐCSVN đối với hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN Trong quá trình đó, bên cạnh những thành tựu nổi bật, vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định Những nhận xét đó là
cơ sở để luận văn đúc rút một số kinh nghiệm chủ yếu vận dụng vào thời kỳ hiện tại
Trang 14Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT
đã chiếm hơn 1/3 sản lượng công nghiệp thế giới [31, tr 188-189] Tốc độ
phát triển của các nước XHCN thuộc Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV) tăng trung bình cao hơn so với các nước TBCN trong Tổ chức các nước kinh
tế phát triển Điều đó đã giúp cho các nước XHCN đương đầu với sự bao
vây, phá hoại về kinh tế của CNĐQ và là cơ sở để giúp đỡ các nước mới giành độc lập bảo vệ những thành quả cách mạng của mình Cho đến thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam bước vào giai đoạn ác liệt, thì phe XHCN đã hình thành và “trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người” [36, tr 94] Điều đó có tác dụng cân bằng tương quan so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng, ngăn đe CNĐQ và là chỗ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, phong trào giải phóng dân tộc
ở các nước Á, Phi, Mỹ Latinh phát triển mạnh mẽ Phần lớn các nước bị CNTD thống trị lần lượt được giải phóng, trở thành những nước độc lập ở những mức độ khác nhau Hệ thống thuộc địa của CNĐQ ngày càng bị thu hẹp Đầu những năm 50 (XX), các nước mới giành độc lập tập hợp nhau
trong Phong trào không liên kết Đến năm 1970, Phong trào đã có 54 thành
Trang 15viên, trở thành một lực lượng chính trị mới trên vũ đài quốc tế Từ Hội nghị cấp cao lần thứ 3 ở Luxaca (tháng 9 – 1970), xu hướng chống đế quốc của Phong trào ngày càng trở nên mạnh mẽ, trong đó có việc cổ vũ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam
Mặc dù có những thành tích trong xây dựng và phát triển kinh tế, khoa học – kỹ thuật và quốc phòng, nhưng những khuyết tật của các nước XHCN cũng đã sớm bộc lộ Đến cuối những năm 60 (XX), trong phe XHCN xuất hiện những vụ rối loạn chính trị nghiêm trọng tại một số nước
và những bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng ngày càng trở nên phức tạp Đặc biệt, sự bất đồng giữa Liên Xô – Trung Quốc – hai nước XHCN lớn, những nước viện trợ chủ yếu trên các phương diện khác nhau cho Việt Nam, là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống Mỹ
Dù có những khó khăn, bất đồng nhất định, song, các nước XHCN vẫn luôn sát cánh và ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, nhất là đối với chủ trương vừa đánh, vừa đàm của chúng ta Các nước XHCN nói chung vẫn tăng cường ủng hộ về chính trị và vật chất cho chúng ta Hai nước XHCN lớn là Liên Xô, Trung Quốc dù mâu thuẫn ngày càng sâu sắc, song không ngừng giúp đỡ, ủng hộ Việt Nam Liên Xô tuyên bố ủng hộ Chính phủ VNDCCH, ủng hộ Chính sách 10 điểm của MTDTGP, coi đó là
“những đề nghị chính đáng và hợp lý” và “kiên quyết ủng hộ những đề nghị đó” [12, tr 217] Dù không tán thành việc chúng ta đàm phán với Mỹ, nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta, sau này, đến giữa những năm 60 (XX), chuyển dần sang ủng hộ chủ trương vừa đánh, vừa đàm của Việt Nam
Bên cạnh đó, nội bộ phe ĐQCN cũng có sự biến đổi lớn trong lực lượng so sánh giữa đế quốc Mỹ và các đế quốc khác
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành đế quốc giàu có nhất, chiếm ưu thế tuyệt đối về mọi mặt trong thế giới tư bản, tuy nhiên, khi Mỹ tham gia vào Chiến tranh Triều Tiên và sau đó sa lầy trong chiến tranh Việt Nam thì các nước tư bản khác đã tranh thủ cơ hội vươn lên xây dựng kinh
Trang 16tế, thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào Mỹ, thậm chí nhiều nước trở thành những địch thủ nguy hiểm của Mỹ trên mặt trận kinh tế (Pháp, Anh, Nhật Bản), mà sự ly tâm đầu tiên trong thế giới tư bản chính là thuộc về nước Pháp Pháp đã thể hiện sự độc lập trong quan hệ của mình mà không bận tâm đến thái độ của Mỹ bằng việc công nhận CHND Trung Hoa (năm 1964), sau đó cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan do Mỹ ủng hộ, quyết định rút quân ra khỏi các lực lượng quân sự nhất thể hóa trong NATO, không chấp nhận trụ sở NATO đóng trên đất Pháp, đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Việt Nam, củng cố quan hệ với Liên Xô và các nước XHCN khác Với những hành động đó, Pháp được coi là “kẻ ương ngạnh” trong liên minh quân sự do Mỹ đứng đầu Tương tự Pháp, từ năm 1965, CHLB Đức đã đẩy mạnh quan hệ với các nước XHCN Tháng 8 – 1970, Hiệp ước Liên Xô – CHLB Đức được ký kết, khẳng định chính sách hòa bình, thừa nhận các đường biên giới hiện tại ở châu Âu và không dùng quân
sự làm thay đổi tình hình châu Âu Như vậy, Mỹ đã không còn khống chế được hai nước Tây Âu lớn là Pháp và Đức như trước nữa
Nhật Bản đã lợi dụng được chiếc ô an ninh của Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai và sự giúp đỡ ban đầu của viện trợ tái thiết từ Mỹ để phát triển kinh tế Đến đầu những năm 70 (XX), Nhật Bản được xếp vào các quốc gia đứng đầu về trình độ phát triển khoa học – kỹ thuật, đặc biệt trong các ngành công nghiệp dân dụng, được dư luận phương Tây suy tôn là “thần
kì Nhật Bản” Trên cơ sở những thành tựu kinh tế, bằng hành động đấu tranh đòi chủ quyền về quần đảo Okinawa mà Mỹ chiếm từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã tách dần ra khỏi ảnh hưởng của Mỹ
Ở các nước Tây Âu, CNTB lũng đoạn nhà nước không chỉ dừng lại trong phạm vi quốc gia mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế, biểu hiện là sự
ra đời của Khối thị trường chung châu Âu (EEC, tháng 3 – 1957) Sự ra đời của cộng đồng kinh tế này cho phép các nước Tây Âu thực hiện hiệu quả cuộc cạnh tranh về kinh tế, tài chính và thương mại với những nước ngoài khối, đặc biệt đối với Mỹ và Nhật Bản
Trang 17Như vậy, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong thế giới tư bản dần dần hình thành ba trung tâm kinh tế là Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản Trong thế chân kiềng này, thế lực kinh tế của Mỹ ngày càng suy giảm so với sự phát triển của Tây Âu và Nhật Bản Điều đó đã thúc đẩy khuynh hướng các nước Tây Âu và Nhật Bản tách khỏi sự khống chế của Mỹ về kinh tế và sau đó là
về chính trị
Cùng với sự gia tăng các mâu thuẫn giữa Mỹ và các nước đế quốc khác, các khối quân sự, liên minh quân sự như Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), Hiệp định an ninh Mỹ - Nhật, khối ANZUS, SEATO, CENTO cũng đã bộc lộ các bất đồng Mâu thuẫn trong khối NATO xuất hiện ngay khi thành lập với việc Anh – Mỹ tranh nhau quyền lãnh đạo và ảnh hưởng ngày càng trở nên phức tạp hơn khi Pháp và Tây Đức cũng đấu tranh đòi Mỹ chia sẻ quyền lực; các đồng minh khác cũng đòi độc lập hơn với Mỹ Bên cạnh đó, các cuộc khủng hoảng tiền tệ trong thế giới tư bản và các cuộc “chiến tranh kinh tế” ngày một gay gắt Sau thất bại quân sự năm
1968 và trước xu thế Mỹ phải xuống thang chiến tranh ở Việt Nam, quan hệ giữa Mỹ và các nước chư hầu có quân tham chiến ở Việt Nam cũng bớt gắn
bó
