Hiện nay, một số đơn vị thuộc Bộ KH&CN và các bộ, ngành, các trường đại học, học viện, trung tâm thông tin, thư viện các tỉnh, thành phố đã và đang xây dựng các CSDL khác nhau phục vụ ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-****** -
Ư NG TH PHƯ NG
C CH CHIA S NGU N TIN ĐI N T
V KHOA HỌC VÀ C NG NGH GI A C C
C QUAN TH NG TIN THƯ VI N VI T NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VI N
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-****** -
DƯ NG TH PHƯ NG
C CH CHIA S NGU N TIN ĐI N T
V KHOA HỌC VÀ C NG NGH GI A C C
C QUAN TH NG TIN THƯ VI N VI T NAM
Chuyên ngành: Khoa học Thông tin - Thư viện
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VI N
Người hướng dẫn khoa học: TS Tạ Bá Hưng
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
thạc sĩ khoa học
HÀ NỘI - 2015
Trang 3X C NHẬN CỦA HỘI Đ NG CHẤM LUẬN VĂN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
CHỦ T CH HỘI Đ NG
PGS.TS TR N TH QU
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Tiến sĩ Tạ Bá Hưng, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới các thày cô giáo, giảng viên trong và ngoài khoa Thông tin Thư viện của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nơi tôi theo học, các đồng nghiệp đang công tác tại các cơ quan thông tin thư viện trong cả nước đã nhiệt tình hợp tác giúp tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, ban lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả Dương Thị Phương
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHIA SẺ NGUỒN TIN ĐIỆN TỬ GIỮA CÁC CƠ QUAN THÔNG TIN THƯ VIỆN VIỆT NAM 13
1.1 Các khái niệm chung 13
1.1.1 Nguồn tin điện tử 13
1.1.2 Liên hợp thư viện 14
1.1.3 Cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử 16
1.1.4 Tiêu chí đánh giá cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử 17
1.2 Chia sẻ nguồn tin điện tử: thách thức và thời cơ cho các cơ quan
thông tin - thư viện 25
1.2.1 Thời cơ 26
1.2.2 Thách thức 32
1.3 Các mô hình chia sẻ thông tin của các thư viện, tổ chức đào tạo và
nghiên cứu trên thế giới 37
1.3.1 Các hiệp hội, tổ chức quốc tế hỗ trợ hoạt động chia sẻ nguồn lực thông tin trên thế giới 37
1.3.2 Các liên hợp thư viện tại một số quốc gia trên thế giới 40
1.3.3 Truy cập nguồn tin điện tử KH&CN miễn phí 56
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG CƠ CHẾ CHIA SẺ NGUỒN TIN ĐIỆN TỬ
VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIỮA CÁC CƠ QUAN THÔNG TIN - THƯ VIỆN VIỆT NAM 73
2.1 Chia sẻ nguồn tin điện tử giữa các cơ quan thông tin - thư viện đại học và cao đẳng ở Việt Nam 74
2.1.1 Khái quát về hoạt động của một số Liên hiệp thư viện ở Việt Nam 74
2.1.2 Hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử giữa các cơ quan thông tin thư viện đại học và cao đẳng ở Việt Nam 80
2.1.3 Nhận xét, đánh giá chung 81
2.2 Cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ giữa các
cơ quan thông tin - thư viện thông qua Liên hợp thư viện Việt Nam về
nguồn tin điện tử 81
Trang 62.2.1 Khái quát sự hình thành và phát triển của liên hợp thư viện Việt Nam về
nguồn tin điện tử 81
2.2.2 Khảo sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của Liên hợp thư viện
Việt Nam 92
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHIA SẺ
NGUỒN TIN ĐIỆN TỬ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIỮA CÁC
CƠ QUAN THÔNG TIN - THƯ VIỆN VIỆT NAM 143
3.1 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam về hình thành và vận hành cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử giữa các cơ quan thông tin - thư viện 143
3.1.1 Điều kiện tiên quyết để hình thành và vận hành cơ chế chia sẻ
nguồn tin 143
3.1.2 Điều kiện đảm bảo vận hành hiệu quả cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử 147
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả chia sẻ nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ giữa các cơ quan TT-TV Việt Nam 150
3.2.1 Thể chế hóa hoạt động của Liên hợp thư viện Việt Nam 150
3.2.2 Phối hợp giữa các bộ, ngành trong việc bổ sung, cập nhật các nguồn tin điện tử về KH&CN 150
3.2.3 Duy trì và phát triển Liên hợp thư viện Việt Nam về các nguồn tin KH&CN 151
3.2.4 Tăng cường mua quyền khai thác các nguồn tin điện tử về KH&CN
để chia sẻ ở quy mô cả nước hoặc thông qua Liên hợp thư viện Việt Nam 152
3.2.5 Tăng cường sự ủng hộ của lãnh đạo các cơ quan chủ quản và lãnh đạo
các thư viện đối với Liên hợp thư viện Việt Nam 153
3.2.6 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giới thiệu về Liên hợp thư viện
Việt Nam trong cả nước 153
3.2.7 Đẩy mạnh việc giới thiệu và chia sẻ các nguồn tin điện tử nội sinh
trong nước có thể khai thác qua Liên hợp thư viện Việt Nam 154
3.2.8 Hướng dẫn kỹ năng khai thác các nguồn tin điện tử tại các trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu, các bệnh viện, v.v 155
3.2.9 Đẩy mạnh “truy cập mở” tới các tạp chí trong nước và quốc tế 155
KẾT LUẬN 159
TÀI LIỆU THAM KHẢO 160
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Các từ viết tắt tiếng Việt
2 Các từ viết tắt tiếng Anh
International Federation of Library Associations and Institutions - Liên đoàn quốc tế các hiệp hội thư viện
The International Network for the Availability of Scientific Publications - Mạng lưới quốc tế các công bố khoa học
Programme for the Enhancement of Research Information - Chương trình tăng cường thông tin cho nghiên cứu
Nam trực tuyến
Vietnam Library Consortium on e-resources - Liên hợp Thư viện Việt Nam về nguồn tin điện tử, gọi tắt là Liên hợp thư viện Việt Nam
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Biểu đồ 1: Nhận định về nguồn tin điện tử miễn phí
(khảo sát của T&F, tháng 4, 2013) 58
Biểu đồ 2: Mức độ hữu ích của các nguồn tin điện tử 61
Biểu đồ 3: Tỷ lệ đóng góp kinh phí đặt mua CSDL từ 2006 đến 2013 94
Biểu đồ 4: Thống kê tình hình sử dụng EBSCO và Blackwells 102
Biểu đồ 5: Thống kê tình hình sử dụng CSDL ProQuest Central theo tháng của
Liên hợp Thư viện Việt Nam thời kỳ 2009-2012 104
Biểu đồ 6: Số lượng các đơn vị tham gia Liên hợp thư viện Việt Nam 117
Biểu đồ 7: Số lượng các cơ quan thông tin, thư viện tham gia phối hợp bổ sung
kinh phí qua LHTV từ năm 2007-2013 120
Biểu đồ 8: Số lượng các cơ quan thông tin thư viện tham gia các kỳ họp thường niên của Liên hợp thư viện Việt Nam từ 2011-2013 122
Biểu đồ 9: Mức độ đáp ứng nhu cầu tin 126
Biểu đồ 10: Kinh phí bổ sung tài liệu của mỗi đơn vị thành viên 127
Biểu đồ 11: Chi phí cho một bài tải xuống khi tham gia 129
Biểu đồ 12: Giá cả 1 tài liệu năm 2009 131
Biểu đồ 13: Lợi ích khi tham gia Liên hợp từ phía các thành viên 132
Biểu đồ 14: Các vấn đề được giải quyết khi phối hợp bổ sung 133
Biểu đồ 15: Kết quả đánh giá hiệu quả các hoạt động khác của 136
Biểu đồ 16: Các giải pháp nâng cao hiệu quả cơ chế chia sẻ 157
II DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1: Mô hình các nhóm công tác của Liên hợp thư viện Việt Nam 88
Hình 2: Trang web chính thức của Liên hợp thư viện Việt Nam 92
Hình 3: Các khối cấu thành Liên hợp thư viện Việt Nam 139
Trang 9III DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Tình hình bổ sung nguồn tin điện từ của 93
Bảng 2: Tỉ lệ đóng góp kinh phí đặt mua CSDL qua các năm 94
Bảng 3: Số liệu thống kê tình hình sử dụng EBSCO và Blackwells 102
Bảng 4: Số liệu thống kê tình hình sử dụng CSDL ProQuest Central 103
Bảng 5: Số liệu thống kê tình hình sử dụng CSDL ProQuest Central theo tháng
của Liên hợp thời kỳ 2009-2012 103
Bảng 6: Danh mục tạp chí đăng tải trên VJOL năm 2013 107
Bảng 7: Số lượng các cơ quan TT-TV 120
Bảng 8: Số lượng các cơ quan thông tin - thư viện tham gia các kỳ họp thường niên của Liên hợp qua các năm 121
Bảng 9: Hoạt động tìm kiếm và tải tài liệu của các thành viên 125
Bảng 10: Số lượt truy cập, tìm kiếm thông tin qua các năm của Liên hợp 125
Bảng 11: Mức độ đáp ứng nhu cầu tin 126
Bảng 12: Kinh phí bổ sung tài liệu của mỗi đơn vị thành viên 127
Bảng 13: Chi phí cho một bài tải xuống khi tham gia Liên hợp qua các năm (USD) 128
Bảng 14: Giá cả 1 tài liệu năm 2009 130
Bảng 15: Lợi ích khi tham gia Liên hợp từ phía các thành viên 132
Bảng 16: Kết quả đánh giá hiệu quả các hoạt động khác của 136
Bảng 17: Các nguồn tin được các thành viên sẵn sàng chia sẻ qua Liên hợp 140
Bảng 18: Các giải pháp nâng cao hiệu quả cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử về KH&CN giữa các cơ quan thông tin - thư viện Việt Nam 157
Trang 10
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ý tưởng và giá trị thông tin đã được Bernard Shaw từ lâu diễn tả bằng hình tượng: “Nếu mỗi người có một quả táo mà trao đổi với nhau thì chỉ được một quả táo Nhưng nếu mỗi người có một ý tưởng và trao đổi với nhau thì kết quả mỗi người sẽ có hai ý tưởng” Trong những năm gần đây, sự bùng nổ thông tin diễn ra mạnh mẽ Hàng năm, có tới hàng triệu đầu sách và ấn phẩm định kỳ mới xuất hiện, các cơ sở dữ liệu xuất hiện ngày càng nhiều và đa dạng Song song với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT ở Việt Nam (Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tốc độ phát triển CNTT trên thế giới) thì thông tin ngày càng gia tăng theo cấp số mũ Các cơ quan TT-TV, dù
là cơ quan lớn của quốc gia phát triển cũng phải đương đầu với một vấn đề nan giải: Một mặt là khối lượng và giá cả xuất bản phẩm KH&CN (bao gồm cả dạng giấy và dạng điện tử) ngày một tăng và nguồn tài chính của mỗi cơ quan thông tin cho công tác phát triển nguồn tin thì vô cùng hạn chế Hơn nữa, cũng không thể phủ nhận một thực tế là chiến lược tạo nguồn và sử dụng nguồn lực thông tin của các cơ quan thông tin, thư viện trong thời đại “bùng nổ thông tin” hiện nay khá rời rạc Việc hoạt động độc lập có thể tạo ra nét riêng về mặt nội dung, tạo ra sự phong phú ở mức độ nhất định nhưng tình trạng này lại gây ra sự trùng lặp, thiếu đồng bộ, thiếu mạng lưới, gây lãng phí công sức và tiền bạc của xã hội Vì vậy, chia sẻ nguồn tin KH&CN nói chung, nguồn tin điện tử KH&CN nói riêng qua một chương trình chia sẻ nguồn lực đích thực là việc làm cần thiết Việc chia sẻ nguồn tin điện tử KH&CN một cách có hiệu quả và có mạng lưới sẽ cung cấp cho người dùng một lượng tài liệu ở diện rộng hơn rất nhiều so với khả năng có thể của một cơ quan thông tin, thư viện khi hoạt động độc lập
Ở Việt Nam, KH&CN đang và sẽ trở thành nền tảng và động lực cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế Thông tin đặc biệt là thông tin KH&CN phải được đổi mới, phát triển và phổ biến góp phần tăng cường năng lực nội sinh cho
sự phát triển nói chung Trong “Đề án hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ đến năm 2020” do Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số 735/QĐ-TTg ngày 14/5/2011, Tăng cường nguồn lực thông tin phục vụ hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ được coi là một trong 5 nhiệm vụ chính trong đó có đề cập tới việc
Trang 11chia sẻ, cập nhật kiến thức về KH&CN, sử dụng và khai thác có hiệu quả các phương tiện phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hỗ trợ các thư viện điện tử trong nước liên kết với các thư viện điện tử của các trường đại học, các viện nghiên cứu trong khu vực và trên thế giới phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, giáo dục và đào tạo
Hiện nay, một số đơn vị thuộc Bộ KH&CN và các bộ, ngành, các trường đại học, học viện, trung tâm thông tin, thư viện các tỉnh, thành phố đã và đang xây dựng các CSDL khác nhau phục vụ cho công tác quản lý và triển khai các hoạt động phục
vụ cho sự phát triển của ngành, song song với đó hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử KH&CN và hoạt động chia sẻ các nguồn tin nội sinh còn chưa phát triển mạnh, việc đóng góp mua chung các CSDL có giá trị lớn mới đang được tiến hành nhưng còn chưa có mạng lưới và thường xuyên
Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020 đưa ra mục tiêu tổng quát
và 5 nhóm mục tiêu cụ thể trong đó ở nhóm mục tiêu thứ 2: Vào năm 2020, có một số
lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến, hiện đại của khu vực ASEAN và thế giới Thước đo tổng quát giúp thể hiện mục tiêu tiên tiến, hiện đại là số lượng công bố quốc tế và số sáng chế đăng bảo hộ Để đạt được mục tiêu này, mạng lưới thông tin KH&CN quốc gia
phải được phát triển một cách đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm, chia
sẻ thông tin giữa các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu trong nước với các chuyên gia nước ngoài và phổ biến các kết quả nghiên cứu của họ với cộng đồng quốc tế
Nếu thiếu những thông tin, dữ liệu liên quan cần thiết thì không những hiệu quả tổng thể của việc thực hiện Đề án hay Chiến lược không cao như kỳ vọng mà việc triển khai các hoạt động cụ thể trong mọi khâu, đối với mọi đối tác, tổ chức, cơ quan hữu quan cũng sẽ gặp không ít khó khăn
Hiện nay, một số đơn vị thuộc Bộ KH&CN và các bộ, ngành, các trường đại học, học viện, trung tâm thông tin, thư viện các tỉnh, thành phố đã và đang xây dựng các CSDL khác nhau phục vụ cho công tác quản lý và triển khai các hoạt động phục
vụ cho sự phát triển của ngành, song song với đó hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử KH&CN và hoạt động chia sẻ các nguồn tin nội sinh còn chưa phát triển mạnh, việc đóng góp mua chung các CSDL có giá trị lớn mới đang được tiến hành nhưng còn chưa có mạng lưới và thường xuyên
Trang 12Trong giai đoạn hội nhập quốc tế dựa trên nền tảng kinh tế tri thức hiện nay, thông tin khoa học và công nghệ đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển nói riêng và cho nền kinh tế nói chung
Xác định được vai trò của mình, trong thời gian qua hệ thống thư viện và trung tâm thông tin của nước ta đã có nhiều cố gắng, nỗ lực để tăng cường và phát triển nguồn tin KH&CN, phục vụ cho các nhu cầu về nghiên cứu, giáo dục và phát triển kinh tế Người dùng tin đã có cơ hội để tiếp cận và sử dụng nhiều nguồn tin KH&CN, đặc biệt là nguồn tin nước ngoài Tuy nhiên, nguồn tin KH&CN có đặc thù là chi phí đặt mua cao, thời gian sử dụng ngắn Trong khi đó, nguồn ngân sách bổ sung tài liệu của hầu hết các trung tâm thông tin và thư viện của Việt Nam còn rất hạn chế, không
đủ để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dùng tin Chính vì vậy, cần phải có giải pháp để một mặt tăng cường tối đa nguồn tin KH&CN trong phạm vi năng lực có thể của chúng ta, mặt khác tăng hiệu quả sử dụng của các nguồn tin đó Liên hợp thư viện Việt Nam về nguồn tin điện tử ra đời năm 2004 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đó Thông qua việc bổ sung các nguồn tin điện tử cho các thư viện ở Việt Nam, Liên hiệp thư viện góp phần tăng cường việc chia sẻ nguồn lực, sử dụng hiệu quả kinh phí bổ sung tài liệu và tập hợp trong một tổ chức để đàm phán với các nhà xuất bản, nhà phân phối CSDL
Để có được một cái nhìn tổng quan về các hình thức chia sẻ nguồn tin điện tử, các điều kiện để hình thành và vận hành cơ chế chia sẻ nguồn tin một cách hiệu quả,
Cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ giữa các cơ quan thông tin
- thư viện Việt Nam hiện nay, những khó khăn trong việc chia sẻ nguồn tin điện tử mà các cơ quan thông tin thư viện đang gặp phải cũng như đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ giữa các
cơ quan thông tin - thư viện Việt Nam, tác giả tiến hành Đề tài luận văn “Chia sẻ nguồn tin điện tử về KH&CN giữa các cơ quan thông tin - thư viện Việt Nam” với một số nội dung chính như:
thông tin - thư viện Việt Nam,
Trang 13- Hiện trạng về hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ giữa các cơ quan thông tin - thư viện thông qua Liên hợp thư viện Việt Nam về ngồn tin điện tử,
tử về KH&CN giữa các cơ quan thông tin - thư viện Việt Nam
2000: tr 373-384, xuất bản tại Anh Bài viết thảo luận về các xu hướng đẩy mạnh hợp tác thư viện trong bối cảnh thực tế ở các quốc gia châu Á (Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan và các nước khác) Trước hết là xem xét lý do hợp tác, những rào cản và những yếu tố tích cực Tiếp đến các tác giả trình bày tổng quan các mô hình hoạt động hợp tác khác nhau, thảo luận những đặc trưng quan trọng trong liên minh hợp tác thành công và các quan điểm về cách thức quản lý các liên minh này
Tác giả Golnessa Galyani Moghaddam và V G Talawar có bài viết “Liên hiệp Thư viện ở các quốc gia phát triển: Tổng quan - Library consortia in developing countries: an overview” năm 2009
Bài viết nhằm mục đích khái quát những nỗ lực của các nước phát triển trong việc đánh giá những nguồn tin của các liên hiệp thư viện ở các quốc gia phát triển nói chung và Ấn Độ nói riêng Nghiên cứu cũng chỉ ra những thuận lợi và khó khăn của các liên hiệp “Liên hiệp thư viện” là sự hợp tác, phối hợp và cộng tác giữa các thư viện nhằm mục đích chia sẻ nguồn lực thông tin Các thư viện ở các quốc gia phát triển đang vận hành các liên hiệp cấp quốc gia, khu vực và quốc tế Tuy nhiên, một số rào cản như cơ sở hạ tầng công nghệ và truyền thông nghèo nàn, tài chính eo hẹp, văn hoá nghèo nàn và bối cảnh, thái độ đối với liên hiệp thư viện và những nỗ lực đều hạn chế các hoạt động của liên hiệp Bài viết cung cấp một cái nhìn tổng quan hữu ích của các liên hiệp ở các nước phát triển đặc biệt là ở Ấn Độ
Trang 14Tại Trung Quốc
Tác giả Liansheng Meng và Yan Quan Liu có công trình nghiên cứu “Hiện tại
và tương lai của Thư viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia: Một mô hình mới trong chia sẻ nguồn lực thông tin” - “The present and future of China's National Science and Technology Library: A new paradigm of sci-tech information resource sharing”, xuất bản năm 2005
Mục đích của nghiên cứu chọn mẫu này là nhằm khảo sát mô hình xây dựng và các vấn đề liên quan đến sự phát triển của Thư viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia Trung Quốc (NSTL) Nghiên cứu này được thực hiện thông qua một cuộc đánh giá phân tích lịch sử phát triển các hoạt động chia sẻ thông tin giữa các thư viện, các trung tâm thông tin và các vấn đề xung quanh quá trình xây dựng Thư viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia Trung Quốc Từ khi thành lập mạng lưới dịch vụ theo mạng lưới vào cuối năm 2000, NSTL đã đạt được những tiến bộ nhanh chóng trong việc xây dựng mạng lưới chia sẻ nguồn tin điện tử khoa học và công nghệ và cung cấp dịch vụ dựa trên web tới người dùng thường xuyên trong cộng đồng khoa học và công nghệ ở Trung Quốc Nghiên cứu này là cuộc thăm dò đầu tiên tạo tiền đề cho nền tảng cơ bản của NSTL, đặc điểm cơ cấu tổ chức, chức năng của các dịch vụ, và kế hoạch dự kiến
để tăng khả năng tiếp cận và sử dụng thư viện Biểu hiện của các chức năng của mô hình xây dựng NSTL hy vọng sẽ làm sáng tỏ không chỉ đối với việc cải thiện mạng lưới quản lý thông tin khoa học và công nghệ của Trung Quốc mà còn làm sáng tỏ sự phát triển của các thư viện số về khoa học trên thế giới
Tác giả Elaine Xiaofen Dong và Tim Jiping Zou có công trình nghiên cứu
“Liên hiệp Thư viện ở Trung Quốc” - “Library Consortia in China” trên Tạp chí Nghiên cứu điện tử về Thông tin Thư viện - Library and Information Science Research Electronic Journal số 19.1 tháng 3 năm 2009
Liên hiệp Thư viện là một hiệp hội các thư viện được thành lập theo thoả thuận chính thức thường là vì các mục đích cải thiện dịch vụ qua việc chia sẻ tài nguyên giữa các thành viên Ở Trung Quốc, một liên hiệp thư viện có thể mang những tên như
“liên minh”, “mạng”, “mạng lưới” hoặc “hiệp hội” Trong suốt ba thập kỷ qua, những
ý tưởng và thực tiễn hợp tác về thư viện đã được khẳng định dần ở Trung Quốc Liên hiệp thư viện, một hình thức chính của hợp tác thư viện ở Trung Quốc, đáp ứng nhu
Trang 15cầu của một nhóm các thư viện có cùng diện bổ sung, đào tạo cán bộ và người dùng, các dịch vụ như mượn liên thư viện và các quá trình như bổ sung và biên mục Mục đích của nghiên cứu này là đưa ra phác thảo về lịch sử và sự phát triển của liên hiệp thư viện ở Trung Quốc từ năm 1980 cho tới nay như thu thập từ các trang web được lựa chọn và các báo cáo đại diện cho các tài liệu xuất bản
Tại Thái Lan
Kế hoạch chi tiết của Thái Lan về chia sẻ nguồn tin điện tử KH&CN
Tác giả: Narumol Ruenwai; Morris, Anne Quản lý thư viện 29 4/5 (2008): 278-292
Bài viết này nhằm mục đích xác định một chiến lược rõ ràng cho sự phát triển trong tương lai của dịch vụ KH&CN ở Thái Lan Bài viết nghiên cứu lịch sử của việc chia sẻ nguồn thông tin KH&CN ở Thái Lan và trình bày các kết quả nghiên cứu nhắm xác định các vấn đề hiện nay trong việc cung cấp các dịch vụ này Bài viết cũng cho thấy các nhà nghiên cứu KH&CN tại Thái Lan sẽ được hưởng lợi từ việc chia sẻ nguồn tài nguyên lớn hơn nhiều, hoặc thông qua các liên hiệp hoặc các mạng máy tính, như một phần của chiến lược quốc gia gắn kết Bài viết đưa ra khuyến nghị chi tiết liên quan đến việc quản lý tương lai các dịch vụ KH&CN ở Thái Lan Bài viết này xác định một chiến lược hoạt động tốt nhất cho sự phát triển trong tương lai nhằm hỗ
trợ cho các nhà nghiên cứu KH&CN tại Thái Lan
Trang 16nguyên sẽ được thảo luận trong bài viết này, được sắp xếp theo bốn nhóm: Mạng lưới Thông tin Quốc gia về Khoa học và Công nghệ (NISSAT) Các trung tâm Thông tin Quốc gia (NIC), các liên hiệp thư viện, các dịch vụ cung cấp tài liệu và hợp tác liên thư viện
và nghiên cứu tại Hungary Các chương trình sẽ hỗ trợ các thư viện để tạo ra một hạ tầng công nghệ thông tin hoạt động hiệu quả cùng với một bộ sưu tập phong phú các nguồn tin điện tử Những gì đã đạt được cho đến nay đã mang lại nhiều lợi ích, tuy nhiên, việc mở rộng số lượng các cơ sở dữ liệu để truy cập sẽ mang lại nhiều thuận lợi hơn Điều này có thể thực hiện được nếu một bộ thuộc chính phủ tham gia vào việc tài trợ cho liên hiệp thư viện trên quy mô quốc gia
2.2 Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài ở Việt Nam
Về mặt lý luận có bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Viết Nghĩa (2005), “Consortium -
Hình thức có hiệu quả để bổ sung nguồn tin điện tử”, Kỷ yếu Hội nghị ngành Thông
tin KH&CN - Lần thứ V, tr 33-38 Tác giả đề cập đến chính sách phát triển nguồn tin
của cơ quan thông tin thư viện dưới hình thức “Chính sách bổ sung” Trong bài viết tác giả mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh của công tác xây dựng chính sách bổ sung cho thư viện
Trang 17Tác giả Mai Hà (2005) bàn về “Chia sẻ nguồn lực thông tin điện tử - những vấn
đề quan điểm và thực tiễn”, Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, tr 50-51,
49 trong đó khái quát về Nhu cầu chia sẻ, mục đích của việc phối hợp và chia sẻ nguồn tin điện tử KH&CN, yêu cầu đối với việc phối hợp và chia sẻ nguồn tin điện tử KH&CN và điều kiện đảm bảo cho việc phối hợp và chia sẻ nguồn tin điện tử KH&CN, điều kiện tham gia phối hợp và chia sẻ nguồn tin điện tử KH&CN và Cơ chế hoạt động phối hợp và chia sẻ nguồn tin điện tử KH&CN Trong bài viết này tác giả phân tích khá rõ ràng phần lý luận và giả thuyết về một mô hình thực tiễn Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc đề cập đến hoạt động chia sẻ một cách chung chung
Tác giả Nguyễn Hữu Hùng bàn về “Vấn đề phát triển và chia sẻ nguồn tin điện tử
số hóa tại Việt nam” trên Số 1, Tạp chí Thông tin và Tư liệu năm 2006 trong đó trình bày khái niệm và luận chứng vai trò trung tâm của nguồn lực thông tin số trong mạng lưới thông tin quốc gia Giới thiệu 3 kịch bản trong tạo lập tài nguyên số, số hóa toàn phần số hóa hồi cố và song song tồn tại tài nguyên số và tư liệu Đưa ra các điều kiện và yếu tố cần thiết để thực hiện việc chia sẻ tài nguyên số trên quy mô mạng lưới Tác giả đưa ra những quan điểm mang tính lý luận cao và hữu ích nhưng chưa đưa ra một mô hình chia sẻ cụ thể hay đi vào đánh giá hiệu quả hoạt động của một mô hình nào
Về mặt thực tiễn đã có một số tác giả thực hiện các công trình nghiên cứu như: Tác giả Phạm Thị Minh Tâm đã thực hiện đề tài luận văn “Phối hợp bổ sung giữa các thư viện chủ chốt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” năm 1996 trong đó đề cập đến: Cơ sở khoa học và thực tiễn của chính sách phối hợp bổ sung giữa các thư viện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; Nội dung chính sách phối hợp bổ sung của thư viện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Luận văn đã tổng kết lý luận và thực tiễn công tác bổ sung của các thư viện chủ chốt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và từ
đó đưa ra các biện pháp xây dựng một chính sách bổ sung có tầm quốc gia góp phần giải quyết vấn đề ngân sách hạn hẹp của các thư viện cho công tác bổ sung của các thư viện Tác giả đưa ra một mô hình thử nghiệm phối hợp bổ sung và các biện pháp tổ chức và kỹ thuật thực hiện bao gồm các biện pháp tổ chức thúc đẩy hỗ trợ phối hợp bổ sung và chế độ sử dụng chung kho tài liệu
Tác giả Vũ Anh Tuấn và cộng sự đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học
và thực tiễn xây dựng và phát triển Liên hợp Thư viện Việt Nam để chia sẻ nguồn tin
Trang 18KH&CN (Vietnam Library Consortium on STI Resource)” (H.: Trung tâm TTKHCNQG, 2007) Đề tài đã tổng quan về Liên hợp thư viện, hiện trạng các Liên hợp thư viện trên thế giới và nhu cầu hình thành Liên hợp thư viện ở Việt Nam; đánh giá nguồn lực thông tin, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nhu cầu bổ sung tài liệu, nhu cầu chia
sẻ nguồn thông tin của các cơ quan thông tin - thư viện Việt Nam; đề xuất mô hình Liên hợp thư viện Việt Nam Đề tài đã đưa ra cơ sở lý luận khá đầy đủ, kinh nghiệm thực tiễn trong các hoạt động của các Liên hiệp Thư viện trên thế giới và ở Việt Nam
Từ năm 2007 đến nay, các hoạt động của các Liên hợp đã có nhiều thay đổi và phải đối mặt với các vấn đề thực tiễn Điều đó cho thấy cần có những nghiên cứu tiếp theo phản ánh thực tiễn những thành công cũng như đưa ra các đề xuất nhằm duy trì hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử KH&CN một cách hiệu quả
Tác giả Đoàn Thị Thu thực hiện luận văn “Nghiên cứu mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội” năm 2011 trong đó Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phối hợp bổ sung: khái niệm, lợi ích và các mô hình phối hợp bổ sung Khái quát về các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội: tình hình hoạt động, diện bổ sung và lợi ích khi tham gia phối hợp bổ sung Nghiên cứu kinh nghiệm phối hợp bổ sung của một số thư viện trên thế giới và Việt Nam Giới thiệu về điều kiện tiến hành phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội Đề xuất mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp
bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội
2.3 Kết luận
Nhằm góp phần tìm hiểu một cách tương đối toàn diện về hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử về KH&CN trước tình hình thực tiễn năm 2013, tôi nhận thấy rằng việc nghiên cứu vấn đề chia sẻ nguồn tin điện tử về KH&CN giữa các cơ quan thông tin thư viện Việt Nam là cần thiết, góp phần giải quyết các khúc mắc về lý luận và một
số yêu cầu của thực tiễn
Luận văn sẽ kế thừa toàn bộ những nghiên cứu mang tính lý thuyết của các chuyên gia trong lĩnh vực thông tin KH&CN trong và ngoài nước đồng thời nghiên cứu, đánh giá thực tiễn hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử về KH&CN của các tổ chức, cơ quan, trung tâm thông tin thư viện ở Việt Nam trong thời gian qua và đưa ra một số kiến nghị nhằm duy trì và phát triển liên hợp ngày một vững mạnh
Trang 193 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Luận văn được thực hiện nhằm mục đích khảo sát và đánh giá hiệu quả hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử về KH&CN giữa các cơ quan thông tin thư viện Việt Nam qua Liên hợp Thư viện Việt Nam về nguồn tin điện tử (VLC) kể từ khi thành lập đến nay (2013), từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử một cách hiệu quả nhất với chi phí thấp nhất cho những người dùng tin KH&CN tại cơ quan thông tin thư viện Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài luận văn được tiến hành nhằm giải quyết các nhiệm vụ:
- Làm rõ khái niệm “nguồn tin điện tử”, “liên hợp thư viện” và những vấn đề liên quan đến chia sẻ nguồn tin điện tử: “Cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử”,
“Tiêu chí đánh giá cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử”
- Các hình thức chia sẻ nguồn tin điện tử,
- Điều kiện cần và đủ để hình thành và vận hành cơ chế chia sẻ nguồn tin
các cơ quan thông tin - thư viện Việt Nam;
- Hiện trạng phát triển và chia sẻ nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ tại các cơ quan TT-TV Việt Nam,
- Các cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ giữa các cơ quan TT-TV,
- Cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ giữa các cơ quan thông tin - thư viện thông qua Liên hợp thư viện Việt Nam về ngồn tin điện tử,
về KH&CN giữa các cơ quan thông tin - thư viện Việt Nam
4 Giả thuyết nghiên cứu
Hoạt động hợp tác và chia sẻ nguồn tin điện tử về KH&CN giữa các cơ quan thông tin thư viện Việt Nam đã đạt được những thành công nhất định Tuy nhiên, ở một số cơ quan thông tin thư viện, hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử diễn ra không được thường xuyên do những khó khăn về cơ chế tài chính, cơ chế chính sách
Trang 205 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng của luận văn là hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử về KH&CN giữa các cơ quan thông tin thư viện Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Về mặt không gian là các tổ chức, cơ quan, trung tâm thông tin thư viện KH&CN ở Việt Nam bao gồm các thành viên của Liên hợp thư viện Việt Nam về nguồn tin điện tử
6 Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn bao gồm:
- Nghiên cứu tài liệu:
Đề tài sẽ kế thừa tất cả các nghiên cứu mang tính lý luận về thông tin KH&CN và mạng lưới thông tin KH&CN, Liên hợp thư viện từ các cơ quan, các chuyên gia trong và ngoài nước Trong quá trình thực hiện, đề tài sẽ tiếp tục cập nhập những tư liệu mới nhất
- Điều tra, khảo sát:
Để có cơ sở thực tiễn về thực trạng hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử về KH&CN giữa các cơ quan thông tin thư viện, phương pháp này sẽ được thực hiện để kiểm tra lại tính chính xác của những tài liệu, số liệu đã thu thập được từ đó xử lý thông tin tốt hơn trong bước tổng hợp và phân tích
- Phương pháp nghiên cứu thống kê, phân tích và tổng hợp:
Phương pháp này sẽ đi từ các số liệu, dữ liệu thu thập được, sau đó được phân tích, tổng hợp lại trên quan điểm mạng lưới để cho phép rút ra tính qui luật trong phát triển và xây dựng cơ chế chia sẻ nguồn tin KH&CN giữa các cơ quan thông tin thư viện Việt Nam
- Phương pháp chuyên gia:
Đề tài sẽ được thực hiện bằng phương pháp chuyên gia thông qua trao đổi trực tiếp một số chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực thông tin thư viện và thống kê KH&CN
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
Trình bày trên hai phương diện
- Về mặt khoa học
Luận văn sẽ có đóng góp về mặt lý luận trong vấn đề nghiên cứu cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử về KH&CN giữa các cơ quan thông tin thư viện Việt Nam
Trang 21- Về mặt ứng dụng
Các kết quả thu đƣợc từ việc nghiên cứu trong luận văn có thể áp dụng để nâng cao hiệu quả của hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử về KH&CN qua Liên hợp Thƣ viện Việt Nam về nguồn tin điện tử (VLC)
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu
Những kết quả dự kiến của luận văn
- Tổng quan tình hình hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử về KH&CN giữa
các cơ quan thông tin, thƣ viện Việt Nam,
- Thực trạng chia sẻ nguồn tin điện tử qua Liên hợp Thƣ viện Việt Nam về
nguồn tin điện tử,
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả chia sẻ nguồn tin điện tử trong
Liên hợp
Trang 22CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHIA SẺ NGUỒN TIN ĐIỆN TỬ
GIỮA CÁC CƠ QUAN THÔNG TIN THƯ VIỆN VIỆT NAM
1.1 Các khái niệm chung
1.1.1 Nguồn tin điện tử
Trong “Các vấn đề chính về Phát triển sưu tập điện tử: Cẩm nang cho các thư
viện” thì “Nguồn tin điện tử (E-resources) đại diện cho một phần quan trọng của các hoạt động xây dựng bộ sưu tập của thư viện Nguồn tin điện tử đề cập đến những tài
liệu đòi hỏi truy cập bởi máy tính, thông qua một máy tính cá nhân, máy chủ, hoặc
thiết bị di động cầm tay Nguồn tin điện tử cũng có thể được truy cập từ xa qua
Internet hoặc truy cập trong mạng nội bộ” Một số loại nguồn tin điện tử thường gặp nhất là:
khoa toàn thư, v.v…
Tài nguyên điện tử có thể được mua, cấp phép truy cập, truy cập miễn phí trên các trang web, các tài liệu được sinh ra dưới dạng số hoặc đa định dạng khác nhau như CD-ROM kết hợp với một cuốn sách Nguồn tin điện tử cũng đặt ra một số thách thức không phải với vấn đề lựa chọn và bổ sung các tài liệu tương tự dạng truyền thống và khuyến khích các thư viện phát triển các chính sách và quy trình lựa chọn và quản lý nguồn tin này một cách rõ ràng Qua đó giúp cho các cán bộ thư viện có thể đảm bảo việc phát triển các nguồn tin trong thư viện được tính đến chi phí, tính khả thi về mặt
kỹ thuật, cấp phép, các yêu cầu và hạn chế về truy cập và bảo quản
Trang 231.1.2 Liên hợp thư viện
Kế thừa nghiên cứu trước đây của nhóm tác giả đê tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng và phát triển Liên hợp Thư viện Việt Nam để chia sẻ nguồn tin KH&CN (Vietnam Library Consortium on STI Resource)” (H.: Trung tâm TTKHCNQG, 2007), có một số cách hiểu về “Liên hợp thư viện” như sau:
Consortium và dạng số nhiều là Consortia, cũng như nhiều từ khác nữa được sử dụng trong khoa học thư viện, được bắt nguồn từ tiếng Latin (Oxford English Dictionary, xuất bản lần 2, năm 1994)
Từ Consortium được sử dụng lần đầu tiên trong thế kỷ 17 để nói đến sự kết hợp và kết giao giữa người chồng và người vợ, điều này còn được sử dụng với từ Consort Nghĩa này vẫn còn được sử dụng trong các thuật ngữ của ngành luật Thuật ngữ “Consort” với ý nghĩa là “sự kết hợp” hoặc “sự cộng tác” được định nghĩa sử dụng lần đầu tiên năm 1820 Những đến tận năm 1920 thì mới trở thành các thuật ngữ có Liên quan trong sản xuất và ngân hàng (Oxford English Dictionary, xuất bản lần 2, năm 1994)
Trong những năm từ 1950-1960, thuật ngữ được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực khoa học và giáo dục và thuật ngữ Consortium được thiết lập trong từ điển thư viện Điều này rất mới mẻ bởi vì trong tài liệu tham khảo rất nổi tiếng International Encyclopedia of Information and Library Science (1997) đó khẳng đưa ra định nghĩa
về thuật ngữ Consortium Cũng như theo tác giả thì trong Dictionary of Information Science and Technology (1992), Harrod's Librarians' Glossary (2000) đưa ra mô tả về
“Liên hợp thư viện” chứ không phải là định nghĩa về “Liên hợp thư viện”
Năm 1996, trong Concise Dictionary of Library and Information Science của Keenan S thì định nghĩa về “Liên hợp thư viện” trong từ điển khoa học thông tin và thư viện được xác định là: “một số tổ chức, thường là trong một khu vực địa lý cụ thể với thoả thuận về các mục tiêu và mục đích chung”
Theo định nghĩa của Lemke D.H thì một Consortium sẽ bao gồm ít nhất là ba hoặc nhiều hơn ba thành viên: “một tổ chức chính thức của ba hoặc nhiều hơn ba các
cơ quan thành viên thực hiện một số các Chương trình và với yêu cầu hàng năm đóng góp hoặc các bằng chứng xác thực khác về những cam kết trong một thời gian dài của các cơ quan thành viên”
Trang 24Năm 1992, hai tác giả Twiest D.H và Badke W.B đã đưa ra một định nghĩa đơn giản về Consortium: “sự liên kết, sự kết hợp hoặc sự cộng tác”
“Liên hợp thư viện là sự hợp tác (chính thức hoặc không chính thức) giữa các thư viện
để chia sẻ tài nguyên, hệ thống và mạng máy tính, phát triển các bộ sưu tập và chia sẻ các biểu ghi thư mục”
Năm 2001, theo tác giả Hirshon A thì “Liên hợp thư viện” được định nghĩa như sau: “một nhóm các thư viện cùng làm việc với nhau để hướng tới mục tiêu chung, để có thể mở rộng sự hợp tác về các dịch vụ thư viện truyền thống (như phát triển bộ sưu tập) hoặc các dịch vụ thông tin điện tử”
viện” vào năm 2000: “sự hợp tác chính thức của các thư viện, nhưng thường bị giới hạn cho một vùng địa lý, một số các thư viện, các loại tài liệu, hoặc một chủ đề quan tâm, được thiết lập để phát triển và thực hiện chia sẻ tài nguyên giữa các thành viên” Mục tiêu của Liên hợp thư viện” là để kiểm soát và giảm giá thành của thông tin, tăng cường chia sẻ tài nguyên, để phát triển môi trường thông tin mạng, và để chia sẻ bản quyền với những thành viên khác”
Nghiên cứu này tập trung vào “Liên hợp thư viện trường đại học” Trong nghiên cứu này, định nghĩa về “Liên hợp thư viện trường đại học” được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu là: “sự liên hợp chính thức của các thư viện kết hợp với các trường đại học thực hiện một số dự án hợp tác hoặc các Chương trình được thực hiện trong thời gian dài”
Uỷ ban Viễn thông Liên bang Mỹ (US Federal Communications Commission)
đã đưa ra định nghĩa như sau: Liên hợp thư viện là sự hợp tác của các thư viện ở một địa phương, một vùng hoặc một quốc gia để cung cấp một cách hệ thống và có hiệu quả các nguồn tài nguyên của các thư viện công cộng, trường học và các thư viện đặc biệt khác và các trung tâm thông tin, để tăng cường các dịch vụ cho khách hàng của các thư viện
thư viện khác nhau với mục đích để chia sẻ tài nguyên thông tin và nhân lực vì thế mà năng lực tập trung của các cơ quan sẽ thuận tiện cho nghiên cứu và học tập của khách
Trang 25hàng của các thành viên Liên hợp Liên hợp hỗ trợ chia sẻ tài nguyên và cung cấp các dịch vụ cho người sử dụng thông qua các Chương trình như hợp tác bổ sung, truy cập tài nguyên điện tử, truy cập đến các bộ sưu tập vật lý, tăng cường mượn liên thư viện
và cung cấp tài liệu
Đối với cộng đồng thông tin thư viện Việt Nam, trong những năm gần đây cũng đã có những khái niệm về từ Consortium: “Consortium có nghĩa là Liên kết, Liên hợp lại để tạo ra một tổ hợp các đối tác có cùng mục đích hoạt động”
Nói tóm lại, có thể có nhiều định nghĩa khác nhau về Liên hợp thư viện xuất phát từ những khía cạnh khác nhau khi xem xét vấn đề Trong phạm vi luận văn này, tôi sử dụng định nghĩa về Liên hợp thư viện của Uỷ ban Viễn thông Liên bang Mỹ để
làm việc: “Liên hợp thư viện là sự hợp tác của các thư viện ở một địa phương, một
vùng hoặc một quốc gia để cung cấp một cách hệ thống và có hiệu quả các nguồn tài nguyên của các thư viện công cộng, trường học, các thư viện chuyên biệt khác và các trung tâm thông tin, để tăng cường dịch vụ cho khách hàng của các thư viện”
1.1.3 Cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử
1.1.3.1 Khái quát về cơ chế
Cơ chế: Về mặt pháp lý và chính thống thì không có khái niệm “cơ chế.” Định nghĩa: Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là
“cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau”
Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học 1996) giảng nghĩa cơ chế là
“cách thức theo đó một quá trình thực hiện” Từ “cơ chế” được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối những năm 1970, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa như là những qui định về quản lý Cách hiểu đơn giản này dẫn tới cách hiểu tách rời cơ chế với con người như nêu trên
Trong phạm vi luận văn này, “cơ chế” được hiểu là cách thức thực hiện một quá trình, hoạt động, gần với ý nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học biên soạn và xuất bản năm 2000
1.1.3.2 Cơ chế hoạt động, phối hợp và chia sẻ nguồn tin điện tử qua Liên hợp Thư viện Việt Nam về các nguồn tin điện tử
Theo cách định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, cơ chế hoạt động, phối hợp và chia sẻ nguồn tin điện tử sẽ được hiểu là cách thức thực hiện
Trang 26quá trình phối hợp và chia sẻ nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ tại Việt Nam thông qua Liên hợp Thư viện Việt Nam về các nguồn tin điện tử (VLC)
1.1.4 Tiêu chí đánh giá cơ chế chia sẻ nguồn tin điện tử
1.1.4.1 Quy mô/mô hình hoạt động
Qua Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng và phát triển Liên hợp Thư viện Việt Nam để chia sẻ nguồn tin KH&CN” tác giả Vũ Anh Tuấn và cộng sự có giới thiệu các mô hình chia sẻ nguồn tin qua các mô hình Liên hợp thư
viện trên thế giới
Mỹ là nước dẫn đầu thế giới về số lượng Liên hợp thư viện Theo American Library Directory, hơn 12.700 thư viện ở Mỹ và Canada đã liên kết thành hơn 500 Liên hợp và mạng lưới Các Liên hợp khác nhau về hình thức, quy mô và không có
mô hình hoặc hình thức “Liên hợp thư viện” nào được cho là tốt nhất Điều này rất khó để phân loại mô hình Liên hợp thư viện
Phạm vi địa lý thường được quan tâm đến khi thành lập Liên hợp thư viện
cơ quan nghiên cứu, các thư viện ngành luật hoặc các thư viện ngành y
Các Liên hợp thư viện ở Đức có thể được sử dụng làm ví dụ cho tiêu chí của Hurtt Tất cả các Liên hợp thư viện ở Đức được hình thành theo vùng hoặc theo Loại hình cơ quan, hoặc kết hợp cả hai
Theo tác giả Rush-Feja thì có bốn loại mô hình Liên hợp thư viện ở Đức:
Trang 27 Liên hợp liên kết lỏng lẻo: Liên hợp thư viện vùng hoặc địa phương được thành lập ở mức bình thường, được quản trị bởi các thư viện thành viên và không có nhân viên chính thức và cũng không có quỹ tập trung Những mô hình Liên hợp thư viện này rất linh hoạt và tổng chi phí thấp nên đưa ra lợi ích mức thấp
và có độ rủi ro nhỏ
thức, nhưng sự hợp tác là tự nguyện, kết quả hợp tác chỉ ở mức thấp bởi vì quyền lợi chung là nhỏ
phải có cơ quan bảo trợ và phải có các hội viên trọng tâm (ví dụ thư viện cơ quan nghiên cứu) hoặc có đặc điểm chung (ví dụ hội viên của một vùng) Liên hợp thư viện phải dựa vào ngân sách các cơ quan, hoặc phải cung ứng các nguồn tài nguyên của mình ra bên ngoài
thường phân chia nguồn ngân sách Cơ quan trung tâm thường bảo đảm các hợp đồng
và chi trả phần lớn hoặc toàn bộ các khoản thanh toán của Liên hợp thư viện, ví dụ như đăng ký mua các cơ sở dữ liệu Các thành viên thoả thuận về mua tài liệu, trên cơ
sở chia sẻ quyền lợi
Hơn nữa, có thể nhóm các Liên hợp thư viện thành ba nhóm chính sử dụng tính tập trung là tiêu chí phân loại:
OhioLINK là ví dụ tiêu biểu;
quỹ có thể rất khác nhau
Theo tác giả Kumbar T.S thì có một vài mô hình phổ biến của các Liên hợp thư viện được mô tả như sau:
Liên hợp thư viện liên kết lỏng lẻo (Loosely knit federation)
Liên hợp thư viện liên kết lỏng lẻo là loại Liên hợp thư viện địa phương hoặc vùng được thành lập theo mô hình kiểu rễ cây Mô hình này giống như một Liên đoàn hơn là một Liên hợp Liên hợp được quản trị bởi các thư viện thành viên, và thông
Trang 28thường không có nhân viên chuyên trách hoặc ngân quỹ tập trung Mô hình này rất linh hoạt và các chi phí cho hoạt động bộ máy thấp, nhưng nó cũng tạo ra mức lợi nhuận thấp Liên hợp này được phát triển với mức rủi ro thấp hoặc ít đầu tư về thời gian nên rất khó để Liên hợp đạt được toàn bộ lợi ích Với một số thoả thuận nhỏ về nguồn tài liệu điện tử để chia sẻ, những yêu cầu cho nhà xuất bản và các hãng cung cấp thông tin khác để mang lại cho các thành viên những lợi ích rất nhỏ
Liên hợp đa dạng trạng thái/hình thức (Multi-type/Multi-state Network)
Liên hợp đa dạng trạng thái/hình thức thông thường được tổ chức theo mức hoàn toàn tự nguyện hợp tác giữa các thành viên, là những thành viên có một chút quan tâm chung Các nhà xuất bản, hãng cung cấp thông thường đưa ra mức giảm giá các cơ sở dữ liệu cho Liên hợp khi ký hợp đồng li-xăng theo hình thức Liên hợp Chương trình nghị sự của Liên hợp có thể bị phân nhóm khác nhau do tính đa dạng trạng thái/hình thức
Liên hợp thư viện liên kết chặt chẽ (Tighly knit federation)
Ở mức tiếp theo, Liên hợp thư viện liên kết chặt chẽ có một số tính linh hoạt của Liên hợp thư viện liên kết lỏng lẻo, nhưng không bị phân nhóm các hội viên của Liên hợp đa dạng trạng thái/hình thức Liên hợp thư viện liên kết chặt chẽ có thể có cơ quan tài trợ, và có thể có thành viên trọng tâm (như các thư viện cơ quan nghiên cứu) Một vài nhân viên chuyên trách điều phối phát triển chương trình, nhưng không kiểm soát chương trình Tổ chức phải dựa vào ngân quỹ của các cơ quan, hoặc phải được bổ sung từ các nguồn khác từ các quỹ tài trợ hoặc các nguồn quỹ bên ngoài khác Liên hợp phải chia sẻ trực tuyến hoặc ảo về catalog hợp nhất Các nhà xuất bản giảm giá thành khi bán sản phẩm, dịch vụ cho Liên hợp
Liên hợp thư viện quỹ tập trung, quy mô cả nước
Cuối cùng, Liên hợp thư viện quy mô cả nước, quỹ tập trung có được cơ quan tài trợ và hầu hết các nguồn ngân quỹ đều tách biệt nhau Vì vậy, cơ quan trung tâm hầu như đảm bảo các hợp đồng và thanh toán hầu hết hoặc toàn bộ chi phí bao gồm, như đăng ký mua các cơ sở dữ liệu Các thành viên liên kết thoả thuận về các dịch vụ
để mua sắm trên cơ sở chia sẻ quyền lợi Catalog tích hợp trực tuyến ảo hoặc đã có hoặc đang phát triển Trong nhiều trường hợp, quyền lực tập trung có thể vận hành kém hiệu quả, nhưng với nguồn ngân quỹ trung tâm, các thư viện thành viên có nhiều động cơ thúc đẩy trong cộng tác với nhau hơn các mô hình khác
Trang 29Nhóm tác giả thực hiện đề tài cho rằng mô hình Liên hợp thư viện của các nước được thành lập với các tiêu chí khác nhau và cũng khác nhau về quy mô, tổ chức, quản trị, v.v và đưa ra kết luận về mô hình Liên hợp thư viện được phân nhóm thành những loại mô hình sau:
1.1.4.2 Diện bao quát nội dung và dạng tài liệu
Một trong những điều kiện cần thiết để thành lập một Liên hợp thư viện đó là các thành viên sáng lập hoặc thành viên tham gia phải có chính sách bổ sung gần giống nhau, có nghĩa là các thành viên có những mục tiêu bổ sung các nguồn tin điện
tử tương tự nhau Bởi vì đối với một Liên hợp thư viện, chính sách bổ sung các nguồn tài liệu điện tử, các cơ sở dữ liệu đều được thông qua và lấy ý kiến của các thành viên Liên hợp
Trong nhiều trường hợp khi Liên hợp thư viện phát triển với quy mô lớn, bao gồm thư viện đa ngành, đa lĩnh vực tham gia thì lúc đó Liên hợp phải phân thành các nhóm có diện bổ sung gần nhau để đưa ra mục tiêu nguồn thông tin cần bổ sung cho nhóm đó
Tùy vào quy mô, tổ chức, quản trị, diện bao quát nội dung tài liệu của Liên hợp
có thể bao gồm:
Trang 30- Các tài liệu đa ngành, đa lĩnh vực,
- Các tài liệu liên ngành,
- Các tài liệu chuyên ngành
Cũng tùy vào đặc thù và mục tiêu hoạt động của từng Liên hợp dạng tài liệu
mà Liên hợp thống nhất bổ sung cũng khác nhau: tạp chí, sách, kỷ yếu hội nghị, tiêu chuẩn, tài liệu sáng chế, báo cáo kết quả nghiên cứu, v.v
1.1.4.3 Loại hình cơ quan thông tin - thư viện tham gia
Căn cứ vào loại hình các cơ quan thông tin - thư viện tham gia liên
hợp có thể phân loại thành các loại hình liên hợp như sau:
1.1.4.4 Mức độ cập nhật nguồn tin
Nguồn tin được chia sẻ thông qua liên hợp rất đa dạng: các CSDL đa ngành, chuyên ngành do liên hợp đặt mua, các CSDL được truy cập miễn phí của các Nhà xuất bản, các CSDL nội sinh của các tổ chức thành viên, v.v Tùy từng loại hình tài liệu điện tử được bổ sung, nguồn tin sẽ được cập nhật hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng hay hàng quý
Với những nguồn tin số hoá nguyên thuỷ, mức độ cập nhật sẽ nhanh chóng hơn Với các tạp chí điện tử chuyên ngành, thông thường việc cập nhật nguồn tin sẽ chậm hơn việc công bố trên tạp chí truyền thống
1.1.4.5 Khả năng truy cập, tìm kiếm, khai thác nguồn tin chia sẻ
Khác với các thư viện truyền thống quản lý những nguồn tin truyển thống, khả năng truy cập, tìm kiếm và khai thác nguồn tin được coi là đặc trưng và với sự chuyển biến mạnh mẽ của của ngành thông tin - thư viện trong tiến trình tự động hoá Với sự
ra đời của máy tính, mạng thông tin và các phần mềm hiện đại, nhiều thư viện điện tử
ra đời, giúp cho việc phục vụ người dùng tin nhanh chóng, kịp thời và chính xác Thông qua mạng Internet, nhiều cơ sở dữ liệu được kết nối, việc chia sẻ và trao đổi
dữ liệu giữa các thư viện trên thế giới trở nên dễ dàng
Trang 31Ngày nay, với sự trợ giúp của Máy tính và Mạng Internet, việc truy cập, tìm kiếm, khai thác nguồn tin điện tử gần như được tiến hành mọi lúc 24h/ngày, 7 ngày/tuần
Tuy nhiên, việc đảm bảo kết nối thông suốt trong một mạng lưới các cơ quan thông tin sẽ là một vấn đề không dễ dàng nếu không có hạ tầng thông tin tiên tiến, hiện đại Do vậy, việc tiến tới đồng bộ hoá hạ tầng thông tin là việc làm hết sức cấp bách cần có sự ủng hộ của lãnh đạo các cơ quan, tổ chức
Không chỉ các cơ quan chủ trì và tổ chức khai thác nguồn tin mới cần có một
hạ tầng thông tin tiên tiến trong việc quản lý, tổ chức tìm kiếm, khai thác và chia sẻ các nguồn tin, mà các tổ chức thành viên cũng cần có một hạ tầng thông tin đủ đáp ứng cho nhu cầu chia sẻ mọi lúc, mọi nơi nhằm phát huy tối đa hiệu quả sử dụng nguồn tin điện tử
1.1.4.6 Phạm vi đáp ứng yêu cầu tìm kiếm, khai thác nguồn tin chia sẻ
Nguồn tin điện tử ngày nay không chỉ đơn thuần là nguồn tin được truy cập miễn phí qua internet và dễ dàng tìm kiếm qua các máy tìm Nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ được xây dựng, chia sẻ và sử dụng một cách có tổ chức và luôn tôn trọng bản quyền tác giả, cho nên không phải nguồn tin nào cũng được chia sẻ rộng rãi trên internet, dễ dàng truy cập được mọi lúc mọi nơi trên phạm vi toàn cầu Nhiều nguồn tin chỉ truy cập được trong mạng nội bộ của thư viện Khi đó, tùy vào chính sách của thư viện về vấn đề chia sẻ để một cá nhân hay tổ chức có thể đàm phán để sử dụng nguồn tin đó phù hợp với mục đích của mình Việc tìm kiếm, khai thác nguồn tin từ xa, không bị giới hạn trong không gian một thư viện cũng như việc chia sẻ nguồn tin điện tử giữa các tổ chức thông tin để thư viện đến gần với độc giả hơn vừa là sự tất yếu, một yếu tố cạnh tranh cũng vừa là lợi thế ưu việt trong bối cảnh
kỷ nguyên thông tin hiện nay nếu thư viện muốn đến được với bạn đọc ở nhiều phạm
vi địa lý khác nhau
1.1.4.7 Hiệu quả khai thác, chia sẻ nguồn tin
Tùy vào mục đích chia sẻ, hiệu quả khai thác, chia sẻ nguồn tin thường được đánh giá dựa trên các tiêu chí như:
thông tin, số lượng tài liệu toàn văn khai thác được (tải về sử dụng);
Trang 32- Mức độ đáp ứng nhu cầu tin;
- Chi phí-hiệu quả: giá một tài liệu hay 1 trang tài liệu tính qua tham gia
liên hợp thư viện, so với giá khi thư viện trực tiếp mua nguồn tin tương ứng
1.1.4.8 Sự đồng thuận của các thành viên tham gia trong các quyết định chung
của liên hợp thư viện
Khi hoạt động dưới mô hình của liên hợp, việc đưa ra các quyết định chung luôn dựa trên các nguyên tắc công khai, minh bạch
Bất cứ một mô hình liên hợp nào, muốn duy trì hoạt động thường xuyên lâu dài
và vững mạnh, ngoài việc tìm được ra một đơn vị chủ trì năng động, sáng tạo và tâm huyết thì sự ủng hộ của các thành viên trong liên hợp được coi là yếu tố cốt lõi
Sự đồng thuận của các thành viên tham gia được thể hiện qua sự ủng hộ của các thành viên đối với các quyết định chung như: việc lựa chọn nguồn tin bổ sung, việc đóng góp ý kiến xây dựng liên hợp; số lượng các đơn vị ký Biên bản cuộc họp hàng năm của Liên hợp thư viện; quan trọng hơn cả là số lượng các đơn vị ký hợp đồng chia sẻ kinh phí mua chung nguồn tin; ngoài ra sự ủng hộ còn thể hiện qua số lượng các thành viên tự nguyện chia sẻ các nguồn tin nội sinh
Ngoài ra, trong nội bộ liên hợp, các cam kết chính thức như: cam kết tham gia liên hợp, Biên bản ghi nhớ, hợp đồng kinh tế, v.v cũng là một tiêu chí đánh giá thể
hiện sự nghiêm túc, chặt chẽ trong hoạt động của các liên hợp thư viện
1.1.4.9 Sự đa dạng các hoạt động hỗ trợ và thúc đẩy chia sẻ nguồn tin
Ngoài mục tiêu chính là việc chia sẻ nguồn tin, mua chung nguồn tin, các hoạt động hỗ trợ và thúc đẩy chia sẻ nguồn tin cũng là một tiêu chí đánh giá sự nỗ lực trong các hoạt động của một liên hợp Các hoạt động này có thể bao gồm:
Trang 331.1.4.10 Mức độ thể chế hóa
Mặc dù, nguyên tắc đồng thuận được coi là yếu tố tiên quyết trong việc duy trì các hoạt động của liên hợp, nhưng dựa trên các mô hình liên hợp đã và đang hình thành trên thế giới cho thấy việc thể chế hóa hoạt động của một liên hợp đóng một vai trò quan trọng, là căn cứ pháp lý giúp cơ quan chủ trì và liên hợp nói chung trong hoạt động điều phối nhất là trong giai đoạn đầu mới hình thành Các văn bản pháp lý như luật, nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, thông tư hướng dẫn hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử sẽ là hành lang pháp lý giúp các cơ quan thông tin thư viện sử dụng ngân sách nhà nước có căn cứ trong việc xét duyệt kinh phí tham gia phối hợp bổ sung nguồn tin
Ngoài ra, biên bản ghi nhớ không đủ tính pháp lý để các đơn vị tham gia đảm bảo việc thực hiện đóng góp kinh phí như đã cam kết, mà cần thực hiện cam kết thông qua hợp đồng kinh tế
Tuy nhiên, với hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử dựa trên nguyên tắc tự nguyện, mức độ thể chế hóa hoạt động này trong các văn bản quy phạm pháp luật chỉ
là điều kiện cần Nó không hoàn toàn quyết định thành công hoạt động của một liên hợp mà đóng vai trò như một yếu tố xúc tác, hỗ trợ giúp liên hợp và các thành viên tiềm năng có căn cứ để đến gần nhau hơn
1.1.4.11 Mức độ hợp tác, hội nhập quốc tế
Trong giai đoạn mới thành lập cũng như phương hướng phát triển của một liên hợp, vấn đề hội nhập quốc tế luôn được đánh giá cao
Trước tiên là ở khía cạnh kế thừa và học hỏi kinh nghiệm Việc nghiên cứu các
mô hình chia sẻ nguồn tin khác nhau trên thế giới sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn toàn diện, đánh giá điểm mạnh điểm yếu một cách khách quan, từ đó xây dựng được phương pháp luận và nghiên cứu mô hình chia sẻ thông tin phù hợp với nhóm hợp tác của mình
Tiếp đến là tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi lợi nhuận trong giai đoạn đầu tiên cho các hoạt động của liên hợp thư viện từ khi mới hình thành về mặt tài chính, hỗ trợ về nghiệp vụ cũng như trong việc xây dựng phương hướng phát triển và tiến đến hội nhập quốc tế của một mô hình chia sẻ
Trang 34Có thể thấy vai trò của hoạt động hợp tác quốc tế vô cùng quan trọng Sự kết nối với các tổ chức về tăng cường nguồn lực thông tin quốc tế sẽ giúp cho một liên hợp có thể làm phong phú thêm nguồn tin, nâng tầm công nghệ và khắc phục nhiều hạn chế do tận dụng được các nguồn lực thông tin miễn phí có sẵn
1.2 Chia sẻ nguồn tin điện tử: thách thức và thời cơ cho các cơ quan thông tin - thư viện
Sự cần thiết hợp tác giữa các thư viện
Những thay đổi về kinh tế và xã hội gần đây đã, đang góp phần hình thành “xã hội thông tin” Trong xã hội đó thông tin được xem như “hàng hóa” và nó đem lại sức mạnh, tạo thế cạnh tranh giữa các quốc gia cũng như giữa các cá nhân Khoảng cách giữa người giàu thông tin “information rich” và người nghèo thông tin “information poor” ngày càng lớn Để thu hẹp được khoảng cách trên, thư viện đóng vai trò vô cùng quan trọng vì thư viện là nơi cung cấp một số dịch vụ thông tin đáng tin cậy Và chính
sự hợp tác giữa các thư viện là một trong những con đường để các thư viện tăng cường nguồn lực và cải thiện chất lượng dịch vụ của mình
Hơn nữa, thế kỉ 21 xuất hiện sự bùng nổ thông tin khi mà internet được sử dụng như một phương tiện mới để lưu trữ và phân phối thông tin Thách thức lớn đối với người làm nghề thông tin và các trung tâm thông tin thư viện là giám sát, quản lý lượng thông tin khổng lồ hàng ngày được tạo ra và phổ biến trên thế giới Thực tế cho thấy không một thư viện nào một mình có thể quản lý được khối lượng thông tin khổng lồ trên thế giới và đáp ứng hữu hiệu nhu cầu tin đa dạng ngày càng tăng của các nhóm người dùng tin Với lý do này khái niệm liên hiệp thư viện được phát triển Liên hiệp thư viện được biết đến với mục đích chia sẻ nguồn lực thông tin ở nhiều mức độ
và trên nhiều phạm vi khác nhau
Năm 2009, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực trong đó có lĩnh vực TT-TV Ngân sách cấp cho nhiều thư viện và trung tâm thông tin
bị cắt giảm hoặc không tăng trong khi đó chi phí cho việc bổ sung tài liệu và mua sắm trang thiết bị của các thư viện không ngừng tăng Vì vậy hợp tác là cơ hội để các thư viện chia sẻ gánh nặng tài chính
Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay chất lượng giáo dục đại học và chất lượng nghiên cứu ở Việt Nam khá thấp so với khu vực và các nước trên thế giới Khả năng
Trang 35nghiên cứu, khai thác, đánh giá và sử dụng thông tin của sinh viên chưa cao trong khi
đó nguồn lực thông tin của hầu hết các thư viện đại học thiếu về số lượng và kém về chất lượng Với những lý do trên việc đẩy mạnh hợp tác giữa các cơ quan thông tin thư viện ở nước ta hiện nay là hết sức cần thiết
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học tìm hiểu về cuộc cách mạng trực tuyến, khi Internet mới bắt đầu trở nên phổ biến đã có nhiều người hoài nghi về những rủi ro của nó đối với xã hội Trên thực tế, mặc dù có nhiều mặt trái, song không thể phủ nhận những lợi ích to lớn mà internet mang lại cho xã hội
Trong hoạt động TT-TV, cộng đồng thư viện toàn cầu đã thực sự đặt chân vào thế giới của thư viện điện tử từ những năm đầu thập kỷ 1990 Ở Việt Nam, năm 1997 lần đầu tiên Internet được đưa vào ứng dụng Sự kiện này đã tạo đà cho sự phát triển mới trong lĩnh vực thư viện - thông tin ở Việt Nam khi triển khai mạnh mẽ hơn việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động nghiệp vụ thư viện Việc sử dụng Internet trong các thư viện ở Việt Nam ngày càng trở nên phổ biến Tính đến năm
2006, đã có khoảng 80% các thư viện tỉnh ở Việt Nam triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ
Sự phát triển của công nghệ đã làm cho tính chất nghề thư viện có nhiều thay đổi Sự bùng nổ thông tin trong thế kỷ XX đã mang lại cuộc cách mạng công nghệ trên diện rộng và việc truy cập tới thông tin trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết Các thư viện thuộc mọi loại hình đã và đang trải qua một giai đoạn với những thay đổi vô cùng nhanh chóng Sự phát triển xã hội và phát triển về công nghệ bắt đầu từ cuối thế kỷ
XX đã thay đổi về cơ bản cách thức mà thư viện thực hiện những nhiệm vụ truyền
Trang 36thống như lựa chọn, tổ chức, bảo quản và truy cập thông tin Ở nhiều thư viện, những
bộ sưu tập tài liệu giấy đã nhường chỗ cho các bộ sưu tập được kết nối mạng, lưu trữ trên máy tính và người dùng có thể tra tìm được như các cơ sở dữ liệu thư mục, các mục lục truy cập công cộng trực tuyến (OPAC) đã khiến người dùng không cần phải trực tiếp đến các tòa nhà thư viện nữa Cùng với việc số hóa ngày càng nhiều bộ sưu tập và việc phát triển các phần cứng và phần mềm tin học và truyền thông, việc truy cập tới các thông tin được số hóa nằm trong các bộ sưu tập ở nhiều địa điểm khác nhau đã trở thành hiện thực Các bức tường thư viện vì vậy đã bị xóa bỏ và “thư viện ảo” trong không gian ảo đã ra đời
Hàng năm có tới 1 triệu đầu sách và ấn phẩm định kỳ mới xuất hiện và con số này ngày càng tăng; Các cơ sở dữ liệu xuất hiện ngày càng nhiều và đa dạng Số lượng thông tin có thể truy cập qua mạng Internet lớn đến nỗi nó dẫn tới sự thay đổi
về chất của các dịch vụ thông tin mà các thư viện cung cấp Thông qua Internet, các thư viện có thể cung cấp cho người dùng tin các dịch vụ thông tin và truy cập tài liệu, các cơ sở dữ liệu trực tuyến trong suốt 24h mỗi ngày và 7 ngày mỗi tuần Tại nhà hoặc
từ bất kỳ nơi nào khác, người dùng có thể kiểm tra trực tuyến các danh mục tại các thư viện, đăng ký các tài liệu mà họ muốn mượn, và gia hạn các tài liệu đến hạn hoặc quá hạn trả - mọi chức năng của các hệ thống thư viện tổng hợp đều có thể đến được với công chúng thông qua mạng Internet
Hơn hết, chưa khi nào hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử lại trở nên dễ dàng và thuận lợi đến như vậy Hạ tầng công nghệ thông tin phát triển mạnh giúp cho các tổ chức thông tin có thể nâng cao chất lượng chia sẻ nguồn tin điện tử ở phạm vi rộng lớn và mở ra nhiều tiện ích cho người sử dụng
Những thay đổi và đổi mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin và các hoạt động thông tin đang đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các mặt hoạt động của đời sống xã hội Hiểu rõ được điều này, Việt Nam cũng đã xây dựng dự án quốc gia về phổ cập công nghệ thông tin và thiết lập mạng lưới tri thức trẻ, do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đứng ra triển khai Mục tiêu của
dự án này là nhằm phổ biến rộng rãi các thành tựu khoa học công nghệ mới; giúp đỡ thanh niên tự mình tổ chức các dịch vụ máy tính và Internet; hỗ trợ nhu cầu thông tin liên lạc, thu thập và sử dụng tri thức mới của người dân Dự án chú trọng hỗ trợ nhân
Trang 37dân ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi tập trung khoảng 80% dân số Việt Nam, nơi mà người dân rất ít có cơ hội tiếp cận các nguồn thông tin và tri thức mới Trong giai đoạn đầu, tiểu dự án “Xây dựng mô hình cung cấp thông tin khoa học và công nghệ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở các khu vực vùng sâu vùng xa” đã được triển khai ở 4 tỉnh là: Bắc Kạn, Lai Châu, Yên Báo, và Thái Nguyên” Bên cạnh đó, một số tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin như Tổng công ty VIEC, Vietkey Group, công ty VDC , Trung tâm đào tạo tin học PT, và Báo Tuổi trẻ cũng đã phối hợp tổ chức các khóa đào tạo về công nghệ thông tin dành cho thanh niên nông thôn, vùng sâu vùng xa Bên cạnh đó, chương trình “Máy tính Thánh Gióng” cũng đã được triển khai từ tháng 6/2004 Với sự tham gia của các hãng máy tính lớn như Intel, Hewlett Packard, LG Electronics, Microsoft, Samsung, Seagate, VDC, CMC, và FPT, cũng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu của người dân sống ở nông thôn Tất cả những hoạt động trên chính là sự chuẩn bị tích cực cho việc triển khai một dự án khác mang tên “Kỹ năng máy tính và Nối mạng tri thức”
Cùng với dự án Thánh Gióng, rất nhiều hoạt động hỗ trợ cộng đồng đã nhận được sự ủng hộ của xã hội Những tác động của các dự án như trên đối với đời sống người dân là hết sức đáng kể Tuy nhiên, có một điểm dễ nhận thấy là các dự án như trên mới chỉ chú trọng chủ yếu đến phát triển hạ tầng công nghệ (phần cứng, phần mềm, truy cập Internet) cũng như các kiến thức liên quan đến sử dụng thành thạo máy tính Chắc chắn hiệu quả của những sự đầu tư như trên sẽ được nâng cao hơn lên nếu như người dân được trang bị cả kiến thức liên quan đến việc khai thác, thẩm định và sử dụng thông tin một cách hiệu quả Nói cách khác, kiến thức thông tin cần phải được tích hợp vào các chương trình phổ cập tin học Đây vừa là thách thức, nhưng cũng là thời cơ quan trọng để triển khai các chương trình kiến thức thông tin tại Việt Nam
1.2.1.2 Bối cảnh và xu hướng sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện ngày nay
Theo dự báo của nhiều nước phát triển, trong tương lai gần, tài liệu điện tử sẽ là một phương thức cơ bản của hoạt động xuất bản Qúa trình ra đời và hoàn thiện không ngừng của tài liệu điện tử với những tiện ích vượt trội so với tài liệu in giấy đã và đang
mở ra một thời cơ mới cho hoạt động chia sẻ nguồn tin điện tử ngày một phát triển
Trang 38Sự chuyển dịch tài liệu đọc từ dạng in sang dạng điện tử
Những thay đổi hiển nhiên được dự báo liên quan đến những chuyển dịch tài liệu đọc sang định dạng số, được phân phối thông qua các thu xếp cấp phép, thay vì những tài liệu in sẵn ra để mua Những loại hình tài liệu khác nhau được tạo ra bởi những nhóm nhà xuất bản khác nhau sẽ đến thẳng đích là người dùng tin trực tuyến ngay khi được xuất bản Ngày nay, hầu hết các tạp chí khoa học và nghiên cứu, ấn phẩm nhiều kỳ, sách, âm nhạc và phim ảnh, tất cả những nội dung điện tử đều có xu hướng xuất bản chung này Đặc biệt, những ấn phẩm nhiều kỳ là dạng tài liệu hướng tới phân phối dưới dạng số sớm nhất Thậm chí ngày nay, phần lớn thư viện đại học
và nghiên cứu đã và đang trải qua sự dịch chuyển tạp chí khoa học và nghiên cứu từ dạng in sang dạng bản điện tử Nhiều trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới
đã thay vì mở rộng các ấn phẩm nhiều kỳ đóng tập bằng các sản phẩm hay cơ sở dữ liệu tạp chí điện tử Tại Việt Nam hiện nay, mảng tài liệu in vẫn còn phát triển mạnh, tuy nhiên, với sự bùng nổ kết nối trực tuyến với các mạng xã hội, rất có thể trong 5 đến 10 năm nữa, thị trường tài liệu điện tử Việt Nam sẽ rất sôi động
Sự chuyển dịch trong lĩnh vực xuất bản tài liệu nghiên cứu và học thuật
Ngày nay, với các tài liệu nghiên cứu và học thuật, chúng ta có thể thấy mô hình xuất bản mới như xuất bản truy cập mở (Open Access Publishing), với cách này tác giả chi trả phí xuất bản để hỗ trợ việc truy cập miễn phí vĩnh viễn tới tài liệu hay
ấn phẩm nhiều kỳ xuất bản theo mô hình này Chúng ta cũng nhận thấy sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nhà xuất bản thương mại và các trường đại học, viện nghiên cứu hiện đang tự xuất bản những nghiên cứu khoa học riêng của họ Trong lĩnh vực xuất bản tài liệu khoa học và nghiên cứu có nhiều động lực đang diễn ra, đồng thời khiến chúng ta khó dự đoán được hình hài của nó trong tương lai lâu dài
Các bản thảo, hình ảnh, và nhiều tài liệu nghiên cứu có tính lịch sử khác đang và sẽ được hưởng lợi ích từ các dự án số hóa hàng loạt khối lượng lớn trong những thập kỷ tới Trong khi các nhà nghiên cứu cấp cao tiếp tục đánh giá cao khả năng truy cập tới những đối tượng tài liệu gốc, thì phần lớn các học giả sẽ thấy rằng các công nghệ số mở ra khả năng tiếp cận dễ dàng đến những kho báu này hơn thời gian trước rất nhiều, khi mà những tài liệu này bị bó hẹp bởi khả năng tiếp cận theo cách truyền thống
Trang 39Xu hướng số hóa sách in của các thư viện
Sách cũng sẽ thay đổi hoàn toàn trong những thập kỳ tới đây Không chắc nó
có diễn ra trong một thập kỷ nữa hay không, nhưng tất cả sách đã từng được xuất bản
sẽ được số hóa Bất kể có những rào cản pháp lý, Google dường như đang trên đường hoàn thành những dự án số hóa hàng triệu đầu sách từ những thư viện lớn nhất thế giới Nhiều dự án số hóa khối lượng lớn khác đang diễn ra cũng sẽ đóng góp vào nỗ lực này Trong vòng 20 năm nữa thôi, tất cả sách mới sẽ được xuất bản dưới dạng số, các bộ sưu tập thư viện hiện nay sẽ dần dần chuyển dịch ra khỏi các bộ sưu tập in truyền thống Thư viện công cộng với các bộ sưu tập tài liệu có thể thay đổi nhanh chóng, sẽ cảm nhận được tác động bởi những sự dịch chuyển này trước khi thư viện đại học và nghiên cứu với những bộ sưu tập tài liệu lớn Tuy nhiên, khó có thể dự báo được khi nào thì sách in sẽ không tồn tại hoàn toàn Một số nhà nghiên cứu sẽ vẫn tiếp tục làm việc với tài liệu in, thậm chí nội dung của tài liệu đó sẵn có sẵn bản điện tử Thậm chí về lâu dài, chúng ta có thể chỉ thấy lợi ích trong việc số hóa những
bộ sưu tập nghiên cứu lớn nhằm tìm kiếm và phát hiện dễ dàng sự tồn tại của chúng hơn là truy cập tới tài liệu toàn văn
1.2.1.3 Chính sách phát triển hoạt động thông tin khoa học và công nghệ của Nhà nước
Các thư viện ngày càng nhận được sự quan tâm của Nhà nước Cụ thể, Nhà nước đã ban hành Chiến lược phát triển ngành thư viện đến 2020 và chính sách đầu tư cho phát triển thư viện đang được coi trọng Từ đầu những năm 2000, hơn 20 thư viện đại học trong cả nước được đầu tư lớn với kinh phí tăng dần từ 500.000 đô la Mỹ, 750.000 và hơn 3 triệu đô Ngoài ra một số thư viện đã sử dụng nguồn vốn ngân sách rất lớn (Đại học Bách khoa Hà Nội 200 tỷ đồng) Đặc biệt, tổ chức Atlantic Philanthrophie (Mỹ) đã tài trợ cho 4 trung tâm học liệu lớn với tổng chi phí từ 5 đến
10 triệu đô la Mỹ cho một trung tâm
Bên cạnh đó, Nghị định số 11/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 2 năm 2014 về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ bao gồm: nội dung hoạt động, hạ tầng thông tin
và cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ, các biện pháp bảo đảm phát triển,
tổ chức và quản lý nhà nước về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ ra đời tạo
Trang 40hành lang pháp lý thuận lợi cho hàng loạt các hoạt động thông tin khoa học và công nghệ trong đó Nội dung chi ngân sách nhà nước cho các hoạt động thông tin khoa học
và công nghệ nói chung và chia sẻ các nguồn tin điện tử phục vụ nghiên cứu và đào
tạo nói riêng được quy định tại Điều 21 đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho các tổ
chức thực hiện hoạt động thông tin khoa học và công nghệ:
“Điều 21 Nội dung chi ngân sách nhà nước cho hoạt động thông tin khoa học và
c) Xử lý, phân tích và tổng hợp thông tin khoa học và công nghệ; xây dựng, cập nhật
và khai thác cơ sở dữ liệu về khoa học và công nghệ; duy trì và phát triển mạng thông tin khoa học và công nghệ, trang thông tin và cổng thông tin điện tử về khoa học và công nghệ;
d) Tổ chức cung cấp thông tin khoa học và công nghệ phục vụ sự lãnh đạo của Đảng
và công tác quản lý của Nhà nước;
đ) Phổ biến thông tin, tri thức khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; xuất bản các ấn phẩm thông tin khoa học và công nghệ;
e) Tổ chức các hoạt động thư viện, hội nghị, hội thảo, triển lãm, hội chợ, chợ công nghệ và thiết bị và giao dịch thông tin công nghệ;
g) Hướng dẫn, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ thông tin khoa học và công nghệ;