Mỗi nhà khoa học trên thế giới đưa ra những định nghĩa khác nhau về Marketing: - Theo Philip Kotler- Chủ tịch hiệp hội Marketing thế giới: “Marketing là một quá trình quản lý mang tính x
Trang 1MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1
1.1 Lý luận chung về marketing 1
1.1.1 Định nghĩa marketing 1
1.1.2 Những khái niệm cốt lõi của Marketing 2
1.1.3 Vai trò và chức năng của marketing 4
1.2 Lý luận chung về các giải pháp marketing 6
1.2.1 Vai trò của xây dựng giải pháp marketing trong doanh nghiệp 6
1.2.2 Bản chất của việc xây dựng giải pháp Marketing 7
1.2.3 Quy trình xây dựng giải pháp marketing cho doanh nghiệp 7
1.3 Giải pháp marketing hỗn hợp 14
1.3.1 Giải pháp về sản phẩm 15
1.3.2 Giải pháp về giá 17
1.3.3 Giải pháp về phân phối và địa điểm 20
1.3.4 Giải pháp về các hoạt động xúc tiến hỗn hợp 21
1.3.5 Giải pháp về con người 23
1.3.6 Giải pháp về quy trình cung cấp sản phẩm dịch vụ 24
1.3.7 Giải pháp về cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật và các yếu tố khác 25
1.4 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 25
1.4.1 Định nghĩa 25
1.4.2 Ảnh hưởng của các giải pháp marketing đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CHƯƠNG TRÌNH THẾ GIỚI PHƯƠNG TIỆN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRUYỀN THÔNG BTS ( BTS MEDIA) 28
2.1 Vài nét về thị trường chương trình truyền hình tại Việt Nam 28
Trang 22.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần truyền thông BTS (BTS Media) 31
2.2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần truyền thông BTS ( BTS Media) 31 2.2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty những năm gần đây 34
2.3 Thực trạng hoạt động marketing của chương trình Thế giới phương tiện tại Công ty cổ phần truyền thông BTS (BTS Media) 38
2.3.1 Tổng quan về chương trình 38 2.3.2 Phân tích doanh thu và lợi nhuận của chương trình những năm gần đây
39
2.3.3 Quy trình xây dựng giải pháp marketing cho chương trình Thế giới
phương tiện 41 2.3.4 Chính sách marketing hỗn hợp của chương trình Thế giới phương tiện 48
2.4 Ảnh hưởng của hoạt động marketing đến khả năng cạnh tranh của
chương trình Thế giới phương tiện 58
2.4.1 Những thành tựu đạt được 59 2.4.2 Những hạn chế còn tồn tại 59 2.4.3 Những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế tồn tại của chương trình Thế giới phương tiện 60 2.4.4 Nguyên nhân chủ quan 60
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CHƯƠNG TRÌNH THẾ GIỚI PHƯƠNG TIỆN THUỘC CÔNG TY CỔ PHẦN BTS MEDIA 62
3.1 Định hướng hoạt động marketing của công ty cổ phần BTS Media 62 3.2 Định hướng hoạt động marketing của chương trình Thế giới Phương tiện
Trang 33.4.2 Giải pháp về giá 67
3.4.3 Giải pháp về phân phối 68
3.4.4 Giải pháp về hoạt động xúc tiến hỗn hợp 69
3.4.5 Chiến lược về con người 71
3.4.6 Chiến lược về quy trình cung cấp sản phẩm dịch vụ 72
3.4.7 Chiến lược về cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật và các yếu tố khác 73
3.5 Các kiến nghị đối với các cơ quan chức năng 73
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
(Ký và ghi rõ họ và tên)
Mai Huyền Trang
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian thực tập tại Công ty cổ phần truyền thông BTS ( BTS Media) được sự hướng dẫn tận tình của các cán bộ trong công ty cùng các kiến thức được trang bị trong nhà trường và thời gian tìm hiểu thực tế tại công ty, em đã có được rát nhiều kinh nghiệm, bài học bổ ích
Xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Thạc sỹ Vũ Ngọc Thắng, người đã trực tiếp nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu, tạo điều kiện tốt nhất cho em có thể hoàn thiện khóa luận một cách thuận lợi
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô Khoa Quản lý – Trường Đại học Thăng Long, đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản vững chắc làm nền tảng để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này!
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tại Việt Nam giai đoạn 2009-2012 29
Bảng 2.2.Tình hình phát triển ngành truyền hình tại Việt Nam giai đoạn 2011-2013 30 Bảng 2.3 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần truyền thông BTS ( BTS Media) giai đoạn 2011-2013 35
Bảng 2.4 Doanh thu và lợi nhuận của chương trình Thế giới phương tiện giai đoạn 2011-2013 40
Bảng 2.5 Bảng giá dịch vụ chuyên đề bài PR 50
Bảng 2.6.Bảng giá dịch vụ TVC quảng cáo 51
Bảng 2.7 Chi phí marketing của BTS Media giai đoạn 2011-2013 53
Bảng 3.1 Chi phí dự kiến cho hoạt động quảng cáo năm 2013 70
Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ phân bổ chi phí marketing của BTS Media giai đoạn 2011-2013 53
Sơ đồ 2.1 Quy trình định giá của Thế giới phương tiện 50
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập ngày nay nhất là sau gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải những sự cạnh tranh gay gắt để có thể tồn tại và phát triển Hiện nay truyền thông là ngành công nghiệp lớn mang lại nguồn thu khổng lồ cho nhà nước
và đem lại nguồn công ăn việc làm cho rất nhiều người lao động, góp phần giúp con người giải trí và thỏa mãn nhu cầu cá nhân của rất nhiều người Ngành truyền thông phát triển mạnh mẽ đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp kinh doanh về lĩnh vực này
ra đời hàng loạt Sự phát triển về quy mô và số lượng các công ty về truyền thông đã tạo ra bước ngoặt trưởng thành của truyền thông Việt Nam mặt khác tạo nên sự cạnh tranh rất lớn giữa các công ty truyền thông Chính vì vậy để có thể tồn tại và phát triển các công ty truyền thông luôn phải nỗ lực để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
so với các đối thủ khác
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trong thời gian thực tập tại Công ty cổ phần truyền thông BTS (BTS Media), dưới sự hướng dẫn của giảng viên
Vũ Ngọc Thắngvà các cô chú, anh chị phòng kinh doanh của Công ty cổ phần truyền
thông BTS, em đã chọn đề tài: “Giải pháp Marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho chương trình Thế giới phương tiện tại công ty cổ phần truyền thông BTS (BTS Media)”
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
- Trên cơ sở phân tích thực trạng đó rút ra những tồn tại, nguyên nhân, kiến nghị
và đưa ra một số giải pháp hoạt động Marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh chochương trình Thế giới phương tiện tại công ty cổ phần truyền thông BTS (BTS Media)
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Khái quát những vấn đề cơ sở lý luận thực tiễn về công tác tiêu thụ sản phẩm và
mở rộng thị trường.các giải pháp marketing tại doanh nghiệp
Trang 9- Đánh giá thực trạng hoạt động Marketing của chương trình Thế giới phương tiện tại công ty cổ phần truyền thông BTS (BTS Media) qua đó đưa ra những tồn tại, nguyên nhân của chương trình
- Đề xuất một số giải pháp Marketing và kiến nghị để nâng cao năng lực cạnh tranh cho chương trình Thế giới phương tiện tại công ty cổ phần truyền thông BTS (BTS Media)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động Marketing và năng lực cạnh tranh của chương trình Thế giới phương tiện tại công ty cổ phần truyền thông BTS (BTS Media)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Tại công ty cổ phần truyền thông BTS (BTS Media)
- Phạm vi thời gian: các dữ liệu thứ cấp thu thập trong khoảng thời gian từ năm
2011 đến năm 2013 Giải pháp đề xuất đến năm 2017
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: Nghiên cứu số liệu sơ cấp, thứ cấp, điều tra
nghiên cứu sổ sách
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Đánh giá thực trạng hoạt động marketing chương trình Thế giới phương tiện tại công ty cổ phần truyền thông BTS (BTS Media)
- Phương pháp xử lý số liệu, thống kê và so sánh
5 Kết cấu
Ngoài lời mở đầu, mục lục và kết luận, khóa luận của em có 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về hoạt động Marketing và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng về hoạt động marketing của chương trình Thế giới phương tiện tại công ty cổ phần truyền thông BTS (BTS Media)
Chương 3: Những giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của chương trình Thế giới phương tiện tại công ty cổ phần truyền thông BTS (BTS Media)
Trang 10CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Lý luận chung về marketing
1.1.1 Định nghĩa marketing
Trên thế giới, trải qua nhiều giai đoạn phát triển trong nền kinh tế, có nhiều cách định nghĩa về Marketing khác nhau của các nhà kinh tế học đến từ các nước như của Philip Kotler, Peter Drucker, Ủy ban hiệp hội Marketing Mỹ…
Theo giới học giả kinh tế tư bản chủ nghĩa thì Marketing là một căn cứ có vai trò,
có ý nghĩa cả về lý luận lẫn hoạt động thực tiễn, đặc biệt quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Marketing được coi là một khoa học kinh tế, một nghệ thuật kinh doanh Nó không ngừng phát huy tác dụng và không ngừng được bổ sung và phát triển Mỗi nhà khoa học trên thế giới đưa ra những định nghĩa khác nhau về Marketing:
- Theo Philip Kotler- Chủ tịch hiệp hội Marketing thế giới: “Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì
họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác.”
- Theo Peter Drucker- nhà kinh tế học cận đại Mỹ: “Marketing là toàn bộ những công việc kinh doanh nhìn theo quan điểm của người tiêu thụ.”
- Theo Ủy ban hiệp hội Marketing Mỹ: “Marketing là việc tiến hành các hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng chuyển vận hàng hóa và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng.”
- Theo John H.Crighton (Australia): “Marketing là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đúng kênh hay luồng hàng đúng thời gian và đúng địa điểm.”
