1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TÀI LIỆU ôn THI tốt NGHIỆP môn THỰC HÀNH HƯỚNG dẫn

50 278 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 112,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khu Văn Miếu được chia làm 5 khu vực chính : KV1 : từ Văn Miếu Môn- Đại Trung Môn KV2 : Từ ĐT Môn- Khuê văn Các KV3 : Giếng Thiên Quang và 2 dãy nhà Bia KV4 : Khu Điện Đại Thành gồm : Đạ

Trang 1

TÀI LIỆU ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN THỰC HÀNH HƯỚNG DẪN

Câu 1 Anh( chị) hãy thuyết minh về thông tin chung về Văn Miếu- Quốc Tử Giám (Lịch sử hình thành, kiến trúc bố cục và chức năng ý nghĩa)

Trả Lời

Văn Miếu Quốc Tử giám nằm ở quận Ba Đình thành phố Hà Nội Bốn mặtđều là phố Cổng chính là phố Quốc Tử giám ở phía nam,phía Bắc là phốNguyễn Thái Học,phía Tây là phố Tôn Đức Thắng và phía Đông là phố VănMiếu

Năm 1070 Vua Lý Thánh Tông đã cho xây dựng Văn Miếu,đắp tượngKhổng Tử, Chu Công và Tứ phối,vẽ tượng thất thập nhị hiền và cho thái tử CànĐức đến học ở đó

Năm 1076 vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử giám làm nơi học tập cho cáccon cái của các bậc đại thần và hoàng thân, quốc thích

Năm 1484, vua Lê Thánh Tông cho dựng bia tiến sĩ để thể hiện sự đãi ngộđặc biệt và cổ vũ phong trào học tập của tầng lớp nho sĩ

Năm 1802 Gia Long lên ngôi vua lập ra triều Nguyễn,kinh đô chuyển vào PhúXuân và lập văn miếu Huế Khi đó văn miếu Thăng Long chỉ còn là văn miếucủa trấn Bắc thành ,còn Quốc Tử giám đổi thành học đường của phủ Hoài Đức Năm 1805 tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành đã xây dựng Khuê VănCác ở Văn Miếu

Năm 1906 toàn quyền Đông Dương đã xếp hạng khu vực Văn Miếu Quốc Tửgiám là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia

Năm 1962 bộ văn hóa công nhận xếp hạng Văn Miếu QTG là di tích lịch sửcấp quốc gia

Năm 1994 xây dựng 8 nhà che bia,sắp xếp lại bia tiến sĩ,sửa chữa đườngđi,nạo vét lại Thiên Quang Tỉnh

Trang 2

Năm 2000 khánh thành công trình nhà Thái Học kỉ niện 990 năm ThăngLong- Hà Nội.

Tông diện tích của Văn Miếu QTG là 54,331 km 2 Khuôn viên được baobọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch vồ

Văn Miếu được chia ra làm 2 khu là ngoài trời và khu nội tự Văn Miếu QTG.Khu ngoài trời gồm Hồ Văn với diện tích 12000m 2 , 2 bia hạ mã và Tứ trụcùng với vườn giám Khu Văn Miếu được chia làm 5 khu vực chính :

KV1 : từ Văn Miếu Môn- Đại Trung Môn

KV2 : Từ ĐT Môn- Khuê văn Các

KV3 : Giếng Thiên Quang và 2 dãy nhà Bia

KV4 : Khu Điện Đại Thành gồm : Đại Thành Môn + Nhà Đại Bái + Điện ĐạiThành + Đông Vu, Tây Vu

KV5 : khu Nhà Thái Học

Ngày nay Văn Miếu QTG là nơi tổ chức các sự kiện quan trọng của ngànhgiáo dục Việt Nam như cấp bằng giáo sư,tiến sĩ,… và được coi là thước đochuẩn mực của lĩnh vực giáo dục.Nó còn là nơi lưu giữ và bảo tồn các giá trịlịch sử quý báu và nghệ thuật điêu khắc của dân tộc Đây cũng là 1 di tích tiêubiểu của thủ đô Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung Hàng năm điểm di tíchnày thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, tìmhiểu

Câu 2 Anh (chị) hãy thuyết minh về Khuê Văn Các tại Văn Miếu- QTG Trả Lời :

Khuê văn các là 1 lâù vuông 8 mái được tổng trấn Nguyễn Văn Thành cho xâydựng vào năm 1805 dưới triều vua Gia Long Gác được xây trên 1 nền vuông caolát gạch bát tràng, kiểu dáng kiến trúc khá độc đáo: tầng dưới là 4 trụ gach, bốn bềtrống không , tầng trên là kiến trúc gỗ 2 tầng mái lợp ngói ống , trag trí 4 góc bằngđất nung Sàn gỗ có chừa 1 khoảng để bắc thang lên gác bốn cạnh có diềm gỗtrạm trổ tinh vi , xung quanh là lan can con tiện bốn mặt gác trổ 4 cửa sổ hình

Trang 3

tròn xung quanh có những thanh gỗ con tiện tỏa ra 4 phía tượng trưng cho các tiacủa sao khuê tỏa sáng Ngoài ra các cửa sổ hình tròn còn tượng trưng cho trời trênnền lầu hình vuông là sự hòa hợp giữa trời đất, hài hòa âm dương.

Khuê văn theo cách lí giải truyền thống về thiên thể : khuê là tên 1 ngôi saotrong chòm 28 ngôi sao, là đầu bạch hổ phương tây, có 6 ngôi, sắp xếp khúc khuỷugiống hình chữ văn Trong sách hiếu kinh có ghi: “khuê chủ văn chương” về saungười ta coi sao khuê biến hóa là người đứng đầu của quan văn

Nếu các bạn để ý trên tầng 2 của Khuê Văn Các phía bên trong nhìn xuống giếngThiên Quang sẽ thấy có câu đối rất hay :

Khuê tinh thiên lãng nhân văn xiểnBích thủy xuân thâm đạo mạch trườngNghĩa là :

Sao Khuê tỏa sáng nền văn ngời mởNước sông Bích xanh đạo học dài lâuKhuê Văn Các là biểu tượng của tình yêu văn chương, nghệ thuật yêu cái đẹp củangười Việt

Câu 3 Anh chị hãy thuyết minh về Bia Tiến sĩ tại Văn Miếu- Quốc Tử Giám Bài làm

Ở khu vực trung tâm của Văn Miếu QTG nơi có Khuê Văn Các và Thiên QuangTỉnh còn lưu giữ 82 tấm bia đá ghi khắc họ tên,quê quán của 1307 vị tiến sĩ.Đó lànhững di vật bậc nhất của di tích

Ý tưởng dựng bia ghi tên các tiến sĩ do Lê Thánh Tông,vị hoàng đế có tài cao họcrộng khởi xướng và các đời vua kế tiếp sau đã dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu nhằmbiểu dương nho sĩ hiển đạt và hiếu học Ngay ở tấm bia được dựng đầu tiên mụcđích dựng bia được nói rõ ràng “cho nên lại ghi tên khắc đá bầy nơi của hiền tàikhiến kẻ sĩ vào mà sinh lòng hâm mộ phấn trấn tự rèn luyện lấy danh tiết”.Nhữngtấm bia năm 1463, 1565, 1721, 1739 cũng ghi tương tự Như vậy suốt 3 thế kỉdựng bia là việc biểu dương các nho sĩ hiển đạt và khích lệ việc học hành thi cử

Trang 4

Nhưng đằng sau đó còn bộc lộ ý đồ của các chính quyền là rất muốn nắm các sĩphu và biến sĩ phu là công cụ của bộ máy cai trị.

Trên tất cả các tấm bia đều nói tới vai trò và giá trị nhân đạo “hiền tài là nguyênkhí của quốc gia,nhân tài đối với quốc gia quan hệ rất lớn…”

Như vậy có thể thấy một quy trình thi cử chọn ra hiền tài,hiền tài là nghuyên khícủa quốc gia,nguyên khí lên hay suy nhược ảnh hưởng tới vận mệnh yếu hay mạnhcủa quốc gia.Một vấn đề đánh chú ý nữa là để có nhân tài phải đào tạo vuntrồng,bồi dưỡng chứ không phải tự nhiên mà có được

Ở tâm bia đầu tiên có răn kẻ sĩ phải đem tài năng tô điểm cho cảnh trị bình,tức cótrách nhiệm về sự hưng suy của đất nước,không thể làm ngơ trước vận mệnh củađât nước,kẻ sĩ có trách nhiện về đạo lý là không được để thoái hóa,xa ngã,đồi bại.Ngoài ra bia tiến sĩ còn khuyến khích điều lành,ngăn ngừa điều ác:bia năm 1442

“ghi tên,khắc đá bày nơi cửa nhà Thái Học khiến kẻ sĩ phu trông vào mà lòng hâm

mộ phấn chấn tự rèn luyện lấy danh tiết,gắng sức giúp vua,há chỉ là trọng vănxuông ham tiếng hão mà thôi đâu”

Từ năm 1442 đến năm 1787 dưới triều Lê đã tổ chức 124 khoa thi tiến sĩ nhưnghiện nay ở Văn Miếu QTG còn lưu gữu 82 tấm bia được xếp thành 2 khu vực đôngtây bên giếng Thiên Quang,mỗi bên 41 bia dựng thành 2 hàng.Cách sắp xếp biakhông theo thứ tự thời gian,triều đại mà đan xen nhau.Nhà che bia lúc đầu đã có vàđược tu sửa nhiều lần nhưng bị tàn phá đến năm 1994 mới được làm lại

