Theo tổng kết của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc UNDP, trong điều kiện kinh tế, xã hội của mình so với những nước có cùng mức GDP, Việt Nam đã sử dụng những nguồn lực có được một
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
MẠCH THỊ LIÊN
ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN (TỈNH BẮC KẠN) LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM
2001 ĐẾN NĂM 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM
Hà Nội-2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
MẠCH THỊ LIÊN
ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN (TỈNH BẮC KẠN) LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 5
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Bố cục của luận văn 6
Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 7
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, con người, kinh tế - xã hội huyện Chợ Đồn và công tác xóa đói, giảm nghèo của huyện trước năm 2001 7
1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, con người, văn hóa và kinh tế - xã hội huyện Chợ Đồn 7
1.1.2 Công tác xóa đói, giảm nghèo của huyện Chợ Đồn trước năm 2001 11 1.2 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ Tỉnh Bắc Kạn về xóa đói, giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2005 13
1.3 Chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Chợ Đồn về xóa đói, giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2005 14
1.3.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện về xóa đói, giảm nghèo 14
1.3.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện về thực hiện xóa đói, giảm nghèo 16 1.3.3 Kết quả lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ huyện Chợ Đồn 20 Tiểu kết chương 1 34
Chương 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN 2013 35
2.1 Đảng bộ huyện Chợ Đồn lãnh đạo xóa đói giảm nghèo từ năm 2006 đến 2010 35
Trang 42.1.1 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn về xóa đói, giảm
nghèo 35
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Chợ Đồn về xóa đói, giảm nghèo 37 2.1.3 Sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện về thực hiện xóa đói, giảm nghèo 39 2.1.4 Kết quả lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ huyện 44
2.2 Đảng bộ huyện Chợ Đồn lãnh đạo xóa đói giảm nghèo từ năm 2011 đến năm 2013 60
2.2.1 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn về xóa đói, giảm nghèo 60
2.2.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Chợ Đồn về xóa đói, giảm nghèo 63 2.2.3 Sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ huyện Chợ Đồn về xóa đói, giảm nghèo 65
2.2.4 Kết quả việc thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Chợ Đồn 67
Tiểu kết chương 2 77
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 80
3.1 Đánh giá chung về sự lãnh đạo, chỉ đạo xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Chợ Đồn 80
3.1.1 Về thành tựu 80
3.1.2 Về hạn chế 86
3.2 Một số kinh nghiệm 90
3.2.1 Nhóm kinh nghiệm trong xác định chủ trương 90
3.2.2 Nhóm kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện 93
Tiểu kết chương 3 97
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở nước ta, công tác xóa đói giảm nghèo được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước, đã và đang trở thành một nội dung quan trọng của chương trình công tác của các cấp đảng
ủy, chính quyền, đoàn thể Trong quá trình thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế nâng cao mức sống của nhân dân nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và được thế giới biết đến Đó là nhờ từ rất sớm (từ năm 1991), vấn đề xóa đói, giảm nghèo đã được đề ra trong các diễn đàn, các nghiên cứu và triển khai thành phong trào xóa đói giảm nghèo sâu rộng trong cả nước Theo tổng kết của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), trong điều kiện kinh tế, xã hội của mình so với những nước có cùng mức GDP, Việt Nam đã sử dụng những nguồn lực có được một cách hiệu quả vào việc nâng cao mức sống người dân, trình độ dân trí, tuổi thọ, bình đẳng giới…Điều này nói lên những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo Tuy nhiên, đến nay vẫn còn tồn tại tình trạng đói, nghèo ở nhiều nơi trên cả nước, nhất là ở các huyện, tỉnh miền núi huyện Chợ Đồn thuộc tỉnh Bắc Kạn cũng nằm trong những nơi như vậy Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, ít dân nhất cả nước, có địa hình phức tạp, cơ sở vật chất và kinh tế chưa phát triển Chợ Đồn là 1 trong 8 huyện thị của tỉnh còn gặp rất nhiều khó khăn Huyện Chợ Đồn nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn, huyện có diện tích 912 km2 , 100%
là núi cao và dân số là 48.122 người (năm 2009) , có tới hơn 95% đồng bào
là dân tộc thiểu số , trình độ dân trí thấp chưa đồng đều giữa các dân tộc, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp Huyện Chợ Đồn có một thị trấn (Bằng Lũng) và 21 xã
Trang 6Huyện Chợ Đồn có nhiều dân tộc như Mông, Dao, Nùng, Tày, Hoa, Kinh, Sán Chí cùng chung sống đoàn kết trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước Điều đó chứng tỏ Chợ Đồn luôn là vùng đất có truyền thống văn hóa, truyền thống yêu nước và cách mạng Chợ Đồn là một phần của chiến khu Định Hoá, hiện còn nhiều di tích lịch sử về cuộc kháng chiến chống Pháp cần được lưu giữ và tôn tạo Với 10 xã thuộc ATK, nhiều danh lam thắng cảnh, hệ thống sông suối với hệ sinh thái phong phú và mạng lưới giao thông thuận lợi
là những điều kiện thuận lợi để phát triển các hoạt động du lịch trên địa bàn,
từ du lịch văn hoá lịch sử đến du lịch sinh thái v.v Nhân dân các dân tộc có tinh thần đoàn kết yêu quê hương, có đức tính cần cù, chăm chỉ, vượt qua khó khăn, gian khổ về kinh tế, sự khắc nghiệt của thiên nhiên để từng bước đi lên
Đó là những nhân tố cơ bản và sức mạnh tinh thần để hướng tới sự phát triển kinh tế xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng huyện Chợ Đồn giàu, đẹp, văn minh
Quán triệt chủ trương của Đảng và nhà nước về xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, ngay từ đầu năm 90 của thế kỉ XX, Đảng bộ huyện Chợ Đồn đã lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trong địa bàn huyện Từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ huyện và sự nỗ lực của các ngành các cấp, Chợ Đồn đã đạt được thành tựu đáng kể trong công tác xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên công tác xóa đói giảm nghèo vẫn gặp nhiều khó khăn
cả về chủ quan và khách quan, những nguồn lực sẵn có chưa phát huy hết hiệu quả… Để công tác lãnh đạo này đạt hiệu quả cao hơn, vấn đề quan trọng hàng đầu là cần tổng kết thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm, vạch ra những phương hướng tối ưu nhất để công tác xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế của huyện trong những năm tới đạt kết quả cao hơn Nhằm góp phần đáp ứng đòi hỏi cấp bách đó, tôi chọn thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ :
Trang 7“ Đảng bộ huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn) lãnh đạo xóa đói giảm
nghèo từ năm 2001 đến năm 2013”
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đói, nghèo và xóa đói, giảm nghèo là vấn đề lớn, bức thiết ở nước ta hiện nay, đã và đang thu hút các cơ quan, các nhà khoa học nghiên cứu tìm giải pháp Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ quan chuyên trách đã được đăng tải trong các sách, tạp chí và trong các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và các phương tiện thông tin đại chúng khác Sau đây là các công trình khoa học liên quan trực tiếp đến đề tài:
- “Xóa đói giảm nghèo” của Bộ Lao động - Thương binh xã hội (1993)
- “Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay” của
Nguyễn Thị Hằng (NXB chính trị quốc gia Hà Nội - 1997)
- “Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xoá đói giảm nghèo
ở Vỉêt Nam” chủ biên GS PTS Vũ Thị Ngọc Phùng (NXB chính trị quốc gia
Hà nội - 1999);
- “Đói nghèo ở Việt Nam”, Chu Tiến Quang chủ biên (NXB Nông
nghiệp Hà nội - 2001);
- “Một số chính sách quốc gia về việc làm và xoá đói giảm nghèo” của
Lê Quyết (NXB lao động, Hà nội - 2002);
- “Đánh giá chương trình Mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo và
chương trình 135” của Bộ Lao động - Thương binh xã hội và UNDP - 2004
- “Cuộc chiến chống đói nghèo ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” , Nguyễn Trịnh Bằng (Tạp chí Lao động và Xã hội, 2005, số 272)
- “Đói nghèo và tách biệt xã hội ở Việt Nam hiện nay” , Đỗ Hoàng Long (Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 2006, số 3)
- “Tác động của chính sách xóa đói, giảm nghèo đối với sự phân hóa xã
hội ở nước ta” của Trần Văn Phong (Tạp chí Lý luận chính trị, 2006, số 4)
Trang 8- “Đảng bộ tỉnh Kon tum lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay ”, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành xây dựng
Đảng Cộng sản Việt Nam của Lê Như Nhất, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2007)
- “Hoàn thiện các chính sách xóa đói, giảm nghèo chủ yếu của Việt
Nam đến năm 2015 ” (Luận án Tiến sĩ Kinh tế - Nguyễn Thị Hoa, 2009)
- “Các huyện ủy ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên
ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam của Trịnh sơn, Học viện Chính trị
- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2010)
- “Bước ngoặt mới trong nỗ lực xóa đói, giảm nghèo”, Nguyễn Thị
Kim Ngân, Bí thư trung ương Đảng – Bộ trưởng Bộ lao động thương binh xã hội (Tạp chí cộng sản, 2011, số 821)
- “Phát triển khu kinh tế cửa khẩu với xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Lào Cai”, Luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế phát triển của Giàng Thị
Dung, Viện nghiên cứu kinh tế quản lý trung ương (2014)
Nhìn chung từ cách tiếp cận và nghiên cứu của các chuyên ngành khác nhau các công trình trên đã góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Kết quả nghiên cứu của các công trình đó có giá trị tham khảo tốt để thực hiện đề tài luận văn Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện dưới góc độ của khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Chợ Đồn phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện từ năm
2001 đến năm 2013
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 9Luận văn làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ huyện Chợ Đồn quán triệt chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước ta vào việc lãnh đạo xóa đói giảm nghèo ở huyện từ năm 2001 đến năm 2013, qua đó rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào giai đoạn cách mạng tiếp theo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn trình bày một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Chợ Đồn từ năm 2001 đến năm 2013
- Rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm từ công tác lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Chợ Đồn trên địa bàn huyện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình Đảng bộ huyện Chợ Đồn lãnh đạo phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện từ năm
2001 đến năm 2013
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Chợ Đồn trên địa bàn của huyện
- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2001 đến năm 2013
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước ta về xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu nhưng pháp chủ yếu
Trang 10là phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp hai phương pháp
đó Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra, khảo sát thực tiễn
5.3 Nguồn tư liệu
có 3 nguồn tư liệu chính: Văn kiện các Đại hội Đảng bộ huyện Chợ Đồn lần thứ XVII, XVIII và XIX; các Nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo của Huyện ủy Chợ Đồn; các Báo cáo tổng kết và phương hướng nhiệm vụ hàng năm của Huyện ủy huyện Chợ Đồn, của UBND huyện Chợ Đồn và phòng dân tộc, phòng thương binh và xã hội Huyện Chợ Đồn về
xóa đói giảm nghèo Ngoài ra còn sưu tầm các tư liệu trong cuốn Lịch sử
Đảng bộ huyện Chợ Đồn, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và nhiều tài liệu tham khảo khác được liệt kê trong mục TÀI LIỆU
THAM KHẢO
6 Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ những thành công, hạn chế và những bài học kinh nghiệm trong thực hiện phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo của Đảng
bộ huyện Chợ Đồn trong những năm 2001 - 2013
- Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể là nguồn tư liệu tham khảo để công tác xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện đạt kết quả tốt hơn trong những năm tới
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm: 3 chương
Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Trang 11Chương 1:
ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, con người, kinh tế - xã hội huyện Chợ Đồn và công tác xóa đói, giảm nghèo của huyện trước năm 2001
1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, con người, văn hóa và kinh tế - xã hội huyện Chợ Đồn
* Điều kiện tự nhiên
Nằm ở phía tây của tỉnh Bắc Kạn, Chợ Đồn có vị thế chiến lược hết sức quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Huyện có diện tích tự nhiên 91.293 ha chiếm 18,75% diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn Huyện Chợ Đồn có một thị trấn (Bằng Lũng) và 21 xã Có ranh giới tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Ba Bể
- Phía Nam giáp huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên
- Phía Đông giáp huyện Bạch Thông, huyện Chợ Mới
- Phía Tây giáp huyện Chiêm Hoá, Yên Sơn, Na Hang tỉnh Tuyên Quang
Trung tâm huyện lỵ là thị trấn Bằng Lũng cách thị xã Bắc Kạn khoảng 46km theo tỉnh lộ 257 Huyện Chợ Đồn có hệ thống giao thông khá đầy đủ với đường tỉnh lộ 254, 254B, 255, 257… các tuyến liên xã tương đối hoàn thiện tạo thuận lợi cho huyện trong giao lưu thương mại, phát triển kinh tế xã hội, du lịch
Huyện Chợ Đồn là huyện miền núi vùng cao của tỉnh Bắc Kạn, có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây với các dạng địa hình phổ biến: Địa hình núi đá vôi, Địa hình núi đất, Địa hình thung lũng Ngoài ra
Trang 12có hệ thống sông suối khá dày đặc nhưng đa số là các nhánh thượng nguồn sông Cầu, sông Năng, sông Phó Đáy, sông Bình Trung với đặc điểm chung là đầu nguồn, lòng sông ngắn, dốc, thuỷ chế thất thường Giao thông đường sông ít phát triển do sông suối dốc, lắm thác ghềnh [37, tr.10-11]
Khí hậu huyện Chợ Đồn chịu ảnh hưởng chung của khí hậu Miền Bắc Việt Nam và mang tính chất đặc thù của khí hậu lục địa miền núi cao thể hiện
rõ bốn mùa trong năm mùa đông (từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau) giá lạnh, nhiệt độ không khí thấp, khô hanh, có sương muối; mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9) nóng ẩm, mưa nhiều
* Con người và văn hóa
Trải qua các thời kì lịch sử, Chợ Đồn hiện nay là nơi sinh sống của các tộc người Tày, Dao, Kinh, Mông, Nùng, Hoa…
Trong cộng đồng dân cư, dân tộc Tày là tộc người có nguồn gốc từ Tày
cổ, là chủ nhân có mặt sớm và lâu đời nhất ơ huyện Chợ Đồn Đồng bào Tày hiện nay có số dân đông nhất huyện, sống tập trung thành thôn bản [36,tr.16] Dân tộc Dao đứng thứ hai dân số của huyện Người Dao có mặt tương đối sớm ở Chợ Đồn, cách đây khoảng hơn 200 năm Trước đây đồng bào du canh du cư, thực hiện cuộc vận động định canh định cư của Đảng và Chính phủ, được sự giúp đỡ của các cấp, các ngành trong huyện, đồng bào Dao đã từng bước ổn định cuộc sống
Dân tộc Kinh có dân số đông thứ ba ở huyện Người Kinh có mặt ở Chợ Đồn chủ yếu là trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất và thứ hai của Pháp Trong kháng chiến chống Pháp, nhiều cán bộ, công nhân theo cơ quan, xưởng máy, kho tàng của Trung Ương chuyển lên Chợ Đồn, ngoài ra còn có một số đồng bào tản cư từ miền xuôi lên.[37,tr.17]
Người Mông do di cư tự nhiên từ nơi khác đến cách đây không lâu, có số dân đứng thứ tư trong dân số của huyện, họ sống rải rác trong hầu hết các xã
Trang 13Người Nùng có dân số đứng thứ năm của huyện, phần lớn có mặt cách đây hơn hai thế kỷ, một bộ phận nhỏ di cư đến vào những năm cuối thế kỷ XX.[37,tr.18]
Dân tộc Hoa có số dân ít nhất, ngoài ra còn có một số ít người mang tộc danh Sán Chí
Các dân tộc trong huyện luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ nhau về mọi mặt Đồng bào có truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, xây dựng đời sống, luôn vươn lên để tự hoàn thiện mình và đã tạo nên những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc Các dân tộc đều có những sinh hoạt văn hóa cộng đồng phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc, được thể hiện trong các dịp Tết, lễ hội, đám cưới, ma chay, chợ phiên… Người Dao có hát páo dung, người Mông có múa khèn, người Nùng hát sli, người Tày hát ví (phuối pác), hát lượn Hát lượn của người Tày được các nhà nghiên cứu văn hóa đánh giá là “viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân gian”
Đồng bào Tày - Nùng và các dân tộc ít người khác sinh sống ở Chợ Đồn
là những dân tộc ở thời kì cổ đại không có chữ viết riêng của dân tộc mình, nên không có văn học thành văn thời cổ đại Cách đây vài chục năm, một số người biết chữ Nôm Tày (có từ thế kỷ XV) thường đọc các truỵên, thơ bằng chữ Nôm Tày nay đã thành cổ văn ít người đọc được Năm 1960, được sự giúp đỡ cuả Nhà nước, đồng bào Tày - Nùng có chữ viết của mình trên cơ sở chữ Quốc ngữ Sự kết hợp giữa chữ Quốc ngữ và chữ Tày Nùng đã góp phần nâng cao sự hiểu biết và sinh hoạt văn hóa trong nhân dân
Về thơ ca, trước đây một số người Tày biết hát Loàn (như hát lượn) trong lễ hội Lồng Tổng (xuống đồng) Ngày nay trong đồng bào Tày – Nùng còn lưu truyền khá phổ biến các bài ca cúng bái của: Pụt, Tào, Then dùng trong các lễ kỳ yên (lễ cầu cho sự bình an), trong ma chay có các thể loại thơ
Trang 14ca nghi lễ như: mại xe, văn tế, văn than Trong nhân dân có các thể loại thơ đám cưới (thơ lẩu) với các vần văn hoa ý nhị, thơ ca sinh hoạt có sli, lượn phong slư, câu đố, hát đồng dao, ru em… [37, tr.19-21]
Những giá trị văn hóa được sản sinh trong quá trình lao động, xây dựng cuộc sống của các đồng bào dân tộc đã góp phần làm phong phú nền văn hóa dân gian Việt Nam Đó còn là một trong những nhân tố làm nảy sinh truyền thống đoàn kết, đấu tranh, dựng nước và giữ nước của đồng bào trong tiến trình phát triển của lịch sử
* Điều kiện kinh tế - xã hội
Chợ Đồn là một trong những huyện giàu tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Bắc Kạn, ngoài kẽm, quặng, còn có chì, vàng sa khoáng… có giá trị to lớn về mặt kinh tế
Nền kinh tế Chợ Đồn khá phong phú đa dạng Toàn huyện có diện tích
tự nhiên là 91.293 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệplà 4.417 ha, riêng trồng lúa nước là 2.599 ha Kinh tế công nghiệp có khai thác quặng kẽm và một số nghề thủ công truyền thống.[37,tr.14]
Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước, cơ sở hạ tầng đang được đầu tư, mở rộng xây dựng, cơ cấu kinh tế thay đổi, hình thành nhiều cơ sở sản xuất, một số sản phẩm tham gia giao lưu kinh tế trong và ngoài tỉnh, hoạt động dịch vụ cũng có bước phát triển đáng kể Mặc dù vậy, tỷ trọng nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế, lực lượng sản xuất trong xã hội huyện chủ yếu là nông dân
Là huyện miền núi, rừng chiếm phần lớn diện tích tự nhiên, xen kẽ rừng
là các thung lũng lòng chảo, chạy dọc theo các con sông, suối, nhân dân đã khai phá, cải tạo thành ruộng bậc thang trồng lúa nước Nhiều xã có cánh đồng rộng lớn như Đông Viên, Phương Viên, Bình Trung, Đồng Lạc, Nam Cường trở thành những vựa lúa của huyện Các soi, bãi được đồng bào khai
Trang 15thác để trồng ngô và các loại hoa màu Có đồi núi, soi, bãi và nguồn lương thực khá dồi dào đã tạo điều kiện cho sự phát triển các đàn gia súc, gia cầm
Có thể nói điều kiện tự nhiên đã tạo cho Chợ Đồn có nền kinh tế tự cung
tự cấp cao, có tác dụng đảm bảo đời sống tại chỗ cho đồng bào nơi đây Tuy nhiên với nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, Chợ Đồn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là sự chênh lệch trong mức sống của các bộ phận dân cư còn rất lớn, tỉ lệ họ đói, nghèo còn rất cao
1.1.2 Công tác xóa đói, giảm nghèo của huyện Chợ Đồn trước năm 2001
Ở Việt Nam, xoá đói giảm nghèo được coi là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Để giải quyết vấn đề đói nghèo, một trong những vấn đề cơ bản là phải đưa ra được những chính sách
để thực hiện có hiệu quả Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: chính sách xóa đói giảm nghèo phải bao trùm tất cả mọi mặt của cuộc sống con người, điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, chính trị, đạo đức…
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) đã khẳng định: “Thực hiện
tốt chương trình giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”
Là một huyện nghèo trong một tỉnh miền núi còn rất nhiều khó khăn, Chợ Đồn nhận thức rõ thực trạng đói nghèo của huyện, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI (nhiệm kỳ 1995-2000) đã xác định xóa đói giảm nghèo là một nhiệm vụ cấp bách của huyện Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng chương trình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 1996-2000,
và trong quá trình thực hiện đã triển khai lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trong địa bàn huyện.[ 3, tr.141-142]
Ngay từ khi tái lập tỉnh Bắc Kạn (1997), dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, huyện ủy Chợ Đồn đã đặt mức phấn đấu đến năm 2000 giảm tỷ lệ hộ đói
Trang 16nghèo từ 10-15% , bằng mức phấn đấu của tỉnh Năm 1997 tỷ lệ hộ đói nghèo toàn huyện có 46,3%, đến năm 2000 giảm còn 37,6%
Huyện Chợ Đồn ngoài thị trấn Bằng Lũng còn lại 21 xã đều là xã vùng cao, đều được hưởng Chương trình 135 là chương trình của Nhà Nước hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội những vùng đặc biệt khó khăn Với chương trình 135, các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện đã từng bước được giải quyết xây dựng cơ sở hạ tầng điện – đường – trường – trạm Riêng năm 2000, tổng số vốn đầu tư của 135 đạt 7,7 tỷ đồng, chủ yếu dùng để xây dựng trường học và đường điện lưới quốc gia
Cùng đồng thời với chương trình 135, huyện ủy và ủy ban nhân dân huyện đã triển khai tích cực chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm Chương trình xóa đói giảm nghèo ngoài hỗ trợ các đối tượng đặc biệt khó khăn, thực sự nghèo, chủ yếu là đầu tư cho dân vay vốn để phát triển kinh tế xã hội với các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, các chính sách chế độ ưu đãi, thực hiện chuyển giao khoa học kĩ thuật, giải quyết việc làm tạo cho họ tự xóa đói giảm nghèo
Trong những năm 1998 – 2000, huyện đã triển khai 7 chương trình, dự
án lớn, trong đó có: dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, dự án tín dụng, dự án hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn, dự án định canh định cư, dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn…Ngoài ra huyện còn thực hiện phối kết hợp các chương trình đầu tư nước ngoài trên địa bàn với nhiều quy mô thử nghiệm
về chăn nuôi, trồng trọt; mở các lớp tập huấn về chuyển giao khoa học kĩ thuật về cây trồng, vật nuôi…
Kết quả sau 5 năm thực hiện, đời sống của những thôn, bản nghèo được cải thiện hơn, bớt khó khăn hơn, hạ tầng cơ sở được đầu tư đáng kể Đồng bào các dân tộc trong huyện bước đầu có nhận thức về chuyển dịch cơ cấu cây
Trang 17trồng, vật nuôi, sản xuất hàng hóa để vươn lên thoát đói nghèo Sự điều hành của các cấp Đảng ủy và chính quyền cũng có nhiều đổi mới
Tuy vậy, nhưng tình trạng đói nghèo ở huyện vẫn còn rất gay gắt, số hộ phát sinh nghèo mới và tái nghèo còn cao, chênh lệch mức sống giữa các vùng dân cư chưa được thu hẹp, tiến độ xóa đói giảm nghèo chuyển biến chậm, kết quả đạt được chưa bền vững, còn nhiều yếu tố dẫn đến đói nghèo 1.2 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ Tỉnh Bắc Kạn về xóa đói, giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2005
Năm 1998 lần đầu tiên giảm nghèo đã trở thành một chính sách nằm trong hệ thống chính sách xã hội của quốc gia Từ đó đến nay, công tác xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định Đảng
và Nhà nước ta luôn quan tâm tới công tác xóa đói giảm nghèo trong phạm vi
cả nước Điều đó được thể hiện rõ trong các chủ trương, chính sách của Đảng
và chính phủ
Nghị quyết đại hội Đảng lần IX họp hội nghị lần 5 năm 2001 đã nêu rõ:
“Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo Quan
tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp, cải tạo các tuyến trục giao thông nối vùng nghèo, xã nghèo với nơi khác, tạo điều kiện thuận lợi cho vùng nghèo, vùng khó khăn phát triển Đi đôi với việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phải rất coi trọng việc tạo nguồn lực cần thiết
để dân cư ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng nhanh thu nhập…Nâng dần mức sống của các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo”.[29, tr.72]
Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001-2005… Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn khẳng định xóa đói
Trang 18giảm nghèo là chương trình quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tại Bắc Kạn, đại hội lần thứ VIII nhiệm kỳ 2000-2005 đã đưa ra mười mục tiêu chủ yếu nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế nông, lâm, công nghiệp, thương mại, du lịch – dịch vụ, ra sức xóa đói giảm nghèo, tạo bước ngoặt ổn định và cải thiện đời sống các dân tộc, phấn đấu bình quân mỗi năm giảm từ 4 đến 5% tổng số hộ đói nghèo Ngoài ra cũng đẩy mạnh thực hiện tốt chương trình 135 giai đoạn I của Chính Phủ là phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; thực hiện nghiêm túc các
dự án, chương trình đầu tư của Nhà nước vào Mục tiêu cụ thể của Chương trình 135 là:
Phát triển sản xuất, nâng cao mức sống cho các hộ dân tộc thiểu số;
Phát triển cơ sở hạ tầng;
Phát triển các dịch vụ công cộng địa phương thiết yếu như điện, trường học, trạm y tế, nước sạch
Nâng cao đời sống văn hóa
Ủy ban nhân dân tỉnh ra Quyết định số 31/2002/QĐ – UBND “về việc quy
định giúp đỡ các xã nghèo thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2002 – 2005”…
1.3 Chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Chợ Đồn về xóa đói, giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2005
1.3.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện về xóa đói, giảm nghèo
Bám sát đường lối của Đảng và Đảng bộ tỉnh nói chung, cùng với các chính sách xóa đói giảm nghèo nói riêng, Đảng bộ và chính quyền huyện luôn quan tâm giải quyết các vấn đề xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện
Nghị quyết của đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2005) đã khẳng định:
Trang 192000-“Trong những năm tới cần khai thác hiệu quả mọi tiềm năng, thế mạnh
đặc thù của huyện để phát triển kinh tế xã hội, tập trung mọi nguồn lực đầu tư cho phát triển Cải thiện một bước vật chất, tinh thần của nhân dân, đặc biệt
là các dân tộc ở vùng hẻo lánh Tập trung tốt các mục tiêu đề ra, nhất là chương trình xóa đói, giảm nghèo…xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.[44, tr.8]
Đại hội đã thảo luận và thông qua phương hướng nhiệm vụ và các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng giai đoạn 2001-2005 Đại hội đã
đề ra những mục tiêu cụ thể phấn đấu đến năm 2005 tốc độ tăng trưởng GDP đạt 15%/năm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỉ trọng kinh
tế công nghiệp và dịch vụ Hoàn thành cơ bản việc xây dựng cơ sở hạ tầng theo quy hoạch, 100% số xã có điện quốc gia, 100% trường học được xây dựng kiên cố, 70% số hộ nông thôn được dùng nước sạch, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10% [44, tr.12]
Hội nghị lần thứ III của Ban chấp hành Đảng bộ huyện cũng đã ra nghị
quyết 06-NQ/HU ngày 20/1/2001 về chương trình xóa đói giảm nghèo và giải
quyết việc làm giai đoạn 2001-2005, nêu lên những vấn đề quan trọng cơ bản
cần thực hiện như mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản, các giải pháp và tổ chức thực hiện trong giai đoạn 2001-2005 nhằm thực hiện tốt chương trình giảm nghèo, tạo cơ hội cho người nghèo có điều kiện phát triển kinh tế, tăng thu nhập vươn lên thoát nghèo; tăng cường xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh, đào đạo nguồn lao động cho nông thôn, tạo mọi điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo nhanh chóng thoát nghèo thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.[4, tr.1-5]
Ngày 22/4/2003, Hội nghị lần thứ 12 của Ban chấp hành Đảng bộ huyện
khóa XVII ra nghị quyết “về nhiệm vụ định canh định cư và xóa đói giảm
Trang 20nghèo giai đoạn 2003 – 2005” Hội nghị nhận định: công tác định canh, định
cư và xóa đói giảm nghèo đã có bước chuyển biến tích cực; một số dự án về
tổ chức sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng đã được thực hiện; một bộ phận dân
cư từ chỗ thiếu đói đã dần ổn định cuộc sống; công tác xóa đói giảm nghèo đã từng bước đi vào chiều sâu…[6, tr.3]
Trong giai đoạn 2001 – 2005, Đảng bộ huyện Chợ Đồn luôn xác định xóa đói, giảm nghèo là một trong những công tác cơ bản Trong quá trình thực hiện Đảng bộ cũng như các phòng, ban đã không ngừng tổng kết thực tiễn, tích lũy kinh nghiệm, từng bước nâng cao nhận thức về vấn đề xóa đói giảm nghèo
1.3.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện về thực hiện xóa đói, giảm nghèo
Chợ Đồn vốn là một huyện nghèo nên xóa đói, giảm nghèo luôn là mục tiêu quan trọng trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện
Và trong tất cả các chương trình nhằm phát triển kinh tế - xã hội đó, xóa đói giảm nghèo được chỉ đạo xuyên suốt và tập trung vào các vấn đề sau:
Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Chợ Đồn khóa XVII ngày 16-7-2001 ra Nghị quyết “Về phát triển nông nghiệp và xây dựng
kết cấu hạ tầng thiết yếu kinh tế - xã hội nông thôn giai đoạn 2001 – 2005”
nhấn mạnh: “Tổ chức huy động mọi nguồn lực cho xóa đói, giảm nghèo, tập
trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (xây dựng cơ bản) ở các xã đặc biệt khó khăn.” [5, tr.2]
Trên cơ sở nhận định tình hình, Hội nghị Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XVII đề ra mục tiêu tổng quát về phát triển kinh tế
là chuyển dịch cơ cấu theo hướng lâm – nông nghiệp, tạo cơ sở cho sản xuất hàng hóa góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội huyện trong giai đoạn 2001 – 2005 Để thực hiện mục tiêu tổng quát trên, Hội nghị đề ra các nhiệm vụ cụ thể:
Trang 21Bố trí sử dụng đất đai, bố trí cây trồng hợp lý trên cơ sở xác định rõ tiềm năng của địa phương, chuyển đổi cơ chế từ độc canh, tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa phù hợp với cơ chế thị trường
Tăng nhanh sản lượng lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu tại chỗ,
có dự trữ và từng bước trở thành sản phẩm hàng hóa Xây dựng các mô hình kinh tế, xây dựng các chương trình mũi nhọn về phát triển cây trồng, vật nuôi Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển cây ngô, đậu tương, cây thuốc lá trên diện tích vụ xuân trồng lúa năng suất thấp
Trên đất lâm nghiệp, tập trung phát triển về số lượng và chất lượng cây chè tuyết Bằng Phúc, một số cây ăn quả như cam, quýt, mận đường, xoài, hồng không hạt dọc theo trục đường tỉnh lộ 254, 255, 257 Trồng và khai thác cây đặc sản như quế, hồi
Hoàn thành giao đất, giao rừng trong năm 2001, giao khoán khoanh nuôi, bảo vệ cho tất cả diện tích rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ và rừng gỗ quý, trồng, khai thác nguyên liệu giấy, mở rộng việc sản xuất và chế biến lâm sản tại huyện như sản xuất đũa, đồ mộc…[3, tr.181]
Quán triệt nghị quyết của Đảng, của Tỉnh ủy và Huyện ủy, nhận thức rõ những thuận lợi và khó khăn của huyện, Ban thường vụ Huyện ủy huyện Chợ Đồn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời đề ra chủ trương và các biện pháp khả thi nhằm phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, củng cố an ninh – quốc phòng trên địa bàn huyện Để kinh tế phát triển nhanh và bền vững, nâng cao mức sống của nhân dân, Đảng bộ chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp nông thôn một cách toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Giai đoạn 2001 - 2005, Chợ Đồn có tới 21/22 xã đặc biệt khó khăn, cơ
sở hạ tầng còn thiếu và yếu cả về điện, đường, trường, trạm
Trang 22Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVII đã chỉ rõ: Thu hút mọi nguồn vốn đầu tư cho phát triển Chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nhất là giao thông, thủy lợi, điện, nuớc sinh hoạt
Thực hiện sự chỉ đạo của huyện ủy, các ngành, các cấp ở huyện đã huy động tập trung mọi nguồn lực cho việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo Công tác xây dựng cơ bản tiếp tục được đẩy mạnh trong giai đoạn 2001 –
2005 Bằng các nguồn vốn chương trình 135, 186 và các nguồn vốn đầu tư khác, huyện đã tập trung đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp các công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu như giao thông, thủy lợi, trường học, nước sạch, trạm y
tế, chợ, điện nông thôn, kiên cố hóa kênh mương…
Trong 5 năm (2001 - 2005), huyện đã huy động được trên 300 tỷ đồng để đầu tư hỗ trợ giúp đỡ các hộ nghèo, xã nghèo có vốn để phát triển sản xuất, tạo việc làm, từng bước giải quyết khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần trên tất cả các lĩnh vực Đến cuối năm 2004 tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện đã giảm từ 34,47% đầu năm 2001 xuống còn 16,13% Bộ mặt các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu vùng xa đã có nhiều thay đổi, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt, góp phần thực hiện phát triển kinh tế - xã hội ổn định
và bền vững
Huyện ủy có chỉ đạo: tổ chức triển khai thực hiện các chương trình,
chính sách và dự án xóa đói, giảm nghèo Vấn đề này được huyện ủy chỉ đạo
cụ thể trong Nghị quyết “Về việc triển khai các chương trình, chính sách, dự
án xóa đói giảm nghèo” tại hội nghị lần thứ tư khóa XVII của Đảng bộ huyện
Các chương trình 135; chính sách 134; dự án tín dụng cho hộ nghèo vay vốn để sản xuất kinh doanh được thực hiện đúng theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương Phòng Dân tộc là cơ quan thường trực chương trình đã hướng dẫn các đơn vị thực hiện chương trình 135 tại các xã đặc biệt khó khăn
Trang 23Chương trình đã thay đổi cuộc sống của người dân về cơ sở hạ tầng và được
hỗ trợ sản xuất nên nhiều hộ thoát nghèo
Đặc biệt, Đảng bộ huyện đã chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện các
chính sách hỗ trợ trong Chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo
Chương trình được lên kế hoạch hàng năm và cả giai đoạn do phòng lao động – thương binh xã hội huyện đề ra và được Ủy ban, Ban chấp hành Đảng bộ huyện phê duyệt trước khi đi vào thực hiện
Đảng bộ huyện đã triển khai chỉ đạo thực hiện các chính sách hỗ trợ trên nhiều phương diện như: hỗ trợ về y tế, về giáo dục, nhà ở, an sinh xã hội qua
đó giải quyết được những vấn đề thiết yếu, giúp người nghèo ổn định cuộc sống, có điều kiện vươn lên thoát nghèo
Ngày 20-2-2001, tại hội nghị lần ba khóa XVII, Đảng bộ huyện ra nghị
quyết “Về chương trình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn
2001-2005” nhằm: tạo việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp cho người lao động, nâng cao chất lượng lao động; đào tạo cán bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo và tăng cường cán bộ cho xã đặc biệt khó khăn
Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện nhận thức rõ để công tác xóa đói, giảm nghèo được triển khai toàn diện và đạt hiệu quả cao nhất, một trong những nhiệm vụ quan trọng là cần tạo ra được công ăn việc làm cho người nghèo
Mặt khác, huyện cũng rất chú trọng công tác đào tạo cán bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo Công tác tập huấn nâng cao năng lực cán bộ làm công tác giảm nghèo đã có nhiều cán bộ cấp xã, cấp thôn bản được tập huấn một số kiến thức cơ bản về công tác giảm nghèo như kỹ năng lập kế hoạch giảm nghèo, theo dõi quản lý và đánh giá các chương trình giảm nghèo, quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm, kỹ năng đối thoại với người nghèo và các văn bản, chính sách về công tác giảm nghèo
Trang 24Trong tất cả các nghị quyết và chỉ thị nhằm phát triển kinh tế - xã hội
giai đoạn 2001-2005, huyện ủy Chợ Đồn luôn nhấn mạnh: phải phát huy vai
trò của các đoàn thể nhân dân trong công tác xóa đói, giảm nghèo
Trong các hội phụ nữ, nông dân, đoàn thanh niên luôn đề ra mục tiêu
hỗ trợ nhau cùng phát triển kinh tế, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống Huyện ủy và các cơ quan hữu quan huyện Chợ Đồn rất chú trọng việc phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể quần chúng nhân dân trong công tác xóa đói, giảm nghèo
Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ huyện đến xã,
sự phối hợp của Mặt trận Tổ Quốc, các đoàn thể chương trình xóa đói, giảm nghèo đã đi vào cuộc sống và được triển khai một cách sâu rộng Cán bộ, đảng viên cùng nhân dân đã sớm nâng cao nhận thức về chương trình xóa đói, giảm nghèo và coi đó như là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của tỉnh trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Vì thế, công cuộc xóa đói giảm nghèo của huyện đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ về nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ Cơ sở hạ tầng cũng từng bước được xây dựng và phát triển kiên cố hơn
1.3.3 Kết quả lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ huyện Chợ Đồn
Chợ Đồn là huyện có nguồn lực lao động dồi dào và tiềm năng phát triển kinh tế, song đến năm 2001 Chợ Đồn vẫn là huyện có tỷ lệ hộ đói nghèo thuộc dạng cao của tỉnh (34,47% theo tiêu chí cũ) Điều đó có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do sự yếu kém về cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội chậm phát triển; vấn đề xây dựng điện – đường – trường – trạm ở huyện từ lâu đã trở thành vấn đề bức xúc; một bộ phân cư dân vùng cao còn duy trì lối sống du canh du cư, thiếu ổn định sản xuất; sản xuất nông – lâm nghiệp thì
Trang 25chậm chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, giống cây trồng vật nuôi, kĩ thuật canh tác lạc hậu… Từ thực tế đó, Đảng bộ và chính quyền các cấp huyện Chợ Đồn đã quyết tâm thực hiện công cuộc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc
* Về phát triển kinh tế xã hội
Trong 5 năm 2001 đến 2005 dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp Đảng ủy, kinh tế nông nghiệp nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực, bước đầu có sự chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng theo hưởng sản xuất hàng hóa, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân trong huyện
Ngành trồng trọt bước đầu có kết quả khả quan: Đảng bộ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động tuyên truyền, tập huấn đưa tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất; thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách khuyến khích đồng bào phát triển nông nghiệp: trợ giá, trợ cước các giống lai, cho nông dân tạm ứng phân bón… Vì vậy tỷ lệ sử dụng giống lúa, ngô lai cho năng suất cao tăng lên rõ rệt Các mô hình, dự án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng tiến
bộ khoa học vào sản xuất như mô hình cánh đồng 30 triệu đồng/ha bước đầu
có hiệu quả Đẩy mạnh vận động thực hiện tăng vụ nên hệ số sử dụng đất tăng
từ 1,64 lần năm 2000 lên 1,84 lần năm 2005; năng suất tăng từ 38 tạ/ha năm
2000 lên 40,9 tạ/ha năm 2004 Tổng sản lượng lương thực/ năm tăng từ 16,631 tấn năm 2000 lên 20,330 tấn năm 2004, đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ khóa XVII đề ra
Ngành chăn nuôi thường xuyên được Đảng bộ huyện quan tâm bằng những mô hình cụ thể: chăn nuôi bò sữa thử nghiệm, nuôi bò thịt bán thâm canh… So với đầu giai đoạn, đàn gia súc, gia cầm cơ bản ổn định, đáp ứng nhu cầu sức kéo và thực phẩm tiêu dùng của nhân dân
Trang 26Ngành lâm nghiệp, đặc biệt là khai thác, quản lý, bảo vê rừng được thực hiện tương đối tốt Đến năm 2005, toàn huyện đã triển khai khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng được 18.236ha, đạt 124,2% kế hoạch; trồng rừng được 1,584ha, đạt 63,36% kế hoạch; trồng chừ tuyết ở Bằng Phúc được 335,93ha; trồng cây ăn quả được 305,83ha và một số loại cây trồng phân tán khác… Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện từng bước phát triển về quy mô số lượng và chất lượng, chủ yếu là khai thác chế biến khoáng sản, khai thác vật liệu xây dựng, chế biến lâm sản Nhiều cơ sở công nghiệp đã được đầu tư xây dựng như: Xí nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản Bằng Lãng, công ty trách nhiệm hữu hạn Việt – Trung, các cơ sở chế biến đũa, sản xuất chiếu tre, cơ sở sản xuất giấy tại xã Bình Trung… Cùng với các
cơ sở công nghiệp của Trung ương đóng trên địa bàn đã góp phần giải quyết việc làm cho lao động địa phương và tăng thu ngân sách cho huyện
Mạng lưới thương mại, dịch vụ khá phát triển với nhiều thành phần kinh
tế tham gia Thương nghiệp quốc doanh đã hoàn thành việc cổ phần hóa Thị trường giá cả ổn định và phát triển đúng hướng, các loại hàng hóa cơ bản đáp ứng nhu cầu của người dân…[3, tr.184-187]
Với việc đẩy mạnh chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại bước đầu đã khá phát triển, nâng cao rõ rệt mức sống của đồng bào dân tộc
* Về cơ sở hạ tầng, công tác định canh định cư:
Năm 2001 xây dựng 36 công trình, tổng kinh phí là 10.332 triệu đồng; Năm 2002 xây dựng được 49 công trình, kinh phí 10.657 triệu đồng; Năm
2003 vốn giao xây dựng cơ bản để thanh toán cho các công trình còn tồn đọng các năm trước là 33.274,8 triệu đồng (không có công trình mới); Năm 2004 xây mới 19 công trình, kinh phí 26,399 triệu đồng; Năm 2005 xây dựng và
Trang 27hoàn thành 202 công trình, kinh phí thực hiện 65.935 triệu đồng Cụ thể như sau:
Hệ thống đường giao thông, nhất là giao thông nông thôn phát triển khá nhanh Với sự giúp đỡ đầu tư của Trung ương, của tỉnh, từ năm 2001 đến năm
2005 có 49 công trình giao thông được xây dựng, mở mới 33 tuyến đường với tổng chiều dài trên 90km; xây dựng thêm 11 cầu treo; hệ thống cầu thường xuyên được kiểm tra bảo dưỡng đảm bảo giao thông thông suốt Một số tuyến đường được nâng cấp rải nhựa hoặc rải cấp phối như: đường Bình Trung - Đông Viên, đường phong Huân – Yên Nhuận, đường Phương Viên – Bằng Phúc, đường 254B Ngọc Phái – Yên Thượng… Huyện thường xuyên quan tâm chỉ đạo toàn dân làm giao thông nông thôn, sử dụng có hiệu quả lao động công ích, lao động xã hội; sửa chữa mở mới 144 tuyến đường liên thôn với tổng chiều dài 333,6km, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội của huyện Với thành tích đó, 2 năm liền huyện được Bộ giao thông vận tải tặng
cờ thi đua về phong trào làm giao thông nông thôn
Hệ thống thủy lợi được chú trọng đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, đã xây dựng được 44 công trình, phục vụ tưới tiêu và chống xói lở cho hàng trăm ha ruộng Đi đôi với công tác thủy lợi, Đảng bộ huyện còn chỉ đạo xây dựng mới
41 công trình nước sinh hoạt, trong đó có nhiều công trình nước sạch phục vụ cho đồng bào định canh định cư như ở xã Nam Cường, Bình Trung, Xuân Lạc… Đến năm 2005, có 35% số hộ ở nông thôn và 85% số hộ thị trấn được
sử dụng nước sạch cho sinh hoạt
Trong xây dựng cơ bản việc xây dựng cơ sở vật chất được quan tâm hàng đầu Hệ thống trường lớp ở các xã, thị trấn được đầu tư xây dựng, trong
5 năm đã xây dựng mới được 15 nhà hiệu bộ, 7 nhà công vụ, 1 nhà thư viện, 2 nhà thí nghiệm và 350 phòng học, nâng tổng số phòng học từ cấp bốn trở lên đạt 87,6% Năm 2005, huyện tiếp tục phối hợp với sở giáo dục đào tạo, các
Trang 28ngành chức năng tiến hành khảo sát xây dựng trường Trung học phổ thông tại địa điểm mới nhằm đáp ứng quy mô đào tạo lâu dài của địa phương
Công tác xây dựng và phát triển mạng điện lưới quốc gia đạt mục tiêu đề
ra Đến năm 2005, 100% số xã, thị trấn có điện lưới quốc gia với khoảng 75%
số hộ được sử dụng Chuẩn bị đầu tư xây dựng đường điện 110KV và 35KV phục vụ sinh hoạt và sản xuất công nghiệp cho khu công nghiệp nam Bằng Lũng, Bản Thi…
Ngoài ra, Đảng bộ còn quan tâm xây dựng các cơ sở y tế Từ năm 2001 đến năm 2005, bằng các nguồn vốn 135 đã xây dựng được 9 nhà điều trị của trạm y tế các xã Bằng Phúc, Đại Sảo, Yên Nhuận, Bản Thi, Tân Lập, Quảng Bạch, Yên Thượng, Đông Viên, Yên Mỹ Tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ dự án nâng cấp trung tâm y tế huyện
Trong nhiệm kỳ 2001 – 2005 huyện còn đầu tư và triển khai một số công trình xây dựng khác: xây dựng 4 trung tâm cụm xã, 7 chợ, trụ sở huyện ủy, bến xe, các công trình phục vụ sự nghiệp văn hóa…[3, tr.186-188]
Là một huyện miền núi nên công tác định canh định cư luôn luôn được Đảng bộ huyện coi trọng chỉ đạo và thực hiện đúng chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Các dự án đầu tư cho vùng định canh định cư được triển khai kịp thời và đem lại hiệu quả, giải quyết được một phần khó khăn về đời sống cho đồng bào dân tộc, góp phần xóa đói giảm nghèo đáng kể Đặc biệt giai đoạn này đã xây dựng và tổ chức thực hiện cơ bản hoàn thành dự án khu tái định cư đồng bào dân tộc Mông ở thôn Lũng Noong ( xã Nam Cường) và thôn Khuổi Đẩy (xã Bình Trung)
* Về các chính sách hỗ trợ trong Chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo
Thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo giai đoạn này theo tinh
thần Quyết định 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ Phê duyệt
Trang 29chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2001 – 2005 còn có các chính sách như: hỗ trợ đồng bào đặc biệt
khó khăn; hỗ trợ pháp lý cho người nghèo; chính sách an sinh xã hội, trợ giúp đối tượng yếu thế ( cô đơn, tàn tật, thiên tai rủi ro…) và các chính sách về giáo dục, y tế Đồng thời tiến hành triển khai hàng chục dự án hỗ trợ trực tiếp
chương trình xóa đói, giảm nghèo như: dự án tín dụng cho hộ nghèo vay vốn
để phát triển sản xuất; dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn khuyến nông khuyến lâm; dự án xây dựng mô hình xóa đói giảm nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn; dự án xây dựng cơ sở hạ tầng xã nghèo và dự án định canh định cư …[14, tr.1-10]
Chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo: năm 2001 và 2002 cấp
1200 thẻ khám chữa bệnh miễn phí với hơn 14.000 lượt người nghèo theo nghị định 95; Năm 2003, 2004 và 2005 theo nghị định 139 cấp hơn 17.500 thẻ khám chữa bệnh và miễn một phần viện phí cho người nghèo
Chính sách hỗ trợ cho người nghèo về giáo dục: đối với các xã đặc biệt khó khăn, học sinh đi học không phải đóng học phí, được cấp sách giáo khoa
và vở viết, cùng các dụng cụ học tập Năm 2002, cấp cho 11.604 học sinh với kinh phí là 733,316 triệu đồng; Năm 2003, cấp 102.282 quyển vở viết, 67.596
bộ sách giáo khoa với tổng kinh phí 496.182 triệu đồng; chấm dứt việc học sinh nghèo bỏ học trên địa bàn huyện Năm 2004 miễn học phí và các khoản đóng góp cho 10.080 học sinh với số tiền là 432.321 triệu đồng; năm 2005, cấp 1.200 quyển vở cho 120 học sinh nghèo
Chính sách trợ giúp hộ nghèo về nhà ở: năm 2003 từ quỹ vận động “vì
người nghèo” hỗ trợ làm nhà cho 14 hộ, tỉnh Bắc Kạn hỗ trợ 04 hộ Năm
2004, công ty 507 Bộ giao thông vận tải tài trợ làm nhà cho 100 hộ, tổ chức UNILEVER tài trợ làm nhà cho 10 hộ, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyện hỗ trợ với quỹ “vì người nghèo” tài trợ xây dựng được 05 nhà Năm
Trang 302005 hỗ trợ làm được 561 nhà (tong đó nguồn kinh phí chương trình 134 là
460 hộ, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh là 101 hộ)
Cho vay tín dụng hộ nghèo: Năm 2001 và 2002 cho vay tín dụng ưu đãi 15.474 triệu đồng Năm 2003 đến 2005 cho vay 15.774 triệu đồng/ 3.545 lượt
hộ Ngoài ra các dự án của tổ chức quốc tế như Dự án Lâm nghiệp Việt Nam – Phần Lan với số vốn quay vòng cho hộ nghèo vay trên 4 tỷ đồng Dự án xóa đói, giảm nghèo do chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ cho vay vòng I
từ 1997 – 2001 tại 4 xã, thị trấn là 911,2 triệu đồng/488 hộ; Cho vay vòng II tại trị trấn Bằng Lũng là 353,5 triệu đồng/88 lượt hộ… đã góp phần cho hộ nghèo trong huyện có vốn để phát triển sản xuất
Lĩnh vực việc làm: Trong 5 năm (2001 – 2005) có 112 dự án giải quyết việc làm với tổng kinh phí là 4 tỷ đồng thu hút 1.025 lao động Năm 2003 và
2004 tổ chức tập huấn về giải quyết việc làm cho 115 người Các doanh nghiệp đóng trên địa bàn sửu dụng tại chỗ theo hợp đồng thời vụ như khai thác đá, cát, sỏi, quặng sắt, chì, kẽm luôn tuân thủ pháp luật Đặc biệt doanh nghiệp khai thác khoáng sản quặng, chì, kẽm tuyển dụng lao động làm việc lâu dài đã giúp cho lao động địa phương có khoản thu nhập ổn định
Để đỡ một phần khó khăn cho người nghèo, trong hai năm 2003 và 2005 huyện đã tổ chức đoàn đại biểu đi thăm hỏi và tặng quà tết các đối tượng thuộc diện chính sách, trong đó chiếm tỷ lệ lớn là các hộ nghèo với tổng số tiền thực hiện gần 90 triệu đồng Từ năm 2001 đến năm 2005, huyện trợ cấp cứu đói vào dịp tết, giáp hạt cho các hộ nghèo đói trên 750 triệu đồng…[3, tr.224]
* Về công tác đào tạo cán bộ:
Cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số ở địa phương là lực
lượng khó có thể thay thế được Để tổ chức thực hiện có hiệu quả bền vững các chương trình phát triển kinh tế- xã hội, xóa đói giảm nghèo ở cơ sở thì tất
Trang 31yếu phải nâng cao trình độ và tạo nguồn cán bộ cho cấp xã Do đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã có vị trí, vai trò rất quan trọng Trong những năm qua, với sự quan tâm đầu tư của Trung ương, tỉnh, sự chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành cùng với sự nỗ lực cố gắng của các cơ sở đào tạo, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã đã thu được kết quả to lớn Trong 5 năm (2001-2005) đào tạo, bồi dưỡng được 591 cán bộ cơ
sở Cơ cấu đào tạo đã đa dạng hóa, việc đào tạo văn hóa, chuyên môn nghiệp
vụ, tin học cho cán bộ cơ sở được chú trọng Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức được nâng lên Năng lực của các cơ sở đào tạo cũng được nâng lên Trong những năm qua các cơ sở đào tạo đã có bước phát triển mạnh về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học Chất lượng đội ngũ giảng viên được nâng cao, chuyên sâu từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Tổ chức bộ máy được củng cố, kiện toàn Chương trình, nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng ngày càng phong phú, đa dạng mang tính toàn diện, tạo ra nhiều cơ hội học tập cho cán bộ cơ sở Ngoài các cơ sở đào tạo, một số sở, ban, ngành cũng tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ công tác cho cán bộ công chức cấp xã
Công tác quản lý và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã từng bước được đổi mới Nhận thức về vị trí, vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở các cấp, các ngành được nâng cao Cán bộ, công chức cấp xã có ý thức, trách nhiệm, chủ động trong việc đi đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng được tăng cường nhiều so với trước đây Năm 2001, 2002, 2003 ngân sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã bình quân là 1.026.000.000đ/năm Trong 5 năm (2001-2005) huyện đã tổ chức được 59 lớp đào tạo, tập huấn năng lực cho cán bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo.[3, tr.223]
Trang 32Trong giai đoạn 2001 – 2005, ủy ban nhân dân huyện đã tiến hành kiện toàn Ban chỉ đạo xóa đói, giảm nghèo cấp huyện và phân công các thành viên phụ trách các xã, thị trấn; ban hành quy chế tạm thời và tuyển dụng hợp đồng cán bộ tăng cường làm công tác xóa đói, giảm nghèo thường xuyên hoạt động
ở cả 22 xã, thị trấn Các xã, thị trấn cũng tiến hành kiện toàn lại Ban chỉ đạo xóa đói, giảm nghèo của xã, phân công cán bộ phụ trách các thôn tổ để cùng nắm bắt, tháo gỡ, phối hợp với các cấp có thẩm quyền giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện xóa đói, giảm nghèo
* Sự tham gia của các tổ chức quần chúng:
Các tổ chức quần chúng đã tích cực tham gia và đóng góp vai trò quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo và việc làm
Riêng hội Liên hiệp phụ nữ huyện năm 2001 đã tổ chức cho 255 hội viên nghèo vay 1,8 tỷ đồng từ Ngân hàng Người nghèo, đến năm 2005 hội đầu tư cho 321 hội viên vay trên 7 tỷ đồng để phát triển kinh tế hộ gia đình nhờ đó nhiều chị em từng bước xóa được đói, giảm được nghèo.[43,tr.5] Hội nông dân chú trọng công tác tổ chức hội, chăm lo tới việc xóa đói giảm nghèo, phấn đấu vươn lên làm giàu bằng tiềm năng phong phú của địa phương, nhất là từ đất rừng Năm 2002, Hội đã phối hợp với phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn cho gần 500 hộ vay được 1,5 tỷ đồng Ngân hàng chính sách xã hội tuy mới thành lập cũng đã tổ chức giải ngân các nguồn vốn vay ưu đãi cho các hộ nghèo vay phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, năm 2003 cho vay 5,5 tỷ đồng, 2005 đạt 11,6 tỷ đồng…
Trong năm 2004, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh huyện có nhiều hoạt động tích cực và hiệu quả vào mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương; tập trung tham gia công cuộc xóa đói giảm nghèo Thực hiện tốt các phong trào: Thi đua học tập, đi đầu xây dựng xã hội, học tập và tiến
Trang 33quân vào khoa học công nghệ; Thi đua lập nghiêp, lao động sáng tạo; Tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng…[3, tr.208]
Năm 2004, Liên đoàn Lao động cũng đã tín chấp cho 22 hộ gia đình vay
110 triệu đồng, tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo Hội cựu Chiến binh thường xuyên tổ chức cho cán bộ hội viên học tập các nghị quyết của Đảng; thường xuyên phối hợp với các đoàn thể nhân dân, tích cực vận động hội viên tham gia dự án vay vốn tạo việc làm cho người lao động, tham gia các lớp tập huấn nâng cao kiến thức khoa hoc kỹ thuật, tích cực tham gia xóa đói, giảm nghèo…[41, tr.7]
Phong trào xóa đói, giảm nghèo, lao động việc làm được đẩy mạnh trực tiếp bằng các dự án, chính sách, nguồn vốn cho vay phát triển sản xuất, tổ chức các lớp tập huấn tạo việc làm thu hút hàng nghìn lao động, đã giảm tỷ lệ
hộ nghèo từ 34,47% (năm 2001) xuống còn 16,13% (năm 2004), bình quân giảm 4,6%/năm theo tiêu chí cũ Năm 2005 còn 47,69% hộ nghèo theo tiêu chí mới Với số hộ nghèo giảm cụ thể theo các năm như sau:
Năm 2001, tổng số là 3.351/9.721 hộ, chiếm 34,47%
Năm 2002, số hộ nghèo là 2.981/9.797 hộ, chiếm 30,43%
Năm 2003, số hộ nghèo là 2.514/10.131 hộ, chiếm 24,81%
Năm 2004, số hộ nghèo là 1.679/10.406 hộ, chiếm 16,13%
Năm 2005 ( áp dụng theo tiêu chí mới), số hộ nghèo là 5.103/10.701 hộ, chiếm 47,69% [69, tr.2]
Trong 5 năm (2001 – 2005), thực hiện sự nghiệp đổi mới của Đảng vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, dưới
sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy Bắc Kạn, Huyện ủy Chợ Đồn, nhân dân các dân tộc huyện Chợ Đồn đã đoàn kết, phát huy truyền thống cách mạng đã cố gắng khắc phục và vượt qua nhiều khó khăn thử thách, giành được nhiều kết
Trang 34quả quan trọng, phấn đấu thực hiện hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu Nghị quyết Đảng bộ huyện lần thứ XVII đề ra Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong giai đoạn này vẫn còn rất nhiều tiêu chí thực hiện chưa đạt kết quả cao: kinh tế tuy có bước phát triển nhưng tốc độ tăng trưởng còn thấp và chưa vững chắc, sản xuất hàng hóa phát triển còn chậm chưa có biện pháp thúc đẩy chăn nuôi đại gia súc, gia cầm; bình quân thu nhập người dân còn quá thấp, ước đạt 200USD; trong xây dựng kết cấu hạ tầng cơ bản chất lượng một số công trình chưa cao, công tác giải phóng mặt bằng chưa kịp thời Việc nhân rộng các mô hình sản xuất, kinh doanh có hiệu quả còn rất hạn chế, kết quả xóa đói giảm nghèo chưa vững chắc, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn rất cao 47,69% (năm 2005 theo tiêu chí mới), tình trạng tái đói và nghèo xảy ra khá phổ biến
Một điển hình trong phong trào xây dựng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo của huyện:
Phong trào xây dựng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống ở huyện Chợ Đồn có nhiều bước tiến đáng kể một phần là nhờ sự đóng góp của những đơn vị, cá nhân tiêu biểu Những xã có nhiều hộ nghèo giảm nhanh từ 2001 đến 2005 gồm: Rã Bản, Phương Viên, Ngọc Phái, Nam Cường trong đó nổi bật nhất là Ngọc Phái Cũng như nhiều địa phương khác của huyện Chợ Đồn, kinh tế và mức sống người dân ở xã Ngọc Phái vẫn còn nhiều khó khăn Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, sự trợ giúp của các dự án trong chương trình Mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo, nhiều
hộ dân trong xã đã vay vốn, xây dựng được mô hình kinh tế gia đình phù hợp
để nâng cao thu nhập và vươn lên thoát nghèo
Hội phụ nữ xã hưởng ứng nhiệt tình “Chương trình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế gia đình” của Hội phụ nữ huyện Từ thực trạng tỷ lệ đói nghèo trong xã còn cao, trong đó có nhiều gia đình hội viên phụ nữ nghèo Từ thực
Trang 35tế đó, Hội phụ nữ xã Ngọc Phái đẩy mạnh phong trào phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, phát động phong trào phụ nữ làm kinh tế giỏi, vận động chị em thự hiện xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng Xác định nguyên nhân chính dẫn tới đói nghèo là thiếu vốn và thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật Chị Triệu Thị Xuyến, chủ tịch Hội phụ nữ xã đã vận động hết tất cả các chị em hội viên tham gia các lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật do huyện tổ chức để trang bị những kiến thức cần thiết về phát triển nông, lâm nghiệp Sau đó, Hội đứng ra tín chấp cho các chị em có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất từ ngân hàng Chính sách xã hội Nguồn vốn đều được quản lý và cho vay đúng đối tượng, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả Và thành quả đạt
được là “mô hình chăn nuôi bò bán thâm canh” của chị em phụ nữ xã đã được
biểu dương trong toàn huyện Nhiều gương điển hình về phát triển kinh tế cho thu nhập hàng năm từ 30 đến 40 triệu đồng như chị Đặng Thị Yêu, Triệu Thị Bình…Từ 2001 đến 2005 với hình thức cho 39 hộ vay vốn để nuôi bò, đã có
12 hộ thoát nghèo
Hội cựu chiến binh xã cũng hào hứng tham gia “phong trào thi đua khơi dậy tình cảm đồng chí đồng đội giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống về tinh thần vật chất, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của cựu chiến binh” Thực hiện mục tiêu lớn của Đảng, nhà nước
“tất cả vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Hội chủ động xây dựng, củng cố các mô hình kinh tế điển hình, hướng dẫn hội viên chuyển dịch cơ cấu hợp lý, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi
có năng suất cao Các hội viên còn mạnh dạn đăng ký “ô mẫu” “cánh đồng 50 triệu đồng/ha”, phát triển kinh tế trang trại vừa và nhỏ, phù hợp với điều kiện của từng hộ gia đình Nổi bật là hợp tác xã Tiến Thắng sản xuất đồ mộc cao cấp của Hoàng Thị Tâm, từ một hộ cận nghèo, đời sống khó khăn, gia đình chị đã vươn lên thoát nghèo bền vững và bước đầu làm giàu chính đáng Mỗi
Trang 36năm xưởng sản xuất đồ mộc cho thu nhập từ 150 đến 200 triệu đồng Mô hình này đã đem lại lợi nhuận cao, được biểu dương trong toàn huyện Chủ tịch hội cựu chiến binh xã cho biết: “điều đáng mừng là hội viên đã không cam chịu đói nghèo, mạnh dạn đầu tư, khai thác mọi thế mạnh của từng người, từng điều kiện, để bứt phá làm giàu”…
Trưởng ban Mặt trận tổ quốc xã Ngọc Phái đã phát biểu rằng: trong nhiệm kỳ qua, Mặt trận tổ quốc đã phối hợp với các đoàn thể tham gia chỉ đạo sản xuất nông, lâm nghiệp, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế Các chỉ tiêu kinh tế mỗi năm một tăng, sản lượng lương thực cây có hạt năm sau cao hơn năm trước, bình quân lương thực trên đầu người đã đạt 400 kg/người/ năm, an ninh lương thực trên địa bản khá đảm bảo, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao
Như vậy, dưới sự lãnh đạo tích cực, đúng đắn của Đảng bộ xã, xã Ngọc Phái ngày càng đoàn kết xây dựng, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho chính mình Năm 2001, toàn xã có 409
hộ, trong đó hộ nghèo chiếm 44,8%; thì đến 2005,xã có 496 hộ, hộ nghèo giảm xuống còn 36,08% Tuy rằng xã vẫn nằm trong diện 135 (đơn vị hành chính thuộc diện khó khăn do chính phủ quy định) nhưng trong giai đoạn này
xã đã có những bước tiến về phát triển kinh tế cao hơn các xã khác trong địa bàn huyện
Trang 37còn phù hợp với xu hướng chung của thời đại, phù hợp với các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ mà Liên Hợp Quốc đề ra
Bước vào thực hiện nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ VIII và Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII, Chợ Đồn có khá nhiều thuận lợi cơ bản, đó là: những thành tựu đạt được sau 15 năm đổi mới của đất nước, của tỉnh và của huyện, nhất là sau 5 năm ( 1996 – 2000) thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vượt lên khó khăn thử thách của thiên tai và những biến động của kinh tế thế giới, của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của ở một số nước Đông Nam Á và Châu Á Đảng bộ và nhân dân huyện Chợ Đồn nỗ lực phấn đấu giành được nhiều thắng lợi quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị , văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo, an ninh quốc phòng, tạo ra một diện mạo mới trên địa bàn huyện làm tiền đề để Đảng bộ và nhân dân vững bước trên con đường tiến vào thế kỉ XXI
Bên cạnh những thuận lợi đó, Chợ Đồn vẫn là một huyện nghèo; tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh nhưng chưa ổn định, bền vững, chất lượng và hiệu quả kinh tế chưa cao; tiềm năng đất đai, lao động chưa được khai thác triệt để, sự phát triển giữa các lính vực, các ngành nghề, các thành phần kinh
tế chưa đồng đều; trình độ lãnh đạo của các cấp bộ Đảng, chính quyền, của các cán bộ, Đảng viên chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ của địa phương
Riêng về công tác xóa đói giảm nghèo, nhờ thực hiện các chủ trương, nghị quyết phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe, nâng cao trình độ dân trí, lồng ghép với mục tiêu của chương trình 135 và sự hỗ trợ của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể trong huyện, xã, thôn bản; đồng bào các dân tộc thiểu số được trợ cấp giúp đỡ trong sản xuất và đời sống như đầu tư giúp đỡ các dụng cụ sản xuất, lương thực, nhà ở, tấm lớp, giống cây con, phân
Trang 38bón, sự trợ giá, trợ cước các mặt hàng chủ yếu như lương thực, phân bón, dầu hỏa… và sự cố gắng nỗ lực trồng trọt, chăn nuôi, làm vườn, các đồng bào dân tộc thiểu số đã dần dần vươn lên trong cuộc sống, chấm dứt tình trạng chạy ăn từng bữa như trước đây Chất lượng cuộc sống được nâng lên rõ rệt Hệ thống thiết chế thông tin đang từng bước được đầu tư, tỉ lệ học sinh khá giỏi trong dân tộc thiểu số ngày càng tăng, bình quân lương thực đầu người đạt 350kg/người Hiện nay tỉ lệ người đói trong dân tộc thiểu số hầu như không còn, tỉ lệ hộ nghèo cũng giảm đáng kể Đây là tiền đề thuận lợi để huyện Chợ Đồn vững bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn lịch sử tiếp theo
Trang 39Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN 2013
2.1 Đảng bộ huyện Chợ Đồn lãnh đạo xóa đói giảm nghèo từ năm 2006 đến 2010
2.1.1 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn về xóa đói, giảm nghèo
Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ:
"Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế
quốc tế, phải luôn coi trọng yêu cầu nâng cao các phúc lợi xã hội cơ bản của nhân dân, đặc biệt là đối với người nghèo, vùng nghèo, các đối tượng chính sách Nhà nước tăng đầu tư từ ngân sách tiếp tục phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật để nâng cao phúc lợi chung cho toàn xã hội và bảo đảm cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản, trước hết là về y tế, giáo dục cho người nghèo, vùng nghèo, các đối tượng chính sách và dịch vụ công cộng liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân và là yếu tố quan trọng góp phần ổn định xã hội”.[30, tr.10]
Đại hội đã thông qua phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 và khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xóa đói, giảm nghèo của đất nước Trong đó, nhấn mạnh:
“ Xóa đói, giảm nghèo là một nội dung quan trọng của phát triển bền
vững
Đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức thực hiện xóa đói, giảm nghèo theo hướng phát huy cao độ nội lực và kết hợp sử dụng có hiệu quả sự trợ giúp của quốc tế Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức sống
Trang 40một cách bền vững; kết hợp chính sách của Nhà nước với sự giúp đỡ trực tiếp
và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá giả cho người nghèo, hộ nghèo, nhất là đối với những vùng đặc biệt khó khăn Ngăn chặn tình trạng tái nghèo
Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đặc biệt về trợ giúp đầu tư phát triển sản xuất, nhất là đất sản xuất; trợ giúp đất ở, nhà ở, nước sạch, đào tạo nghề và tạo việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo Có chính sách khuyến khích mạnh các doanh nghiệp, trước hết là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ giàu đầu tư vốn phát triển sản xuất ở nông thôn, nhất là nông thôn vùng núi Phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tham gia xóa đói, giảm nghèo” [34, tr.156]
Những năm tiếp theo, quan tâm đến chính sách cho các dân tộc thiểu số,
Chính phủ ra các quyết định số 32/2007/QĐ-TTg “Về việc cho vay vốn phát
triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn”, số
33/2007/QĐ-TTg về “chính sách hỗ trợ di dân, thực hiện định canh định cư
cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2007 – 2010”; Số: 30a/2008/NQ-CP
“Về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo”…
Các chủ trương, chính sách về xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn này cho thấy Đảng và Nhà nước luôn coi trọng công tác xóa đói, giảm nghèo trong hoạt động của mình Điều đó phản ánh nhận thức sâu sắc của Đảng và Nhà nước về tầm quan trọng của công tác này trong phát triển kinh tế - xã hội
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn khóa IX nhiệm kỳ 2005 – 2010 tiếp tục đề ra các mục tiêu chỉ đạo công tác xóa đói, giảm nghèo cho giai đoạn mới: Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 30% (theo chuẩn mới); tỷ lệ lao động qua đào tạo 26%, trong đó qua đào tạo nghề 19%; bình quân giải