Mặc dù được Chính phủ cho phép chuyển sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển từ rất sớm, nhưng, ngay cả sau khi Luật Doanh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦNTHAN ĐÈO NAI
SINH VIÊN THỰC TẬP : NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ
HÀ NỘI – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN THAN ĐÈO NAI
Giáo viên hướng dẫn : Ths Trần Thị Thùy Linh
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tước tiên tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo – Ths.Trần Thị Thùy Linh, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong khoa Tài chính – Ngân hàng cùng các thầy cô đã giảng dạy tôi tại trường Đại Học Thăng Long đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để tôi bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, phòng Kinh doanh, các anh chị cán bộ công nhân viên Công ty Cổ phần Than Đèo Nai – VINACOMIN đã cho phép, cung cấp tài liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian có hạn, trình độ, kỹ năng của bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài khóa luận tốt nghiệp của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong được sự đóng góp, chỉ bảo, bổ sung thêm của các thầy cô
Hà Nội, tháng 03 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thi Ngọc Hà
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ
từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2015 Sinh viên
Nguyễn Thi Ngọc Hà
Trang 5MỤC LỤC Phần mở đầu
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TRONG DOANH NGHIỆP 1
1.1 Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp 1
1.1.1.Cạnh tranh 1
1.1.1.1.Khái niệm cạnh tranh 1
1.1.1.2.Các loại hình cạnh tranh 1
1.1.2.Khái niệm năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp 3
1.1.3.Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp 4
1.1.3.1.Các yếu tố bản thân doanh nghiệp 4
1.1.3.2.Các yếu tố bên ngoài 7
1.1.4.Vai trò của tài chính doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh 9
1.1.5.Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cnahj tranh về mặt tài chính của doanh nghiệp 10
1.1.5.1.Các yếu tố bên ngoài 10
1.1.5.2.Yếu tố bên trong doanh nghiệp 10
1.2.Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh về mặt tài chính của doanh nghiệp 11
1.2.1.Nhóm chỉ số khả năng thanh toán 11
1.2.2.Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý tài sản 12
1.2.3.Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý nợ 14
1.2.4.Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời 15
1.3.Kết luận 16
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VỀ MẶT
TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THAN ĐÈO NAI – VINACOMIN 17 2.1.Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần than Đèo Nai – VINACOMIN 17
2.1.1.Các thông tin cơ bản 17
Trang 62.1.2.Lĩnh vực hoạt động chủ yếu 18
2.1.3.Sơ đồ bộ máy tổ chức 18
2.1.3.1.Chức năng của từng bộ phận 19
2.1.4.Giai đoạn hội nhập kinh tế thị trường 22
2.1.5.Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần than Đèo Nai – VINACOMIN giai đoạn 2011 – 2013 22
2.2.Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần than Đèo Nai – VINACOMIN trong bối cảnh hội nhập 27
2.2.1.Chỉ số khả năng thanh toán 28
2.2.2.Chỉ tiêu về khả năng quản lý tài sản 29
2.2.2.1.Hệ số thu nợ 29
2.2.2.2.Hệ số lưu kho 30
2.2.2.3.Hệ số trả nợ 31
2.2.2.4.Hiệu suất sử dụng tài sản 32
2.2.3.Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý nợ 33
2.2.4.Chỉ tiêu xác định cơ cấu tài sản và nguồn vốn 34
2.2.5.Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời 36
2.2.6.Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp theo doanh thu 37
2.3.Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh về mặt tài chính của Công ty Cổ phần than Đèo Nai – VINACOMIN trong bối cảnh hội nhập 38
2.3.1.Những kết quả đạt được 38
2.3.1.1.Về vốn 38
2.3.1.2.Giá vốn hàng bán 39
2.3.1.3.Thu nhập khác 39
2.3.1.4.Một số yếu tố khác 39
2.3.2.Hạn chế 41
2.3.2.1.Chi phí 41
2.3.2.2.Cơ cấu nguồn vốn 41
Trang 72.3.3.Nguyên nhân 41
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THAN ĐÈO NAI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP 44
3.1.Định hướng phát triển của Công ty Cổ phần than Đèo Nai 44
3.2 Một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần than Đèo Nai trong bối cảnh hội nhập 45
3.2.1.Giải pháp về huy động vốn 46
3.2.1.1.Huy động vốn từ bên trong doanh nghiệp 46
3.2.1.2.Huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp 47
3.2.2.Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 48
3.2.3.Kiểm kê, đánh giá, xác định tình trạng sử dụng của toàn bộ tài sản cố định của Công ty 48
3.2.4.Tăng cường công tác quản lý và sử dụng tài sản cố định 49
3.2.5.Giải pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 50
3.2.5.1.Tăng cường quản lý tồn kho 50
3.2.5.2 Xây dựng và đổi mới chính sách quản lý khoản phải thu khách hàng 51
3.2.6 Các giải pháp khác 52
3.2.6.1.Tăng cường đào tạo nâng cao trình độ người lao động và thực hiện chính sách đãi ngộ lao động tốt hơn 52
3.2.6.2.Biện pháp đẩy mạnh công tác tiêu thụ hàng hóa 53
3.2.6.3.Thường xuyên đánh giá hiệu quả sử dụng vốn 54
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
Bảng 2.1.Bảng báo cáo kết quả kinh doanh 23
Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán 25
Bảng 2.3 Khả năng thanh toán 28
Bảng 2.4.Hệ số thu nợ 29
Bảng 2.5 Hệ số lưu kho 30
Bảng 2.6 Hệ số trả nợ 31
Bảng 2.7.Khả năng quản lý nợ 33
Bảng 2.8 Cơ cấu tài sản và nguồn vốn 34
Bảng 2.9 Khả năng sinh lời 36
Bảng 2.10.Tốc độ tăng trưởng theo doanh thu 37
Bảng 2.11 Vốn của các công ty 38
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức 19
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Năng lượng than và vai trò của than trong an ninh năng lượng từ lâu đã trở thành nhân tố tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam, cũng như các quốc gia trên thế giới Nguồn năng lượng than đóng vai trò sống còn với sản xuất điện
và vai trò này sẽ còn được duy trì và tăng lên trong tương lai Khoảng 39% lượng điện sản xuất ra trên toàn thế giới là từ nguồn than Mặc dù được Chính phủ cho phép chuyển sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển từ rất sớm, nhưng, ngay cả sau khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực, ngành Than vẫn duy trì cơ chế hoạt động theo “kế hoạch phối hợp kinh doanh” khiến cho khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp của Vinacomin ngoài Vinacomin bị thủ tiêu, đi ngược cơ chế thị trường, thủ tiêu động lực phát triển, triệt tiêu tính năng động của các doanh nghiệp, dẫn đến sự ỷ lại của các đơn vị, tạo kẽ hở cho những tiêu cực mang tính “xin-cho” trong quá trình điều hành, đồng thời đã dẫn đến việc đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không khách quan và thiếu chính xác
Trong khi đó, ngày 07/11/2006, Việt Nam đã chính thức được kết nạp làm thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO (World Trade Organisation), thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế Nước ta đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á –Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á Âu (ASEM), đã kí Hiệp định thương mại song phương với nhiều nước hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đất nước Nền kinh
tế nước ta đã chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường Trong quá trình hội nhập, mối quan hệ kinh tế thương mại đã được mở rộng hầu khắp các lĩnh vực mang đến cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội để phát triển nhưng đồng thời cũng mang lại những đe dọa, thách thức Đặc biệt, trong lĩnh vực sản xuất sẽ có những cơ hội rất lớn để phát triển tuy nhiên, các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam cũng sẽ mất đi sự bảo hộ bấy lâu của Chính Phủ và phải cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp có vốn góp liên doanh nước ngoài cùng ngành Hội nhập quốc tế đã buộc các doanh nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh tranh để đủ sức đứng vững trên thương trường Nếu không làm được Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty cổ phần trong điều kiện hội nhập hiện này, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ thất bại trên “sân khách” mà còn gánh chịu những hậu quả tương
tự trên chính “sân nhà”
Trang 11Công ty Cổ phần Than Đèo Nai – VINACOMIN cũng ở trong môi trường như vậy Đây cũng chính là mục tiêu nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của em về Đề tài:
“Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần than Đèo Nai trong điều kiện hội nhập”
2 Mục đích nghiên cứu
Khái quát những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp
Phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần than Đèo nai – VINACOMIN
Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Than Đèo Nai – VINACOMIN trong điều kiện hội nhập
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu là các giải pháp tài chính nâng cao năng lực cạnh tranh tại riêng Công ty Cổ phần Than Đèo Nai – VINACOMIN theo số liệu từ năm
2011 đến năm 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử
Phương pháp tổng hợp, phân tích kết hợp với phương pháp thống kê, đối chiếu
so sánh
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khóa luận được trình bày thành 3 chương bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cố phần Than Đèo Nai – VINACOMIN
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần than Đèo Nai VINACOMIN
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp
1.1.1 Cạnh tranh
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị…thường xuyên được nhắc tới trên các phương tiện thông tin đại chúng và được nhiều người quan tâm, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh” Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy
ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng; giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻhơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ
Theo Michael Porter thì cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh
là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệquả giá cảcó thể giảm đi(1980) Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành
Theo K.Mar: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữ các nhà tư bản nhằm danh giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu lợi nhuận siêu nghạch” Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩ là quy luật điều chình tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị tường Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hàng hóa dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợi nhuận
Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hóa về phía mình”
1.1.1.2 Các loại hình cạnh tranh
Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phân ra thành nhiều loại
Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường cạnh tranh được chia thành 3 loại
Trang 13 Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn bán hàng hoá của mình với gái cao nhát, còn người mua muốn muc với giá thấp nhất Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên
Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào quan hệ cùng cầu trên thị trường Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lê, người mua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá hoá mà họ cần
Cạnh tranh giữa những nguời bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho người mua Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủ mạnh hơn
Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế cạnh tranh được phân thành hai loại
Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch vụ Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển
Cạnh tranh giữa các ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất Trong quá trình này có sự phận bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
Căn cứ vào tính chất cạnh tranh cạnh tranh được phân thành 3 loại
Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition): Là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán trên thị trờng trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả trên thị trường Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng thức, tức là không khác nhau về quy cách, phẩm chất mẫu mã
Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc làm khác biệt hoá sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh
Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition): Là hình thức cạnh tranh giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau Mỗi sản phẩn đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau cho nên để giành đựơc ưu thế trong cạnh tranh, người bán phải sử dụng các công cụ hỗ trợ bán như: Quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây là loại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay
Trang 14 Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition): Trên thị trường chỉ có một hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu
Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh chia cạnh tranh thành:
Cạnh tranh lành mạnh: Là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuẩn mực xã hội và đợc xã hội thừa nhận, nó thướng diễn ra sòng phẳng, công bằng và công khai
Cạnh tranh không lành mạnh: Là cạnh tranh dựa bào kẽ hở của luật pháp, trái với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án ( như trốn thuế buôn lậu, móc ngoặc, khủng bố vv )
1.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao Như vậy, năng lực canh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đấy là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cách riêng biệt mà đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng một thị trường
Có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh…Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực
và lợi thế của mình e chưa đủ, bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt hiện nay Như vậy, “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải thiện vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường ”
Khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không thể không đề cập đến năng lực cạnh tranh quốc gia vì giữa năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết Năng lực cạnh tranh quốc gia
là năng lực của một nền kinh tế có thể tạo ra tăng trưởng bền vững trong môi trường kinh tế đầy biến động của thị trường thế giới Ba cấp độ sức cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định nhau và phụ thuộc lẫn
Trang 15nhau Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo cơ sở cho năng lực cạnh tranh quốc gia Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp
có năng lực cạnh tranh cao Ngược lại, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh thì môi trường kinh doanh phải thuận lợi, các chính sách vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được; nền kinh tế phải ổn định; bộ máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả nghĩa là, năng lực cạnh tranh quốc gia cao là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.3 Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp
Việc nắm bắt được từng nhân tố ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố sẽ giúp lãnh đạo doanh nghiệp có thể đưa ra các biện pháp thích hợp nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp một cách hiệu quả và bền vững Xét theo phạm vi, các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được chia thành hai nhóm: nhóm các nhân tố thuộc về bên trong doanh nghiệp và nhóm các nhân tố thuộc
về bên ngoài doanh nghiệp
1.1.3.1 Các yếu tố bản thân doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường, mọi doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có vốn Vốn phải tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định để thuê được đội ngũ cán bộ quản lý, lao động lành nghề,
để đầu tư kỹ thuật công nghệ hiện đại và thực hiện các chiến lược đưa sản phẩm ra thị trường…do đó vốn là tiền đề để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp không chỉ thể hiện ở số vốn hiện có
mà nó còn thể hiện ở khả năng khai thác và sử dụng các nguồn lực tài chính trong và ngoài doanh nghiệp Năng lực tài chính đủ mạnh cho phép doanh nghiệp mở rộng qui mô sản xuất, đầu tư công nghệ kỹ thuật hiện đại từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, chiến thắng thường thuộc về những đối thủ trường vốn
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệpkhông những ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh hiện tại mà còn quyết định đến cả năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp bị chi phối bởi chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đúng hay sai Nếu có chiến lược kinh doanh đúng thì sức cạnh tranh sẽđược nâng lên Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là những định hướng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong tương
Trang 16lai (gồm trong cả ngắn hạn và dài hạn), thể hiện mục tiêu của doanh nghiệp
và con đường để đạt mục tiêu đó
Để xây dựng một chiến lược kinh doanh có hiệu quả đòi hỏi doanh nghiệp phải phân tích đúng đắn nhu cầu thị trường, phân tích chính xác lợi thế và các bất lợi của doanh nghiệp từ đó xác định thị phần cho mình Do đó chiến lược kinh doanh thể hiện phương thức khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài doanh nghiệp, thể hiện mảng thị trường nhất định
mà doanh nghiệp tập trung khai thác và phát triển những sản phẩm mà doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh
Trình độ kỹ thuật công nghệ
Trong điều kiện kinh tế tri thức ngày nay, khi mà hàm lượng tri thức được vật chất hóa thành kỹthuật công nghệ, mà cùng với nó là hàm lượng tri thức trong sản phẩm ngày càng cao thì kỹ thuật, công nghệ trở thành yếu
tố then chốt, quyết định trong việc tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm Tức là, nó là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Điều này lý giải tại sao các doanh nghiệp của các nước có nền công nghiệp phát triển thường chiếm ưu thế áp đảo trong cạnh tranh so với các nước kém phát triển
Khả năng quản lý
Nói đến khả năng quản lý của một doanh nghiệp là nói đến phương thức, quy trình quản lý và trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp Phương thức quản lý không phù hợp sẽ dẫn tới tăng chi phí quản lý hoặc không kiểm soát tốt quá trình sản xuất kinh doanh, do vậy làm giảm chất lượng sản phẩm
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động
Yếu tố này phản ánh kỹ năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các nhân viên tác nghiệp và công nhân trong doanh nghiệp Trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ của người lao động và lòng hăng say làm việc của
họ là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi vì khi tay nghề cao, chuyên môn cao lại cộng thêm lòng hăng say nhiệt tình lao động thì tăng năng suất lao động là tất yếu Đây là tiền đề để doanh nghiệp có thể tham gia và đứng vững trong cạnh tranh
Chất lượng sản phẩm
Chất lượng của một hàng hóa hay dịch vụ là tổng thể những yếu tố cấu thành sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà từ đó tạo cho nónhững phẩm chất
Trang 17đáp ứng những nhu cầu sử dụng sản phẩm ấy của người tiêu dùng, chẳng hạn như chức năng, công dụng, sự tiện lợi, độ bền Như vậy, rõ ràng khi mua hàng, khách hàng thường quan tâm rất nhiều đến chất lượng hàng hóa, nó tồn tại song song với quá trình đàm phán giá cả của người mua hàng Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi và với giá cả hàng hóa như nhau, hiển nhiên khách hàng sẽ lựa chọn mua sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ có chất lượng tốt hơn Có nghĩa là, hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao hơn sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn và ngược lại
Thương hiệu của doanh nghiệp
Thương hiệu của một doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp Tạo lập được một thương hiệu có uy tín chính là tạo lập được một chỗ đứng vững chắc trong suy nghĩ của khách hàng về doanh nghiệp và về sản phẩm của doanh nghiệp Nó là một yếu tố đảm bảo cho năng lực cạnh tranh lâu dài của doanh nghiệp Các hãng kinh doanh lớn, có năng lực cạnh tranh cao trên thế giới đều có thương hiệu rất nổi tiếng, đều có một sự đầu tư có chiến lược, bài bản cho việc xây dựng, quảng bá, bảo vệ, duy trì và phát triển thương hiệu Vì thế, việc đầu tư cho nghiên cứu, triển khai thương hiệu được coi là một nhân tố quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp
Theo nghĩa chung nhất, văn hóa doanh nghiệp được hiểu là một hệ thống bao gồm những giá trị, truyền thống, tập quán, lối ứng xử, nghi lễ, biểu tượng, chuẩn mực được hình thành trong quá trình xây dựng và phát triển của doanh nghiệp, có khả năng lưu truyền, tạo nên bản sắc riêng và có tác động sâu sắc tới tâm lý và hành vi của tất cả các thành viên trong doanh nghiệp
Một trong những chức năng cơ bản của văn hóa doanh nghiệp là tạo ra cảm giác thống nhất của mọi thành viên, tạo ra hình ảnh "chúng tôi" tập thể, bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân Trong văn hóa doanh nghiệp, mỗi thành viên của nó đều nhận thức được vai trò của mình trong
hệ thống doanh nghiệp, nhận thức được những gì mà doanh nghiệp trông đợi và có thể đáp lại những trông đợi ấy như thế nào Như vậy, văn hóa doanh nghiệp động viên mọi nguồn lực trong doanh nghiệp và hướng những nguồn lực ấy vào việc phấn đấu cho mục đích của doanh nghiệp
Trang 181.1.3.2 Các yếu tố bên ngoài
Nhóm nhân tố này tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với tư cách là các yếu tố của cả nền kinh tế tác động chung đến các doanh nghiệp hoặc nó
là nhân tố nằm ngoài tầm chi phối của doanh nghiệp Thuộc nhóm nhân tố này có các yếu tố: Môi trường vật chất kinh tế; môi trường công nghệ; môi trường chính trị pháp luật; các chính sách kinh tế tài chính của Nhà nước; mức độ cạnh tranh trên thị trường; khả năng xuất hiện sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế
Môi trường chính trị pháp luật
Hệ thống pháp luật giữ vai trò định hướng, chi phối toàn bộ các hoạt động
xã hội, trong đó có hoạt động kinh doanh Hệ thống pháp luật được xây dựng dựa trên nền tảng của các định hướng chính trị, nhằm quy định những hành vi mà các thành viên xã hội được làm và không được làm trong những hoàn cảnh nhất định, quy định những chế tài xử lý những hành vi vi phạm các mối quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ
Hệ thống pháp luật rõ ràng, công bằng, ổn định và được thực thi tốt tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, ổn định, thuận lợi từ đó khuyến khích các doanh nghiệp tăng đầu tư, kinh doanh lâu dài, làm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Ngược lại, một hệ thống pháp luật không rõ ràng, thiếu
ổn định sẽ làm các nhà kinh doanh không mạnh dạn đầu tư vì sự thay đổi bất lợi từ pháp luật, tất yếu sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
Trong thời đại ngày nay, mối liên hệ giữa chính trị và kinh doanh không chỉ diễn ra trong phạm vi quốc gia mà còn trên cả phạm vi quốc tế Các quan hệ chính trị giữa các quốc gia có thể đem lại lợi thế hay bất lợi cho việc chiếm lĩnh thị trường của các sản phẩm hàng hóa Xã hội ổn định về chính trị, môi trường pháp lý vững chắc, các nhà kinh doanh được đảm bảo an toàn
về đầu tư, về quyền sở hữu các sản phẩm khác sẽ là điều kiện tiền đề để tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Mặt khác, quan hệ quốc tế tốt đẹp sẽ thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các nước và hỗ trợ doanh nghiệp thâm nhập vào thị trường bên ngoài
Môi trường vật chất kinh tế
Môi trường vật chất kinh tế là tổng thể các yếu tố về cơ sở hạ tầng kinh tế, điều kiện vật chất phục vụ cho sản xuất kinh doanh và các đặc điểm của hệ thống kinh tế mà trong đó các doanh nghiệp hoạt động
Trang 19 Môi trường công nghệ
Môi trường công nghệ phản ánh trình độ phát triển khoa học, công nghệ của một quốc gia, phản ánh năng lực phát triển công nghệ trong nước, khả năng quản lý, khai thác và chuyển giao công nghệ Môi trường khoa học công nghệ là kết quả của một hệ thống giáo dục đào tạo, chính sách nghiên cứu
và phát triển trong một thời gian dài Trình độ kỹ thuật công nghệ của một doanh nghiệp gắn liền và trong nhiều trường hợp, là kết quả của trình độ công nghệ chung của ngành và của quốc gia nên môi trường công nghệ của quốc gia tác động đến trình độ trang bị công nghệ của các doanh nghiệp, và
từ đó tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Các chính sách kinh tế tài chính của Nhà nước
Các chính sách kinh tế tài chính của Nhà nước thể hiện quan điểm, định hướng phát triển nền kinh tế của Nhà nước, do đó tác động trực tiếp đến môi trường kinh tế vĩ mô của một đất nước Chính sách kinh tế tài chính thể hiện những ưu đãi, khuyến khích hoặc hạn chế đối với một số khu vực hay ngành kinh tế, hoặc chính sách khuyến khích chuyên môn hóa, khuyến khích áp dụng công nghệ tiên tiến, khuyến khích cạnh tranh
Mức độ cạnh tranh trên thị trường
Doanh nghiệp không thể tách rời khỏi thị trường vì thị trường là nơi cung cấp các yếu tố đầu vào, cũng là nơi quyết định sản phẩm có được tiêu thụ hay không Mức độ cạnh tranh trên thị trường gay gắt hay không có ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp Mức độ cạnh tranh trên thị trường phụ thuộc vào số lượng các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh về loại sản phẩm, dịch vụ nào đó; năng lực cạnh tranh của các đối thủ trên thị trường
Mức độ tham gia vào thị trường thế giới
Tham gia sâu rộng vào thị trường quốc tế và phân công lao động quốc tế chứng tỏ quốc gia có sức cạnh tranh tốt trên thị trường quốc tế Độ mở cửa của nền kinh tế làm cho thị trường vốn, thị trường công nghệ, thị trường lao động hoạt động linh hoạt nên doanh nghiệp có thể dễ dàng lựa chọn các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, từ đó giúp tăng năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong quốc gia đó Hơn nữa tham gia sâu rộng vào thị trường quốc tế tạo ra sức ép cạnh tranh, buộc doanh nghiệp không thể trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước mà phải tự tìm cách tồn tại và phát triển, đây chính là động lực buộc các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Trang 201.1.4 Vai trò của tài chính doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh
Doanh nghiệp cần đảm bảo đủ nguồn tài chính cho doanh nghiệp Thực hiện chức năng này, tài chính thực hiện công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo cho nhu cầu đầu tư và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành, trước hết các doanh nghiệp cần phải có vốn đây là yếu tố cơ bản đầu tiên Trong cơ chế tập trung bao cấp trước đây vốn chỉ được hình thành từ hai nguồn chủ yếu đó là cấp phát của ngân sách nhà nước và vay qua ngân hàng Vì vậy việc tạo vốn của doanh nghiệp vô cùng thụ động Chuyển sang nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa, hơn lúc nào hết quy luật cạnh tranh và đào thải được phát huy hết tác dụng Trong điều kiện ấy, để tồn tại và phát triển, buộc các doanh nghiệp phải chủ động, năng động và sáng tạo trong việc tạo vốn
Sử dụng tiết kiệm có hiệu quả các nguồn tài chính của doanh nghiệp Việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả được coi là đòi hỏi đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, yêu cầu khắt khe của các quy luật kinh tế cơ bản đặt ra cho các doanh nghiệp là không phải sản xuất bằng bất cứ giá nào, cũng không phải bán cái mình có mà phải bán cái thị trường cần
Thông qua sử dụng các đòn bẩy kích thích, tài chính vừa tạo ra động lực, vừa tạo ra áp lực thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh bằng cách gắn liền lợi ích kinh tế của từng chủ thể cạnh tranh với việc đạt được các tiêu chí cạnh tranh.Vai trò kích thích, điều tiết của tài chính doanh nghiệp được thể hiện ở chỗ tạo ra "sức mua" hợp lý để thu hút vốn đầu tư, đồng thời cũng xác định giá bán hợp lý Bằng việc xây dựng giá mua giá bán hợp lý sẽ có tác động tích cực đến sản xuất kinh doanh
Kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tình hình tài chính của doanh nghiệp là tấm gương phản ánh trung thực nhất kết quả sản xuất kinh doanh Thông qua các chỉ tiêu tài chính có thể nhận biết chính xác tình trạng tốt hay xấu trong các khâu của quá trình sản xuất Qua phân tích tình hình tài chính xác định điểm mạnh, điểm yếu về tài chính, qua đó có thể phát hiện, điều chỉnh, giám sát quá trình sản xuất kinh doanh, có thể có quyết định tăng vốn đầu tư tiền bạc một cách hợp lý nhất hay có thể đánh giá nhu cầu tăng năng lực sản xuất của doanh nghiệp, chống lại sự cạnh tranh của bên ngoài nhằm đạt được mục tiêu đã định
Trang 211.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cnahj tranh về mặt tài chính của
doanh nghiệp
1.1.5.1 Các yếu tố bên ngoài
Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế quốc tế
Các yếu tố kinh tế thế giới tác động mạnh mẽ đến kinh doanh của các doanh nghiệp ở mọi nước tham gia vào quá trình khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới Những yếu tố ảnh hưởng rõ nét nhất đến doanh nghiệp như mức độ thịnh vượng của nền kinh tế, khủng hoảng, xu hướng phát triển kinh tế thế giới
Khi nền kinh tế thế giới ở vào thời kỳ thịnh vượng, cầu tiêu dùng đa dạng phong phú hơn và phổ biến theo xu hướng tăng nhanh Điều này kích thích trực tiếp các yếu
tố sản xuất, phát triển kĩ thuật – công nghệ Xu thế này tạo cơ hội phát triển sản xuất kinh doanh diễn ra đối với các doanh nghiệp ở phổ biến mọi quốc gia, làm tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Ngược lại khi nền kinh tế khủng hoảng, hoạt động của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng theo bởi sự sụt giảm tiêu dùng
Ảnh hưởng của môi trường kinh tế quốc dân
Các nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động kinh doanh của mọi doanh nghiệp thường có liên quan đến trạng thái phát triển của nền kinh tế: tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá hối đoái Nền kinh tế quốc dân tăng trưởng với tốc độ cao sẽ tác động đến nền kinh tế theo hai hướng Một là, tăng thu nhập của các tầng lớp dân cư dẫn đến tăng khả năng thanh toán cho các nhu cầu của họ Hai là, khả năng tăng sản lượng và mặt hàng của nhiều doanh nghiệp làm tăng hiệu quả kinh doanh Điều này tạo khả năng tích lũy vốn nhiều hơn, tăng quy mô, tăng cầu về đầu tư mở rộng kinh doanh làm cho môi trường kinh doanh hấp dẫn hơn Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái
Trang 22 Luật pháp và quản lý nhà nước về kinh tế
Việc tạo môi trường kinh doanh lành mạnh hay không lành mạnh hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố luật pháp và quản lý nhà nước về kinh tế Môi trường kinh doanh bình đẳng tạo điều kiện cho mọi doanh nghiệp có cơ hội cạnh tranh lành mạnh, buộc mọi doanh nghiệp phải làm ăn chân chính, có trách nhiệm với người tiêu dùng Môi trường kinh doanh thông thoáng làm khả năng cạnh, kinh doanh của doanh nghiệp tăng Nếu ngược lại, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đối với sản xuất, kinh doanh
Quản lý nhà nước về kinh tế là nhân tố tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp Các chính sách đầu tư, chính sách phát triển kinh tê, chính sách cơ cấu, sẽ tạo sự ưu tiên hay kìm hãm sự phát triển cửa từng ngành, tùng vùng kinh tế cụ thể, do đố sẽ tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc các ngành, vùng kinh tế nhất định
Khả năng sản xuất, nghiên cứu và phát triển
Khả năng sản xuất của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Khả năng sản xuất của doanh nghiệp thường tập trung chủ yếu vào các vấn đề năng lực sản xuất như quy mô, cơ cấu, trình độ kỹ thuật, tuổi đời máy móc thiết bị…Các nhân tố trên tác động trực tiếp đến chi phí kinh doanh cũng như thời hạn sản xuất và đáp ứng nhu cầu về sản phẩm/ dịch vụ Đây là một trong các yếu tố không thể thiếu tạo ra lợi thế cạnh tranh về mặt tài chính cho doanh nghiệp
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh về mặt tài chính của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp được cấu thành từ nhiều yếu tố: nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp như năng lực tài chính của doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh, trình độ kỹ thuật…; nhóm yếu tố bên ngoài doanh nghiệp môi trường chính trị pháp luật, môi trường kinh tế Do đề tài về giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nên trong bài viết này chỉ tập trung phân tích các chỉ tiêu tài chính để từ đó đưa ra nhận xét và đề xuất giải pháp cho doanh nghiệp
1.2.1 Nhóm chỉ số khả năng thanh toán
ỷ ố thanh toán ngắn hạn Tổng tài sản ngắn hạn
Tổng nợ ngắn hạn
Ý nghĩa của chỉ tiêu này là mỗi một đồng nợ ngắn hạn sẽ được đảm bảo bởi X đồng tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết khả năng của một công ty trong việc dùng các tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho hay các khoản phải thu để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn của mình Tỷ số này càng cao chứng tỏ công ty càng có nhiều khả năng sẽ hoàn trả được hết các khoản nợ Tỷ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 cho thấy công ty đang ở trong tình trạng tài chính tiêu cực, có khả năng không trả được các
Trang 23khoản nợ khi đáo hạn Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là công ty sẽ phá sản bởi vì
có rất nhiều cách để huy động thêm vốn Mặt khác, nếu tỷ số này quá cao cũng không phải là một dấu hiệu tốt bởi vì nó cho thấy doanh nghiệp đang sử dụng tài sản chưa được hiệu quả
Tỷ số thanh toán nhanh cho biết liệu công ty có đủ các tài sản ngắn hạn để trả cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho hay không, mỗi một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi x đồng tài sản lưu động mà doanh nghiệp mà không cần dùng hàng tốn kho Tỷ số này phản ánh chính xác hơn tỷ số thanh toán ngắn hạn Một công ty có tỷ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 sẽ khó có khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn và phải được xem xét cẩn thận Ngoài ra, nếu tỷ số này nhỏ hơn hẳn so với tỷ số thanh toán hiện hành thì điều đó có nghĩa là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào hàng tồn kho
Tiền à á ả ươ đươ ề
Tỷ số thanh toán tiền mặt cho biết một công ty có thể trả được các khoản nợ của mình nhanh đến đâu, vì tiền và các khoản tương đương tiền là những tài sản có tính thanh khoản cao nhất Mỗi một đồng nợ ngắn hạn sẽ được đảm bảo bởi bao nhiêu tiền
và các khoản tương đương tiền
1.2.2 Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý tài sản
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích trung bình cứ x đồng doanh thu thì sẽ có
1 đồng cho khách hàng nợ Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tình hình thu tiền của doanh nghiệp là kịp thời góp phần giảm bớt vốn bị chiếm dụng
Trong bối cảnh này, việc thanh toán dứt điểm nợ đọng vốn có giá trị như những liều thuốc hồi sinh và không ít trường hợp còn giúp cho doanh nghiệp thoát khỏi cơn
"tai biến" do mất cân đối tài chính nghiêm trọng Tuy vậy khó khăn của các doanh nghiệp trong việc thu hồi nợ vẫn thuộc hai dạng:
