Hiện nay Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới song đang phải đối thực trạng bất cập trong quản lý và sử dụng đất Nông nghiệp như việc sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH
ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ SINH THÁI TRONG QUẢN LÝ
VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP SAPA VÀ HẢI DƯƠNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Khoa ho ̣c Quản lý
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH
ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ SINH THÁI TRONG QUẢN LÝ
VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP SAPA VÀ HẢI DƯƠNG)
Luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ chuyên ngành: Khoa học quản lý
Mã số: Đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa ho ̣c: TS Đào Thanh Trường
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp là kết quả học tập, rèn luyện của học viên trong suốt thời gian học tập tại khoa Khoa học quản lý trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất đến Thầy giáo-Tiến sĩ Đào Thanh Trường đã chỉ bảo trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này, từ định hướng chọn đề tài, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu và góp ý cho nhiều nội dung quan trọng của luận văn Xin cảm ơn PGS.TS Vũ Cao Đàm đã dành thời gian trao đổi và giúp tôi làm rõ thêm các ý tưởng của luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới ông Joachim Spangenberg, ông Josef Settele và các chuyên gia, các nhà nghiên cứu thuộc dự án LEGATO đã cho tôi cơ hội được trải nghiệm và tham gia các hoạt động của dự án và quyết định chọn đề tài này làm luận văn thạc sỹ
Trong quá trình tiến hành khảo sát các nội dung của luận văn, tác giả cũng nhận được sự nhiệt tình giúp đỡ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hải Dương, Chi cục Bảo vệ Thực vật cùng các hộ nông dân ở Sapa và Hải Dương Nhờ sự giúp
đỡ nhiệt tình của các quý vị mà tác giả đã có thêm cơ hội tìm hiểu sâu hơn về nhiều nội dung của luận văn Tôi cũng muốn dành lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, quý thấy cô,bạn bè và các anh chị, các bạn đồng nghiệp đã luôn sát cánh
và động viên tôi trong quá trình thực hiện Luận văn
Do sự hạn chế về thời gian cũng như năng lực nghiên cứu, nhận thức của bản thân nên luận văn cũng không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNST: Công nghệ sinh thái
UBND: Ủy ban Nhân dân
QHSDĐ, KHSDĐ: Quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Mẫu khảo sát 10
6 Câu hỏi nghiên cứu 10
7 Giả thuyết nghiên cứu 10
8 Phương pháp nghiên cứu 11
9 Kết cấu của Luận văn 14
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ SINH THÁI TRONG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG 15
ĐẤT TRỒNG LÚA 15
1.1.Khái niệm về Công nghệ sinh thái 15
1.1.1 Các định nghĩa 15
1.1.2 Vai trò của việc áp dụng công nghệ sinh thái trong sản xuất nông nghiệp 17
1.2 Khái niệm thiết chế 19
1.3 Khái niệm về Quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa 20
1.3.1 Khái niệm đất nông nghiệp và đất trồng lúa 20
1.3.2 Các định nghĩa về quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên đất 23
1.3.3 Quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG 31
ĐẤT TRỒNG LÚA TẠI SAPA VÀ HẢI DƯƠNG 31
2.1 Khái quát về đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp ở Sapa và Hải Dương 31
2.1.1 Những đặc điểm của phương thức canh tác ruộng bậc thang với việc quản lý và sử dụng đất trồng lúa tại Sapa, Lào Cai 31
2.1.2 Những đặc điểm của phương thức canh tác với việc quản lý và sử dụng đất trồng lúa tại Hải Dương 36
2.2 Những nguy cơ về việc mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường đất trong sản xuất nông nghiệp tại Sapa, Hải Dương 41
2.2.1 Sử dụng phân hóa học và các nông dược 41
2.2.2 Tác động của chất thải công nghiệp – hệ quả của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất 42
2.2.3 Nguy cơ khác 43
2.3 Hiện trạng quản lý và sử dụng đất trồng lúa tại Sapa và Hải Dương 53
2.3.1 Một số chính sách của địa phương về việc quản lý và sử dụng đất trồng lúa tại Sapa và Hải Dương 53
2.3.2 Quản lý và sử dụng đất trồng lúa đến năm 2020 của Lào Cai và Hải Dương 57
CHƯƠNG 3 ĐIỀU CHỈNH THIẾT CHẾ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐẤT TRỒNG LÚA TẠI SAPA VÀ HẢI DƯƠNG……… 64
3.1 Điều chỉnh thiết chế quản lý và sử dụng đất bền vững đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái tại Sapa và Hải Dương 64
Trang 63.1.1 Thay đổi quy trình quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái 66 3.1.2 Vai trò và sự tương tác của đối tượng quản lý và chủ thể quản lý trong xây dựng thiết chế quản lý và sử dụng đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái 68
3.2 Áp dụng công nghệ sinh thái trong sản xuất lúa và vấn đề quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa tại Sapa 70 3.3 Áp dụng công nghệ sinh thái trong sản xuất lúa và vấn đề quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa tại Hải Dương 76 3.4 Sự tăng cường vai trò của hoạch định chính sách khi đưa ra thiết chế quản
lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái trong tại Sapa
và Hải Dương 81 KẾT LUẬN 86
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong phát triển nông nghiệp bởi lẽ đất nông nghiệp là nguồn lực, là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ cho quá trình phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia Hiện nay Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu gạo
lớn trên thế giới song đang phải đối thực trạng bất cập trong quản lý và sử dụng đất Nông nghiệp như việc sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật tràn lan, chuyển đổi mục tiêu sử dụng đất không hợp lý, sự gia tăng của các loại bệnh dịch mới tấn công mùa màng…làm diện tích đất thoái hóa/bạc màu tăng, diện tích và chất lượng đất trồng lúa giảm đáng kể, làm giảm năng suất lúa tại các địa phương, gây ô nhiễm môi trường… Những hệ quả tiêu cực này tác động trực tiếp đến đời sống và thu nhập của người dân, đòi hỏi cần có những biện pháp tích cực để phục hồi giá trị đất trồng lúa canh tác lâu năm, cũng như cải thiện chất lượng đất đai theo hướng phát triển bền vững Việc xác định các chính sách phát triển nông nghiệp, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và
sử dụng đất nông nghiệp có vai trò quan trọng, tác động đến việc hạn chế những hệ quả tiêu cực nói trên
Sapa và Hải Dương là hai địa phương có những đặc điểm điển hình cho phương thức canh tác trên đất dốc và trên đất thấp, vì thể việc sử dụng và quản
lý đất nông nghiệp cũng có những thuận lợi và khó khăn khác nhau gắn với đặc trưng của từng vùng về điều kiện tự nhiên, xã hội, về phương thức canh tác Mặc dù vậy, cả hai địa phương đều đang đứng trước thực trạng đất trồng lúa bị thoái hóa do việc sử dụng các chất hóa học, hệ sinh thái mất cân bằng, người nông dân bỏ ruộng do quá trình chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp….Để khắc phục tình trạng này, Tác giả đề xuất việc áp dụng công nghệ sinh thái trong quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa tại Sapa và Hải Dương, căn cứ trên những đặc điểm của hệ sinh thái, phương thức canh tác và
Trang 8hệ thống quản lý đất trồng lúa tại hai địa phương nói trên Việc duy trì tiếp cận sinh thái và việc áp dụng công nghệ sinh thái trong quy trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa là một trong những biện pháp cần thiết để giảm thiểu những tác động từ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tăng cường tính chủ động trong việc sử dụng đất trồng lúa, hỗ trợ quá trình sản xuất nông nghiệp của địa phương
Vì các lý do trên, Tác giả chọn đề tài Luận văn là: Áp dụng công nghệ sinh
thái trong quản lý và sử dụng bền vững đất nông nghiệp – nghiên cứu trường hợp Sapa và Hải Dương Luận văn tập trung phân tích tính cấp thiết của việc
nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và sử dụng đất nông nghiệp áp dụng công nghệ sinh thái Việc áp dụng công nghệ sinh thái cần được triển khai đồng bộ ở cả hai quá trình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp hiện nay tại 2 khu vực: Sapa và Hải Dương Trong giới hạn nội dung của một luận văn thạc