Tại các nước tư bản, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì các quyền dân sinh, dân chủ và hòa bình cũng phát triển với quy mô rộng lớn Tình hình suy thoái kinh tế, lạm phát và thất nghiệp đã đẩy quần chúng lao động vào cảnh nghèo khổ, làm nảy sinh các cuộc bãi công đòi dân sinh, dân chủ Khi đế quốc Mỹ đưa quân vào Việt Nam và thất bại buộc phải xuống thang chiến tranh, thì một nội dung nổi bật của phong trào đấu tranh tại các nước tư bản là chống chiến tranh Việt Nam Nội dung này
đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân như Đảng nhận định: “Ngay những vấn đề thiết thân đối với nhân dân các nước tư bản cũng không tập hợp được quần chúng đông đảo như vấn đề Việt Nam” [36,
tr 84]
Trong nội bộ nước Mỹ, những mâu thuẫn cũng ngày một phát triển sâu sắc sau những thất bại của Mỹ trên chiến trường Đông Dương Những
Trang 18khó khăn chưa có chính sách giải quyết trong vấn đề tài chính do các cuộc khủng hoảng kinh tế 1960 – 1961, 1964 – 1965, 1969 – 1970, trong vấn đề người da đen, da đỏ - hậu quả của nạn phân biệt chủng tộc, vấn đề đô thị, tình trạng thất nghiệp, lạm phát trầm trọng, khiến niềm tin của nhân dân vào chính quyền bị suy giảm Đặc biệt, phong trào phản chiến ở Mỹ dâng lên mạnh mẽ và có bước phát triển về chất so với các giai đoạn trước Ý thức chống chiến tranh Việt Nam đã thâm nhập sâu hơn trong các tầng lớp nhân dân, trong xã hội Mỹ, khiến vấn đề Việt Nam trở thành một trong những vấn
đề mấu chốt gây mất ổn định của nước Mỹ Nhiều cuộc bãi công, biểu tình của quần chúng nhân dân, binh lính Mỹ xuất ngũ, những hành động tự thiêu
phản đối chiến tranh Việt Nam … nổ ra liên tiếp, một mặt, làm rung chuyển
bộ máy chính quyền, đẩy chính quyền Mỹ lún sâu thêm vào cuộc khủng
hoảng; mặt khác, trở thành yếu tố thuận lợi cho Việt Nam xây dựng Mặt trận
nhân dân thế giới, tạp nên sức mạnh quan trọng tiến công đế quốc Mỹ trên mặt trận ngoại giao Tổng thống Nixon càng cố rút bớt quân đội Mỹ ở chiến trường, thì phong trào phản chiến càng phát triển, lan rộng trong xã hội Mỹ, thậm chí trong cả giới cầm quyền và cơ quan lập pháp Những rạn nứt trên buộc nhà cầm quyền Mỹ phải có những sự điều chỉnh chiến lược, thậm chí phải sử dụng tới cả những trò lừa bịp hòng đạt được mục tiêu cuối cùng
Những mâu thuẫn trong nội bộ phe ĐQCN và nội bộ nước Mỹ đã làm giảm đáng kể uy thế của Mỹ trên trường quốc tế Tình hình đó tạo ra khả năng thuận lợi cho Đảng ta lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ các nước đế quốc, lập Mặt trận nhân dân thế giới chống Mỹ xâm lược Việt Nam
Trong khi tình hình thế giới có nhiều biến động, thì cách mạng Việt Nam cũng có những bước phát triển vượt bậc trên cả ba mặt trận: Chính trị, quân sự, ngoại giao
Những thắng lợi của quân và dân cả nước, đặc biệt là quân và dân miền Nam trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã làm cho “ý chí xâm lược của Mỹ bị lung lay rõ rệt” [36, tr 118] Thất bại nặng
nề đó càng đẩy đế quốc Mỹ vào tình thế phòng ngự, bị động, song vẫn ngoan cố tìm mọi cách kéo dài chiến tranh xâm lược ở miền Nam nước ta
Trang 19Thực hiện âm mưu đó, đầu năm 1969, Tổng thống R Nixon lên cầm quyền
đã điều chỉnh chiến lược toàn cầu phản cách mạng, đề ra “học thuyết Nixon” với mục tiêu giảm bớt các “cam kết quốc tế” của Mỹ, đòi hỏi các nước đồng minh phải “chia sẻ trách nhiệm” với Mỹ để chống lại phong trào cách mạng thế giới, ổn định tình hình nội bộ, duy trì lực lượng quốc phòng, giữ thế cân bằng và răn đe, khai thác, lợi dụng mâu thuẫn các nước XHCN, chia rẽ, lôi kéo các nước lớn, mua chuộc, uy hiếp các nước nhỏ
Ở Việt Nam, Tổng thống R Nixon buộc phải xuống thang chiến tranh, thực hiện “phi Mỹ hóa chiến tranh” - thực chất là thực hiện chiến lược
“Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam, mở rộng chiến tranh sang Campuchia, tiến đánh lực lượng giải phóng quân ở Lào, thực hiện âm mưu
“Đông Dương hóa chiến tranh”, “dùng người châu Á đánh người châu Á”, biến Đông Dương thành một chiến trường Kế hoạch của Mỹ là thực hiện chiến lược chiến tranh tổng lực, đầu tư mạnh, hy vọng vực dậy quân đội Sài Gòn có đủ sức đảm nhiệm dần các công việc trước khi lính Mỹ và quân chư hầu “rút lui trong danh dự” nhờ vào cố gắng đàm phán ngoại giao – như Mỹ tính toán Với chiến lược này, Mỹ đã sử dụng tối đa sức mạnh quân sự kết hợp với những thủ đoạn chính trị, ngoại giao, hòng giành thế mạnh, cô lập
và bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân ta Bằng cách tuyên bố về các đợt rút quân nhỏ giọt, Tổng thống R Nixon hy vọng vừa có thời gian để xây dựng ngụy quân, ngụy quyền đủ mạnh, xoa dịu phong trào phản chiến đang lên cao trong lòng nước Mỹ và trên thế giới, vừa có thể chuyển được sức ép
dư luận sang phía VNDCCH, tạo lợi thế trên bàn đàm phán Trên lĩnh vực đối ngoại, chính quyền Mỹ thực hiện chính sách “tiến công hòa bình” với quy mô chưa từng có trong hoạt động ngoại giao của nước Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Mục đích của chính sách ngoại giao này là lôi kéo sự tham gia của các nước Tây Âu, Bắc Âu, châu Phi, châu Á, một số nước XHCN, các nước Không liên kết… làm trung gian trong vấn đề Việt Nam, hòng đánh lừa dư luận thế giới và nhân dân Mỹ, gây chia rẽ giữa các nước với Việt Nam Bên cạnh đó, Mỹ liên tục giằng dai trên bàn Hội nghị Paris, gây nên những bế tắc về ngoại giao trong suốt những năm 1968 – 1971
Trang 20Được bảo trợ của Mỹ, chính quyền Sài Gòn đã tăng cường các cuộc hành quân lấn chiếm, đánh phá ác liệt các vùng giải phóng với mục tiêu đánh bật chủ lực của ta ra khỏi nơi đứng chân, tung những đội quân Phượng Hoàng về vùng ven đô làm nhiệm vụ chiêu hồi…, gây khó khăn không nhỏ cho cách mạng miền Nam Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân đội ta, quân đội Sài Gòn đã kịp chấn chỉnh lại, tiến hành bao vây các đô thị miền Nam và đánh chiếm vùng nông thôn ven đô, gây khó khăn cho các cuộc tấn công đợt 2 và 3 của chúng ta Thực tế là,
“khi tổng tấn công chúng ta đã tung hết lực lượng cho nên đến khi địch phản kích thì chúng ta không có lực lượng (…), chúng ta lâm vào tình hình rất khó khăn trong những năm 1969, 1970, 1971” [78, tr 57] Nhân cơ hội
đó, địch tập trung đánh phá ác liệt các vùng giải phóng, tiêu diệt và đẩy lùi các đơn vị chủ lực của ta ra khỏi các nơi đứng chân ở Trị Thiên, Khu V, Nam Bộ… Lực lượng vũ trang của chúng ta bị tổn thất, không kịp bổ sung, lương thực tiếp tế gặp khó khăn Bước vào năm 1969, ở Đông Nam Bộ và khu IV, địch lấn chiếm và hầu như kiểm soát toàn bộ vùng nông thôn bao quanh Sài Gòn và các tỉnh Phước Long, Bình Tuy và vùng đồng bằng các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận… cơ sở ở nông thôn bị tổn thất, căn cứ bị thu hẹp nhiều nơi, chủ lực của ta không còn chỗ đứng chân phải trú chân trên đất bạn Từ khi đế quốc Mỹ trực tiếp đưa quân vào miền Nam Việt Nam, chưa bao giờ chúng ta gặp khó khăn như hai năm này (1969, 1970) Tóm lại, thực hiện chủ trương “phi Mỹ hoá chiến tranh”, R Nixon đã sử dụng “sức mạnh tối đa về quân sự kết hợp với những thủ đoạn chính trị và ngoại giao rất xảo quyệt, hòng giành thế mạnh, cô lập và bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân ta” [43, tr 18] Rõ ràng, thực hiện “Việt Nam hoá chiến tranh”, đế quốc Mỹ đặt mục tiêu phá vỡ khối đoàn kết thống nhất của dân tộc Việt Nam, khối đoàn kết ba dân tộc Đông Dương; ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam; cản trở sự ủng hộ của Mặt trận nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta
Bên cạnh việc tăng cường hoạt động quân sự, đẩy mạnh bình định nông thôn, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ra sức lôi kéo, tập hợp các
Trang 21phe phái tay sai, nhất là lực lượng phản động trong các tôn giáo, các đảng phái để tạo chỗ dựa Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã dùng mọi thủ đoạn
để mua chuộc lãnh tụ các đảng phái chính trị với lời kêu gọi tập hợp xung quanh chính phủ, đoàn kết các phe phái để chống lại cộng sản Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lôi kéo các phe phái chính trị và tôn giáo (như Đại Việt cách mạng, Việt Nam dân chủ xã hội Đảng, Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt
Nam nhân xã Đảng) đứng dưới lá cờ Mặt trận quốc gia xã hội dân chủ mới
được thành lập
Trước tình hình đó, Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ 16 (5 – 1969), Hội nghị BCT (5 – 1969) đã phân tích tình hình miền Nam khẳng định những thắng lợi to lớn; đồng thời, cũng chỉ ra những thiếu sót của ta Các Hội nghị cũng xác định các mũi tiến công chiến lược trong thời kỳ mới, trong đó, tiến công quân sự là rất cơ bản, giữ vị trí ngày càng quan trọng; tiến công chính trị cũng rất cơ bản và đang có khả năng rất to lớn; tiến công ngoại giao có ý nghĩa chiến lược quan trọng Phải nắm vững thời cơ, phối hợp tiến công quân sự với tiến công chính trị, tiến công liên tục, sắc bén, kiên trì nguyên tắc, khéo vận dụng sách lược, vừa kiên quyết vừa linh hoạt, buộc Mỹ phải rút quân và nhận một giải pháp chính trị đáp ứng yêu cầu cơ bản của ta
Từ khi ra đời, MTDTGPMN đã trở thành người đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam Mặt trận đã “đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước ở miền Nam Việt Nam, không phân biệt
xu hướng chính trị để đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, thực hiện: độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình, trung lập ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất
tổ quốc” [116, tr 23] Trên trường quốc tế, Mặt trận đã là buộc Mỹ nhường bước, phải ngồi nói chuyện với Mặt trận, gián tiếp thừa nhận vị thế pháp lý của Mặt trận Trên đà thắng lợi đó, tính đến cuối năm 1968, đã có các tổ chức thuộc nhiều xu hướng chính trị khác nhau của 23 nước thiết lập quan
hệ ngoại giao với Mặt trận Ở vùng giải phóng, MTDTGPMN các cấp đã
Trang 22thực hiện vai trò, chức năng của chính quyền, đoàn kết toàn dân tổ chức kháng chiến và xây dựng đời sống cho nhân dân Cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến, Uỷ ban nhân dân giải phóng cũng được thành lập ở nhiều vùng ven đô thị và cả trong lòng các đô thị Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ
14 (1 – 1968) đã khẳng định: “Phải nhanh chóng tổ chức chính quyền cách mạng của nhân dân” [35, tr 60] Thực hiện chủ trương trên, ngày 15 – 1 –
1968, Trung ương Cục miền Nam và Ủy ban Trung ương MTDTGPMN ra
Chỉ thị “Tích cực, khẩn trương, củng cố, xây dựng, phát triển chính quyền
cách mạng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở xã, ấp” Ngày 29 – 2 –
1968, Trung ương Cục ra Chỉ thị bổ sung, khẳng định: Phải nhanh chóng
xây dựng chính quyền cách mạng các huyện, quận, tỉnh Ngày 25 – 5 –
1968, Trung ương Cục và Ủy ban Trung ương MTDTGPMN ra Chỉ thị quan
trọng: “Ra sức xây dựng chính quyền cách mạng các cấp theo kịp sự phát
triển của tình hình” Các Chỉ thị đều có chung nội dung: Miền Nam Việt
Nam đang tiến hành cuộc CMDTDCND, trước mắt là đánh đổ chính quyền tay sai, thành lập chính phủ liên hiệp Chính quyền này phải bảo đảm tính chất chuyên chính và rộng rãi Do vậy, Chính phủ Trung ương và chính quyền ở các thành phố cần có sự liên hiệp rộng rãi Trong chính quyền cấp
xã, huyện, tỉnh, công nông phải là thành phần chủ yếu Thông qua bầu cử dân chủ mà hình thành Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân giải phóng các cấp Ấp không phải là cấp chính quyền nhưng có vị trí quan trọng trong chiến tranh, nên cần tổ chức Ban giải phóng ấp Những xã ở vùng tranh chấp gay gắt không thể tổ chức bầu cử được thì lập Hội đồng quân dân xã
Chủ trương của Trung ương Cục và Ủy ban Trung ương MTDTGPMN được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt Chỉ sau 6 tháng thực hiện các chỉ thị trên, chính quyền cách mạng ở các cấp được xây dựng rộng rãi Theo số liệu chưa đầy đủ, đã có tới 516/1800 xã được xây dựng chính quyền; chính quyền cấp huyện được xây dựng trong 21/170 huyện; 3/44 tỉnh (Cà Mau, Gia Lai, Mỹ Tho) đã có chính quyền [47, tr 412] “Chính quyền cách mạng được thành lập một cách dân chủ dưới bom đạn ác liệt của quân thù” và “thật sự đem lại cho đồng bào quyền dân chủ, dân sinh, quyền sống
Trang 23tự do, bình đẳng, quyền được thương yêu đùm bọc lẫn nhau, sống với nhau đầy tình người” [47, tr 412] Chính quyền cách mạng được hình thành, đã góp phần to lớn cho việc củng cố và mở rộng khối đoàn kết dân tộc ở miền Nam
Đứng trước những diễn biến mang tính bước ngoặt của tình hình trong và ngoài nước, trước sự ngoan cố, liều lĩnh của quân đội Sài Gòn dưới
sự hỗ trợ của Mỹ và yêu cầu của cách mạng là phải đoàn kết hơn nữa mọi lực lượng cho cuộc kháng chiến, trong đó không loại trừ lực lượng trung lập, trong và ngoài, làm cho cán cân chính trị miền Nam nghiêng hẳn về phía cách mạng, cách mạng miền Nam phải có những bước đi chiến lược, sách lược phù hợp với đòi hỏi thực tiễn, giải quyết tốt những vấn đề do thực tiễn đặt ra Đặc biệt, để đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân miền Nam, tranh thủ cao nhất sự ủng hộ của mọi lực lượng yêu chuộng hòa bình trong nước
và quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị, cần phải thành lập một chính phủ yêu chuộng hòa bình, trung lập Lúc này, vấn đề thành lập chính quyền trung ương trở thành yêu cầu cấp bách cả về đối nội lẫn đối ngoại và trên thực tế đã có những điều kiện để thành lập một chính quyền như vậy - đó là
ở miền Nam đã có vùng giải phóng rộng lớn, có lực lượng vũ trang cách mạng lớn mạnh, có lực lượng chính trị hùng hậu thống nhất trong mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi Yêu cầu lịch sử đặt ra cho cách mạng miền Nam phải nhanh chóng thành lập một chính phủ đảm nhận chức năng đối nội, đối ngoại, thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi tới thắng lợi cuối cùng
1.1.2 Sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Để đáp ứng những yêu cầu của cách mạng cả nước, BCT chủ trương tranh thủ tối đa sự ủng hộ rộng rãi của mọi lực lượng ở miền Nam trên cơ sở
mở rộng MTDTGPMN, lập ra một chính phủ liên hiệp lâm thời đại diện cho nhân dân miền Nam trong mọi hoạt động, nhằm cô lập ngụy chính quyền Sài Gòn, thúc đẩy Hội nghị Paris đạt kết quả
Trang 24Ngay từ giai đoạn cuối của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Trung ương Đảng đã có chủ trương mở Hội nghị hiệp thương giữa MTDTGPMN với Liên minh các lực lượng dân chủ và các phe phái khác ở miền Nam
Ngày 24 – 1 – 1964, BCT đã gửi Điện số 32 kèm Bản dự thảo lời kêu gọi
của Ban vận động hiệp thương tới đồng chí Phạm Hùng, gợi ý ba bước thực
hiện hiệp thương: Mở Hội nghị hiệp thương giữa MTDTGP miền Nam với Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình miền Nam, nhằm
“thống nhất nhận định, chủ trương và phương hướng đấu tranh cho việc lập một nội các hòa bình ở Sài Gòn” [84, tr 712]; tổ chức vận động nhiều nhóm, cá nhân trong và ngoài nước tham gia hiệp thương chính thức; mở Hội nghị hiệp thương chính thức Bức điện nhấn mạnh bước thứ hai là bước quan trọng nhất và nêu rõ mục đích của Hội nghị hiệp thương là “nhằm đề
ra một chương trình hành động tối thiểu phù hợp với tình hình trước mắt, có khả năng tập hợp đông đảo lực lượng đẩy phong trào đấu tranh đánh đổ Thiệu – Kỳ, lập nội các hòa bình, thương lượng với MTDTGP, thúc đẩy Hội nghị Paris đi đến kết quả, đem lại hòa bình, độc lập, chủ quyền, trung lập cho miền Nam” [84, tr 713]
Để đẩy nhanh việc chuẩn bị cho Hội nghị hiệp thương ở miền Nam, ngày 11 – 2 – 1969, BCT đã gửi thư chỉ đạo cho các đồng chí Trung ương Cục về đẩy mạnh phong trào đấu tranh tiến tới thành lập Mặt trận thứ ba gồm những lực lượng đứng giữa các xu hướng yêu nước chân chính chống bọn phản động cực đoan tay sai của đế quốc Mỹ Trong thư, BCT đã gợi ý một số ý kiến: “Trong quá trình vận động thành lập Mặt trận thứ ba, ta nên
tổ chức hiệp thương giữa Mặt trận dân tộc giải phóng và Liên minh để thảo luận việc lập chính phủ liên hiệp lâm thời và đề ra cương lĩnh hành động của chính phủ đó” [84, tr 716] BCT đề cao ý nghĩa của việc thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời, coi “chủ trương này là một mũi tiến công sách lược lớn của ta, nó có mặt lợi là góp phần triệt để phân hóa địch, đẩy mạnh phong trào quần chúng ở các thành thị miền Nam, thúc đẩy việc hình thành và sớm lập được Mặt trận thứ ba làm cho Mỹ càng thêm lúng túng, bị động, đối với thế giới thì làm sáng tỏ thiện chí của ta” [84, tr 717]
Trang 25Sau một thời gian chuẩn bị kỹ càng, được sự chỉ đạo trực tiếp của BCT, ngày 23 – 5 – 1969, đoàn đại biểu Ủy ban Trung ương MTDTGP và đoàn đại biểu Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ
và hòa bình Việt Nam đã họp Hội nghị hiệp thương, bàn bạc những vấn đề trọng yếu về kháng chiến và xây dựng đất nước, đã nhất trí triệu tập Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam để cử ra CPCMLTCHMNVN Từ ngày 6 – 6 đến ngày 8 – 6 – 1969, Đại hội đại biểu quốc dân toàn miền Nam đã khai mạc trọng thể tại vùng Tà Nốt (Tây Ninh) Thành phần tham gia Đại hội gồm 72 khách mời, 88 đại biểu, đại diện cho các chính đảng, dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng trên toàn miền Nam “Tất cả các đoàn đại biểu, các vị khách họp lại thành một đội ngũ thống nhất trong không khí đoàn kết chiến đấu vì tiền đồ và tương lai tươi sáng của dân tộc, thể hiện truyền thống bất khuất quyết đánh thắng ngoại xâm của hội nghị Diên Hồng, của Đại hội Tân Trào lịch sử, tiêu biểu cho ý chí nguyện vọng của 14 triệu nhân dân miền Nam anh hùng” [49, tr 224] Đại hội là hình ảnh của một lực lượng đoàn kết rộng lớn của toàn thể đồng bào miền Nam Việt Nam quyết tâm đánh bại quân xâm lược Mỹ, đánh đổ chế
độ Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà
Đại hội đã phân tích những quyền dân tộc cơ bản, thiêng liêng của nhân dân Việt Nam - đó là quyền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, những quyền dân tộc bất khả xâm phạm đã bị đế quốc Mỹ chà đạp nghiêm trọng Chính vì thế, nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên chống
Mỹ Tuy nhiên, dù đế quốc Mỹ đã thất bại rất nặng nề, song vẫn rất ngoan
cố, tiếp tục và kéo dài chiến tranh, vì vậy, “trước giờ phút hết sức trọng đại của lịch sử nước nhà, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam, đại biểu cho ý chí của toàn dân, long trọng khẳng định những mục tiêu cơ bản của nhân dân miền Nam Việt Nam là độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất đất nước và tỏ rõ quyết tâm sắt đá của 14 triệu đồng bào ta quyết hy sinh phấn đấu đến cùng cho những mục tiêu đó” [44,
tr 48] Đại hội đề ra nhiệm vụ chủ yếu cho quân và dân miền Nam Việt Nam là đoàn kết chiến đấu, đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ ngụy
Trang 26quyền tay sai, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thực hiện miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà
Để thực hiện những nhiệm vụ nói trên một cách hiệu quả, Đại hội tuyên bố thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam với nòng cốt là MTDTGPMN, do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch và Hội đồng Cố vấn chính phủ, do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, luật sư Trịnh Đình Thảo làm Phó chủ tịch
Sau Đại hội, ngày 10 – 9 – 1969, CPCMLTCHMNVN đã họp phiên đầu tiên Trong phiên họp này, bà Nguyễn Thị Bình được phân công giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Trưởng đoàn đại biểu CPCMLTCHMNVN tại Hội nghị Paris thay thế Đoàn đại biểu
MTDTGPMNVN Tại phiên họp, Chính phủ lâm thời cũng đề ra Chương
trình hành động 12 điểm, nêu rõ chính sách đối nội và đối ngoại
Chính sách đối nội được CPCMLTCHMNVN xác định: Thực hiện chính sách hòa hợp dân tộc; lãnh đạo đấu tranh đòi thành lập một chính phủ liên hiệp phản ánh hòa hợp dân tộc và đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; thực hiện các quyền tự do, dân chủ; chú trọng quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân ở các đô thị, trước hết là các quyền dân sinh, dân chủ; đẩy mạnh sản xuất để cung cấp cho tiền tuyến và bồi dưỡng sức dân; bài trừ văn hóa giáo dục nô dịch; khuyến khích, hoan nghênh và khen thưởng những sĩ quan binh lính trong quân đội Sài Gòn, nhân viên và công chức chính quyền Sài Gòn lập công trở về với CPCMLTCHMNVN; tích cực giải quyết các vấn đề do cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và chế độ Sài Gòn để lại; lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền Nam – Bắc Việc thống nhất đất nước
sẽ tiến hành từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa hai miền, không bên nào ép buộc bên nào
Chính sách đối ngoại của CPCMLTCHMNVN là “chính sách ngoại giao hòa bình, trung lập” [88, tr 11], không tham gia khối liên minh quân sự với nước ngoài; đồng thời, thực hiện quan hệ hữu nghị và chính sách láng
Trang 27giềng tốt và lập quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hóa với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, kể cả với nước Mỹ
CPCMLTCHMNVN tán thành hòa bình, trung lập, độc lập, dân chủ dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, nhằm thực hiện nhiệm vụ tối cao là đoàn kết nhân dân miền Nam chiến đấu đánh bại đế quốc Mỹ, lật đổ ngụy quyền tay sai phản động, “hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc, tạo điều kiện cơ bản để xây dựng miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, phồn vinh, tiến đến hòa bình thống nhứt Tổ quốc” [88, tr 13] Chính sách đối nội và đối ngoại của CPCMLTCHMNVN thể hiện bản chất của một chính phủ yêu chuộng hòa bình; đồng thời, thể hiện khát vọng, ý chí của đồng bào miền Nam là nhanh chóng đi tới một nền hòa bình, độc lập, tự do vĩnh viễn