Từ những định nghĩa trên chúng ta thấy cách hiểu về Marketing vô cùng phong phú đa dạng và nó phù hợp với từng thời gian, từng thời điểm Tuy nhiên tóm lược chung lại Marketing là quá trình tổ chức lực lượng bán hàng nhằm bán được những hàng hóa do công ty sản xuất ra, là quá trình quảng cáo và bán hàng Marketing là tìm hiểu và thoải mãn nhu cầu thị trường Hay Marketing là nghiên cứu thị trường Chúng
ta cũng có thể hiểu rằng Marketing là các cơ chế kinh tế và xã hội mà các tổ chức và
cá nhân sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của mình thông qua quy trình trao đổi sản phẩm trên thị trường
Trang 112
1.1.2 Những khái niệm cốt lõi của Marketing
Từ định nghĩa về Marketing của Philip Kotler dẫn đến những những khái niệm cốt lõi về nhu cầu, mong muốn, yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ, thị trường, Marketing và những người làm Marketing Những khái niệm cốt lõi này được minh họa trong hình sau:
Hình 1.1 Những khái niệm cốt lõi của Marketing
(Nguồn: Marketing căn bản- Philip Kotler)
Từ hình ảnh về những khái niệm cốt lõi của Marketing cho thấy điểm xuất phát của Marketing xuất phát từ nhu cầu và mong muốn của con người từ đó gợi mở nên sự
có mặt của sản phẩm Khách hàng sẽ phải quyết định chi phí bỏ ra và từ đó có sự so sánh tổng giá trị chi phí với lợi ích mà sản phẩm đem lại để đánh giá về mức độ hài lòng với sản phẩm Tuy nhiên, hoạt động marketing chỉ có thể xảy ra khi khách hàng quyết định thỏa mãn các mong muốn của mình qua việc trao đổi và giao dịch Quan niệm về trao đổi tất yếu dẫn đến quan niệm về thị trường với tập hợp những người mua hay những khách hàng tiềm năng đối với một sản phẩm
1.1.2.1 Nhu cầu mong muốn và yêu cầu
Nhu cầu của con người là một trạng thái thiếu hụt một sự thoả mãn cơ bản nào
đó Những nhu cầu của con người không phải do xã hội hay những người làm marketing tạo ra Chúng tồn tại như một bộ phận cấu thành cơ thể con người và nhân thân con người
Mong muốn là sự ao ước có được những thứ cụ thể để thỏa mãn những nhu cầu sâu xa hơn Mong muốn của con người không ngừng phát triển và được định hình bởi các lực lượng và định chế xã hội như nhà thờ, trường học, gia đình, các công ty kinh doanh
Yêu cầu là mong muốn có được những sản phẩm cụ thể được hậu thuẫn của khả năng và thái độ sẵn sàng mua chúng Mong muốn trở thành yêu cầu khi có sức mua hỗ trợ Vì vậy doanh nghiệp không những phải đinh lượng xem có bao nhiêu người mong muốn có sản phẩm của mình mà điều quan trọng hơn là định lượng xem có bao nhiêu người thực sự sẵn sàng và có khả năng mua nó
Giá trị chi phí và sự hài lòng
Trao đổi giao dịch
và các mối quan hệ
Thị trường
Marketing
và người làm Marketing
Trang 121.1.2.2 Sản phẩm
Sản phẩm có thể là cả hàng hóa lẫn dịch vụ Sản phẩm là bất cứ thứ gì có thể đem bán và giúp thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn của khách hàng
Ý nghĩa quan trọng của sản phẩm vật chất bắt nguồn không phải từ việc sở hữu
mà là từ việc có được những dịch vụ chúng đem lại
Doanh nghiệp cần không chỉ chú trọng đến các sản phẩm vật chất mà cần quan tâm nhiều hơn đến những dịch vụ mà sản phẩm đó thực hiện
1.1.2.3 Giá trị chi phí và sự thỏa mãn
Khách hàng đánh giá khả năng của từng sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của mình Qua đó có thể xếp hạng các sản phẩm từ loại thỏa mãn nhiều nhu cầu nhất đến loại thỏa mãn ít nhu cầu nhất
Giá trị chi phí là sự đánh giá của người tiêu dùng về khả năng chung của sản phẩm thoải mãn từng nhu cầu của mình
1.1.2.4 Trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ
Theo Philip Kotler việc con người có những nhu cầu mong muốn và có thể gắn cho các sản phẩm một giá trị vẫn chưa nói lên hết được ý nghĩa của marketing Marketing xuất hiện khi người ta quyết định thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi Trao đổi là một trong bốn cách để khách hàng có được sản phẩm Trao đổi là hành động tiếp nhận một sản phẩm mong muốn từ doanh nghiệp bằng cách đưa lại cho doanh nghiệp một thứ gì đó Trao đổi chỉ xảy ra khi thỏa mãn đủ những điều kiện sau:
- Ít nhất phải có hai bên
- Mỗi bên phải có một thứ gì đó có thể có giá trị đối với bên kia
- Mỗi bên phải có khả năng tự giao dịch và chuyển giao hàng hóa của mình
- Mỗi bên đều có quyền tự do chấp nhận hay khước từ lời đề nghị của bên kia
- Mỗi bên đều tin chắc là mình nên hay muốn giao dịch với bên kia
Giao dịch đòi hỏi phải có một yếu tố: ít nhất có hai giá trị, những điều kiện thực hiện đã được thỏa thuận, thời gian thực hiện đã thỏa thuận, địa điểm thực hiện đã được thỏa thuận Các doanh nghiệp cần theo dõi các vụ giao dịch của mình và phân loại chúng theo mặt hàng, giá cả, địa điểm và những biến cố khác
Bản chất của Marketing là giao dịch Marketing giao dịch là một bộ phận có ý tưởng lớn lớn hơn marketing quan hệ Những người làm marketing cần cố gắng xây dựng những quan hệ lâu dài, đáng tin cậy, cùng có lợi với những khách hàng lớn,
Trang 134
những người phân phối, đại lý và những người cung ứng Việc này được thực hiện bằng cách hứa hẹn và luôn đảm bảo chất lượng cao dịch vụ chu đáo và giá cả phải chăng cho phía bên kia Ngoài ra còn được thực hiện bằng cách xây dựng những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ về kinh tế, kỹ thuật và xã hội với các bên đối tác
1.1.2.5 Thị trường
Thị trường bao gồm tất cả các khách hàng hiện tại và tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó
Quy mô của thị trường phụ thuộc vào một số người có nhu cầu và có những tài nguyên được người khác quan tâm và sẵn sàng đem lại những tài nguyên đó để đổi lại lấy cái mà họ mong muốn
Khái niệm thị trường đã giúp làm sáng tỏ rõ hơn khái niệm marketing Marketing
có nghĩa là hoạt động của con người diễn ra trong mối quan hệ với thị trường Marketing có nghĩa là làm việc với thị trường để biến những trao đổi tiềm ẩn thành hiện thực với mục đích là thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người
1.1.3 Vai trò và chức năng của marketing
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh, một cơ thể sống của đời sống kinh tế và doanh nghiệp khó có thể tồn tại và phát triển mà không cần các hoạt động marketing Marketing có vai trò và chức năng vô cùng quan trọng quyết định và điều phối các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường
1.1.3.1 Vai trò của marketing trong doanh nghiệp
Marketing giúp doanh nghiệp cung cấp những sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu của người tiêu dùng
Giúp cải tiến sản phẩm, gia tăng dịch vụ, định giá phù hợp ứng phó với những biến động thị trường, giải phóng sản phẩm tồn đọng
Ứng phó với các đối thủ cạnh tranh, giành thị phần
Kích thích nhu cầu sử dụng, khuyến khích sử dụng sản phẩm mới của khách hàng nhằm nâng cao doanh số của công ty
Marketing quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường Đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường, nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh
Trang 141.1.3.2 Chức năng của marketing trong doanh nghiệp
Marketing có các chức năng riêng mà các bộ phận khác trong doanh nghiệp không thực hiện được Chức năng của Marketing mang tính độc lập tương đối với các chức năng quản trị khác trong công ty Tuy nhiên để thực hiện được hoạt động của mình, bộ phận Marketing cần được sự hỗ trợ phối hợp chặt chẽ của các chức năng khác trong doanh nghiệp Bộ phận Marketing làm rõ bốn vấn đề cơ bản sau của doanh nghiệp:
- Hiểu rõ khách hàng: Khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp, đặc điểm của nhóm khách hàng mục tiêu này, nhu cầu, mong muốn của nhóm khách hàng mục tiêu
- Hiểu rõ môi trường kinh doanh: Những tác động tích cực, tiêu cực môi trường kinh doanh mang đến doanh nghiệp
- Hiểu rõ đối thủ cạnh tranh: Tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp, những điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ cạnh tranh
- Marketing mix: Sử dụng những giải pháp Marketing thích hợp để tác động đến khách hàng Đây là vũ khí chủ động trong tay doanh nghiệp để tấn công vào thị trường mục tiêu
Tùy vào từng hệ thống quản trị của mỗi doanh nghiệp, chức năng của Marketing
có thể khác nhau trong mỗi doanh nghiệp Nhưng nói chung Marketing có một số chức năng cơ bản sau:
- Chức năng làm thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trường: Marketing tiến hành nghiên cứu nhu cầu thị trường và khách hàng để xác định những mong muốn của khách hàng về sản phẩm Marketing không làm những công việc của một nhà kỹ thuật
mà nó giúp chỉ ra cho nhà sản xuất phải sản xuất sản phẩm gì, như thế nào, chất lượng
ra sao và thời điểm thích hợp để đưa ra thị trường
- Chức năng phân phối sản phẩm: Toàn bộ các hoạt động gắn liền với quá trình vận động của hàng hóa từ sau khâu sản xuất đến quá trình vận chuyển đến trung gian thương mại, bán buôn, bán lẻ và người tiêu dùng cuối cùng Marketing là các hoạt động nhằm tổ chức vận động tối ưu sản phẩm và quá trình này bao gồm nhiều bước liên quan với nhau: lựa chọn người tiêu thụ, hướng dẫn khách hàng kí hợp đồng và thuê muốn phương tiện vận tải, tổ chức hợp lý hệ thống kho hàng hóa các hoạt động
hỗ trợ cho người tiêu thụ, tổ chức bao bì bao gói để tiêu thụ để vận dụng tối đa sức chứa của hệ thống kho hàng hóa, nhanh chóng phát hiện những hạn chế, những ách tắc trong hệ thống phân phối và điều chỉnh chúng
Trang 156
- Chức năng tiêu thụ: Nghiên cứu khách hàng và người tiêu thụ, ấn định và kiểm soát giá bán, lựa chọn các phương pháp và công nghệ bán thích hợp, tổ chức lực lượng bán để quyết định sức bán, tổ chức quảng cáo và khuyến mại, tổ chức các yếu tố hậu cần kinh doanh của công ty như vận chuyển, quản trị bán, thực hiện các dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng
- Chức năng hỗ trợ: Đây là một chức năng đặc biệt quan trọng của Marketing Đó chính là các hoạt động hỗ trợ liên quan đến quảng cáo, xúc tiến cho người tiêu dùng cuối cùng của mình Một số hoạt động điển hình như phân loại sản phẩm, quảng cáo, xúc tiến bán hàng, tham gia các hội chợ thương mại, các dịch vụ yểm trợ cho sản phẩm, quan hệ công chúng, tổ chức tín dụng thương mại và dịch vụ, phát triển tổ chức xúc tiến thương mại, hợp lý hóa hệ thống thông tin thị trường
- Chức năng điều hòa phối hợp: Marketing thực hiện điều hòa tổng hợp toàn công ty, phối hợp với các bộ phận chức năng khác của công ty Điều hòa phối hợp nội
bộ, tổ chức vận hành các chức năng marketing Marketing không chỉ giúp đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà còn làm hài lòng toàn bộ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp (Marketing bên trong) Đây cũng là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp thực hiện lý tưởng hóa triết lý Marketing
1.2 Lý luận chung về các giải pháp marketing
1.2.1 Vai trò của xây dựng giải pháp marketing trong doanh nghiệp
Xây dựng giải pháp Marketing cho từng thời kì là hoạt động hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp thương mại Giải pháp Marketing giúp doanh nghiệp tìm kiếm những thông tin hữu ích về thị trường, có điều kiện mở rộng thị trường và tăng quy mô kinh doanh
Để xây dựng các giải pháp Marketing cần sử dụng các công cụ Marketing Các công cụ này giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường tăng thị phần, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ bằng cách nâng cao khả năng cạnh tranh và làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng Ngoài ra các giải pháp Marketing trong từng thời điểm còn giúp doanh nghiệp nắm vững cơ hội, nguy cơ, hiểu rõ điểm mạnh, điểm yếu của mình trên cơ sở đó có khả năng đối phó với những biến động của thị trường và có được chiến lược thích hợp Vai trò của các giải pháp Marketing chỉ có thể đạt được nếu doanh nghiệp xây dựng một kế hoạch Marketing hợp lý, tức là có sự gắn kết chặt chẽ của các giải pháp Marketing mix, của mọi bộ phận hướng về thị trường mục tiêu đã lựa chọn Xây dựng đúng các giải pháp về Marketing sẽgiúp tạo điều kiện thuận lợi thực hiện nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 161.2.2 Bản chất của việc xây dựng giải pháp Marketing
Việc xây dựng các giải pháp Marketing chính là các quyết định cách thức mà doanh nghiệp thực hiện để đạt được mục tiêu Marketing và nó thường liên quan đến 7P của marketing-mix Trước khi xây dựng các giải pháp về Marketing doanh nghiệp cần xem xét và tìm hiểu kĩ về khách hàng, khả năng của doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh Cụ thể như sau:
- Căn cứ vào khách hàng: Khách hàng là cơ sở của mọi giải pháp, để giải pháp Marketing dựa vào khách hàng, khi xây dựng giải pháp Marketing thì doanh nghiệp phải phân đoạn thị trường theo mục đích sử dụng và theo khả năng đáp ứng thị trường
- Căn cứ vào khả năng doanh nghiệp: Khai thác tối đa các lợi thế của doanh nghiệp mình để tạo sự khác biệt
- Căn cứ vào đối thủ cạnh tranh: Cạnh tranh lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh và tập trung cho các phân đoạn mà doanh nghiệp cho là tốt nhất
1.2.3 Quy trình xây dựng giải pháp marketing cho doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp có những quy trình riêng để xây dựng giải pháp marketing cho doanh nghiệp của mình theo từng thời điểm Nhưng thông thường đều phải trải qua những bước sau:
- Phân tích môi trường marketing
- Phân tích SWOT
- Phân đoạn thị trường
Sau đó doanh nghiệp sẽ phải căn cứ vào những yếu tố khác như tiềm lực tài chính của công ty, định hướng hoạt động trong giai đoạn tới để xây dựng các giải pháp marketing liên quan đến sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến, con người, quy trình, cơ
sở vật chất trang thiết bị
1.2.3.1 Phân tích môi trường marketing
Tất cả các doanh nghiệp đều hoạt động trong một môi trường nhất định Các doanh nghiệp đều bị bao bọc và đối đầu với những lực lượng bên ngoài Nhà quản lý không thể điều chỉnh sự tồn tại khách quan của những lực lượng môi trường bên ngoài nhưng chúng lại có tác động và gây ảnh hưởng tới thái độ khách hàng và sự phát triển hỗn hợp Marketing có hiệu quả của doanh nghiệp Môi trường Marketing được phân tích theo 2 nhóm yếu tố: môi trường vi mô và môi trường vĩ mô
Trang 178
- Môi trường vi mô: Là tổng thể các tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
marketing của doanh nghiệp bao gồm: doanh nghiệp, các nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh, các trung gian marketing, các khách hàng và công chúng
+ Doanh nghiệp:Phân tích doanh nghiệp với tư cách một tác nhân thuộc môi
trường vi mô, nhà quản trị marketing sẽ xem xét vai trò của bộ phận marketing trong doanh nghiệp, mối quan hệ và tác động hỗ trợ của các bộ phận sản xuất, tài chính, nhân sự đối với bộ phận marketing.Bộ phận marketing của doanh nghiệp có trách nhiệm hoạch định và triển khai thực hiện chiến lược, các kế hoạch, chính sách và chương trình marketing thông qua các hoạt động quản trị như nghiên cứu marketing, quản trị nhãn hiệu, quản trị lực lượng bán, Các nhà quản trị marketing cũng phải phối hợp hoạt động với các bộ phận chức năng khác như bộ phận tài chính để đảm bảo ngân sách cần thiết cho việc thực thi các kế hoạch marketing, phân bổ ngân sách cho các sản phẩm, nhãn hiệu khác nhau và các hoạt động marketing khác; bộ phận nghiên cứu và phát triển để nghiên cứu cải tiến hay thiết kế sản phẩm mới thành công; bộ phận sản xuất nhằm huy động năng lực sản xuất (thiết bị, nhân lực) đáp ứng yêu cầu sản xuất theo kế hoạch; bộ phận kế toán để hạch toán chi phí và thu nhập giúp cho việc điều hành hoạt động marketing có hiệu quả.Ngoài ra, cần phải đánh giá khả năng marketing, những điểm mạnh và điểm yếu của hoạt động marketing của doanh nghiệp
so với các đối thủ cạnh tranh để lựa chọn giải pháp marketing giúp nâng cao năng lực cạnh tranh và thiết kế các chính sách marketing phù hợp
+ Các nhà cung cấp: Nhà cung cấp là tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh cung
cấp nguyên vật liệu cần thiết cho việc sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh Doanh nghiệp cần xác định rõ đặc điểm của chúng, tìm kiếm nguồn cung cấp, chất lượng và lựa chọn nhà cung cấp tốt nhất về chất lượng, uy tín giao hàng, độ tin cậy và đảm bảo giá hạ Những biến đổi trong việc cung cấp có thể tác động quan trọng đến hoạt động marketing của doanh nghiệp Các nhà quản trị marketing cần theo dõi các thay đổi về giá cả của những cơ sở cung cấp chính yếu của mình Việc tăng giá phí cung cấp có thể buộc phải tăng giá cả, điều sẽ làm giảm sút doanh số dự liệu của doanh nghiệp Các nhà quản trị marketing cần phải quan tâm đến mức độ có thể đáp ứng của các nhà cung cấp về nhu cầu các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Sự khan hiếm nguồn cung cấp sẽ ảnh hưởng đến tính đều đặn trong kinh doanh, và do vậy ảnh hưởng đến khả năng phục vụ khách hàng của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần xây dựng mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp chủ yếu Trong những thời kỳ khan hiếm, doanh nghiệp cũng cần phải làm marketing đối với các nhà cung cấp để mua được nguồn nguyên liệu cần thiết
Trang 18+ Các trung gian Marketing: Là những cơ sở kinh doanh hỗ trợ doanh nghiệp
trong việc cổ động, bán hàng và giao hàng của doanh nghiệp đến tận tay người tiêu dùng Họ bao gồm: các trung gian phân phối sản phẩm (đại lý, bán buôn, bán lẻ, môi giới ), các cơ sở hỗ trợ hoạt động phân phối (kho bãi, cơ sở vận chuyển…), các cơ sở dịch vụ marketing, các trung gian tài chính Doanh nghiệp cần phân tích đặc điểm tình hình hoạt động của các trung gian để có chính sách thích hợp nhằm thiết lập và duy trì các mối quan hệ tích cực, đồng thời cũng có những phản ứng điều chỉnh, thay đổi chính sách thích hợp với các hoạt động thay đổi của bên trung gian Các trung gian phân phối sản phẩm là những nơi trực tiếp trưng bày sắp xếp sản phẩm, vì vậy họ chính là những người gián tiếp thực hiện các hoạt động marketing cho doanh nghiệp Ngoài ra, họ còn là trung gian thực hiện các chương trình khuyến mại tặng quà, đổi trả thưởng Vì vậy doanh nghiệp cũng cần theo dõi sát sao, đảm bảo các trung gian marketing thực hiện theo đúng cam kết và tạo điều kiện thuận lợi để họ có thể thực hiện tốt theo những giải pháp marketing mà công ty đã đề ra
+ Khách hàng: Là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của doanh
nghiệp vì vậy cần nghiên cứu kĩ thị trường khách hàng Có thể phân chia các đối tượng khách hàng thành 5 loại: thị trường người tiêu dùng, thị trường doanh nghiệp sản xuất, thị trường người bán lại, thị trường quốc tế và thị trường các tổ chức phi lợi nhuận Mỗi nhóm khách hàng có một đặc trưng riêng phản ánh quá trình mua sắm của họ Do
đó doanh nghiệp phải có chính sách đáp ứng nhu cầu từng nhóm cho phù hợp Hơn nữa khách hàng cũng là những người trực tiếp ảnh hưởng đến việc xây dựng các giải pháp marketing phù hợp cho mỗi doanh nghiệp Ví dụ như nhóm đối tượng khách hàng của sản phẩm là phụ nữ trong độ tuổi từ 20-40 thì doanh nghiệp cần chú trọng trong khâu đóng gói bao bì sản phẩm có thể là các màu sắc rực rỡ, bao bì bắt mắt hay lựa chọn các phương tiện để quảng cáo là các tạp chí về phụ nữ, chương trình truyền hình dành riêng cho nữ giới…
+ Các đối thủ cạnh tranh:Đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng lớn đến doanh
nghiệp, doanh nghiệp có cạnh tranh thì mới có khả năng tồn tại, ngược lại sẽ bị đẩy lùi
ra khỏi thị trường bởi các đối thủ Phân tích đối thủ cạnh tranh chủ yếu, điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ và đặc điểm của thị trường cạnh tranh là điều mà doanh nghiệp cần lưu ý từ đó có thể nâng cao hoạt động của mình phục vụ khách hàng tốt hơn Các hoạt động marketing của đối thủ cạnh tranh cũng ảnh hưởng trực tiếp đến công ty Nếu đối thủ liên tục đưa ra các chương trình khuyến mãi hay giảm giá tặng quà có thể sẽ thu hút mất lượng khách hàng của công ty Vì vậy theo từng thời điểm tùy thuộc vào các hoạt động của đối thủ cạnh tranh mà doanh nghiệp cần phải đưa ra các giải pháp marketing khác nhau để có thể duy trì lượng khách hàng trung thành và nâng cao lợi thế cạnh tranh
Trang 1910
+ Công chúng:Là một nhóm người bất kì quan tâm đến doanh nghiệp có thể
có tác động hỗ trợ hoặc là chống lại nỗ lực của công ty nhằm phục vụ thị trường Công chúng bao gồm công chúng tài chính, công luận, công chúng chính quyền, giới hoạt động xã hội, công chúng địa phương, công chúng nội bộ và công chúng tổng quát Nhóm công chúng đặc biệt ảnh hưởng đến các hoạt động PR của công ty Trong trường hợp doanh nghiệp được công chúng quan tâm và chú ý sẽ giúp doanh nghiệp có thể khuếch trương thương hiệu và được mọi người biết đến nhiều hơn Tùy thuộc vào thái độ từ phía công chúng mà doanh nghiệp có thể có những giải pháp marketing khác nhau như để lấy lại niềm tin từ phía khách hàng hay các chính sách tiếp tục giữ hình ảnh tốt của công ty trong lòng mọi người…
- Môi trường vĩ mô: Ngoài các tác nhân thuộc môi trường vi mô, doanh nghiệp
cần phải phân tích những tác động và xu hướng của các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
để đảm bảo các kế hoạch và chính sách marketing thích ứng với các tác động và sự biến đổi của môi trường Môi trường vĩ mô bao gồm: môi trường văn hóa xã hội, môi trường chính trị luật pháp, môi trường kinh tế và công nghệ, môi trường địa lý
+ Môi trường văn hóa xã hội: Người làm Marketing cần chú ý khi nghiên cứu phân bố dân cư theo khu vực địa lý và mật độ dân cư, xu hướng di dân, phân bổ dân số theo độ tuổi, tình trạng hôn nhân, tỷ lệ sinh đẻ, cấu trúc tôn giáo, các giá trị và tiêu chuẩn của xã hội, những tiêu chuẩn đạo đức được xã hội thừa nhận Đây là yếu tố quyết định hành vi khách hàng, người tiêu dùng và ảnh hưởng đến nội dung hoạt động marketing của doanh nghiệp, đặt biệt là hoạt động phân khúc thị trường Chẳng hạn những vùng có nhiều người lớn tuổi thì sẽ có nhu cầu cao đối với các dịch vụ y tế – bảo vệ sức khỏe, còn những vùng có nhiều trẻ em thì sẽ có nhu cầu cao đối với các dịch vụ giáo dục, sản phẩm quần áo, đồ chơi… Hoặc những vùng mà thu nhập và đời sống người dân được nâng cao thì sức mua của người dân tăng lên rất nhanh, điều này tạo ra những cơ hội thuận lợi cho các nhà sản xuất Trong các hoạt động xúc tiến, người làm Marketing sẽ phải tùy thuộc vào yếu tố văn hóa xã hội để đưa ra nhưng chương trình xúc tiến phù hợp đặc biệt là các doanh nghiệp đa quốc gia trước khi thâm nhập thị trường cần lưu ý bởi rào cản về ngôn ngữ, phong tục tập quán có thể gây trở ngại cho các chiến dịch marketing của họ Ví dụ như trường hợp của gà rán KFC, câu slogan nổi tiếng của họ là “Vị ngon trên từng ngón tay” nhưng khi thâm nhập một thị trường mới với rào cản về ngôn ngữ nó đã được hiểu thành “Hãy ăn những ngón tay của bạn”
+ Môi trường chính trị luật pháp: Các quyết định Marketing chịu tác động mạnh mẽ của những biến đổi trong môi trường chính trị và pháp luật Môi trường này được tạo ra từ hệ thống luật pháp, các tổ chức chính quyền và gây ảnh hưởng cũng như
Trang 20ràng buộc các hành vi của tổ chức trong xã hội.Môi trường chính trị luật pháp cũng tác động nhiều mặt đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Luật pháp, thể chế sẽ quy định cách thức thành lập doanh nghiệp, các công việc giấy tờ trong quá trình hoạt động, các quyền lợi và điều cấm kỵ trong sản xuất, kinh doanh Trong khi đó, doanh nghiệp cũng phải đáp ứng về mặt đạo đức trong sản xuất, kinh doanh: không sản xuất, hàng giả, hàng nhái, hàng hóa/dịch vụ kém chất lượng, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người dân trong xã hội Ở thị trường Việt Nam một số mặt hàng bị cấm quảng cáo trên đài truyền hình như thuốc lá, rượu mạnh… Các doanh nghiệp kinh doanh những sản phẩm này cũng cần lưu ý để thay thế bằng các công cụ xúc tiến khác phù hợp
+ Môi trường kinh tế: môi trường kinh tế bao gồm các nhân tố tác động đến sức mua của khách hàng và cách thức tiêu dùng Người làm Marketing phải lưu ý các
xu hướng chính trong thay đổi thu nhập và động thái thay đổi tiêu dùng của khách hàng Trong trường hợp nền kinh tế gặp khủng hoảng, cần có những bước thay đổi cần thiết để thay thế sản phẩm giảm chi phí và vượt qua trở ngại Yếu tố kinh tế tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như lãi suất, tỉ giá hối đoái, thuế thu nhập doanh nghiệp, trợ cấp, lạm phát, Ví dụ, khi lãi suất cho vay giảm, doanh nghiệp có thể tiếp cận với nguồn vốn vay và mở rộng sản xuất, kinh doanh Hoặc khi chính phủ tăng thuế thu nhập doanh nghiệp, buộc doanh nghiệp phải tăng giá sản phẩm, thắc chặt chi tiêu Ngoài ra còn yếu tố kinh tế tác động gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như thu nhập cá nhân, thuế thu nhập cá nhân Hai yếu tố này tác động đến khách hàng của doanh nghiệp và gián tiếp tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ, khi thu nhập hàng tháng của người tiêu dùng giảm do khủng hoảng kinh tế, họ sẽ có xu hướng tìm đến các sản phẩm, dịch vụ có giá thành rẻ, tương đối nhằm tiết kiệm chi tiêu, vì thế, lượng khách hàng mua các sản phẩm, dịch vụ cao cấp sẽ giảm đi Ngoài ra các con số phản ánh về nền kinh tế của một thị trường cũng giúp người làm Marketing có được giải pháp phù hợp như ở một nền kinh tế phát triển các yếu tố về sản phẩm, bao bì, hình ảnh cũng yêu cầu cao hơn ở thị trường các nước kém phát triển Cocacola đã có chiến dịch Marketing được đánh giá rất cao vào năm 2014 khi nắm bắt được tình hình kinh tế ở các nước nghèo Nam Á,
và được sự ủng hộ rất lớn của người dân nghèo nơi đây Chiến dịch mang đậm tính nhân văn này dựa trên tình hình kinh tế yếu kém, người nam giới ở nơi đây thường phải đi làm xa nhà, và do điều kiện kinh tế không có nên việc nói chuyện điện thoại với người thân là rất khó với mỗi người Cocacola đã đưa ra thông điệp khiến cho người dùng tin rằng giá trị Cocacola mang lại cho họ lớn hơn những gì họ bỏ ra khi cứ mỗi nắp chai sẽ được đổi lấy 3 phút gọi điện thoại cho người thân thông qua những cây điện thoại công cộng do Cocacola lắp đặt trên đường
Trang 2112
+ Môi trường công nghệ: Sự tác động mãnh liệt nhất đến cuộc sống con người ngày nay là công nghệ Môi trường công nghệ tác động đến quản trị marketing rất đa dạng, tùy thuộc vào khả năng công nghệ của doanh nghiệp mà những tác động này có thể đem lại cơ hội hoặc thách thức với việc đổi mới, thay thế sản phẩm, chu kì sống của sản phẩm chi phí sản xuất của doanh nghiệp
+ Môi trường địa lý: Sự biến đổi môi trường tự nhiên trở thành cơ hội và cả
đe dọa đến doanh nghiệp Doanh nghiệp cần tư duy và tìm ra những định hướng phù hợp với các điều kiện thay đổi của môi trường như sự khan hiếm các nguồn nhiên liệu, mức độ ô nhiễm gia tăng, chi phí về năng lượng… Ví dụ như ở những vùng đất bị ô nhiễm môi trường thì các thông điệp marketing về việc đảm bảo vệ sinh không gây hại đến môi trường sẽ được người dân quan tâm hơn Hay các doanh nghiệp thay đổi bao
bì sản phẩm bằng túi giấy bảo vệ môi trường cũng được sự đồng tình ủng hộ của khách hàng và nhóm đối tượng công chúng
Tóm lại sự thành công về marketing của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào việc xây dựng giải pháp và các chính sách marketing đúng đắn phù hợp với những thay đổi của môi trường marketing Môi trường marketing tác động đến khả năng quản trị marketing, trong việc phát triển cũng như duy trì các trao đổi có lợi đối với các khách hàng mục tiêu Việc phân tích môi trường marketing sẽ giúp doanh nghiệp phát hiện các cơ hội và đe dọa đối với hoạt động marketing, vì vậy doanh nghiệp cần phải vận dụng các khả năng nghiên cứu của mình để dự đoán những thay đổi của môi trường
1.2.3.2 Phân tích SWOT
Phân tích SWOT là một trong những bước hình thành chiến lược marketing của một doanh nghiệp SWOT là tập hợp viết tắt của những chữ cái đầu tiên trong tiếng anh: Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội), và Threats (thách thức)
- Điểm mạnh là những tố chất nổi trội xác thực và rõ ràng của doanh nghiệp, bao gồm:
+ Nguồn lực, tài sản, con người: Các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính vững mạnh sẽ là điều kiện thuận lợi để thực hiện các hoạt động marketing bởi bất cứ hoạt động nào cũng cần nguồn kinh phí Hơn nữa nếu trong doanh nghiệp lực lượng nhân
sự về marketing có nền tảng và năng lực tốt sẽ giúp đưa ra những giải pháp hiệu quả
về marketing cho công ty mà không cần thuê ngoài
+ Giá cả chất lượng sản phẩm: Đây là yếu tố đầu tiên giúp nâng cao vị thế cạnh tranh cho doanh nghiệp so với các đối thủ Nhiều doanh nghiệp cũng tối giản các loại chi phí để định giá thấp sản phẩm nhằm thu hút sự quan tâm của khách
Trang 22hàng Chất lượng sản phẩm tốt có nhiều tính năng vượt trội cũng là yếu tố giúp thu hút người tiêu dùng
+ Chứng nhận công nhận: Yếu tố này giúp nâng cao lòng tin sự trung thành của khách hàng với doanh nghiệp Ngoài ra trong nhiều chiến dịch quảng cáo, trên các bao bì sản phẩm doanh nghiệp cũng tận dụng các chứng nhận công nhận để gia tăng sự
uy tín cho các sản phẩm của mình
+ Quy trình hệ thống kĩ thuật: Quy trình giúp doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng dịch vụ tốt nhất Hệ thống kĩ thuật tiên tiến được đổi mới và cập nhập thường xuyên cũng giúp cho công ty cung cấp ra thị trường chất lượng sản phẩm tốt nhất đến tay người tiêu dùng
+ Kế thừa, văn hóa, quản trị
- Điểm yếu chính là những lĩnh vực mà doanh nghiệp làm chưa tốt, những yếu
tố ở bên trên nếu không tồn tại trong điểm mạnh của doanh nghiệp thì sẽ là những điểm yếu
- Cơ hội là những tác động từ môi trường bên ngoài giúp hỗ trợ việc kinh doanh của doanh nghiệp tốt hơn Những tác nhân này có thể gồm:
+ Sự phát triển nở rộ của thị trường: Thị trường ngày càng phát triển dẫn đến sức mua của khách hàng gia tăng, qua đó công ty cần có chiến lược marketing phù hợp để gia tăng độ nhận biết của thương hiệu và giúp cho doanh thu của công ty cũng gia tăng
+ Đối thủ cạnh tranh yếu kém: Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong trường hợp này cần đưa ra những điểm nổi trội so với đối thủ trong các chiến dịch marketing để thu hút sự quan tâm của khách hàng
+ Xu hướng toàn cầu: Giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường quy mô bán hàng Nhưng trước khi thâm nhập thị trường mới doanh nghiệp cần lưu ý nhưng rào cản, các yếu tố đặc điểm của thị trường để đưa ra nhưng quyết định về marketing phù hợp
+ Chính sách pháp luật mở rộng: Đây là cơ hội cho nhiều doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng trước đây bị hạn chế
- Thách thức là những yếu tố bên ngoài gây khó khăn cho việc kinh doanh của doanh nghiệp Các thách thức thường gặp của doanh nghiệp bao gồm:
+ Sự cơ cấu và tổ chức lại ngành nghề
+ Những áp lực khi thị trường biến động
+ Một số kĩ năng trở nên lỗi thời
+ Sự cạnh tranh gay gắt của đối thủ
Trang 2314
+ Không sẵn sàng với sự phát triển của công nghệ
Thông qua phân tích SWOT, doanh nghiệp sẽ nhìn rõ mục tiêu của mình cũng như các yếu tố trong và ngoài tổ chức có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra Trong quá trình xây dựng kế hoạch giải pháp marketing, phân tích SWOT đóng vai trò là một công cụ căn bản nhất, hiệu quả cao giúp doanh nghiệp có cái nhìn tổng thể không chỉ về chính doanh nghiệp mà còn những yếu tố luôn ảnh hưởng và quyết định tới sự thành công của doanh nghiệp bạn
1.2.3.3 Phân đoạn thị trường
Đoạn thị trường là tập hợp một nhóm các khách hàng hiện tại và tiềm năng với một số đặc điểm chung liên quan đến việc giải thích và dự đoán phản ứng của họ đối với các chính sách Marketing của doanh nghiệp
Phân đoạn thị trường là quá trình phân chia thị trường thành từng nhóm có những nhu cầu tương tự nhau, quan điểm như nhau và ứng xử như nhau đối với những sản phẩm cung ứng nhất định Mục đích của việc phân đoạn thị trường để công ty có thể
có cơ hội tốt nhất phục vụ các phân đoạn nhất định gọi là các đoạn thị trường mục tiêu Việc phân đoạn thị trường giúp doanh nghiệp có điều kiện tốt hơn trong việc nghiên cứu các điểm mạnh, điểm yếu các đối thủ cạnh tranh, làm cơ sở định vị và thiết lập các chính sách marketing hiệu quả hơn
Choffray và Lilien đã nghiên cứu và đưa ra năm bước phân đoạn:
- Lựa chọn các yếu tố đo lường sự hấp dẫn của đoạn thị trường và vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp Các yếu tố đo lường sự hấp dẫn bao gồm: các yếu tố thị trường (qui mô, tỷ lệ tăng trưởng, khách hàng, chu kỳ sống của sản phẩm); yếu tố công nghệ và kinh tế; yếu tố cạnh tranh (sản phẩm thay thế, sự khác biệt hóa, mức độ cạnh tranh, môi trường kinh doanh (luật pháp, công nghệ)
- Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp: thị phần tương đối, nguồn lực marketing, về công nghệ, kinh nghiệm, năng lực quản lý
- Xác định tầm quan trọng của từng yếu tố đolường sự hấp dẫn của thị trường
- Đánh giá vị trí hiện tại của từng đoạn thị trường
- Quyết định lựa chọn các đoạn thị trường phù hợp (thị trường mục tiêu)
1.3 Giải pháp marketing hỗn hợp
Phân tích môi trường marketing, phân tích SWOT, phân đoạn thị trường sẽ là tiền đề để đưa ra các giải pháp liên quan đến marketing-mix bao gồm các giải pháp về
Trang 24sản phẩm, giá, phân phối, hoạt động xúc tiến hỗn hợp, con người, quy trình cung cấp sản phẩm dịch vụ, cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật và các yếu tố khác
1.3.1 Giải pháp về sản phẩm
Sản phẩm là những hàng hóa và dịch vụ với những thuộc tính nhất định, với những ích lợi cụ thể nhằm thỏa mãn những nhu cầu đòi hỏi của khách hàng Sản phẩm
có giá trị sử dụng và giá trị hữu hình hoặc vô hình
Trong việc triển khai sản phẩm doanh nghiệp cần suy nghĩ sản phẩm ở 3 mức độ:
- Phần cốt lõi của sản phẩm: nhà quản trị Marketing phải khám phá ra những nhu cầu tiềm ẩn đằng sau mỗi sản phẩm và đem lại những lợi ích chứ không phải chỉ ở những đặc điểm
- Phần cụ thể của sản phẩm
- Cấu tạo một sản phẩm
Tóm lại khi triển khai sản phẩm, các nhà marketing phải xác định những nhu cầu cốt lõi của khách hàng, sau đó phải thiết kế được những sản phẩm cụ thể và tìm cách gia tăng chúng để tạo ra một phức hợp những lợi ích thỏa mãn nhu cầu, ước muốn của khách hàng một cách tốt nhất
1.3.1.1 Nhãn hiệu của sản phẩm
Một sản phẩm cần có một tên hiệu Việc đặt tên hiệu có thể làm tăng giá trị cho sản phẩm Tên hiệu là tên gọi nhằm xác định hàng hóa hay dịch vụ của người bán và phân biệt với hàng hóa của những doanh nghiệp khác
Ngoài ra một sản phẩm còn cần có dấu hiệu và nhãn hiệu Dấu hiệu là những biểu tượng, mẫu vẽ đặc trưng cho một hãng hoặc một sản phẩm Nhãn hiệu là tên hiệu thương mại đã được đăng kí và được luật pháp bảo vệ để tránh hiện tượng làm giả Việc đặt tên hiệu ngày càng phát triển và trở nên cần thiết, khó tìm được sản phẩm nào trên thị trường hiện nay không có tên hiệu Tuy nhiên dù một tên hiệu dù đã được định vị tốt thì sau đó nhà sản xuất cũng cần tái định vị lại Việc tái định vị có thể đòi hỏi thay đổi cả sản phẩm lẫn hình ảnh
1.3.1.2 Bao bì của sản phẩm
Bao bì là một yếu tố trong chiến lược sản phẩm Bao bì có vai trò rất quan trọng Bao bì gồm 3 lớp:
- Bao bì lớp đầu là cái trực tiếp chứa sản phẩm
- Bao bì lớp nhì là bao bì bảo vệ bao bì lớp đầu và sẽ bỏ đi khi ta sắp dùng sản phẩm đó Nó có tác dụng bảo vệ bổ sung, vừa là chỗ để quảng cáo thêm
Trang 2516
- Bao bì vận chuyển là lớp bao bì cần thiết cho việc lưu kho và vận chuyển Bao bì là một công cụ marketing quan trọng Bao bì thu hút khách hàng, mô tả được ích dụng của sản phẩm, tạo niềm tin và ấn tượng tốt đẹp về sản phẩm Bao bì giúp khách hàng dễ dàng nhận ra được sản phẩm hay thương hiệu Bao bì cần phải nhất quán đối với việc quảng cáo, định giá, phân phối và các giải pháp marketing khác
Hình 1.2.Giải pháp trong giai đoạn tung ra thị trường
Thấp Chiến lược xâm
nhập chớp nhoáng
Chiến lược xâm nhập từ từ
( Nguồn: Marketing căn bản- Philip Kotler)
+ Giải pháp hớt váng chớp nhoáng: Doanh nghiệp tung ra thị trường sản phẩm với mức giá cao và mức khuyến mại cao Giải pháp này chỉ thích hợp với những giả thiết như sau: Phần lớn thị trường tiềm ẩn chưa biết đến sản phẩm; những người biết đến đều thiết tha với sản phẩm và có thể trả theo giá chào; công ty đứng trước sự cạnh tranh tiềm ẩn và muốn tạo ra sự ưa thích nhãn hiệu
+ Giải pháp hớt váng chậm: Doanh nghiệp tung sản phẩm mới ra thị trường cao và mức khuyến mãi thấp Giải pháp này chỉ thích hợp khi thị trường có quy mô hữu hạn; phần lớn thị trường điều biết đến sản phẩm đó; người mua sẵn sàng trả giá cao; và sự cạnh tranh tiềm ẩm không có dấu hiệu sắp xảy ra
+ Giải pháp xâm nhập chớp nhoáng: Doanh nghiệp tung sản phẩm ra thị trường với giá thấp và chi phí nhiều cho khuyến mãi Giải pháp này chỉ phù hợp khi thị trường lớn; thị trường chưa biết đến sản phẩm; hầu hết người mua đều nhạy cảm
Trang 26với giá, có tiềm ẩn khả năng cạnh tranh quyết liệt; chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm của công ty giảm dần khi quy mô sản xuất tăng và tích luỹ được kinh nghiệm sản xuất
+ Giải pháp xâm nhập từ từ: Doanh nghiệp tung sản phẩm mới ra thị trường với giá thấp và mức khuyến mãi thấp Giải pháp này chỉ thích hợp khi thị trường lớn; thị trường đã biết rõ sản phẩm; thị trường nhạy cảm với giá; và có sự cạnh tranh tiềm ẩn
- Giai đoạn phát triển: Được đánh dấu bằng mức tiêu thụ tăng nhanh Trong giai đoạn này doanh nghiệp sử dụng một số giải pháp để kéo dài mức tăng trưởng nhanh của thị trường
+ Công ty nâng cao chất lượng sản phẩm, bổ sung thêm những tính chất mới cho sản phẩm và cải tiến kiểu dáng
+ Công ty bổ sung những mẫu mã mới
+ Xâm nhập các khúc thị trường mới
+ Mở rộng phạm vi phân bổ của mình và tham gia các kênh phân phối mới + Chuyển từ quảng cáo mức độ nhận biết đến sản phẩm quảng cáo mức độ ưa thích sản phẩm
+ Giảm giá để thu hút người mua nhạy cảm với giá tiếp sau
- Giai đoạn chín muồi: Ở giai đoạn này nhịp độ tăng trưởng mức tiêu thụ sản phẩm sẽ chững lại tạo ra tình trạng dư thừa năng lực sản xuất trong ngành Các giải pháp trong giai đoạn sung mãn của các doanh nghiệp thường là tìm cách tạo ra những giá trị mới cho khách hàng Người làm Marketing cần xem xét một cách có hệ thống những chiến lược thị trường, sản phẩm và cải tiến Marketing mix
- Giai đoạn suy thoái: Ở giai đoạn này công ty cần phát hiện những sản phẩm yếu kém để có chiến lược cải thiện, thay thế hay loại bỏ phù hợp
Có thể thấy việc phân tích chu kì sống của sản phẩm là một trong những điều cần thiết cho các hoạt động marketing ở mỗi doanh nghiệp nó giúp người làm marketing hiểu rõ hơn quá trình vận động và phát triển của sản phẩm trên thị trường Mỗi giai đoạn trong chu kì sống của sản phẩm có những cơ hội và vấn đề cần giải quyết khác nhau đối với các hoạt động marketing của công ty
1.3.2 Giải pháp về giá
Giá là một trong những biến số quan trọng của marketing- mix Giá đóng vai trò quyết định trong việc mua hàng này hay hàng khác đối với người tiêu thụ Việc định
Trang 2718
giá sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến doanh số và lợi nhuận
Các quyết định về giá của công ty chịu ảnh hưởng của các yếu tố nội tại của công
ty và yếu tố bên ngoài
1.3.2.1 Những yếu tố nội tại ảnh hưởng đến quyết định về giá
- Mục tiêu Marketing: Đóng vai trò định hướng cho việc đặt ra nhiệm vụ của giá
cả Muốn trở thành một công cụ Marketing hữu hiệu thì giá phải phục vụ đắc lực cho chính sách Marketing về thị trường mục tiêu và định vị sản phẩm của doanh nghiệp
Do vậy, khi định giá doanh nghiệp phải căn cứ vào mục tiêu Marketing của doanh nghiệp và chiến lược định vị sản phẩm mà doanh nghiệp đã chọn
- Chính sách marketing: Giá thực chất là một công cụ trong Marketing mix để doanh nghiệp tác động vào thị trường nhằm đạt được mục tiêu đề ra Do vậy, giá phải phục vụ cho mục tiêu Marketing chung của doanh nghiệp Muốn vậy, chính sách về giá cần phải đồng bộ, nhất quán với các hoạt động Marketing mix khác như về sản phẩm, chiến lược phân phối, chiến lược xúc tiến Chẳng hạn, khi mục tiêu của doanh nghiệp là dẫn đầu về chất lượng thì giá phải đặt cao để tạo uy tín và để bù đắp chi phí đảm bảo chất lượng cao Giá bán còn phụ thuộc vào các giai đoạn khác nhau của chu
kỳ sống của sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp cho thị trường
- Phí tổn: Khi đặt giá, doanh nghiệp phải quan tâm đến chi phí cho một đơn vị sản phẩm) vì các lý do sau đây:
+ Chi phí cho một đơn vị sản phẩm là mức giá thấp nhất có thể đặt để doanh nghiệp đủ bù đắp các chi phí cần thiết
+ Khi quản lý được chi phí, doanh nghiệp có thể xác định được mức lỗ lãi của các loại sản phẩm khác nhau mang lại Đây là căn cứ để doanh nghiệp đưa ra các quyết định kinh doanh khác nhau
1.3.2.2 Những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến các quyết định về giá
- Thị trường và nhu cầu: Cầu thị trường cho biết giá cao nhất mà doanh nghiệp
có thể bán Thông thường mối quan hệ giữa cầu và giá là quan hệ tỷ lệ nghịch Tuy nhiên, cũng có các trường hợp ngoại lệ khi giá cao thì bán được nhiều hơn
- Đối thủ cạnh tranh: Khi mua hàng hoá dịch vụ, khách hàng thường so sánh với giá của các đối thủ cạnh tranh Do vậy, khi định giá doanh nghiệp phải hiểu biết giá sản phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh tranh và phản ứng của khách hàng khi doanh nghiệp thay đổi giá Điều này còn tuỳ thuộc vào loại thị trường mà doanh nghiệp đang kinh doanh
Trang 28- Các yếu tố bên ngoài khác: Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế như: lạm phát, tăng trưởng hay suy thoái, thất nghiệp, công nghệ mới đều ảnh hưởng đến sức mua của thị trường, đến chi phí sản xuất Những tiến bộ nhanh chóng trong công nghệ điện
tử đã dẫn tới giảm giá các thiết bị điện tử
1.3.2.3 Một số giải pháp về giá
- Giải pháp định giá cao:
+ Định giá cao một cách lâu dài: đòi hỏi phải có những yêu cầu đáp ứng như: sản phẩm đang xét dường như đang chiếm lĩnh độc quyền, hệ số co giãn của cầu là rất nhỏ
+ Định giá cao trong một thời gian ngắn: thường phù hợp với những sản phẩm độc đáo, hấp dẫn trên thị trường và trong thời gian ngắn trước mắt thì chưa có nhiều sản phẩm tương tự trên thị trường Do đó người ta tranh thủ bán với giá cao Đối với sản phẩm xây dựng thì giải pháp này có thể được áp dụng khi mà các doanh nghiệp có trong tay một công nghệ đặc biệt và độc quyền Khi đó các chủ đầu
tư phải chấp nhận mua với giá cao Tuy nhiên, Nhà nước vẫn có những quy định về mức chi phí cao nhất mà không được vượt quá
- Giải pháp định giá thấp: Giá thấp được hiểu là nằm dưới giá của sản phẩm có thể so sánh được hay ít nhất cũng được coi là thấp Chính sách này nhằm loại trừ những đối thủ hiện có đồng thời ngăn ngừa những đối thủ mới Giải pháp định giá thấp đòi hỏi phải tận dụng được năng lực sản xuất và giảm các khoản chi phí sản xuất Giải pháp định giá thấp bao gồm:
+ Giải pháp xâm nhập thị trường: Định giá thấp cho 1 sản phẩm mới đưa vào thị trường để tăng nhanh khối lượng sản phẩm tiêu thụ ban đầu đẻ chiếm lĩnh thị trường sau đó mới nâng giá dần lên
+ Định giá thấp một cách tương đối lâu dài Khi đó số tiền lãi được từ một đơn vị sản phẩm sẽ thấp nhưng do khối lượng sản phẩm lớn nên nếu được tiêu thụ thì tổng số lãi thu được sẽ lớn hơn trong cùng một đơn vị thời gian
- Giải pháp định giá theo thị trường: Khi vận dụng giải pháp này thì doanh nghiệp phải tuỳ theo tình hình biến động của thị trường, cạnh tranh trên thị trường về giá cả để định giá cho phù hợp Trong xây dựng cơ bản thì cơ cấu giá sản phẩm có sự thay đổi theo thời kỳ, theo thị trường, chẳng hạn giá nguyên vật liệu thì thay đổi theo mùa (cát, đá ) thay đổi theo thị trường (đồng bằng, miền núi ) do đó cần phải đưa yếu tố trượt giá vào trong giá dự thầu
Trang 2920
- Giải pháp phân hoá giá: Vận dụng giải pháp này khi định giá cần phân biệt cho từng vùng, khu vực, yêu cầu về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, các điều kiện để tổ chức thi công, đối tượng tiêu thụ
1.3.3 Giải pháp về phân phối và địa điểm
Phân phối là một tiến trình mà cung cấp sản phẩm, dịch vụ đến tay người tiêu dùng hoặc người sử dụng cuối cùng thông qua các phối thức phân phối trung gian Việc xác lập kênh phân phối cần được đặt trong mối quan hệ với mục tiêu các giải pháp marketing của doanh nghiệp Các doanh nghiệp với vị thế khác nhau trên thị trường, sẽ có những mục đích marketing khác nhau, dẫn đến thực hiện chiến lược phân phối cũng sẽ khác nhau
- Doanh nghiệp dẫn đầu thị trường: là những doanh nghiệp chiếm vị thế hàng đầu trên thị trường, có nguồn lực mạnh mẽ về tài chính, khả năng sản xuất hàng hóa, dịch
vụ cao, thị trường rộng lớn Thông thường, nhiệm vụ của họ là giữ vững vị trí số 1 thị trường, do đó, các giải pháp về phân phối họ áp dụng được đặt trong từng mục tiêu cụ thể như:
+ Tăng tổng nhu cầu thị trường: việc tăng tổng nhu cầu sẽ tăng khả năng và sức phục vụ thị trường của các doanh nghiệp dẫn đầu Các doanh nghiệp tăng tổng nhu cầu bằng nhiều cách cách
+ Tìm kiếm người tiêu dùng mới: thực hiện chiến lược xúc tiến kênh và phát triển kênh phân phối trong thị trường mới
+ Phát triển công dụng mới của sản phẩm: điều này nhằm thu hút khách hàng, bằng cách tung ra các sản phẩm với công dụng mới tốt hơn, dẫn đến hệ thống phân phối cần tái cấu trúc để thích hợp với những sản phẩm mới
+ Giữ vững thị phần: doanh nghiệp đổi mới liên tục để phục vụ khách hàng tốt hơn, tránh ngủ quên trên chiến thắng
- Doanh nghiệp thách thức thị trường: là những doanh nghiệp đứng ở vị thế thứ
2, 3, 4 trên thị trường, có khả năng phát triển để trở thành doanh nghiệp đứng đầu Nhiệm vụ của họ là bảo vệ thứ hạng, cố gắng tăng hạng và tranh giành vị trí thứ nhất Những doanh nghiệp này có các mục tiêu cụ thể như:
+ Tấn công người dẫn đầu: để tăng vị thế, cách họ lựa chọn mang tính may rủi nhất là tấn công người dẫn đầu Tuy độ rủi ro cao, nhưng phần thưởng là vô cùng xứng đáng
+ Tấn công các doanh nghiệp đồng hạng, đối thủ cạnh tranh
+ Tấn công và thôn tính các doanh nghiệp nhỏ lẻ
Trang 30- Doanh nghiệp theo sau: là những doanh nghiệp nằm hạng thấp, nhỏ lẻ trên thị trường, những chiến lược của họ thường xoay quanh việc copy sản phẩm, bắt chước hoặc nhái sản phẩm
Các giải pháp về phân phối tiêu biểu:
- Giải pháp về các loại trung gian
+ Sử dụng kênhphân phối trực tiếp
+ Sử dụng kênh phân phối gián tiếp
+ Phát triển kênh phân phối hiện có
+ Xây dựng kênh phân phối mới
+ Khác biệt hóa kênh phân phối
- Giải pháp về số loại trung gian ở các cấp
- Phân phối độc quyền: hạn chế số lượng người mua ở trung gian, nhằm dễ dàng quản lý, bảo vệ hình ảnh thương hiệu, sản phẩm, tránh sự mất mác thông tin
- Phân phối chọn lọc: chọn lọc rõ ràng những trung gian có khả năng phân phối tốt nhất cho doanh nghiệp
- Phân phối đại trà: phát triển số lượng trung gian phân phối càng nhiều càng tốt
- Giải pháp về điều kiện và trách nhiệm phân phối của các thành viên trong kênh + Chính sách giá của Doanh nghiệp dành cho thành viên
+ Điều kiện bán hàng
+ Quyền hạn về lãnh thổ phân phối
+ Xác định các dịch vụ hỗ trợ và điều kiện, trách nhiệm giữa nhà sản xuất và trung gian
1.3.4 Giải pháp về các hoạt động xúc tiến hỗn hợp
Theo Philip Kotler: “Xúc tiến hỗn hợp hay truyền thông Marketing là các hoạt động truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp tới khách hàng để thuyết phục họ thông qua các phương tiện khác nhau.”
Thực chất của hoạt động xúc tiến hỗn hợp là việc sử dụng các phương tiện để truyền thông tin liên lạc với thị trường và khách hàng mục tiêu nhằm thông báo cho biết về sự sẵn có của sản phẩm, thuyết phục họ sản phẩm này tốt hơn trên nhiều phương diện so với những sản phẩm cùng loại khác và nhắc họ mua thêm khi đã dùng hết các sản phẩm đã mua Khi các nỗ lực của xúc tiến hỗn hợp đã đạt được thì đồng
Trang 31vụ của mình cho thị trường, khách hàng mục tiêu để có thể tạo được ấn tượng về sản phẩm của công ty đối với khách hàng Quảng cáo truyền thông tin đến thị trường thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
Doanh số (số lượng bán) tăng lên là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá hiệu quả của quảng cáo Tuy nhiên để có thể đánh giá hiệu quả của quảng cáo một cách toàn diện hơn thì người ta còn phải dựa vào những đại lượng trực tiếp khác như sự thay đổi tương ứng theo chiều hướng có lợi của người tiêu dùng về thái độ, tâm lý, tập tính…
- Xúc tiến bán (khuyến mại) là các biện pháp tác động tức thì, ngắn hạn để khuyến khích việc mua sản phẩm hay dịch vụ Xúc tiến bán hay còn gọi là khuyến mại
có tác động trực tiếp và tích cực tới việc tăng doanh số bằng những lợi ích vật chất bổ sung cho người mua, nó có thể là thưởng, giảm giá, các hình thức vui chơi có thưởng… Quảng cáo không có nghĩa là ngưòi tiêu dùng sẽ có phản ứng mua ngay, do vậy các hoạt động xúc tiến bán sẽ hỗ trợ cho hoạt động quảng cáo để khuyến khích, cổ
vũ, thôi thúc họ đi đén hành động mua nhanh hơn
- Bán hàng cá nhân bao gồm những mối quan hệ trực tiếp giữa người bán và các khách hàng hiện tại cũng như khách hàng tiềm năng Do vậy bán hàng cá nhân là sự giới thiệu bằng miệng về hàng hoá hay dịch vụ của người bán hàng thông qua cuộc đối thoại với một hoặc nhiều khách hàng nhằm mục đích bán hàng Sử dụng hình thức bán hàng cá nhân có những ưu điểm riêng bởi các khách hàng có thể hiểu rõ hơn về sản phẩm Khi đội ngũ bán hàng có trình độ cao, khách hàng sẽ được họ hướng dẫn rõ ràng về cách sử đúng cũng như chứng minh một cách đầy đủ, thuyết phục về giá trị sản phẩm Thêm vào đó, thông qua các hoạt động bán hàng, các nhân viên có thể thu được các thông tin của khách hàng về sản phẩm, công ty và dối thủ cạnh tranh một cách chính xác và nhanh nhất
- Quan hệ công chúng kích thích một cách gián tiếp nhằm tăng nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ hay uy tín của một đơn vị kinh doanh bằng cách đưa ra những tin tức có ý
Trang 32nghĩa thương mại về chúng trên các ấn phẩm, các phương tiện thông tin đại chúng một cách thuận lợi và miễn phí
Quan hệ công chúng là hình thức hoạt động tổ chức dư luận xã hội – dư luận thị trường Hoạt động tổ chức dư luận xã hội có một số nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ bảo đảm cho công ty có danh tiếng tốt, hình ảnh tốt, xử lý các tin đồn, hình ảnh bất lợi
đã lan truyền ra bên ngoài Hoạt động này có thể thông qua các hình thức như bài phát biểu trực tiếp của người dẫn chương trình trong buổi họp hoặc gián tiếp thông qua các bài viết trên tạp chí Nó có thể mang tính thýõng mại nhý bảo trợ các chýõng trình, hoạt động xã hội, thể thao…
Nội dung quan hệ công chúng bao gồm:
- Tuyên truyền cho sản phẩm: Gồm các nỗ lực khác nhau làm cho công chúng biết về một sản phẩm nào đó
- Tuyên truyền hợp tác: Hoạt động này bao gồm việc truyền trong nội bộ cũng như bên ngoài để người ta hiểu về tổ chức của mình, nhằm tạo ra một hình ảnh tốt đẹp, tăng ưu thế của công ty
- Vận động hành lang là việc giao tiếp với các nhà làm luật, quan chức nhà nước
để ủng gộ hay cản trở một sắc luật nào đó
- Tuyên truyền về xử lí một sự việc bất lợi cho công ty đang lan truyền ra ngoài Hoạt động tuyên truyền còn được thực hiện ở nhiều lĩnh vực nhằm giải quyết những công việc cụ thể do công ty đặt ra
Nói tóm lại xúc tiến hỗn hợp giúp cho công ty thực hiện các công việc như thúc đẩy người tiêu dùng thử sản phẩm và tạo cơ hội để tự sản phẩm có thể truyền đạt thông tin một cách chính xác, khuyến khích các nguồn lực vên ngoài để họ có những tuyên truyền tốt đẹp về sản phẩm cũng như công ty, tạo ấn tượng về sản phẩm cho khách hàng, nhắc nhở họ về những đặc tính và lợi ích mà sản phẩm mang lại, giúp cho công
ty xây dựng và bảo vệ hình ảnh của mình cũng như sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng
1.3.5 Giải pháp về con người
Yếu tố con người trong dịch vụ giữ một vị trí rất quan trọng trong kinh doanh dịch vụ và trong marketing hỗn hợp Việc tuyển chọn đào tạo quản lý con người ảnh hưởng rất lớn tới sự thành công của marketing Con người trong cung cấp dịch vụ bao gồm toàn bộ cán bộ viên chức trong doanh nghiệp, lực lượng này quyết định trực tiếp tới lực lượng dịch vụ Để phát huy triệt để ưu thế của nhân viên trong việc xây dựng và tạo ra dịch vụ chúng ta phải giải quyết một số vấn đề sau:
Trang 3324
- Trước hết tổ chức doanh nghiệp phải coi nhân viên của mình như những khách hàng đầy tiềm năng Điều này yêu cầu doanh nghiệp luôn phải quan tâm tới nhân viên, tìm hiểu nhu cầu, ước muốn của họ và có các giải pháp để thoả mãn nhu cầu đó Đội ngũ nhân viên thấy được tổ chức tin cậy và đãi ngộ xứng đáng họ sẽ tìm hiểu nhu cầu khách hàng rõ hơn, phát hiện ra những nhu cầu mới và hình thành dịch vụ mới Họ không nhũng hoàn thành tốt công việc hiện tại mà còn suy nghĩ cho công việc tương lai của doanh nghiệp, hăng hái sáng tạo, quan tâm tới khách hàng nhiều hơn
- Doanh nghiệp phải coi trọng vai trò mà họ đang đảm nhận trong dịch vụ hiện tại Khi vai trò dịch vụ được coi trọng sẽ có tác động lớn đến lòng yêu nghề, tới vị trí của cá nhân trong tổ chức và trong xã hội, điều này gắn với tương lai nghề nghiệp của
cá nhân
- Doanh nghiệp phải chú trọng thu hút các nhân viên vào quá trình hình thành dịch vụ mới, đồng thời phải chú ý tới phương thức và môi trường dịch vụ, đòi hỏi các nhân viên phải đạt được một trình độ nhất định
- Hướng các nhân viên tham gia nhiều hơn vào việc thực hiện kiểm tra dịch vụ đối với khách hàng Tuỳ theo mức độ cung ứng dịch vụ các doanh nghiệp phải có kế họach thích hợp
- Các nhà quản trị cần chú ý phát hiện các mâu thuẫn và xử lý kịp thời bằng nhiều giải pháp
1.3.6 Giải pháp về quy trình cung cấp sản phẩm dịch vụ
Quá trình dịch vụ bao gồm tập hợp các hệ thống tập hoạt động với những tác động tương hỗ giữa các yếu tố, tác động tuyến tính giữa các khâu, các bước của hệ thống và mối quan hệ mật thiết với những quy chế quy tắc, lịch trình và cơ chế hoạt động Ở đó một sản phẩm dịch vụ cụ thể hoặc tổng thể được tạo ra và chuyển tới khách hàng
Từ khái niệm trên có thể thấy quá trình dịch vụ là tập hợp các hệ thống xác suất cung ứng dịch vụ với quy mô về không gian, thời gian vào hệ thống dịch vụ hoạt động
có định hướng cung cấp những dịch vụ riêng biệt và hợp thành dịch vụ tổng thể cho thị trường Nếu doanh nghiệp cung cấp nhiều dịch vụ tổng thể sẽ phải hình thành tương ứng quá trình dịch vụ Quy trình cung cấp sản phẩm dịch vụ của một doanh nghiệp thường bao gồm các bước:
- Thiết kế quá trình dịch vụ: là công việc trọng tâm của hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ
Trang 34- Thiết kế môi trưòng vật chất đòi hỏi phải thoả mãn yêu cầu của hoạt động điều hành và hoạt động Marketing
- Thiết kế tập hợp quá trình tác động tương hỗ, đó là thiết lập hoàn thiện và triển khai một tập hợp hệ thống sản xuất cung ứng dịch vụ, hệ thống cấu trúc của quá trình dịch vụ
1.3.7 Giải pháp về cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật và các yếu tố khác
Bằng chứng xác thực giúp người tiêu dùng để đánh giá mức độ các sản phẩm dịch vụ
Cơ sở vật chất, khu vực tiếp tân gọn gàng và trang trí ngăn nắp cũng có thể giúp tạo ấn tượng với khách hàng
Môi trường vật chất có thể được hiểu cụ thể, từ nghĩa hẹp đến nghĩa rộng đó là:
- Các yếu tố vật chất do con người tạo nên, gồm hai loại chính:
Do bản thân hãng dịch vụ tạo nên, gồm tất cả các trang thiết bị và các sản phẩm vật chất khác trong kinh doanh dịch vụ Môi trường vật chất này bao gồm các yếu tố trang hoàng, bài trí hình ảnh, màu sắc, ánh sáng (mỹ thuật học không gian) hiện trường
và cả những yếu tố ở “hậu trường”
Các yếu tố vật chất không do hãng dịch vụ tạo nên như công trình kiến trúc quốc gia, hệ thống công viên công cộng, hệ thống đình, chùa, đền miếu, lăng tẩm, kể cả những sự kiện văn hoá thể thao quốc gia và quốc tế…
- Các yếu tố vật chất do tự nhiên tạo nên như vịnh đẹp độc đáo, hang động, bãi biển, hồ, núi, rừng, biển, khí
Tóm lại, môi trường vật chất trong Marketing là tập hợp các yếu tố vật chất do con người và tự nhiên tạo nên, từ thời kỳ hỗn tạp xa xưa, qua các thế hệ tiếp nối đến nay, được nhiều người biết tới do có khả năng hấp dẫn cao cho nên có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả của hoạt động kinh doanh dịch vụ
1.4 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.4.1 Định nghĩa
1.4.1.1 Cạnh tranh
Thuật ngữ "Cạnh tranh" được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: “Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi
Trang 351.4.1.2 Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Năng lực canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp
và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm
mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh
Ngoài ra, năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới
1.4.2 Ảnh hưởng của các giải pháp marketing đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Xây dựng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp là một tất yếu khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Nếu không làm được điều này, doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu những hậu quả và thất bại.Trước những yêu cầu ngày càng gay gắt của cơ chế kinh tế thị trường và sức ép hội nhập quốc tế,các doanh nghiệp đang đứng trước những thách thức và cơ hội to lớn Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp cần phải giải quyết một số vấn đề sau:
- Tăng cường năng lực quản trị kinh doanh của các giám đốc và cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp
Trang 36- Phát triển năng lực quản trị chiến lược của cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp
- Nâng cao và phát triển chất lượng sản phẩm dịch vụ
- Đổi mới và phát triển thiết bị, công nghệ mới hiện đại, thích hợp với hoạt động của doanh nghiệp
- Củng cố và nâng cao nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực của doanh nghiệp
- Kiểm soát và tối ưu hóa quy trình cung cấp dịch vụ sản phẩm
- Định giá phù hợp với nhu cầu thị trường
- Hoàn thiện hệ thống xúc tiến hỗn hợp phù hợp với lĩnh vực doanh nghiệp kinh doanh
Có thể thấy, các giải pháp 7P về marketing-mix bao gồm: sản phẩm, giá, địa điểm và phân phối, con người, xúc tiến hỗn hợp, quy trình cung cấp sản phẩm dịch vụ,
cơ sở vật chất trang thiết bị cùng các yếu tố khác là những giải pháp phần nào đó giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
Vì vậy, việc xây dựng giải pháp marketing hợp lí là yếu tố quan trọng và thiết yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1: Chương 1 đã đưa ra những cơ sở lí luận về giải pháp
marketing tại doanh nghiệp với những lí luận chung về marketing, giải pháp marketing
và đưa ra lí thuyết cụ thể về các giải pháp marketing-mix cùng với khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp qua đó thấy được mối quan hệ ảnh hưởng của các giải pháp marketing đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Từ đó là tiền
đề để phân tích thực trạng hoạt động marketing của chương trình Thế giới phương tiện tại Công ty cổ phần truyền thông BTS (BTS Media)
Trang 3728
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CHƯƠNG TRÌNH THẾ GIỚI PHƯƠNG TIỆN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRUYỀN THÔNG BTS ( BTS MEDIA)
2.1 Vài nét về thị trường chương trình truyền hình tại Việt Nam
Từ khi xuất hiện tại thị trường Việt Nam, nhóm ngành truyền thông đã phát triển với một tốc độ đáng nể, do nhu cầu quảng bá, quan hệ công chúng của các doanh nghiệp tăng lên không ngừng
Có thể nói, với ưu thế thị trường rộng, nhu cầu lớn, nhóm ngành này hứa hẹn sẽ phát triển rất mạnh trong tương lai
Tính đến hết năm 2010, tổng băng thông truyền dẫn trong nước đạt 605,622 Gb/s
và tổng băng thông truyền dẫn quốc tế lên tới 487,2 Gb/s với các tuyến cáp quang biển, đất liền sử dụng công nghệ truyền dẫn tiên tiến
Mạng lưới PTTH có 67 đài Phát thanh Truyền hình Trung ương và địa phương:
- 03 đài phủ sóng toàn quốc, gồm có Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt
Nam và Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC;
- 64 Đài Phát thanh, Truyền hình địa phương gồm 62 đài Phát thanh, Truyền hình
của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Theo thống kê của Sở Kế hoạch - Đầu tư Thành phố Hà Nội, số lượng giấy phép
kinh doanh cấp cho các doanh nghiệp có hoạt động trên lĩnh vực truyền thông tính đến ngày 31/5/2008 là 1.208 đơn vị Tại TP.HCM, số lượng các công ty truyền thông thống kê được còn lớn hơn gấp rưỡi
Tuy nhiên, nếu như các công ty truyền thông trên thế giới đang ở giai đoạn liên minh, sát nhập để trở thành các tập đoàn thì các công ty truyền thông trong nước lại đang phát triển mạnh về số lượng và hỗn loạn theo kiểu nhà nhà làm truyền thông, nhà nhà làm chương trình truyền hình Chúng ta có thể kể tới hàng loạt các công ty media như TVPlus, FPT, Goldsun, VietBa… với rất nhiều sắc thái và mức độ ảnh hưởng khác nhau
Về bản chất hoạt động truyền thông của các công ty truyền thông chỉ gói gọn trong 3 chức năng:
- Sáng tạo chương trình (tìm kiếm hoặc xây dựng các format chương trình)
- Sản xuất chương trình
- Tìm kiếm quảng cáo và tài trợ
Trang 38Tùy từng mức độ mạnh yếu hay chuyên sâu của mình mà các công ty truyền thông thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trên và họ thực sự chỉ quan tâm đến các kênh chính như VTV1,2,3 hay HTV7,9 hay một số Đài địa phương mạnh như Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Hải Phòng
Cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin gia tăng mạnh đồng nghĩa việc thị trường truyền hình cũng gia tăng, điều này giải thích cho lí do tại sao việc tăng đột biến các chương trình truyền hình bởi các nhà sản xuất đều nhận thấy lợi nhuận khổng lồ có thể khai thác được từ khán giả qua các chương trình
Bảng 2.1 Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tại Việt Nam giai đoạn 2009-2012
(Nguồn: Tạp chí truyền hình số 2 tháng 5 năm 2013)
Theo nghiên cứu của tạp chí Truyền hình số 2 tháng 5 năm 2013 ngành truyền hình là một trong những ngành kinh doanh có sự tăng mạnh đột biến về cả chất lượng
và số lượng so với các ngành kinh doanh khác Mặc dù 2011-2012 là giai đoạn nền kinh tế chung trên thế giới gặp nhiều biến động khó khăn, nhưng ngành truyền hình trên thế giới nói chung và tại Việt Nam vẫn phát triển manh Có thể nói hiện nay, các chương trình truyền hình ở nước ta đang ngày càng phát triển và nở rộ Khả năng kết nối và sự gia tăng khán giả trong truyền hình đã càng góp phần tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng của các chương trình truyền hình
Dưới đây là bảng kết quả nghiên cứu của tạp chí Truyền hình:
Trang 3930
Bảng 2.2.Tình hình phát triển ngành truyền hình tại Việt Nam
giai đoạn 2011-2013
Tổng doanh thu truyền hình trả tiền
Số thuê bao truyền hình trả tiền 5.000.000 9.025.000 11.620.000
Số thuê bao truyền hình cáp 2.500.000 4.412.000 5.051.000
Số thuê bao truyền hình số mặt đất 2.000.000 3.640.000 4.789.000
Số thuê bao truyền hình số vệ tinh 500.000 973.000 1.780.000
Số lượng các đài phát thanh - truyền
(Nguồn: Tạp chí truyền hình số 2 tháng 5 năm 2014)
Với việc gia tăng về số lượng và chất lượng các chương trình truyền hình ta có thể thấy đã đem lại nguồn doanh thu lợi nhuận gia tăng qua các năm và hứa hẹn sẽ còn tiếp tục tăng lên trong tương lai Tính đến năm 2013 mặc dù số lượng nhà cung cấp dịch vụ truyền hình cáp, truyền hình số mặt đất và truyền hình số vệ tinh không thay đổi kể từ năm 2011( VTVcab, HanoiTV, HCATV, TVAd…) nhưng số lượng thuê bao
Trang 40các khách hàng dùng truyền hình trả tiền ngày càng gia tăng đem lại nguồn tổng doanh thu gia tăng mạnh cho ngành truyền hình
2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần truyền thông BTS (BTS Media)
2.2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần truyền thông BTS ( BTS Media)
2.2.1.1 Giới thiệu về Công ty cổ phần truyền thông BTS ( BTS Media)
Công ty Cổ phần Truyền thông BTS (BTSMedia), tiền thân là Trung tâm Quảng cáo và Sản xuất chương trình, trực thuộc Công ty CP Dịch vụ Truyền thanh Truyền hình Hà Nội, hoạt động trong lĩnh vực chuyên sâu về quảng cáo truyền hình: Sản xuất phim quảng cáo, chương trình truyền hình, dịch vụ quảng cáo truyền hình, tư vấn truyền thông, sự kiện…
Công ty có tên giao dịch là BTS MEDIA JOINT STOCK COMPANY với trụ sở chính đặt tại 30 Trung Liệt, Phường Trung Liệt, Quận Đống Đa, TP Hà Nội
- Thông tin liên lạc của công ty:
+ Slogan: Luôn sáng tạo, mãi vươn xa
2.2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty
Công ty Cổ phần Truyền thông BTS hoạt động theo mô hình công ty con của doanh nghiệp nhà nước thuộc Đài Phát thanh Truyền hình Hà Nội, với nhiều chức năng, nhiệm vụ
Công ty có mối quan hệ chặt chẽ với các Tổ chức chính trị xã hội, các Ban ngành chức năng tại Hà Nội, HanoiTV, HCATV, VTV, TVAd, VTVcab các Agency quảng cáo lớn nhỏ… BTSMedia cộng tác sâu với nhiều chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực phát thanh truyền hình, truyền thông trong và ngoài nước
Những lĩnh vực hoạt động mũi nhọn của BTS Media bao gồm: