Nhiều năm qua, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, các cấp ủy và chính quyền, ban, ngành chức năng tỉnh Bắc Ninh đã lãnh đạo thực hiện công tác XĐGN đạt n
Trang 1đại học quốc gia hà nội TRƯờNG đại học khoa học xã hội và nhân văn
TRẦN THỊ XOA
ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CễNG TÁC XểA ĐểI, GIẢM NGHẩO
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
Chuyờn ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mó số: 60 22 56 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS Văn Thị Thanh Mai
Hà Nội - 2014
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
5 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Bố cục luận văn 10
Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 1997-2001 11
1.1.Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Bắc Ninh trước năm 1997 11
1.1.1.Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh 11
1.1.2.Công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Hà Bắc trước năm 1997 18
1.2.Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về xóa đói, giảm nghèo từ năm 1997- 2001 21
1.2.1.Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước 21
1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về xóa đói, giảm nghèo 25
1.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo ở Bắc Ninh từ 1997- 2001 29
1.3.1.Tổ chức thực hiện xóa đói, giảm nghèo 29
1.3.2 Kết quả lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh từ năm 1997- 2000 38
Tiểu kết chương 1 42
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001-2010 43 2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ tỉnh về xóa
Trang 32.1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước 43
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh về đẩy mạnh thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo 47
2.2 Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ 2001-2005 52
2.2.1 Đẩy mạnh tổ chức thực hiện 52
2.2.2 Kết quả lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh từ năm 2001-2005 60
2.3 Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2006 - 2010 63
2.3.1.Tập trung vào các nhiê ̣m vụ trọng tâm , có ý nghĩa thiết thực trong thực hiê ̣n XĐGN 63
2.3.2 Kết quả lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo từ năm 2006 - 2010 74
Tiểu kết chương 2 79
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 80
3.1 Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh 80
3.1.1 Thành tựu 80
3.1.2 Một số hạn chế 88
3.2 Một số kinh nghiệm 96
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 112
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BHYT : Bảo hiểm y tế HĐND : Hội đồng nhân dân LĐTB&XH : Lao động Thương binh và Xã hội NXB : Nhà xuất bản
PGS.TS : Phó giáo sư, Tiến sĩ QĐ-UBND : Quyết định của Ủy ban Nhân dân UBND : Ủy ban nhân dân
XĐGN : Xóa đói, giảm nghèo
Trang 5MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Loài người đang tiến vào thập niên đầu của thế kỷ XXI với nhiều thuận lợi song cũng phải đối mặt với những vấn đề gay gắt mang tính toàn cầu Đó
là chiến tranh, bệnh dịch, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội… và một trong những nỗi lo, nỗi đau của nhân loại là sự đói nghèo trầm trọng trên một phạm
vi vô cùng rộng lớn Cho đến hôm nay, đói nghèo vẫn là nỗi ám ảnh thường trực đối với cả loài người Thế giới đã chứng kiến những thảm họa của chiến tranh, thảm họa của thiên tai, dịch bệnh với bao nỗi kinh hoàng Thế nhưng hậu quả do những nạn đói gây ra cũng vô cùng khủng khiếp Điều đáng sợ hơn nữa là: Nếu như các cuộc chiến tranh dù khốc liệt vô cùng nhưng rồi trước sau cũng được giải quyết nếu như những thảm họa do thiên tai, dịch bệnh gây ra từng bước cũng sẽ được khắc phục thì vấn đề nghèo đói của nhân loại lại là một vấn đề vừa cấp bách, vừa phức tạp và kéo dài dai dẳng đối với mỗi quốc gia
Thực tế là, một phần ba số dân thế giới vẫn đang phải sống trong tình trạng khốn cùng và đói khát Đói nghèo diễn ra trên tất cả các châu lục với những mức độ khác nhau Đặc biệt, ở các nước đang phát triển, sự đói nghèo của người dân đang là một vấn đề nhức nhối, cấp bách, phải tháo gỡ và đó đồng thời cũng là khó khăn của công tác XĐGN
Để khắc phục tình trạng nghèo đói, mỗi quốc gia đều có những chương trình hoặc những chính sách để thực hiện việc XĐGN và Việt Nam không phải là một ngoại lệ Hướng tới mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", Đảng và Nhà nước đã đề ra các chủ trương, chính sách nhằm tạo cơ hội cho người nghèo thoát khỏi cảnh nghèo khó, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần Nhiều địa phương đã triển khai thực hiện chương trình XĐGN với các biện pháp sáng tạo, linh hoạt, giúp đỡ hộ nghèo,
xã nghèo tháo gỡ khó khăn trong xây dựng cơ sở hạ tầng, ổn định và phát
Trang 6triển sản xuất Theo đó, công tác XĐGN của nước ta trong những năm qua đã đạt được những thành tựu đầy ấn tượng Tuy nhiên, Việt Nam vẫn xếp vào trong nhóm các nước nghèo trên thế giới XĐGN là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa khuyến khích nhân dân làm giàu chính đáng, vừa giúp đỡ người nghèo tự tin vươn lên hòa nhập với sự phát triển chung của đất nước Theo đó, giải quyết đói nghèo hiện nay không chỉ dừng lại ở việc có đủ về lương thực, thực phẩm
mà phải giúp cho người nghèo có nhà ở, mặc ấm, y tế, giáo dục…
Bắc Ninh là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng có diện tích 804 km², dân
số Bắc Ninh có 987.400 người (theo điều tra dân số năm 2004) với mật độ dân
số 1.222 người/km² Từ khi tách tỉnh vào năm 1997, kinh tế - xã hội Bắc Ninh
có những bước tiến vượt bậc, tạo đà mạnh mẽ cho việc giải quyết các vấn đề
về an sinh xã hội Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, một trong những vấn
đề còn tồn tại ở Bắc Ninh là tình trạng đói nghèo Vì vậy, để phát triển kinh
tế, ổn định xã hội, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh ngay từ khi tái lập tỉnh đã có những chủ trương chính sách phù hợp để XĐGN Công tác XĐGN vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh Nhiều năm qua, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, các cấp ủy và chính quyền, ban, ngành chức năng tỉnh Bắc Ninh đã lãnh đạo thực hiện công tác XĐGN đạt nhiều kết quả thiết thực Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội, tình trạng đói nghèo ở Bắc Ninh có những diễn biến mới, nảy sinh thêm nhiều vấn đề cần phải tiếp tu ̣c giải quyết
Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá, lại quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo thực hiện công tác XĐGN những năm qua, tổng kết, rút kinh nghiệm, trên cơ sở đó phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong thời gian tới để công tác XĐGN đạt kết quả cao hơn trở thành một yêu
cầu cấp bách Trên tinh thần đó, đề tài luận văn Thạc sĩ „„Đảng bộ tỉnh Bắc
Trang 7một đóng góp nhỏ của tác giả nhằm khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh thực hiện XĐGN những năm 1997-2010, từ đó rút ra những kinh nghiệm để vận dụng trong giai đoạn mới
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề XĐGN là chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, có ý nghĩa chính trị, kinh tế- xã hội to lớn, đã thu hút nhiều nhà khoa học, các học giả, các chuyên ngành và những cá nhân nghiên cứu Việc nghiên cứu thực trạng đói nghèo và tìm ra giải pháp để đẩy mạnh thực hiện XĐGN là đề tài được nhiều giới nghiên cứu quan tâm và tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau,
có thể quy về các nhóm sau:
2.1 Các công trình là sách
Trong rất nhiều cuốn sách trình bày về vấn đề XĐGN, có thể kể đến một
số cuốn sách như:
Cuốn „„Vấn đề xóa đói giảm nghèo của nông thôn nước ta hiện nay‟‟ của
Nguyễn Thị Hằng, Trần Đình Hoan, Bùi Trọng Thành, (1997), Nxb Lao động- Xã hội, Hà Nội đã nghiên cứu vấn đề đói nghèo ở các chế độ xã hội và
ở nước ta, nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu lý tưởng của chế độ xã hội chủ nghĩa, nêu nên tính tất yếu khách quan của việc XĐGN, thực trạng đói nghèo và một số phương hướng, biện pháp XĐGN ở nông thôn nước ta hiện nay Cuốn sách đã cung cấp cho tôi những quan điểm và lý luận về XĐGN và công tác XĐGN
Cuốn sách „„Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam‟‟ (2001) của
Chu Quang Tiến (Chủ biên), Nxb Nông Nghiê ̣p, Hà Nội đã chỉ ra thực trạng đói nghèo và những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo ở Việt Nam Đồng thời, cuốn sách cũng chỉ ra những giải pháp và những mặt còn tồn tại trong công tác XĐGN ở Việt Nam giai đoạn 2001 trở về trước Cuốn sách đã cung cấp cho tôi những nền tảng về lý luận và thực tiễn để tiếp cận vào đề tài
Trang 8nghiên cứu của mình trong vấn đề XĐGN ở Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng
Cuốn “Chính sách xóa đói giảm nghèo - thực trạng và giải pháp”
(2013) của PGS.TS Lê Quốc Quý , NXB Chính trị quốc gia , Hà Nội , đã nghiên cứu hê ̣ thống các chính sách về XĐGN ở Viê ̣t Nam từ trước đến nay
và đưa ra những giải pháp để thực hiện chính sách XĐGN ở Việt Nam hiện nay Cuốn sách đã cung cấp cơ bản cho tác giả luận văn cái nhìn tổng quan về
hê ̣ thống chính sách XĐGN của Viê ̣t Nam giai đoa ̣n từ 1997-2010
2.2 Các công trình là bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành
Có rất nhiều công trình bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí khác
nhau Tạp chí Lao động và xã hội có bài viết „„Tiếp tục thực hiện mục tiêu xóa
đói giảm nghèo‟‟của Đàm Hữu Đắc đăng trên số 1/2001 và „„Bước tiến mới của sự nghiệp xóa đói giảm nghèo‟‟ của Nguyễn Thị Hằng Trong các công
trình này, các tác giả đã khẳng định bước tiến mới, những thành tựu cũng như chỉ ra những tồn tại trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN 1998-2000 và nêu phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác XĐGN trong giai đoạn tiếp theo
Tạp chí Cộng sản có những bài viết liên quan đến vấn đề XĐGN như
Nhật Tân, „„Việc xóa đói giảm nghèo ở Hưng Hà‟‟(đăng trên số 12/1993); Bạch Đình Ninh, „„Đói nghèo ở miền núi Nghệ An- Nguyên nhân và biện pháp
khắc phục‟‟ (số 10/1999); Bùi Minh Đạo, „„Giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu
số nước ta hiện nay‟‟ (số 597, tháng 06/ 2000)… Các bài viết này tập trung đi
vào nghiên cứu vấn đề XĐGN ở từng địa phương cụ thể với những tiếp cận còn mang tính sơ lược Ngoài ra còn một số bài viết mang tính lý luận chung
về vấn đề XĐGN như bài „„Xóa đói giảm nghèo ở nước ta- thành tựu, thách
thức và giải pháp‟‟ của Phạm Gia Khiêm, (số 2+3/2006), bài viết này đã phần
nào đánh giá được những thành tựu của công tác XĐGN từ trước năm 2006,
Trang 9XĐGN cho các năm tiếp theo Hà Thị Khiết với bài viết „„Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam với hoạt động xóa đói giảm nghèo cho phụ nữ‟‟ (số 20/2006) đã
đi vào nghiên cứu cụ thể về vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong việc giúp phụ nữ XĐGN một cách có hiệu quả Đây là một cách thực hiện XĐGN mà các địa phương có thể áp dụng
Những bài viết này giúp tôi có cái nhìn đa da ̣ng về công tác XĐGN ở các
đi ̣a phương khác ngoài tỉnh Bắc Ninh để từ đó có cái nhìn so sánh về công tác XĐGN ở Bắc Ninh với các đi ̣a phương khác trong cả nước
2.3 Các hội thảo, tọa đàm khoa học
Đói nghèo không phải riêng của Việt Nam mà là một vấn đề mang tính toàn cầu Do vậy, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới cũng có rất nhiều những hội thảo và tọa đàm khoa học về vấn đề đói nghèo và XĐGN
Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á- Thái Bình Dương do Ủy ban kinh tế- xã hội châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băngkốc (Thái Lan) đã bàn về khái niệm chung, các tiêu chí đánh giá sự nghèo đói và các giải pháp chống đói nghèo trong khu vực Các quốc gia trong hội nghị đã trình bày các hoạt động, quan điểm và giải pháp XĐGN ở nước mình, từ đó đề xuất khuyến nghị phối hợp cùng nhau giải quyết vấn đề đói nghèo
Hội nghị về phát triển xã hội do Liên hợp quốc tổ chức tại Copenhaghe (Đan Mạch) tháng 3/1995 đã tập chung thảo luận vấn đề XĐGN, nêu nên trách nhiệm của các tổ chức quốc tế và các nước phát triển trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển XĐGN, thu hẹp khoảng cách giữa nước giàu
và nước nghèo
Hội nghị thượng đỉnh thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm 2000 đã thông qua tuyên bố thiên niên kỷ và xác định mục tiêu giảm 50% tỷ lệ đói nghèo năm 2000 (tức là 600 triệu người) vào năm 2015 Hội nghị cấp cao của Đại hội đồng Liên hợp quốc họp vào tháng 9/2005 cũng khẳng định nỗ lực toàn cầu trong việc giải quyết mục tiêu thiên niên kỷ về XĐGN
Trang 10Công ty ADUKI (Tổ chức nghiên cứu và hợp tác quốc tế Thụy Điển-
SIDA), „„Vấn đề nghèo ở Việt Nam‟‟ (1996), đã đưa ra khái niệm về nghèo, đi
sâu phân tích tình hình hiện nay của các nhóm nghèo của Việt Nam, đánh giá tác động của công cuộc đổi mới với người nghèo gắn liền với các vấn đề y tế, giáo dục, tín dụng
Bộ LĐTB&XH (1/1999) - Chương trình quốc gia XĐGN, „„Kỷ yếu hội
nghị triển khai chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN và chương trình phát triển kinh tế- xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa‟‟,
Nxb Lao động- xã hội Kỷ yếu trích những bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, báo cáo của lãnh đạo Bộ LĐTB&XH và các cơ quan có liên quan của Chính phủ và báo cáo của một số địa phương về tình hình, kết quả thực hiện chương trình mục tiêu XĐGN trong năm 1997, 1998
và phương hướng nhiệm vụ năm 1999, 2000 tại Hội nghị
Hội nghị Đánh giá Chương trình mục tiêu Quốc gia về XĐGN và Chương trình 135 của Bộ Lao động thương binh xã hội và UNDP (2004) đã đưa ra những bài tham luận của các cấp, ban, ngành có liên quan và các nhà nghiên cứu về kết quả cũng như những mặt tồn tại của Chương trình Quốc gia về XĐGN và Chương trình 135 đã thực hiện, đồng thời các tham luận cũng đưa ra các giải pháp để thực hiện tốt hơn chương trình này trong các giai đoạn tiếp theo
Các hội thảo và tọa đàm khoa học trên đã cung cấp cho tôi nền tảng chung để tiếp cận công tác XĐGN và hiểu bản chất của vấn đề đói nghèo trên thế giới cũng như ở Việt Nam Từ đó, tôi có cái nhìn tham chiếu vào tỉnh Bắc Ninh mà mình nghiên cứu
2.4 Các luận văn, luận án có liên quan
Nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học đã chọn XĐGN làm đề tài nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Tiếp cận dưới góc độ kinh tế có đề
Trang 11đói, giảm nghèo ở Hà Tĩnh‟‟ (Luận án Tiến sỹ Kinh tế, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh); Đào Tấn Nguyên, „„Giải pháp tín dụng góp phần
thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam‟‟, luận án Tiến sỹ Kinh tế; Nguyễn Trọng Xuân (2004), Quân đội tham gia xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay (luận án Tiến sĩ Kinh
tế, Học viện chính trị quân sự); Nguyễn Anh Dũng (2009), … Đây là những luận án về XĐGN nhưng dưới góc độ của những nhà hoạch định kinh tế Do vậy, các giải pháp cho vấn đề XĐGN chủ yếu là tiếp cận ở một khía cạnh về mặt kinh tế mà chưa có sự tiếp cận tổng quát trên tất cả các mặt
Các Nghiên cứu sinh và học viên cao học Lịch sử Đảng có các đề tài
của Ma Thi ̣ Tuyền „„Quá trình thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo của
Đảng ở tỉnh Cao Bằng từ năm 2001 đến năm 2010”, (Luận văn Thạc sỹ Lịch
sử Đảng, Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn); “Chương trình mục
tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo với đời sống kinh tế, xã hội của người Mường tỉnh Phú Thọ” (Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Đại học khoa học xã hội và
Nhân văn); Lương Thị Thuần (2011), “Quá trình thực hiện chính sách xóa
đói giảm nghèo của Đảng ở tỉnh Yên Bái từ năm 1996 đến năm 2010” (Luận
văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử, Đại học khoa học xã hội và Nhân văn)… Những luận văn này đã có cách tiếp cận tổng quát về những chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề XĐGN và đã được áp dụng vào từng địa phương cụ thể Những đề tài này đã giúp cho tôi rất nhiều trong việc tiếp cận vấn đề để giải quyết đề tài nghiên cứu của mình
Nhìn chung từ cách tiếp cận và nghiên cứu của các chuyên ngành khác nhau, các công trình trên đã góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề đói nghèo và công tác XĐGN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Kết quả nghiên cứu của các công trình đó có giá trị tham khảo tốt để thực hiện luận văn Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn diện dưới góc độ khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 12về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với công tác XĐGN trên địa bàn tỉnh từ năm 1997-2010 (từ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đến kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng tỉnh lần thứ XVII) như đề tài tôi đã lựa chọn
3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh quán triệt và vận dụng những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vào lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác XĐGN trên thực tiễn của tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2010
- Chỉ ra các thành tựu, hạn chế và rút ra các bài học kinh nghiệm về quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách XĐGN của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2010
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội đối với sự phát triển của tỉnh Bắc Ninh , khái quát tình hình thực hiện XĐGN của tỉnh Bắc Ninh trước năm 1997
- Trình bày khái quát các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về XĐGN
- Mô tả quá trình lãnh đạo thực hiện XĐGN của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh
và đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện XĐGN của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2010