sỹ, tác giả sẽ đưa ra các luận cứ chứng minh tính phù hợp của việc áp dụng công nghệ sinh thái trong việc hình thành thiết chế quản lý và sử dụng đất trồng lúa bền vững tại Sapa và Hải Dương
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
* Trên thế giới:
Cùng với sự ra đời của lý thuyết về công nghệ sinh thái (CNST), cũng
đã có rất nhiều tài liệu viết về việc áp dụng công nghệ sinh thái, đánh giá tác động của công nghệ sinh thái với các cách tiếp cận khác nhau, trong đó có những nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ chặt chẽ giữa công nghệ sinh thái
và quản lý đất đai
Một số tài liệu như: “Áp dụng kiến thức sinh thái với quản lý đất đai
(“Applying Ecological Principles to Land Management”) của tác giả Dale,
Virginia H.; Haeuber, Richard A (Eds.) xuất bản năm 2001 Hay cuốn: Áp
dụng kiến thức sinh thái với quyết định chính sách đất đai” (“Applying the
ecological knowledge to landuse decision”) biên tập bởi Holm Tiessen và
John W.B Steward, tập hợp các bài nghiên cứu có nội dung liên quan, một sản phẩm từ Dự án được thực hiện bởi Viện nghiên cứu Biến đổi Toàn cầu
Trang 9thuộc các nước Bắc – Nam Mỹ Các nghiên cứu trên đã đề cập đến mối tương quan giữa việc sử dụng đất đai có phù hợp với hệ sinh thái và đưa ra những ví dụ cụ thể về việc áp dụng các mô hình công nghệ sinh thái và tác động với việc đưa ra những chính sách quản lý đất đai hướng tới mục tiêu bền vững
Một số sách tham khảo khác từ các dự án của Ngân hàng Thế giới như
cuốn: “Tài liệu tham khảo – Quản lý bền vững đất đai”, “Chính sách đất đai
cho tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo”…đưa ra các nguyên tắc trong việc
sử dụng và quản lý bền vững đất đai, kinh nghiệm tại một quốc gia, việc sử dụng đất đai bên cạnh việc căn cứ vào đặc điểm hệ sinh thái còn phải đáp ứng
các mục tiêu tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo
Có thể thấy, các tài liệu tập trung chủ yếu vào việc phân tích đặc điểm của hệ sinh thái, vai trò của việc quản lý bền vững đất đai và sự tương tác giữa việc áp dụng kiến thức sinh thái trong quản lý phát triển bền vững, trong
ra quyết định chính sách về đất đai Các tài liệu đặt ra một nhu cầu cấp thiết trong việc quản lý sử dụng đất đai của các quốc gia là xác định chiến lược phát triển đất đai bền vững, gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên và phát triển môi trường kinh tế xã hội Song rất ít tài liệu nghiên cứu về mô hình quản lý
và sử dụng đất nông nghiệp áp dụng công nghệ sinh thái cụ thể trong việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa Trong khi, đối với các quốc gia phát triển nông nghiệp và xuất khẩu lúa gạo như Việt Nam, việc sử dụng bền vững đất nông nghiệp là một trong những vấn đề hết sức quan trọng
* Việt Nam:
Quản lý và sử dụng đất trồng lúa là một vấn đề được quan tâm hiện nay Thực tế đã đưa ra những minh chứng về việc đất nông nghiệp bị thoái hóa
do sự tác động của các thảm họa thiên nhiên, việc sử dụng bừa bãi thuốc bảo
vệ thực vật và các chế phẩm không rõ nguồn gốc trong sản xuất nông nghiệp, tình trạng chuyển đổi đất nông nghiệp không hợp lý, đã đặt ra yêu cầu cần có những văn bản pháp quy quy định cụ thể về vấn đề này
Trang 10Trong cuốn “Tài nguyên đất” của Trần Kông Tấu, tác giả đưa ra những
vấn đề cơ bản về tài nguyên đất, phân loại và đặc điểm các thành phần của đất
Tác giả Huỳnh Văn Chương, Trương Văn Quyết viết nghiên cứu về:
“Thực trạng cơ cấu sử dụng đất và những biện pháp quản lý sử dụng đất bền vững thành phố Hội An, Tỉnh Quảng Nam”, trong đó cũng đề cập đến việc sử
dụng đất bền vững cần có nền tảng là việc nắm rõ đặc điểm hệ sinh thái, gắn
liền với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương Bên cạnh đó, cũng
có rất nhiều các các nghiên cứu về vấn đề quản lý và sử dụng đất bền vững, đặc biệt với loại hình đất dốc, như tác giả Nguyễn Công Vinh và Mai Thị Lan
Anh, Đại học Quốc gia Hà Nội viết Giáo trình “Quản lý và sử dụng đất dốc
bền vững ở Việt Nam”, 2011
Nghiên cứu về “Quản lý và sử dụng đất dốc bền vững dựa trên tiếp cận
sinh thái vùng cao”, của tác giả Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn Nguyễn
Quang Tín, phân tích đặc điểm của khu vực đất dốc dựa trên tiếp cận sinh thái vùng cao 1
Một số dự án về áp dụng công nghệ sinh thái cũng được triển khai tại Việt Nam trong thiết kế đồng ruộng, trong xử lý làm sạch đất, xử lý tình trạng
ô nhiễm/xói mòn của đất, quản lý dịch hại cây trồng…và bước đầu thu được hiệu quả nhất định như các mô hình áp dụng tại một số tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long Từ năm 1992, khi chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) bắt đầu triển khai tại Phú Yên thì người nông dân đã hiểu về sự cân bằng các yếu tố trong Hệ sinh thái và thiên địch là yếu tố quan trọng để tiêu diệt sâu hại nhằm tạo ra sự cân bằng đó Chương trình IPM đã làm thay đổi tập quán canh tác của nông dân trong toàn tỉnh tạo nên một biện pháp canh tác mới với sự hạn chế tối đa hóa chất bảo vệ thực vật
1
Le Quoc Doanh, Ha Dinh Tuan, Nguyen Quang Tin
Northern Mountainous Agriculture and Forestry Science Institute (NOMAFSI)
Phu Ho Commune, Phu Tho Town, Phu Tho Province, Vietnam
Trang 11Hầu hết các nghiên cứu, chủ yếu nhận diện các kỹ thuật tiến bộ về sinh thái, trong việc cải thiện tình trạng thoái hóa và xói mòn của đất trồng lúa mà chưa đề cập nhiều đến việc xây dựng nguyên tắc quản lý và sử dụng đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái, vai trò của các đối tượng trong quá trình quản
lý và sử dụng bền vững theo cách tiếp cận sinh thái
Trong luận văn, tác giả không tập trung phân tích sự phù hợp đặc điểm của hệ sinh thái vùng và việc mô tả áp dụng công nghệ sinh thái như thế nào trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Từ việc nghiên cứu về lý thuyết quản lý
và quy trình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp, tác giả nhận thấy, tìm hiểu
và đánh giá về tình trạng hệ sinh thái vùng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của quá trình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp Thực tế, áp dụng công nghệ sinh thái là con đường phát triển bền vững mà nhiều quốc gia nông nghiệp đang hướng đến, tuy nhiên để mô hình đó có thể được áp dụng trong thực tế, thì cần đặt việc tìm hiểu và đánh giá về hệ sinh thái, quy trình trình áp dụng công nghệ sinh thái trong quy trình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp, kết nối vai trò của các nhà trong quản lý và sử dụng đất nông nghiệp (nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu, nhà nông, doanh nghiệp…) Hay nói cách khác, xây dựng một thiết chế quản lý có tính đến nhu cầu phát triển bền vững đất trồng lúa trên cơ sở áp dụng công nghệ sinh thái
Từ tiếp cận quản lý, Luận văn sơ đồ hóa quy trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái, mô tả về vai trò của các đối tượng thực thi thiết chế quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái: nhà nông, nhà quản lý, nhà khoa học và các tổ chức xã hội dân sự…tại 2 khu vực nghiên cứu trường hợp Sapa và Hải Dương, khuyến nghị việc thay đổi thiết chế quản lý trong quản lý và sử dụng đất trồng lúa tại địa phương
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
- Đưa ra khuyến nghị về việc điều chỉnh thiết chế quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái
Trang 12Nhiệm vụ
- Mô tả quy trình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp áp dụng công
nghệ sinh thái tại Sapa và Hải Dương
- Phân tích đặc trưng của quy trình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững khi áp dụng các mô hình công nghệ sinh thái khác nhau tại Sapa và Hải Dương
- Phân tích sự khác nhau trong quy trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái áp tại địa bàn Sapa và Hải Dương
- Chứng minh mối quan hệ chặt chẽ giữa các đối tượng quản lý và chủ thể quản lý trong việc áp dụng công nghệ sinh thái hướng tới mục tiêu quản lý
và sử dụng bền vững đất trồng lúa tại địa bàn Sapa và Hải Dương
- Chứng minh chính sách áp dụng công nghệ sinh thái có thể giải quyết được tình trạng quản lý và sử dụng đất trồng lúa không hiệu quả hiện nay tại hai địa phương
Trang 146 Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi chủ đạo (Leading question):
Áp dụng công nghệ sinh thái như thế nào trong quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa tại 2 địa bàn nghiên cứu?