Sự ra đời của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ và anh dũng của nhân dân miền Nam Đó cũng là bước trưởng thành của mặt trận đoàn kết dân tộc chống Mỹ và tay sai ở miền Nam, là “bước phát triển tất yếu của cách mạng miền Nam trong quá trình giành chính quyền về tay nhân dân, xây dựng chính quyền cách mạng và hoàn chỉnh hệ thống chính quyền ấy, tạo điều kiện cho các tầng lớp yêu nước tham gia chính quyền, làm chủ sự nghiệp giải phóng miền Nam” [36, tr 192] Sự kiện này có ý nghĩa chính trị vô cùng quan trọng Nó là nguồn động viên, cổ vũ rất lớn đối với quân dân hai miền Nam - Bắc, là thắng lợi mới của chính sách đoàn kết dân tộc chống
Mỹ, cứu nước của Mặt trận; phát huy mạnh mẽ hơn nữa thế mạnh, thế thắng, thế chủ động của nhân dân ta trên ba mặt trận; tấn công và đánh mạnh vào âm mưu của đế quốc Mỹ cố bám giữ chính quyền bù nhìn; vạch trần cái gọi là hợp hiến, hợp pháp của ngụy quyền, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ Mỹ - ngụy; thúc đẩy phong trào đấu tranh ở thành thị, tranh thủ sự viện trợ của
bạn bè quốc tế Đánh giá về ý nghĩa của sự kiện này, Ban bí thư đã ra Thông
tri số 235/TT – TW (10 – 6 – 1969) khẳng định:
Sự ra đời của Chính phủ Cách mạng, một tổ chức chính quyền dân tộc, dân chủ và liên hiệp bao gồm các lực lượng yêu nước, có lực
Trang 28lượng cách mạng của Mặt trận Dân tộc giải phóng làm nòng cốt, là thành quả cách mạng của quân và dân miền Nam trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, đặc biệt là trong hơn một năm tổng tấn công và nổi dậy, là thắng lợi mới của chính sách đoàn kết dân tộc chống Mỹ, cứu nước của Mặt trận Dân tộc giải phóng [120, tr 474]
Trong Tuyên bố về việc Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt
Nam và Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam (12 –
6 – 1969), Chính phủ VNDCCH đã nhiệt liệt chào mừng sự kiện lịch sử này; đồng thời, chỉ rõ: “Đây là kết quả rực rỡ của những thắng lợi quân sự, chính trị và ngoại giao của nhân dân miền Nam đã giành được, nhất là từ đầu năm
1968 đến nay Đây là bước phát triển tất yếu của quá trình xây dựng chính quyền cách mạng của nhân dân miền Nam, là biểu hiện rực rỡ ý chí của nhân dân miền Nam thực hiện quyền làm chủ của mình” [128] Nhà nướcVNDCCH cũng long trọng tuyên bố: “Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam bầu ra là Chính phủ hợp pháp, đại diện chân chính của nhân dân miền Nam Việt Nam” [128] và khẳng định “sẽ cùng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tăng cường quan hệ về mọi mặt giữa hai miền trong khi chờ đợi thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc và cổ vũ, giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc” [128]
Như vậy, bằng sự phân tích đúng đắn những chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước, BCT, Trung ương Đảng đã nhận thấy yêu cầu phải phối hợp và phát huy thắng lợi trên ba mặt trận đấu tranh, mở rộng MTDTGP, tập hợp các lực lượng yêu nước thành lập một Chính phủ hòa bình, trung lập ở miền Nam, nhằm vạch trần âm mưu và khoét sâu mâu thuẫn Mỹ và chính quyền Sài Gòn, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế CPCMLTCHMNVN ra đời chính là một sách lớn của Đảng, nhằm thực hiện cho được những mục tiêu chiến lược nêu trên Trên thực tế, “chính phủ vừa thành lập là đại diện chân chính cho cách mạng miền Nam trong mọi hoạt động” [84, tr 739], thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại Dưới sự lãnh đạo của CPCMLTCHMNVN, sự nghiệp cách mạng miền Nam được phát
Trang 29triển nhanh chóng và vững chắc Tính đến 25 – 6 – 1969, trong số 44 tỉnh miền Nam Việt Nam “đã có 34 tỉnh và 4 thành phố đã bầu xong Uỷ ban nhân dân cách mạng tỉnh và thành phố từ cơ sở lên” [49, tr 242].Việc thi hành những cải cách dân chủ cũng được đẩy mạnh ở vùng giải phóng, các quyền tự do, dân chủ và những chính sách mới được ban hành, đặc biệt là chính sách ruộng đất
CPCMLTCHMNVN ra đời trở thành nhân tố quan trọng làm cho nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới hiểu rõ hơn và ủng hộ mạnh mẽ cuộc kháng chiến của nhân dân ta Chỉ trong tháng 6 – 1969, CPCMLTCHMNVN
đã được rất nhiều nước công nhận sự tồn tại hợp pháp và thiết lập quan hệ ngoại giao ngay khi Chính phủ vừa tuyên bố thành lập Với vị thế pháp lý đó,
từ đây, Đoàn Ngoại giao của CPCMLTCHMNVN sẽ đại diện cho nhân dân miền Nam với tư cách ngoại giao nhà nước phối hợp với Đoàn Ngoại giao VNDCCH đấu tranh trên trường quốc tế, mà cụ thể trước mắt là tại Hội nghị Paris, nâng cao vị thế của chúng ta trên bàn đàm phán, kết hợp ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân, tạo nên thế trận ngoại giao “tuy hai mà một, tuy một mà hai”, buộc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ký Hiệp định, thực hiện Hiệp định, góp phần đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng
1.2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
1.2.1 Lãnh đạo tranh thủ sự công nhận quốc tế
CPCMLTCHMNVN được thành lập là một thắng lợi lớn của quân và dân ta, tạo nên một bước ngoặt lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước về mặt chính trị Tuy nhiên, để phát huy một cách hiệu quả vai trò của CPCMLTCHMNVN, thì việc làm nổi bật ý nghĩa, vị trí của CPCMLTCHMNVN đối với cách mạng Việt Nam cả trong nước và trên thế giới là hết sức cần thiết Vì thế, ngay sau khi CPCMLTCHMNVN ra đời,
BBT đã ra Thông tri ngày 10 – 6 – 1969 về việc hưởng ứng và ủng hộ hoạt động của CPCMLTCHMNVN Thông tri chỉ rõ rằng trước hết,
CPCMLTCHMNVN “cần ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa” [36, tr 193]; tiếp đó “đòi Mỹ
Trang 30phải nghiêm chỉnh nói chuyện với Chính phủ cách mạng Lâm thời, người đại diện chân chính, hợp pháp của nhân dân miền Nam Việt Nam” [36, tr 193], trên cơ sở đó, tích cực đấu tranh “đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết và không điều kiện quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam” [36, tr 193]
Thực hiện những chủ trương nói trên, ngay sau khi ra đời, CPCMLTCHMNVN đã xúc tiến ngay các hoạt động vận động quốc tế với mục tiêu tranh thủ sự ủng hộ đối với hoạt động của mình, cũng như thừa nhận và đề cao vai trò của Chính phủ Trong năm 1969, Đoàn Ngoại giao của CPCMLTCHMNVN đã đi thăm hữu nghị nhiều nước: CHND Trung Hoa, CHDC Đức (9 – 1969), Arập, Syria, Tiệp Khắc, Triều Tiên, Mông Cổ,
Ba Lan, Hungari (10 – 1969), thăm vùng giải phóng Lào (12 – 1969) Đây đều là những nước vốn có quan hệ tốt đẹp và lâu đời với MTDTGPMNVN Kết quả là trong tháng đầu khi mới được thành lập, CPCMLTCHMNVN đã được 23 nước XHCN và Dân tộc chủ nghĩa công nhận (Cuba, Algeria, Triều Tiên là ba nước đầu tiên công nhận CPCMLTCHMNVN), trong đó có 21 nước đặt quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ Nhiều nước mặc nhiên chuyển các
Cơ quan đại diện và các Phòng thông tin của MTDTGPMNVN thành các cơ
quan ngoại giao của CPCMLTCHMNVN như Thụy Điển, CHDC Đức Sự
ra đời của CPCMLTCHMNVN cũng được Hội nghị quốc tế các ĐCS và công nhân họp tại Moscow ngày 12 – 6 – 1969, đánh giá cao: “75 Đảng Cộng sản dự Hội nghị nhận thấy trong sự kiện này, một giai đoạn mới và quan trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng và anh hùng của nhân dân Việt Nam” [4, tr 3] Những sự ủng hộ đó khẳng định vị thế chính trị của CPCMLTCHMNVN và là nguồn động viên rất lớn đối với CPCMLTCHMNVN nói riêng và Đoàn Ngoại giao của Chính phủ nói chung, trong suốt quá trình hoạt động của mình
Bước sang năm 1970, khi Đông Dương đã trở thành một chiến trường chung, Mỹ tìm cách hạ thấp vai trò của Hội nghị bốn bên, Trung ương Đảng chủ trương:
