Ứng dụng CNTT có thể tạo ra một lượng thông tin to lớn, thường xuyên được lưu giữ, công bố, cung cấp trực tuyến cho cả xã hội; tạo ra sự tiếp cận trên diện rộng của người dân; thay đổi v
Trang 1PHAN ANH TÚ
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH VÀ CÁC GIẢI PHÁP
CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ TẠI HÀ TĨNH
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Trang 2Luận văn thạc sĩ này do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của
thầy giáo TS Nguyễn Thành Phúc Để hoàn thành bản luận văn này, ngoài các tài
liệu thảm khảo đã liệt kê, tôi cam đoan không sao chép toàn văn các công trình hoặc thiết kế tốt nghiệp của người khác
Tác giả luận văn
Phan Anh Tú
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG vii
LỜI NÓI ĐẦU viii
1.1 Một số khái niệm và nội dung của CPĐT 1
1.1.1 Khái niệm về Chính phủ điện tử 1
1.1.2 Tính tất yếu của Chính phủ điện tử 2
1.1.3 Các giai đoạn của Chính phủ điện tử 3
1.2 Tổng quan về Chính phủ điện tử tại một số quốc gia trên thế giới 10
1.2.1 Một số nét về Chính phủ điện tử tại Mỹ 10
1.2.2 Một số nét về Chính phủ điện tử tại Hàn Quốc 14
1.2.3 Một số nét về Chính phủ điện tử tại Nhật bản 19
1.2.4 Một số nét về Chính phủ điện tử tại Philippines 23
1.2.5 Tổng hợp kinh nghiệm lộ trình phát triển chính phủ điện tử của các nước 26
1.3 Chính phủ điện tử tại Việt Nam 27
1.3.1 Giai đoạn ứng dụng tin học 1990-2000 27
1.3.2 Giai đoạn tin học hóa quản lý hành chính nhà nước 2001 - 2005 32
1.3.3 Giai đoạn ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước 2006 đến nay 36
1.3.4 Chính phủ điện tử tại Việt Nam trên bảng xếp hạng của thế giới 37
1.3.5 Đánh giá chung về tình hình ứng dụng CNTT của các tỉnh thành trên cả nước 37
Trang 42.3.2 Về xây dựng môi trường chính sách, tổ chức 68
2.3.3 Về xây dựng hạ tầng CNTT của các đơn vị 69
2.3.4 Về xây dựng các kênh giao tiếp với cộng đồng 71
2.3.5 Về đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các cơ quan Nhà nước 73
3.1.1 Khái niệm về dịch vụ công trực tuyến 77
3.2 Giới thiệu về Bộ Thủ tục hành chính tại Hà Tĩnh 79
3.2.1 Hiện trạng Thủ tục hành chính trên địa bàn 79
3.2.2 Quy trình nghiệp vụ của các Thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh 80
3.3 Thiết kế phần mềm dịch vụ công trực tuyến mức 3 dùng chung 80
3.3.1 Mục tiêu đặt ra: 80
3.3.4 Mô tả chức năng phần mềm DVCTT 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SỬ DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 104
Kết quả đạt được 104
Hướng phát triển 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5Mối quan hệ giữa chính quyền với công chức
Nations)
Liên hợp quốc
14 CBCCVC Cán bộ, công chức, viên chức
Trang 7Bảng 2: Bảng xếp hạng ứng dụng CNTT tỉnh Hà Tĩnh 54
Trang 8biện pháp cải tiến, chuyến đổi phương thức làm việc để nâng cao hiệu quả hoạt động nhằm tăng tính cạnh tranh trong nước và quốc tế Trong đó, các Chính phủ nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân bằng việc ứng dụng các công nghệ, công cụ hiện đại vào hoạt động Thực tế chứng minh, quá trình xây dựng CPĐT ở bất kể quốc gia nào cũng không thể tách rời được vai trò quan trọng của Công nghệ thông tin Ứng dụng CNTT có thể tạo ra một lượng thông tin to lớn, thường xuyên được lưu giữ, công bố, cung cấp trực tuyến cho cả xã hội; tạo ra sự tiếp cận trên diện rộng của người dân; thay đổi về chất lượng, trách nhiệm của các cơ quan công quyền, tạo nên tính công khai, minh bạch cho nền hành chính.…
Tại Việt Nam, Chính phủ cũng đã triển khai nhiều chương trình, đề án ứng dụng CNTT, xây dựng CPĐT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển kinh tế xã hội, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn Trong quá trình triển khai các đề án, dự án ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, một trong những yêu cầu cần thiết là phải xác định kiến trúc chuẩn về các quy trình nghiệp vụ, công nghệ sử dụng và lộ trình triển khai phù hợp để tăng tính hiệu quả, tính linh hoạt và khả năng tái sử dụng của các hệ thống thông tin Với ý nghĩa trên, tác giả đã chọn đề tài luận văn tốt nghiệp “Nghiên cứu,
đề xuất mô hình và các giải pháp Chính quyền điện tử tại Hà Tĩnh” nhằm xây dựng một mô hình khung về Chính quyền điện tử tại Hà Tĩnh Việc phân tích, nghiên cứu Chính phủ điện tử của các nước và Chính quyền điện tử tại các tỉnh thành trong cả nước sẽ rút ra được các bài học, kinh nghiệm trong việc xây dựng mô hình và các giải pháp triển khai Chính quyền điện tử tại Hà Tĩnh Đồng thời phân tích việc triển khai hệ thống dịch vụ hành chính công của các cơ quan trên địa bàn hiện nay từ đó xây dựng được phần mềm dịch vụ công trực tuyến nhằm áp dụng cho các dịch vụ hành chính công trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Trong khuôn khổ nghiên cứu, luận văn được trình bày trong 3 chương chính:
Trang 93) áp dụng trong Chính quyền điện tử.
Hoàn thành luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo
TS Nguyễn Thành Phúc đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn Cảm ơn tập thể giáo
viên Viện CNTT&TT-Trường Đại học Bách Khoa Hà nội, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã luôn động viên, hỗ trợ, sát cánh
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Học viênPhan Anh Tú
Trang 10CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
Trong chương này đề tài tổng hợp, làm rõ một số nội dung như sau:
- Khái niệm, tính chất của Chính phủ điện tử
- Một số nét về xây dựng CPĐT của một số Chính phủ trên thế giới như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines và hiện trạng phát triển CPĐT ở Việt Nam
1.1 Một số khái niệm và nội dung của CPĐT
1.1.1 Khái niệm về Chính phủ điện tử
Đã có rất nhiều tổ chức và chính phủ đưa ra định nghĩa “Chính phủ điện tử” Tuy nhiên, hiện không có một định nghĩa thống nhất về chính phủ điện tử, hay nói cách khác, hiện chưa có một mô hình chính phủ điện tử được áp dụng giống nhau cho các nước Các tổ chức khác nhau đưa ra những định nghĩa về Chính phủ điện tử của riêng mình
- Theo các nước OECD khái niệm Chính phủ điện tử được hiểu là: “Chính phủ điện tử là việc sử dụng CNTT&TT, đặc biệt là Internet như là công cụ để đạt được một chính phủ tốt hơn”
- Theo Ngân hàng thế giới (Word Bank) chính phủ điện tử được hiểu: “Chính phủ điện tử là việc các cơ quan chính phủ sử dụng công nghệ thông tin (như các mạng diện rộng, Internet và sử dụng công nghệ di động) có khả năng chuyển đổi những mối liên hệ giữa người dân, các doanh nghiệp và các tổ chức khác nhau của chính phủ Những công nghệ đó có thể phục vụ những mục đích khác nhau: cung cấp dịch vụ chính phủ đến người dân tốt hơn, cải thiện những tương tác giữa doanh nghiệp và công dân, tăng quyền cho người dân thông qua truy nhập đến thông tin, hoặc quản lý nhà nước hiệu quả hơn”
- Theo Liên hiệp quốc (UNPAN - Mạng trực tuyến về hành chính công và tài chính của Liên Hợp Quốc): “Chính phủ điện tử là việc áp dụng CNTT&TT để chuyển đổi các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của Chính phủ”
Trang 11- Theo Bộ Thông tin và Truyền thông: “Chính phủ điện tử là Chính phủ ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch thông tin, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp” [Văn bản số 1178/BTTTT-THH ngày 21/4/2015 của
Bộ Thông tin và Truyền thông về việc ban hành khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam]