- Các câu hỏi chi tiết (Sub-questions):
(*) Quy trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa hiện nay được diễn ra như
thế nào? Sự tương tác giữa đối tượng quản lý và chủ thể quản lý được thể hiện
như thế nào trong quá trình quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa?
(**) Sự khác nhau giữa quy trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa hiện nay với quy trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái
là gì?
(***) Thay đổi thiết chế quản lý và sử dụng đất trồng lúa hiện nay như thế nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Sử dụng công nghệ sinh thái can thiệp vào các biện pháp quản lý nhằm thúc đẩy quá trình tương tác giữa các yếu tố thiên địch để tạo ra quá trình sử dụng đất bền vững và tương tác giữa sản xuất nông nghiệp với du lịch sinh thái, nhằm:
- Đánh giá chất lượng hiệu quả công tác quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa bằng tiêu chí về cân bằng sinh thái
Trang 15- Đặt hiệu quả sinh thái ưu tiên trước hiệu quả kinh tế trong khai thác sử dụng nguồn đất phục vụ sản xuất nông nghiệp
- Đảm bảo tính ổn định của hệ sinh thái nguyên thủy và tạo ra tính cân bằng cho hệ sinh thái mới (sinh thái động)
(*) Ở mỗi địa phương, quy trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa có những đặc trưng riêng song đều có điểm chung là đều chưa đặt áp dụng công nghệ sinh thái trong quy trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa Sự tương tác giữa đối tượng quản lý và chủ thể quản lý được thể hiện khác nhau trong việc trong quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa áp dung các mô hình
(**) Quy trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái tăng cường mối liên kết giữa các nhà (nhà hoạch định chính sách, nhà quản
lý, nhà nghiên cứu, nhà doanh nghiệp và nhà nông) trong việc cùng triển khai các hoạt động đánh giá tình trạng hệ sinh thái quanh khu vực sản xuất nông nghiệp Tính bền vững của quy trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái thể hiện qua việc duy trì tính ổn định của hệ sinh thái, nâng
cao chất lượng các sản phẩm nông nghiệp
(***) Quản lý và sử dụng đất trồng lúa vì an ninh lương thực và hiệu quả kinh tế được điều chỉnh thành thiết chế quản lý và sử dụng đất trồng lúa vì cân
bằng sinh thái vùng phục vụ mục tiêu an ninh lương thực và hiệu quả kinh tế
8 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu tài liệu sơ cấp và thứ cấp
- Phỏng vấn:
Trang 16T
Nội dung phỏng vấn
1 Lãnh đạo cấp tỉnh 3-5 người 3-5 người Phỏng vấn sâu - Chiến lược phát triển đất nông nghiệp của
địa phương
- Việc áp dụng công nghệ sinh thái với đất trồng lúa
2 Cán bộ quản lý đất đai tại địa
phương, chuyên viên nghiên cứu
(cán bộ phòng kế hoạch, cán bộ
thực thi chính sách tại địa
phương, cán bộ giám sát việc thực
thi chính sách …)
5 người 5 người Phỏng vấn sâu - Đặc điểm của đất trồng lúa và thực trạng sản xuất tại
địa phương
- Quy trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa
- Cách thức phối hợp giữa cán bộ quản lý đất đai với các đối tượng khác trong việc quản lý sử dụng bền vững đất trồng lúa
- Chính sách quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa tại địa phương
3 Chuyên gia/nhà khoa học 5 người Phỏng vấn sâu - Cơ sở khoa học của tính phù hợp giữa đặc điểm sinh
thái vùng với phát triển nông nghiệp
- Mô hình công nghệ sinh thái và việc quản lý sử dụng đất trồng lúa
4 Nông dân trong vùng khảo sát 10 người/nơi 10 người/nơi Thảo luận nhóm
tập trung
- Phương thức canh tác trên đất trồng lúa và hiệu quả của phương thức này
Trang 17- Áp dụng công nghệ sinh thái trong sản xuất nông nghiệp
- Sự tương tác giữa nông dân với các đối tượng có liên quan đến việc quản lý và sử dụng đất trồng lúa tại địa phương
5 Nông dân tại Sapa, Hải Dương
không nằm trong vùng khảo sát
Trang 189 Kết cấu của Luận văn
Chương 3.Điều chỉnh thiết chế quản lý và sử dụng đất bền vững đất trồng lúa
áp dụng công nghệ sinh thái tại Sapa và Hải Dương
KẾT LUẬN
Trang 19CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ SINH THÁI TRONG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐẤT TRỒNG LÚA 1.1 Khái niệm về Công nghệ sinh thái
1.1.1 Các định nghĩa
Có rất nhiều bản dịch cụm từ “Ecological engineering”: Công nghệ sinh thái
hay Kỹ thuật sinh thái, Tiếng Nga là Эколгическая техника Theo nghĩa này, engineering có nghĩa thiên về yếu tố kỹ thuật Còn theo các tài liệu của các nhà
nghiên cứu khác, phổ biến hơn, được dịch và hiểu là “công nghệ sinh thái” thay vì cụm từ “kỹ thuật sinh thái”
Theo tác giả Nguyễn Thế Hiện: “Engineering là lĩnh vực hoạt động tư duy và
thực tiễn của con người, trong đó con người sử dụng những hiểu biết tường tận, cặn
kẽ (sâu sắc) về các nguyên lý của toán học, của các ngành khoa học tự nghiên, khoa học kinh tế, khoa học xã hội và khoa học nhân văn cùng với những hiểu biết và kinh nghiệm thực tiễn sống của mình để sáng tạo, thiết kế và chế tạo (create, design and fabricate) ra các cơ cấu, cấu trúc, các máy móc, thiết bị, các vật liệu, linh kiện, các
hệ thống và các quy trình, quá trình mới nhằm thực hiện một cách an toàn, có kinh tế (tiết kiệm) những điều cải thiện đối với cuộc sống mà con người mong muốn.” 2
Trong luận văn, tác giả không phân tích tách biệt khái niệm “công nghệ” và
“sinh thái” mà sử dụng khái niệm “Ecological engineering” - Công nghệ sinh thái
Đồng thời, tác giả cũng phân tích mô hình công nghệ sinh thái không chỉ đơn thuần
là việc áp dụng một biện pháp kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp mà phân tích đặc điểm hệ sinh thái và xã hội khi áp dụng mô hình công nghệ sinh thái trong quản lý
và sử dụng đất trồng lúa
Về khái niệm Công nghệ sinh thái, sau những năm 60 khi con người bắt đầu
ý thức về các vấn đề bảo vệ môi trường trên cơ sở toàn bộ hệ sinh thái cũng với sự
ra đời của khái niệm sinh thái học xuất hiện từ năm 1866 trong tác phẩm có tiêu đề Sinh thái học tự nhiên (Natural Ecology, Ernst Haeckel), sự mất cân bằng sinh thái trở nên một mối quan tâm nóng bỏng của nhân loại về môi trường và vấn đề môi
2 Nguyễn Thế Hiện, Tham luận tại Hội nghị của Trường Đại học Công nghệ, ngày 29/7/2011 tại Hà Nội
Trang 20trường bắt đầu được xem xét trên cơ sở tiếp cận sinh thái học Đặc biệt là từ dấu ấn của bản tường trình của Câu lạc bộ La Mã và Hội nghị thượng đỉnh Stockholm (1972) đến năm 1992, với Hội nghị Rio De Janeiro, tiếp cận sinh thái học được áp dụng rất phổ biến, với ưu điểm là đưa ra các giải pháp phát triển môi trường và bảo
vệ sự đa dạng của các nguồn tài nguyên trên cơ sở tôn trọng những tác động tự thân giữa các thành tố của môi trường Kể từ đó đến nay, tiếp cận sinh thái học được coi
là một trong những hướng tiếp cận chủ đạo trong quản lý và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên
Công nghệ sinh thái “ecological engineering” là thuật ngữ được Nhà sinh
thái học Mỹ, Tiến sĩ Odum sử dụng đầu tiên năm 1962 và được hiểu như là “Sự
thao tác của con người về môi trường bằng cách sử dụng một khối năng lượng bổ sung nhỏ để điều khiển một hệ thống mà trong đó các nguồn năng lượng chính yếu
vẫn đang tiếp tục được huy động đến từ nguồn tài nguyên tự nhiên”
Những năm gần đây, Mitsch and Jorgensen (1989) đã xác định Công nghệ
sinh thái như là “Sự kết cấu của xã hội loài người với môi trường tự nhiên của nó vì
sự lợi của cả đôi bên”, đó chính là sự thiết kế lại hệ thống ruộng lúa sao cho kết cấu
giữa thực vật (Flora) và động vật (Fauna) một cách hài hòa và phong phú Từ đó tạo được chuỗi thức ăn và mạng lưới thức ăn trong sự biến động nhưng cân bằng Các hoạt động này còn được gọi là “Dịch vụ sinh thái” (Ecological Services) Từ chuỗi dịch vụ sinh thái này, các thiên địch sẽ tấn công các loài sâu hại và giữ mật số của dịch hại ở mức thấp nhất không gây ra sự mất mát năng suất và con người không cần phải sử dụng thuốc trừ sâu
Công nghệ sinh thái (ecological engineering) là một tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhất về quản lý địch hại trên ruộng lúa ở quy mô Hộ nông dân và quy mô cộng đồng được các nhà khoa học về nông nghiệp và sinh thái trên thế giới đánh giá
cao Theo Mitsch (1996) "thiết kế của các hệ sinh thái bền vững có ý định để tích
hợp xã hội của con người với môi trường tự nhiên của nó vì lợi ích của cả hai"
Theo định nghĩa khác, công nghệ sinh thái là sự kết hợp các quy luật sinh thái và công nghệ để giải quyết các vấn đề của môi trường như điều tra ô nhiễm, cải
Trang 21tạo ô nhiễm, xử lý chất thải, hay công nghệ sinh thái là các thiết kế dung cho xử lý chất thải, kiểm soát xói mòn, phục hồi sinh thái và nhiều ứng dụng khác nhằm hướng tới sự phát triển bền vững Theo Gurr và đồng nghiệp (2004): “Công nghệ sinh thái” (ecological engineering) là những tác động của con người nhằm cải thiện môi trường dựa trên những nguyên tắc về sinh thái.3
Định nghĩa khác về “công nghệ sinh thái” là thiết kế lại hệ thống ruộng lúa
sao cho đa dạng hóa về thực vật (flora) và động vật (fauna) Hay nói cách khác là làm cho các loài trong hệ sinh thái ruộng lúa được phong phú Từ đó tạo được chuỗi thức ăn và mạng lưới thức ăn trong sự biến động nhưng cân bằng còn được gọi là dịch vụ sinh thái (Ecological Services) Từ dịch vụ sinh thái này các thiên địch sẽ tấn công các loài sâu hại và giữ mật số địch hại ở mức thấp nhất không gây ra sự mất mát năng suất và chúng ta không cần phải xử lý thuốc trừ sâu 4
Theo PGS.TS Mai Hà, định nghĩa về công nghệ sinh thái được hiểu là công nghệ vận dụng các quy trình công nghệ sinh học tối ưu phối hợp các yếu tố thiên nhiên, con người, xã hội và môi trường nhằm tạo ra giá trị gia tăng có tính bền vững cho sản phẩm hoặc duy trì chất lượng sống
Trong luận văn, khái niệm công nghệ sinh thái được phân tích gắn liền với quy trình về quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững, trong đó nhấn mạnh những tác động của con người nhằm cải thiện môi trường trên nguyên tắc của hệ sinh thái Luận văn tập trung phân tích vai trò của các đối tượng và chủ thể trong quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững khi áp dụng công nghệ sinh thái tại địa phương
1.1.2 Vai trò của việc áp dụng công nghệ sinh thái trong sản xuất nông nghiệp
* Áp dụng công nghệ sinh thái nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của một nền nông nghiệp sinh thái
Cùng với những hậu quả từ quá trình biến đổi khí hậu và sự suy giảm chất lượng của các nguồn tài nguyên, việc phá vỡ cân bằng sinh thái đã và đang đặt ra
Trang 22cho con người tìm kiếm những biện pháp nhằm về việc khôi phục tính ổn định của
hệ sinh thái và cải thiện chất lượng của môi trường tự nhiên Tại các quốc gia phát triển, công nghệ sinh thái là một trong những biện pháp được áp dụng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, đáp ứng được những yêu cầu nói trên, với việc tạo ra những sản phẩm hữu cơ có giá trị, không độc hại phục vụ cuộc sống mà vẫn đảm bảo được tính cân bằng của môi trường sống, hướng tới một nền nông nghiệp sinh thái
“Nền nông nghiệp sinh thái là nền nông nghiệp kết hợp hài hòa những cái ưu điểm, tích cực của hai nền nông nghiệp: nông nghiệp hóa học và nông nghiệp hữu
cơ một cách hợp lý và có chọn lọc nhằm: thỏa mãn nhu cầu hiện tại nhưng không gây hại đến các nhu cầu của các thế hệ tương lai (nông nghiệp bền vững); thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về sản phẩm nông nghiệp, nghĩa là phải đạt năng suất cao, phẩm chất nông sản tốt với mức đầu tư vật chất ít và hiệu quả kinh tế cao.” 5
Người ta còn gọi nông nghiệp sinh thái là nền nông nghiệp bảo tồn Nền
nông nghiệp sinh thái phải tuân thủ các nguyên tắc:
- Không phá hoại môi trường;
- Đảm bảo năng suất ổn định;
- Đảm bảo khả năng thực thi, ít phụ thuộc vào bên ngoài;
- Ít lệ t huộc vào hàng nhập ngoại.6
Có thể nói, công nghệ sinh thái hướng đến tính bền vững trong phát triển nông nghiệp Nền nông nghiệp sinh thái cung cấp cho con người một không gian sản xuất lành mạnh, sản phẩm nông nghiệp sạch và một môi trường tự nhiên ổn định
Áp dụng công nghệ sinh thái mang đến những lợi ích cho con người, cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, cụ thể như sau:
Trang 23- Áp dụng công nghệ sinh thái tạo sự đa dạng sinh học, đảm bảo cân bằng sinh thái, khôi phục và cải tạo các thành tố của hệ sinh thái, trong đó có tài nguyên đất
- Áp dụng công nghệ sinh thái nhằm giảm chi phí cho sản xuất nông nghiệp, tăng lợi nhuận cho người nông dân, bằng việc thay thế các biện pháp thiên địch thay vì sử dụng thuốc trừ sâu, các loại chế phẩm, thuốc bảo vệ thực vật gây hại cho môi trường mà có chi phí cao
- Áp dụng công nghệ sinh thái góp phần tăng năng suất và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp
- Áp dụng công nghệ sinh thái tạo cảnh quan nông thôn
- Áp dụng công nghệ sinh thái hỗ trợ việc bảo tồn văn hóa nông nghiệp
Áp dụng công nghệ sinh thái trong sản xuất nông nghiệp là biện pháp tiến
bộ được rất nhiều các quốc gia áp dụng, với mong muốn điều chỉnh việc khai thác
sử dụng đất trồng lúa, hạn chế các biện pháp khai thác làm suy thoái tài nguyên đất nói riêng và đảm bảo việc thực hiện được nguyên tắc của một nền nông nghiệp sinh thái Bên cạnh đó, áp dụng công nghệ sinh thái cũng góp phần tăng cường chức năng của hệ sinh thái và sự phát triển của dịch vụ sinh thái Căn cứ đặc điểm của hệ sinh thái vùng với đặc điểm phương thức canh tác lúa, vì thế, có thể triển khai trên mọi địa hình, mọi khu vực
1.2 Khái niệm thiết chế
Thiết chế xã hội là một tập hợp các vị thế và vai trò có chủ định nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội quan trọng Cũng giống như nhiều khái niệm khác của xã hội học, nội hàm của thiết chế xã hội cũng chưa được xác định một cách rõ ràng Sự nhầm lẫn phổ biến nhất là việc đồng nhất thiết chế xã hội với một nhóm thực, tổ chức thực nào đó Lý do của sự nhầm lẫn này là mặc dù khái niệm thiết chế xã hội rất trừu tượng, nhưng bản thân thiết chế lại hữu hình (tương tự như nhóm xã hội, tổ chức xã hội)
Thực chất nhóm xã hội, tổ chức xã hội là một tập hợp người được liên kết với nhau bởi các dạng quan hệ xã hội Các quan hệ xã hội này được hình thành từ
Trang 24những tương tác thường xuyên, ổn định, lâu dài, có định hướng Trong quá trình tương tác này các khuôn mẫu hành vi, vai trò được thiết kế hóa, tức là biến thành các thiết chế Như vậy các nhóm, các tổ chức hay bản thân từng cá nhân chỉ là như những tập hợp người thực hiện các thiết chế mà thôi, chứ không phải là chính thiết chế.[1]
Nhà xã hội học người Mỹ J Fichter cho rằng, thiết chế xã hội chính là một đoạn của văn hóa đã được khuôn mẫu hóa Những khuôn mẫu tác phong của nền văn hóa đó được xã hội đồng tình, khuyến khích sẽ có xu hướng trở thành các mô hình hành vi được mong đợi - các vai trò Do đó, thiết chế xã hội là một tập hợp các khuôn mẫu tác phong được đa số chấp nhận (các vai trò) nhằm thỏa mãn một nhu cầu cơ bản của nhóm xã hội.7
Theo Vũ Cao Đàm, thiết chế là tập hợp các khuôn mẫu trở thành chuẩn mực nhằm thỏa mãn các nhu cầu, có giá trị điều chỉnh hành vi và hệ thống quản lý Đây cũng là định nghĩa mà đề tài sử dụng trong luận văn
Về các loại thiết chế:
Thiết chế thành văn (written institution): là loại thiết chế được viết ra dưới
dạng các điều khoản trong những văn bản quy phạm pháp luật
Thiết chế bất thành văn (unwritten institution): là loại thiết chế không được
viết ra
Thiết chế công bố (explicit institution): là loại thiết chế được công bố công
khai
Thiết chế ngầm định (implicit institution): là loại thiết chế không được viết
ra, có thể hoặc không thể hiểu ngầm với nhau, nhưng tác động một cách ngấm ngầm.8
1.3 Khái niệm về Quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa
1.3.1 Khái niệm đất nông nghiệp và đất trồng lúa
Theo Wikipedia, Đất nông nghiệp đôi khi còn gọi là đất canh tác hay đất
trồng trọt là những vùng đất, khu vực thích hợp cho sản xuất, canh tác nông nghiệp,
Trang 25bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi Đây là một trong những nguồn lực chính trong nông nghiệp Việc phân loại tiêu chuẩn theo FAO - Tổ chức Nông lương của Liên Hiệp Quốc thì phân chia đất nông nghiệp vào các thành phần sau đây:
+ Đất canh tác như đất trồng cây hàng năm, chẳng hạn như ngũ cốc, bông, khoai tây, rau, dưa hấu, loại hình này cũng bao gồm cả đất sử dụng được trong nông nghiệp nhưng tạm thời bỏ hoang (đất hoang hóa, đất thoái hóa)
+ Vườn cây ăn trái và những vườn nho hay cánh đồng nho (thông dụng
ở châu Âu)
+ Đất trồng cây lâu năm ví dụ như trồng cây ăn quả)
+ Cánh đồng, thửa ruộng và đồng cỏ tự nhiên cho chăn thả gia súc.9
Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam thì đất nông nghiệp thường được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn và những loại cây được coi là lương thực Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản hay để trồng các cây lâu năm…
Trước đây, Luật đất đai năm 1993 quy định về đất nông nghiệp tại Điều 42
như sau: “Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất
nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp.” [9, tr 8]
Theo quy định Luật đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009 có thể hiểu nhóm đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp
Theo quy định tại Điều 10 Luật đất đai năm 2013, nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau:
- Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác;
9
http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A5t_n%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p
Trang 26- Đất trồng cây lâu năm;
Trong luận văn, tác giả tập trung vào đối tượng là đất trồng lúa, với 2 khu vực có điều kiện tự nhiên và đặc trưng văn hóa, xã hội khác nhau, song đều phát triển hoạt động sản xuất nông nghiệp Tại Sapa, chủ yếu là canh tác lúa trên ruộng bậc thang, tại Hải Dương canh tác lúa trên đất đồng bằng Hoạt động canh tác và sản xuất lúa tại hai địa phương không chỉ nhằm mục đích đảm bảo an ninh lương thực mà còn phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội khác của vùng
Theo Điều 3, Nghị định 42/2012/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 11 tháng 5 năm 2012 về Quản lý và sử dụng đất trồng lúa, đất trồng lúa là khái niệm được hiểu như sau:
1 Đất trồng lúa là đất có các điều kiện phù hợp để trồng lúa, bao gồm đất chuyên trồng lúa nước và đất lúa khác
2 Đất chuyên trồng lúa nước là đất đang trồng hoặc có đủ điều kiện trồng được hai vụ lúa nước trở lên trong năm
3 Đất lúa khác bao gồm đất lúa nước chỉ trồng được một vụ lúa nước trong năm và đất lúa nương.
4 Đất lúa nương là đất có các điều kiện phù hợp cho trồng lúa nương
Căn cứ các định nghĩa về đất nông nghiệp, phạm vi nghiên cứu của luận văn, cũng như các định nghĩa mà tác giả lựa chọn đưa vào luận văn, tác giả đặc biệt nhấn mạnh tính phù hợp và cấp thiết của việc áp dụng công nghệ sinh thái vào quy trình
10
http://rubiclaw.vn/khai-quat-ve-nhom-dat-nong-nghiep
Trang 27quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa, tại hai địa bàn nghiên cứu là Sapa và Hải
Dương.