Trang 31Tích cực tranh thủ sự đồng tình ủng hộ mạnh mẽ hơn nữa của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước dân tộc chủ nghĩa, các nước trung gian và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới Tích cực mở rộng hoạt động quốc tế nhằm tăng cường Mặt trận nhân dân thế giới, đoàn kết với nhân dân Việt Nam và nhân dân Đông Dương chống Mỹ xâm lược [37, tr 257]
Thực hiện chủ trương ngoại giao chung, nhiệm vụ của Đoàn Ngoại giao CPCMLTCHMNVN là tích cực vận động để CPCMLTCHMNVN trở
thành thành viên của Phong trào không liên kết Đoàn Ngoại giao
CPCMLTCHMNVN đã tăng cường mạnh mẽ các chuyến thăm hữu nghị, các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều lực lượng hòa bình, dân chủ trên thế giới Điểm đến của Đoàn là những nước có tiếng nói quan trọng trong
Phong trào không liên kết, bao gồm các nước dân chủ, các nước trung lập
Tháng 6 – 1970, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đi thăm hai nước Nam
Á (Ấn Độ và Sri Lanka) theo lời mời của Thủ tướng hai nước Chuyến đi này được coi là một trong những chuyến đi quan trọng, bởi vì dù chưa có quan hệ chính thức với CPCMLTCHMNVN, nhưng Bộ trưởng Ngoại giao của CPCMLTCHMNVN được mời thăm viếng là một tín hiệu tích cực, phản ánh sự thừa nhận gián tiếp của chính phủ hai nước Ấn Độ và Sri Lanka đối với CPCMLTCHMNVN Chuyến đi đã thành công tốt đẹp, bởi qua đó, CPCMLTCHMNVN đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của Chính phủ
và nhân dân hai nước này Tiếp theo thắng lợi ngoại giao này, đầu tháng
9-1970, Đoàn Ngoại giao tiếp tục các chuyến thăm theo lời mời của Chính phủ các nước Ai Cập, Tanzania (châu Phi) Ngoài các nước châu Á, châu Phi, trong khoản thời gian cuối năm 1970, đầu năm 1971, Đoàn Ngoại giao của CPCMLTCHMNVN cũng tới thăm các nước châu Âu như nước Anh, Bungari, Italia, Ba Lan… Không chỉ có vậy, tháng 9 – 1971, Đoàn Ngoại giao của CPCMLTCHMNVN còn tham dự Hội nghị các nước đứng đầu
Phong trào không liên kết tại Luxaca (Zambia); tham dự Hội nghị thế giới
lần thứ 16 chống bom nguyên tử và khinh khí họp tại Nhật Bản (30 – 7 đến
Trang 329 – 8 – 1970) Hội nghị đã nhất trí bầu các đại biểu Nam, Bắc Việt Nam làm Chủ tịch danh dự
Phối hợp với hoạt động của Đoàn Ngoại giao CPCMLTCHMNVN, Đoàn Ngoại giao VNDCCH do Bộ trưởng Xuân Thủy dẫn đầu cũng đi thăm hữu nghị các nước XHCN, trong đó có Liên Xô, Trung Quốc Trong các chuyến thăm, qua các cuộc hội đàm và tiếp xúc rộng rãi, Đoàn Ngoại giao VNDCCH luôn tranh thủ mọi cơ hội, điều kiện tuyên truyền về sự ra đời của CPCMLTCHMNVN, vai trò, ảnh hưởng của CPCMLTCHMNVN đối với cách mạng miền Nam Việt Nam và cách mạng Việt Nam; bày tỏ sự mong muốn các nước tăng cường hợp tác và ủng hộ hoạt động của CPCMLTCHMNVN Những bước đi tích cực của Đoàn Ngoại giao VNDCCH đã có tác dụng nhất định trong việc làm cho các nước hiểu thêm, hiểu rõ hơn về CPCMLTCHMNVN và đi tới đồng tình, ủng hộ
Như vậy, trong suốt khoảng thời gian ngắn ngủi từ năm 1969 đến năm 1972, thực hiện chủ trương của Đảng về củng cố vị thế quốc tế, đề cao vai trò của CPCMLTCHMNVN trên trường quốc tế, CPCMLTCHMNVN
đã thực hiện khá dày đặc các chuyến thăm viếng ngoại giao đến nhiều nước
ở nhiều châu lục khác nhau, với những chế độ chính trị - xã hội khác nhau
Ở mỗi điểm đến, Đoàn Ngoại giao CPCMLTCHMNVN đều được đón nhận, chào mừng, ủng hộ Điều đó đã góp phần tăng đáng kể uy tín quốc tế của CPCMLTCHMNVN; CPCMLTCHMNVN được thừa nhận là người đại diện hợp pháp cho nhân dân miền Nam Việt Nam Đặc biệt, sự kiện đầu
năm 1972, CPCMLTCHMNVN được công nhận là thành viên của Phong
trào không liên kết đã minh chứng cho địa vị pháp lý vững chắc của
CPCMLTCHMNVN; đồng thời, cũng mở ra cơ hội, khả năng tăng cường Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy cam go, gian khó của nhân dân ta Qua các cuộc tiếp xúc, nhân dân các nước đã hiểu thêm về đất nước và con người miền Nam Việt Nam, con người Việt Nam, bày tỏ lòng khâm phục cuộc kháng chiến anh dũng vì quyền dân tộc thiêng liêng của nhân dân ta Một số nước lúc đầu chưa công nhận CPCMLTCHMNVN, song qua tuyên truyền, vận động, đến cuối
Trang 33những năm 70 (XX) đã tiếp tục công nhận CPCMLTCHMNVN (Cộng hòa Swaziland - cuối tháng 7 – 1970; Nauy - tháng 8 – 1970…)
1.2.2 Lãnh đạo phối hợp hoạt động và phát huy ưu thế ngoại giao
“tuy hai mà một, tuy một mà hai” trên bàn đàm phán Hội nghị Paris
Ngay từ giữa năm 1960, khi đế quốc Mỹ ráo riết tăng quân viễn chinh, chư hầu và phương tiện chiến tranh vào miền Nam Việt Nam, ném bom hủy diệt miền Bắc, thực hiện loại hình “Chiến tranh cục bộ” hòng đánh nhanh, thắng nhanh về quân sự, Trung ương Đảng đã nhận rõ âm mưu của
Mỹ là “cố giành thắng lợi quân sự và mong tạo cái thế vững vàng cho chúng
để làm hậu thuẫn cho một giải pháp chính trị đi đến kết thúc chiến tranh một cách có lợi cho chúng, đồng thời chuẩn bị điều kiện để khi cần thì kéo dài chiến tranh” [35, tr 173] Do đó, từ cuối năm 1965, trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12, Trung ương Đảng đã nêu quan điểm mở mặt trận đấu tranh ngoại giao phối hợp với hai mặt trận quân sự và chính trị Sau
đó, Hội nghị lần thứ 13 (tháng 1 – 1967) của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Đi đôi với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam, ta cần tiến công địch về mặt ngoại giao, phối hợp với hai mặt đấu tranh đó để giành thắng lợi
to lớn hơn nữa” [34, tr 174], tranh thủ khả năng vừa đánh, vừa đàm với nguyên tắc “chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường” [35, tr 174] Trong khi phối hợp với đấu tranh quân sự và chính trị, “đấu tranh ngoại giao phải giữ vai trò quan trọng, tích cực và chủ động” Với Nghị quyết 13, Đảng đã quyết định đưa ngoại giao lên thành một mặt trận, phối hợp với hai mặt trận quân sự và chính trị, trong đó nhấn mạnh quân sự vẫn là mặt trận quan trọng nhất Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 có giá trị như là một bản cương lĩnh về đấu tranh ngoại giao của Đảng trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước Tinh thần cơ bản bản nhất của Hội nghị được thể hiện trong Nghị quyết là đường lối độc lập,
tự chủ và sự chủ động, tích cực tiến công địch về ngoại giao Lần đầu tiên trong một văn kiện chính thức, Đảng coi đấu tranh ngoại giao là một mặt
trận Điều đó không chỉ được thể hiện ở câu chữ mà còn ở từng nội dung của
đường lối, chủ trương, phương châm, nhiệm vụ và những biện pháp thể hiện
Trang 34trong Nghị quyết của Hội nghị Vì vậy, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 được coi là hội nghị mở đầu mặt trận ngoại giao chống Mỹ, cứu nước Nhất quán với chủ trương đối ngoại từ những năm đầu chống Mỹ, cứu nước và đặc biệt là quan điểm của Hội nghị Trung ương 13 (1 – 1967), từ năm 1969, chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là coi ngoại giao là một mặt trận quan trọng, có vị trí không thể thay thế, phải hết sức phát huy vai trò của mặt trận này trên cơ sở phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ với các mặt trận khác, làm cho sức mạnh ngoại giao ngày càng được nhân lên, đến lượt mình, ngoại giao có nhiệm vụ tăng cường ảnh hưởng của những thắng lợi quân sự trên chiến trường Đặc biệt, khi bước vào giai đoạn vừa đánh, vừa đàm, thì hơn bao giờ hết, ngoại giao càng phải được coi trọng, càng phải phát huy tối
đa tác dụng, vai trò to lớn của mình, nhằm đạt tới những thắng lợi trên bàn đàm phán có lợi nhất cho ta, góp phần nhanh chóng kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh
Để thực hiện các mục tiêu chung của ngoại giao cả nước, ngay từ khi
mở mặt trận ngoại giao, Trung ương Đảng đã có chủ trương phối hợp ngoại giao hai miền Nam, Bắc, tập hợp thêm lực lượng, các xu hướng khác nhau ủng hộ Việt Nam ở trong nước và trên thế giới Nhìn chung, chủ trương phối hợp ngoại giao hai miền đã được Đảng đưa ra từ rất sớm Ngay từ Hội nghị cán bộ Bộ Ngoại giao lần thứ năm, ngày 16 – 3 – 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
Bây giờ ngoại giao của ta vừa là một vừa là hai; vừa là hai mà lại là một Ta vừa có ngoại giao của Việt Nam Dân chủ cộng hòa, vừa có ngoại giao của Mặt trận dân tộc giải phóng Hai cái vừa là hai mà lại vừa là một, vừa là một mà lại vừa là hai Hai khối đó phải kết hợp chặt chẽ với nhau Có khi Mặt trận nói chứ Việt Nam dân chủ cộng hòa nói thì không đúng Có khi cả hai đều nói Phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, cùng bàn bạc với nhau [8, tr 97]
Như vậy, chủ trương phối hợp ngoại giao hai miền đã được Chủ tịch
Hồ Chí Minh đưa ra từ khá sớm Bên cạnh việc cùng bàn bạc thống nhất về
Trang 35tinh thần chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đề cao tính chủ động, tích cực của ngoại giao miền Nam
Đầu năm 1969, Hội nghị Paris bước vào giai đoạn hai - giai đoạn đàm phán bốn bên Lúc này, dư luận thế giới, sự ủng hộ quốc tế ngày càng có lợi cho chúng ta Nhanh nhạy nắm bắt tình hình đó, BCT, Trung ương Đảng chủ trương đề cao vị trí quốc tế của MTDTGPMNVN Khi CPCMLTCHMNVN được thành lập, BCT Trung ương Đảng xác định, trong khi phối hợp với ngoại giao VNDCCH, ngoại giao của CPCMLT với
tư cách là ngoại giao của một nhà nước, cũng cần có những sáng tạo cho phù hợp với tình hình thực tiễn cách mạng miền Nam Cụ thể hóa chủ
trương trên, Điểm 12 của Chương trình hành động của Chính phủ cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã chỉ rõ nhiệm vụ ngoại giao
cơ bản, cụ thể của CPCMLTCHMNVN: 1) Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ
và giúp đỡ của các nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân
Mỹ đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân miền Nam Việt Nam; 2) Tích cực ủng hộ phong trào độc lập dân tộc của nhân dân châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh chống chủ nghĩa đế quốc và CNTD cũ và mới; 3) Tích cực phối hợp với cuộc đấu tranh của nhân dân Mỹ chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam [88, tr 11]
Trên đây là những nhiệm vụ đối ngoại lớn, quan trọng, bao trùm, thể hiện nhất quán mục tiêu đấu tranh ngay từ khi CPCMLTCHMNVN ra đời –
đó là phấn đấu cho một nền hòa bình, độc lập, thống nhất thực sự Để có thể tập hợp một cách rộng rãi mọi lực lượng hòa bình, tiến bộ trên thế giới và trong nước ủng hộ cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta đang đi vào hồi
quyết định, Điểm 12 của Chương trình tiếp tục nêu lên những chính sách đối
ngoại thể hiện rõ lập trường hòa bình, trung lập của Chính phủ trên năm nguyên tắc chung sống hòa bình: 1) Lập quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hóa với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội, kể cả với
Mỹ, đồng thời, chú trọng quan hệ hữu nghị và chính sách láng giềng tốt với Vương quốc Lào và Campuchia; 2) Nhận viện trợ về vốn, kỹ thuật, chuyên gia của tất cả các nước không kèm theo điều kiện chính trị; 3) Không tham
Trang 36gia khối liên minh quân sự với nước ngoài, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội và nhân viên quân sự trên đất mình, không công nhận sự bảo hộ của bất cứ nước nào hoặc liên minh quân sự nào
Ngay khi CPCMLTCHMNVN ra đời, chính quyền Sài Gòn đã đẩy mạnh tuyên truyền trước dư luận thế giới về vị trí hợp pháp và hợp hiến của mình, khẳng định mình là đại diện duy nhất cho nhân dân miền Nam, coi CPCMLTCHMNVN là một “chính phủ ma” Vì vậy, khi Đoàn Ngoại giao CPCMLTCHMNVN tới Paris, hai Đoàn Ngoại giao của VNDCCH và CPCMLTCHMNVN đã cùng họp bàn, chuẩn bị, dự kiến các tình huống có thể xảy ra do thái độ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trước sự kiện mới này Điều được cả hai Đoàn quan tâm nhất là liệu Mỹ có bỏ Hội nghị? Hai Đoàn nhận định tình hình, phân tích và cùng đi tới thống nhất rằng, khả năng đó rất ít, nhưng cũng chuẩn bị sẵn các phương án nếu điều đó xảy ra Hai Đoàn cũng nhất trí rằng, trên bàn đàm phán Hội nghị Paris, hoạt động ngoại giao của Đoàn đại biểu CPCMLTCHMNVN chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Đoàn đại biểu VNDCCH Nhiệm vụ chung của hai Đoàn là phối hợp nhịp nhàng,
ăn khớp với trong đấu tranh ngoại giao, còn đối với những công tác cụ thể
để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ cơ bản ấy, thì về phương pháp, cố nhiên phải làm cho sát hợp với tình hình từng lúc, từng nơi, như lời dặn của TBT
Lê Duẩn: “Về công tác ngoại giao, phải vận dụng như thế nào cho thích hợp
để đảm bảo được yêu cầu đã đề ra, thì các anh phải suy nghĩ, sáng tạo và khéo léo…” [38, tr 408]
Cần lưu ý là trước đó, đàm phán ở Hội nghị Paris vẫn chưa đi vào thực chất Thế trận vừa đánh, vừa đàm chúng ta triển khai mới được hơn
một năm Cơ sở để đấu tranh lúc này vẫn là Lập trường bốn điểm của VNDCCH và Giải pháp toàn bộ 10 điểm của MTDTGPMNVN (xem thêm
Phụ lục 1, tr 161) Ngày 14 – 5 – 1969, R Nixon đưa ra kế hoạch đầu tiên
về giải pháp cho vấn đề Việt Nam - Kế hoạch hòa bình 8 điểm, trong đó có một số điểm trùng hợp với Giải pháp 10 điểm của Mặt trận, nhưng về cơ bản, nội dung của Kế hoạch hòa bình 8 điểm vẫn xem kẻ đi xâm lược và
người bị xâm lược như nhau, vẫn giữ nguyên chính quyền thân Mỹ và giảm
Trang 37nhẹ vai trò của MTDTGPMNVN Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận đây là lần đầu tiên trên bàn đàm phán có hai kế hoạch giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam, theo đó, Mỹ đòi quân miền Bắc rút cùng quân Mỹ và giữ nguyên chính quyền Sài Gòn; còn phía Việt Nam đòi giữ quân miền Bắc ở lại miền Nam sau khi Mỹ rút và xóa bỏ chính quyền Sài Gòn Như vậy, quan điểm của hai bên về hai điểm này là hoàn toàn trái ngược
Tại phiên họp thứ 21 (12 – 6 – 1969), phiên họp đầu tiên mà Đoàn Ngoại giao CPCMLTCHMNVN có mặt tại Hội nghị Paris, Trưởng đoàn
Nguyễn Thị Bình đã công bố Chương trình hành động 12 điểm và ra Tuyên
bố đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, nói chuyện nghiêm chỉnh
với CPCMLTCHMNVN trên cơ sở Giải pháp toàn bộ 10 điểm và nhấn
mạnh đó là lối thoát danh dự cho Mỹ Sự có mặt của Đoàn Ngoại giao CPCMLTCHMNVN cũng như giải pháp mà Đoàn đưa ra vấp phải sự phản ứng mạnh từ phía Đoàn đại biểu Mỹ, nhưng cuối cùng họ cũng phải chấp nhận sự có mặt của CPCMLTCHMNVN tại bàn đàm phán như là một lực lượng độc lập Dư luận thế giới, đặc biệt là ở Pháp và ở Mỹ, đều coi những đòi hỏi của Việt Nam là hợp tình, hợp lý