Như vậy, theo khái niệm Chính phủ điện tử của Bộ Thông tin truyền thông thì Chính phủ điện tử cho phép người dân, tương tác nhận được các dịch vụ từ Chính phủ 24h một ngày, 7 ngày một tuần, tăng tính minh bạch, giảm chi phí, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Chính phủ, góp phần giảm tiêu cực, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng
1.1.2 Tính tất yếu của Chính phủ điện tử
Xuất hiện nhu cầu cần thiết phải xây dựng Chính phủ điện tử là do một số xu hướng toàn cầu:
- Sự toàn cầu hóa: Sự phụ thuộc ngày càng tăng về văn hóa và xã hội giữa các nước khác nhau là cơ sở cho sự hình thành văn hóa toàn cầu Việc giúp đỡ các công dân và các tổ chức kinh doanh của mình cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hóa
là cách thức duy nhất để các quốc gia có thể tham gia vào sự hình thành nền văn hóa này, cũng như việc thừa nhận những nét đặc sắc trong nền văn hóa của mình Cung cấp các thông tin cạnh tranh cho các công ty trong nước hoạt động, tạo việc làm cho công dân là những lợi ích trực tiếp mà Chính phủ điện tử có thể đem lại cho công dân của mình;
- Quốc tế hóa: Các vấn đề mang tính toàn cầu hiện nay như: Bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên chiến lược không thể được bởi từng quốc gia riêng lẻ Chính phủ điện tử tạo điều kiện tốt hơn để quản lý các hợp tác đa phương và các quy trình trao đổi đa phương ngay sau khi đối tác của mình có khả năng tổ chức để
Trang 12thực hiện điều này Hơn nữa, việc kiểm soát các rủi ro toàn cầu không thể thực hiện
có hiệu quả nếu không có một cách thức trao đổi thông tin hiệu quả
- Thị trường hóa: Chính phủ đang chuyển dần việc điều hành từ nền hành chính cai trị sang nền hành chính phục vụ Chính phủ được nhìn nhận như nhà cung cấp các dịch vụ thì sẽ hiệu quả hơn khi sử dụng các giải pháp trên thị trường quốc tế
để quản lý tài sản, cung cấp dịch vụ hay giải quyết các vấn đề tài chính Nhưng các giải pháp này cũng cần một cơ sở hạ tầng quản lý đảm bảo bảo mật thông tin có khả năng đáp ứng được các yêu cầu của công dân và doanh nghiệp
- Các công dân số: Thế giới các phát triển thì cuộc sống càng trở nên phức tạp, đồng nghĩa với việc quản lý nhà nước cũng phức tạp và trừu tượng hơn nhiều Những công dân không thỏa mãn cảm thấy bị tách ra và không tin tưởng vào Chính phủ Họ không đưa ra ý kiến vì họ không thấy được mối quan hệ giữa ý kiến, các chính sách của Chính phủ và cuộc sống hàng ngày của họ Các công dân số được trang bị nhiều thông tin và các công cụ trao đổi thông tin phù hợp với khả năng trao đổi với những người khác họ yêu cầu sự tin cậy của Chính phủ và tham gia tích cực vào quá trình ra quyết định của Chính Phủ Đem lại lợi ích của Chính phủ điện tử tới các công dân đồng nghĩa với việc trao đổi thông tin với công dân Và cuối cùng,
sử dụng công nghệ để đào tạo những kỹ năng cần thiết cho mọi công dân, để họ trở thành một bộ phận của tiến trình xã hội
1.1.3 Các giai đoạn của Chính phủ điện tử
Phát triển CPĐT là một quá trình lâu dài, liên tục, qua các giai đoạn khác nhau Việc phân chia các giai đoạn phát triển CPĐT nhằm xác định mức độ phát triển CPĐT, cũng như làm cơ sở xác định lộ trình, kế hoạch triển khai CPĐT đúng hướng, phù hợp với điều kiện thực tế Cứ qua từng giai đoạn (thực hiện và duy trì) thì tính phức tạp lại tăng thêm, nhưng giá trị mà nó mang lại cho người dân và doanh nghiệp cũng tăng lên Theo công ty tư vấn và nghiên cứu Gartner đã xây dựng, chỉ
ra bốn giai đoạn (hay thời kỳ) của quá trình phát triển Chính phủ điện tử như sau:
Trang 13Giai đoạn 1 - Thông tin: Trong giai đoạn đầu, chính phủ điện tử có nghĩa là
các thông tin được hiện diện và cung cấp cho công chúng (thích hợp) trên trang web Giá trị mang lại ở chỗ công chúng có thể tiếp cận được thông tin của chính quyền, các quy trình trở nên minh bạch hơn, qua đó nâng cao chất lượng dịch vụ Với G2G, các cơ quan chính quyền cũng có thể trao đổi thông tin với nhau bằng các phương tiện điện tử, như Internet hoặc trong mạng nội bộ
Giai đoạn 2 - Tương tác: Giai đoạn này, tính phức tạp của công nghệ có tăng
lên, nhưng giá trị của khách hàng (trong G2C và G2B) cũng tăng Các giao dịch hoàn chỉnh có thể thực hiện mà không cần đi đến cơ quan hành chính Ví dụ: Đăng
ký thuế thu nhập, đăng ký thuế tài sản, gia hạn/cấp mới giấy phép, thị thực và hộ chiếu, biểu quyết qua mạng
Giai đoạn 3 - Giao dịch: Với giai đoạn thứ ba, tính phức tạp của công nghệ có
tăng lên và giá trị của khách hàng (trong G2C và G2B) cũng tăng Các giao dịch hoàn chỉnh có thể thực hiện mà không cần đi đến cơ quan hành chính Có thể lấy ví
dụ về các dịch vụ trực tuyến như: Đăng ký thuế thu nhập, đăng ký thuế tài sản, gia hạn/cấp mới giấy phép, thị thực và hộ chiếu, biểu quyết qua mạng Giai đoạn 3 là phức tạp bởi các vấn đề an ninh và cá thể hóa, chẳng hạn như chữ ký số (chữ ký điện tử) là cần thiết để cho phép thực hiện việc chuyển giao các dịch vụ một cách hợp pháp Về khía cạnh doanh nghiệp, chính phủ điện tử bắt đầu với các ứng dụng mua bán trực tuyến Ở giai đoạn này, các quy trình nội bộ (G2G) phải được thiết kế lại để cung cấp dịch vụ được tốt Chính quyền cần những luật và quy chế mới để cho phép thực hiện các giao dịch không sử dụng tài liệu bằng giấy
Giai đoạn 4 - Tích hợp: Giai đoạn thứ tư là khi mọi hệ thống thông tin được
tích hợp hoàn toàn, các dịch vụ điện tử không còn bị giới hạn bởi các ranh giới hành chính Khi đó công chúng có thể hưởng các dịch vụ G2C và G2B tại một bàn giao dịch (điểm giao dịch ảo) Ở giai đoạn này, tiết kiệm chi phí, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu khách hàng đã đạt được các mức cao nhất có thể được
Trang 14Hình vẽ 1: Các giai đoạn của Chính phủ điện tử theo Gartner
1.1.4 Những lợi ích mà Chính phủ điện tử mang lại
- Đối với Chính phủ:
+ Chính phủ điện tử với công nghệ cao, kĩ thuật hiện đại cho phép truyền và
xử lý thông tin nhanh chóng và chính xác Chính phủ điện tử giúp các thủ tục hành chính được công khai, tạo sự bình đẳng trong truy cập thông tin và cho phép xử lý các thủ tục hành chính nhanh hơn nhiều so với Chính phủ truyền thống Chính phủ điện tử có thể giảm các quy trình thủ tục hành chính và giấy tờ, do đó Chính phủ sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí cho việc xử lý công việc giấy tờ vốn còn nhiều chồng chéo vướng mắc;
+ Tăng cường tính hiệu quả, dân chủ và minh bạch trong các hoạt động của Chính phủ điện tử phủ, tạo lòng tin trong dân chúng;
+ Tạo điều kiện thông tin tốt hơn như giữa các cơ quan Chính phủ với nhau và giữa chính phủ với các cán bộ của chính phủ (G2G, G2E);
Trang 15+ Dễ dàng thu thập ý kiến đóng góp của người dân, giúp cho hoạch định chính sách tốt hơn, phù hợp hơn;
+ Làm thay đổi cách thức cung cấp thông tin từ chính phủ tới người dân, đưa công cuộc cải cách hành chính vào giai đoạn mới;
+ Giảm thiểu hiện tượng quan liêu, tham nhũng của các cơ quan công quyền
- Đối với người dân và các doanh nghiệp:
+ Được tiếp cận với hình thức mới trong việc cung cấp thông tin và dịch vụ công với nhiều tính năng ưu việt, nhờ đó được thông tin tốt hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình;
+ Người dân có được mọi thông tin cần thiết một cách nhanh chóng qua các trung tâm cung cấp dịch vụ trực tuyến Qua mạng, người dân được cung cấp thông tin về pháp luật, thực hiện các công việc như công chứng, đăng ký lập doanh nghiệp, khai thuế, thanh toán thuê, đăng ký nhân khẩu, sang tên trước bạ mà không cần đi gõ cửa nhiều cơ quan như trước đây;