1.3.2 Các định nghĩa về quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên đất
Theo từ điển Tiếng Việt, khái niệm“Quản lý” được hiểu là “việc tổ chức và
điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [18, tr 801]
Theo Richard L.Daft, Quản lý là việc đạt được mục tiêu tổ chức một cách
hiệu quả và hiệu quả thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, và kiểm soát nguồn lực tổ chức [2, tr 8]
Trong luận văn, khái niệm trên có thể hiểu: Quản lý là quá trình đối tượng
quản lý sử dụng các công cụ quản lý tác động lên chủ thể quản lý để thực hiện các mục tiêu của tổ chức
Sơ đồ 1 Quy trình quản lý trong tổ chức
Trong sơ đồ trên, đối tượng sử dụng các công cụ quản lý tác động chủ thể quản lý thực hiện các mục tiêu của quá trình quản lý
“Sử dụng”: lấy làm phương tiện để phục vụ nhu cầu, mục đích nào đó 11
- Quản lý bền vững tài nguyên đất được hiểu là “quy trình được xây dựng
trên nền tảng kiến thức giúp tích hợp quản lý đất đai, nước sạch, đa dạng sinh học
và môi trường (bao gồm cả các ảnh hưởng ngoại sinh đầu vào và đầu ra) để đáp ứng nhu cầu đang tăng lên của con người về thức ăn, vải vóc…trong khi vẫn duy trì các dịch vụ hệ sinh thái.” Hay Quản lý tài nguyên đất bền vững có nghĩa là “sự duy trì sức sản xuất cao trên mỗi đơn vị diện tích trên một cơ sở liên tục, với sự tăng
11
http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/S%E1%BB%AD_d%E1%BB%A5ng
Chủ thể Đối tượng
Môi trường
Trang 28cường chất lượng đất, và cải thiện các đặc trưng của môi trường” (Lal và Miller,
1993)
Các thuộc tính chính của sử dụng đất bền vững là:
- Sử dụng các tài nguyên đất đai trên một cơ sở dài hạn;
- Đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không hủy hoại tiềm năng tương lai;
- Tăng cường sản xuất trên đầu người;
- Duy trì/tăng cường chất lượng môi trường; và
- Phục hồi sức sản xuất và khả năng điều hòa môi trường của các hệ sinh thái
bị suy thoái và nghèo nàn
Với các hoạt động như: duy trì và phát huy tiềm năng sản xuất của đất trồng trọt, đất rừng, bãi chăn thả; duy trì năng lực của đất rừng sản xuất và các nguồn dự trữ rừng thương mại và phi thương mại; duy trì tính nguyên vẹn của các nguồn nước trong đáp ứng nhu cầu thủy điện, duy trì các khu dự trữ nước; duy trì năng lực tầng ngậm nước đáp ứng nhu cầu trồng trọt và nhu cầu khác; đồng thời chấm dứt và cải thiện tình trạng suy thoái đất hoặc ít nhất giảm thiểu những tác động bất lợi từ những cách thức sử dụng không hợp lý trước đó
- Sử dụng đất bền vững được hiểu là “khái niệm động và tổng hợp, liên quan
đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường, hiện tại và tương lai Sử dụng đất bền vững là giảm suy thoái đất và nước đến mức tối thiểu, giảm chi phí sản xuất bằng cách sử dụng thông các nguồn tài nguyên bên trong và áp dụng hệ thống quản
lý phù hợp Sử dụng đất bền vững trong nông nghiệp liên quan trực tiếp đến hệ thống canh tác cụ thể nhằm duy trì và nâng cao thu nhập, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thức đẩy phát triển nông thôn” [4, tr 3]
Yêu cầu sử dụng đất (Land Use Requirement) là toàn bộ đặc điểm về đất, chế độ khí hậu, điều kiện thủy lợi, chế độ thủy văn nước mặt, các điều kiện về cơ sở
hạ tầng, dịch vụ nông lâm ngư nghiệp; tác động môi trường hiệu quả kinh tê-xã hội…đảm báo thỏa mãn yêu cầu sinh thái cũng như các điều kiện sản xuất của cây trồng (vật nuôi) thuộc loại sử dụng đất xác định.12
12
Báo cáo chuyên đề khoa học công nghệ đề tài KC-07-03, Trang 12
Trang 29Một trong những trình tự xây dựng yêu cầu sử dụng đất là xác định yêu cầu sinh thái Bởi mỗi loại cây trồng (vật nuôi) đều chịu sự tác động của tất cả các yếu
tổ ngoại cảnh, tuy nhiên không phải toàn bộ yếu tố ngoại cảnh đều tác động như nhau Trong đó có các yếu tố về điều kiện tự nhiên như đất, địa hình, chỉ tiêu về độ dày tầng đất mạnh…)
Theo PGS.TS Mai Hà, Sử dụng đất bền vững là quá trình sử dụng và khai thác đất bền vững, đảm bảo chất lượng đất được dùng lâu dài trong hiện tại và tương lai
1.3.3 Quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa
Có rất nhiều biện pháp để quản lý và sử dụng bền vững đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa, trong đó có các biện pháp về thay đổi cơ cấu sử dụng đất, cơ cấu cây trồng; đảm bảo quyền sở hữu và sử dụng đất nông nghiệp cho người dân, áp dụng các phương thức cánh tác hiện đại tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp
Song đặc điểm đất đai ở từng vùng khác nhau, việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp cũng thiếu đồng nhất, khiến cho việc áp dụng các biện pháp trên không đồng bộ và không đem lại hiệu quả lâu dài Một tác động có thể dễ dàng nhận thấy
là giá trị sử dụng đất nông nghiệp hiện nay đang giảm xuống, và bị chi phối bởi quy hoạch đô thị, khiến đất trồng lúa, đất nông nghiệp bị chuyển đổi thành đất phục vụ xây dựng, quy hoạch dự án, xây khu công nghiệp…
Nguyên nhân do sản xuất nông nghiệp mang lại thu nhập cho người nông dân không đáng kể, khiến họ ngày càng không còn mặn mà với sản xuất nông nghiệp Như vậy, hệ quả là đất trồng lúa bị thu hẹp lại, các vấn đề xã hội nảy sinh như người nông dân thất nghiệp, vấn đề an ninh lương thực bị ảnh hưởng, vấn đề ô nhiễm môi trường khu vực chuyển đổi sang khu công nghiệp…Hầu hết các biện pháp cải thiện việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp ít quan tâm đến việc phát huy tối đa được giá trị sử dụng của đất nông nghiệp, không chỉ đảm bảo thu nhập cho người nông dân mà còn đảm bảo được giữ cân bằng sinh thái, giảm các tác động âm tính đến môi trường mà vẫn đảm bảo an ninh lương thực
Trang 30Trong sơ đồ 1, có thể thấy các bước trong tiến trình quản lý sử dụng đất nông lâm, trong đó nhấn mạnh: 1- việc phân tích các điều kiện cho quản lý sử dụng, 2-cách thức tương tác giữa các hoạt động quản lý và sử dụng đất nông, lâm nghiệp Hiện nay, tiến trình này đã có những thay đổi và được bổ sung Thêm vào đó, tiến trình quản lý và sử dụng đất trong sơ đồ chủ yếu liên quan đến đối tượng là các nhà quản lý đất nông nghiệp
Với luận văn, tiến trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa sẽ được tác giả sẽ phân tích thông qua việc mô tả vai trò của các đối tượng và chủ thể tham gia tiến trình này, sự tương tác giữa các đối tượng và chủ thể này trong quá trình áp dụng công nghệ sinh thái, phục vụ mục tiêu quản lý và sử dụng bền vững đất trồng lúa
(Sơ đồ 3 Quy trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa áp dụng mô hình công nghệ sinh thái)
Trang 31Sơ đồ 2 Tiến trình quản lý sử dụng đất nông lâm nghiệp
1.4 Một vài nét về dự án LEGATO và những kết quả triển khai tại Việt Nam
LEGATO là viết tắt của Dự án “Kỹ thuật Thâm canh và Công nghệ Sinh
thái – Công cụ đánh giá rủi ro và Cơ hội của hệ thống sản xuất lúa nước tưới” được triển khai trong thời gian từ 01/03/2011 đến 29/2/2015
Tiêu chí của LEGATO là xây dựng hệ thống canh tác lúa nước bền vững, có thể thích nghi với các biến động toàn cầu ngày càng tăng Mục tiêu tổng quát của
1
Trang 32chương trình sẽ xây dựng những qui trình ứng dụng thực hiện trong khung “công nghệ sinh thái” – dựa trên yêu cầu cấp bách hiện nay, việc này sẽ bao gồm thiết kế, điều tra, theo dõi và cấu trúc của các hệ sinh thái Dự án có kế hoạch để định lượng
sự phụ thuộc của các chức năng của hệ sinh thái và các dịch vụ mà họ tạo ra trong
hệ thống nông nghiệp trong ba khu vực ở Đông Nam Á: Malaysia (Đề án thủy lợi Muda), Việt Nam (tỉnh Tiền Giang ở ĐBSCL và thung lũng sông Hồng từ khu vực miền núi Tây Bắc đến đồng bằng) và Philippines (Trung Luzon từ Banaue đến Cabanatuan)
Cơ sở hoạt động của LEGATO là hướng dẫn phát triển chức năng sinh thái (ecosystem functions) và dịch vụ sinh thái (ecosystem services) phù hợp điều kiện văn hóa – xã hội và tự nhiên tại địa phương, nhằm giúp nông dân tại khu vực Nam
và Đông Nam Á xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững, có khả năng thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu gây ra Trong thời gian tới, nhu cầu về sự đa dạng và năng suất của cây trông chắc chắn sẽ tăng cao LEGATO sẽ phân tích tiềm năng của “công nghệ sinh thái” để đạt được mục tiêu trên, đồng thời thử nghiệm tính hoàn thiện và khả năng chuyển giao qua các vùng miền Bước tiếp theo là hợp tác với cơ quan Nông nghiệp và Khuyến nông địa phương là những đơn vị đồng hành
Việc ứng dụng sẽ bao gồm đánh giá các dịch vụ hệ sinh thái rủi ro và cơ hội trong quá trình áp dụng những thay đổi trong cường độ sử dụng đất, đa dạng sinh học và khí hậu Legato là một dự án mà hiển thị các xu hướng hợp tác của các nhà khoa học giữa các quốc gia khác nhau trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Hiện nay có 7 quốc gia và gần 100 nhà khoa học tham gia dự án này Thỏa thuận này đảm bảo hiệu quả của lĩnh vực học tập và sự thành công và ứng dụng của
dự án để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của phát triển nông nghiệp bền vững trong mọi lĩnh vực tại Việt Nam và các nước khác Trong 3 năm qua, nhờ những kết quả nghiên cứu và ảnh hưởng của nó, dự án Legato đã có những đóng góp đáng kể cho sự hợp tác học thuật giữa các nước và sự phát triển bền vững trên lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam và Đông Nam Á khác
Trang 33Gắn liền với thực tiễn và cần được áp dụng thử, mô hình công nghệ sinh thái
đã được triển khai ở nhiều quốc gia FAO và Viện lúa Quốc tế (IRRI) phối hợp với các Tổ chức Bảo vệ thực vật quốc tế và Khu vực, các Trường Đại học Nông nghiệp triển khai mô hình công nghệ sinh thái trong nhiều năm qua ở Việt Nam và có những kết luật quan trọng về hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế để áp dụng trong cộng đồng sản xuất lúa gạo Một số tài liệu của Dự án LEGATO về Cường độ sử dụng đất và công nghệ sinh thái – các công cụ đánh giá về rủi ro và cơ hội trong hệ thống sản xuất lúa nước, trong đó có nghiên cứu tại Việt Nam, với các địa bàn như Sapa, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Tiền Giang Trong đó, các tài liệu đưa ra những nghiên cứu bước đầu về đặc điểm hệ sinh thái xung quanh ruộng lúa ở địa bàn nghiên cứu Đặc biệt mô hình công nghệ sinh thái đã đạt những kết quả bước đầu tại Tiền Giang
và đang tiếp tục được triển khai tại Hải Dương và Sapa
Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, việc thực hiện có hiệu quả mô hình sản xuất lúa theo công nghệ sinh thái tạo được sự cân bằng sinh học trên đồng ruộng, giúp nông dân không cần phun thuốc bảo vệ thực vật, tăng cường sức đề kháng cho hệ sinh thái ruộng lúa và giúp nông dân giảm thuốc trừ sâu…Mô hình ứng dụng công nghệ sinh thái trong trồng lúa giúp bà con nông dân trồng lúa giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, bảo vệ sức khỏe và môi trường sống tốt hơn Đồng thời, các nhà nghiên cứu của dự án cũng đưa ra những chỉ tiêu về sự tương tác giữa cảnh quan sinh thái nông nghiệp với sự phát triển xã hội, văn hóa trong cộng đồng sản xuất nông nghiệp của vùng, phân tích vai trò của các đối tượng nhóm xã hội liên quan trực tiếp và gián tiếp với hoạt động sản xuất nông nghiệp
Dự án đã chỉ ra được mối liên quan mật thiết giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố
xã hội trong quá trình áp dụng công nghệ sinh thái Hệ sinh thái bị tác động bởi con người và đang dẫn đến những hệ quả suy giảm nghiêm trọng chất lượng các nguồn tài nguyên, trong đó có nguồn tài nguyên đất [3,16] Dự án đang bước vào giai đoạn đầu tiên trong việc triển khai thí điểm tại Hải Dương trong năm 2014-2015
Trong khi, mối liên kết giữa các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu, người nông dân chưa được củng cố, sản xuất nông nghiệp và quản lý và sử
Trang 34dụng đất nông nghiệp vẫn còn bị tách rời Việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp vẫn chỉ được nhấn mạnh ở khâu quy hoạch và thống kê dánh giá về tình hình sử dụng đất Các chiến lược sản xuất nông nghiệp được đề xuất không đi kèm với việc khôi phục tài nguyên đất
Có thể nói, những kết quả của nghiên cứu liên ngành được thể hiện rất rõ nét trong quá trình triển khai dự án này
Kết luận chương 1
Trong chương 1 tác giả đã đề cập đến một số khái niệm cơ bản về công nghệ sinh thái, quản lý và sử dụng đất, thiết chế, quản lý và sử dụng đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái Những cơ sở lý luận về CNST và quản lý và sử dụng đất trồng lúa, quy trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái được đề cập trong chương 1 sẽ là cơ sở để tác giả tiếp cận thực trạng quản lý và sử dụng đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái ở Sapa và Hải Dương trong chương tiếp theo của luận văn
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
ĐẤT TRỒNG LÚA TẠI SAPA VÀ HẢI DƯƠNG 2.1 Khái quát về đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp ở Sapa và Hải Dương
2.1.1 Những đặc điểm của phương thức canh tác ruộng bậc thang với việc quản
lý và sử dụng đất trồng lúa tại Sapa, Lào Cai
* Lào Cai có diện tích gần 30 ngàn hecta trong đó 9425 hecta ruộng bậc thang, mỗi năm 1 vụ, riêng Sapa 2662 hecta là ruộng bậc thang, tưới bằng nước trời, canh tác 1 vụ với năng suất khoảng 4 tấn 2/hecta Lúa và ngô vẫn là 2 loại cây trồng chiến lược của tỉnh Lào Cai, nhằm đảm bảo an ninh lương thực, tiếp tục quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa cấy á nhiệt đới, cây ôn đới chất lượng cao, rau, quy hoạch vùng lúa đặc sản, trở thành hàng hóa.13
Phương thức canh tác trên ruộng bậc thang rất khác biệt với việc canh tác ở đất đồng bằng, người ta khắc phục việc canh tác trên đất dốc bằng cách chọn các sườn đồi, núi có đất màu bạt tam cấp để tạo thành những vạt đất bằng Sau đó tùy vào ý định canh tác mà có thể để khô hoặc dẫn nước từ những đỉnh núi cao hơn về
13
Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai, 2013
Trang 36Hình 1 Canh tác trên ruộng bậc thang tại Sapa
Nông dân ở Sapa bắt đầu canh tác trên ruộng bậc thang từ khoảng thế kỷ 18 Ruộng bậc thang và kỹ thuật canh tác trên ruộng bậc thang được tổ tiên truyền cho con cháu Mỗi gia đình người làm việc canh tác ruộng bậc thang có khu vực khác nhau, phụ thuộc vào thừa kế của họ Họ thu hoạch trên nhiều thửa và trung bình 1-2 ngày, các thành viên của gia đình đến đó để kiểm tra gạo: nước, bệnh tật, tăng trưởng lúa
Tại Trung Chải, một nông dân đã tham gia vào cuộc phỏng vấn nói rằng: Ở đây mỗi thu hoạch khác nhau, được không biết bao nhiêu ha Nó được dựa trên kg hạt giống, trung bình 6-7 kg thu hoạch giống lúa mới, một số gia đình thu nhập khoảng 12kg giống lúa mới Thu nhập bình quân gần 3 triệu đồng / tháng (từ gạo, bán gà hoặc trâu ) và 2 triệu / tháng của ngô Chu kỳ trồng lúa (1 suất mỗi năm) thường bắt đầu vào tháng Ba và kết thúc với việc thu hoạch vào tháng Bảy hoặc
Trang 37tháng Tám Từ tháng Giêng đến tháng Ba âm lịch, làm cỏ, ngô, canh tác và thu hoạch ngô, trồng thảo quả
(Nam, 20 tuổi, nông dân, Trung Chải)
T Tháng 1
Sơ đồ 1.Lịch vụ mùa trên ruộng bậc thang tại Sapa
Trước kia, nông dân ở Sapa trồng giống lúa địa phương, ngày nay, người
dân chủ yếu trồng các loại lúa như Giống Sén Cù, Khẩu Nậm Sít, Bắc Thơm, Tàu Bay (ít) nhưng chủ yếu vấn trồng lúa lai vì giống lúa truyền thống năng suất thấp
- Quá trình canh tác lúa trên ruộng bậc thang tại Sapa:
Tốc độ tăng trưởng trung bình của cây lúa là khoảng 150 ngày cho mỗi Họ thường mua những giống trên thị trường trong Sapa, hoặc nhận được từ cửa hàng nông nghiệp tại xã
Bón phân (1-2 lần)
Thu hoạch
Thu hoạch Làm cỏ, chuẩn
bị đất
Trang 382-3 lần (trong tháng) Hầu hết trong số họ sử dụng phân bón NPK, phân bón nitơ (mua tại thị trường nội địa hoặc thị trường trung tâm Sapa)
Có những bệnh, chúng tôi sử dụng thuốc trừ sâu như Pha-toc, Pha-dan, có thể không nhớ tên của một số bệnh thông thường, nhưng thường là hay xuất hiện bệnh cuốn lá Cán bộ khuyến nông cũng hướng dẫn nhưng ít lắm mà không hiểu tiếng Kinh nên nắm không rõ, thường mọi người tự dùng rồi bảo nhau loại nào tốt, diệt sâu nhanh thôi Hoặc là khi nào thấy ruộng có sâu là tôi sử dụng thuốc trừ sâu
(Nam, 34 tuổi, nông dân, Trung Chải, Sapa)
Bên cạnh đó, nông dân sẽ mở rộng diện tích lúa bậc thang có xu hướng tăng năng suất Nông dân sẽ mở rộng diện tích ruộng bậc thang, dựa trên hai điều kiện: nguồn nước và địa hình tương đối, tuy nhiên 90% nông dân được phỏng vấn cho rằng họ không mở rộng diện tích ruộng do không canh tác hết diện tích đang có và thời gian làm nông nghiệp cũng giảm xuống, do họ tham gia các hoạt động kinh tế khác (bán đồ lưu niệm cho khách nước ngoài), lao động nông nghiệp giảm do những người trong độ tuổi lao động đi học, đi làm xa nhà…
- Một số hạn chế trong phương thức canh tác trên ruộng bậc thang:
+ Sản xuất Nông nghiệp, đặc biệt là việc canh tác lúa trên ruộng bậc thang tại Sapa chủ yếu phụ thuộc điều kiện tự nhiên là chủ yếu, canh tác trên địa hình cao và phức tạp, hệ thống thủy lợi chưa phát triển, trong mùa khô, ruộng không đủ nước; nguồn nước chủ yếu sử dụng ở khu vực ruộng bậc thang là nước suối, nước ngầm…Người dân mở rộng diện tích ruộng bậc thang theo kinh nghiệm, gần các khu vực có nhiều nước và sử dụng các ông nứa, ống tre ghép thành các hệ thống dẫn nước thô sơ cho ruộng của họ Bên cạnh những khó khăn về điều kiện khí hậu, nguồn nước, sự suy giảm của tài nguyên rừng cũng ảnh hưởng đến đời sống sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương
+ Tập quán du canh du cư, nạn khai thác rừng trái phép, cháy rừng thúc đẩy quả trình thoái hóa đất Chính vì những khó khăn trên, tại Sapa, Lào Cai, lúa canh tác chủ yếu chỉ đủ cung cấp cho người dân địa phương, một số ít loại gạo đặc sản được cung cấp theo nhu cầu của các cơ sở dịch vụ du lịch tại thị trấn Sapa
Trang 39+ Nhân lực làm nông nghiệp suy giảm: Khi được phỏng vấn, 30% số nông dân được hỏi mong muốn có thể tiếp tục truyền kinh nghiệm cho các thế hệ sau về canh tác ruộng bậc thang, để đảm bảo lương thực cho gia đình, gìn giữ công sức của cha ông họ cũng như những lễ hội, phong tục văn hóa gắn liền với phương thức canh tác truyền thống bản địa; 70% cho rằng thu nhập từ hoạt động nông nghiệp quá thấp và mong muốn con cái họ tìm được những công việc tốt hơn Như vậy, vấn
đề được đặt ra là làm sao tăng cường được hiệu quả từ sản xuất nông nghiệp (năng suất lúa và cây trồng), cũng như gìn giữ được cảnh quan ruộng bậc thang với những giá trị lịch sử và văn hóa sâu sắc; đảm bảo được đời sống của người dân địa phương trong thời gian tới
+ Các dịch vụ về nông nghiệp chậm phát triển như: Cung ứng giống, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, công nghệ sơ chế bảo quản còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được với nhu cầu của phát triển sản xuất
Chính vì thế, năng suất lúa thấp, mất mùa không đáp ứng đủ nhu cầu lương thực của người dân địa phương Sản xuất nông nghiệp chủ yếu là tự cung tự cấp, không đủ an ninh lương thực Lào Cai là một tỉnh thuộc khu vực miền núi mà nhận được hỗ trợ lương thực từ Nhà nước (Năm 2011, Nhà nước hỗ trợ 500 tấn gạo cho Lào Cai) Bên cạnh đó, để tăng năng suất lúa lai, Nhà nước có các chính sách để hỗ trợ cho người nghèo khoảng 100.000/người /năm trong hạt giống mua, cải thiện sản phẩm, chứ không phải bằng tiền mặt 14
Mặc dù vậy, phương thức canh tác trên ruộng bậc thang góp phần tạo ra những nét riêng biệt và độc đáo về cảnh quan và văn hóa bản địa tại Sapa Ruộng bậc thang không chỉ là nơi người dân tiến hành các biện pháp canh tác, cung cấp gạo và một số sản phẩm nông nghiệp cho đời sống hàng ngày của người dân mà còn tạo ra cảnh quan độc đáo và đặc trưng, góp phần thu hút khách du lịch tới tham quan và trải nghiệm Đây là một trong những biện pháp hiệu quả trong việc duy trì được phương thức canh tác lúa trên ruộng bậc thang với mục tiêu đảm bảo lương
14
Kết quả phỏng vấn năm 2012, Sở Nông nghiệp phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai
Trang 40thực, phát triển bền vững đất Nông nghiệp trên cơ sở giữ cân bằng hệ sinh thái, khai thác cảnh quan ruộng bậc thang phục vụ cho hoạt động du lịch của tỉnh
- Về công tác quản lý và sử dụng đất trồng lúa:
Từ những đặc điểm nói trên của phương thức sản xuất trên ruộng bậc thang, công tác quản lý và sử dụng đất trồng lúa gặp rất nhiều khó khăn
Số lượng cán bộ làm công tác khuyến nông không thể bao quát được diện tích sử dụng của người dân do người dân cũng không nắm rõ chính xác được diện tích trồng Việc mở rộng diện tích trồng lúa dựa vào việc đánh giá mức độ thoái hóa của đất trồng lúa sử dụng sau 1 vụ duy nhất trong năm
Hằng năm, cán bộ khuyến nông tổ chức một số buổi gặp với nông dân để hướng dẫn cho việc chống sâu bệnh và khắc phục các hậu quả do thời tiết gây ra (Trung bình 2-3 lần/năm) Tại một số khu vực phát triển du lịch như Tả Van, kênh thông tin phổ biến cung cấp thông tin cho người dân là loa thông tin chung thông báo về tình hình thời tiết, sâu bệnh, chính sách nông nghiệp cho người dân Về cơ bản, 90% người dân được hỏi cho biết họ chủ động trong việc sản xuất trồng lúa, lúa sản xuất chủ yếu phục vụ nhu cầu lương thực cho gia đình Một số đối tượng được phỏng vấn bắt đầu nhận diện về những quy trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa (Như trong bảng 1)
Với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp và sự phong phú về tộc người sinh sống tại Sapa, công tác quản lý và sử dụng đất trồng lúa áp dụng công nghệ sinh thái gặp nhiều rào cản
2.1.2 Những đặc điểm của phương thức canh tác với việc quản lý và sử dụng đất trồng lúa tại Hải Dương
Khác với Sapa, Hải Dương có nhiều điều kiện tốt để phát triển nông nghiệp,
và trở thành một trong những tỉnh có sản lượng gạo cao tại Việt Nam Tại Hải Dương, có 126,000 ha diện tích lúa trồng Năng suất trung bình là khoảng 6 tấn /ha /vụ, diện tích trung bình khoảng 400-500m2 người
Tài nguyên đất của Hải Dương khá phong phú và đa dạng, bao gồm đất phù
sa và feralit, trong đó đất phù sa chiếm 148.929 ha với 2 loại chính là: đất phù sa