Một là, những dự án ngoài kế hoạch hoặc những hợp đồng lỏng lẻo mà trong đó phương thức và điều kiện thanh toán thường ghi "Theo kế hoạch và tiến độ cấp phát vốn của tài chính Nếu chưa đủ thì thanh toán tiếp vào kế hoạch vốn các năm sau, không tính lãi suất”
Trang 24Hai là, "con nợ" là những công ty nợ nhiều và có thói quen chiến dụng vốn Do
đó, hàng trăm tỷ đồng không có khả năng thanh toán dứt điểm trong hai năm hoặc trở thành nợ khó đòi
Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng
dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng
Chỉ số vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp Chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá thấp có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp
Chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm nay nhỏ hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn năm trước Ngược lại, nếu Chỉ số Vòng quay các khoản phải trả năm nay lớn hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán nhanh hơn năm trước
Nếu chỉ số Vòng quay các khoản phải trả quá nhỏ (các khoản phải trả lớn), sẽ tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh khoản Tuy nhiên, cũng cần lưu ý việc chiếm dụng khoản vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng
Trang 25
Các chỉ số này lần lượt giúp đánh giá hiệu quả sử dụng Tài sản cố định(TSCĐ), Tài sản lưu động, tổng tài sản của doanh nghiệp, cho thấy 1 đồng TSCĐ, TSLĐ, tổng TS tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.Chỉ số này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng TSCĐ, TSLĐ, tổng tài sản của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
Hệ số hiệu quả sử dụng tổng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài sản của công ty Thông qua hệ số này chúng ta có thể biết được với mỗi một đồng tài sản có bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra
Hệ số vòng quay tổng tài sản càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của công ty vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả
Tuy nhiên muốn có kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của một công ty chúng ta cần so sánh hệ số vòng quay tài sản của công ty đó với
hệ số vòng quay tài sản bình quân của ngành
1.2.3 Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý nợ
Tổng số nợ ở đây bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả Chủ nợ thường thích công ty có tỷ số nợ thấp vì như vậy công ty có khả năng trả nợ cao hơn Ngược lại, cổ đông muốn có tỷ số nợ cao vì như vậy làm gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ đông Tuy nhiên muốn biết tỷ số này cao hay thấp cần phải so sánh với tỷ số nợ của bình quân ngành
Tỷ số nợ càng thấp thì mức độ bảo vệ dành cho các chủ nợ càng cao trong trường hợp doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản và phải thanh lý tài sản
Tỷ số nợ phụ thuộc rất nhiều yếu tố: loại hình doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mục đích vay Tuy nhiên thông thường, ở mức 60/40 là chấp nhận được Có nghĩa Hệ số nợ là 60% (Tổng tài sản có 100 thì vốn vay là 60)
Trang 26
Hệ số này cho biết một công ty có khả năng đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ lãi của
nó đến mức nào Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ càng cao thì khả năng thanh toán lãi của công ty cho các chủ nợ của mình càng lớn Tỷ lệ trả lãi thấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế có thể làm giảm EBIT xuống dưới mức nợ lãi mà công ty phải trả, do đó dẫn tới mất khả năng thanh toán và vỡ nợ.Tỷ số trên nếu lớn hơn 1 thì công ty hoàn toàn có khả năng trả lãi vay Nếu nhỏ hơn 1 thìchứng tỏ hoặc công ty đã vay quá nhiều so với khả năng của mình, hoặc công ty kinh doanh kém đến mức lợi nhuận thu được không đủ trả lãi vay
1.2.4 Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời
Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) này cho biết một đồng doanh thu thuần
từ bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.Tỷ suất này càng cao thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng cao
Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà không quan tâm đến cấu trúc tài chính Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) cho biết công ty tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận từ một đồng tài sản
Tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần (ROE) Cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của công ty Để so sánh chính xác, cần so sánh tỷ số này của một công ty cổ phần với tỷ số bình quân của toàn ngành, hoặc với
tỷ số của công ty tương đương trong cùng ngành
Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu trong kỳ hoạt động hoặc kỳ vọng cho kỳ tới, chỉ tiêu này mà cao đó là nhân tố để các nhà quản trị phát hành thêm cổ phiếu, huy động thêm vốn góp đầu tư cho hoạt động kinh doanh Khi đó doanh nghiệp đang ở trạng thái an toàn cao, song để nâng cao hiệu quả kinh doanh toàn doanh nghiệp cần vay thêm tiền đầu tư Chỉ tiêu này thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu không cao, khi đó dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện nguy cơ phá sản có thể xảy ra Ngoài các chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khả năng thanh toán, hiệu quả kinh doanh, còn nhiều các chỉ tiêu chi tiết khác phụ thuộc vào mục đích của từng hợp đồng cho vay đối với từng doanh nghiệp cụ thể Song tất cả các chỉ tiêu tài chính còn
Trang 27giúp cho các tổ chức tín dụng nhận diện dấu hiệu rủi ro tài chính trong các hợp đồng cho doanh nghiệp vay tiền
Là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp EPS càng cao thì phản ánh năng lực kinh doanh của công ty càng mạnh, khả năng trả cổ tức càng cao và giá cổ phiêu sẽ có xu hướng tăng
1.3 Kết luận
Trong sự phát triển của nền kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu Gia nhập WTO chính là sự kiện thể hiện sự hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện của nền kinh tế Việt Nam Sự kiện này đem lại cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trong việc mở rộng thị trường mới cũng như hấp thụ nguồn vốn cũng như công nghệ từ nước ngoài Tuy nhiên đi kèm cơ hội là thách thức không nhỏ với sự cnahj tranh ngày càng gay gắt
từ các doanh nghiệp nước ngoài Vậy mà cơ chế “xin- cho” của ngành Than hiện nay lại thủ tiêu đi sự canh tranh, động lực phát triển của các doanh nghiệp, dẫn đến sự thụ động kém phát triển của các doanh nghiệp trong ngành Khi thị trường khai thác đang chỉ có các doanh nghiệp cùng nhà mà thiếu vắng cạnh tranh thì liệu khi các doanh nghiệp nước ngoài tiến vào có cạnh tranh được không
Công ty Cổ phần than Đèo Nai nói riêng và các công ty khai thác Than nói chung cần vượt qua lối mòn, vượt qua sự bao cấp của nhà nước bây lâu để tận dụng các cơ hội và vượt qua thách thức để phát triển bền vững, nâng cao các yếu tố nội hàm trong doanh nghiệp, đặc biệt là tiềm lực về tài chính Có như vậy doanh nghiệp mới có được năng lực cạnh tranh mạnh Để cải thiện năng lực cạnh tranh hiện nay của doanh nghiệp bằng các biện pháp tài chính trước hết phải làm rõ thực trạng năng lực cạnh về mặt tài chính của Công ty Cổ phần than Đèo Nai Những phân tích chi tiết về thực trang năng lực cạnh tranh về mặt tài chính sẽ là nội dung chính trong phần sau của chuyên đề
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH VỀ MẶT
TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THAN ĐÈO NAI – VINACOMIN
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần than Đèo Nai –
VINACOMIN
2.1.1 Các thông tin cơ bản
Tên Công ty: Công ty Cổ phần than Đèo NaiVINACOMIN
Trụ sở:Phường Cẩm Tây, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Hình thức sở hữu: Công ty Cổ phần than Đèo Nai – Vinacomin(trước đây là
Công ty Cổ phần than Đèo Nai – TKV) là Công ty Cổ phần được chuyển đổi
từDoanh nghiệp nhà nước theoquyết định số 1968/QĐBCN ngày 27/07/2006
của Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp
Cơ quan chủ quản:Công ty cổ phần Than Đèo Nai – VINACOMIN trực thuộc
Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng Sản Việt Nam, là Doanh nghiệp nhà
nước có đầy đủ tư cách pháp nhân
Mã số thuế :5700101299 (Theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng
ký thuế thay đổi lần 2 ngày 11/05/2011)
Theo Công văn số 492 CTTTHT ngày 24 tháng 12 năm 2007 của Cục Thuế
tỉnh Quảng Ninh hướng dẫn việc xác định mức hưởng ưu đãi về thuế thu nhập
doanh nghiệp của Công ty Cổ phần than Đèo Nai TKV (Nay là Công ty Cổ
phần Than Đèo Nai Vinacomin), Công ty được áp dụng mức thuế suất thuế
TNDN 20% trong thời gian 10 năm kể từ đi vào hoạt động sản xuất kinh
doanh, được miễn thuế 2 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số
thuế phải nộp cho 3 năm tiếp theo
Năm 2012 là năm Công ty được hưởng ưu đãi thuế suất thuế TNDN là 20%
Điện thoại: (84)033.864251
Fax: (84)033.863942
Email: contact@deonai.com
Tên giao dịch quốc tế của công ty cổ phần than Đèo Nai là:
Vinacomin_DeoNaiCoal joint stock company , viết tắt là VDNC
Lịch sử hình thành và phát triển của công ty:
Ngày 30 tháng 06 năm 1993,Bộ trưởng Bộ Năng lượng ra Quyết định số 414
NL/TCCBLĐ về việc thành lập lại mỏ Than Đèo Nai, là đơn vị hạch toán phụ thuộc
Công ty Than Cẩm Phả
Trang 29Ngày 17 tháng 09 năm 1996, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ra Quyết định số 2601 QĐ/TCCB thành lập doanh nghiệp Nhà nước hạch toán độc lập : Mỏ Than Đèo Nai Ngày 01 tháng 10 năm 2001, HĐQT Tổng Công ty Than Việt Nam ra Quyết định
số 405/QĐHĐQT chính thức đổi tên Mỏ Than Đèo Nai thành Công ty Than Đèo Nai – Doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập của Tổng Công ty Than Việt Nam
Vốn điều lệ của công ty tại thời điểm cổ phần hóa ngày 01/01/2007 là 80.000.000.000 đồng trong đó phần vốn Nhà nước (VINACOMIN) nắm giữ 51%,cổ đông trong công ty nắm giữ 29% và phần còn lại 20% do các cổ đông ngoài công ty nắm giữ Ngày 11/05/2011, vốn điều lệ của Công ty là 160.000.000.000 VND được chia thành 16.000.000 cổ phần, các cổ đông sáng lập nắm giữ 8.165.170 cổ phần
2.1.2 Lĩnh vực hoạt động chủ yếu
Ngành nghề kinh doanh của Công ty bao gồm:
Khai thác chế biến kinh doanh than và các khoáng sản khác
Xây dựng các công trình mỏ, công nghiệp, dân dụng và san lấp mặt bằng
Vận tải đường bộ đường thuỷ đường sắt
Chế tạo, sửa chữa, gia công các thiết bị mỏ, phường tiện vận tải, các sản phẩm
cơ khí
Sản xuất các mặt hàng bằng cao su
Nuôi trồng thuỷ sản
Kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàng, ăn uống
Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, hàng hoá
Các ngành nghề khác phù hợp với năng lực của Công ty và được pháp luật cho phép
2.1.3 Sơ đồ bộ máy tổ chức
Công ty có bộ máy quản lý được thành lập theo cơ cấu trực tuyến - chức năng Theo cơ cấu này, bên cạnh cơ cấu trực tuyến còn có bộ phận tham mưu Vì thế, mỗi bộ phận (mỗi người quản lý) phải đảm nhận một chức năng độc lập Đồng thời mỗi đối tượng lao động phải chịu sự quản lý của cấp trên Hình thức quản lý này có nhược điểm là: phức tạp trong mối quan hệ, phải chịu sự quản lý của nhiều cấp trên Tuy nhiên, hình thức này lại có ưu điểm là phù hợp với công nghệ khai thác than, tạo điều kiện cho công tác quản lý, chỉ đạo sản xuất đồng thời phát huy được hết trình độ của cán bộ chuyên môn và công nhân viên trong toàn Công ty
Trang 30h
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức
2.1.3.1 Chức năng của từng bộ phận
Đại hội đồng cổ đông
Cơ quan quyền lực cao nhất của Công ty, bao gồm tất cả các cổ đông có quyền
biểu quyết và người được cổ đông ủy quyền, họp mỗi năm ít nhất một lần ĐHĐCĐ
quyết định những vấn đề được Luật pháp và Điều lệ Công ty quy định ĐHĐCĐ thông
qua các báo cáo tài chính hàng năm của Công ty và ngân sách tài chính cho năm tiếp
theo bầu,miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị thành viên Ban kiểm
soát của Công ty
L.Động-PX chế biến Trạm y tế Phòng bảo vệ
P Kế toán
TC
P kế hoạch
đào tạo
P.tổchức-P thanh tra- kiểm toán Văn phòng
P Kỹ thuật vận tải
P Cơ điện
P Vật tư
PX-vận tải phục vụ
Trung tâm điều khiển sản xuất
(Nguồn: Phòng tổ chức đào tạo)
Trang 31 Hội đồng quản trị
Hàng năm Công ty tổ chức đại hội thường niên các cổ đông đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm qua và phương hướng những năm tiếp theo Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhà nước, Bộ Công nghiệp, Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam về hoạt động sản xuất kinh doanh, tiến bộ khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ bản và đời sống cán bộ công nhân trong Công
ty, là nơi quyết định cao nhất mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Giám đốc điều hành
Là người quản lý,điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, của các phó giám đốc trong lĩnh vực kinh doanh của Công ty Ngoài nhiệm vụ lãnh đạo chỉ đạo chung, Giám đốc trực tiếp làm Chủ tịch hội đồng giá và chỉ đạo các lĩnh vực công tác sau:
Công tác tổ chức cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
Công tác kế hoạch, đầu tư, quy hoạch phát triển
Công tác tài chính
Công tác thanh tra pháp chế
Công tác thi đua khen thưởng và đối ngoại
Chỉ đạo phụ trách hạch toán chi phí các công trường phân xưởng
Ban kiểm soát:
Ban kiểm soát có nhiệm vụ thực hiện chức năng kiểm tra giám sát hoạt động của công ty: Bao gồm kiểm soát tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý điều hành sản xuất kinh doanh trong ghi chép sổ kế toán báo cáo tài chính và kiến nghị các sai phạm ( nếu có)
PGĐ Kỹ thuật
Chỉ đạo xây dựng và thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch kỹ thuật khai thác, định mức kinh tế kỹ thuật, chủ trì lập kế hoạch kỹ thuật ngắn và dài hạn Phê duyệt và ký hộ chiếu khoan nổ mìn, các hộ chiếu khai thác, thoát nước, phòng chống mưa bão,đường
xá, bãi thải Ký duyệt phục vụ sản xuất thuộc lĩnh vực phân công quản lý.Trực tiếp phụ trách Phòng kỹ thuật khai thác, phòng ĐC – KCS, phòng trắc địa, phòng đầu tư xây dung, phòng kỹ thuật an toàn Phân xưởng phục vụ
Trang 32 Phó chủ tịch Hội đồng giá
Chỉ đạo công tác quản lý vật tư
Thừa uỷ quyền của Giám đốc làm chủ tịch Hội đồng kỷ luật công nhân
Ký duyệt phục vụ sản xuất thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách
Phụ trách bảo vệ quân sự của Công ty và văn phòng Công ty
Tổ chức và chỉ đạo hệ thống thống kê chung toàn Công ty
Thay mặt Giám đốc giải quyết các công việc khi Giám đốc đi công tác vắng
Trực tiếp phụ trách: Phòng Bảo vệ,Phân xưởng chế biến, y tế
PGĐ cơ điện vận tải
Chịu trách nhiệm các lĩnh vực sau:
Công tác kỹ thuật cơ khí, cơ điện mỏ
Công tác kỹ thuật vận tải ô tô (kể cả sửa chữa)
Chỉ đạo nắm nguồn vật tư thuộc lĩnh vực cơ điện vận tải, ký duyệt cấp phát
và điều hành sử dụng hợp lý vật tư đó
Phụ trách công tác kỹ thuật thiết bị truyền thanh thông tin liên lạc
Phụ trách quản lý đơn đặt hàng gia công, sửa chữa thuê ngoài
Phụ trách khâu điện nước, nhà ở của Công ty đang quản lý
Đảm nhiệm công việc đột xuất của Công ty khi được Giám đốc phân công
PGĐ sản xuất
Chỉ đạo toàn bộ công tác sản xuất, điều hành sản xuất theo công nghệ, đảm bảo cho sản xuất được thông suốt, an toàn, năng suất, chất lượng, đồng bộ từ khâu đầu đến khâu cuối (khoan nổ, bốc xúc,vận tải, tiêu thụ) Giải quyết mọi quan hệ nội bộ giữa sản xuất và phục vụ sản xuất cũng như các điều kiện cần thiết để hoàn thành kế hoạch đạt hiệu quả cao nhất Chỉ đạo công tác an toàn, an ninh, bảo vệ môi trường trên khai trường sản xuất của Công ty
Trang 33Trực tiếp chỉ đạo điều hành sản xuất các đơn vị: Trung tâm chỉ huy sản xuất, công trường khoan nổ, công trường xúc, công trường xe gạt, công trường băng tải công trường băng sàng, phân xưởng cơ điện, phân xưởng sửa chữa ô tô
2.1.4 Giai đoạn hội nhập kinh tế thị trường
Thực tế đã chứng minh một nền kinh tế không thể phát triển nếu không hội nhập với cộng đồng kinh tế quốc tế, đặc biệt với những nước đang phát triển như Việt Nam Hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam phải chịu thuế cao ở nhiều thị trường lớn làmột nguyên nhân làm giảm tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung Cùng với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta, công ty Cổ phần than Đèo Nai có những chuyển biến để phù hợp vối nền kinh tế thị trường
Theo Quyết định số 1968/QĐBCN ngày 27/7/2006 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc chuyển Công ty Than Đèo Nai thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng Sản Việt Nam (VINACOMIN) thành Công ty cổ phần Than Đèo Nai
Công ty chính thức đi vào hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần kể từ ngày 01/01/2007 với tên gọi mới là Công ty cổ phần Than Đèo Nai – VINACOMIN, từ ngày 1/6/2011 đổi tên thành Công ty CP Than Đèo Nai Vinacomin
Dù những năm gần đây phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng Công ty vẫn duy trì sản xuất ổn định, đảm bảo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, làm tròn nghĩa vụ với nhà nướcvới truyền thống của một đơn vị luôn đi đầu đổi mới, chuyển đổi hệ thống quản lý mới với cơ cấu gọn nhẹ, năng động, hiệu quả Mạnh dạn giao trách nhiệm cho lớp cán bộ trẻ có tri thức, sức bật tốt, tâm huyết với sự nghiệp của Công ty, phát huy tối đa khả năng cống hiến của mỗi người, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
2.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần than Đèo Nai –
VINACOMIN giai đoạn 2011 – 2013
Về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Doanh thu BH&CCDV của
Công ty Cổ phần than Đèo Nai - VINACOMIN liên tục giảm trong 3 năm từ 2011 đến
2013 cụ thể là năm 2012 đạt 3.127.580.778 nghìn đồng, giảm 562.351.739 nghìn đồng, tương đương với mức giảm tương đối 15,24% so với năm 2011 Sang năm 2013, chỉ tiêu này tiếp tục giảm xuống chỉ còn 2.493.762.442 nghìn đồng, tức giảm 20,27% so với năm 2012
Trang 34Bảng 2.1.Bảng báo cáo kết quả kinh doanh
Doanh thu thuần BH và CCDV 2.493.762.442 3.127.580.778 3.689.932.517 (633.818.336) (562.351.739) (20,27) (15,24)
Lợi nhuận thuần 27.127.140 46.691.198 110.063.936 (19.564.058) (63.372.738) (41,9) (57,58)
Lợi nhuận sau thuế TNDN 26.200.051 32.763.994 101.772.937 (6.563.943) (69.008.943) (20,03) (67,81)
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2011, 2012, 2013 Công ty Cổ phần Than Đèo Nai – VINACOMIN)
Trang 35Sự sụt giảm đáng kể về doanh thu này của Công ty một phần là do ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế khó khăn nói chung trong cả nước, đặc biệt là lĩnh vực khai thác khoáng sản khi mà thị trường biến động bất ổn và khó lường trước, sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài Ngoài ra, do tình hình suy thoái kinh tế dẫn đến Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tiêu thụ Tập đoàn yêu cầu các đơn vị thành viên giảm sản lượng khai thác và tiêu thụ Trong đó Công ty than Đèo Nai thực hiện kế hoạch điều chỉnh giảm xuống gần 7 triệu m3 đất đá, giảm 200.000 tấn than sản xuất đồng thời giảm 200.000 tấn than tiêu thụ, tồn kho than tăng so với đầu năm Bên cạnh đó trong năm 2011 yếu tố thị trường đẩy giá bán than tăng cao tăng 18.497đ/tấn Đây là một trong những yếu tố đẩy cao doanh thu của doanh nghiệp trong năm 2011 Tổng doanh thu tăng đẩy lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của toàn Công ty cũng tăng theo nhưng giá than nhanh chóng hạ dẫn đến sự sụt giảm doanh thu nghiêm trọng trong năm 2012,2013 Bên cạnh đó lạm phát trong 2 năm 2011 và 2012 đặc biệt tăng cao (thời điểm cao nhất trong năm 2012 lên đến trên 18%) gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế nói chung và tình hình sản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp nói riêng Cụ thể là giá cả tăng mạnh dẫn tới chi phí sản xuất kinh doanh tăng theo, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Ngoài ra, doanh thu bán hàng giảm mạnh cho thấy phòng Kinh doanh của Công ty Cổ phần than Đèo Nai - VINACOMIN hoạt động chưa hiệu quả trong khoảng thời gian qua
Các khoản giảm trừ doanh thu: Trong cả ba năm 2011 ,2012 và 2013 các khoản giảm trừ doanh thu đều không có do hàng hóa của công ty đều đạt chất lượng tốt, được các đối tác hài lòng không có hàng hóa bị yêu cầu giảm giá hàng bán hoặc bị trả lại Đồng thời các khoản chiết khấu thương mại, thuế xuất khẩu đều không có Nên doanh thu thuần từ bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ bằng đúng doanh thu bán ra và cung cấp dịch vụ
Giá vốn hàng bán năm 2012 là 2.841.712.272 nghìn đồng giảm 471.872.042 nghìn đồng, tương đương giảm 14,24%, năm 2013 ở mức 2.213.457.130 nghìn đồng hạ 628.818.336 nghìn đồng tương đương 22,11%, chênh lệch tỷ lệ giữa 2013/2012 và 2012/2011 là 7,87% Con số trên thể hiện những chính sách, chủ trương của công ty là hoàn toàn đúng đắn vì năm 2011 công ty đã chú ý đầu tư vào việc mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị hiện đại nhằm tăng hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu khai thác ngày càng xuống sâu của công nghệ khai thác than giúp làm giảm giá thành.Mặt khác Tập đoàn yêu cầu tiết giảm 5% đơn giá đầu vào.Sự giảm mạnh này cũng xuất phát từ nền kinh tế khó khăn, nhu cầu của khách hàng giảm mạnh nên công ty giảm lượng khai thác hàng hóa để tránh rủi ro