+ Người dân có thể tham gia vào qua trình điều hành của chính phủ thông qua góp ý kiến, đề đạt nguyện vọng trực tiếp tới các cơ quan của chính phủ;
+ Tiết kiệm thời gian, chí phí cho người dân;
+ Công việc của các doanh nghiệp được xử lý nhanh chóng, giúp nắm bắt các
cơ hội kinh doanh tốt hơn;
+ Mọi thông tin kinh tế của chính phủ được cung cấp đầy đủ cho mọi người dân giúp các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn;
+ Dịch vụ của chính phủ được nâng cao, công dân sẽ có cơ hội tiếp cận các dịch vụ có chất lượng nhằm đáp ứng các nhu cầu cá nhân
- Đối với xã hội:
+ Tạo môi trường thông thoáng, dễ tiệp cận cho các nhà đầu tư nước ngoài Sự phê duyệt nhanh chóng của nhà nước sẽ có nhiều cơ hội để thu hút đầu tư;
Trang 16+ Nâng cao cấp độ kết nối giữa các cơ quan cũng như các cá nhân trong cơ quan, chất lượng và tốc độ làm việc sẽ tăng lên nhanh chóng;
+ Hỗ trợ việc ứng dụng những thiết bị phục vụ cho quá trình phân tích và ra quyết định nhằm giải quyết những vấn đề phức tạp giúp cho việc xây dựng các chính sách công một cách thực tế;
+ Trong quá trình thực hiện sẽ giúp nâng cao mặt bằng trí thức quốc gia cũng như toàn xã hội;
+ Nền kinh tế phát triển nhanh giúp cải thiện mức sống của người dân Sức khỏe cộng đồng cũng tốt hơn do họ được sử dụng các dịch vụ y tế dễ dàng hơn
1.1.5 Các tương tác, giao dịch trong Chính phủ điện tử
Hiện nay, CPĐT được tập trung vào 4 đối tượng khách hàng chính:
Người dân
Cộng đồng doanh nghiệp
Các công chức chính phủ (được hiểu chung là thành phần của Chính phủ)
Và các cơ quan chính phủ (được hiểu chung là thành phần của Chính phủ)
Chính phủG
Doanh nghiệpB
Người dânC
G-G: Giữa các cơ quan Chính phủ
Trang 17Mục đích của CPĐT là làm cho mối tác động qua lại giữa người dân, doanh nghiệp, nhân viên chính phủ và các cơ quan chính phủ với chính phủ trở nên thuận tiện, thân thiện, minh bạch, đỡ tốn kém và hiệu quả hơn
Trong một hệ thống CPĐT, từng cá nhân có khả năng đưa ra yêu cầu đối với một dịch vụ cụ thể của chính phủ và nhận được dịch vụ đó thông qua Internet Trong một số trường hợp, các dịch vụ chính phủ được cung cấp thông qua một đơn vị đầu mối xử lý thay vì nhiều đơn vị Trong một số trường hợp khác, các dịch vụ chính phủ được hoàn tất mà không phải liên lạc trực tiếp với các nhân viên chính phủ
a) Chính phủ đến Chính phủ - G2G
Đây là mô hình có các dịch vụ liên quan trong Chính phủ và các dịch vụ nội
bộ từng cơ quan Chính phủ, được gọi chung là tác nghiệp Chính phủ, có thể kể đến việc quản lý, lưu trữ, khai thác, xử lý công văn tài liệu, các biểu báo, các chuẩn, thống kê, hệ thống thông tin pháp luật trực tuyến, hội họp trực tuyến, các hoạt động của chính phủ được cập nhật qua hệ thống trang tin điện tử (website) giữa trung ương, bộ ngành và địa phương… Cấp độ tương tác CPĐT này giúp cho các cơ quan hành chính chia sẻ dữ liệu, trao đổi công việc thuận tiện hơn, giảm thiểu chi phí và thời gian hội họp không cần thiết Hệ thống chính quyền nhà nước phải được đào tạo đồng bộ; cán bộ công chức trong hệ thống chính quyền phải là những người nắm được các tri thức về công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ truyền thông, sử dụng được các thiết bị kỹ thuật thông tin, kỹ thuật Internet và các kỹ thuật điện tử khác cho mọi công việc hàng ngày
b) Chính phủ đến Doanh nghiệp - G2B
- Có rất nhiều dịch vụ khác nhau giữa chính phủ và các doanh nghiệp, bao gồm việc cung cấp thông tin, các dịch vụ của các cơ quan chính phủ cho doanh nghiệp và các dịch vụ mà các doanh nghiệp phải thực hiện đối với chính phủ
Trang 18- Các cơ quan chính phủ cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp, phổ biến các quy định, các chính sách, các lệnh, các bản ghi nhớ… của các cơ quan chính phủ cho các doanh nghiệp.
- Các dịch vụ chính phủ thực hiện cho các doanh nghiệp thường là: Làm mới
và gia hạn các loại giấy phép, các chứng nhận, thanh tra và kiểm tra, …
- Các dịch vụ các doanh nghiệp thực hiện cho các cơ quan chính phủ là: Nộp thuế, cung cấp thông tin thống kê kinh doanh, cung cấp thông tin và tham gia vào đấu thầu-mua bán trực tuyến…
Cả chính phủ và các doanh nghiệp cải thiện dần mối quan hệ giữa khu vực chính phủ và khu vực tư nhân, thiết lập mối quan hệ hợp tác trợ giúp chính phủ-doanh nghiệp trong chính phủ điện tử
Đối với chính phủ điện tử, cũng như dịch vụ cho người dân, dịch vụ cho các doanh nghiệp tiến tới thực hiện ngoài giờ hành chính, tiến tới được thực hiện 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần, tất cả 365 ngày trong năm Các hình thức thực hiện dịch vụ ngày càng phải được cải thiện và tiến tới thực hiện trên nhiều phương tiện, ở bất cứ đâu thuận lợi cho doanh nghiệp
c) Chính phủ đến Công dân - G2C
Nhóm các dịch vụ của chính phủ đến người dân bao gồm việc phổ biến thông tin đến người dân, các dịch vụ cơ bản cho người dân, và các dịch vụ người dân thực hiện cho các cơ quan chính phủ
- Các thông tin phổ biến đến người dân là các thông tin về các cơ quan chính phủ, thông tin về các qui định, chính sách, luật pháp… giúp cho người dân hiểu biết tốt hơn về cơ quan chính phủ và công việc của cơ quan, cũng như trợ giúp họ thực hiện tốt các dịch vụ hành chính
- Các dịch vụ mà chính phủ thường cung cấp cho người dân là: Làm giấy khai sinh/khai tử/hôn nhân, làm mới hoặc gia hạn các loại giấy phép (lái xe, đăng
Trang 19ký quyền sở hữu nhà ở…), cũng như các dịch vụ trợ giúp người dân trong giáo dục, bảo vệ sức khỏe và chữa bệnh, thư viện…
- Các dịch vụ mà người dân thường thực hiện cho các cơ quan chính phủ là: Khai thuế thu nhập, nộp tiền phạt, thay đổi nơi ở… Tiến tới người dân tham gia vào các công việc của các cơ quan chính phủ trong việc xây dựng chính sách, ra các quyết định, bầu cử trực tuyến…
Đối với chính phủ điện tử, việc cung cấp thông tin, dịch vụ cho người dân có thể được thực hiện ngoài giờ hành chính, tiến tới được thực hiện 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần, tất cả 365 ngày trong năm Các hình thức thực hiện dịch
vụ ngày càng phải được cải thiện và tiến tới thực hiện trên nhiều phương tiện, ở bất cứ đâu thuận lợi cho người dân
1.2 Tổng quan về Chính phủ điện tử tại một số quốc gia trên thế giới
1.2.1 Một số nét về Chính phủ điện tử tại Mỹ
Ngay từ rất sớm, Chính phủ Mỹ đã có những quy định chính sách mạnh mẽ nhằm khai thác lợi thế CNTT tăng hiệu năng, giảm chi phí hoạt động của bộ máy công quyền, đồng thời phục vụ người dân tốt hơn Chính sách đầu tiên có thể kể đến là Luật giảm thiểu giấy tờ được ban hành năm 1995 (Paperwork Reduction Act of 1995), với mục tiêu đặt ra là: Giảm thiểu gánh nặng giấy tờ liên bang cho
cá nhân, doanh nghiệp nhỏ, cơ quan giáo dục, tổ chức phi lợi nhuận, các cơ quan liên bang, chính quyền địa phương; tối đa hóa sử dụng tài nguyên thông tin, bằng cách tập hợp, lưu trữ và chia sẻ thông tin bởi Chính quyền liên bang
Tiếp theo đó, Luật Clinger-Cohen được ban hành năm 1996 (Clinger-Cohen Act of 1996 ) Trong đó, vai trò, nhiệm vụ của các CIO được xác định rõ, đồng thời hướng dẫn các cơ quan liên bang tập trung nhiều hơn vào hiệu quả đầu tư CNTT, minh bạch hóa mua sắm CNTT
Năm 1998, Luật loại bỏ công việc giấy tờ chính phủ được ban hành (Government Paperwork Elimination Act -GPEA) Trong đó, tập trung vào các nội
Trang 20dung quy định về tính pháp lý của chữ ký số, văn bản điện tử nhằm thay thế các văn bản giấy.
