Mục đích nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về “ Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm”, nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định của BLHS về
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ BÁCH KHOA HÀ NỘI
*****
TIỂU LUẬN MÔN PHÁP LUẬT
Đề tài: Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm trong
luật hình sự Việt Nam và một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Mã số sinh viên : CĐN151969
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Quang Trường
-Hà Nội, tháng 11/2015-
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm của nước ta đang diễn biến phức tạp Số lượng các vụ án hình sự mà các Toà án phải thụ lý ngày càng tang lên Trong đó, có nhiều vụ án lớn, phức tạp và nghiêm trọng Phổ biến hiện nay
là những vụ án nghiêm trọng có nhiều bị cáo tham gia, nhất là những vụ án tham nhũng xảy ra gần đây đang được xã hội quan tâm theo dõi, lên án Từ thực tiễn đó cho thấy, tội phạm được thực hiện bằng hình thức Đồng phạm đang có xu hướng gia tăng Đồng phạm là một hình thức phạm tội đặc biệt., trong đồng phạm, mỗi
bị cáo khi thực hiện tội phạm có thể có nhiều hình thức khác nhau Như vậy, song song với việc các vụ đồng phạm đang có chiều hướng gia tang, thể hiện sự nguy hiểm và hậu quả khôn lường cho xã hội ngày càng cao Chính vì vậy, việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm dưới hình thức đồng phạm nói riêng là việc làm cấp bách, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đề cao và chú trọng
Hiện nay nước ta, vấn đề Đồng phạm đã được quy định trong BLHS năm
1999 với các quy định cụ thể Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tiễn vẫn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế Và đặc biệt là vấn đề quyết định hình phạt trong đồng phạm Để quyết định hình phạt được chính xác, đúng người, đúng tội thì phải dựa vào các nguyên tắc quyết định hình phạt và các căn cứ quyết định hình phạt Trong thực tiễn xét xử, khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm vẫn còn gặp không ít khó khan, hạn chế Nguyên nhân là do một số quy định về quyết định hình phạt còn mang tính khái quát cao, chưa chặt chẽ và đi sâu vào thực tiễn Một
số khác chưa theo kịp tiến trình phát triển của đời sống kinh tế - xã hội Chính những hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao hiệu quả của hình phạt
II Tình hình nghiên cứu
Ở nước ta hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề đồng phạm và vấn đề quyết định hình phạt trong đồng phạm Tiêu biểu như: “Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm(Chương 7: Quyết định hình phạt trong sách “ Bình luận khoa học BLHS 1999- Tập 1)” do tác giả Uông Chu Lưu chủ biên; “Quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Dương Tuyết Miên (Luận văn thạc sĩ Luật học – Trường Đh Luật Hà Nội năm 2003)…Trong số những công trình khoa học nêu trên, có những công trình nghiên cứu về vấn đề “Quyết định hình phạt” và “đồng phạm” Cũng có nhiều luận văn,
Trang 3luận án, giáo trình giảng dạy có lien quan Tuy nhiên, số lượng công trình nghiên cứu như vậy còn rất ít
Xuất phát từ những lẽ trên, Em xin chọn đề tài: “ Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” để làm bài tiểu luận này
III Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về “ Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm”, nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định của BLHS về vấn đề trên trong thời gian gần đây, bài tiểu luận sẽ nghiên cứu 1 cách khát quát và có định hướng về các vấn đề có liên quan theo quy định của BLHS Việt Nam Từ đó xây dựng và đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động trong các quyết định thi hành án
IV Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tiểu luận nghiên cứu các vấn đề lý luận về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm và thực tiễn xét xử vấn đề này
Phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận tập trung nghiên cứu các vấn đề quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm dưới góc độ luật hình sự, trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự năm 1999(sửa đổi bổ sung năm 2009) và một số văn bản lien quan khác
V Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ Nghĩa Mác – Lênin
Phương pháp được sử dụng trong tiểu luận là phương pháp nghiên cứu khoa học, bao gồm: phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp…
VI Bố cục của tiểu luận
Tiểu luận có cấu trúc 1 chương không kể phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo với nội dung:” Thực tiễn quyết định hình phat trong trường hợp đồng phạm và một số kiến nghị hoàn thiện Pháp luật”
Trang 4B THỰC TIỄN QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG
TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM
VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
I Thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm
Qua công tác xét xử của Tòa án các cấp cho thấy, thời gian gần đây có những cải tiếng rõ rệt, chất lượng xét xử ngày càng được cải thiện Sau đây là số liệu thống kê tổng kết công tác xét xử các vụ án hình sự giai đoạn 2011 – 2013 của toàn ngành Tòa án:
Năm Số vụ án đã thụ lý Số vụ án đã giải
Số vụ án tăng so với năm trước
Bảng 1: Số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao về tổng kết công tác xét xử các vụ án hình sự giai đoạn 2011 – 2013 1
Dưới đây là bảng số lượng các vụ án có đồng phạm được rút ra từ nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Bình Tác giả đã nghiên cứu 500 bản án, trong đó có
239 vụ án đồng phạm:
có đồng phạm
1 Nguồn từ: Báo cáo của Chánh án TANDTC về công tác tòa án qua các năm 2011, 2012, 2013 và
http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/5901712
Trang 58 Nhóm tội về ma túy 52,8% (28/53 vụ)
Bảng 2: Số lượng vụ án đồng phạm 2
Từ các số liệu trên đây có thể thấy, vụ án đồng phạm chiếm tỷ lệ không nhỏ trong tổng số các vụ án Sự tập trung sức lực, trí tuệ, sự phối hợp tương trợ lẫn nhau của những người đồng phạm cho phép chúng thực hiện tội phạm một cách thuận lợi, hơn thế nữa, hành vi phạm tội mà những người đồng phạm gây ra còn có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng và cũng dễ dàng che dấu, qua mắt
sự điều tra của cơ quan điều tra Trước tình hình đó, Tòa án các cấp đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, thận trọng tỉ mỉ khi áp dụng pháp luật hình sự để quyết định hình phạt nghiêm minh, đúng mức Các hình phạt nghiêm khác được áp dụng đối với các đối tượng phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng , phạm tội có
tổ chức, tái phạm nguy hiểm, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng Tòa án các cấp cũng đã cân nhắc thận trọng khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS và các quy định của BLHS để áp dụng hình phạt không phải là phạt tù Đặc biệt là các vụ án đồng phạm, chất lượng xét xử đã được nâng cao, đảm bảo xét xử đúng người đúng tội đúng pháp luật, hạn chế những sai sót Các Tòa án cấp
sơ thẩm đã đưa hầu hết các vụ án xét xử đúng với thời hạn luật đình Nhiều Tòa
án đã tổ chức các phiên tòa lưu động để nhằm tuyên truyền, giáo dục pháp luật,
tổ chức xét xử các vụ án lớn, trọng điểm, kéo dài nhiều ngày Hình phạt mà các Tòa án đã tuyên phạt đối với các bị cáo thể hiện được chính sách hình sự của Đảng