Đợt 1 dựng bia vào năm 1484 dựng 10 bia cho các khoa thi từ 1442 đến 1484 Đợt 2 dựng bia vào năm 1653 dựng 25 bia cho các khoa thi từ 1554 đến 1652Đợt 3 dựng bia vào năm 1717 dựng 21 bia cho các khoa thi từ 1656 đến 1712 Còn 26 bia được dựng ngay sau các khoa thi

Bia tiến sĩ được dựng trong thời gian gần 300 năm nhưng đều được làmbằng 1 loại đá xanh khai thac từ Thanh Hóa.Kích thước không đều nhau,cùng đặttrên lưng rùa bởi rùa là loài sống lâu tượng trưng cho sự trường tồn,bia đặt trênlưng rùa tượng trưng cho tiếng thơm cưa các sĩ tử vang danh muôn thủa

Trang 5

Mỗi tấm bia đều có 3 phần là trán bia có hình khung vòm;thân bia hình chữnhật.Đây là phần chính cuả bia,phần trên cùng sát với trán bia khắc Liên đại tổchức khoa thi,bên dưới là bài kí khắc theo chiều dọc của bia có nội dung ca ngợitriều vua đang trị vì.Năm tổ chức khoa thi,tên và chức tước của các vị được vua sai

tổ chức kì thi với nhiệm vụ cụ thể,số lượng thí sinh,người soạn văn bia,ngườinhuận sắc và cả người viết chữ để khắc đá cũng có trên bia.Sau phân văn bia la họtên,quê quán của cá vị đỗ kì thi đó theo thứ tự từ cao xuống thấp

82 bia tiến sĩ là những di vật bậc nhất của Văn Miếu QTG có giá trị về nhiều mặtnhư giá trị lịch sử và đặc biệt là giá trị mỹ thuật.Bởi 82 tấm bia là 82 phong cáchđiêu khắc nhưng được chia làm 3 loại theo thời gian dựng bia và đặc trưng nghệthuật của bia

Bia loại 1 gồm các bia dựng từ năm 1484 – 1536

Bia loại 2 gồm các bia dựng cùng năm 1653

Bia loại 3 gồm các bia dựng từ năm 1717-1780

Trong đó 25 bia loại 2 là những bia có nghệ thuật trang trí tiêu biểu và quý giá nhấtbởi loại 2 cao to hơn loại 1.Hình dáng của trán bia cong vút lên gần với hình bánnguyệt,rùa được khắc họa bằng những khối vuông góc cạnh,đường nét đơngiản,dứt khoát.Bia được trang trí chủ yếu là 2 rồng chầu nguyệt hoặc hình phượngchậu mặt nguyệt.Nghệ thuật chạm khắc đạt đến 1 trình đọ tinh xảo,bố cục cânxứng đăng đối.Tính sinh động đa dạng của bố cục cũng là 1 đặc điểm nổi bật trêncác trang trí của bia.Nghệ nhân không chịu gò bó theo 1 vài hình mẫu mà có sựsáng tạo ra nhiều hình mẫu khác

Bia Tiến Sĩ được coi là những “Pho sử đá” vì giá trị lịch sử cũng như giá trị điêukhắc của nó Có thể nói 82 bia Tiến sĩ là một trong những hiện vật chủ đạo củakhu di tích Văn Miếu- QTG Với giá trị to lớn như vây nên năm 2010 Bia Tiến Sĩ ởVăn Miếu đã được tổ chức UNESCO công nhân là di sản văn hóa thế giới

Câu 4 Anh ( chị) hãy thuyết minh về chế độ thi cử thời kỳ phong kiến ở nước ta.(kể tên các kỳ thi, điều kiện để được dự thi, các chức danh sau khi đạt được sau các kỳ thi đó, nội dung các môn thi).

Bài Làm

Trang 6

- Thi khảo hạch : là kì thi để chọn những người đi thi Hương do địa phương tổchức Quy chế thi khảo hạch thay đổi tùy theo từng triều đại Dưới thời Trần

kỳ thi này chỉ có một bài ám tả ( chính tả) để loại bớt những người kém Đếnthời Lê sơ thí sinh tham gia phải làm 1 bài ám tả và 3 bài kinh nghĩa, do cácquan huyện, châu, phủ khảo bài, ai được chọn 3 bài trở lên mới gọi là đỗ.Thời Lê trung hưng quy định có thay đổi, huyện quan được phép khảo hạchhọc trò và cử người đi thi tùy theo : huyện lớn cử 200 người, huyện nhỏ 100người đưa lên quan phủ khảo kỹ lại mới cho thi Hương Thời nhà Nguyễnviệc thi khảo hạch được tiến hành trước kỳ thi Hương 4 tháng do Đốc học vàGiáo thụ ở tỉnh cử số người đi thi ở địa phương mình nhiều hay ít Nhữngngười đỗ khảo hạch không có danh hiệu hay học vị của nhà nước nào nhưngdân gian gọi họ là ông Xứ, người đỗ đầu được gọi là ông Đầu xứ

- Thi Hương :

 Thời gian thi : thời gian thi Hương không cố định, có năm tổ chức vàotháng 8, có năm tháng mười Đến thời Nguyễn quy định cứ 3 năm mởmột kỳ thi Hương

 Trường thi : thi Hương được tổ chức theo vùng gồm nhiều trấn hay lộ dotriều đình quy định Trường thi được dựng trên một bãi đất bỏ hoanghoặc trên cánh đồng đã thu hoạch, chia làm 3 ngăn Ngăn ngoài cùng làdành cho thí sinh ngồi thi có 8 khu vực Hai ngăn bên trong là nơi làmviệc của các quan giám khảo Tiền làm trường thi do các xã nộp lên

 Thí sinh : Thí sinh dự thi phải có lý lịch đạo đức tốt và trúng tuyển kỳ thikhảo hạch Những nhà làm nghề hát xướng, có tiếng xấu thì bản thân vàcon cháu đều không được đi thi Người có tang cha mẹ cũng không đượcthi và phải đến phủ khai tên Nếu đi thi mà đỗ cũng bị truất, trường hợpthi hộ sẽ bị cấm thi suốt đời Khi vào trường thi bị khám xét nếu ai mangsách vở, tài liệu, bài làm sẵn sẽ bị đuổi và cấm thi suốt đời Nội quytrường thi rất khắt khe, bài làm phải được trường thi đóng dấu trước.Trong bài thi không được viết tên các vua, chúa, tổ tiên, cha mẹ, vợ vàcác cung điện của vua chúa đương triều Nếu viết những chữ ấy phải bỏsót đi một nét

 Nội dung các môn thi : Thi Hương có 4 kỳ : 1- Kinh nghĩa, 2- thơ phú, chế, chiếu, biểu, 4- văn sách Mỗi quyển thi phải có bốn lượt chấm : sơkhảo, phúc khảo, chánh phó chủ khảo và phân khảo chấm lại Bài thiđược chấm theo bốn bậc : ưu, bình, thứ, liệt Bài nào bị liệt là hỏng thi

3-Số người lấy đỗ do triều đình ấn định trước, tùy theo tưng trường thi có

số thí sinh nhiều hay ít

 Danh hiệu : Thời Lê, người trúng 4 kỳ được gọi là hương cống, 3 kỳ gọi

là sinh đồ Thời Nguyễn qua 4 kỳ ai được 2 thứ và 1 bình trở lên thì đỗ

cử nhân, 3 thứ thì đỗ tú tài Người đỗ đầu thi hương được gọi là Giải

Trang 7

nguyên Ai đỗ Hương cống ( cử nhân) được vào học ở Quốc tử giám đểthi Hội.

- Thi Hội :

 Thời gian tổ chức thi : Thi hội được tổ chức vào năm sau của thi hương,thường vào mùa xuân

 Địa điểm : Thi hội được tổ chức ở kinh đô do triều đình tổ chức cho ai đã

đỗ hương cống ( hoặc cử nhân), giám sinh quốc tử giám và ấm sinh, cácquan chức nhỏ đã qua khảo hạch

 Công tác chấm thi : Các quan chức coi thi và chấm thi có các chức như ởthi hương nhưng được lấy trong các quan cao cấp của triều đình Thi hộicũng có bốn kỳ như thi hương nhưng đề bài yêu cầu cao hơn Bài thiđược chấm theo nhiều bậc có số phân từ 1- 10 Qua 4 kỳ những ai được 5phân trở lên thì được vào thi Đình

 Người đỗ đầu thi hội được gọi là hội nguyên

 Dựa vào kết quả các thí sinh thi đình được chia làm 3 hạng : Đệ nhất giáptiến sĩ gồm 3 người đỗ đầu ( tam khôi) : Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thámhoa, đệ nhị giáp tiến sĩ (hoàng giáp) và đệ tam giáp tiến sĩ ( Đồng tiến sĩxuất thân) Trong thi đình tùy theo quyết định của nhà vua có thể lấy đỗ

cả 3 hạng hoặc chỉ 1 hoặc 2 hạng

- Các kì thi khác : Ngoài các kì thi Hương, thi Hội, thi Đình được tổ chức định

kỳ còn có các kỳ thi khác : Thi tam giáo, minh kinh, hoành từ, thi ĐôngCác

Câu 5 Bài thuyết minh CỐ ĐÔ HOA LƯ

Cố Đô hoa lư là kinh đô đầu tiên trong nền văn minh Đại việt của dân tộc, nềnphong kiến tập quyền ở nước ta

Trung tâm cố Đô hoa lư là khu vực hai ngôi đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua

Lê Đại Hành thuộc xã Trường Yên

Phía Đông bắc thành cã núi cột cờ, xưa là nơi vua Đinh cắm cờ nước

Núi Mã Yên, tương truyền là vua Đinh Tiên Hoàng lấy núi này làm án

Trang 8

Năm 968, Đinh bộ lĩnh lên ngôi hoàng đế, gọi là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước làĐại Cồ Việt.

Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư (xã Ttrường Yên, huyện Hoa Llư ngày nay) làvùng núi non kì thú nhưng hiúm trở đú làm thủ đô - ''kinh Đô Đá''

Sách ''Đại việt sử lược'' (khuyết danh thời Trần) có ghi: “Đến năm thứ nhất niênhiệu Khai Bảo (968) đời vua triệu là Tống Thái Tổ, Vương xưng Hoàng đế ởđôngHoa Lư Rồi dựng cung điện, chế triều nghi, sắp đặt trăm quan, lập xã tắc và tônhiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế”

Nhà sử học Lê Văn Hưu (1230 - 1322), trong cuốn ''Đại việt sử ký'', khi bàn vềĐinh Ttiên Hoàng có viết:

"Tiên hoàng với tài năng sáng suốt hơn người, dòng lược bậc nhất thiên hạ, đảmđương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ khắp nơi, một lần cử

sự, mười hai sứ quân đều thần phục hết Thế rồi mở nước, dựng đô, đổi niên hiệu,xưng Hoàng đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đủ"

Tại đây, ông cho xây cung điện, đặt triều nghi, đắp thành, đào hào, dựa vào thế núixây dựng một công trình phòng ngự kiên cố như một pháo đài hiểm, biệt lập vớibên ngoài Vua Đinh Tiên Hoàng đã rất quan tâm đến việc xây dựng kinh thànhHoa Lư

Song song với việc đã vua Đinh Tiên Hoàng còn tổ chức bộ máy nhà nước tươngđối hoàn chỉnh, định phẩm hàm cho các quan văn, võ; phong Nguyễn Bặc làmĐịnh quốc công, giữ chức Thái Tể (đứng sau vua); phong Đinh Điền giữ chứcNgoại giáp (trông coi ngoài kinh thành), phong Lê Hoàn, giữ chức Thập Đạo tướngquân

Ngoài ra, vua Đinh Tiên Hoàng còn tổ chức quân đội rết chặt chẽ,chia làm l0 đạo,mỗi đạo có l0 quân, mỗi quân có l0 lữ, mỗi lữ cã lo tốt, mỗi tốt cã l0 ngũ, mỗi ngũ

Trang 9

Khi đã, trong nước nội bộ triều đình lục đục, ngoài nước nhà Tống (Trung Quốc)thừa dịp tiến hành mưu đồ thôn tính nước Đại Cồ Việt – Đất nước đang đứng trướchiểm họa bị giặc ngoại xâm de dọa nghiêm trọng.

Triều đình có vua nhưng vua Đinh Toàn còn ít tuổi, chưa đủ khả năng và uy tín đú

tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến Vì sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, TháiHậu Dương Vân Nga và một số quan lại cùng đông đảo quân sĩ đã suy tôn LêHoàn lên làm vua từ tháng 7 năm 980 Lê Hoàn là một người có uy tín trong triềulúc bấy giờ đang giữ chức thập Đạo Tướng Quân (tổng chỉ huy quân đội) Từ đóchấm dứt vai trò nhà Đinh trong lịch sử dân tộc Như vậy nhà Đinh chỉ ở ngôi được

13 năm (968 - 980)

Lễ trao ngôi vua đã diễn ra tại kinh đô Hoa Lư Lê Hoàn lên ngôi vua năm 980, lậpnên một triều đại mới, triều tiền Lê, vẫn lấy Hoa Lư làm kinh đô Một nhiệm vụlịch sử trọng đại đặt ra trước dân tộc và triều đình lúc bấy giờ là phải gấp rút tổchức cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống

Đầu năm 981, quân Tống theo hai đường thủy, bộ ào ạt đến xâm lược nước ta địnhtiến vào vây hãm kinh đô Hoa Lư Lê Hoàn trực tiếp tố chức và lãnh đạo cuộckháng chiến Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống đã giành được thắnglợi rực rỡ Lịch sử dân tộc lại ghi thêm một chiến công mới làm vẻ vang cho nonsông đất nước và kinh đô Hoa Lư Sau khi chiến thắng quân xâm lược Tống, LêHoàn tìm cách lập lại quan hệ bang giao với nhà Tống Các sứ thần của nhà Tốngđến kinh đô Hoa Lư, chứng kiến cánh núi sông hùng vĩ, thấy con người Đại CồViệt thông minh, có sức mạnh lớn lao, đã phải thán phục và kính nể nước Đại CồViệt Những cuộc bang giao của các sứ thần nhà Tống với nhà tiền Lê ở kinh đôHoa Lư khi đã, ghi nhận một quan hệ ngoại giao quốc tế ban đầu, một chính sáchđối ngoại kiên quyết nhưng mềm dẻo, khôn khéo đã giữ gìn hòa bình cho dân tộc.Đất nước lại bình yên, Lê Hoàn cho xây thêm nhiều cung điện lộng lẫy, góp phầnlàm cho kinh đô Hoa Lư ngày càng hoàn chỉnh, trong đó có những cung điện xâycột dát vàng, dát bạc, mái lợp bằng ngói bạc Trong cuốn ''Đại việt sử ký toàn thư''

của Ngô Sĩ Liên, có ghi: ''giáp thân năm thứ 5 (984): Dựng nhiều cung điện, làm

điện Bách Báo Thiên Tuế ở núi Đại Vân, cột điện dát vàng bạc, làm nơi coi chầu, bên Đông là điện Phong Lưu, bên Tây là điện Tử Hoa, bên Tả là điện Bồng Lai, bên Hữu là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại vân, rồi lại dựng điện Trường Xuân

Trang 10

làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân dựng điện Long Lộc lợp bằng ngói bạc…” Đây là tám công trình được xây dựng từ năm 984 Một công trình thứ chín xuất hiện nữa là điện Càn Nguyên.

Núi Đại vân nằm ở ngay phía sau khu đền Đinh và đền Lê hiện nay, còn gọi là núiLong Triều (Đại Nam nhất thống chí), dân địa phương gọi là núi Phi Vân dã xâydựng điện Bách Bảo Thiên Tuế Điều đã chứng tỏ kinh đô Hoa Lư có quy mô bềthế, đẹp đẽ, uy nghi, trang hoàng lộng lẫy, hòa nhập với thiên nhiên hùng vĩ

Năm l005, vua Lê Đại Hành qua đời tại điện Trường Xuân, ở ngôi 25 năm (980 –l005), thọ 64 tuổi Con thứ ba của vua Lê Đại Hành là Lê Trung Tông lên làm vuađược 3 ngày Lê Long Đĩnh (Lê ngọa triều) là con thứ 5 của vua Lê Đại Hành và là

em trai cùng mẹ của vua Lê Trung Tông, đã cướp ngôi, giết vua lê Trung Tông lênngôi năm l006 Năm l009 vua Lê Ngọa Triều mất Như vậy nhà tiền Lê ở ngôiđược 29 năm (980 – l009)

Suốt 42 năm tồn tại (968 - 1010) kinh đô Hoa Lư chủ yếu là đại bản doanh của hai

vị vua kiêm tổng tư lệnh quân đội: Vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại hành Đócũng là nơi ra đời của một vương triều mới : Nhà Lý

Cố Đô Hoa Lư sáng mãi với tên tuổi Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành Đinh TiênHoàng là người có công mở đầu, người khai phá và đặt nền móng cho kinh đô Hoa

Lư - Ông tổ phục hưng thống nhất quốc gia Lê Đại Hành là người chiến đấu vàbảo vệ kinh đô Hoa Lư, cũng có nghĩa là bảo vệ nền độc lập tự chủ của đất nước.Hai con người đã đã có cuộc đời kiệt xuất, huy hoàng sáng chói, như một sự bắtđầu, một sự kế thừa đủ khẳng định, tô điểm cho cố Đô Hoa Lư rực sáng muôn đời,

đi vào lịch sử như một bản anh hùng ca bất hủ

Câu 6 ĐỀN ĐINH TIÊN HOÀNG

Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, xưa nằm trong khu thành ngoại của kinh đô Hoa

Lư, nay thuộc thôn Yên Thành, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, Tỉnh Ninh Bình.Đền xây dựng theo thế dựa sơn hướng thủy, phía trước có sông Sào Khê saulưng là núi Long Triều

Theo lịch sử để lại, khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long,nhớ ơn tiên đế, nhân dân đã xây dựng hai ngôi đền thờ vua Đinh, vua Lê Trảiqua bao cuộc binh đao, năm 1606, Lễ Quận Công Bùi Thời Trung đứng ra xâydựng lại hai ngôi đền như cũ Năm 1676 nhân dân Trường Yên trùng tu lớn cả

Trang 11

hai ngôi đền Đến năm Thành Thái thứ 10 (1898), cụ Dương Đức Vĩnh và nhândân Trường Yên Thượng sửa đền vua Đinh, làm ngưỡng cửa đá và nâng cao đềnbằng tảng đá cổ bồng như ngày nay.

Đền vua Đinh được xây dựng theo kiểu “nội công ngoại quốc” (nghĩa là bêntrong chữ công (I), bên ngoài chữ quốc, đường đi lối vào lát hình chữ Vương Cáccông trình kiến trúc đăng đối theo trục đường chính đạo Các tên gọi phỏng theo têngọi của cung điện xưa Ngoài cùng là Ngọai môn quan (cổng ngoài) quay hướngbắc, ở phía trong Ngọai môn có bốn chữ “Tiền triều phượng các”(cửa phượngtrước triều), ở phía ngoài có bốn chữ “Bắc môn toả thược” (có nghĩa là khoáchặt cửa Bắc) (Có thể có ý sâu xa là “Đề phòng giặc Bắc”)

Đền vua Đinh được xây dựng theo kiểu đăng đối trên trục đường chính đạo.Bắt đầu từ hồ bán nguyệt và kết thúc ở Chính cung Hồ bán nguyệt là một hồnước xây dựng theo kiểu kiến trúc cung đình xưa Trong hồ thả hoa súng SauMinh Đường - Hồ Bán Nguyệt là bức bình phong Theo thuật phong thủy, bìnhphong để án ngũ gió độc Ở giữa bình phong là bông gió với họa tiết kiểu hoacúc, ý nói lên sự trường tồn

Phía sau bức bình phong, ở chính giữa có một sập đá nhỏ, hai bên có hai connghê đá chầu được chạm khắc rất đẹp bằng đá xanh nguyên khối Du khách đitiếp sẽ đến Nghi môn ngoại với 3 gian dựng bằng gỗ lim kiến trúc kiểu 3 châncột Qua nghi môn ngoại là đến Nghi môn Nội ( cửa trong) có kiến trúc giốngnhư Nghi môn ngoại

Vẫn đi theo đường Chính đạo lát gạch, hai bên là vườn hoa, cạnh vườn hoabên tay phải là nhà Vọng nơi các cụ bàn việc tế lễ Ở ngoài vườn hoa có hòn non

bộ “ Hình nhân bái tướng” ( Con người ngưỡng vọng) như dáng một cụ già vớimái tóc bạc hất ra sau, mặt ngước lên nhìn trời trầm tư suy nghĩ Tay trái đưa lêngần mặt, tay phải chống gậy biểu tượng cho khát vọng và sức mạnh của conngười

Bên tay trái du khách, đăng đối theo đường chính đạo là năm gian nhà KhảiThánh – nơi thờ cha mẹ vua Đinh Tiên Hoàng Tiếp với dãy nhà Khải Thánh lànhà Bia nơi đặt những tấm bia ghi họ tên, quê quán những người có công đónggóp xây dựng, trùng tu đền Vườn hoa phía trước nhà Khải Thánh cũng có mộthòn non bộ lớn “ Cửu long tranh châu” ( 9 rồng tranh ngọc) Chín con rồng uốnlượn uyển chuyển là biểu tượng của sự linh thiêng cao quý

Đi hết chính đạo, qua hai trụ cột lớn là đến sân rồng Giữa sân rồng có mộtlong sàng ( sập rồng) bằng đá xanh nguyên khối chung quanh chạm nổi Longsàng có hình hộp chữ nhật, dài 1,8m, rộng 1,4m, cao 0,95m ( kể cả bệ).Hai bênLong sàng có hai con nghê đá chầu, được tạc trên hai tảng đá xanh nguyên khối.Cạnh hông của sập đá tạc đầu rồng Bề mặt của sập rồng được tạc nổi hình conrồng với dáng vẻ khỏe mạnh và uy dũng Hai bên long sàng là tượng hai con

Trang 12

nghê chầu bằng đá xanh thuộc thế kỷ 17 Long sàng tượng trưng cho bệ rồngnên được điêu khắc với họa tiết rất đẹp Hai tay vịn của Long sàng là hai conrồng đang uốn mình trên tầng mây cao Dáng rồng rất thanh cao với đầu ngẩngcao để bờm bay phất phới, râu dài thả rủ về phía trước Xung quanh long sàng cócắm cờ tượng trưng cho các đạo quân, có nghê chầu, có ngựa trắng

Từ sân rồng bước lên là Bái đường 5 gian, kiến trúc độc đáo Phía sau longsàng là điện thờ Vua Đinh Tiên Hoàng Cấu trúc điện có hai phần: Bái đường vàchính cung Tòa bái đường để bàn thờ cộng đồng Trên bàn thờ là nhang án đượcchạm trổ rất đẹp, thuộc về thế kỷ 17 Tiếp đến là Thiêu hương, kiến trúc theokiểu ống muống, nơi thờ tứ trụ triều đình nhà Đinh là các quan trungthần: Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ Đi hết tòa Thiêu hương vàochính cung 5 gian Ngai thờ Vua Đinh Tiên Hoàng được đặt ở giữa chính cung,trang trí sơn son thếp vàng Ngai được đặt trên bệ với tượnng rồng tạc giống nhưrồng nơi long sàng Gian giữa thờ tượng Vua Đinh Tiên Hoàng được đúc bằngđồng đặt trên bệ thờ bằng đá xanh nguyên khối Hai bên bệ đá có hai con rồngchầu, tạc theo kiểu yên ngựa Trên bức đại tự có ghi hàng chữ: “Chính thốngthủy” với ý nghĩa ca ngợi Đinh Bộ Lĩnh là người mở nền chính thống Hai bêncột giữa có treo câu đối: “Cồ Việt Quốc đương Tống Khai Bảo – Hoa Lư đô thị

Hán Tràng An” (Nghĩa là: Nước Đại Cồ Việt sánh ngang với nước Tống - Kinh

đô Hoa Lư bề thế như kinh đô Tràng An ) Gian bên phải thờ tượng thái tử Hạng

Lang và Đinh Toànđều quay mặt về phía Bắc, là hai con thứ của Vua Gian bêntrái thờ tượng Nam Việt Vương Đinh Liễn quay mặt về phía Nam là con trưởngcủa vua

Đền Đinh Tiên Hoàng là một công trình kiến trúc độc đáo trong nghệthuật chạm khắc gỗ của các nghệ sĩ dân gian Việt Nam ở thế kỷ 17 Đền VuaĐinh cũng là công trình nghệ thuật đặc sắc với nhiều cổ vật quý hiếm được bảotồn, như gạch xây cung điện có khắc chữ Đại Việt quốc quân thành chuyên, cộtkinh Phật khắc chữ Phạn, các bài bia ký…

Câu 7 NHÀ DÀI NGƯỜI Ê ĐÊ – NHÓM 3 – C8G4

Thưa quý khách! Trước mắt chúng ta chính là ngôi nhà dài truyền thống củangười Ê đê Người Ê đê có dân số khoảng gần 300 ngàn thuộc nhóm ngữ hệ NamĐảo Địa bàn cư trú của họ chủ yếu ở Đăk Lăk, Gia Lai, Khánh Hòa và Phú Yên.Người Ê đê theo chế độ mẫu hệ và thường sống theo từng đại gia đình trong mộtngôi nhà Chính vì thế mà ngôi nhà sàn của họ thường rất dài, thậm chí trước đây

Trang 13

có ngôi nhà dài đến tận 200 mét, nhà nào càng giàu có, đông con cái thì nhà càngdài và đẹp.

Ngôi nhà này dài 42,5m, rộng 6m, sàn cao 1,1m, từ sàn lên nóc cao 4,3m

Nó được dựng lại trên nguyên mẫu nhà bà HĐách Êban ở buôn Ky, thành phốBuôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc Ngôi nhà được dựng theo hướng Bắc Nam như tất

cả các ngôi nhà dài truyền thống khác của người Ê đê với mục đích chắn gió mùaĐông Bắc và Tây Nam Phần mái nhà hình thuyền theo hai hướng Đông, Tây cótác dụng hấp thụ được nhiều sức nóng ánh sáng mặt trời để hơ sấy các phòng trongnhà vào mùa mưa Ngôi nhà được làm bằng các vật liệu truyền thống có sẵn trongcác buôn làng của người Ê đê : khung nhà bằng gỗ, vách và sàn bằng tre nứa, máilợp cỏ tranh Đầu và cuối nhà đều có cầu thang lên xuống, phía đầu nhà có 2 cầuthang dành cho khách và những người trong gia đình, còn cuối nhà là cầu thang chỉdành cho những người trong gia đình đi lại Cầu thang được làm bằng nguyên mộtthân gỗ, đẽo 7 bậc, trang trí hình lưỡi liềm và 2 bầu vú tượng trưng cho uy quyềncủa người phụ nữ Lên khỏi cầu thang là đến sân sàn trước Sân sàn trước gồmnhững thân gỗ ghép lại, đây là nơi giã gạo và cũng là nơi hóng mát, trò chuyện củacác thành viên trong gia đình vào buổi chiều sau một ngày làm việc mệt nhọc.Đằng sau nhà có một sân sàn nữa hẹp hơn là không gian để những người đàn ôngtrong nhà đan lát các vật dụng sinh hoạt

Tiếp theo, xin mời quý khách vào tham quan bên trong ngôi nhà Xin quýkhách lưu ý để giày dép ở bên ngoài, hoặc phải đeo bao vải bọc giày, dép trước khibước vào bên trong Bên trong căn nhà dài của người Ê đê được chia thành haiphần Một gian đầu nhà khá rộng ( tiếng Ê đê gọi là Gak) là nơi sinh hoạt chungcủa cả gia đình và là nơi tiếp khách Gian này có 3 hàng cột, chia gian nhà thành 3khoảng không gian theo chiều dọc Phần phía Tây là nơi để chiêng, trống cái vàmột chiếc ghế dài ( gọi là Kpan) Ghế được làm bằng lõi một cây cổ thụ nguyên

Trang 14

cây, không bị sâu bệnh, ghế không được ghép, chắp với cây gỗ nào khác và chiếcKpan thường dùng cho các nghệ nhân đánh chiêng trong những lễ hội, cúng mừngcủa gia đình hay cộng đồng Phần không gian ở giữa là nơi đặt bếp chính và cácché rượu cần Phần phía Đông là nơi ngủ của các con trai trong gia đình và khách.

Số lượng chiêng, trống, ché rượu càng nhiều thì càng thể hiện sự giàu có của giađình đó

Nối tiếp với gian nhà chung là khu vực giành cho các cặp vợ chồng ( gọi làOk) Khu vực này lại chia thành 2 phần theo chiều dọc Phần phía đông, là phòngngủ của các cặp vợ chồng, còn phần phía tây là bếp riêng của từng nhà Khi ngủ,người Ê đê quay đầu về hướng đông và chân về hướng tây Ngăn đầu tiên tính từsân sàn sau nhà là phòng của bà chủ nhà, gian này đặt bếp nấu ăn và bầu đựngnước sinh hoạt cho cả ngôi nhà và mọi hoạt động trong ngôi nhà do bà chủ quyếtđịnh Khi bà chủ mất hay tuổi đã già yếu thì "chức chủ nhà" giao cho cô con gái út,cho nên cô con gái út lấy chồng khi bà mẹ còn sống thì gia đình cô được sống sátgian của gian chủ nhà Người Ê đê thường ngại làm nhà mới nên khi có thêm cáccặp vợ chồng mới thì họ sẽ nối ngôi nhà cho dài thêm Phía cuối nhà có mộtkhoảng trống hình vuông dùng làm kho chứa lương thực Quý khách có thể thấytrên các cột hay xà nhà có trang trí nổi hình kỷ hà ( là những hình đường thẳng,tam giác, hình vuông hoặc tròn – đây cũng là mô típ trang trí quen thuộc trên trangphục của người Ê đê) hay hình các con vật như : voi, rùa, cá sấu, kỳ nhông điềunày thể hiện tín ngưỡng vạn vật hữu linh của người Ê đê

Thưa quý khách! Nhà dài Êđê vừa là nơi sinh hoạt chung của cộng đồng,vừa là nơi sinh hoạt riêng của từng gia đình nhỏ, nơi đây tạo nên sự gắn bó, giúp

đỡ nhau trong cuộc sống, nó tương tự như đình làng của người Việt Hình ảnhngôi nhà dài như con thuyền lướt sóng, chiếc cầu thang là một biểu trưng thể hiện

vẻ bên ngoài đầy chất hoang sơ, chế độ mẫu hệ của người Ê-đê, đôi bầu sữa

Trang 15

Từng chi tiết trong ngôi nhà dài giúp chúng ta hình dung nếp sinh hoạt, nét văn hóacủa cộng đồng tộc người này Đây quả là công trình rất độc đáo, hấp dẫn trongquần thể các công trình xây dựng trong bảo tàng , khiến các du khách khi đến thămđều không khỏi ngạc nhiên và thích thú Bây giờ xin mời quý khách ra bên ngoài

để chúng ta tiếp tục tham quan những công trình tiếp theo của các tộc người khác

Câu 8 Anh ( chị) hãy thuyết minh tổng quan về bảo tàng dân tộc học Việt Nam ?

Trả lời :

Chào mừng quý khách đã đến với bảo tàng dân tộc học Bảo tàng dân tộchọc là một bảo tàng lớn nhất và cũng là một trung tâm nghiên cứu lớn dùng đểtrưng bày, nghiên cứu các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc trênkhắp Việt Nam Đến với nơi đây quý khách không chỉ được thưởng thức nhữngcảnh quan đẹp, thơ mộng ở khu ngoài trời mà còn có thể tiếp nhận những thông tinhữu ích từ các hiện vật Tại bảo tàng dân tộc học, quý khách không những sẽ đượcchiêm ngưỡng các hiện vật trưng bày một cách khoa học, logic mà còn có cơ hộiđược trải nghiệm thực tế, tham gia vào các sự kiện, những trò chơi dân gian do bảotàng tổ chức Tôi xin tự giới thiệu tôi tên là… - thuyết minh viên của bảo tàng dântộc học Việt Nam Hôm nay , tôi rất vui được hướng dẫn quý khách trong hànhtrình tham quan, khám phá bảo tàng này

Loại hình bảo tàng dân tộc học rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn về nhiềuphương diện trên quy mô quốc gia cũng như ở từng địa phương, bởi vì Việt Nam

có tới 54 tộc người Cho nên, ngay từ năm 1981 Nhà nước đã chủ trương hìnhthành một Bảo tàng Dân tộc học đặt tại thủ đô Hà Nội

Ngày 12 tháng 11 năm 1997, đúng vàodịp Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 7 các nước có sử dụng tiếng Pháp họp tại HàNội, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Tổng thống Cộng hòa Pháp JacquesChirac đã cắt băng khai trương Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam toạ lạc bên đường Nguyễn Văn Huyên ở quận CầuGiấy, cách trung tâm thủ đô Hà Nội chừng 8 km Công trình Bảo tàng Dân tộc họcViệt Nam do kiến trúc sư Hà Đức Lịnh (người dân tộc Tày, thuộc Công ty Xâydựng nhà ở và công trình công cộng, Bộ Xây dựng) thiết kế Nội thất công trình do

Bà kiến trúc sư Véronique Dollfus (Vêrônic Đônfis - người Pháp) thiết kế

Trang 16

Bảo tàng có 2 khu vực chính Khu thứ nhất bao gồm nhà trưng bày, văn phòng và

cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ thống kho bảo quản, hệ thống các bộ phận kỹ thuật,hội trường Các khối nhà liên hoàn với nhau, có tổng diện tích 2.480m2, trong đó

750 m2 dùng làm kho bảo quản hiện vật Khu thứ 2 là khu trưng bày ngoài trời,rộng khoảng 2 ha, bắt đầu xây dựng năm 1998 và hoàn thành công trình trưng bàycuối cùng trong năm 2006 Bên cạnh đó, hiện nay Bảo tàng Dân tộc học Việt Namđược cấp thêm hơn 1 ha đất, nâng diện tích khuôn viên của Bảo tàng lên gần 4,4

ha Tại phần đất mở rộng này, từ giữa năm 2007 bắt đầu xây dựng một tòa nhà 4tầng, sẽ mang tên “nhà Cánh diều”, để giới thiệu về văn hóa các dân tộc ngướcngoài, chủ yếu là các dân tộc ở Đông Nam Á Đây sẽ là khu trưng bày thứ 3 củaBảo tàng

Trước mặt qúy khách là khu vực trong nhà Khu vực trong nhà được xâydựng theo mô hình trống đồng do Bà KTS người Pháp Vêrônic Đônfis thiết kế.Trong bảo tàng các hiện vật được trưng bày theo các nhóm ngữ hệ, bên cạnh cáchiện vật có chú giải và video trình chiếu các sự kiện gắn với các hiện vật và vănhóa của các dân tộc Hiện nay bảo tàng đã sưu tầm được hàng ngàn hiện vật, tưliệu, phim, ảnh Các hiện vật ( hầu hết là hiện vật gốc) được bảo tàng trưng bàymột cách hợp lý và khoa học

Kính thưa qúy khách, khu vực ngoài trời, phía sau tòa nhà trống đồng, doKTS Hà Đức Lịnh thiết kế rộng khoảng 2ha, ban đầu xây dựng năm 1998 và hoànthành công trình trưng bày cuối cùng váo năm 2006 Khu vực ngoài trời là mộtkhông gian văn hóa mở, tái hiện lại một số ngôi nhà truyền thống của một số tộcngười Việt Nam trải dài từ Bắc vào Nam như Nhà trệt của người Việt, nhà Rôngcủa người Ba Na, nhà dài của người Ê Đê , nhà sàn của người Tày, nhà trình tườngcủa người Hà nhì Đỉểm đặc biệt của những ngôi nhà này là lấy nguyên mẫu củacác ngôi nhà của người dân địa phương với những vật liệu từ chính địa phương đó

và đặc biệt hơn là những ngôi nhà này do chính bàn tay của những người dân bảnđịa tới thủ đô xây dựng Xen lẫn vào không gian xanh mát của khu vực ngoài trời,qúy khách có thể tham gia vào các trò chơi dân gian như : đi cầu khỉ, đi cà kheo…

Trước khi thăm quan bảo tàng tôi xin lưu ý quý khách một số điều như sau.Theo quy định của Bảo tàng, quý khách nên đi nhẹ, nói khẽ, không được hút thuốchay mang các chất có thể gây cháy nổ vào trong bảo tàng Nếu quý khách muốnchụp ảnh thì phải đăng ký với ban quản lý bảo tàng Lệ phí sử dụng máy ảnh là50.000đ/1 chiếc đối với máy ảnh thông thường và 500.000/ 1 chiếc đối với máy

Trang 17

ảnh chuyên dụng Bây giờ là 8h30, quý khách sẽ tham quan trong khoảng thời gian

là 3h đồng hồ Đến 11h30, tất cả chúng ta sẽ tập trung trước cổng bảo tàng lên xe

về khách sạn ăn trưa Và giờ xin mời quý khách bắt đầu hành trình thăm quan bắtđầu từ khu vực trong nhà Chúc quý khách một buổi tham quan vui vẻ và thu đượcnhiều kiến thức bổ ích

Câu 9 Anh ( chị) hãy thuyết minh về khu trưng bày của người Dao và lễ cấp sắc.

Trả lời :

Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéodài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX Họ tự nhận mình là concháu của Bàn Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêngliêng ở người Dao Người Dao có nhiều nhóm như : Dao đỏ, Dao Tiền, Dao Họ(Dao quần trắng),Dao Thanh y, mỗi nhóm lại có trang phục khác nhau và dựa vào

đó chúng ta có thể phân biệt được Người Dao sống ở những vùng lưng chừng núi

ở Miền Bắc Việt Nam Họ sử dụng chữ viết Nôm Dao, và còn sử dụng chữ Hántrong việc thờ cúng, hay các nghi lễ

Một trong những lễ quan trọng của người Dao đỏ là lễ cấp sắc dành chonhững người đàn ông Theo phong tục của đồng bào Dao, người con trai khi đã trảiqua lễ cấp sắc mới có tâm, có đức để phân biệt phải trái, mới được công nhận làcon cháu của Bàn Vương Quý khách có thể thấy ở đây có mô hình tái hiện lại nghi

lễ cấp sắc của người Dao đỏ Nghi lễ cấp sắc của người Dao đỏ có ba cấp bậc là 3đèn, 7 đèn và 12 đèn Lễ 3 đèn dành cho con trai đến tuổi thành đinh ( khoảng từ

10 – 15 tuổi), lễ 7 đèn dành cho những người đàn ông đã có vợ, còn lễ 12 đèn dànhcho những người muốn trở thành thầy cúng Lễ cấp sắc mà quý vị nhìn thấy ở đây

là lễ 7 đèn, diễn ra trong khoảng thời gian 3- 5 ngày) Những người đàn ông Daosau khi trải qua nghi thức này họ sẽ khẳng định được vai trò, vị trí trụ cột của mìnhtrong gia đình và được những người trong dòng họ, làng mạc kính trọng Lễ cấpsắc thường được tổ chức vào tháng 11, 12 âm lịch hoặc tháng 1 năm sau Đó làkhoảng thời gian nông nhàn được họ sử dụng làm việc cúng bái, cưới xin và machay, và họ đều kiêng ngày giỗ của người trong gia đình

Trang 18

Các nghi lễ chính trong lễ cấp sắc gồm lễ trình diện, gia chủ mổ lợn để tế lễ

tổ tiên Các thầy cúng phải tẩy uế xong mới đánh trống mời tổ tiên về dự Thầycúng làm lễ khai đàn nhằm báo cho tổ tiên biết lý do của buổi lễ Lễ thụ đèn, ngườiđược cấp sắc phải ăn mặc chỉnh tề ngồi trước bàn thờ, hai tay giữ một cây tre (hoặcnứa), ngang vai có lỗ đục và xuyên một thanh ngang dài vừa tầm vai để thầy đốtđèn, đặt nến làm lễ Trong quá trình thụ đèn thầy cúng sẽ làm phép, đọc một bàivăn ngụ ý khuyên răn người đàn ông cách đối nhân xử thế Đặc biệt trong lễ cấpsắc là cấp đạo sắc cho người thụ lễ với 10 điều cấm và 10 điều nguyện, tại đạo sắcnày tên âm của người thụ lễ được ghi luôn để khi chết về được với tổ tiên Ở nghi

lễ này, người thụ lễ được thầy cúng cấp cho một bản sắc bằng chữ nôm, trong đó

ghi rõ lai lịch cá nhân, lý do cấp sắc, điều giáo huấn và tên tuổi những thầy cúng đãlàm lễ cấp sắc cho người thụ lễ đó Mỗi lần làm lễ, người thụ lễ đều được cấp haibản văn sắc khác nhau Một bản được đốt sau khi thầy cúng đã trình báo cho cácthần linh, ma tổ tiên, còn một bản giao cho người thụ lễ Bản sắc này được giữ chođến khi người được cấp sắc qua đời, đốt trong lễ làm ma

Một điều chú ý là vợ của người được cấp sắc trong suốt mấy ngày của buổi

lễ, cô ta sẽ phải ngồi trong buồng kín không được lộ mặt ra Mọi sinh hoạt cá nhâncủa cô ta sẽ được vợ của người thầy cúng lo liệu Sở dĩ phải như vậy vì theo quanniệm của người Dao, khi người đàn ông đang làm lễ cấp sắc mà có sự xuất hiệncủa người vợ thì sẽ làm hỏng không khí trang nghiêm của buổi lễ và mang đếnđiều không may mắn cho gia đình đó Một điều đặc biệt nữa là trong thời gian làm

lễ, trên bàn thờ tổ tiên sẽ đặt một con dao và một khẩu súng vì đây là những vậtdụng không thể thiếu được với bất kỳ người đàn ông người Dao nào Quan trọngnhất trong nghi lễ là cấp pháp danh cho người thụ lễ Người thụ lễ lấy vạt áo đểhứng gạo từ thầy cả và bố đẻ Sau đó các thầy sẽ dạy cho người thụ lễ một số điệumúa Kết thúc nghi lễ, các thầy múa để dâng rượu, lễ vật tạ ơn thần linh

Người đàn ông sau khi trải qua lễ cấp sắc này đã được mọi người coi trọng,khi đi họp có thể được ngồi ngang hàng các các ông, các cụ trong dòng tộc haythôn bản và có thể đi giúp việc cho các thầy cúng trong các dịp lễ, tết Như vậy vaitrò của họ đã được khẳng định Lễ Cấp sắc là phong tục đã có từ xa xưa và đếnnay vẫn được cộng đồng người Dao đỏ gìn giữ góp phần làm giàu thêm bản sắcvăn hóa của tộc người mình

Trang 19

Câu 10 Anh ( chị) hãy thuyết minh về nhà rông của người Bana?

Trả lời :

Thưa quý khách ! sau đây chúng ta sẽ được tham quan một ngôi nhà rất độcđáo, đặc trưng của các tộc người Tây Nguyên đó là nhà Rông của người Bana Nhàrông – ngôi nhà chung của cộng đồng, đã trở thành biểu tượng văn hóa của các tộcngười ở Tây Nguyên nói chung và người Bana nói riêng

Ngôi nhà rông này dựng theo nhà rông hồi nửa đầu thế kỷ XX của làng KonRbàng (xã Vinh Quang, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum) Nhà rông hiện nay ở làngnày là ngôi nhà rông duy nhất ở Tây Nguyên còn giữ được hệ thống cột-xà cùng 2cột đầu sàn sân đã có trên 70 năm tuổi Căn cứ vào đó, kết hợp cùng với hiểu biếtdân tộc học về nhà rông Ba Na vùng Kon Tum, đồng thời qua tìm hiểu hình ảnh tưliệu cũ và điều tra hồi cố tại làng, Bảo tàng DTHVN cùng những người làng KonRbàng cố gắng tái tạo ngôi nhà rông Kon Rbàng như khi nó chưa ''hiện đại hóa''

Từ kiểu dáng, kích cỡ, kết cấu đến hướng nhà đều cơ bản được giữ nguyên như ởlàng Song, mái không lợp tôn mà lợp cỏ gianh, rui không dùng gỗ xẻ vuông màdùng gỗ tròn, mặt sàn không lát gỗ ván mà trải tre đập giập bổ banh, vách khôngtrát đất và quét vôi mà dùng phên nứa, sân sàn không phải bằng bê-tông mà bằng

gỗ, với các thang lên xuống đều bằng gỗ tròn Gỗ, tre, nứa, dây mây và cỏ tranhdùng làm nhà đều là những vật liệu Tây Nguyên Những cây cột lớn nhất có đườngkính 60cm Những cây đòn tay hay xà dọc dài suốt chiều dài nhà, khoảng 14-15m.Ngôi nhà thuộc kiểu nhà rông mái cao, chiều cao gần 19m (kể cả dải hoa văn trênnóc), mỗi mái chính cao khoảng 13m, mặt sàn cao gần 3m và rộng hơn 90m2(không kể phần sân sàn), có 4 thang lên xuống Từ tháng 3/2003, 29 người Ba Na

từ làng Kon Rbàng được Bảo tàng DTHVN mời đến để bắt đầu làm mộc Mộttháng sau, các vì cột đã được dựng lên Sau đó các phần việc khác lần lượt đượcthực hiện: lắp dựng đầy đủ hệ thống khung cột, sân sàn, dựng giàn giáo, lắp ráp hệthống rui, đòn nóc, đòn tay, các bộ phận chống và giằng cho khung mái, đặt mèmái để lợp, đan tấm phên phủ nóc Đầu tháng 6 / 2003, ngôi nhà rông của người Ba

Na làng Kon Rbàng đã hoàn thành Nhà rông trong quan niệm của đồng bào Bana

là một không gian linh thiêng, chỉ có con trai từ 14 tuổi trở lên mới được ngủ quađêm trong nhà rông Đã là con trai Bana thì ai cũng phải biết đánh cồng, chiêng vàlàm nhà rông Người Bana có tín ngưỡng đa thần giáo, họ cho rằng mọi vật luôn cóYàng (Trời) chế ngự, trong những ngôi nhà rông cũng có Yàng trú ngụ, nên họ

Trang 20

chăm sóc nhà rông như nhà ở của mình Người Bana quan niệm: Nơi nào nhà rôngcàng to, cao, đẹp thì đó là buôn làng giàu có và thịnh vượng Đây là không giantâm linh, tín ngưỡng, nơi diễn ra mọi sinh hoạt thiết yếu, cố kết cộng đồng, đồngthời cũng là không gian diễn ra mọi hoạt động văn hóa dân gian, lễ hội truyềnthống, bao bọc và sản sinh nhiều giá trị văn hóa tinh thần, nghệ thuật đặc sắc

Công chúng đến Bảo tàng DTHVN được chiêm ngưỡng thêm một nét vănhóa cổ truyền đặc sắc Tây Nguyên tại Hà Nội và thấy khâm phục người dân làngKon Rbàng đã tạo dựng công trình kiến trúc dân gian Ba Na công phu, bề thế,hoành tráng này

Câu 11 Anh (chị) hãy thuyết minh về ải Chi Lăng?

Trả lời :

Mời Quý Khách nhìn sang 2 bên cửa sổ , Những gì các bạn đang thấy đóchính là Ải Chi Lăng Ải Chi Lăng – vùng đất địa linh nhân kiệt và rực rỡ chiếncông.Với địa thế hiểm yếu, Ải Chi Lăng được coi là bức tường thành của kinhthành Thăng Long xưa trong việc chặn đứng các cuộc viễn chinh két tiếng từphương Bắc tràn sang.Với quy mô hoành tráng và đồ sộ chạy dài gần 20km, rộng3km nối liền hai huyện Chi Lăng và Hữu Lũng của tỉnh Lạng Sơn Ải Chi Lăng làthắng cảnh được bao bọc bởi dãy núi đá Kai Kinh ở phía tây và dãy núi đá Bảo Đài

ở phía đông Hai đầu có những ngọn núi đá độc lập, cao chót vót tạo thành thếhiểm Lịch sử oai hung của ải Chi Lăng gắn liền với những hoạt động của các nhàquân sự thiên tài như Lí Thường Kiệt,Trần Quốc Tuấn và những thủ lĩnh tài năngcủa xứ Lạng như : Phò mã Thân Cảnh Phúc, Nguyễn Thế Lộc, Hoàng Đại Huề…

Ngược dòng lịch sử xa xăm, con người còn để lại những vết tích minh chứngcho những giai đoạn sơ sử, tiền sử của con người sinh sống của nền văn hóa BắcSơn- Mai Pha nổi tiếng với những hang động đẹp như trong huyền thoại và nhữngrìu đá, mảnh gốm…

Vào những năm trước và sau công nguyên, ải Chi Lăng đã gắn liền với sựnghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, đấu tranh chống các triều đại phongkiến Trung Quốc xâm lược Thế kỉ 14, tể tướng nhà Trần là Phạm Sư Mạnh khi

Trang 21

cưỡi ngựa qua biên ải đã hạ một câu thơ bất hủ:” Chi Lăng quan hiểm dữ thiên tề”

có nghĩa là “ Ải Chi Lăng hiểm trở sánh ngang Trời”

Năm 1077, phụ quốc Thái úy Lí Thường Kiệt đi thân hành về ải Chi Lănggặp phò mã Thân Cảnh Phúc bàn bạc việc binh Với chiến tuyến Quyết Lí và GiápKhẩu (Chi Lăng), Thân Cảnh Phúc và nhân dân xứ Lạng đã góp sức đánh tan bọnxâm lược Tống lần 2

Thế kỉ 13, cả thế giới kinh hoàng trước vó ngựa của đế quốc Nguyên Mông.Tuy nhiên năm 1284, khi cánh quân Nguyên qua ải Chi Lăng đã bị quân ta chặnđánh kịch liệt và tướng quân Nguyên là Nghê Nhuận bị giết chết tại chỗ ChínhHưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã thể hiện thiên tài quân sự của ông tạiđây:bằng hố bẫy ngựa phục binh của ta từ dưới hố dùng mã tấu phạt đứt chânngựa, tách bọn Nguyên Mông thiện chiến ra khỏi ngựa mà tiêu diệt chúng

Thế kỉ 15 ải Chi Lăng lại ghi vào lịch sử Việt Nam một trang chói lọi, đó làchiến thắng năm 1427, giết chết Nguyên soái An Viễn hầu Liễu Thăng – ChủTướng của giặc và cũng một vạn quân Minh, góp phần quyết định kết thúc thắnglợi cuộc kháng chiến chông quân Minh giải phóng đất nước Thế kỉ 18 , dưới thờihoàng đế Quang Trung – một nhà quân sự thiên tài Chi Lăng lại một lần nữa cùngquân dân cả nước đánh tan tành quân xâm lược nhà Thanh …Vào các thế kỉ 19 và

20 , ải Chi Lăng lại chứng kiến những chiến công đánh Pháp , đuổi Nhật của nhândân ta

Ải Chi Lăng đã đón nhiều quan khách quốc tế các nguyên thủ quốc gia , cáctướng lĩnh, nhà sử học , khách du lịch…tới thăm SlôVắcXốc- nhà dân tộc học nổitiếng Tiệp Khắc trước đây trong chuyến đi thăm ải Chi Lăng đã từng đánh giá:

“Có lẽ đây là chiến lũy hình thang độc nhất trên thế giới,nó thể hiện đầu ócthong minh và tài chí quân sự tuyệt vời của một dân tộc luôn phải chống trả vớimột đội quân xâm lược mạnh hơn mình gấp trăm lần trong quá trình lâu dài dựngnước và giữ nước.Thể hiện một tầm nhìn chiến lược nổi tiếng “lấy ít địch nhiều,lấyyếu thắng mạnh”

Ải Chi Lăng không chỉ được du khách biết đến bởi những công trình nổitiếng gợi nhớ tới những chiến công hiển hách trong lịch sử Một dấu tích đáng ghinhận tại ải Chi Lăng là nền thành Chi Lăng do quân Minh xây dựng vào thế kỉ 15

Trang 22

Phía Nam Ải có một khối đá có hình dáng giống một thanh kiếm khổng lồ gọi là

Lê Tổ Kiếm (thanh kiếm của vua Lê Thái Tổ) và một tượng đá có hình dáng giốngmột người quỳ gối, cụt đầu gọi là Liễu Thăng Thạch (đá Liễu Thăng) Tượng đágợi nhớ chiến thắng Chi Lăng chém đầu tướng Liễu Thăng cách nay gần 700 năm).Cạnh Ải Chi Lăng còn có Quỷ Môn Quan Theo sách “Vân đài loại ngữ” của LêQuý Đôn, đời nhà Tấn (265-420) binh lính giặc qua đó bị giết nhiều nên mới cócâu “Quỷ Môn Quan, Quỷ Môn Quan! Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn” (Quỷ MônQuan, Quỷ Môn Quan! Mười người đến chỉ một người trở về) Nơi đây xưa kiađường sá hẹp, núi đá hiểm trở, sông sâu nước độc Những đoàn sứ bộ nước ta mỗikhi sang Trung Hoa đều dừng lại tại Quỷ Môn Quan trước khi tiến đến Ải NamQuan

Ngày nay, tại Ải Chi Lăng có Tượng đài kỷ niệm chiến thắng Chi Lăng vàKhu Di tích lịch sử Chi Lăng bao gồm 52 điểm kéo dài gần 20km, phần lớn thuộchai xã Chi Lăng và Quang Lang Khu di tích này chủ yếu tái hiện lại chiến thắngChi Lăng oai hùng năm 1427 và đã được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Vănhóa- Thể Thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia Ở Khu di tích lịch sửnày còn có Bia chiến thắng và Bảo tàng Chi Lăng được xây dựng vào năm 1982,nhân kỷ niệm 555 năm Chiến thắng Chi Lăng

Câu 12 Anh (chị) hãy thuyết minh về động Tam Thanh.

Trả lời :

Thưa quý khách ! Trước mắt chung ta chính là động Tam Thanh Động TamThanh nằm ở phường Tam Thanh, phía Tây phố Kỳ Lừa của thành phố Lạng Sơn.Động Tam Thanh nằm trong một dãy núi có hình đàn voi phủ phục trên mặt cỏxanh, được mệnh danh là “Đệ nhất bát cảnh xứ Lạng” Là một cảnh đệp được thiênnhiên ban tặng mà không nơi nào có được

Ngay phía bên ngoài cửa động Tam Thanh là một ngôi chùa nhỏ, hấp dẫn dukhách vì vẻ độc đáo, khác hẳn những ngôi chùa ở miền xuôi, được xây dựng từ thế

kỷ XVII và cũng mang tên gọi là Tam Thanh

Trang 23

Bước qua cửa động rộng khoảng 8m, cao trên 10m, ta vào lòng động thứnhất dài khoảng 60m, rộng đến gần 30m Nhìn thấy đầu tiên khi vào động đó chính

là ban thờ Tam Bảo, với một hê thống tượng phật rất phong phú Tiêp theo vào bêntrong một chút đó chính là bàn thờ Mâu, một phong tục có từ rất lâu đời ở ViêtNam Và những dải nhũ đá rủ xuống khiến bạn tưởng như đang lạc vào mê cung

Chạy dọc theo động là dòng suối Ngọc Tuyên, nước xanh biêng biếc, phầnđọng lại trước cửa động tạo thành ao Nhất Bình thơ mộng, ở giữa hang có mộtkhoảng đất rộng gọi là “sân khấu”, có ánh sáng từ cửa Thông Thiên rọi chiếu thậthuyền ảo Tại sân khấu này, Ngô Thì Sĩ đã từng mở tiệc chiêu đãi và thưởng thứccác chương trình thơ ca, đàn hát Ngay vòm cửa động còn lưu giữ một bức hoạ vẽNgô Thì Sĩ uy nghi, trang trọng, bức hoạ là ước vọng của ông được muôn thủa hoàvào hang núi để tiêu dao Xúc động trước tình cảm đó, nhân dân lập bàn thờ ông vàgọi là Di ái Đường Đi sâu vào trong động đến khu vực “sân khấu” sẽ có hai cửathông thiên, ánh sáng từ hai cửa này soi rọi vào động làm cho những nhũ đá ngờilên đẹp lạ thường, trong hang có rất nhiều hình đá mà thiên nhiên ban tạo thật kỳdiệu

Đặc biệt, ở khu trung tâm của động, có hồ Âm Ty, nước không bao giờ vơicạn, hồ tuy nhỏ nhưng cảnh quan tuyệt đẹp, có nguồn nước dồi dào chảy suốt ngàyđêm Tận cùng của động Tam Thanh có một lối thông thiên dẫn đến một chỗ dừngchân nhỏ đủ để bạn có thể đứng ngắm nhìn cảnh quan một vùng nông thôn đổi mớiquanh khu vực thắng cảnh

Vâng và mờ các bạn tiến trong để chúng ta tìm hiểu rõ hơn Các bạn hayhướng theo tay tôi, đó chính là bức tượng phù điêu A Di Đà được tạc vào vách núitheo thế đứng trong hình một lá đề, tượng cao 202 cm, rộng 65 cm, đây là một kiệttác nghệ thuật thời Lê - Mạc thế kỷ XVI - XVII chứa đựng những giá trị lịch sử vàthẩm mỹ sâu sắc Và 2 bên vách của cửa động còn có 5 tấm Bia được khắc vàovách đá, trong đó tấm bia Ma Nhai có niên đại cổ nhất ghi lại chi tiết việc xây dựng

và tôn tạo ngôi chùa này, bia khắc thơ của Ngô Thì Sĩ - quan đốc trấn LạngSơn với nội dung ca ngợi cảnh đẹp sơn thuỷ hữu tình của động Tam Thanh Trong

số 5 tấm bia khắc trên vách đá có "Bài thơ đá Vọng Phu" của đại thi hào NguyễnDu:

“Đá ơi? Người ơi? Người là ai?

Trang 24

Nghìn vạn mùa xuân đang lẻ loi Muôn thuở mây mưa xa mộng mị Một lòng son sắt vững thần đời Trời thu ứa lệ rơi không ngớt Ròng chữ rêu phong tạc chửa phai Bốn mặt núi non trông ngút mắt Luân thường nàng giữ một mình thôi”

Tam Thanh với chùa, động và cả hồ Âm Ty tuyệt đẹp, quyến rũ bước chân dukhách chẳng muốn rời

Câu 13 BÀI THUYẾT MINH ĐỀN NGỌC SƠN

Thưa các bạn! Trước mặt chúng ta là đền Ngọc Sơn Đây là quần thể di tích độcđáo, với vẻ đẹp hài hòa và là biểu tượng của trí thức Thăng Long- Hà Nội nghìnnăm văn hiến

Quần thể di tích đền Ngọc sơn nằm trên đảo ngọc và bờ Đông Bắc của hồ

Hoàn Kiếm Đảo Ngọc thời xa xưa được gọi là Tượng Nhĩ (tai voi) Khi vua LýThái Tổ dời đô ra Thăng Long, ông đã đổi tên đảo là Ngọc Tượng và đến đời Trầnthì đảo được đổi tên là Ngọc Sơn Tại đây, vào thời Trần đã có một ngôi đền đượcdựng lên để thờ những người anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong kháng chiến chốngquân Nguyên Mông Qua thời gian thiên tai, binh lửa đã làm ngôi đền bị sụp đổ.Đến thời nhà Lê trung hưng , chúa Trịnh Giang đã cho dựng cung Thuỵ Khánhtrên đảo Ngọc để làm nơi vui chơi, thưởng ngoạn

Cuối đời Lê, cung Thuỵ Khánh bị Lê Chiêu Thống phá huỷ.Đầu thế kỷ 19,một nhà từ thiện tên là Tín Trai đã lập ra một ngôi chùa gọi là chùa Ngọc Sơn trênnền cung Thuỵ Khánh cũ Năm 1843, một hội từ thiện đã bỏ gác chuông, xây lạicác gian điện chính, các dãy phòng hai bên, đưa tượng Văn Xương đế quân vào thờ

và đổi tên là đền Ngọc Sơn

Năm 1865, nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu sửa lại đền Đồng thời ôngcũng xây them một số công trình như : tháp bút- đài nghiên, cầu thê húc- đắcnguyệt lâu, đình trấn ba Từ đó đến nay đã có nhiều đợt trùng tu, sửa chữa lại các

Trang 25

kiến trúc của đền Năm 1980, cụm di tích Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn đãđược công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia Bây giờ tôi sẽ giới thiệu cho cácbạn tổng quan kiến trúc của di tích độc đáo này.

Cổng đầu tiên của đền Ngọc Sơn là tứ trụ và hai bức tường lửng Phía trước haibức tường các bạn có thể nhìn thấy 2 chữ hán rất lớn màu đỏ Bên tay phải các bạn

là chữ Phúc và bên tay trái là chữ Lộc Đây là một lời chúc tốt lành cho du kháchkhi đến thăm đền ngoài ra hai bên còn có câu đối rất hay để giới thiệu vẻ đẹp củangôi đền, như câu :

Ngắm nước, trèo non, một lối dẫn dần vào cảnh đẹp;

Tìm nguồn, thăm cội, trong đây biết mấy phong quang

Qua lớp cửa đầu tiên chúng ta đến với cụm kiến trúc thứ hai Trước mặt các bạn

là một ngọn núi đá nhỏ có tên là núi độc tôn.Ngọn núi đá này được đắp để ghi nhớchiến công dẹp loạn của chúa Trịnh Doanh tại núi Độc Tôn, ở Thái Nguyên.Trênnúi Độc Tôn, ông Nguyễn Văn Siêu đã cho xây một tháp đá, đỉnh tháp hình ngọnbút lông, thân tháp có khắc ba chữ "Tả Thanh Thiên" (viết lên trời xanh), ngày naythường gọi đó là Tháp Bút Ngọn tháp này cao hơn 9 m, trên một mặt có khắc bàibút tháp chí ghi lại việc xây dựng tháp và ý nghĩa của nó.dưới chân tháp, trên núiđộc tôn có miếu sơn thần và phiến đá trấn yểm Tháp Bút vừa biểu tượng cho văntrị vừa biểu tượng cho võ công, “tháp nhờ núi mà cao thêm, núi nhờ tháp màtruyền mãi " Từ cổng ngoài đi vào có hai bức tường hai bên, một bên là bảngrồng, một bên là bảng hổ, tượng trưng cho hai bảng cao quý nêu tên những ngườithi đỗ, khiến cho các sĩ tử đi qua càng gắng công học hành Tiếp đến là một cửacuốn gọi là Đài Nghiên, được xây dựng theo kiểu kiến trúc tam quan rất quenthuộc trong các đền, chùa ở nước ta Trên nóc Đài Nghiên có đặt một cái nghiênmực bằng đá hình nửa quả đào bổ đôi theo chiều dọc, có hình ba con ếch đội Trênnghiên có khắc một bài minh nói về công dụng của cái nghiên mực Phía trước củaĐài Nghiên có một bức cuốn thư, trên đó ghi nội dung của bài minh khắc trênnghiên mực dưới dạng chữ thảo Hai bên cuốn thư có đôi câu đối ca ngợi vẻ đẹpcủa Tháp Bút- Đài Nghiên

Đi qua Đài Nghiên chúng ta sẽ đến cầu Thê Húc- Nơi đọng lại ánh sáng banmai Đây là cây cầu với kiến trúc độc đáo, gồm 15 nhịp dài 45m, rộng 2m, đượcsơn màu đỏ như màu của ánh nắng mặt trời buổi sớm Dáng cầu cong lên soi bóngdưới mặt hồ như hình ảnh mặt trời mộc nhô lên khỏi mặt nước với ý nghĩa tượngtrưng cho sự sinh sôi, phát triển

Qua khỏi cầu Thê Húc, du khách sẽ đến lầu Đắc Nguyệt (được trăng) Đây làmột lầu nhỏ xinh xắn, gồm hai tầng Tầng hai có hai mái Trên tầng hai nhìn ra hồ,phía đông có 1 cửa sổ tròn Trên cửa có tấm biển khắc ba chữ Đắc Nguyệt Lâu, lấy

ý từ câu thơ cổ: Cận thuỷ lâu đài tiên đắc nguyệt, có nghĩa là vì ở gần nước nên toà

Ngày đăng: 01/07/2016, 17:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w