Năm 2002, đánh dấu một bước mới trong lộ trình phát triển chính phủ điện
tử của Mỹ bằng sự ra đời của Luật chính phủ điện tử 2002 (E-Government Act of
2002 ), với những quy định mở đường nhằm nâng cao công tác quản lý và xúc tiến chính phủ điện tử Theo đó, thiết lập Bộ phận quản lý chính phủ điện tử cấp liên bang thuộc Văn phòng quản lý và ngân sách (OMB) Cũng trong năm 2002, Tổng thống Mỹ đã đưa ra Chương trình quản lý của tổng thống (President’s Management Agenda) nhằm cải cách Chính phủ, với 5 nhiệm vụ lớn, trong đó có nhiệm vụ mở rộng Chính phủ điện tử
Để tiếp tục phát triển chính phủ điện tử, tháng 2/2002, Mỹ đã ban hành chiến lược chính phủ điện tử Theo đó, thành lập các nhóm chuyên trách (taskforce), xác định những hoạt động ưu tiên phát triển chính phủ điện tử, xác định những rào cản, khó khăn vướng mắc phải giải quyết, xác định khung công nghệ nhằm tích hợp các dịch vụ, thông tin của chính phủ; chuyển đổi chính phủ hướng tới người dân (bao gồm 81 taskforce từ 46 cơ quan), đồng thời thành lập các nhóm triển khai dự án liên cơ quan Trong nội dung chiến lược cũng xác định rõ một số bất cập cần giải quyết, ví dụ như: có quá nhiều website, form mẫu trùng nhau (để có trợ cấp phát triển kinh tế, một cơ quan tìm thấy 1000 form tại 250 cơ quan liên bang và các form này có nội dung gần giống nhau) Các nội dung của Chiến lược hướng tới các mục tiêu chính sau đây:
- Tạo điều kiện cho người dân dễ tìm, dễ sử dụng các dịch vụ một cửa chất lượng cao của chính phủ (G2C)
- Đơn giản hóa thủ tục hành chính bằng cách giảm bớt việc phải cung cấp dữ liệu trùng lặp của doanh nghiệp tới nhiều cơ quan chính phủ khác nhau (G2B)
- Tạo điều kiện thuận lợi cho công tác báo cáo, tham gia phối hợp cung cấp dịch vụ cho người dân (G2G)
Trang 21- Giảm chi phí, tăng chất lượng công tác hành chính, giảm thời gian xử lý (IEE)
Để thực hiện các mục tiêu trên, Chiến lược cũng xác định rõ những khó khăn, cản trở cần khắc phục về các mặt sau đây:
- Về đánh giá hiệu quả: Nhiều cơ quan đánh giá hiệu quả các hệ thống CNTT thông qua khả năng của các hệ thống này phục vụ nhu cầu và quy trình nghiệp vụ của mình, mà không đánh giá khả năng phục vụ người dân, doanh nghiệp của các
- Về sự thay đổi: Tâm lý, văn hóa ngại thay đổi Không muốn hợp tác, chia
sẻ thông tin
Từ những hạn chế cần giải quyết, Chiến lược đưa ra các giải pháp chính sau đây: Cung cấp các dịch vụ trực tuyến; Chia sẻ thông tin và tích hợp dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước khi phù hợp và khả thi; Đơn giản hóa, tổ chức lại các thủ tục và thúc đẩy sự phối hợp thu thập dữ liệu; Phổ biến bài học thành công để giảm chi phí, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, nguồn nhân lực, mua sắm; Xác định các phương pháp đánh giá thành công và giám sát, đánh giá thường xuyên hiệu quả; Giảm sự trùng lặp, dư thừa trong việc cung cấp dịch vụ cho người dân, giảm giá thành Một trong những giải pháp quan trọng là ứng dụng kiến trúc nghiệp vụ liên bang (FEA); Chọn lựa các dự án được ưu tiên triển khai (những dự án triển vọng có hiệu quả, thời gian triển khai trong vòng 18-24 tháng), kết quả đã chọn 24
Trang 22sáng kiến Trong đó bao gồm việc triển khai xác thực điện tử để bảo đảm an ninh cho các sáng kiến liên bang.
Tháng 4/2003, Mỹ tiếp tục ban hành chiến lược chính phủ điện tử Trong đó đánh giá những kết quả đạt được từ việc thực hiện Chiến lược lần trước, tiêu biểu như: FirstGov.gov cung cấp 3 click (3 nháy chuột) tới dịch vụ chính phủ; 60% người trả thuế sử dụng hệ thống điện tử; khoảng 1/3 số người sử dụng Internet truy nhập đến website liên bang; khoảng 1/2 số doanh nghiệp giao dịch online với chính quyền liên bang
Trong chiến lược cũng xác định các thách thức, rào cản cần đương đầu trong giai đoạn tiếp theo, chúng không tập trung nhiều ở vấn đề công nghệ, mà chủ yếu tập trung vào việc thay đổi chính sách và hành vi Cụ thể như: Sự hỗ trợ của lãnh đạo; chủ nghĩa địa phương; minh bạch, hiệu quả trong tài chính; nhận thức, hiểu biết về các dự án, sáng kiến chính phủ điện tử; sự tích hợp các hệ thống thông tin giữa các cơ quan; theo kịp các xu thế công nghệ (băng rộng, tương hợp, dịch vụ web, bảo mật và bảo vệ riêng tư) Từ đó, Chiến lược xác định rõ mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo là: Cung cấp nhiều hơn, tốt hơn, rẻ hơn các dịch vụ cho công dân thông qua các nhóm làm việc trong và liên cơ quan, giảm các hệ thống dư thừa
Cụ thể:
- Đơn giản hoá các quy trình làm việc để cải thiện dịch vụ tới công dân Áp dụng nguyên tắc của thương mại điện tử "buy once use many; collect once use many" (mua một lần sử dụng nhiều lần, thu thập một lần sử dụng nhiều lần)
- Sử dụng các quy trình ngân sách hàng năm và các yêu cầu khác của Văn phòng quản lý và ngân sách (OMB- Office of Management and Budget) để hỗ trợ triển khai chính phủ điện tử
- Cải thiện việc triển khai các dự án bằng việc nâng cao chất lượng nhóm làm việc CNTT (chất lượng, kỹ năng nhóm triển khai dự án, thông tin dự án, đào tạo )
Trang 23- Tiếp tục hiện đại hóa quản lý CNTT tại các nhóm nghiệp vụ (quản lý đầu tư CNTT) Xác định sự trùng lặp các nhóm nghiệp vụ (quản lý tài chính, dữ liệu và thống kê, nguồn nhân lực, phúc lợi tài chính, điều tra tội phạm, giám sát sức khỏe cộng đồng).
- Gắn liền trách nhiệm người lãnh đạo trong triển khai chính phủ điện tử.Qua nghiên cứu lộ trình phát triển Chính phủ điện tử của Mỹ, có thể thấy bài học thành công của Mỹ đó là trước hết phải xác định rõ những bất cập, nhu cầu thực tế, từ đó có những bước đi, lộ trình rõ ràng, phù hợp, bắt đầu đơn giản chỉ là giảm giấy tờ, sau đó hướng đến cung cấp dịch vụ trực tuyến mức độ cao với người dân là trung tâm Tổ chức quản lý phát triển Chính phủ điện tử phải rõ ràng và có quyền hạn tương ứng, đặc biệt là quyền phân bổ ngân sách, có đội ngũ chuyên nghiệp có đủ năng lực để triển khai Chính phủ điện tử các cấp, các ngành [Nguồn http://aita.gov.vn/tin-tuc/1586/nghien-cuu-kinh-nghiem-lo-trinh-phat-trien-chinh-phu-dien-tu-nuoc-my]
1.2.2 Một số nét về Chính phủ điện tử tại Hàn Quốc
Với tầm nhìn chiến lược và sự quyết tâm phát triển chính phủ điện tử gắn với phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ điện tử của Hàn quốc hiện đã phát triển qua nhiều giai đoạn và đang thuộc nhóm dẫn đầu thế giới Có thể tóm tắt các giai đoạn phát triển chính phủ điện tử của Hàn Quốc như sau:
- Giai đoạn đầu tiên là "Xây dựng nền tảng chính phủ điện tử" Trong đó tập trung vào các nhiệm vụ chính sau:
+ Xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia quan trọng, như: đăng ký dân cư, bất động sản, phương tiện giao thông
+ Xây dựng hạ tầng truyền thông Chính phủ điện tử thông qua dự án hạ tầng thông tin Hàn Quốc (KII)
+ Thiết lập cơ sở hạ tầng tích hợp giữa các cơ quan chính phủ bằng cách tập trung vào các đơn vị nghiệp vụ (trong khu vực giới hạn)
Trang 24- Giai đoạn thứ hai được gọi là "Triển khai chính phủ điện tử đầy đủ” Trong
đó, tập trung triển khai thực hiện 11 sáng kiến, bao gồm: dịch vụ truy cập một cửa trực tuyến (single window) cho công dân trực tuyến (G4C); dịch vụ mua sắm điện
tử E-Procurement (G2B); hệ thống thông tin tài chính quốc gia; xây dựng chính sách cho chính phủ điện tử chẳng hạn như Luật chính phủ điện tử (3/2001)
- Giai đoạn thứ ba là "Phát triển nâng cao chính phủ điện tử" Tập trung triển khai các dự án chính phủ điện tử (e-Gov Roadmap Projects) như là động lực chiến lược đổi mới chính phủ Bao gồm 31 dự án, chia làm 4 lĩnh vực chính ưu tiên (Đổi mới dịch vụ dân sự, đổi mới cách thức hoạt động của chính phủ, đổi mới quản lý tài nguyên thông tin và cải thiện môi trường pháp lý) Ngoài ra, xây dựng hệ thống chia sẻ thông tin hành chính tổng hợp, bảo đảm sự tham gia trực tuyến của người dân vào các hoạt động cơ quan nhà nước, tăng cường kết nối theo chiều dọc và ngang giữa các cơ quan nhà nước
- Giai đoạn thứ tư là “Phát triển thế hệ tiếp theo của Chính phủ điện tử - Chính phủ số của người dân”
Cho đến nay, có thể nói việc phát triển chính phủ điện tử tại Hàn Quốc đã đạt được các thành tựu nổi bật sau:
- Thành tựu 1: Chuẩn bị được cơ sở hạ tầng cho phát triển chính phủ điện tử bền vững Trong đó đã thực hiện được các nội dung: Thúc đẩy sự hợp tác và tính minh bạch của các cơ quan hành chính thông qua hệ thống xử lý nghiệp vụ On-nara cho tất cả các thể chế xã hội bao gồm cả các chính quyền địa phương (1/2007); Khai trương hệ thống quản lý tài khóa quốc gia tổng hợp trực tuyến dựa trên các hệ thống kế toán tiên tiến (bắt đầu năm tài khóa 2007); Tăng cường sự kết nối dọc, ngang giữa chính chính quyền trung ương và chính quyền địa phương bằng việc mở rộng và cải thiện hệ thống hành chính được chuẩn hóa
- Thành tựu 2: Cải thiện các dịch vụ chính phủ điện tử đối với người dân (G4C) Bao gồm các nội dung chính sau: Giảm quan liêu thông qua việc chia sẻ
Trang 25thông tin giữa các cơ quan nhà nước và các khu vực tư nhân (ví dụ ngân hàng) đối với trên 40 loại văn bản, bởi vậy giảm 67% các văn bản dân sự yêu cầu; Khai trương các dịch vụ chính phủ điện tử có thể truy nhập tại nhà thông qua Internet; Khai trương cổng "Ombudsman" cho phép người dân đưa ra những khiếu nại, đề xuất, tổ chức các diễn đàn; Cung cấp dịch vụ thuế điện tử, người dân có thể kê khai và trả thuế tại nhà qua Internet.
- Thành tựu 3: Cải thiện các hệ thống trợ giúp doanh nghiệp Bao gồm các nội dung: Xây dựng hệ thống thông tin doanh nghiệp, từ khi doanh nghiệp thành lập đến khi không hoạt động các dịch vụ thông tin được cung cấp; Đơn giản hóa các quy trình liên quan đến các thủ tục, như các mẫu biểu xuất, nhập khẩu (giảm các giấy tờ cần phê duyệt liên quan quy trình xuất, nhập khẩu từ 21 xuống còn 8; giảm số thủ tục đệ trình cho xuất, nhập khẩu từ 4 năm 2004 xuống còn 1 năm 2005)
- Thành tựu 4: Tăng cường hạ tầng công nghệ và thể chế cho phát triển chính phủ điện tử: Thành lập 2 trung tâm quản lý tài nguyên thông tin và tin học hóa quốc gia (National Information Resource Administration – NCIRA) nhằm tích hợp tài nguyên thông tin của 48 bộ để xây dựng một hệ thống quản lý hiệu quả các nguồn thông tin chính phủ; Cải thiện nền tảng pháp lý cơ bản, bảo đảm các quy trình hành chính, sự tham gia của người dân, quản lý tài nguyên thông tin
- Thành tựu 5: Hiện thực hóa chính phủ điện tử hàng đầu thế giới: Xây dựng
hệ thống mua sắm điện tử của Hàn Quốc "Narajangteo", là chuẩn được thế giới công nhận, số lượng hàng hóa được mua 47 tỷ USD một năm Số người sử dụng hàng ngày 18 triệu với tỷ lệ đấu thầu 92.3%; Nhận được giải thưởng dịch vụ công của UN năm 2003 Được chọn lựa là mô hình thành công mua sắm điện tử của UN năm 2004; Có hệ thống dịch vụ hải quan điện tử nhanh nhất trong 169 nước thành viên của tổ chức hải quan thế giới (WCO) ( Mất 02 phút cho xuất khẩu, mất ít hơn 1.5 giờ cho nhập khẩu; Có hệ thống khai báo hải quan điện tử toàn diện (100%)
Trang 26đầu tiên trên thế giới cho xuất/nhập khẩu; Được chọn là mô hình thực tế tốt nhất trong diễn đàn chống tham nhũng của UN năm 2001)
Để phát triển chính phủ điện tử giai đoạn mới, tháng 12/2007, Hàn Quốc đưa
ra kế hoạch tổng thể cho chính phủ điện tử thế hệ tiếp theo đến năm 2012 Trong
đó, xác định tầm nhìn “Chính phủ số của người dân tốt nhất thế giới” , với các mục tiêu cụ thể sau:
- Cung cấp dịch vụ tùy biến cho người dân, lấy người dân là trung tâm, thông qua việc tích hợp các dịch vụ hướng tới nhu cầu người dân và doanh nghiệp
- Tăng tốc quá trình đổi mới chính phủ hướng hệ thống, bằng việc xây dựng
+ Thiết lập cấu trúc quản lý phù hợp: Thiết lập một hệ thống mà tất cả các đối tác có thể tham gia đóng góp xây dựng chính phủ điện tử (những người thực hiện, các nhà học thuật, các viện nghiên cứu ); Tăng cường mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương, xây dựng hệ thống trao đổi, hợp tác với thành phần cốt lõi là các CIO của các cơ quan; Thiết lập các quy trình để thu thập
sự đồng thuận của người dân đối với các thủ tục trong các dự án chính phủ số + Đổi mới quy trình: Cải tiến môi trường pháp lý và các quy trình công việc; Cải tiến các quy định phù hợp cho các mối quan hệ trong khu vực hành chính công điện tử và quan hệ khu vực công – tư
+ Tăng cường các hệ thống quản lý hiệu quả: Thiết lập các quy trình quản lý hiệu quả đầu tư, cụ thể như: các tiêu chuẩn đo lường, các mục tiêu, đánh giá hiệu
Trang 27quả; thành lập văn phòng quản lý dự án PMO và phát triển các chương trình đào tạo PMO; thiết lập hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ chính phủ điện tử.
+ Tăng cường quản lý nguồn nhân lực chính phủ điện tử: Đào tạo chuyên gia CNTT (quản lý dự án, an toàn an ninh ); Cung cấp các chương trình đào tạo CNTT phù hợp với các đối tượng khác nhau: CEO, CIO, cán bộ
+ Củng cố vị trí dẫn đầu thế giới: Nâng cao mối quan hệ về chính phủ điện tử với các tổ chức quốc tế, nước ngoài; mở rộng sự hiện diện toàn cầu; tăng cường hỗ trợ các chuẩn quốc tế, xác thực quốc tế, thúc đẩy mô hình chính phủ điện tử Hàn Quốc
Để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra, trong Kế hoạch cũng xác định rõ lộ trình thực hiện:
- Năm 2007 (giai đoạn 1 - Chuẩn bị): Xây dựng kế hoạch tổng thể (master plan) và các kế hoạch hành động (action plan)
- Năm 2008 (giai đoạn 2 - Xây dựng nền tảng): Triển khai BPR và ISP cho các dự án mới Xác định tính khả thi của các dự án Xây dựng năng lực cho triển khai và quản lý cấu trúc tổ chức
- 2009-2011 (Giai đoạn 3 - Thiết lập hệ thống): Triển khai toàn diện các hệ thống đã được phát triển
- 2012 (Giai đoạn 4 - Tích hợp): Nâng cao hiệu quả bằng việc tích hợp các hệ thống và cung cấp các dịch vụ chất lượng cao hơn
Bài học có thể học tập được sau khi nghiên cứu lộ trình phát triển Chính phủ điện tử tại Hàn Quốc đó là:Trước hết cần chuẩn bị cơ sở hạ tầng cho phát triển chính phủ điện tử, trong đó tập trung vào việc tăng cường sự phối hợp, liên kết giữa các Bộ, ngành, địa phương; Đơn giản hóa các thủ tục hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp và các tổ chức; Hoàn thiện môi trường pháp lý tạo điều kiện phát triển Chính phủ điện tử; cần phải chọn lựa được các dự án chủ đạo tạo nền tảng cho Chính phủ điện tử trong mỗi giai đoạn để tập trung nguồn lực thực
Trang 28hiện; dịch vụ Chính phủ điện tử phải hướng đến đối tượng cuối cùng là phục vụ người dân và doanh nghiệp; sẵn sàng chia sẻ, hợp tác quốc tế để phát triển Chính phủ điện tử [http://aita.gov.vn/tin-tuc/1588/nghien-cuu-kinh-nghiem-lo-trinh-phat-trien-chinh-phu-dien-tu-cua-han-quoc].