và Nhà nước ta là nghiêm trị những người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố, lưu manh côn đồ, tái phạm, tái phạm nguy hiểm,… Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải,… “Hình phạt mà Tòa án áp dụng đối với các bị cáo về cơ bản đảm bảo nghiêm minh, đúng quy định, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay Tiếp tục quán triệt ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao về khắc phục việc cho hưởng án treo không đúng quy định của pháp luật, việc áp dụng chế định án treo đều được các Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng, nên nhìn chung các trường hợp đều đảm bảo
có căn cứ pháp luật Tỷ lệ các trường hợp cho hưởng án treo không đúng quy định của pháp luật bị hủy, sửa án giảm gần 50% so với năm 2011 và chỉ chiếm tỷ lệ
2 Nguồn từ: Nguyễn Thị Bình (2010), Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, Luận án Thạc sỹ Luật
học, Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội
Trang 60,25% trên tổng số các bị cáo được Tòa án cho hưởng án treo Đối với các tội phạm về tham nhũng, nhìn chung các Tòa án đều đảm bảo xét xử nghiêm khắc, đặc biệt là đối với người chủ mưu, cầm đầu, người lợi dụng chức vụ, quyền hạn
để chiếm đoạt hoặc làm thất thoát số lượng lớn tài sản của Nhà nước, chỉ đối với những bị cáo tham gia trong vụ án với vai trò thứ yếu, mức độ phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nhân thân tốt, thì mới được Tòa án xem xét để cho hưởng án treo Nhìn chung, việc xét xử đã đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế thấp nhất việc xét xử sai” [2]
Hình phạt mà các Tòa án đã áp dụng đối với bị cáo đảm bảo đúng pháp luật… Các phán quyết của Tòa án căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét một cách toàn diện, khách quan các chứng cứ của vụ án, nên đã đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Chất lượng giải quyết xét
xử các vụ án hình sự tiếp tục được nâng lên… Công tác xét xử các vụ án hình sự trong năm qua đã đóng góp có hiệu quả cùng cả nước đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay…
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm mà Tòa án các cấp đã đạt được vẫn còn tồn tại những thiếu sót khi quyết định hình phạt, nhiều sai lầm nghiêm trọng khi quyết định hình phạt dẫn đến các vụ án bị hủy để xét xử theo trình tự giám đốc thẩm theo đúng quy định của pháp luật
Thực tiễn cho thấy, trong số các trường hợp quyết định hình phạt không đúng thì việc xét xử quá nhẹ và cho hưởng án treo không đúng với quy định của pháp luật khá nhiều Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc quyết định hình phạt không đúng nhưng nguyên nhân chủ yếu chính là việc không thực hiện đúng các căn cứ quyết định hình phạt Tòa án nhân dân tối cao cũng đã chỉ ra nguyên nhân
của việc quyết định hình phạt không đúng đó là: “Việc quyết định hình phạt chưa
đúng có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là không thực hiện đúng các quy định tại điều 37 BLHS 1985 và điều 45 BLHS 1999” 3 Đáng lưu ý là, khi quyết định hình phạt căn cứ vào các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ TNHS Tòa án thường áp dụng thiếu căn cứ, không chính xác, nhiều Tòa án còn áp dụng cả những tình tiết không được quy định trong BLHS cũng như văn bản hướng dẫn
Trong các sai sót về việc vận dụng các căn cứ quyết định hình phạt thì sai sót về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS là nhiều nhất [10, tr.168] Phổ biến:
Thứ nhất, một số Tòa án thường không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án dẫn đến
bỏ sót một số tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS dẫn đến quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ cho bị cáo
3 Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2000 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2001 của TANDTC ngày 9/12/2001, tr 17
Trang 7Ví dụ: Vào một ngày khoảng cuối tháng 02-2003, Phùng Thị Sến nhập cảnh vào Việt Nam có thuê Hoàng Tuấn Trường (làm nghề lái xe ôm) chở đến nhà Đinh Thị Hải Yến để nhờ Yến tìm người giúp việc tại quán cắt tóc của Sến ở cửa khẩu Thiên Bảo và nếu khách có nhu cầu thì bán dâm Yến nhận lời giúp Khoảng ba ngày sau Yến gặp Hoàng Thị Hương tại chợ Hà Giang Yến rủ Hương sang làm nghề cắt tóc và bán dâm tại quán của Sến, Hương đồng ý Hôm sau, Hương đến nhà Yến chơi và gặp Sến tại nhà Yến Sến nói với Yến nếu tìm được phụ nữ Việt Nam trẻ đẹp khoảng 16 đến 17 tuổi đưa đến nhà Sến sẽ trả 1.000.000 đồng một người và nhờ Hương tìm giúp 2 người Hương thống nhất với Yến nếu tìm được sẽ chia cho Yến một nửa tiền Tối ngày 01-3-2003, Yến và Hương đã rủ cháu Phàn Thị Duyên và Phàn Thị Vân là hàng xóm của Hương nói là đi làm thuê
ở thị xã Hà Giang, tiền công mỗi ngày được 15.000 đồng, nên Vân và Duyên đồng ý đi Yến gọi điện cho Trường nhờ đưa người đi Sáng hôm sau Yến, Hương đưa Vân và Duyên đến thị xã Hà Giang thì gặp Trường, Trường gọi thêm một xe ôm
và cùng đi lên cửa khẩu Thanh Thuỷ Trường nhờ Lương Văn Phòng đưa Hương, Vân và Duyên sang Trung Quốc với tiền công là 300.000 đồng Đến 19 giờ cùng ngày, Phòng đưa Hương, Vân và Duyên sang Trung Quốc qua đường rừng đến nhà Sến rồi Phòng quay về Việt Nam Hôm sau Yến cùng với Trường và Phòng sang nhà Sến để lấy tiền Sến đã trả cho Yến 1.500.000 đồng và trả cho Hương 1.000.000 đồng, nhưng mới ứng trước cho Hương 500.000 đồng để mua quần áo, còn lại Sến giữ hộ Sau đó, Sến đã tổ chức cho Duyên và Vân hành nghề mại dâm, còn Hương làm phục vụ tại nhà Sến Đến ngày 01-4-2003, Sến đồng ý cho Hương
và Duyên trở về Việt Nam Khi về đến Việt Nam, Duyên đã tố cáo hành vi mua bán phụ nữ của Sến, Yến và Hương Phàn Thị Vân ở lại tiếp tục bán dâm đến ngày 06-7-2003 cũng trở về Việt Nam Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang áp dụng các điểm a và d khoản 2 Điều 119; các điểm đ và g khoản 2 Điều 120; điểm p khoản
1 Điều 46 đối với Đinh Thị Hải Yến và Hoàng Thị Hương và Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phùng Thị Sến 06 năm tù về tội mua bán phụ nữ, 12 năm tù về tội mua bán trẻ em, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 18 năm tù; Đinh Thị Hải Yến 06 năm tù về tội mua bán phụ nữ, 11 năm tù về tội mua bán trẻ em, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 17 năm tù; Hoàng Thị Hương 05 năm
tù về tội mua bán phụ nữ, 10 năm tù về tội mua bán trẻ em, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 15 năm tù Vụ án sau đó được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, Tòa phúc thẩm TANDTC giữ nguyên bản án sơ thẩm Sau đó vụ án tiếp tục được giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, HĐTP TANDTC đã chỉ ra: các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, nhưng Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm chưa xem xét cho các bị cáo và do đó hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm xử
Trang 8phạt các bị cáo Phùng Thị Sến, Đinh Thị Hải Yến và Hoàng Thị Hương là quá nghiêm khắc.4
Thứ hai, một số Toà án thường vận dụng không đúng tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS Ví dụ như vụ án Hoàng Văn Bắc và đồng bọn phạm tội
“Giết người” và “gây rối trật tự công cộng” , Tòa án sơ thẩm TAND TP Hà Nội
và Tòa án phúc thẩm TANDTC đã dùng tình tiết “bị cáo nộp tiền bồi thường thiệt
hại cho nạn nhân sau khi xét xử sơ thẩm là tình tiết giảm nhẹ để cho các bị cáo được hưởng án treo” 5
Thứ ba, một số Tòa án thường vận dụng không đúng khoản 2 điều 46 BLHS năm 1999 Từ đó, dẫn đến việc áp dụng tùy tiện điều khoản này trong quyết định hình phạt, sử dụng những tình tiết không có ý nghĩa giảm nhẹ TNHS cho các