- Rút ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong lãnh đạo thực hiện XĐGN từ năm 1997 đến năm 2010
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các chủ trương, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về XĐGN
- Các hoạt động ở tỉnh Bắc Ninh nhằm thực hiện XĐGN
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung:
Trang 13- Các hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với công cuộc XĐGN
- Thực tiễn XĐGN ở tỉnh Bắc Ninh
Thời gian và không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bắc Nin h từ năm 1997 đến năm 2010
5 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
- Hệ thống các văn kiện của Đảng và Nhà nước; các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh và các huyện trong tỉnh có liên quan; các quy định của Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh và các huyện ở Bắc Ninh
- Kết quả các công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đã được công bố
- Tài liệu khảo sát của tác giả
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp của hai phương pháp này là chủ yếu Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như so sánh, phân tích, tổng hợp, phương pháp chuyên gia, từ đó rút ra luận diểm khoa học để thực hiện luận văn
6 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh thực hiện công tác XĐGN từ năm 1997- 2010, từ đó khẳng định sự đúng đắn, sang tạo của Đảng bộ tỉnh lãnh đạo thực hiện XĐGN ở địa phương Chỉ ra những thành tựu và hạn chế góp phần làm phong phú hơn hoạt động lãnh đạo của Đảng về một vấn đề được cả xã hội quan tâm là XĐGN
- Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu Lịch
sử Đảng bộ địa phương, nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Đảng trong các học viện và nhà trường
Trang 15Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 1997-2001
1.1.Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Bắc Ninh trước năm 1997
1.1.1.Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh
Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Bắc Ninh là tỉnh nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng,
thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ Vị trí địa lý nằm trong phạm vi từ 20o 58‟đến 21o 16‟ vĩ độ Bắc và 105o 54‟ đến 106o 19‟ kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang; Phía Đông và Đông Nam giáp với tỉnh Hải Dương; Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên; Phía Tây giáp thành phố Hà Nội
Địa hình: Với vị trí nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên địa hình của
tỉnh Bắc Ninh khá bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và
từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình Mức độ chênh lệch địa hình trên toàn tỉnh không lớn Vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh có độ cao phổ biến từ 3 – 7m so với mực nước biển và một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ Địa hình trung du đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh được phân bố rải rác thuộc thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế
Võ, các đỉnh núi có độ cao phổ biến từ 60 – 100m, đỉnh cao nhất là núi Bàn
Cờ (thành phố Bắc Ninh) cao 171m, tiến đến là núi Bu (huyện Quế Võ) cao 103m, núi Phật Tích (huyện Tiên Du) cao 84m và núi Thiên Thai (huyện Gia Bình) cao 71m
Thủy văn: Mạng lưới sông ngòi thuộc tỉnh Bắc Ninh khá dày đặc, mật độ
khá cao từ 1,0 – 1,2km/km2 (theo số liệu của Đài KTTV Bắc Bộ) với 3 hệ
Trang 16thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình Ngoài
ra trên địa bàn tỉnh còn có sông Cà Lồ nằm ở phía Tây của tỉnh, một phần của sông có chiều dài 6,5km là đường ranh giới tỉnh giữa Bắc Ninh với thành phố
Hà Nội và hệ thống sông ngòi nội địa như sông Ngũ Huyện Khê, sông Dâu, sông Bội, sông Tào Khê, sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình.Với
hệ thống sông ngòi khá dày đặc và có lưu lượng nước mặt dồi dào, thủy văn của tỉnh Bắc Ninh đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác tưới
và tiêu thoát nước trên địa bàn toàn tỉnh
Khí hậu: Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn
mùa khá rõ rệt, có mùa đông lạnh, mùa hè nóng nực Trong khoảng 12 năm trở lại đây, nhiệt độ trung bình năm là 24,0oC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 29,4oC (tháng 7), nhiệt độ trung bình thấp nhất là 17,4oC (tháng 1).Độ
ẩm tương đối trung bình của Bắc Ninh khoảng 81%, độ chênh lệch về độ ẩm giữa các tháng không lớn, độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất từ 72% đến 75% thường xảy ra từ tháng 10 đến tháng 12 trong năm Lượng mưa trung bình hàng năm tại Bắc Ninh khoảng 1500 mm nhưng phân bổ không đều trong năm Mùa mưa chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm Khoảng 12 năm trở lại đây, tổng số giờ nắng trung bình là 1417 giờ, trong đó tháng có giờ nắng trung bình lớn nhất là tháng 7 với 168 giờ, tháng có giờ nắng trung bình ít nhất là tháng 1 với 64 giờ Hàng năm có hai mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, tốc độ gió trung bình vào tháng 1 khoảng 2,6m/s; gió mùa Đông Nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm gây mưa rào, tốc độ trung bình vào
tháng 7 khoảng 2,4m/s
Tài nguyên đất: Theo số liệu kiểm kê đất năm 2010, tổng diện tích đất tự
Trang 17nghiệp chiếm 65,85%, trong đó đất Lâm nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ chỉ với 0,81%; Đất phi nông nghiệp chiếm 33,31% trong đó đất ở chiếm 12,83%;
Diện tích đất chưa sử dụng chiếm 0,84%
Địa chất – khoáng sản: Đặc điểm địa chất lãnh thổ Bắc Ninh mang
những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất thuộc vùng trũng sông Hồng, có bề dày trầm tích đệ tứ chịu ảnh hưởng rõ rệt của cấu trúc mỏng Tuy nhiên nằm trong miền kiến tạo Đông Bắc – Bắc Bộ nên cấu trúc địa chất lãnh thổ Bắc Ninh có những nét còn mang tính chất của vòng cung Đông Triều vùng Đông Bắc Với đặc điểm này địa chất của tỉnh Bắc Ninh có tính ổn định hơn so với
Hà Nội và các đô thị vùng đồng bằng Bắc Bộ khác trong việc xây dựng công trình Bắc Ninh là tỉnh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu thiên về vật liệu xây dựng với các loại khoáng sản sau: đất sét, cát xây dựng và than bùn Trong đó, đất sét được khai thác làm gạch, ngói, gốm có trữ lượng lớn được phân bổ dọc theo sông Cầu, sông Đuống thuộc phạm vi các huyện Thuận Thành, Gia Bình, Quế Võ, Yên Phòng và Tiên Du; Đất sét làm gạch chịu lửa phân bổ chủ yếu tại khu vực phường Thị Cầu, thành phố Bắc Ninh Cát xây dựng cũng là nguồn tài nguyên chính có trữ lượng lớn của Bắc Ninh được
phân bố hầu như khắp toàn tỉnh, dọc theo sông Cầu, sông Đuống
Thảm thực vật: Thực vật của Bắc Ninh chủ yếu là cây trồng hàng năm,
cây trồng lâu năm và rừng trồng Trong đó diện tích cây trồng hàng năm chiếm 54% diện tích đất tự nhiên, diện tích đất tự nhiên, diện tích đất trồng
cây lâu năm và đất rừng trồng chiếm diện tích thấp
Điều kiện kinh tế- xã hội: Gần một thế kỷ đã qua, Bắc Ninh - đất Kinh
Bắc thủa nào vẫn là một miền đất trù phú tiềm ẩn những điểu kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam Đặc biệt trên chặng đường hơn 10 năm kể từ ngày tái lập, Bắc Ninh đã phát huy truyền thông cách mạng, năng động, sáng tạo để thực
Trang 18hiện công cuộc đổi mới, tạo nên những bước chuyển biến mạnh mẽ trên
mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội
Dân cư – lao động: Theo số liệu thống kê mới nhất năm 2010, Bắc ninh
có 1.038.229 người Trong đó dân cư nông thôn chiếm trên 74,1%, dân số thành thị chiếm 25,9% Thành phần dân số này có xu hướng chuyển dịch theo
cơ cấu tăng dân số thành thị và giảm dần số nông thôn Dân số Bắc Ninh là dân số trẻ, trên 60% trong độ tuổi lao động Với chất lượng ngày càng được nâng cao đội ngũ dân số trẻ này là lực lượng lao động hùng hậu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của tỉnh
Cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỷ trọng của ngành công nghiệp, xây dựng năm
2010 ước đạt 64,8%, dịch vụ 24,2%, nông nghiệp đạt 11% Đầu tư cho phát triển được đẩy mạnh, góp phần tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm ước thực hiện đạt trên 64.000 tỷ đồng, tăng bình quân 33,6%, hàng năm đều đạt trên 50% GDP
Công nghiệp: Xuất phát điểm từ một tỉnh mà nền kinh tế chủ yếu dựa
vào sản xuất nông nghiệp, các cơ sở sản xuất công nghiệp, nhất là công
nghiệp hiện đại hầu như không đáng kể Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 15
khu công nghiệp tập trung: hơn 18 khu công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề với hàng trăm nhà máy có công nghệ sản xuất hiện đại đã và đang hoạt động Công nghiệp Bắc Ninh từ vị trí thứ 19 (2004) vượt lên vị trí thứ 9 trong toàn quốc Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,250 tỷ USD, tăng bình quân 67,2%/năm Sản phẩm của ngành công nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường trong nước mà còn tăng khối lượng và chủng loại sản phẩm xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ đáng kể để tiếp tục đầu tư phát triển Ngành tiểu thủ công nghiệp rất phát triển với nhiều làng nghề truyền thống và được ví là “Vùng đất trăm nghề”, một số sản phẩm