1.2.3 Một số nét về Chính phủ điện tử tại Nhật bản
Nhật Bản quan niệm cách mạng thông tin mang tầm quan trọng lịch sử, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Cuộc cách mạng này được nhìn nhận trên quan điểm của cuộc cải cách Minh Trị đưa xã hội Nhật Bản
từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp Nhật Bản phát triển Chính phủ điện tử trong chiến lược tổng thể “Nhật Bản điện tử” (e-Japan), nhằm sử dụng công nghệ thông tin như công cụ để thực tế hoá một Nhật Bản “không khoảng cách”, mọi người đều có thể hưởng lợi từ ứng dụng công nghệ thông tin Việc phát triển chính phủ điện tử thông qua các chiến lược quốc gia được bắt đầu vào năm
2000 và hiện nay đã trải qua 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn đều gắn liền với các mục tiêu cụ thể
Giai đoạn đầu tiên, hướng tới phát triển cơ sở hạ tầng (CSHT) là một phần nằm trong chiến lược e-Japan (2000) Chiến lược e-Japan hướng tới mục tiêu:
- Thiết lập CSHT mạng siêu tốc
- Tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại điện tử
- Thực tế hoá chính phủ điện tử
- Bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong đó, mục tiêu đặt ra cho thực tế hoá Chính phủ điện tử là trao đổi thông tin điện tử giống như thông tin trên giấy tờ truyền thống tới năm tài khoá 2003 Quản lý công cần được cải cách mạnh mẽ nhằm số hoá tài liệu, xúc tiến không giấy, chia sẻ và sử dụng thông tin thông qua các mạng thông tin Trong giai đoạn này, Nhật Bản hướng vào giải quyết các vấn đề sau:
Trang 29- Số hoá công tác hành chính trong chính quyền địa phương và trung ương Các công việc quản lý được cải cách để loại bỏ giấy tờ, nhận thức CNTT của viên chức chính phủ cần được nâng cao, tăng cường khả năng quản lý rủi ro khi xảy ra thảm hoạ, tất cả các chính quyền địa phương được kết nối mạng WAN.
- Số hoá dịch vụ công, ứng dụng card IC để tăng cường bảo mật
- Trợ giúp các chính quyền địa phương thông qua công tác kế hoạch, ban hành các chuẩn, xây dựng cơ sở hạ tầng
- Cải cách những quy định và hệ thống văn bản pháp lý quy định liên quan đến lưu trữ, trao đổi tài liệu và cung cấp dịch vụ trực tuyến
Giai đoạn thứ hai hướng tới ứng dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng đã được xây dựng, đây là một phần trong Chiến lược e-Japan II (2003) Chiến lược xác định: xúc tiến cách mạng CNTT là vấn đề có tính ưu tiên cao của Chính phủ và đưa ra 7 lĩnh vực đi đầu trong xúc tiến ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả, bao gồm: 1) các dịch vụ y tế; 2) lương thực, thực phẩm; 3) cải thiện lối sống; 4) hoạt động tài chính doanh nghiệp vừa và nhỏ; 5) tri thức; 6) lao động và việc làm; 7) dịch vụ công Trong đó mục đích của cải thiện dịch vụ công là hướng tới phát triển hệ thống một cửa, cũng như phát triển các Portal (cổng thông tin điện tử) Chính phủ Thông qua việc liên kết các Portal của chính phủ điện tử với hệ thống của văn phòng nội các, các bộ, chính quyền địa phương, Chính phủ có thể cung cấp các dịch vụ một cửa trực tuyến trên Internet Chính phủ xem xét và hợp lý hoá quy trình đầu tư cho công nghệ thông tin, đồng thời xây dựng các quy định liên quan đến thuê dịch vụ, xúc tiến cải cách hệ thống mua sắm
Giai đoạn ba, được bắt đầu từ năm 2006, khi Nhật Bản ban hành Chiến lược cải cách CNTT mới (New IT Reform) Trong đó, xác định mục tiêu của giai đoạn này là: chuyển từ xã hội công nghiệp - xã hội thế kỷ 20 sang xã hội hướng thông tin – xã hội thế kỷ 21, nhằm giải quyết các vấn đề của Thế kỷ 21: dân số già, giảm; y tế; môi trường; làm gọn nhẹ, hiệu quả các hoạt động của chính quyền
Trang 30Trong giai đoạn này mục tiêu cho phát triển Chính phủ điện tử là: “Chính phủ điện
tử hiệu quả và tiện lợi nhất thế giới, xử lý nhiều hơn 50% các trao đổi tài liệu trực tuyến và tạo ra một Chính phủ gọn nhẹ, hiệu quả“, các chính sách của Chính phủ hướng vào một số nội dung sau:
- Xúc tiến sử dụng các dịch vụ liên quan đến thanh toán thuế
- Xem xét, cải tiến các thủ tục trực tuyến dựa trên quan điểm người dùng: Chấp nhận tài liệu điện tử, đơn giản cách xác thực
- Xúc tiến sử dụng hệ thống đăng ký dân cư cơ sở (Basic Residential Registers Network System)
- Phát triển các hệ thống truyền file điện tử tương thích với hệ thống định danh cá nhân
- Xúc tiến chuẩn hoá dữ liệu hệ thống thông tin
- Xúc tiến các dịch vụ an toàn, sử dụng IC card cho các thủ tục truyền file cả
ở cấp trung ương và địa phương
- Xây dựng văn phòng quản lý chương trình (PMO) đảm trách các nhiệm vụ như: xây dựng kế hoạch; triển khai đánh giá các hệ thống thông tin trong các bộ; mua sắm hệ thống thông tin có tính chiến lược
- Xây dựng hệ thống thông tin mới tại các bộ
Trong quá trình phát triển chính phủ điện tử, có thể thấy một số sáng kiến nối bật của Nhật Bản như sau:
- Xây dựng mạng diện rộng của chính phủ Kasumigaseki: Được xây dựng với mục đích kết nối và chia sẻ thông tin của các cơ quan trung ương trong môi trường bảo mật Từ đầu năm 1997, mạng này được sử dụng để trao đổi thư điện tử (e-Mail) và đến giữa năm 1998 bắt đầu được sử dụng để chia sẻ CSDL và thông tin Đầu năm 2004, 29 cơ quan quốc gia đã kết nối, ngoài chức năng e-mail và các chức năng khác, mạng này còn để truy nhập các hệ thống thông tin cấp bộ dùng chung (như hệ thống hỗ trợ công việc hành chính của nghị viện, các hệ thống tìm
Trang 31kiếm thông tin, hệ thống trao đổi văn bản điện tử liên bộ) và các hệ thống CSDL chia sẻ của các bộ (các số liệu thống kê, ) Mạng này được kết nối với LGWAN (mạng diện rộng địa phương) vào cuối năm 2002 cho phép sự kết nối hiệu quả giữa các cơ quan trung ương và địa phương.
- Xây dựng mạng chính phủ địa phương (LGWAN): Đây là dự án trong Chương trình năm 2001 Mục đích là để kết nối và chia sẻ thông tin giữa chính quyền trung ương và địa phương Mạng này nhằm kết nối các mạng diện rộng của các tỉnh, thành phố Thông qua kết nối LGWAN và mạng Kasumigaseki, tất cả các
bộ và chính quyền các tỉnh được kết nối e-mail, trao đổi văn bản điện tử Đến đầu năm 2004, hầu như 3000 cơ quan chính quyền địa phương kết nối vào LGWAN
- Xây dựng hạ tầng khóa công khai chính phủ (PKI): Gồm CA của nhiều bộ, ngành, địa phương, khu vực tư nhân được kết nối thông qua cầu, qua đó các cơ quan có thể chứng thực chéo
- Xây dựng hệ thống đăng ký công dân cơ sở (JukiNet):
Đây là hệ thống có quy mô quốc gia để đăng ký xác thực công dân Cung cấp mạng kết nối chính quyền các cấp, các khu vực với các CSDL người dân, mỗi người dân có ID 11 chữ số Để bổ trợ mạng này, Smart Card ID ra đời, ngoài các thông tin trên mạng Juki, card chứa đựng chứng thực số bảo đảm các giao dịch được an toàn Card này được phát hành bởi các chính quyền địa phương có thể sử dụng cho nhiều dịch vụ điện tử như đặt chỗ, trả tiền các dịch vụ xã hội, các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên việc phát triển card còn chậm do các vấn đề về
an ninh, tính riêng tư
- Xây dựng hệ thống mua sắm, đấu thầu điện tử: Được phát triển năm 2001 (với mục đích cải tiến các công việc hành chính, tăng tính cạnh tranh lành mạnh, nâng cao hệ thống đánh giá các nhà cung cấp, khuyến khích các công ty nhỏ đầu thầu) Có hai lĩnh vực mua sắm chính được ưu tiên thực hiện trước là: công việc
Trang 32xã hội (như xây dựng nhà, đường), mua sắm bởi Bộ TTTT Sau đó sẽ mở rộng cho tất cả các mua bán sản phẩm của Chính phủ
Từ lộ trình phát triển Chính phủ điện tử của Nhật Bản chúng ta thấy bài học
để phát triển Chính phủ điện tử thành công đó là: Phải có quyết tâm chính trị rất cao, gắn phát triển Chính phủ điện tử với phát triển KTXH; phải có lộ trình rõ ràng, phù hợp và quyết tâm, tập trung nguồn lực thực hiện; cần phải xây dựng mạng kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan nhà nước; tập trung triển khai, cung cấp một số dịch vụ trực tuyến quan trọng nhất để phục vụ người dân và doanh nghiệp như quản lý dân cư, thuế, [Nguồn http://aita.gov.vn/tin-tuc/1589/nghien-cuu-kinh-nghiem-lo-trinh-phat-trien-chinh-phu-dien-tu-cua-nhat-ban]