bị cáo, cuối cùng là đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
quyết định hình phạt quá nhẹ cho bị cáo Khoản 2 điều 46 quy định: “Khi quyết
định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án” Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày
04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao (TANDTC) giải
thích: Theo các văn bản hướng dẫn trước đây của Toà án nhân dân tối cao và của
Toà án nhân dân tối cao với các cơ quan hữu quan khác cũng như thực tiễn xét xử trong thời gian qua, thì các tình tiết sau đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác: […] Ngoài ra, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án” Chính quy định như vậy đã tạo kẽ hở cho một
số cán bộ Tòa án áp dụng “tùy tiện” tình tiết giảm nhẹ TNHS dẫn đến quyết định hình phạt quá nhẹ cho bị cáo
Ngoài ra, một số sai sót của Tòa án khi quyết định hình phạt đó là: khi quyết định hình phạt cân nhắc không đúng căn cứ “tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội” và Tòa án chưa cân nhắc đúng nhân thân người phạm tội (thường là do chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án dẫn đến bỏ sót một số tình tiết thuộc về nhân thân có ý nghĩa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo)
Ví dụ: Vụ án Nguyễn Trọng Hùng và các đồng phạm bị kết án về tội "cướp
giật tài sản" Khoảng 14 giờ ngày 16-2-2005 Nguyễn Hồng Quảng cùng Nguyễn
Văn Thắng, Nguyễn Văn Thân, Phạm Phú Hùng, Đỗ Xuân Hưng, Vũ Thành Thảo đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa tại bờ suối khu Vĩnh Lập, thị trấn Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Trong số những người đứng xem có Nguyễn Trọng Hùng, Nguyễn Mạnh Hùng, Trần Bảo Ngọc Trong khi đánh, Thảo thua
4 Nguồn: http://danluat.thuvienphapluat.vn/banan/?forums=5
5 Nguồn: http://danluat.thuvienphapluat.vn/banan/?forums=5
Trang 9hết tiền nên đưa điện thoại di động cho Thân cầm để lấy 1.000.000đồng và Thắng cũng đưa xe máy cho Thân cầm để lấy 1.000.000 đồng đánh tiếp Khoảng 30 phút sau Thắng thua hết tiền nên hỏi vay Thân, nhưng Thân không cho vay thì Thắng lấy số tiền 2.300.000đồng là tiền của mẹ Thắng (đưa cho Thắng đi trả nợ và mua
xe cho em gái) ra đánh tiếp Khi thấy Thắng cầm tiền trên tay, Ngọc nói với Nguyễn Trọng Hùng: "Mày giật tiền, tao cản, tí nữa chia đôi" Ngay sau đó Nguyễn Trọng Hùng giật số tiền trên tay Thắng và bỏ chạy Thắng hô "Cướp cướp" và đuổi theo được khoảng 10m thì túm được Nguyễn Trọng Hùng Trong lúc Nguyễn Trọng Hùng và Thắng đang giằng co, thì Nguyễn Mạnh Hùng lao vào
ôm cổ Thắng, Trần Bảo Ngọc ôm lưng và đạp anh Thắng ngã xuống đất để Nguyễn Trọng Hùng cầm tiền chạy thoát Nguyễn Trọng Hùng đã đưa toàn bộ số tiền cho Ngọc Ngọc đưa lại cho Nguyễn Trọng Hùng 500.000 đồng, đưa cho Nguyễn Mạnh Hùng 400.000 đồng, số còn lại Ngọc cầm Ngày 23-2-2005 Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Trọng Hùng đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đông Triều đầu thú và nộp toàn bộ số tiền được hưởng; còn Ngọc đã bỏ trốn Tại bản án sơ thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Trọng Hùng 04 năm tù; Nguyễn Mạnh Hùng 03 năm tù đều về tội "cướp tài sản" Tại bản án hình sự phúc thẩm số 1324/2005/HSPT ngày 28-12-2005 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội áp dụng khoản 1 Điều 136; các điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Trọng Hùng 02 năm tù, Nguyễn Mạnh Hùng 18 tháng tù đều về tội "cướp giật tài sản", nhưng cho Nguyễn Mạnh Hùng được hưởng án treo với thời gian thử thách là 3 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm; giữ nguyên các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm Tuy nhiên tại phiên tòa giám đốc thẩm, HĐTP TANDTC nhận định: trong vụ án này sau khi Nguyễn Trọng Hùng cướp giật được tiền và bỏ chạy, bị người bị hại đuổi theo túm được thì Nguyễn Mạnh Hùng và Trần Bảo Ngọc (là những người đã rủ Nguyễn Trọng Hùng cướp giật tiền) đã lao vào ôm cổ, ôm lưng, xô ngã người bị hại để Nguyễn Trọng Hùng chạy thoát Như vậy, các bị cáo đã phạm tội "Cướp giật tài sản" thuộc trường hợp "hành hung để tẩu thoát" quy định tại điểm đ khoản
2 Điều 136 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 3 năm đến 10 năm tù Do đánh giá không đúng tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo nên Toà án cấp phúc thẩm đã quyết định hình phạt không đúng.6
Nguyên nhân dẫn đến những sai sót kể trên là do Tòa án áp dụng chưa đúng các căn cứ quyết định hình phạt Tình trạng này bắt nguồn từ việc “một số thẩm phán chưa nêu cao tình thần trách nhiệm trong công tác, thiếu thận trọng nên
đã phạm phải những sai sót trong nghiên cứu hồ sơ, trong điều tra xác minh, thu
6 Nguồn: http://danluat.thuvienphapluat.vn/banan/?forums=5
Trang 10thập tài liệu chứng cứ của vụ án, trong điều khiển phiên tòa… Một số thẩm phán, cán bộ chưa tích cực nghiên cứu học tập để nâng cao trình độ nghiệp vụ nên chưa nắm vững các hướng dẫn về áp dụng pháp luật, nhận thức chưa đầy đủ và chính xác những quy định của pháp luật nên áp dụng không đúng các quy định của pháp luật dẫn đến việc xét xử sai… Việc quản lý, bồi dưỡng nghiệp vụ cho hội thẩm nhân dân chưa được quy định rõ ràng, chưa thường xuyên tổ chức tập huấn, học tập nghiệp vụ để nâng cao trình độ, năng lực nghiệp vụ cho các hội thẩm nhân dân…” Thực tế, đa số các hội thẩm nhân dân đều có sự hiểu biết pháp luật hạn chế, đặc biệt các hội thẩm nhân dân hầu hết đều là hưu trí hoặc cán bộ các ngành không liên quan đến pháp luật Thêm vào đó, khi tham gia xét xử tại phiên tòa, cho dù họ có thẩm quyền ngang với quyền của thẩm phán, tuy nhiên họ lại thường
có tâm lý “ỷ lại”, “lệ thuộc” vào thẩm phán Tất yếu sẽ dẫn đến việc có một quyết định sai khi thẩm phán không có đủ trình độ chuyên môn, đạo đức kém và hội thẩm nhân dân thì phó thác toàn bộ cho thẩm phán [10, tr.172]
Tóm lại, nhìn chung khi quyết định hình phạt, đặc biệt khi quyết định hình phạt các vụ án có đồng phạm, hội đồng xét xử đã nâng cao tinh thần trách nhiệm khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, động cơ, mục đích, điều kiện, hoàn cảnh và nhân thân người phạm tội để quyết định hình phạt tương xứng Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn tồn tại một số thiếu sót dẫn đến tình trạng quyết định hình phạt không đúng Nguyên nhân của tình trạng này là do Tòa án chưa áp dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt cũng như ý thức trách nhiệm của một số cán bộ ngành Tòa án Như vậy, để quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt trong đồng phạm nói riêng đúng thì đầu tiên cần phải nâng cao chất lượng cán bộ ngành tòa án, các thành viên hội đồng xét xử phải thường xuyên trau dồi kiến thức pháp luật cũng như luôn công tâm khi quyết định hình phạt
II Hoàn thiện chế định quyết định hình phạt trong đồng phạm
Với BLHS 1999, chế định quyết định hình phạt trong đồng phạm đã phù hợp với thực tiễn và tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng pháp luật đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả Tuy nhiên, một số quy định của chế định đồng phạm và chế định quyết định hình phạt trong đồng phạm vẫn còn bộc lộ một
số hạn chế, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn Cụ thể như sau:
Một là, BLHS năm 1999 không đề cập đến việc xử lý hình sự đối với
nhóm tội phạm có tổ chức [3, tr.86] “Phạm tội có tổ chức là trường hợp đồng
phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm” (khoản