Trang 19(Đồng Kỵ - Từ Sơn), đúc đồng (Đại Bái – Gia Bình)… Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 10 toàn quốc và là một trong ba tỉnh dẫn đầu miền Bắc Hoạt động kinh tế đối ngoại được mở rộng, góp phần quảng bá hình ảnh Bắc Ninh, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng thứ 7 trong toàn quốc, thứ 2 trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Nông nghiệp: Mặc dù diện tích đất nông nghiệp giảm, sản xuất còn gặp
nhiều khó khăn do diễn biến bất thường của thời tiết nhưng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 3,5% (theo giá năm 1994) Năng xuất, sản lượng cây trồng tăng đáng kể: năng suất lúa ước đạt 60 tạ/ha; sản lượng lương thực
có hạt ước đạt 60 tấn; giá trị trồng trọt ước đạt 73,9 triệu đồng/ha năm 2010
Cơ cấu cây trồng gắn với luân canh hợp lý, nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung cho thu nhập gần 200 triệu đồng/ha như: lúa, khoai tây, rau xanh, hoa, cây cảnh… Quan hệ sản xuất ở nông thôn có chuyển biến tích cực, bước đầu xuất hiện mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp đô thị, doanh nghiệp nông nghiệp, kinh tế trang trại tiếp tục phát triển Năm 2009, toàn tỉnh có 2.477 trang trại hoạt động đạt hiệu quả tốt đồng thời có 568 hợp tác xã, 2 liên hiệp hợp tác xã, 628 tổ hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Việc chuyển giáo, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, cơ giới hóa tăng nhanh, dịch vụ nông nghiệp phát triển, “dồn điền đổi thửa” gắn với quy hoạch hạ tầng vùng sản xuất được coi trọng Chăn nuôi phát triển khá, đàn gia súc, gia cầm tăng đáng kể, bước đầu chuyển sang chăn nuôi tập trung, giá trị sản xuất khu vực chăn nuôi tăng bình quân 4,6%/năm; nuôi trồng thủy sản tăng bình quân 11,4%/năm; trồng rừng tập trung, trồng cây phân tán, cải tạo vườn tạp được duy trì và phát triển Hình thành mô hình chuỗi giá trị trong nông nghiệp với
tổ hợp sản xuất giống, thức ăn chăn nuôi, chế biến thực phẩm, tạo liên kết doanh nghiệp hỗ trợ nông dân sản xuất, tiêu thụ hàng hóa
Giao thông: Bắc Ninh là tỉnh có điều kiện thuận lợi để phát triển giao
thông vận tải Mạng lưới giao thông bao gồm đường sắt, đường bộ, đường
Trang 20thuỷ đã được hình thành từ lâu Hơn nữa, đây là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội, trong khu vực tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nôi - Hải Phòng - Quảng Ninh nên được Chính phủ quan tâm đầu tư cho phát triển các tuyến đường huyết mạch Quốc lộ 1, quốc lộ 18, quốc lộ 38 và tuyến đường sắt Hà Nội - Bắc Ninh - Lạng Sơn
Bưu chính - viễn thông: Tỉnh Bắc Ninh đã tập trung nguồn lực cho lĩnh
vực này theo hướng đi tắt, đón đầu, ứng dựng công nghệ tiên tiến hiện đại tạo nên sự thay đổi rõ rệt cả về chất và lượng Những năm đầu tái lập, toàn tỉnh chỉ có duy nhất một đơn vị hoạt động bưu chính viễn thông là Bưu điện tỉnh, đến nay đã có thêm 3 đơn vị khác hoạt động trong lĩnh vực này Mạng lưới bưu chính viễn thông đã thay đổi căn bản từ hệ analog lạc hậu sang hệ digital hiện đại Bắc Ninh là tỉnh xếp thứ 10/63 tỉnh thành của cả nước về mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin năm 2009
Văn hóa – Du lịch: Bắc Ninh được biết đến như là một miền đất của các
di tích lịch sử, văn hoá Tiêu biểu nhất là chùa đền, đình miếu gắn liền với các
lễ hội: đền thờ Kinh Dương Vương, đền Đô, chùa Bút Tháp, chùa Dâu, chùa Phật Tích, đền Bà Chúa Kho, Văn Miếu, hội Lim…Ngoài ra thu hút khách du lịch cần phải kể đến các làng nghề truyền thống: tranh Đông Hồ, đúc đồng Đại Bái, rèn Đa Hội, đồ gõ mỹ nghệ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng… và đặc biệt một loại hình nghệ thuật làm nên bản sắ c văn hoá rất riêng của Bắc Ninh là các làn điện dân ca Quan họ đằm thắm, trữ tình đã luôn là nguồn tài nguyên phong phú cho phát triển du lịch của tỉnh Sự kiện văn hóa quan trọng đặc biệt, niềm tự hào của quê hương Bắc Ninh chính là việc UNESSCO công nhận Dân ca quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Giáo dục - Đào tạo: Bắc Ninh, miền đất sinh thành vị tổ của nền khoa
bảng Việt Nam, nơi có làng Tam Sơn (xã Tam Sơn - Từ Sơn), địa phương duy nhất trong cả nước có đủ tam khôi với 22 vị tiến sĩ trong đó có 2 trạng
Trang 21lớp con cháu kế thừa và phát huy Bắc Ninh là một trong 3 tỉnh hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đầu tiên trong cả nước vào năm 2000, đến năm
2002 đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở và đang tiến hành phổ cập trung học phổ thông
Y tế - Sức khoẻ: Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân luôn
luôn được tỉnh đặc biệt chú trọng, Thể hiện ở mạng lưới các bệnh viện, phòng khám đa khoa khu vực rải đều khắp các huyện/thị, 100% các xã/phường thị trấn có trạm y tế Cơ sở vật chất và đội ngũ y sĩ, bác sĩ tăng dần qua các năm
Số giường bệnh trong toàn tỉnh 2.340; số cán bộ công tác ở ngành y là 3.249 người; trong đó tiến sĩ, thạc sĩ là 55 người, bác sĩ là 650 người Năm 2010 đã thực hiện tiêm chủng cho 21.718 trẻ em trên toàn tỉnh
Những điều kiê ̣n về tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh nói trên đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế nói chung và công tác XĐGN nói riêng Với đi ̣a thế tự nhiên đa da ̣ng được thiên nhiên ưu đãi đã mang la ̣i thuâ ̣n lợi cho sản xuất cũng như là giao thương là cơ sở cho phát triển kinh tế Bên ca ̣nh đó, cùng với truyền thống cách mạng, năng động sáng tạo, truyền thống hiếu học, và nét văn hoá đặc sắc của người dân Kinh Bắc là nguồn tài sản quý báu của tỉnh Bắc Ninh, tạo nguồn lực cho việc thực hiện công tác XĐGN hiệu quả Những điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi trên là cơ sở để các cấp
ủy đảng , chính quyền tỉnh Bắc Ninh triển khai đa da ̣ng các biê ̣n pháp cho công tác XĐGN Tuy nhiên, bên cạnh đó, những điều kiê ̣n tự nhiên và kinh tế-
xã hội của tỉnh Bắc Ninh vẫn còn có những khó khăn nhất định như hê ̣ số sử dụng đất thấp, đất nông nghiê ̣p ngày càng bi ̣ thu he ̣p, thiên tai… đặc biệt là sự chênh lệch mức sống giữa các bộ phận dân cư Đây là vấn đề đang đặt ra cho
sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh cũng như các cấp, các ngành có liên quan để thực hiện hiệu quả công tác XĐGN Nếu không giải quyết tốt những vấn đề này thì sẽ dẫn đến hiê ̣n tượng tái nghèo và khoảng cách giữa hô ̣ giàu
và hộ nghèo ngày càng xa khiến cho người nghèo khó hòa nhập được với xã hội
Trang 221.1.2.Công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Hà Bắc trước năm 1997
Ngày 27/10/1962, Quốc hội khóa II quyết định hợp nhất tỉnh Bắc Ninh
và Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc Chủ trương XĐGN của Bắc Ninh thời gian này thuộc sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Bắc (đến 1/1/1997 lại thuộc Bắc Ninh)
Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ I (từ 16 đến 26/10/1963) đã đề ra phương hướng nhiệm vụ chung của tỉnh là: “Ra sức phấn đấu để củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, chú trọng phát triển các hợp tác
xã nông nghiệp, thủ công nghiệp… Cải thiện thêm một bước đời sống vật chất
và văn hóa của nhân dân trong tỉnh…” [23, tr.326]
Trong những năm 1962- 1993, cùng với nhiều địa phương trong cả nước, tỉnh Hà Bắc chưa có đường lối, chính sách riêng về XĐGN Thời kỳ này chủ yếu ban hành các chính sách về phát triển nông nghiệp, khắc phục nạn đói do thiên tai nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
Sau mấy năm tiến hành đổi mới đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986), sự thay đổi mọi mặt đời sống, kinh tế - xã hội của đất nước dẫn đến hiện tượng phân hóa giàu nghèo diễn ra gay gắt Trong bối cảnh đó, Báo cáo chính trị tại Đại hội VII, Đảng ta khẳng định: „„Hơn 4 năm qua, để đáp ứng nhu cầu đời sống nhân dân, chúng ta đã động viên và phát huy khả năng của toàn xã hội, khuyến khích người lao động tăng thu nhập và làm giàu chính đáng, chấp nhận chênh lệch trong thu nhập do năng suất và hiệu quả lao động Đó là một phương hướng đúng tạo động lực cho
phát triển và nâng cao mức sống chung của xã hội‟‟[31, tr.240] Đồng thời,
Đảng đặt ra nhiệm vụ phấn đấu „„xóa nạn đói, giảm số người nghèo khổ, giải quyết vấn đề việc làm, đảm bảo nhu cầu cơ bản, cải thiện đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho nhân dân‟‟[31, tr.340] Tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII, 1/1994), Đảng ta chủ trương: „„Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo Coi một bộ
Trang 23phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển‟‟[31, tr.424] Trong quá trình đổi mới, Đảng xác định tăng trưởng kinh tế phải đồng thời tiến hành công tác XĐGN, thực hiện công bằng xã hội, tránh tình trạng phân hóa giàu nghèo vượt quá giới hạn cho phép XĐGN chính là để góp phần giảm bớt khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn- thành thị, miền núi- miền xuôi và giữa các tầng lớp dân cư Qua quá trình chỉ đạo và từ thực tiễn phong trào XĐGN, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII (6/1993) đã cụ thể hóa thêm một bước chủ trương này: „„Phải trợ giúp người nghèo bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn, hình thành quỹ xóa đói giảm nghèo ở từng địa phương trên cơ sở dân giúp dân Nhà nước giúp dân và tranh thủ các nguồn tài trợ quốc tế, phấn đấu tăng hộ giàu đi đôi với xóa đói giảm
nghèo‟‟[24, tr.24] Đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân nên đã
nhanh chóng đi vào đời sống Năm 1992, phong trào bắt đầu từ thành phố Hồ Chí Minh với tên gọi „„Chương trình phấn đấu thu hẹp và từng bước xóa hộ nghèo đói‟‟ và chỉ sau một thời gian ngắn đã trở thành phong trào rộng khắp trong cả nước với tên gọi quen thuộc là phong trào XĐGN Từ thực tiễn phong trào, đặc biệt từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII (6/1993) đến nay, XĐGN trở thành một cuộc vận động và là một chủ trương, quyết sách lớn của
Đảng và Nhà nước ta có ý nghĩa nhân văn cao cả
Góp phần giải quyết khó khăn thực tế của một tỉnh chủ yếu sản xuất nông nghiệp, kinh tế chậm phát triển, nhiệm vụ XĐGN là một vấn đề cấp bách thời kỳ đổi mới, ngày 9/6/1993, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Bắc đã họp bàn về nhiệm vụ “xóa đói, giảm nghèo” Tiếp đó, Ủy ban nhân dân tỉnh có Quyết định số 40-QĐ/UB về thành lập Ban Chỉ XĐGN do đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban, quyết định lấy huyện Quế Võ làm điểm để rút kinh nghiệm và chỉ đạo thực hiện ra toàn tỉnh
Thực hiện chủ trương XĐGN, các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh tập trung vào nhiệm vụ giải quyết việc làm cho người lao động bằng biện pháp
Trang 24mở rộng các cơ sở sản xuất công nghiệp vừa và nhỏ, kết hợp chặt chẽ giữa cơ khí với thủ công Mở các lớp đào tạo, tập huấn bồi dưỡng về kiến thức quản lý kinh tế và khoa học kỹ thuật cho người lao động nhất là thanh niên Đẩy mạnh phát triển ngành nghề, khôi phục các làng nghề truyền thống, mở thêm nghề mới Tổ chức đưa dân đi khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới tại các tỉnh Long An, Lâm Đồng, Tây Ninh Cuộc vận động XĐGN được chỉ đạo chặt chẽ
từ tỉnh đến cơ sở Hội Nông dân, hội Phụ nữ, đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, hội Cựu chiến binh các cấp xây dựng quỹ XĐGN Tiêu biểu như Đảng bộ xã Ninh Xá (huyện Thuận Thành) xây dựng quỹ được hơn 100 triệu đồng cho đảng viên vay làm kinh tế gia đình Hội Phụ nữ xã Kinh Bắc (thị xã Bắc Ninh) đẩy mạnh hai cuộc vận động chị em giúp nhau làm kinh tế gia đình
và nuôi con theo khoa học Hầu hết các cơ sở trong tỉnh đã xây dựng quỹ XĐGN với nhiều hình thức tuyên truyền vận động hội viên thi đua làm kinh
tế, thực hiện XĐGN Cuộc vận động XĐGN được triển khai sâu rộng và mang lại hiệu quả thiết thực Sau 5 năm thực hiện chính sách XĐGN đến năm 1996
tỷ lệ hộ đói, nghèo trong tỉnh giảm còn 16% (trong đó đói 6%) so với đầu năm
1988 là 35-40% hộ đói, 10-15% hộ đói gay gắt, số hộ giàu ngày càng tăng [22, tr.36]
Sau 10 năm (1986-1996) thực hiện đường lối đổi mới, quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, vận dụng linh hoạt sáng tạo các chính sách của Chính phủ vào điều kiện thực tiễn địa phương, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh Hà Bắc đã đoàn kết khắc phục khó khăn, nắm bắt thời cơ phát huy thuận lợi, phấn đấu vươn lên đạt được những thắng lợi rất quan trọng Kinh tế phát triển với tốc độ khá cao, kinh tế tăng trưởng bình quân trong 5 năm (1991-1995) là 8,06% Kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực…[23, tr.38] Cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng được đầu tư, nâng cấp phục
vụ tốt cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, XĐGN Công tác xây dựng Đảng không ngừng đổi mới, hoạt động của hội đồng nhân dân , Ủy ban
Trang 25quyền dân chủ của nhân dân được phát huy, tạo sức mạnh tổng hợp đẩy nhanh quá trình XĐGN trong thời kỳ mới
Tuy nhiên công tác XĐGN giai đoạn này vẫn còn một số hạn chế hạn chế
Một là, nhận thức về trách nhiệm đối với công tác XĐGN ở một số
ban ngành, địa phương, cơ sở chưa thực sự đầy đủ, còn thiếu chủ động trong tổ chức thực hiện Công tác cán bộ chưa được coi trọng đúng mức, chưa bố trí được cán bộ có trình độ chuyên môn, năng lực và nhiệt tình tâm huyết với công tác XĐGN
Hai là, bản thân người nghèo còn ỷ lại vào sự trợ giúp của nhà nước như
trong thời kỳ bao cấp, chưa chủ động trong việc ý thức tự mình vươn lên thoát nghèo, cải thiện đời sống vật chất của bản thân
Ba là, nguồn vốn, hệ thống chính sách, cơ chế còn thiếu đồng bộ linh
hoạt, do đó, kết quả đạt được chưa cao và bền vững
Trên cơ sở đường lối chung của Trung ương về công tác XĐG N, căn cứ tình hình thực tế ở địa phương, Đảng bộ tỉnh Hà Bắc phải tiếp tu ̣c quán triê ̣t hơn nữa tới các cấp , ban, ngành trong tỉnh về tầm quan trọng của công tác XĐGN đối với sự phát triển của tỉnh Do đó, Đảng bô ̣ tỉnh phải có những chủ trương, giải pháp phù hợp để đưa kinh tế Hà Bắc phát triển , từ đó ta ̣o cơ sở để giải quyết tốt vấn đề XĐGN Đồng thời, Ban chỉ đa ̣o XĐGN trong tỉnh cũng phải nhìn nhận rõ những mặt còn tồn tại của công tác XĐGN giai đoạn này nhằm tìm ra những biê ̣n pháp kịp thời khắc phu ̣c cho giai đoa ̣n tới
1.2.Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về xóa đói, giảm nghèo từ năm 1997- 2001
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
XĐGN vừa là nhiệm vụ lâu dài, vừa là nhiệm vụ trọng tâm trước mắt của
cả nước Trước đổi mới, với cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp, mặc
dù thu nhập và đời sống của tầng lớp dân cư được cải thiện, nhưng vẫn có hơn
Trang 2670% số hộ nghèo Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986), việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiểu thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta bắt đầu có bước phát triển, đem lại sự phát triển năng động trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ
và đời sống khác của xã hội Tuy nhiên, chuyển sang thực hiện nền kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo đã gây nên bất bình đẳng trong xã hội, cho nên XĐGN là nội dung và nhiệm vụ cần thực hiện để đảm bảo công bằng xã hội Thực tiễn cho thấy có nhiều nguyên nhân nảy sinh nghèo đói, do đó việc XĐGN được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi đó là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ trọng tâm trước mắt trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội ở nước ta
Trên cơ sở tổng kết chương trình XĐGN từ năm 1992, tại Đại hội toàn quốc lần thứ VIII (6/1996), Đảng ta tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của công tác XĐGN và đưa vấn đề XĐGN thành một trong 11 chương trình trọng điểm của kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế- xã hội 1996-2000 Nghị quyết của Đại hội chỉ rõ: „„Khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo Thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, các dân tộc, các tầng lớp dân cư‟‟ [31, tr.496] Trong các đối tượng cần phải XĐGN, Đảng ta nhấn mạnh: „„Thực hiện tốt chương trình xóa đói, giảm nghèo, nhất là đối với các vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số‟‟[31, tr.487-488] và gia đình thuộc diện chính sách: „„Tổ chức tốt pháp lệnh về người có công, bảo đảm cho những người có công với đất nước và cách mạng có đời sống vật chất và tinh thần ít nhất bằng mức sống trung bình của nhân dân ở nơi cư trú; bồi dưỡng
và tạo điều kiện cho con em những người có công với cách mạng tiếp nối sự nghiệp của cha anh Mở rộng phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc thương
Trang 27công tác XĐGN, nhưng phải đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) của Đảng, XĐGN mới được xác định là chương trình trọng điểm trong kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Tại Đại hội VIII mục tiêu XĐGN từ năm 1996 đến năm 2000 là „„giảm tỷ lệ hộ nghèo của
cả nước từ 20-25% hiện nay xuống còn khoảng 10% vào năm 2000, bình quân giảm 300.000 hộ/năm Trong 2-3 năm đầu của kế hoạch 5 năm tập trung
cơ bản xóa nạn đói kinh niên‟‟ [31, tr.591]
Để hoàn thành được mục tiêu trên, đòi hỏi phải có một chính sách tín dụng và đầu tư để xây dựng cơ sở hạ tầng ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Theo đó, đảm bảo xây dựng được 6 công trình thiết yếu là điện, đường, trường, trạm, nước sạch, chợ Phải có một chính sách đất đai phù hợp, giao cho các hộ nông dân nghèo chưa có đất hoặc chưa giao đủ mức cũng như đảm bảo cho các hộ nghèo có nhu cầu và có khả năng sản xuất có đất để sản xuất Khi các hộ gia đình có đất thì tạo cho họ mở rộng ngành nghề, hỗ trợ công cụ, tư liệu sản xuất Thi hành chính sách tín dụng cho người nghèo vay vốn, đảm bảo 90 đến 95% số hộ nghèo được vay vốn sản xuất Đồng thời cũng phải có chính sách đào tạo và chuyển giao công nghệ phong phú đa dạng cho người nghèo, phấn đấu đến năm 2000 có 50% người nghèo được tiếp cận
kỹ thuật sản xuất mới [31, tr.597]
Nhằm giúp các địa phương thực hiện tốt công tác XĐGN, ngày 29/11/1997, Đảng ta đã ra Chỉ thị 23 về „„Lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo‟‟, trong đó chỉ ra cần phải nồng ghép các chương trình, dự án kinh tế- xã hội khác với chương trình XĐGN; trước mắt tập trung hỗ trợ 1.300
xã nghèo trong cả nước Phải sử dụng tổng hợp các biện pháp để thực hiện cho được mục tiêu XĐGN đến năm 2000 do Nghị quyết Đại hội XIII đề ra Đối với Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương khác
có điều kiện phải giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5%; đối với miền núi, vùng
Trang 28đồng bào dân tộc thiểu số phải giảm tỷ lệ hộ đói nghèo xuống dưới 20-25% [31, tr.593]
Để triển khai Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, Chính phủ đã đưa ra trương trình mục tiêu quốc gia XĐGN trong giai đoạn 1998-2000 theo quyết định số 133/1998/QĐ-TTg ngày 23/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ Từ đây XĐGN từ một phong trào rộng lớn đã trở thành Chương trình mục tiêu quốc gia và thường được gọi là chương trình 133 Theo đó chương trình Mục tiêu quốc gia về XĐGN giai đoạn 1998-2000 bao gồm cả công tác định canh, định
cư và hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn, nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi, phù hợp để hỗ trợ người nghèo sản xuất, tăng thu nhập, XĐGN Đây là chương trình tổng hợp có tính chất liên ngành, nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, với mục tiêu là: giảm tỷ lệ hộ đói nghèo trong tổng số hộ của cả nước xuống còn 10% năm 2000 Chương trình được thực hiện trên phạm vi cả nước Trong những năm đầu tập trung ưu tiên các xã nghèo, đặc biệt khó khăn, vùng cao, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa Cũng trong năm 1998, Chính phủ còn ban hành Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu vùng xa (được gọi là chương trình 135-I) Trong đó 1000 xã đặc biệt khó khăn; 1715 xã được tập trung giải quyết trong năm 1999 Tháng 11/1999 Chính phủ đã tổ chức Hội nghị quốc gia về XĐGN Sau hội nghị Chính phủ
đã chỉ đạo phân công cán bộ, đoàn thể và các tỉnh khá giúp các tỉnh nghèo, khuyến khích các cơ quan, xí nghiệp, tổng công ty nhận giúp xã, huyện XĐGN Đảng và Nhà nước luôn luôn không ngừng quan tâm đưa ra những chính sách nhằm thực hiện mục tiêu XĐGN cho nhân dân Quá trình thực hiện trong những năm từ 1996 đến 2000, trên phạm vi cả nước - XĐGN đã đạt được nhiều thành tựu, nhất là sau khi Quyết định 135/1998-QĐ/TTg được ban
Trang 29còn 10% (1.165.000 hộ) năm 2000 (Theo chuẩn nghèo giai đoa ̣n 1998-2000); trung bình mỗi năm giảm 2%, chiếm tỷ lệ gần 1% tổng số hộ cả nước [31, tr.581] Như vậy về tổng thể, mục tiêu XĐGN đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng VIII đã cơ bản hoàn thành
1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về xóa đói, giảm nghèo
Từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới, tháng 11/1996, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã ra Nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó chia tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang
Ngày 12/12/1996, Bộ Chính trị ra quyết định số 125-QĐ-TƯ thành lập Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh và chỉ định Ban chấp hành lâm thời Ngày 18/12/1996, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 945-QĐ/TTg thành lập
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh lâm thời Theo đó, năm 1997, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh có 5 đảng bộ huyện là: Yên Phong, Thuận Thành, Gia Lương, Tiên Sơn, Quế Võ và Đảng bộ thị xã Bắc Ninh Thị xã Bắc Ninh được xác định là trung tâm của tỉnh lỵ Tỉnh Bắc Ninh được tái lập, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội và nguyện vọng thiết tha của đảng viên, cán bộ và nhân dân trong tỉnh
Từ kết quả đạt được cả về thành tựu cũng như hạn chế trong công tác XĐGN của địa phương giai đoạn trước năm 1997, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh mới tái lập đã rút ra một số kinh nghiệm bước đầu Đó chính là việc xác định chủ trương đúng đắn, quyết định kịp thời, chuẩn bị kỹ, có sự phối hợp của các cấp, các ngành bằng các chương trình công tác phân công cụ thể Trong triển khai thực hiện đảm bảo tính đồng bộ từ chủ trương đến biện pháp thực hiện
Về đầu tư, trong điều kiện vốn có hạn phải cân nhắc, tính toán có hiệu
quả cho các chương trình mục tiêu, phân bố Làm sao cho những đối tượng
Trang 30đói nghèo tiếp cận được nguồn vốn nhanh nhất, đồng thời phải hỗ trợ, hướng dẫn cho họ sử dụng nguồn vốn có hiệu quả nhất
Về con người, phải chăm lo giáo dục ý thức cho những người nghèo
vươn lên thoát nghèo không ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước Tuyên truyền giáo dục cho toàn thể nhân dân chung tay góp phần vào công tác XĐGN Mặt khác phải thường xuyên đào tạo nâng cao chất lượng của cán bộ làm công tác XĐGN cả về đức và tài
Sau khi phân tích đánh giá những kết quả thực hiện XĐGN tỉnh Hà Bắc trước năm 1997, Tỉnh ủy Bắc Ninh đã xác định những thuận lợi cũng như khó
khăn khi tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh XĐGN đến năm 2000:
Về thuận lợi, bước đầu thời kỳ CNH, HĐH cơ chế, chính sách của Nhà
nước được bổ sung ngày càng đầy đủ, nhất là chính sách về XĐGN Nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ VIII (1996) và các nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai, ba (khóa VIII) tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa đường lối đổi mới của Đảng; các cơ chế chính sách về kinh tế xã hội đang dần hoàn thiện Nền kinh tế nhiều thành phần đi vào hoàn thiện… Cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng của tỉnh đang từng bước được tăng cường, đầu tư theo hướng hiện đại, đảm bảo ổn định và phát triển tạo tiền đề cho công tác XĐGN
Về khó khăn, kinh tế xã hội của tỉnh còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng
chưa phát triển, điểm xuất phát thấp, thu chưa đủ chi, trình độ dân trí không đồng đều Đội ngũ cán bộ làm công tác XĐGN ở tỉnh còn yếu chưa đáp ứng được nhu cầu XĐGN Kết quả giảm nghèo không bền vững, tỷ lệ tái nghèo còn cao…
Trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các yếu tố đặc thù tình hình thực tế về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội của tỉnh, từ những thuận lợi, khó khăn, Đảng bộ và Chính quyền tỉnh Bắc Ninh theo thẩm
Trang 31quyền được phân cấp theo quy định của pháp luật đã đề ra chủ trương cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và XĐGN nói riêng
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XV (ngày 14 đến 17/10/1997) đã đề ra mục tiêu, phương hướng nhiệm vụ cho giai đoạn 1997-
2000 như sau: „„Phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng GDP lên 11,2%/năm Tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ để đến năm 2000 có tỷ trọng công nghiệp và xây dựng là 29,7%, dịch vụ là 33,8%, nông nghiệp là 36,5% (theo giá so sánh năm 1994) GDP bình quân đầu người đạt 390 USD‟‟[23, tr.528] Đồng thời, tiếp tục tiến hành: „„Xóa hộ đói, giảm hộ nghèo Cải thiện một bước điều kiện ăn,
ở, học hành, đi lại, chữa bệnh, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân‟‟[20, tr.23] Trên cơ sở đó, Đảng bộ đề ra nhiệm vụ cụ thể: „„Một mặt, khuyến khích những người có điều kiện vươn lên làm giàu chính đáng; mặt khác, tiếp tục thực hiện tốt chương trình xóa đói, giảm nghèo, giúp hộ nghèo kinh nghiệm sản suất, thực hiện tốt các dự án cho vay vốn, mở rộng và quản
lý sử dụng có hiệu quả quỹ xóa đói, giảm nghèo… Phấn đấu đến năm 2000 cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 10%‟‟ [20, tr.38] Hoàn thành nhiệm vụ này, việc thực hiện XĐGN sẽ góp phần rất to lớn vào việc ổn định chính trị xã hội và công cuộc phát triển kinh tế của tỉnh
Để thực hiện tốt những chủ trương chính sách về XĐGN của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã tập trung vào chỉ đạo tổ chức và tạo môi trường thuận lợi nhất để thực hiện chương trình XĐGN Bên cạnh đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng thường xuyên quan tâm, theo dõi tình hình để đề ra những quyết sách đúng đắn, ban hành những chỉ thị cụ thể để cho những cơ quan hữu quan thực hiện Một trong những hình thức quan trọng được Tỉnh ủy tập trung thực hiện là thông qua các Ban cán sự Đảng hoạt động ngay trong các sở, ban, ngành Ban cán sự Đảng có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, giải thích những chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh, đồng thời chỉ đạo quá trình tổ chức thực
Trang 32hiện những chủ trương, chính sách đó tại cơ quan mình hoạt động Hình thức này đảm bảo việc lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, trực tiếp tránh tình trạng quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tế
Để triển khai những chủ trương Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XV của tỉnh Bắc Ninh vào thực hiện thực tế, Tỉnh ủy đã ra quyết định số 06/NQ-TU ngày 31/08/1998 với mục tiêu tổng quát: „„Phấn đấu đến năm 2000 giải quyết
cơ bản hộ đói, giảm hộ nghèo của tỉnh xuống còn 10%‟‟ [59, tr.3] Nghị quyết cũng đưa ra các giải pháp thực hiện mục tiêu XĐGN Các giải pháp này chủ yếu xoay quanh việc xây dựng một hệ thống các chính sách hỗ trợ XĐGN, tăng cường bổ trợ cho công tác XĐGN; tổ chức lồng ghép các chương trình XĐGN với các chương trình khác; đẩy mạnh công tác xã hội hóa; phát huy tinh thần tự lực vươn lên thoát nghèo của bản thân người nghèo; củng cố và tăng cường vai trò và trách nhiệm của hệ thống tổ chức và chỉ đạo; tăng cường công tác thông tin tuyên truyền để nâng cao nhận thức của các cấp ủy, của nhân dân về XĐGN
Theo đó, đẩy mạnh việc triển khai chương trình quốc gia về giải quyết việc làm, chương tình XĐGN Tổ chức đào tạo và đào tạo lại một bộ phận lực lượng lao động Đẩy mạnh hoạt động của Trung tâm dịch vụ việc làm Tổ chức tốt đời sống xã hội trên từng địa bàn dân cư, thực hiện tốt chế độ bảo hiểm xã hội, mở rộng phong trào đền ơn đáp nghĩa, đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo, từ thiện Mặt khác, tỉnh cũng đầy mạnh phát triển các khu công nghiệp như Tiên Sơn để thu hú t lao động, giải quyết việc làm cho nhân dân nhất là lao động nghèo
Nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ này, UBDN tỉnh ra quyết định số 141/UB ngày 9/6/1997 kiện toàn Ban chỉ đạo XĐGN các cấp và Quyết định số 18/1999/QĐ-UB ngày 17/3/1999 ban hành chương trình XĐGN giai đoạn (1999-2000) với những giải pháp cụ thể: „„Các cấp ủy, chính quyền cần xây
Trang 33dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để xóa đói giảm nghèo Tập chung các nguồn lực xây dựng kinh tế nông thôn, đặc biệt là các vùng khó khăn Chuyển mạnh cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động Tăng cường cho nhân dân vay vốn sản xuất chung và dài hạn Hướng dẫn nhân dân cách làm ăn, hỗ trợ giúp nhau là kinh tế gia đình Xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn, thực hiện các giải pháp đồng bộ, thiết thực xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống‟‟ [62, tr.5] Đồng thời nhiều nguồn lực được động viên cho công tác XĐGN nhiều chương trình kinh tế- xã hội được lồng ghép trên địa bàn toàn tỉnh nhằm đạt được mục tiêu XĐGN, nâng cao mức sống của nhân dân
1.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo ở Bắc Ninh từ 1997- 2001
1.3.1.Tổ chức thực hiện xóa đói, giảm nghèo
Viê ̣c thành lập Ban chỉ đạo XĐGN tỉnh Bắc Ninh được tiến hành ngày 1/9/1998 Sau khi Ban chỉ đạo công tác XĐGN được thành lập ở Trung ương
thì lần lượt ở các địa phương trong cả nước, Ban chỉ đạo công tác này cũng dần được tổ chức và kiện toàn Từ đây, việc thực hiện chính sách XĐGN đã
có sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, các tỉnh còn nghèo, đặc biệt là các tỉnh mới tái lập như tỉnh Bắc Ninh đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ từ Đảng và Nhà nước
Thực hiện Nghị quyết số 06/NQ-TU ngày 31/8/1998 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã có Quyết định số 141/UB về việc thành lập Ban chỉ đạo XĐGN của tỉnh gồm 16 đồng chí thành viên là lãnh đạo các cơ quan ban, ngành, của tỉnh do đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban chỉ đạo Giám đốc sở LĐTB&XH làm Phó Trưởng ban Thường trực để giúp Tỉnh ủy, UBND tỉnh kiểm tra đôn đốc, nắm kết quả thực hiện chương trình XĐGN Đảm bảo sự chỉ đạo tập trung thống nhất và có hiệu quả trong hệ thống Ban chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở thực hiện chương trình XĐGN của tỉnh giai đoạn 1997-2000 Gồm có 05 dự án giao cho các ngành chức năng thực hiện đó là:
Trang 34(1) Dự án hỗ trợ về giáo dục (Sở Giáo dục- Đào tạo), (2)Dự án hỗ trợ về y tế (Sở y tế- Bảo hiểm y tế), (3) Dự án hỗ trợ về tín dụng (Ngân hàng phục vụ người nghèo), (4) Dự án phổ biến hướng dẫn kiến thức công nghệ sản xuất cho người nghèo (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), (5) Dự án hỗ trợ sản xuất, phát triển ngành nghề (Sở LĐTB&XH) Tổng nguồn vốn cho các trương trình, dự án là 92.357,96 triệu đồng [59, tr.5]
Sau hội nghị triển khai của tỉnh, Nghị quyết 06 của Ban Thường vụ Tỉnh
ủy, Quyết định số 141/UB của UBND tỉnh Bắc Ninh về kế hoạch chương trình XĐGN đã được triển khai tới các cấp Ủy, UBND từ cấp huyện đến xã, phường để thành lập Ban Chỉ đạo Tất cả huyện, thị xã đã thành lập được Ban Chỉ đạo XĐGN Ban Chỉ đạo các cấp đã xây dựng chương trình XĐGN ở địa phương mình Thực hiện chủ trương của Ban Chỉ đạo XĐGN tỉnh, Ngành LĐTB&XH phối hợp với cục Thống kê đã tiến hành chỉ đạo điều tra, khảo sát, xem xét lại cụ thể các hộ đói nghèo của từng thôn xóm trên cơ sở chuẩn mực đói nghèo của Bộ LĐTB&XH quy định Đồng thời xác định những nguyên nhân đói nghèo của những hộ này, trên cơ sở đó giúp Ban Chỉ đạo XĐGN tỉnh có chủ trương đúng trong công tác điều hành
Qua điều tra thấy, có hai nhóm nguyên nhân cơ bản dẫn đến đói nghèo ở Bắc Ninh đó là: Nhóm nguyên nhân xuất phát từ ngay trong nội tại người nghèo, trong đó số hộ thiếu vốn sản xuất kinh doanh chiếm 54,9%, số hộ do thiếu phương tiện sản xuất chiếm 14,5%, số hộ thiếu đất canh tác chiếm 9%,
số hộ không nắm được kỹ thuật sản xuất chiếm 9,4%, số hộ thiếu việc làm chiếm 10,3%, số hộ gặp rủi do, ốm đau, bệnh tật chiếm 7,8%, số hộ do nguyên nhân khác chiếm 4,4%; nhóm nguyên nhân có tính chất xã hội [56, tr.4] Những nguyên nhân này đã tác động trực tiếp đến khả năng sản xuất và đời sống của người nghèo Nhiều gia đình thiếu đói triền miên không thể tự vươn lên khắc phục được mà đòi hỏi phải có sự trợ giúp của Nhà nước và
Trang 35cộng đồng Từ việc phân tích các nguyên nhân này, đảng bộ tỉnh Bắc Ninh tổ
chức thực hiện những giải pháp XĐGN để khắc phục những nguyên nhân đó
Thứ nhất, đề ra các giải pháp giải quyết triệt để nguyên nhân gây đói nghèo
Tổ chức thực hiện giải pháp về vốn: Nhằm khắc phục thực trạng thiếu
vốn sản xuất (nguyên nhân quan trọng dẫn đến đói nghèo và số hộ đó chiếm 54,8%), thì việc cấp thiết được tiến hành là tạo điều kiện cho hộ nghèo vay vốn với lãi xuất thấp để phát triển sản xuất Đây là một giải pháp hết sức quan trọng để thực hiện chủ trương XĐGN trong điều kiện ngân sách của Nhà nước
và đầu tư cho trương trình XĐGN của tỉnh còn hạn hẹp, chưa thể trong một thời gian ngắn đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi về vốn sản xuất cho các hộ đói nghèo Theo đó, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở thường xuyên quan tâm chỉ đạo phát huy nội lực trong nhân dân và lồng ghép các
chương trình đầu tư cho chủ trương cho XĐGN dưới nhiều hình thức:
Huy động nguồn vốn trong cộng đồng dân cư (vốn xã hội hóa): Hội phụ
nữ đã vận động phong trào hội viên khá giúp đỡ hội viên nghèo đói để có điều kiện phát triển kinh tế gia đình Với tinh thần lá lành đùm lá rách, phong trào này đã trở thành hoạt động thường xuyên liên tục ở 100% cơ sở xã phường trong tỉnh Trong 4 năm 1997-2000, các cấp hội phụ nữ đã vận động được 15.414 chị em có kinh tế khá giúp được 17.727 chị em khó khăn về kinh tế bằng tiền, vàng, vật tư con giống trị giá mỗi năm gần 2 tỷ đồng Điển hình là hội phụ nữ huyện Quế Võ trung bình mỗi năm có trên 3000 hộ gia đình phụ
nữ được giúp cho vay không lấy lãi thóc giống, gạo, con giống, tiền, vàng trị giá trên 200 triệu đồng [60, tr.3]
Cùng với phong trào phụ nữ có kinh tế khá giúp đỡ phụ nữ nghèo, các
mô hình tổ phụ nữ “tương trợ”, tổ phụ nữ “tiết kiệm” cũng được tổ chức hội phụ nữ các cấp chú trọng chỉ đạo, thực hiện nhằm huy động vốn dư trong tầng lớp phụ nữ Đến năm 2000 toàn tỉnh đã xây dựng được 1380 tổ phụ nữ tương trợ, tiết kiệm thu hút 25274 chị tham gia với số vốn tiết kiệm là 1,2 tỷ đồng
Trang 36[60, tr.4] Ngoài ra còn có quỹ “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo” do Trung ương hội phụ nữ phát động từ năm 1994 đến nay nhằm huy động nguồn vốn
từ các tổ chức, đơn vị, các nhà hảo tâm trong tỉnh
Trong những năm qua các cấp hội nông dân tỉnh đã phát động phong trào quyên góp xây dựng quỹ ủng hộ nông dân nghèo (chỉ tính riêng năm 1998 có 67/119
xã thành lập được quỹ ở 5 huyện thị với số tiền là 442,907 triệu đồng) [60, tr.6] Các cấp hội Nông dân còn kết hợp ngân hàng nông nghiệp tổ chức các hộ vay vốn đúng đối tượng, kịp thời hiệu quả bình quân mỗi năm có hàng nghìn lượt hộ vay vốn phát triển sản xuất, đồng thời các tổ chức hội thường xuyên làm tốt công tác vận động nội bộ nông dân để giúp nhau về giống, vốn, vật tư kỹ thuật trị giá hàng chục tỷ đồng Nhiều huyện đã thực hiện tốt công tác này như huyện Thuận Thành, Yên Phong, Gia Bình, Lương Tài
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cũng đã huy động 950 triệu đồng đầu tư cho các dự án nuôi gà công nghiệp, lợn hướng nạc giúp cho nhiều đoàn viên thoát nghèo cải thiện đời sống Mở các lớp tập huấn cho 1.250 cán bộ đoàn cơ sở và 18.950 đoàn viên về kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi [60, tr.7]
Ngoài ra quỹ tín dụng nhân dân đã đi vào hoạt động khá ổn định và đạt hiệu quả kinh tế cao đã giải quyết cho nhiều hộ xã viên vay vốn, góp phần giải quyết những khó khăn về vốn cho sản xuất của các hộ nông dân tổ chức sản xuất tiểu thủ công nghiệp góp phần vào việc thực hiện chương trình XĐGN
Trích ngân sách đầu tư quỹ XĐGN: Mặc dù ngân sách tỉnh còn nhiều
khó khăn nhưng tỉnh cũng đã đầu tư được 2.809 triệu đồng hỗ trợ cho
chương trình [60, tr.7]
Nguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương: Vốn từ các chương trình phát triển
kinh tế xã hội tạo việc làm đầu tư lồng ghép trong các chương trình
Trang 37Quỹ quốc gia giải quyết việc làm thẩm định cho vay trong 3 năm được 578 dự án phát triển sản xuất cùng với các nguồn vốn từ các dự án của các năm trước (khi chưa tái lập tỉnh) của các chương trình Việt Tiệp, chương trình 120 [60, tr.7]
Dự án VIE 95-PO2 tại huyện Yên Phong với số vốn 750 triệu đồng cho
750 hội viên phụ nữ vay để phát triển kinh tế gia đình đề đạt hiệu quả.Và xây dựng nguồn vốn từ ngân hàng phục vụ người nghèo [60, tr.7]
Thứ hai, tổ chức hướng dẫn kỹ thuật kinh nghiệm sản xuất giúp các hộ đói nghèo tự tạo dựng việc làm tăng thu nhập vươn lên XĐGN
Các giải pháp về vốn đã giúp các hộ đói nghèo có có vốn để sản xuất, tuy nhiên làm thế nào để nguồn vốn đó thực sự phát huy có hiệu quả lại là một vấn đề được Ban Chỉ đạo XĐGN quan tâm tiến hành Ở Bắc Ninh, để sử dụng đồng vốn có hiệu quả, Ban Chỉ đạo XĐGN đã tổ chức các lớp đào tạo hướng dẫn kinh nghiệm sản xuất và chuyển giao kiến thức khoa học kỹ thuật cho các
hộ nghèo đói, để họ biết cách sản xuất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp với từng gia đình, nhằm tạo ra năng suất cao, nâng cao dần thu nhập cho các hộ đói nghèo
Các cấp, các ngành, các đoàn thể ở cơ sở đã tích cực tổ chức thực hiện được nhiều lớp bồi dưỡng kiến thức khoa học - kỹ thuật cho các hội viên và các hộ nông dân trong đó có nhiều hội viên là các hộ nghèo đói Hội Nông dân tỉnh đã tổ chức được 715 lớp với 23.980 lượt chủ hộ được tập huấn trang
bị kiến thức cơ bản về thâm canh lúa, ngô, lạc, đỗ tương và chăm sóc gia súc, gia cầm, đồng thời tổ chức cho các hộ nông dân giỏi phổ biến kiến thức làm giàu trên cây, con đặc sản và các mô hình sản xuất về chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ở nông thôn [59, tr.4]
Hội Phụ nữ tỉnh trong những năm 1997-2000 đã chỉ đạo phối kết hợp các cấp mở được 2.241 lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật về sử dụng giống cây
Trang 38trồng, vật nuôi cho năng suất cao, cách phòng tránh bệnh cho hoa màu, gia súc, gia cầm cho 27.011 lượt cán bộ [59, tr.5]
Đoàn Thanh niên tổ chức tập huấn cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên về kiến thức nuôi trồng cây con, thủy đặc sản có năng suất giá trị kinh tế cao như nuôi bò, baba, lớn nái điển hình như lớp tập huấn khoa học kỹ thuật cho 300 đoàn thanh niên ơ hai huyện Gia Bình và Lương Tài, lớp khoa học công nghệ
và môi trường cho 400 đoàn thanh niên ở hai huyện Tiên Du và Từ Sơn [59, tr.5]
Ngoài ra, các Trung tâm Dịch vụ việc làm ở Sở LĐTB&XH tỉnh Bắc Ninh; Trung tâm khuyến nông, Trung tâm bảo vệ thực vật của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã mở nhiều lớp đào tạo, dạy nghề, hướng dẫn kinh nghiệm sản xuất, nuôi trồng các loại cây, con mới cho hàng chục nghìn lượt người tham gia
Các tổ liên gia, hội nghề nghiệp, hội làm vườn trong nhân dân tự tổ chức học hỏi kinh nghiệm sản xuất, làm vườn, thâm canh, tăng vụ, nuôi trồng các loại cây con đặc sản Phong trào này được phát triển khá rộng rãi trong toàn tỉnh Nhờ có thêm kiến thức, hiểu biết về kinh nghiệm sản xuất và được vay vốn XĐGN nhiều hộ nông dân nghèo đã chuyển biến nhận thức từ chỗ không biết làm đến biết sản xuất có hiệu quả để tạo việc làm tăng thu nhập phát triển kinh tế gia đình
Trong những năm 1997-2000, nhiều đề tài khoa học đã được các hộ nông dân ứng dụng có hiệu quả, đã xây dựng thành công mô hình sản xuất mới phù hợp với điều kiện khí hậu ở từng vùng như “Phát triển chăn nuôi lợn nái, thịt bò và baba” ở huyện Tiên Du, “Chăn nuôi lợn nái và trồng cây hoa quả” ở huyện Yên Phong [59, tr.6] tạo nên những điều kiện mới cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất phát triển kinh tế nông thôn thu hút thêm được nhiều lao động có công ăn việc làm
Các làng nghề truyền thống như: Trạm khắc gỗ xã Đồng Kỵ, Đồng
Trang 39Phong), sắt Đa Hội (Từ Sơn), đúc đồng Đại Bái (Gia Bình) cũng thu hút được hàng ngàn lao động
Việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn trên địa bàn tỉnh đã ngày càng thúc đẩy các hoạt động dịch vụ mở mang sản xuất, phát triển ngành nghề thu hút thêm được nhiều lao động có công ăn việc làm tạo ra một khối lượng của cải vật chất đáng kể cho xã hội Các cơ sở vật chất
hạ tầng (điện, đường, trường, trạm) ngày càng được nâng cấp và phát triển, có tác động đến quá trình tiếp thị, phân phối lưu thông tiêu thụ hàng hóa trong nông thôn Điều này ngày càng rút ngắn dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, tạo điều kiện nâng cao dân trí cũng như phát triển về mọi mặt kinh
tế- chính trị- xã hội của tỉnh
Quá trình thực hiện các giải pháp về vốn và hướng dẫn các kiến thức, kỹ thuật sản xuất cho các hộ đói nghèo trong những năm 1997-2000 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã giải quyết được một mặt rất lớn trong các nguyên nhân gây nên tình trạng đói nghèo của tỉnh Theo điều tra, trên địa bàn tỉnh giai đoạn này, có đến 54,9% người nghèo do thiếu vốn sản xuất và 9,4% người nghèo
do không nắm được kỹ thuật sản xuất, do vậy việc thực hiện đồng bộ các giải pháp về vốn đã giúp người nghèo cơ bản có được phương tiện để sản xuất Bên cạnh đó, người nghèo ở Bắc Ninh lại được hướng dẫn kiến thức kỹ thuật
để giúp sử dụng nguồn vốn có hiệu quả nhất mà không bị lãng phí Đây là một giải pháp đúng đắn, giúp các hộ nghèo dần thoát nghèo vươn lên làm giàu, đồng thời cũng hạn chế được hiện tượng tái nghèo.Việc thực hiện tốt giải pháp này cùng là tiền đề để Ban Chỉ đạo XĐGN ở Bắc Ninh đưa ra những chính sách tiếp theo để giúp các hộ đói nghèo trong các giai đoạn tiếp theo
Thứ ba, tổ chức thực hiện các giải pháp đồng bộ về chính sách
Bên cạnh các chính sách ưu đãi cho hộ nghèo vay vốn và tổ chức chuyển giao khoa học- kỹ thuật, việc đảm bảo đất canh tác cho nông dân sản xuất là
rất quan trọng Do đó, tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện Chính sách về ruộng đất và
Trang 40miễn giảm thuế nông nghiệp cho các giai đình đói nghèo Năm 2000, toàn tỉnh
đã hoàn thành việc giao quỹ đất sản xuất nông nghiệp cho hộ nông dân, đồng thời cũng thực hiện chương trình các hộ nghèo đói được quan tâm giúp đỡ trong sản xuất Ban Chỉ đạo XĐGN đã tổ chức hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, giống, vốn trong sản xuất Những hộ chính sách, hộ nghèo đói được miễn giảm thuế nông nghiệp.Trong các năm 1997-2000 đã miễn giảm cho 17.572 gia đình với số thóc là 1.152.932 kg và miễn thuế do bị thiên tai cho 22.150
gia đình với số thóc 240.213kg [60, tr.2]
Cùng với XĐGN về vật chất, công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho
người nghèo trên địa bàn tỉnh cũng rất được quan tâm Các hộ đói nghèo được
chăm sóc sức khỏe khám chữa bệnh miễn phí ở các cơ sở y tế của nhà nước Cùng với khám chữa bệnh cho người nghèo ngành y tế đã không ngừng quan tâm đầu tư nâng cấp các cơ sở y tế trong tỉnh, cũng như bổ sung các trang thiết bị cho các cơ sở y tế các xã phường để giúp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân nói chung và người nghèo nói riêng ngay tại cấp cơ sở
Vấn đề giáo dục và đào tạo cho các xã nghèo và hộ nghèo là một trong
những chính sách xã hội trong việc thực hiện XĐGN Do vậy, chương trình
giáo dục và đào tạo cũng được các ngành, các cấp đã quan tâm Tỉnh Bắc
Ninh tăng cường đầu tư cơ sở vật chất xây dựng và nâng cấp các trường học, nhất là 19 xã kinh tế khó khăn trong tỉnh Ngành đã đầu tư được 310 triệu đồng cho các xã này, hầu hết các trường đều ổn định về địa điểm trường học đảm bảo đủ phòng học, bàn ghế học sinh cho các cấp học [60, tr.3] Mặc dù ngân sách còn nhiều khó khăn, song các xã đã cố gắng huy động sức dân cùng tham gia đóng góp đầu tư xây dựng được nhiều phòng học cao tầng kiên cố Thực hiện chương trình XĐGN các em học sinh con các hộ đói nghèo đang theo học ở các cấp học phổ thông trong tỉnh đều được miễn đóng tiền học phí, tiền xây dựng trường Học sinh con các hô ̣ quá nghèo đều được cấp học bổng