Trong khi đó, tại nước Mỹ, trước nỗ lực tuyên truyền, vận động của chính phủ VNDCCH, của CPCMLTCHMNVN, nhân dân Mỹ thấy rằng không phải Bắc Việt Nam, mà chính nhà cầm quyền Mỹ muốn kéo dài chiến tranh Các cuộc đấu tranh ủng hộ nhân dân, phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ phát triển ngày càng mạnh mẽ Cụ thể là các cuộc biểu tình chống chiến tranh trước Lầu năm góc, trước nhà riêng R Nixon ở miền Tây nước
Mỹ, phong trào đốt thẻ gọi quân dịch ở New York… làm cho dư luận xã hội
Mỹ trở nên nóng bỏng, tác động trực tiếp đến chính quyền R Nixon Bên cạnh đó, các nghị sĩ thượng viện và hạ viện liên tiếp phản đối chính sách của
R Nixon ở Việt Nam, tố cáo chính quyền Sài Gòn là trở ngại chính cho hòa bình, đòi R Nixon có sáng kiến mới cho hòa bình… càng làm hậu trường chính trị nước Mỹ rối ren, buộc Mỹ phải có những điều chỉnh nhất định Tháng 11 – 1969, để thể hiện thiện chí, Mỹ ngừng tăng quân, chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, chấp nhận tuyển cử ở miền Nam, rút 25.000 quân
Trang 38(trong kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”) và sẽ rút thêm; đồng thời, sẽ giảm bớt 10% số phi vụ của máy bay B52 và hoạt động của máy bay chiến thuật Tất nhiên, sự rút quân nhỏ giọt, tình trạng mù mờ, không rõ ràng về vấn đề tổ chức tuyển cử ở miền Nam trong kế hoạch của Mỹ, khiến chúng ta
và dư luận thế giới không thể không nghi ngờ về ý đồ kéo dài chiến tranh của Mỹ
Suốt nửa cuối năm 1969, trên chiến trường miền Nam, quân đội ta tiếp tục gặp khó khăn Hoạt động quân sự giảm, chủ yếu là thực hiện pháo kích vào một số căn cứ của địch, đợt mạnh nhất là tháng 11, nhưng ít kết quả Trong khi đó, khu V vùng giải phóng bị thu hẹp, địch lấn và chiếm gần hết vùng giải phóng của ta ở nông thôn đồng bằng Nam Bộ, đánh phá ác liệt các tuyến vận tải Bắc Nam, hòng cắt đứt tiếp tế hậu cần cho miền Nam và giữa lúc đó Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời Nhân cơ hội đó, Mỹ tích cực tìm kiếm thắng lợi trên chiến trường, hy vọng sau sự ra đi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam sẽ nao núng ý chí chiến đấu Đồng thời, R Nixon cũng tuyên bố: “Thời gian cho hòa bình đã tới”, kêu gọi đại biểu các nước trong Đại hội đồng Liên hợp quốc thuyết phục Chính phủ VNDCCH đi vào
“thương lượng nghiêm chỉnh”
Trước tình hình đó, ngày 10 – 12 – 1969, Trung ương Đảng chỉ thị cho hai đoàn Ngoại giao Việt Nam ở Paris về thái độ ứng phó: “Xuất phát từ tình hình chung, nhất là sau diễn văn ngày 3 tháng 11 của Nixon, ta tỏ thái
độ cứng để tấn công lại Mỹ, không chịu sức ép của họ” [80, tr 100] Tiếp
đó, sang đầu năm 1970, Mỹ giật dây lật đổ Hoàng thân Sihanouk, quyết định cho quân đánh lớn vào Campuchia, uy hiếp và nhằm xóa bỏ chỗ đứng chân của lực lượng giải phóng miền Nam Việt Nam dọc biên giới Campuchia, nhất là ở vùng Mỏ Vẹt và Móc Câu (đây cũng là nơi đóng quân của Trung ương cục miền Nam), thể hiện rõ ràng mưu đồ kéo dài chiến tranh, quyết giành thắng lợi về mặt quân sự, hòng giành thế mạnh trên bàn đàm phán Nhằm đưa ra những định hướng lớn đáp ứng sự biến chuyển của tình hình, Hội nghị lần thứ 18 BCHTƯ Đảng đã nhóm họp vào ngày 27 – 1 – 1970
Trang 39Hội nghị tổng kết tình hình các mặt đấu tranh trong những năm 1968 –
1970 Về đối ngoại, Hội nghị nêu lên những thành tựu to lớn đã đạt được:
Phát huy thắng lợi to lớn về quân sự và chính trị trên chiến
trường, ta đã kiên quyết và khéo léo tiến công địch, đẩy lùi địch
từng bước, buộc địch phải chấp nhận vừa đánh vừa đàm một cách bị động, từ chỗ phải nói chuyện với đại biểu Chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến chỗ phải nhận cuộc hội nghị bốn bên, phải ngồi lại nói chuyện với đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, với đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời [37, tr 31]
Hội nghị cũng khẳng định rằng, “với chủ trương ngoại giao vừa kiên quyết, vừa linh hoạt của Đảng ta, chúng ta đã giành được thắng lợi to lớn trên bàn hội nghị, dồn địch vào thế chống đỡ bị động, cô lập kẻ địch, phân hóa hàng ngũ của chúng” [37, tr 37- 38] Phân tích tình hình mọi mặt, đặc biệt phân tích những diễn biến mới nhất, cũng như ý đồ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, Hội nghị Trung ương lần thứ 18 nhận định:
Về mặt ngoại giao Mỹ sẽ tiếp tục giữ vững lập trường xâm lược ngoan cố Một mặt, cố tình hạ thấp Hội nghị Paris; mặt khác sẽ tìm cách đưa ra những đề nghị bịp bợm về vấn đề hòa bình nhằm lừa dối dư luận Chỉ khi nào chúng vấp phải thất bại nghiêm trọng hơn, hết hy vọng vào âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” thì chúng mới buộc phải đi vào con đường thương lượng nghiêm chỉnh để tìm một giải pháp chính trị [37, tr 49]
Vì thế, nhiệm vụ ngoại giao được xác định: 1) Bóc trần âm mưu ngoan cố của địch, rút quân nhỏ giọt và kéo dài chiến tranh xâm lược, bóc trần bộ mặt thối nát của ngụy quân, ngụy quyền, tiếp tục nêu cao giải pháp toàn bộ 10 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời; 2) Đòi Mỹ phải rút hết quân, đòi thành lập Chính phủ liên hiệp, do
đó mà tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi và ngày càng mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, của nhân dân Mỹ; 3) Kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, làm cho địch càng bị cô lập và phân hóa, cuối cùng buộc chúng phải nhận một giải pháp chính trị có lợi cho ta [37, tr 62]
Trang 40Lúc này, trên bàn đàm phán Hội nghị Paris, các cuộc họp trong tháng 4-1970 không mang lại kết quả nào đáng kể, vì phía Mỹ vẫn muốn đàm phán trên thế mạnh Để phản đối Mỹ hạ thấp vai trò của Hội nghị, hai phái đoàn Việt Nam vắng mặt một thời gian Hai đoàn tập trung thời gian vào việc thăm các nước, thông báo về diễn biến của Hội nghị; tổ chức các cuộc họp báo quốc tế… tố cáo thái độ thiếu thiện chí của Mỹ và chính quyền Sài Gòn
Để thực hiện “kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, làm cho địch càng bị cô lập và phân hóa”, để chúng buộc phải chấp nhận một giải pháp chính trị có lợi cho ta, Trung ương Đảng chủ trương: “Đẩy mạnh tiến công quân sự và tiến công chính trị, kết hợp với tiến công ngoại giao, vừa tiến công địch vừa ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh… tạo nên chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi quyết định” [37, tr 117]
Với quyết tâm đoàn kết một lòng, triệu người như một, kiên quyết tiến hành cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, quân
và dân ta ở miền Nam đẩy mạnh phản công và tiến công địch, từng bước khôi phục vùng giải phóng, khôi phục phong trào cả ở ba vùng chiến lược, sát cánh cùng quân, dân Lào và quân, dân Campuchia anh em đánh thắng các bước phiêu lưu quân sự mới của địch Cuộc hành quân của Mỹ đánh vào Móc Câu bị bẻ gãy Trên chiến trường miền Nam, nhân lúc Mỹ - ngụy bị hút sang Campuchia, các quân khu, các mặt trận kịp thời tiến công nhiều căn cứ
ở thành phố, thị xã và phòng tuyến phòng thủ vành đai của chúng từ Trị thiên đến Quảng Nam - Đà Nẵng và Tây Nguyên, bẻ gãy nhiều cuộc hành quân của địch Phong trào chống chiến tranh, chống Mỹ - Thiệu cũng phát triển ở các đô thị Trên miền Bắc, sau khi đế quốc Mỹ buộc phải ngừng ném bom đánh phá, quân, dân ta đã nỗ lực cao độ, phục hồi và đẩy mạnh sản xuất, củng cố miền Bắc về mọi mặt, tăng cường tiềm lực kinh tế, quốc phòng, chi viện mạnh mẽ cho cách mạng miền Nam và các nước Đông Dương anh em