1.2.4 Một số nét về Chính phủ điện tử tại Philippines
Tin học hóa trong Chính phủ Philippines được bắt đầu khá sớm từ năm 1969, với những ứng dụng máy tính nền tảng Ngày 12/06/1971, Trung tâm máy tính quốc gia (National Computer Center -NCC) được thành lập NCC đóng vai trò tiên phong trong xây dựng nguồn lực tin học hóa trong Chính phủ Vai trò của NCC ngày càng được mở rộng, là cánh tay quan trọng của Chính phủ trong lĩnh vực đào tạo, mua sắm, đóng vai trò là nhà cung cấp dịch vụ CNTT&TT, quản lý nguồn nhân lực CNTT&TT trong các cơ quan nhà nước
Tuy tin học hóa được bắt đầu rất sớm, nhưng tốc độ phát triển chậm so với các chương trình phát triển CNTT&TT của các nước phát triển ở châu Á
Trong nỗ lực to lớn để bắt kịp các nước châu Á, vào năm 1994, Chính phủ đã phê chuẩn Kế hoạch CNTT quốc gia 2000 (NITP2000) và thành lập Hội đồng CNTT quốc gia (National Information Technology Council) Hội đồng có nhiệm
vụ điều phối thực hiện Chương trình CNTT quốc gia NITP2000 bao gồm 2 chiến lược: ứng dụng CNTT và phát triển CNTT Nội dung ứng dụng CNTT được xác định là việc ứng dụng rộng rãi CNTT&TT trong chính phủ, doanh nghiệp, giáo
Trang 33dục và tại gia đình Trong đó cũng nêu rõ 5 cấu phần của Kế hoạch cần triển khai là: 1)Viễn thông; 2) Công nghiệp; 3) Chính phủ; 4 ) Giáo dục; 5) Nghiên cứu Đối với thành phần viễn thông: cần xây dựng hạ tầng thông tin quốc gia cao tốc, cho phép trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan địa phương và trung ương Đối với thành phần công nghiệp: chia làm 02 vấn đề cần quan tâm là: ứng dụng CNTT trong các ngành công nghiệp và phát triển công nghiệp CNTT phục vụ ứng dụng trong nước
và xuất khẩu Đối với thành phần chính phủ: triển khai chương trình tin học hóa chính quyền trung ương và chương trình tin học hóa chính quyền địa phương hướng hoạt động hiệu quả hơn, cung cấp dịch vụ tốt hơn Đối với thành phần giáo dục: hướng tới nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn về CNTT cho các thành phần trong xã hội
Tháng 2/1998, Chính phủ Philippines khởi động chính sách IT21 và đề ra Chương trình hoạt động CNTT&TT quốc gia thế kỷ 21 Chương trình đề xuất ứng dụng CNTT&TT trong công tác quản lý, điều hành và khuyến khích thuê các dịch
vụ CNTT của các doanh nghiệp nhằm kích thích phát triển công nghiệp CNTT.Chính phủ đã xây dựng CSHT Philippines (Philippines Information Infrastructure -PII), nhằm cung cấp các hệ thống thông tin liên lạc và tạo điều kiện phát triển mạng giá trị gia tăng, các dịch vụ truyền thông, thông tin Nhằm hiện thực hóa PII, RPWEB đã được xây dựng nhằm cung cấp mạng Intranet của quốc gia, phục vụ trao đổi thông tin và dữ liệu điện tử trong Chính phủ, các viện nghiên cứu, các ngành công nghiệp, các doanh nghiệp RPWEB liên kết 12,000 văn phòng chính quyền, trường học
Tính đến năm 2000, hầu hết các văn phòng chính quyền trung ương đã tự động hóa công việc văn phòng sử dụng trình soạn thảo và bảng tính, đã có các hệ thống xử lý tác nghiệp trong các cơ quan nhà nước quan trọng Tuy nhiên, ứng dụng CNTT trong hệ thống hành chính liên cơ quan vẫn còn hạn chế
Trang 34Giai đoạn phát triển chính phủ điện tử sau năm 2000 được đánh dấu bằng Kế hoạch hệ thống thông tin Chính phủ- “Philippine Online” Đây là kế hoạch tổng thể với các mục tiêu chính:
- Cung cấp dịch vụ công nhanh hơn, tốt hơn
- Các hoạt động chính quyền minh bạch hơn
- Năng lực các cơ quan chính phủ được tăng cường
- Sự tham gia của công dân vào công tác quản lý nhà nước được chủ động.Trong kế hoạch đã đưa ra danh sách các hệ thống thông tin được ưu tiên triển khai Các hệ thống này được tập hợp trong 4 nhóm:
Nhóm 1: CSDL và hệ thống thông tin then chốt gồm có: Hệ thống thông tin dịch vụ công, hệ thống thông tin và CSDL về trật tự, an toàn xã hội
Nhóm 2: Hệ thống ứng dụng chung gồm: Hệ thống thông tin văn phòng, Hệ thống thông tin điều hành của tổng thống; Hệ thống mua sắm điện tử của Chính phủ; Quản lý nguồn nhân lực Chính phủ; Quản lý tài sản cố định Chính phủ; Quản
lý tài chính tích hợp Chính phủ; CSDL và hệ thống thông tin thống kê; Quản lý Tài liệu tích hợp Chính phủ
Nhóm 3: Hệ thống thông tin chuyên ngành: Cải cách ruộng đất và nông nghiệp, giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, thương mại, công nghiệp và du lịch, tài nguyên đất và môi trường, chăm sóc y tế, dịch vụ công phúc lợi xã hội, an ninh, việc làm và nhà ở
Nhóm 4: Thông tin chính quyền địa phương gồm: Hệ thống quản lý thuế; Hệ thống quản lý kinh doanh
Từ việc triển khai các Kế hoạch trên, cơ sở hạ tầng của Philippines hiện nay
đã được phát triển khá tốt, nhiều dịch vụ được cung cấp ở mức giao dịch, tiêu biểu như: Hệ thống truyền file và thanh toán điện tử (e-Filing and Payment System);
Hệ thống báo cáo bán hàng điện tử (e-Sales); Hệ thống phát thanh truyền hình điện tử (eBroad); Hệ thống đăng ký kinh doanh [Nguồn http://aita.gov.vn/tin-
Trang 35- Bảo đảm hạ tầng kỹ thuật an toàn, bảo mật, đặc biệt phải xây dựng được hạ tầng khóa công khai, sử dụng rộng rãi chữ ký số trong giao dịch giữa các cơ quan nhà nước
b Ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước
- Trước hết cần ứng dụng hiệu quả, trên diện rộng các hệ thống trao đổi tài liệu, văn bản điện tử, thay thế tối đa việc lưu trữ, xử lý, truyền đưa văn bản giấy theo cách truyền thống
- Tăng cường khả năng chia sẻ thông tin giữa các cơ quan nhà nước, đặc biệt
là các thông tin chuyên ngành, liên ngành trên diện rộng, hướng tới giảm thiểu giấy tờ trao đổi giữa các cơ quan nhà nước
- Xây dựng và triển khai hiệu quả trên diện rộng các hệ thống thông tin phục
vụ quản lý nội bộ trong cơ quan nhà nước như quản lý tài chính, cán bộ, chế độ, chính sách
- Từng bước ứng dụng CNTT trong công tác tự động thu thập, xử lý thông tin, hỗ trợ quản lý, điều hành và ra quyết định
Trang 36c Ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp
- Ứng dụng CNTT để đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với người dân và doanh nghiệp
- Ứng dụng CNTT cung cấp dịch vụ trực tuyến dựa trên nhu cầu của người dân và doanh nghiệp, hướng tới tạo điều kiện thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp trong việc giao tiếp với các cơ quan công quyền (một cửa, mọi lúc, mọi nơi)
- Tạo điều kiện cho khu vực tư nhân tham gia cung cấp các dịch vụ công của
cơ quan chính phủ
1.3 Chính phủ điện tử tại Việt Nam
1.3.1 Giai đoạn ứng dụng tin học 1990-2000
- Năm 1990, Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng đã phê duyệt dự án Ứng dụng tin học và kỹ thuật thông tin tại Văn phòng Chính phủ (công văn số 1265/TH ngày
24 tháng 4 năm 1990 của Văn phòng Chính phủ thông báo Quyết định của Thường
vụ Hội đồng Bộ trưởng)
Nhiệm vụ của dự án là tin học hoá hệ thống thông tin quản lý tại Văn phòng Chính phủ, đồng thời hỗ trợ một phần thiết bị, công nghệ, đào tạo cán bộ cho 10
Bộ, 10 tỉnh trọng điểm, chuẩn bị điều kiện để xây dựng mạng tin học cục bộ ở các
Bộ, địa phương, tiến tới hình thành mạng thông tin diện rộng kết nối đến tất cả các
Bộ, ngành và địa phương
Đến cuối năm 1993, Văn phòng Chính phủ đã xây dựng được mạng tin học cục bộ (LAN) và bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào công tác chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ, nối kết thông tin với một số Bộ và
Ủy ban nhân dân các tỉnh trọng điểm
Mặc dù việc ứng dụng tin học tại Văn phòng Chính phủ giai đoạn đầu còn sơ khai, công nghệ ứng dụng mới, nhưng được sự quan tâm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, công tác tin học hoá quản lý hành chính nhà nước tại Văn phòng
Trang 37Chính phủ đã đặt nền móng cho công tác tin học hoá quản lý và điều hành trong các cơ quan hành chính nhà nước trên phạm vi toàn quốc.
- Sau khi ban hành Nghị quyết số 49/CP về phát triển công nghệ thông tin (8/1993), Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch 5 năm (1995 - 2000) triển khai Chương trình Quốc gia về Công nghệ thông tin Trong giai đoạn 1996 - 1998, Chương trình đã tập trung khoảng 50% kinh phí (160 tỷ đồng) cho mục tiêu tin học hoá hệ thống thông tin quản lý nhà nước Bước đầu xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho việc tin học hoá quản lý nhà nước và ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý chuyên ngành
Trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật này, các cơ quan hành chính nhà nước đã từng bước triển khai các hệ thống thông tin, các kho dữ liệu điện tử phục vụ cho công tác quản lý, điều hành của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành và các cơ quan chính quyền các cấp
Đến năm 2000, hệ thống mạng tin học cục bộ tại 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và ở hầu hết các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã được thiết lập Hệ thống này bao gồm cả các hệ thông tin tác nghiệp, quản
lý hồ sơ công việc và các kho dữ liệu phục vụ nghiên cứu, trợ giúp quá trình ra quyết định điều hành
Mạng tin học diện rộng của Chính phủ được thiết lập để liên kết mạng tin học trung tâm của 61 tỉnh, thành phố và gần 40 cơ quan chủ chốt của Chính phủ với quy mô 2.500 máy trạm, 180 máy chủ trên phạm vi toàn quốc và 50 chương trình ứng dụng khác nhau Với mạng tin học diện rộng của Chính phủ, các cơ quan hành chính nhà nước đã thực hiện việc truyền, nhận thông tin đa chiều, bao gồm
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống báo cáo định kỳ, đột xuất và thư tín điện tử , bảo đảm nhanh chóng, an toàn, phục vụ có hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước
Trang 38Cùng với việc xây dựng Mạng tin học diện rộng của Chính phủ, 6 cơ sở Dữ liệu quốc gia đã được triển khai, bao gồm: Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính, thống kê kinh tế - xã hội, pháp luật, tài nguyên đất và dân cư Đến cuối năm 1999, các Đề án Cơ sở dữ liệu quốc gia này đã hoàn thành luận chứng khả thi Trong đó, hai Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính, thống kê đã có số liệu phục vụ tốt cho công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ.
Công tác đào tạo tin học đã được tiến hành đồng bộ với việc xây dựng hệ thống tin học trong các cơ quan hành chính nhà nước Hàng vạn lượt chuyên viên, cán bộ đã được đào tạo qua các lớp tin học cơ bản và trên thực tế đã sử dụng được máy tính ở các mức độ khác nhau vào công việc chuyên môn của mình; đặc biệt trong số đó, một tỷ lệ tương đối lớn đã sử dụng có hiệu quả công cụ tin học để truy nhập, trao đổi thông tin trên mạng, phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu để hoàn thành nhiệm vụ được giao
Cuối năm 1997, Việt Nam đã tham gia mạng INTERNET Nhiều thông tin khai thác được trên mạng INTERNET đã góp phần đáng kể về thông tin, tư liệu, giúp cho công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các
cơ quan nhà nước khác trong việc hoạch định chính sách
- Tuy nhiên, so với mục tiêu tin học hoá hệ thống thông tin điều hành đã đề
ra trong Nghị quyết số 49/CP ngày 05 tháng 8 năm 1993 của Chính phủ, kết quả đạt được trên thực tế còn rất khiêm tốn
Nguyên nhân chủ yếu của tình hình này là các cấp, các ngành, địa phương chưa nhận rõ vai trò của công nghệ thông tin trong công tác chỉ đạo, điều hành; chưa kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin với quá trình cải cách hành chính, đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý; biểu hiện cụ thể như sau:
- Về điều hành vĩ mô: Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin được đầu tư từ năm 1996 và kết thúc vào đầu năm 1998 với kinh phí 280 tỷ đồng; trong
đó có nhiệm vụ tin học hóa tại các cơ quan hành chính nhà nước với kinh phí
Trang 39khoảng 160 tỷ đồng Trong bối cảnh đó, nhiều hạng mục lớn đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong kế hoạch tổng thể chưa triển khai thực hiện được.
Các dự án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước của các Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng mới chỉ thực hiện được một phần Vốn đầu tư cho tin học hóa 160 tỷ đồng trong 3 năm 1996 - 1998 mới chỉ đáp ứng 20 - 25% nhu cầu kinh phí của các Đề án đã được duyệt của 100 cơ quan hành chính cấp Bộ, cấp tỉnh.Theo điều tra của Văn phòng Chính phủ, đa số các Đề án tin học hoá bị ngừng lại; một số cơ quan có khả năng tiếp tục đầu tư cho các mục tiêu tin học hoá quản lý nhà nước, nhưng phát triển theo hướng công nghệ riêng; một số cơ quan khác thì chờ chủ trương phát triển thống nhất chung của Chính phủ Các cơ
sở dữ liệu quốc gia mới chỉ được đáp ứng khoảng 10% nhu cầu vốn đầu tư (30 tỷ đồng) Do vậy các cơ sở dữ liệu quốc gia chỉ dừng lại ở giai đoạn hoàn thành luận chứng khả thi và triển khai thử nghiệm, đang chờ vốn để tiếp tục triển khai Đề án
- Cát cứ thông tin xuất hiện: Nhiều Bộ, ngành coi thông tin quản lý của mình
là thông tin riêng của ngành, không coi đó là tài sản quốc gia hoặc cung cấp dữ liệu tổng hợp không đầy đủ để các cơ quan khác có đủ thông tin phục vụ cho việc hoạch định chính sách và ra quyết định Nhiều cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước ở cấp Trung ương và địa phương có thói quen tích lũy thông tin riêng, nên khi có thông tin thuộc phạm vi mình phụ trách đã không cập nhật vào mạng tin học để sử dụng chung
- Dữ liệu trên mạng tin học : Hệ thống kỹ thuật hạ tầng công nghệ thông tin
đã được xây dựng ở một trình độ nhất định, cho phép thực hiện việc truyền, nhận thông tin đa chiều Thông tin phát sinh trong quá trình hoạt động quản lý hành chính có nhiều, nhưng việc tích luỹ thông tin dưới dạng điện tử chỉ mới dừng ở mức thấp; đến nay mới tích luỹ trên mạng ở một số loại thông tin cơ bản Nguyên nhân chủ yếu ở đây là các cấp, các ngành chưa kiên quyết gắn việc ứng dụng công nghệ tin học với xử lý công việc hàng ngày, chưa thực hiện tốt kỷ cương hành
Trang 40chính trong việc cập nhật thông tin điện tử, chưa cải cách hành chính đủ mạnh để đưa hệ thống ứng dụng tin học vào guồng máy hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.
- Về tổ chức bộ máy: cho đến nay vẫn chưa có quy định chung về vị trí, chức năng, nhiệm vụ đối với các đơn vị chủ trì các Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước; thậm chí không
có ngạch công chức, không có chức danh cho cán bộ làm công tác tin học Vì lý
do này, các cơ quan hành chính nhà nước đã không thu hút được chuyên gia kỹ thuật giỏi, do đó, việc tiếp thu chuyển giao công nghệ, chỉ đạo triển khai các dự án ứng dụng rất bị hạn chế; các nguyên tắc của hệ thống mở, các chuẩn chung về công nghệ và thông tin không được giám sát chặt chẽ
- Về cơ chế tài chính: từ năm 1998, kinh phí cho tin học hoá quản lý hành chính nhà nước chuyển sang nguồn ngân sách chi thường xuyên, do vậy các Bộ, ngành, địa phương không đủ kinh phí đầu tư để hoàn thành các Đề án tin học hoá, không thể tiếp tục triển khai các ứng dụng cơ bản trong quản lý, điều hành Cơ sở
hạ tầng kỹ thuật tin học của nhiều cơ quan hành chính nhà nước, về cơ bản, đến nay vẫn như tình trạng của năm 1998
Do cước phí truyền tin quá cao, những Bộ, ngành truy cập nhiều trên mạng tin học diện rộng của Chính phủ đã phải chi đến hàng chục triệu đồng/tháng cho đường trục truyền thông Bắc - Nam Văn phòng Ủy ban nhân dân các địa phương cũng phải chi phí hàng triệu đồng/tháng cho việc vận hành mạng diện rộng Trong khi đó, nguồn ngân sách chi thường xuyên của các cơ quan hành chính còn hạn hẹp, dẫn đến việc nhiều Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân địa phương phải hạn chế sử dụng mạng vì chi phí cao của đường truyền Điều này đã hạn chế hiệu quả sử dụng mạng tin học và hạn chế hiệu quả quản lý, điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước