Vì vậy, việc nghiên cứu, định hướng, phát hiện những khó khăn, thuận lợi, điểm mạnh, điểm yếu của DNNVV tại Việt Nam trong quá trình hoạt động và hỗ trợ DNNVV Việt Nam phát triển không c
Trang 1DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ VẤN ĐỀ TÀI TRỢ TÍN DỤNG MỘT NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI KHU VỰC TP.HCM (2008 - 2009)
VIỆN NGHIÊN CỨU KINH TẾ PHÁT TRIỂN
279 Nguyễn Tri Phương, Q.10, TP.Hồ Chí Minh ĐT: 08 3957 2040 - Fax: 08 3856 1250 Email: vnckt@idr.edu.vn Web: www.idr.edu.vn
Trang 2VIỆN NGHIÊN CỨU KINH TẾ PHÁT TRIỂN
BÁO CÁO KHOA HỌC:
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ VẤN ĐỀ TÀI TRỢ TÍN DỤNG
- MỘT NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI KHU VỰC TP.HCM
(2008 - 2009)
Thực hiện: TS Trương Quang Thông
Khoa Ngân hàng, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM
Và Nhóm nghiên cứu, Viện NCKT Phát triển
ĐỒNG HÀNH CÙNG CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU:
Trang 3Lời giới thiệu
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Bộ phận DNNVV tại Việt Nam bao gồm các loại hình kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Tốc độ phát triển của loại hình DNNVV tại Việt Nam đặc biệt phát triển sau chính sách mở cửa của Chính phủ Việt Nam Cùng với quá trình phát triển này, số lượng, chất lượng của các DNNVV cũng liên tục gia tăng, tỷ trọng DNNVV đến năm 2006 chiếm trên 97% tổng số doanh nghiệp trong nền kinh tế Đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân, trong đó phải
kể đến vai trò huy động nguồn và sử dụng có hiệu quả vốn trong dân, giải quyết đáng kể nguồn lao động cho chính phủ, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên quốc gia
Vì vậy, khẳng định vai trò quan trọng của DNNVV, tạo điều kiện và hỗ trợ phát triển cho loại hình này là điều cần thiết Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định là một nhiệm
vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Bên cạnh đó, sự phát triển của DNNVV tại Việt Nam hiện nay vẫn còn một số vấn đề khó khăn, cụ thể, DNNVV tại Việt Nam đang gặp những vấn đề vốn, trình độ, kỹ năng lao động, khoa học công nghệ, vấn đề định hướng hội nhập, định hướng học hỏi, đồng thời, tính nhỏ lẻ, tự phát, thiếu liên kết phát triển đã làm cho DNNVV Việt Nam gặp không ít khó khăn trong quá trình phát triển Vì vậy, việc nghiên cứu, định hướng, phát hiện những khó khăn, thuận lợi, điểm mạnh, điểm yếu của DNNVV tại Việt Nam trong quá trình hoạt động và hỗ trợ DNNVV Việt Nam phát triển không chỉ là nhiệm vụ của bản thân doanh nghiệp mà còn có phần quan trọng của các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và của chính phủ
Viện Nghiên cứu Kinh tế Phát triển (IDR) – đại học Kinh tế TP.HCM tổ chức thực hiện chương trình nghiên cứu “Khảo sát các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) và vấn đề
tài trợ tín dụng” với mục tiêu tìm hiểu những đặc điểm chung về quá trình hình thành và phát
triển, cấu trúc nguồn vốn, nhân sự, những đặc điểm về động cơ kinh doanh, tư duy chiến lược, các phương thức quản lý tài chính v.v… của các DNNVV Bên cạnh đó, cuộc khảo sát cũng nhằm mục tiêu nhận diện những nhu cầu tài trợ nguồn vốn kinh doanh và đầu tư cũng như các nhu cầu sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính - ngân hàng; khả năng tiếp cận các nguồn vốn nói chung; các đặc điểm quan hệ cùng các nhân tố xác lập, hình thành và phát triển các mối quan hệ tín dụng của các DNNVV cùng với những cản ngại có thể có
Chương trình nghiên cứu được thực hiện dưới sự điều hành của TS Trương Quang
Thông, giảng viên khoa Ngân hàng, trường đại học Kinh tế TP.HCM và nhóm nghiên cứu gồm: Nguyễn Hồng Vân, Phạm Minh Tiến, Nguyễn Duy Tâm, Nguyễn Trí Thông thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế Phát triển
Viện Nghiên cứu kinh tế phát triển xin gửi lời cảm ơn đến Ngân hàng TMCP Kỹ
thương Việt Nam, Công ty tài chính Cao su, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, Ngân hàng TMCP Việt Á, Ngân hàng TMCP Đại Tín và Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội Quý
Ngân hàng và công ty tài chính đã đồng hành cùng chương trình nghiên cứu thông qua việc tài trợ một phần kinh phí để thực hiện nghiên cứu
Trang 4Chúng tôi cảm ơn các doanh nghiệp đã giành thời gian tham gia trả lời phỏng vấn, cảm ơn các bạn sinh viên khoa ngân hàng truờng đại học Kinh tế TP.HCM đã nhiệt tình tham gia làm phỏng vấn viên cho chương trình nghiên cứu
Báo cáo khoa học “Doanh nghiệp nhỏ và vừa và vấn đề tài trợ tín dụng – Một nghiên
cứu thực nghiệm tại khu vục TP.HCM” gồm 2 phần:
Phần 1: Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Trong phần này sẽ trình bày các nội
dung về: Khái niệm các DNNVV; Những đặc điểm của DNNVV; Vai trò của DNNVV; Thực trạng của các DNNVV Việt Nam qua các số liệu thống kê và các cuộc khảo sát trước đây; Các chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV tại Việt nam; Kinh nghiệm phát triển DNNVV tại một số nước
Phần 2: Doanh nghiệp nhỏ và vừa và vấn đề tài trợ tín dụng – Một nghiên cứu thực
nghiệm tại khu vục TP.HCM Trong phần này trình bày nội dung kết quả nghiên cứu
Chúng tôi hi vọng Báo cáo khoa học này sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các ngân hàng, các định chế tài chính sử dụng trong việc họach định chiến lược, kế hoạch khách hàng, thị trường của mình Những đặc điểm về động cơ kinh doanh, chiến lược quản
lý, đặc điểm quan hệ tài chính của các DNNVV có thể là những căn cứ xác đáng trong việc thiết lập các chiến lược phát triển sản phẩm, chính sách giá, chính sách quan hệ khách hàng của các định chế tài chính-ngân hàng
Tp Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2009
TS Trương Quang Thông
và Nhóm nghiên cứu
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN I: DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM
1 KHÁI NIỆM DNNVV 1
2 ĐẶC ĐIỂM CỦA DNNVV 1
2.1 Đặc điểm về hoạt động 1
2.2 Đặc điểm về tổ chức, quản lý 2
2.3 Đặc điểm về tài chính 2
3 VAI TRÒ CỦA CÁC DNNVV 3
4 THỰC TRẠNG CỦA CÁC DNNVV VIỆT NAM QUA CÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ VÀ CÁC CUỘC KHẢO SÁT TRƯỚC ĐÂY 4
4.1 Thực trạng phát triển DNNVV tại Việt Nam 4
4.2 Quy mô vốn và cách tiếp cận nguồn vốn của các DNNVV 7
4.3 Trình độ tay nghề và chính sách đối với lao động 13
4.4 Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử còn hạn chế 15
4.5 Khả năng tiếp cận thị trường kém của các DNNVV 17
5 CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DNNVV TẠI VIỆT NAM 17
5.1 Chính sách đầu tư 19
5.2 Chính sách thuế 19
5.3 Chính sách tín dụng 20
5.4 Chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực 21
5.5 Chính sách hỗ trợ phát triển thị trường và hội nhập 22
5.6 Các chính sách có liên quan khác 22
6 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DNNVV TẠI MỘT SỐ NƯỚC 23
6.1 Kinh nghiệm Trung Quốc 23
6.2 Kinh nghiệm Hàn Quốc 26
7 NHỮNG ĐÚC KẾT TỪ NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC 27
PHẦN II: CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ VẤN ĐỀ TÀI TRỢ TÍN DỤNG
– MỘT NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI KHU VỰC TP.HCM 1 TỔNG QUAN VỀ CUỘC KHẢO SÁT TÀI TRỢ TÍN DỤNG CÁC DNNVV TẠI KHU VỰC TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2008 30
2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ CUỘC KHẢO SÁT 31
2.1 Tổng quát về tình hình các DNNVV được khảo sát 31
- Vốn điều lệ của DN 31
- Về lao động làm việc toàn thời gian 31
- Loại hình DN 31
- Lĩnh vực hoạt động 32
Trang 62.2 Đặc điểm quá trình hình thành và phát triển DN 33
- Quy mô vốn của DN 33
- Nguồn tài trợ vốn điều lệ 33
- Việc gia tăng vốn điều lệ 36
- Cơ cấu nguồn vốn 37
- Quan hệ Doanh nghiệp với khách hàng 38
- Quan hệ DN với nhà cung cấp: 39
- Quản lý tồn kho 41
- Phân tích chu kỳ kinh doanh và chu kỳ ngân quỹ: 41
- Đối tác ưu tiên 42
- Tình hình hoạt động của DN trong 3 năm vừa qua 42
2.3 Quan hệ tín dụng với ngân hàng 43
- Các hình thức tài trợ vốn trong vòng 3 năm qua DN đã sử dụng 43
- Giải quyết vấn đề tài trợ vốn: 44
- Tiếp cận ngân hàng xin vay vốn: 44
- Nguyên nhân DN không muốn tiếp cận vốn ngân hàng 46
- Quan hệ tín dụng của DN trong bối cảnh năm 2008 48
- Đảm bảo tín dụng của DN để được vay vốn 49
- Mức độ quan trọng của các yếu tố để được ngân hàng cho vay vốn 50
- Thời gian và nhu cầu vốn vay của DN 52
- Mức độ ưu tiên của DN đối với các nhóm ngân hàng 52
3 NHẬN ĐỊNH VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 53
3.1 Nhận định 53
3.2 Gợi ý chính sách 54
3.3 Những hạn chế của cuộc khảo sát 54
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 56 PHỤ LỤC
Trang 7MỤC LỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Thái độ của DNNVV đối với các cán bộ tín dụng của ngân hàng 10
Bảng 2 Vốn điều lệ của DN 31
Bảng 3 Phân tích chéo giữa nguồn tài trợ vốn điều lệ và các loại hình DN 35
Bảng 4 Cơ cấu nguồn vốn của DN 37
Bảng 5 Cơ cấu nguồn vốn hiện nay theo loại hình DN 38
Bảng 6 Thời gian khách hàng được trả chậm 38
Bảng 7 Thời gian và lượng tồn kho của DN 41
Bảng 8 Tính toán chu kỳ kinh doanh và chu kỳ ngân quỹ 42
Bảng 9 Hình thức tài trợ vốn cho DN trong 3 năm qua 43
Bảng 9 Đối tượng hỗ trợ DN lựa chọn hình thức tài trợ vốn 44
Bảng 10 Đánh giá tình hình giải quyết vấn đề tài trợ vốn 44
Bảng 11 Cơ cấu nguồn vốn sử dụng khi tăng vốn điều lệ 45
Bảng 12 Nguyên nhân DN không muốn tiếp cận ngân hàng 47
Bảng 13 Nguyên nhân ngân hàng không chấp nhận 48
Bảng 14 Tác động của tình hình khó khăn năm 2008 49
Bảng 15 Các hình thức đảm bảo khi vay vốn 50
Bảng 16 Đánh giá của DN về mức độ quan trọng của các yếu tố khi vay vốn 51
Bảng 17 Nhu cầu của DN về sản phẩm và dịch vụ từ ngân hàng 51
Bảng 18 Nhu cầu vốn vay của DN 52
Bảng 19 Mức độ lựa chọn của DN đối với các nhóm ngân hàng 52
Trang 8MỤC LỤC HÌNH
Hình 1: Chuyển dịch cơ cấu các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn 2004 - 2006 5
Hình 2: Chuyển dịch cơ cấu DN trong giai đoạn 2004 - 2006 5
Hình 3: Các loại hình DNNVV năm 2006 6
Hình 4: Cơ cấu DNNVV theo quy mô nguồn vốn/doanh nghiệp trong giai đoạn 2004 – 2006 8 Hình 5: Lượng vốn bình quân/doanh nghiệp qua các năm 2004-2006 8
Hình 6: Lượng vốn bình quân đầu tư/lao động của mỗi doanh nghiệp 9
Hình 7: Cơ cấu nguồn vốn giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế 9
Hình 8: Quy mô lao động mỗi doanh nghiệp 13
Hình 9: Cơ cấu khả năng giải quyết lao động của các doanh nghiệp 14
Hình10: Cơ cấu nguồn vốn- lao động- số doanh nghiệp trong nền kinh tế 2006 14
Hình 11: Mô hình hổ trợ DNNVV của chính phủ 19
Hình 12: Cơ cấu loại hình DNVVN 32
Hình 13: Cơ cấu lĩnh vực hoạt động của DNVVN chia theo từng lĩnh vực 32
Hình 14: Cơ cấu về lĩnh vực hoạt động của DNVVN chia theo DN 33
Hình 15: Cơ cấu nguồn vốn điều lệ của DNVVN 33
Hình 16: Tình hình vay vốn của DNVVN có nguồn gốc vốn điều lệ từ ngân hàng 34
Hình 17: Quan điểm của DN khi tăng vốn điều lệ 36
Hình 18: Nguồn tài trợ gia tăng vốn điều lệ 36
Hình 19: Cơ cấu các hình thức thanh toán với khách hàng 38
Hình 20: Đánh giá về quan hệ của DN với khách hàng 39
Hình 21: Cách thức và điều kiện bán chịu của DN 39
Hình 22: Quan hệ của DN với nhà cung cấp 40
Hình 23: Quan hệ của DN với nhà cung cấp 40
Hình 24: Cách thức và điều kiện mua chịu của DN 41
Hình 25: Thành phần đối tác ưu tiên của Doanh Nghiệp 42
Hình 26: Tình hình hoạt động của Doanh Nghiệp trong 3 năm qua 43
Hình 27: Tình hình tiếp cận vay vốn của DN 45
Hình 28: Nguyên nhân ngân hàng không chấp nhận cho DN vay vốn 46
Hình 29: Nguyên nhân ngân hàng từ chối cho DN vay vốn 46
Hình 30: Tình huống cùng bộ hồ sơ khi vay ở các ngân hàng khác nhau 47
Hình 31: quan hệ tín dụng của DN trong năm 2008 48
Hình 32: Điều kiện lãi suất khi DN vẫn còn vay vốn ngân hàng 49
Hình 33: Tình hình đảm bảo tín dụng của DN 50
Trang 9PHẦN I:
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM
1 KHÁI NIỆM DNNVV
Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới (WB)
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về phương diện vốn, lao động hay doanh thu Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn
cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Trong đó, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có
từ 50 đến 300 lao động
Theo quan niệm Việt Nam
Tại mỗi nước khác nhau có những tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Tại Việt Nam, theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ban hành ngày 23 tháng 1 năm 2001 xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người
Như vậy, theo quan niệm của Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa là tập họp những doanh nghiệp không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm dưới 300 người được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa và không có tiêu chí xác định cụ thể chi tiết doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa
2 ĐẶC ĐIỂM CỦA DNNVV
Xuất phát từ định nghĩa như trên, kết hợp với những nhân tố khác của Việt Nam về kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như những xuất phát điểm khá thấp của nền kinh tế Việt Nam Những DNNVV tại Việt Nam có những đặc điểm như sau:
2.1 Đặc điểm về hoạt động
DNNVV có tính năng động, linh hoạt với sự biến động nhu cầu của thị trường:
Quy mô nhỏ và vừa, bộ máy quản lý gọn nhẹ, DNNVV dễ dàng tìm kiếm và đáp ứng những yêu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa Mặt khác, DNNVV có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên có phản ứng nhanh nhạy với sự biến động của thị trường
Hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu vững chắc, thiếu liên kết và dễ bị tác
động bởi những biến động vĩ mô: Với ưu thế linh hoạt, cơ cấu ngành nghề đa dạng, đáp ứng
được nhiều nhu cầu của thị trường nhưng do khả năng tài chính hạn chế, DNNVV dễ bị tác động của môi trường vĩ mô trên thị trường, như tình trạng suy thoái, lạm phát, giá dầu mỏ tăng cao,…trong nền kinh tế dễ gây cho các DNNVV rơi vào tình trạng bế tắc, phá sản
Trang 10DNNVV sử dụng công nghệ thủ công và lạc hậu: Công nghệ lạc hậu chiếm tỷ trọng rất lớn là đặc điểm khác biệt của các DNNVV ở Việt Nam so với các DNNVV ở các nước công nghiệp phát triển Mặc khác, tốc độ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp ở nước ta rất chậm
2.2 Đặc điểm về tổ chức, quản lý
Doanh nghiệp nhỏ và vừa được tạo lập dễ dàng, quản lý theo quy mô hộ gia đình:
Để thành lập một doanh nghiệp với quy mô nhỏ và vừa chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu, mặt bằng sản xuất, quy mô nhà xưởng không lớn Các DNNVV rất linh hoạt trong việc học hỏi, phát triển và tránh những thiệt hại to lớn do môi trường khách quan tác động lên
Doanh nghiệp nhỏ và vừa khó thu hút được các nhà quản lý và lao động giỏi: Với quy mô sản xuất kinh doanh không lớn, tài chính hạn chế và sản phẩm tiêu thụ không nhiều, DNNVV khó có thể trả lương cao cho người lao động, đặc biệt là tìm kiếm nhân tài để phục
vụ cho công tác điều hành, quản lý
Trình độ quản lý thấp dẫn đến hạn chế trong tiếp cận thông tin, tiếp cận thị trường: DNNVV thường gặp khó khăn trong tiếp cận thông tin thị trường, tiếp cận công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý tiên tiến Do đó, trình độ quản lý của đội ngũ điều hành trong các DNNVV cũng bị hạn chế Do đó, các DNNVV thường chỉ quan tâm đến thị trường truyền thống và những khách hàng thường xuyên của mình, không quan tâm đến việc củng cố và
2.3 Đặc điểm về tài chính
Quy mô vốn thấp là nguyên nhân của những bất lợi trong hoạt động: Về quy mô doanh nghiệp không lớn, khả năng tài chính hạn hẹp, DNNVV ít được hưởng các khoản chiết khấu giảm giá do mua hàng hóa với số lượng ít Trong trường hợp cần phải nhập các linh kiện của nước ngoài, DNNVV thường thiếu ngoại tệ và không mua được trực tiếp thường phải thông qua nhà phân phối độc quyền trong nước nên giá cả bị đắt hơn Bên cạnh đó, khả năng tài chính hạn hẹp nên DNNVV khó có thể dành ra một khoản tiền đủ lớn
để thực hiện chiến lược quảng bá cho thương hiêu cũng như cho sản phẩm, và do đó khó
có khả năng vươn ra thị trường khu vực và thế giới
Quy mô vốn thấp cũng gây ra những bất lợi trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng: Vốn chủ sở hữu ít, do đó tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên vốn vay thấp nên khả năng vay vốn của doanh nghiệp cũng rất hạn chế Các DNNVV thường thiếu tài sản thế chấp cho khoản tiền dự định vay Ngay ở những nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản…, các ngân hàng cũng e ngại khi cho các DNNVV vay vốn vì khả năng gặp rủi ro rất lớn khi cho vay
Trang 113 VAI TRÒ CỦA CÁC DNNVV
DNNVV đang góp phần làm năng động nền kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội Trong nền kinh tế thị trường, và bước vào thời kỳ hội nhập của nền kinh tế quốc tế hiện nay, các DNNVV có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội ở cả thành thị và nông thôn, trên khắp các vùng, miền của đất nước, phát huy các nguồn nội lực đa dạng, tài năng kinh doanh, tiền vốn, tài nguyên, lao động… tận dụng mọi cơ hội để phát triển, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước Những vai trò quan trọng của DNNVV được tổng hợp cụ thể như sau:
Tạo được nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, vấn đề lao động và việc làm đang là vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách, tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội
Đóng góp vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP): Tốc độ tăng trưởng GDP của các DNNVV là tăng ổn định và đều đặn Theo các nhà phân tích kinh tế thì con số thực tế còn lớn hơn rất nhiều, bởi vì trong thực tế, rất nhiều DNNVV ngoài nhà nước
đã không trực tiếp đứng tên trong một số hoạt động giao dịch, họ chỉ xuất ủy thác cho doanh nghiệp Nhà nước hoặc thực hiện các kênh khác của quy trình sản xuất
Đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước và huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội nhằm đầu tư và phát triển kinh tế: Đóng góp vào ngân sách Nhà nước của các DNNVV ngày càng tăng Ngoài ra, các DNNVV ngoài quốc doanh và quốc doanh còn có sự đóng góp đáng kể vào việc xây dựng các công trình văn hóa, cơ sở hạ tầng như trường học, thể dục thể thao, đường xá, cầu cống, nhà tình nghĩa, nhà tình thương
và các công trình phúc lợi khác ở tất cả các địa phương trong cả nước
Gia tăng giá trị xuất khẩu: Với đà phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, kết hợp với thị trường mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa Nhiều DNNVV đã mạnh dạn chuyển sang sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu, số lượng hàng hóa tham gia xuất khẩu ngày càng tăng, nhiều sản phẩm được các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp hoặc xuất ủy thác qua các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài
Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và phân công lao động giữa các vùng – địa phương: Xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp yếu kém, sự phát triển của DNNVV đã góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong nước, thu hút được ngày càng nhiều lao động ở nông thôn cũng như một số lượng lớn lao động bắt đầu tham gia vào thị trường việc làm, lược lượng lao động này chủ yếu tập trung vào các ngành phi nông nghiệp, công nghiệp và đã giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương, cơ cấu ngành, cơ cấu các thành phần kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu chung kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Góp phần đào tạo lực lượng lao động cơ động, linh hoạt và có chất lượng: các DNNVV đã tham gia góp phần vào công việc đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động
và phát triển nguồn nhân lực, một bộ phận lớn lao động trong nông nghiệp và số lao động bắt đầu tham gia vào thị trường việc làm đã được thu hút vào các DNNVV và đã dần thích ứng với nề nếp tác phong công nghiệp và một số ngành dịch vụ liên quan
Một số đóng góp khác của DNNVV: trong quá trình hoạt động, DNNVV đã góp phần (1) Góp phần tạo môi trường kinh doanh, tự do cạnh tranh và giảm độc quyền, đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế (2) phát huy được tiềm lực trong nước trong điều kiện nên kinh tế
Trang 12có xuất phát điểm với nguồn vốn thấp, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu, trình độ kỹ năng của lao động còn yếu,… (3) Góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng, miền trong một quốc gia,.Với sự tạo lập dễ dàng, DNNVV có thể phát triển rộng rãi ở mọi vùng lãnh thổ và tạo ra những sản phẩm phong phú, đa dạng, đồng thời tạo ra sự phát triển cân bằng giữa các vùng trong mỗi nước, góp phần tích cực trong khâu phân phối hàng hóa bảo đảm nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội và bình ổn giá cả giữa các vùng và các địa phương
4 THỰC TRẠNG CỦA CÁC DNNVV VIỆT NAM QUA CÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ
VÀ CÁC CUỘC KHẢO SÁT TRƯỚC ĐÂY
4.1 Thực trạng phát triển DNNVV tại Việt Nam
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều nhận thấy rõ vị trí, vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong công cuộc phát triển kinh tế của đất nước Ở nước
ta hiện nay, số DNNVV chiếm trên 97% tổng số doanh nghiệp, với các hình thức: doanh nghiệp (nhà nước, tư nhân), công ty (TNHH, cổ phần) Điều này đã cho thấy DNNVV có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, các DNNVV cung cấp một khối lượng lớn về sản phẩm và đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế Theo số liệu thống kê DNNVV đóng góp 25% về GDP, chiếm 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp hàng năm DNNVV góp phần tạo phần lớn công ăn việc làm cho người lao động
Trong hơn 15 năm đổi mới từ năm 1986 đến năm 2000, DNNVV đã đóng góp đáng
kể vào sự phát triển kinh tế của đất nước và giải quyết được nhiều vấn đề lớn cho xã hội Có thể kể ra đây một vài thống kê tiêu biểu Trong các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ
và xây dựng, đến năm 2000, DNNVV đã tạo việc làm cho gần 4,5 triệu lao động, chiếm 13% lực lượng lao động toàn quốc Tổng giá trị sản xuất công nghiệp của DNNVV chiếm 28% tổng sản lượng công nghiệp quốc gia DNNVV đã cung cấp một lượng lớn hàng tiêu dùng cần thiết và chiếm khoảng 35% khối lượng hàng xuất khẩu, chưa kể đến vai trò làm vệ tinh, thực hiện rất nhiều hợp đồng gia công cho các công ty lớn trong nước
Trong ngành công nghiệp chế biến, các DNNVV tập trung chủ yếu vào 7 phân ngành, với giá trị sản lượng chiếm 81% tổng giá trị của toàn ngành công nghiệp chế biến, bao gồm các ngành như: Sản xuất thực phẩm và đồ uống; sản xuất sản phẩm từ khoáng chất phi kim loại; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, rơm rạ; sản xuất giường tủ, bàn ghế
và các sản phẩm khác; sản xuất sản phẩm từ kim loại (trừ máy móc, thiết bị); dệt, sản xuất trang phục, thuộc và nhuộm da lông thú
Qua nhiều năm phấn đấu, khu vực DNNVV trong lĩnh vực CN-TTCN đã có những bước tiến rất khả quan Từ con số nhỏ bé, chỉ hơn 350 doanh nghiệp vào năm 1990, số DNNVV của ngành CN-TTCN đã tăng lên đến gần 63.000, chiếm khoảng 31% tổng số DNNVV của các ngành kinh tế của cả nước và chiếm trên 96% tổng số doanh nghiệp công nghiệp nói chung Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, các DNNVV trong ngành tạo ra hơn 28% tổng giá trị sản lượng công nghiệp, gần 60% giá trị công nghiệp địa phương, chiếm 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hoá Tính trong giai đoạn 10 năm (1995 đến 2005), số lượng DNNVV đã tăng lên khoảng 10 lần
Riêng trong giai đoạn từ 2004 đến 2006, số lượng DNNVV tăng bình quân gần 25%/năm, nghĩa là sau 4 năm có số doanh nghiệp tăng gấp đôi Trong đó, gia tăng đáng kể nhất là những loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước Cơ cấu DNNVV ngoài nhà nước liên tục chiếm tỷ trọng lớn và không ngừng gia tăng trong cơ cấu các loại hình doanh
Trang 13nghiệp nói chung Theo biểu đồ sau cho thấy, cơ cấu của DNNVV ngoài nhà nước gia tăng
từ 93,9% năm 2004 lên 95,5% năm 2006 Và trong thời gian tới, cơ cấu này còn tiếp tục gia tăng trong tổng cơ cấu các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng
Hình 1: Chuyển dịch cơ cấu các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn 2004 - 2006
Nguồn: Điều tra doanh nghiệp năm 2007 - TCTK
Sự phát triển nhanh của bộ phận DNNVV trong thời gian qua đã góp phần chuyển đổi cơ cấu các loại hình doanh nghiệp xét trong phạm vi tổng thể Theo thời gian, cơ cấu DNNVV liên tục gia tăng trong cơ cấu các loại hình doanh nghiệp Kết quả của biểu đồ sau cho thấy, riêng trong giai đoạn 2004 – 2006, cơ cấu các DNNVV đã gia tăng từ 96,1% lên 97,2%, điều này đồng nghĩa với tỷ trọng số lượng doanh nghiệp lớn liên tục giảm dần về số lượng
Hình 2: Chuyển dịch cơ cấu DN trong giai đoạn 2004 - 2006
Nguồn Nguồn: Điều tra doanh nghiệp năm 2007 - TCTK Cùng với sự tăng trưởng vượt bậc về số lượng, các DNNVV cũng có sự phát triển một bước về chất Từ chỗ hoạt động trong một số ít phân ngành, chủ yếu như cơ khí lắp ráp nhỏ, gốm sứ tiêu dùng, sơ chế nông sản thực phẩm , các DNNVV ngành công nghiệp đã vươn ra nhiều lĩnh vực khác rất đa dạng, cung cấp nhiều chủng loại sản phẩm cho thị trường trong nước và từng bước tiến ra thị trường thế giới Nếu phân thành 4 nhóm ngành chính gồm các ngành thương mại – dịch vụ (buôn bán – trao đổi – ký gởi, nhà hàng, khách sạn,
Trang 14giáo dục, y tế, ), sản xuất (các loại nông thủy sản, may mặc, gia công và các loại sản phẩm thủ công, mỹ nghệ, thực phẩm, ) thì kết quả tổng hợp cho thấy thông qua bảng kết quả sau
Xét theo vùng kinh tế, các DNNVV công nghiệp địa phương phát triển nói chung là không đồng đều giữa các vùng, tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng (60% số lượng DNNVV của miền Bắc, xấp xỉ 29% của cả nước) và vùng Đông Nam bộ (80% của miền Nam, xấp xỉ 39% của cả nước)
Xét theo thành phần kinh tế: Khu vực quốc doanh địa phương, với số lao động khoảng trên 350 ngàn người (chỉ bằng 1/8 số lao động của công nghiệp ngoài quốc doanh) nhưng đã tạo ra một giá trị xấp xỉ khu vực ngoài quốc doanh Tuy nhiên, công nghiệp quốc doanh địa phương có tốc độ tăng trưởng chậm hơn, hoạt động kém hiệu quả hơn, có tới 60% số doanh nghiệp tồn tại chỉ đơn thuần là giải quyết công ăn việc làm cho số lao động hiện có
Xét theo ngành kinh tế - kỹ thuật: Tỉ trọng các DNNVV trong một số phân ngành sản xuất khá lớn, ví dụ trong công nghiệp chế biến: 86%; trong phân phối điện, khí đốt và nước: khoảng 62%; trong công nghiệp khai thác mỏ: khoảng 84%; trong sửa chữa lắp ráp cơ khí nhỏ, xe có động cơ, mô tô, xe máy, đồ dùng: 93% …, sản xuất vật liệu xây dựng: khoảng 20%, sản xuất các sản phẩm tiêu dùng truyền thống: 15%, các sản phẩm khác: khoảng 10%
Một điểm đặc thù trong lĩnh vực này là sự hình thành và phát triển các khu - cụm - điểm công nghiệp địa phương Khác với khu công nghiệp tập trung cấp quốc gia, khu - cụm - điểm công nghiệp địa phương có phạm vi nhỏ, cơ sở hạ tầng không đòi hỏi cao, phục vụ trực tiếp cho các DNNVV, được hình thành chủ yếu để bổ sung những mảng quy hoạch mà KCN tập trung cấp quốc gia chưa bao quát được
Như vậy, qua thực trạng về sự phát triển của DNNVV tại Việt Nam trong thời kỳ sau đổi mới nói chung, đặc biệt là trong giai đoạn gần đây, các DNNVV liên tục được hình thành
Trang 15và gia tăng nhanh, góp phần chuyển đổi mạnh về cơ cấu các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chúng Đây cũng là một biểu hiện khả quan của những chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của nước Góp phần thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển, huy động mọi nguồn lực trong dân, đặc biệt là nguồn lực về vốn và nguồn lực về lao động Những kết quả này được giải quyết rõ trong phần tiếp theo
4.2 Quy mô vốn và cách tiếp cận nguồn vốn của các DNNVV
Trong hoạt động sản xuất, vốn được xem là nền tảng cơ bản nhất Vốn trong doanh nghiệp được thể hiện dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nguyên – nhiên vật liệu và các tài sản vô hình khác Với các DNNVV, nguồn vốn đóng vai trò khá quan trọng Do xuất phát điểm của các DNNVV thấp, lại khó tiếp cận đối với các nguồn tín dụng chính thức nên nguồn vốn chủ yếu của các DNNVV được huy động chủ yếu từ các nguồn sau
Huy động nguồn vốn tự có: Nguồn vốn tự có đóng vai trò quan trọng trong việc
khởi nghiệp kinh doanh, trong đó, quan trọng nhất là nguồn tiền mặt, tiền gửi tiết kiệm
Huy động vốn ứng trước: loại nguồn vốn này được chủ doanh nghiệp có thể đề
nghị khách hàng nào đó ứng trước vốn rồi sau đó có trách nhiệm cung cấp sản phẩm cho khách hàng
Tìm kiếm nguồn vốn của bạn bè và gia đình: huy động nguồn vốn ứng trước như
thế nào thì hầu hết các doanh nghiệp đều vẫn cần huy động thêm nguồn tiền mặt, nguồn huy động tốt nhất và dễ dàng nhất là bạn bè và gia đình Người thân và bạn bè thường có xu hướng tạo điều kiện để doanh nghiệp hoạt động Lãi suất và điều kiện vay đối với nguồn vốn này cũng “mềm” hơn nhiều so với vay ngân hàng
Tìm kiếm các nhà cung cấp: Các nhà cung cấp thường tạo thêm điều kiện thuận lợi
cho chủ doanh nghiệp dưới dạng cho vay với lãi suất rất thấp
Thực tế cho thấy, 80% DNNVV Việt Nam vay vốn từ các tổ chức phi tài chính, hoặc
là từ gia đình /bạn bè, chỉ có 20% doanh nghiệp có thể vay vốn từ các ngân hàng Đôi khi, DNNVV còn phải trả cho việc vay nóng lãi suất cao hơn từ 3-6 lần nếu so sánh với lãi suất của vốn vay ngân hàng
Trên cơ sở đó, nguồn vốn theo quy mô mỗi doanh nghiệp theo kết quả điều tra của Tổng cục thống kê 2007 cho thấy, quy mô nguồn vốn của mỗi doanh nghiệp hiện đang dần
có xu hướng tăng dần theo thời gian Số doanh nghiệp có nguồn vốn dưới 500 triệu đồng giảm dần từ 29,2% còn 13,9% vào năm 2006 Ngược lại, số DNNVV có nguồn vốn có số lượng doanh nghiệp gia tăng mạnh nhất là những doanh nghiệp có quy mô từ 1 đến 5 tỷ đồng, từ 41,2% lên 55,9% trong giai đoạn 2004 – 2006 Điều này cho thấy, quy mô nguồn vốn của mỗi doanh nghiệp đang dần có xu hướng gia tăng theo thời gian
Trang 16Hình 4: Cơ cấu DNNVV theo quy mô nguồn vốn/doanh nghiệp trong giai đoạn 2004 – 2006
Nguồn: Điều tra doanh nghiệp năm 2007 - TCTK
Theo sự gia tăng về quy mô nguồn vốn mỗi doanh nghiệp, lượng vốn bình quân mỗi doanh nghiệp cũng có sự gia tăng tương ứng Trong 3 năm từ 2004- 2006, bình quân mỗi doanh nghiệp có sự gia tăng khoảng 500 triệu đồng Song song với vấn đề này, lượng vốn bình quân đầu tư cho mỗi lao động trong doanh nghiệp cũng theo chiều hướng gia tăng Từ việc đầu tư mỗi lao động khoảng 62 triệu đồng năm 2004, đến năm 2006, bình quân mỗi lao động làm việc trong DNNVV được đầu tư khoảng 89 triệu đồng Điều này phần nào cho thấy mỗi doanh nghiệp đều có xu hướng đầu tư mạnh vào hệ thống cơ sở vật chất, công nghệ Hình 5: Lượng vốn bình quân/doanh nghiệp qua các năm 2004-2006 (đơn vị: tỷ đồng)
Nguồn: Điều tra doanh nghiệp năm 2007 - TCTK
Trang 17Hình 6: Lượng vốn bình quân đầu tư/lao động của mỗi doanh nghiệp (đơn vị: triệu đồng)
Nguồn: Điều tra doanh nghiệp năm 2007 - TCTK
Mặc dù số lượng doanh nghiệp liên tục gia tăng với tốc độ cao ở hầu hết tất cả các ngành, các địa phương, quy mô nguồn vốn của các DNNVV cũng có sự đầu tư cao hơn nhưng xét về mặt tổng thể nguồn vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Tổng nguồn vốn của các DNNVV vẫn chiếm tỷ trọng không đáng kể Theo thời gian, tỷ trọng này có xu hướng chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng này đến năm 2006 là 15,2% so với năm
2004 là 12,3%
Hình 7: Cơ cấu nguồn vốn giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế (đơn vị : %)
Nguồn: Điều tra doanh nghiệp năm 2007 - TCTK
Tóm lại: những phân tích trên cho thấy, quy mô nguồn vốn của các DNNVV nói
chung được huy động chủ yếu từ nguồn vốn tự có, từ vay mượn gia đình, bè bạn, giòng họ
và nguồn vốn ứng trước từ khách hàng Một tỷ lệ nhỏ các DNNVV có thể huy động nguồn vốn từ các tổ chức tài chính chính thức từ các ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính khác Mặc dù vậy, quy mô nguồn vốn của các DNNVV theo thời gian đều có sự gia tăng đáng kể
và có sự cải thiện dần về tỷ trọng nguồn vốn trong nền kinh tế Nhưng xét một cách tổng thể, tốc độ gia tăng xuất phát từ chính nổ lực huy động nguồn vốn của các DNNVV từ các nguồn được phân tích trên Nghĩa là, DNNVV đã bỏ qua một kênh huy động nguồn vốn từ chính các tổ chức tài chính chính thức khác Do đó, xét về khả năng mở rộng quy mô một cách nhanh chóng và dài hạn, gia tăng khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng như tạo mối
Trang 18liên kết về nguồn vốn giữa DNNVV với hệ thống các ngân hàng, các công ty, tổ chức tài chính thì hiện nay, khả năng này đối với các doanh nghiệp còn hạn chế nhiều Những nguyên nhân chủ yếu được đề tài làm rõ phần phân tích khả năng tiếp cận nguồn vốn tiếp
theo
Khả năng tiếp cận nguồn vốn chính thức còn hạn chế trong các DNNVV
Qua những đặc điểm của các DNNVV được đề cập phần trên, ta có thể nhận định rằng, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong khả năng tiếp cận nguồn vốn chính thức của các DNNVV hiện nay xuất phát từ hai khía cạnh chủ yếu.(1) Do chính đặc điểm hoạt động của DNNVV, đây là nguyên nhân quan trọng nhất và đóng vai trò quyết định, (2) Do hệ thống ngân hàng và các tổ chức hỗ trợ chưa quan tâm nhiều đến DNNVV Cụ thể, hai nguyên nhân trên có thể được phân tích cụ thể như sau:
Do đặc điểm về thị trường của DNNVV hầu như chỉ bó hẹp ở địa phương, ít được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin nên nhiều doanh nghiệp không biết thông tin về nguồn tín dụng (nơi vay, mức vốn vay, cách vay v.v ), quy mô nhỏ, hoạt động thiếu liên kết và đa số thực hiện chế độ quản lý công ty gia đình, khiến DNNVV khó tiếp cận các nguồn tín dụng,
đó là việc doanh nghiệp bị thiếu thông tin
Theo GS.TS Nguyễn Thị Cành (Cành, 2008), nguyên nhân làm hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại qua các kết quả điều tra là do giá trị tài sản đảm bảo (thế chấp) của các DNNVV thấp, thứ đến là hạn chế của chủ DNNVV trong mối “quan hệ nghiệp vụ” và “quan hệ xã hội” với ngân hàng Kết quả phỏng vấn sâu một số ngân hàng thương mại cho thấy, nguyên nhân các DNNVV khó vay vốn ngân hàng là ngoài giá trị tài sản đảm bảo thấp, còn liên quan đến một khái niệm là “quan hệ nghiệp vụ” bị hạn chế Điều này lý giải rằng khi làm dự án vay vốn, các chủ doanh nghiệp của các DNNVV thiếu các thông tin minh bạch về báo cáo tài chính cần thiết làm cho cán bộ tín dụng của ngân hàng thiếu tin tưởng vào người vay vốn Mặt khác, số liệu khảo sát doanh nghiệp cũng cho thấy về xây dựng “mối quan hệ xã hội” thông qua “mức độ quen biết”, hay thiết lập mối quan hệ đối tác giữa các DNNVV và các ngân hàng là thấp Theo kết quả điều tra, tỷ lệ các DNNVV không tin tưởng vào cán bộ tín dụng tương đối cao Thông tin phỏng vấn DNNVVvề quan hệ với cán bộ tín dụng được phản ánh qua tổng hợp dưới đây:
Bảng 1: Thái độ của DNNVV đối với các cán bộ tín dụng của ngân hàng
Các ý kiến Tỷ lệ đồng
tình (%)
Tỷ lệ không và
ít đồng tình (%)
1 Cán bộ tín dụng luôn sẵn sàng giúp đỡ ông (bà) 52,9 47,1
2 Ông (bà) tin tưởng vào lời khuyên của cán bộ tín dụng 51,1 48,9
3 Ông (bà) tin rằng cán bộ tín dụng hiểu DN của ông (bà) 52,4 47,7
4 Ông (bà) không muốn tiếp xúc với cán bộ tín dụng 29,1 70,9
5 Cán bộ tín dụng không quan tâm đến DN ông (bà) 45,4 54,6
6 Ông (bà) cảm thấy bị hạch sách khi làm việc với cán
Nguồn: Tạp chí Kinh tế phát triển – Tháng 11 năm 2008
Trang 19Mặt khác, theo các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác, một số nghiên cứu cho thấy thái độ của các tổ chức này đối với các DNNVV cũng có sự quan tâm và dành một bộ phận lớn nguồn vốn cung cấp cho các DNNVV
Theo kết quả điều tra của Cục Phát triển doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), hiện có đến 80% lượng vốn cần cung ứng cho DNNVV là từ kênh ngân hàng.Tuy nhiên, chỉ
có 32,38% những doanh nghiệp này có khả năng tiếp cận được nguồn vốn của các ngân hàng; 35,24% khó tiếp cận và 32,38% không tiếp cận được
Theo kết quả từ Tổng cục thống kê, năm từ 2004-2006, các DNNVV có khả năng tiếp cận nguồn vốn, tín dụng ngày càng gia tăng Tuy nhiên, thủ tục vay vốn ngân hàng còn khá rườm rà và nhiều doanh nghiệp đã không đủ điều kiện vay Trong khi đó các DNNVV còn hạn chế về nguồn lực con người, tài chính và khả năng lập dự án Còn về phía ngân hàng luôn gặp khó khăn trong quá trình thẩm định các dự án cho vay đối với các DNNVV ở vấn đề lựa chọn công nghệ phù hợp Các doanh nghiệp thường có quy mô nhỏ cả về mặt tài chính, mặt bằng sản xuất, trình độ nhân lực… nhưng khi lập dự án đều đưa vào các loại thiết bị, máy móc đắt tiền, trong khi họ có thể lựa chọn các loại máy móc với công nghệ tương tự, giá thành rẻ hơn để đảm tính hiệu quả của dự án Những vướng mắc khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng dường như lại xuất phát từ chính họ Ngay cả trong báo cáo tài chính hàng năm, các báo cáo tài chính của DNNVV hầu như chỉ mang tính chất đối phó với cơ quan thuế Báo cáo chính thức thường thấp hơn tình trạng thực tế, nên không đảm bảo đủ điều kiện vay vốn ngân hàng Đấy là chưa kể họ thường bán hàng không có hợp đồng kinh tế, không tuân thủ chế độ phát hành hóa đơn bán hàng Một thực tế cho thấy, trong mỗi DNNVV thường có 3 loại sổ sách, một cho chính doanh nghiệp, một cho ngân hàng và một cho cơ quan thuế Trong đó, loại sổ sách cho ngân hàng thường có xu hướng lạc quan hơn
về quá trình hoạt động kinh doanh Do đó, ngân hàng khó có cơ sở để đánh giá và quyết định việc cho vay Ngoài ra, những vướng mắc mà ngân hàng thường gặp khi cho đối tượng các doanh nghiệp này vay là vốn kinh doanh của doanh nghiệp quá ít, dẫn đến vốn tự có tham gia vào dự án ít, rủi ro cho ngân hàng khi đầu tư là rất lớn
Theo kết quả nghiên cứu của của CIEM, 44% ngân hàng được hỏi đã cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với tỷ trọng khoảng 38% dư nợ Phần lớn các ngân hàng cho DNNVV vay với số tín dụng ngày càng gia tăng và dễ dàng hơn khi tiếp cận vay vốn Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiều cơ hội vay vốn hơn từ các ngân hàng thương mại
Hình ảnh này cho thấy ngược lại so với nhận định của chính DNNVV khi được khảo sát về khả năng tiếp cận nguồn vốn Phải chăng, vấn đề tạo nên khoảng cách giữa DNNVV
và ngân hàng trong quá trình tiếp cận nguồn vốn là do vấn đề nhận thức của chính bản thân doanh nghiệp, hay chính từ phía ngân hàng vẫn còn có những yêu cầu khó khăn cho doanh nghiệp? Câu hỏi này phải chăng được giải thích như sau:
Trong điều kiện hiện nay, sự gắn kết chặt chẽ và phối hợp đồng bộ giữa ngân hàng, doanh nghiệp và Chính phủ là hết sức cần thiết Chính phủ cần có chính sách hợp lý để khuyến khích ngân hàng cấp vốn cho các doanh nghiệp với các chính sách cởi mở hơn Về phía doanh nghiệp, cần phải thay đổi cách nhận thức, cách quản lý doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, làm cho minh bạch tài chính và thay đổi cách kế toán, kiểm toán đây là điều kiện tiên quyết để họ tiếp cận vốn Nguyên nhân do việc công khai tài chính của doanh nghiệp còn rất thiếu minh bạch, phần lớn các DNNVV không có hệ thống kế toán tiêu chuẩn Báo cáo của doanh nghiệp không được kiểm toán hàng năm cùng với việc tài sản đảm bảo của doanh nghiệp ít, không đủ để đảm bảo nhu cầu cho vay vốn… Mặt khác, việc đổi mới
Trang 20cách thức quản lý cũng sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả phát triển kinh doanh, nhất
là trong bối cảnh các doanh nghiệp phải đương đầu với môi trường cạnh tranh ngày một khốc liệt hơn
Định hướng giải pháp hỗ trợ nguồn vốn cho DNNVV: Theo một số chuyên gia ngân hàng thì để giải quyết được vấn đề tiếp cận vốn tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp cần có sự phối hợp giữa ba phía: nhà nước, doanh nghiệp và ngân hàng Về quản lý nhà nước, cần có cơ chế, chính sách đối với việc vay vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, càng cụ thể càng tốt Chủ trương là cho doanh nghiệp vay, nhưng phải làm rõ cho vay như thế nào (đối tượng, mặt hàng, cơ chế thế chấp, tín chấp…) Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại sẽ đổi mới cung cách cho vay Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng cần tham gia cùng doanh nghiệp từ khâu làm dự án, giám sát thực hiện, thậm chí phải hướng dẫn, đào tạo cho doanh nghiệp, bởi rất nhiều doanh nghiệp đủ điều kiện nhưng không biết cách làm Về phía các doanh nghiệp cũng cần phải có nỗ lực hơn nữa để nâng cao năng lực, chủ động trong việc xây dựng dự án, phương thức đầu tư phù hợp với năng lực về vốn, công nghệ và con người, đăc biệt là cần phải minh bạch vấn đề tài chính
Mặc dù môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam đã được cải thiện nhiều, nhưng nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, chúng ta cần có biện pháp thiết thực hơn để hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận được nguồn tài chính Chúng ta đều biết, hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam đều ở giai đoạn “non trẻ”, thiếu vốn Việc tạo cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn là hết sức quan trọng Chính phủ đã quan tâm đến vấn đề này và đã có nhiều hội thảo bàn theo cách thức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc tiếp cận với nguồn tài chính Thế nhưng, hiện nay, những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa như: bảo lãnh tín dụng, thành lập các định chế tài chính, cũng như
hỗ trợ tạo vốn thông qua hình thức vốn chủ sở hữu còn hạn chế và chưa phát huy nhiều hiệu quả trên thực tế Để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận tài chính, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, ngoài sự nỗ lực, tự hoàn thiện mình của ngân hàng cũng như các doanh nghiệp, thì vai trò của Chính phủ trong việc hoạch định và hoàn thiện cơ chế, chính sách là rất quan trọng, nếu không nói là yếu tố quyết định
Trong 5 năm qua, từ 3,5% tỷ trọng cho vay các DNNVV, bây giờ đã tăng lên 29%, chiếm khoảng 45.000 tỷ đồng trong 5 năm tới, mục tiêu của Chính phủ có khoảng 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa trong cả nước, thì mục tiêu của ngân hàng thương mại là cho vay khoảng 1/3 số doanh nghiệp đó (tức là khoảng 150.000 doanh nghiệp), chiếm 30-40% tỷ trọng dư nợ của các ngân hàng thương mại Như vậy, lượng vốn mà ngân hàng cho các DNNVV vay cũng tăng lên trên 100.000 tỷ đồng Đây quả là những tin tốt lành cho các DNNVV Việt Nam đang cần vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh Nhưng bên cạnh đó cũng phải thừa nhận một số khó khăn cản trở như sau:
Theo kết quả nghiên cứu của CIEM, mặc dù các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động hết sức có hiệu quả trong chu trình sản xuất và cung ứng, nhưng nhìn từ phía các ngân hàng, thì rủi ro khi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay cũng rất lớn Cản trở lớn nhất khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn, theo quan điểm của ngân hàng là, quản trị doanh nghiệp còn nhiều hạn chế và rất khó khăn, tốn kém để có thể thu thập thông tin từ doanh nghiệp Một số trường hợp ngân hàng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay, chi phí rất cao Ở một khía cạnh khác, hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa không biết cách tạo ra một dự án tốt để mà nộp đơn vay vốn ngân hàng, bởi hầu hết các ngân hàng khuyến khích doanh nghiệp làm như vậy
Trang 21Về phía các DNNVV dù 50% số DNNVV dựa rất nhiều vào nguồn tín dụng của các ngân hàng, chiếm khoảng 30% tổng vốn của doanh nghiệp và trong 5 năm qua, có trên 85% các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng vay được nhiều vốn hơn (quan điểm này tương đối trùng khớp với quan điểm của các ngân hàng), nhưng các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn
có những quan điểm khác với ngân hàng Ví dụ, ngân hàng nói rằng, họ đối xử với doanh nghiệp nhỏ và vừa như các doanh nghiệp lớn, nhưng doanh nghiệp nhỏ và vừa lại cho rằng, ngân hàng vẫn còn “thiên vị” cho các doanh nghiệp lớn hơn Điều này liên quan đến cách đối
xử của ngân hàng đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau
4.3 Trình độ tay nghề và chính sách đối với lao động
Số lượng doanh nghiệp từ năm 2004 đến nay liên tục có sự gia tăng, quy mô nguồn vốn của từng DNNVV cũng có sự gia tăng tương ứng nhưng theo đó là quy mô về lao động
có xu hướng ngày càng nhỏ Thực trạng doanh nghiệp nước ta hầu hết thuộc loại nhỏ, song càng phát triển thì quy mô càng nhỏ hơn, bình quân số lao động của một doanh nghiệp ở năm 2004 là 63 người, đến năm 2006 còn 51 người Đáng lưu ý là các doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tỷ lệ lớn và ngày càng tăng, các doanh nghiệp vừa và lớn chiếm tỷ lệ nhỏ Cụ thể như sau:
Theo quy mô lao động:
- Số doanh nghiệp dưới 10 lao động chiếm 56,96%
- Các doanh nghiệp có từ 10 đến dưới 50 lao động chiếm 29,97%
- Các doanh nghiệp có từ 50 đến dưới 200 lao động chiếm 8,89%
- Các doanh nghiệp có từ 200 đến dưới 300 lao động chiếm 2,48%
So sánh tương quan khả năng giải quyết lao động của hai đối tượng doanh nghiệp: DNNVV và doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế Đối với DNNVV, quy mô lao động mỗi doanh nghiệp có xu hướng ngày càng nhỏ lại Năm 2004, bình quân mỗi lao động có thể giải quyết được 32 lao động, đến năm 2006, số lao động bình quân mỗi doanh nghiệp giảm còn khoảng 28 người Trong khi đó, quy mô lao động đối với các doanh nghiệp lớn lại liên tục có
sự gia tăng Từ 1178 lao động/doanh nghiệp năm 2004 tăng lên 1253 lao động/doanh nghiệp năm 2006
Hình 8: Quy mô lao động mỗi doanh nghiệp (đơn vị: lao động)
Nguồn: Điều tra doanh nghiệp năm 2007 - TCTK
Trang 22Kết quả khảo sát DNNVV của tổng cục thống kê năm 2007 còn cho thấy, mặc dù bình quân mỗi lao động/doanh nghiệp đang có xu hướng thu hẹp lại, nhưng xét trong cả nền kinh tế Khả năng giải quyết lao động của đối tượng DNNVV lại chiếm tỷ trọng không nhỏ Theo thời gian, tỷ trọng này liên tục gia tăng từ 40,3% nă 2004 lên 43% năm 2006 Điều này cho thấy, khả năng giải quyết lao động của các DNNVV tại Việt Nam nói chung là khá cao
Hình 9: Cơ cấu khả năng giải quyết lao động của các doanh nghiệp (ĐV: %)
Nguồn: Điều tra doanh nghiệp năm 2007 - TCTK
Qua ba nội dung phân tích trên, so sánh tương quan giữa số doanh nghiệp, quy mô nguồn vốn và khả năng giải quyết lao động của mỗi loại hình doanh nghiệp ta thấy DNNVV chỉ chiếm 15,2% quy mô nguồn vốn trong nền kinh tế vào năm 2006, nhưng giải quyết 43% lực lượng lao động và có số lượng doanh nghiệp chiếm 97,2% Hình ảnh này hoàn toàn ngược lại so với các doanh nghiệp lớn, nguồn vốn chiếm 84,8% nhưng chỉ có khả năng giải quyết 57% lao động và có số lượng doanh nghiệp là 2,8% trong nền kinh tế Vì vậy, xét theo tính hiệu quả của việc giải quyết lao động theo nguồn vốn DNNVV là loại hình có khả năng giải quyết lao động cao hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn nói chung
Hình10: Cơ cấu nguồn vốn- lao động- số doanh nghiệp trong nền kinh tế 2006
Nguồn: Điều tra doanh nghiệp năm 2007 - TCTK
Xét về kỹ năng và trình độ học vấn của các lao động: Theo kết quả điều tra của Bộ
Kế hoạch - Đầu tư phần lớn cho thấy các DNNVV ngoài quốc doanh có 55,6% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó có 43,3% trình độ sơ cấp và phổ thông Đặc biệt, rất ít chủ doanh nghiệp tư nhân được đào tạo bài bản những kiến thức về
Trang 23quản trị kinh doanh, phần lớn chỉ dựa vào kinh nghiệm và kiến thức tự học Theo một điều tra khác về thị trường lao động mới đây do Tổng cục Dạy nghề thực hiện, chỉ có khoảng 25% lao động trong các DNNVV có trình độ khá, lành nghề
Đối với những lao động làm việc trong các DNNVV, do những điều kiện khách quan
về hạn chế đối với nguồn vốn và quy mô, hầu hết các DNNVV không đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê những người lao động có tay nghề cao Bên cạnh đó, định kiến của người lao động cũng như của những người thân của họ về khu vực này vẫn còn khá lớn Ngoài ra, người lao động không được đào tạo để nâng cao tay nghề trong quá trình hoạt động
Khả năng thích ứng và hợp tác làm việc theo nhóm của người lao động trong các DNNVV là rất thấp Kể cả trong số người lao động lành nghề và những người quản lý của DNNVV phần lớn đều thiếu khả năng giao tiếp quốc tế do hạn chế về ngoại ngữ Thực tế đó làm họ gặp nhiều khó khăn trong hợp tác kinh doanh với đối tác nước ngoài để mở rộng sản xuất kinh doanh
Các bất cập xảy ra khi thực hiện chính sách với người lao động
Chính sách tiền lương chưa đảm bảo hợp lý với một số ngành và khu vực, đặc biệt với khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh lương bình quân chỉ bằng 56,6% khu vực doanh nghiệp nhà nước, bằng 68,4% khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Bên cạnh một số ngành nghề có lương cao thì lại có một số ngành lương bình quân quá thấp như: Nuôi trồng thuỷ sản 1,1 triệu đồng, lâm nghiệp 1,374 triệu đồng, dệt may 1,43 triệu đồng, da giầy 1,38 triệu đồng, hoạt động tái chế 0,98 triệu đồng Chính do quản lý chế độ tiền lương chưa đảm bảo công bằng là nguyên nhân chính của những vụ biểu tình, đình công xảy ra nhiều hơn ở các khu vực công nghiệp tập trung trong những năm gần đây
Thực hiện đóng bảo hiểm cho người lao động có bước tiến bộ đáng kể, song vẫn còn một tỷ lệ khá lớn các chủ doanh nghiệp chưa thực hiện đóng bảo hiểm cho người lao động, mặc dù nghĩa vụ đó đã được luật qui định
4.4 Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử còn hạn chế
Nguồn vốn có quy mô thấp, trình độ kỹ năng, quản lý yếu là hai đặc trưng lớn của DNNVV Bên cạnh đó, khả năng về công nghệ thấp, lạc hậu cũng là hậu quả của việc không
đủ tài chính cho nghiên cứu triển khai Nhiều khi các doanh nghiệp có những sáng kiến công nghệ tiên tiến nhưng không đủ tài chính cho việc triển khai nên không thể hình thành công nghệ mới hoặc bị các doanh nghiệp lớn mua với giá rẻ Đồng thời, các chủ doanh nghiệp thường là những kỹ sư hoặc kỹ thuật viên tự đứng ra thành lập và vận hành doanh nghiệp
Họ vừa là người quản lý doanh nghiệp, vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý không cao
Trong những năm gần đây, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và sản xuất kinh doanh và quản lý của các DNNVV tại Việt Nam đã có nhiều tiến bộ khả quan Tốc độ ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam hiện nay được xác định là trong giai đoạn đầu của quá trình xây dựng hạ tầng cơ bản Do đó, mặc dù có những tiến bộ, nhưng một thực trạng
là các DNNVV chưa ứng dụng CNTT hoặc đã triển khai nhưng chưa có hiệu quả, có rất nhiều nguyên nhân gây ra nhưng phần lớn đều gặp phải một số vấn đề như:
Trang 24Thứ nhất, nhận thức - nhân lực và khả năng cung ứng các sản phẩm và dịch vụ
CNTT tốt cho DNNVV còn hạn chế, dẫn đến tình trạng đầu tư chưa đúng hướng hoặc còn hạn chế - phần lớn chi phí dành cho trang thiết bị, cơ sở hạ tầng chứ chưa chú trọng tới giải pháp hệ thống, đào tạo vận hành, khai thác
Thứ hai, nguồn nhân lực, không phải giám đốc DNNVV nào cũng có trình độ về
CNTT và quan tâm đúng mức tới CNTT Thực tế khá rõ là sở thích của giám đốc ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp nhỏ và vừa Chỉ khi nào giám đốc điều hành công việc bằng CNTT thì lúc đó tự khắc các thành viên trong doanh nghiệp sẽ làm việc bằng công nghệ thông tin Tuy nhiên cũng phải xét tới điều kiện của DNNVV trong điều kiện cụ thể, nhiều đơn vị chưa
có cả máy fax, giám đốc phải lo từng ngày để trả lương đúng hạn cho nhân viên thì cũng khó nói tới việc ứng dụng CNTT
Thứ ba, khả năng cung ứng các sản phẩm và dịch vụ CNTT tốt cho DNNVV còn hạn
chế Rất dễ tìm phần mềm kế toán nhưng khó tìm được những sản phẩm đặc thù như thiết
kế cho ngành may, ngành cầu đường … Chưa kể chất lượng sản phẩm không tốt, giá lại cao so với khả năng của DNNVV Theo một nghiên cứu về thị trường dịch vụ, hơn 70% doanh nghiệp ở Việt Nam (trong đó có cả DNNVV) không thỏa mãn với các dịch vụ được cung cấp
Ngoài ra phải kể đến một nguyên nhân khác là môi trường pháp lý cho ứng dụng CNTT và TMĐT ở nước ta còn chưa được hoàn thiện, đã có Luật song chưa có văn bản dưới luật cụ thể Nếu như quá trình ứng dụng CNTT vẫn tiếp tục trì trệ và đặc biệt cụ thể là sau chương trình 112, người dân và các doanh nghiệp vẫn chưa thấy được hiệu quả của CNTT thì chúng ta sẽ phải nghĩ tới một sự bùng phát, sự trì trệ đối với ứng dụng
Nhìn chung, để thực sự triển khai ứng dụng CNTT, tham gia TMĐT, các DNNVV cần xây dựng và duy trì cho trang công nghệ hoạt động một cách hấp dẫn, có hiệu quả Công nghệ cần được tổ chức xây dựng, vận hành, khai thác như là một đơn vị của doanh nghiệp, nghĩa là có biên chế, có mặt bằng để hoạt động Hơn thế nữa nó lại là bộ phận có thể hoạt động không phụ thuộc vào không gian, thời gian Việc sử dụng công nghệ cần luôn luôn gắn chặt với hoạt động thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Các chủ doanh nghiệp cần chỉ đạo trực tiếp các chương trình kế hoạch ứng dụng CNTT, TMĐT của cơ sở mình Điều cốt yếu là xây dựng cơ sở tri thức - các CSDL có định hướng của chủ doanh nghiệp Các doanh nghiệp nên hợp nhau lại hoặc hợp tác với những đối tác giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực ứng dụng CNTT, TMĐT để giảm thiểu những rủi ro, bất trắc Về phía Nhà nước, để việc hỗ trợ các DNNVV thực sự có hiệu quả, cần sớm hoàn thiện, đồng bộ hoá các văn bản dưới luật liên quan đến CNTT, viễn thông, TMĐT và gương mẫu đi đầu thực hiện, minh bạch hoá các nội dung thông tin quản lý doanh nghiệp
Ứng dụng công nghệ thông tin cần được xem là một động lực quan trọng trong quá trình xây dựng DNNVV tại Việt Nam nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung Ứng dụng công nghệ thông tin tạo khả năng tăng cường năng suất, hiệu quả quản lý, tiết kiệm chi phí của doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế Vì vậy, bên cạnh DNNVV, chính phủ cần tạo điều kiện, định hướng phát triển và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin cho DNNVV một cách phù hợp nhất, trong đó có xét đến các yếu tố lợi thế so sánh của DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam, xét đến các yếu tố nguồn lực lao động và khả năng tài chính của doanh nghiệp
Trang 254.5 Khả năng tiếp cận thị trường kém của các DNNVV
Khả năng tiếp cận thị trường của các DNNVV nhiều hạn chế, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài Nguyên nhân chủ yếu là do các DNNVV thường là những doanh nghiệp mới hình thành, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing không có và họ cũng chưa
có nhiều khách hàng truyền thống Thêm vào đó, quy mô thị trường của các doanh nghiệp này thường bó hẹp trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn
Ngoài ra, các DNNVV phải đối mặt với những vấn đề về nguồn nhân lực (vấn đề đào tạo và đào tạo lại), công nghệ (do vốn đầu tư và nghiên cứu hạn chế), thị trường sản phẩm (khả năng cạnh tranh thấp),
Do vai trò quan trọng của các DNNVV trong nền kinh tế và những hạn chế trong quá trình phát triển của khu vực này, nên các DNNVV cần được hỗ trợ và khuyến khích phát triển nhằm phát huy những vai trò quan trọng và tích cực của chúng trong nền kinh tế Việc
hỗ trợ sẽ làm giảm bớt những thiệt thòi và khó khăn do quy mô của doanh nghiệp tạo ra
Qua phần phân tích thực trạng trên, điều ta có thể nhận thấy rõ nhất là số lượng doanh nghiệp liên tục được thành lập, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế nói chung Theo đó, vai trò của các DNNVV cũng dần được thể hiện rõ qua các chỉ số về quy
mô nguồn vốn, khả năng giải quyết lao động, khả năng phát triển hàng hóa trên tất cả các ngành nghề, địa phương, góp phần chuyên môn hóa lao động trên toàn địa bàn cả nước Tuy nhiên, bên cạnh đó, với những đặc điểm của nền kinh tế xuất phát điểm còn yếu về nguồn vốn, kỹ năng lao động, đã dẫn đến những tự phát trong hình thành, tạo thành những doanh nghiệp thiếu liên kết, thiếu vững chắc và dễ bị chi phối bởi những biến động vĩ
mô trên thị trường Trong khi đó, các chủ DNNVV cũng xuất phát điểm từ nhiều nguồn khác nhau nên việc quản trị doanh nghiệp chưa được đồng nhất, nhất quán, chủ yếu quản lý doanh nghiệp theo kiểu quản trị gia đình Tất cả những điểm trên đã phần nào ảnh hưởng đến khả năng liên kết bảo vệ lẫn nhau trong thị trường, đặc biệt là thị trường hội nhập, khả năng mở rộng quy mô hoạt động,
Để có thể giải quyết những khó khăn tồn tại này của DNNVV, trong thực tế, nhà nước cũng đã có những chính sách, chỉ đạo thành lập các trung tâm hỗ trợ DNNVV, thành lập các mô hình và yêu cầu các ngân hàng, các tổ chức tài chính cần có những hỗ trợ tích cực cho DNNVV trong quá trình hoạt động của mình Cụ thể, những mô hình, những chính sách đó có thể được phân tích cụ thể như sau:
5 CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DNNVV TẠI VIỆT NAM
Sự tồn tại và phát triển DNNVV đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế đất nước, bên cạnh các mặt thuận lợi, các DNNVV đã và đang gặp nhiều khó khăn, thách thức trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mà trong đó khó khăn lớn nhất là mặt tài chính Vì thế, các chính sách hỗ trợ tài chính của Nhà nước có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với sự phát triển của DNNVV, mà còn đối với sự phát triển nền kinh tế đất nước Tuy nhiên, hỗ trợ không có nghĩa là nhà nước bao cấp mà sự hỗ trợ này phải có mục tiêu, có điều kiện, có thời hạn… và đặc biệt là phải phù hợp với những cam kết song phương, đa phương khi nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới
Trang 26Xác định được vai trò quan trọng của DNNVV, trong thời gian qua, chính phủ đã có nhiều văn bản đề cập đến khu vực kinh tế các DNNVV nhằm khuyến khích, hỗ trợ và định hướng sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này
Trong Công văn số 681/CP-KTN ngày 20/6/1998 của Chính phủ về định hướng chiến lược và chính sách phát triển các DNNVV có nêu: “Để thống nhất quản lý nhà nước về việc
hỗ trợ các DNNVV trong cả nước theo tinh thần của Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư (khoá VIII), Thủ tướng Chính phủ có ý kiến như sau: “Tạm thời quy định thống nhất tiêu chí xác định DNNVV ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 10
tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 300 người Trong quá trình thực hiện, các Bộ, ngành và địa phương có thể căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể mà áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên Tiêu chí này là quy ước hành chính để xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ DNNVV”
Theo đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư được Chính phủ giao chủ trì soạn thảo Nghị định về chính sách khuyến khích phát triển DNNVV trình Chính phủ phê duyệt Đó là Nghị định số 90/2001/CP ngày 23/11/2001 quy định về khái niệm, đối tượng áp dụng, các chính sách khuyến khích, cơ cấu tổ chức và hoạt động của các tổ chức xúc tiến DNNVV Nghị định là văn bản pháp quy có hệ thống đầu tiên quy định về các DNNVV tại Việt Nam, là cơ sở cho việc ban hành các chính sách khuyến khích, hỗ trợ các DNNVV
Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 2005 đã có tác động rất lớn đến quá trình phát triển của các DNNVV Các quy định thông thoáng hơn về thủ tục thành lập cũng như việc huỷ bỏ quy định về vốn pháp định đã tạo điều kiện cho số lượng doanh nghiệp được thành lập tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là các doanh nghiệp có lượng vốn nhỏ mà trước đây rất khó được thành lập do không đáp ứng được điều kiện về vốn pháp định hoặc do thủ tục quá rườm rà không đủ chi phí thành lập
Luật Khuyến khích đầu tư trong nước cũng quy định việc bảo đảm và hỗ trợ các doanh nghiệp thành lập mới về thuế ngoài những ưu đãi khác theo pháp luật Điều 5 của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước quy định: “Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, lợi nhuận, các quyền và lợi ích khác của chủ đầu tư” Khoản 1 Điều
10 cũng quy định: “Cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập được giảm 50% thuế lợi tức thêm từ một đến 2 năm; …” Điều 11 của Luật này cũng quy định: “Chủ đầu tư thành lập cơ
sở sản xuất, kinh doanh mới theo quy định tại Điều 9 của Luật này bảo đảm có hiệu quả, thì được ưu tiên xem xét cho vay tín dụng trung hạn và dài hạn từ các quỹ hỗ trợ đầu tư…” Những quy định này đã góp phần quan trọng trong việc khuyến khích thành lập DNNVV mới
Các văn bản như Luật Hợp tác xã, Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài, các quy định về thuế, xuất nhập khẩu cũng có những quy định tác động đến việc hình thành và phát triển số lượng DNNVV thông qua các cơ chế thông thoáng hơn, tạo điều kiện thuận lợi
về môi trường cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hệ thống thể chế hỗ trợ DNNVV tại Việt Nam hoạt động dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng được thành lập theo Nghị định 90/2001/NÐ-CP ngày 23/11/2001 Trong đó, có sự tham gia của Hội động khuyến khích phát triển DNNVV, Bộ Kế hoạch và đầ tư, UBND các tỉnh, thành phố và các sở ban ngành tham gia được mô hình hóa theo sơ đồ sau Các cơ quan ban ngành của Chính phủ ở Trung ương phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đại diện cho khu vực tư nhân và các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cũng như nhà nước hỗ trợ
Trang 27DNNVV nâng cao năng lực cạnh tranh Những chính sách hỗ trợ được kiến nghị lên Hội đồng khích phát triển DNNVV để cố vấn cho thủ tướng chính phủ
Hình 11: Mô hình hổ trợ DNNVV của chính phủ
5.1 Chính sách đầu tƣ
Chính sách đầu tư của Chính phủ chủ yếu được thực hiện gián tiếp thông qua xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, chợ, bến cảng, điện nước, thủy nông, bưu chính viễn thông ) để tạo môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế Điều thiết thực hơn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh là Nhà nước đầu tư hạ tầng cơ sở ở các vùng sâu, vùng xa, các khu vực được Nhà nước khuyến khích kinh tế tư nhân đầu tư Đầu tư cơ sở hạ tầng là cái nền quan trọng để thu hút mọi nguồn vốn đầu tư trong dân, trong
đó các DNNVV luôn có vị thế quan trọng Người ta thường nói: “tiểu lộ tiểu phát, trung lộ trung phát, đại lộ đại phát” Điều đó cũng có nghĩa là, đường xá mở ra đến đâu thì hoạt động kinh tế, kinh doanh của tư nhân càng sôi động đến đó và tạo khả năng khai thác mọi nguồn lực trong các tầng lớp dân cư
Như vậy, song song với cách doanh nghiệp có quy mô lớn, tập trung vào những lĩnh vực cơ sở hạ tầng, tạo môi trường đầu tư Các DNNVV được thu hút đầu tư vào những ngành khai thác thế mạnh của từng địa phương, các ngành có lợi thế so sánh trong khu vực nhằm tận dụng nguồn nguyên – nhiên liệu, nguồn lao động và phù hợp với quy mô vốn nhỏ hiện nay Đặc biệt là đối với các vùng xa, vùng sâu, chính sách thu hút và ưu đãi trong đầu
tư cần được thể hiện rỏ nét hơn nhằm phát triển kinh tế, nâng cao mức sống người dân của người dân khu vực này
5.2 Chính sách thuế
Áp dụng chính sách thuế hợp lý, phù hợp với đặc điểm kinh tế sẽ là nhân tố tác động tích cực để DNNVV phát triển đúng hướng, tăng cường tích tụ, mở rộng quy mô, góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước Một chính sách thuế hợp lý, có tác động
Trang 28mạnh mẽ như một đòn bẩy đối với hoạt động của DNNVV bằng từ hướng đi, ngành nghề đến địa bàn kinh doanh Thông qua chính sách thuế và đặc biệt là chế độ ưu đãi về thuế đối với các sản phẩm, dịch vụ cần thiết, thuế sẽ trở thành công cụ đắc lực trong việc hướng dẫn, điều tiết các hoạt động kinh doanh, cũng như khuyến khích hiện đại hóa công nghệ hay bảo hộ sản xuất kinh doanh đối với các DNNVV Chính sách thuế đặc biệt có hiệu quả trong trường hợp phát triển các vùng khó khăn như vùng Tây Bắc, Tây Nguyên Theo thống kê doanh nghiệp của tổng cục thống kê, số DNNVV năm 2006 chủ yếu tập trung tại hai vùng trung tâm là TPHCM (41.107 DNNVV) và Hà Nội (31.076 DNNVV), trong khi đó, tổng số DNNVV của cả vùng Tây Bắc chỉ là 1.251 doanh nghiệp, cả vùng Tây Nguyên là 3.517 doanh nghiệp Như vậy, tác động của chính sách thuế như miễn thuế, giảm thuế cho các DNNVV tại các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa như những vùng này là điều kiện cần thiết
để góp phần phân bố lại doanh nghiệp trên địa bàn cả nước
5.3 Chính sách tín dụng
Vốn tín dụng là một nguồn bổ sung quan trọng cho các DNNVV trong quá trình phát triển Như được phân tích ở trên, khó khăn lớn nhất của các DNNVV là nguồn vốn và khả năng tiếp cận nguồn vốn Giải quyết vấn đề này, theo quyết định 193/QĐ-TTG ban hành ngày 20 tháng 12 năm 2001 về việc ban hành quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV Đây là một tổ chức tài chính hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, đảm bảo hoàn toàn vốn và bù đắp chi phí Quỹ bảo lãnh tín dụng có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại trong nước Được thành lập từ vốn ngân sách của các tỉnh, thành phố, vốn góp của các tổ chức tín dụng, vốn góp của các doanh nghiệp và các hiệp hội, ngành nghề,
Theo nghị định này, trong trường hợp DNNVV có dự án đầu tư, có phương án kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ, có tài sản thế chấp tối thiểu là 30% giá trị vay và không có nợ đọng, thuế dài hạn đều có quyền được vay vốn tại các tổ chức này
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, chưa có sự bình đẳng thực sự trong quan hệ tín dụng Nếu coi DNNVV là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân, cần thiết phải tạo môi trường thuận lợi trong quan hệ tín dụng trong các tổ chức tín dụng chính thức, quỹ bảo lãnh hay các ngân hàng thương mại đối với loại hình kinh tế này Sự hỗ trợ tín dụng đó, trước tiên phải thông qua các biện pháp để các ngân hàng thương mại nới lỏng việc cho vay vốn trong giới hạn cho phép, đặc biệt trong khâu lập dự án đầu tư và mở rộng đầu tư có tính khả thi
Ngoài ra, chính phủ cần có những chính sách thích hợp, tạo điều kiện chon DNNVV huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán không chính thức (OTC) cũng là một cách
để các DNNVV có điều kiện tiếp cận vốn đầu tư, tích tụ mở rộng kinh doanh và tham gia vào hoạt động của thị trường tài chính
Một thực tế dễ dàng nhận ra, trong quá trình phát triển, với quy mô nguồn vốn cho đầu tư và phát triển không nhiều Khả năng hỗ trợ tín dụng của chính phủ còn nhiều hạn chế, việc huy động nguồn vốn từ bên ngoài, từ các nguồn đầu tư gián tiếp của các tổ chức tín dụng quốc tế đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên, nguồn lực bên ngoài này thực tế chưa được các DNNVV trong nước quan tâm, nguyên nhân do khả năng hội nhập của kinh tế của các DNNVV Việt Nam còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, chính phủ vẫn chưa có văn bản chính thức nào định hướng, hỗ trợ sử dụng nguồn vốn bên ngoài quốc gia cho các DNNVV
Trang 295.4 Chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực
Nhằm mục tiêu Cung cấp những kiến thức cần thiết cho chủ doanh nhân, cán bộ quản lý các doanh nghiệp nhỏ và vừa, những người có ý định thành lập doanh nghiệp; khắc phục những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng và thông tin, từng bước nâng cao năng lực quản
lý, phát triển kỹ thuật, công nghệ và nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa; trợ giúp nhà quản lý các doanh nghiệp nhỏ và vừa kiến thức và
kỹ năng xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường trong và ngoài nước đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế theo Quyết định số 143/2004/QĐ-TTg ngày 10 tháng 8 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ, chương trình đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực cho DNNVV được thực hiện cụ thể như sau:
Đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa: (i) Đào tạo quản trị doanh nhằm nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc lập kế hoạch và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua các khoá đào tạo về quản lý kinh doanh tổng hợp Tăng cường năng lực quản lý nhân sự cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các khoá đào tạo về quản trị nhân sự Tăng cường năng lực tiếp thị cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các khoá đào tạo về quản trị marketing Trợ giúp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc lập kế hoạch tiếp thị, kỹ năng tiếp thị, kỹ năng để tham gia hội chợ, triển lãm thông qua các khoá đào tạo nghiệp vụ về kế hoạch, kỹ năng tiếp thị, tổng hợp Tăng cường năng lực quản lý tài chính, kế toán cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các khoá đào tạo về quản trị tài chính - kế toán Tăng cường năng lực quản
lý kỹ thuật công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các khoá đào tạo về quản lý kỹ thuật - công nghệ (ii) Bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nhằm tăng cường kỹ năng của các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh tổng hợp để có đủ năng lực tham gia các hoạt động đào tạo khác nhau của Chương trình, trong đó chú trọng đến đào tạo tư vấn tổng hợp
và kỹ năng marketing cho các chuyên gia tư vấn, giảng viên và tạo cơ hội cho đối tượng này thực hành các tiêu chuẩn hành nghề chuyên nghiệp Sau khi tham dự đào tạo về tư vấn tổng hợp, các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh sẽ được đào tạo chuyên sâu về khởi sự thành lập doanh nghiệp, quản lý kinh doanh tổng hợp, quản trị marketing, quản trị tài chính -
kế toán, lập kế hoạch kinh doanh, quản lý kỹ thuật - công nghệ, quản trị nguồn nhân lực
Các DNNVV đang trên đà phát triển mạnh mẽ, do vậy cũng thu hút đông đảo và thường xuyên nguồn nhân lực ở mọi trình độ Một chính sách hỗ trợ thiết thực của Nhà nước sẽ là nhân tố tích cực trong đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho hoạt động kinh doanh đối với các DNNVV Nguồn nhân lực, suy cho cùng cũng là yếu tố có tính quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong lĩnh vực này có ý nghĩa trước mắt và lâu dài trong tăng trưởng, phát triển, cạnh tranh, góp phần tăng tiềm lực cho nền kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập Để làm được điều này, đòi hỏi sự đầu tư mạnh mẽ cho ngành giáo dục một cách đồng bộ trên tất cả các ngành khoa học cơ bản từ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội Trong đó, đặc biệt chú trọng vào các ngành công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật, công nghệ quản lý, công nghệ sinh học và nghiên cứu khoa học căn bản Bên cạnh đó, chính sách đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp cũng cần được nhà nước quan tâm, đầu tư, định hướng và hổ trợ nguồn vốn để DNNVV có thể mạnh dạn đầu tư cho nguồn lao động cơ bản trong chính nội bộ doanh nghiệp Và căn bản nhất, từ chính doanh nghiệp và nhà nước cần
Trang 30dành một nguồn vốn căn bản cho chính sách đào tạo nguồn nhân lực Đây lại là vấn đề khó khăn đối với doanh nghiệp
Trong quá trình hội nhập, DNNVV lại chịu một sức ép cạnh tranh lớn, đặc biệt là sức
ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó, nổi bậc nhất là từ Trung Quốc Tuy nhiên, kiến thức về hội nhập và khả năng cạnh tranh đối với các DNNVV còn nhiều bất cập nhưng lại chưa được sự định hướng cụ thể từ phía chính phủ, vì vậy, việc tự mình “bơi” trên biển lớn là điều mà các DNNVV Việt Nam đang phải thực hiện
Theo một góc nhìn khác, thị trường phải được coi là một thể thống nhất bao gồm thị trường trong và ngoài nước đối với mọi thành phần kinh tế Do vậy một chính sách bình đẳng đối với mọi thành phần kinh tế thông qua cung cấp thông tin, các hình thức quảng bá, triển lãm trong tiếp cận thị trường có ý nghĩa quan trọng Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, sự khuyến khích DNNVV tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp hàng hóa đối với các doanh nghiệp có đủ điều kiện, không qua khâu trung gian Chính sách khuyến khích DNNVV
có đủ điều kiện đầu tư vốn ra nước ngoài sẽ tạo điều kiện cùng với doanh nghiệp nhà nước tạo thị trường quốc tế bền vững mà hàng hóa Việt Nam có thế mạnh Xây dựng thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước đối với DNNVV cũng cần có chính sách hỗ trợ thích đáng của Nhà nước bởi nguồn lợi ích kinh tế mà nó mang lại cho nền kinh tế quốc dân Ngoài ra, để DNNVV phát huy lợi thế của mình, thì sự tác động của các chính sách hữu quan cũng sẽ tạo ưu thế trong hoạt động kinh doanh của loại hình doanh nghiệp này
5.6 Các chính sách có liên quan khác
Chính sách đất đai
Để sản xuất kinh doanh các DNNVV cũng cần có mặt bằng để hoạt động, đặc biệt là trong điều kiện Nhà nước khuyến khích các hoạt động sản xuất kinh doanh vào các khu công nghiệp, song hiện tại chính sách này chưa là hiện thực đối với DNNVV thuộc kinh tế tư nhân Sự áp dụng bình đẳng chính sách đất đai đối với DNNVV hiện nay rất bức xúc, bởi Nhà nước cũng đang khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển và cùng với kinh tế nhà nước
Trang 31hình thành một cơ cấu kinh tế thống nhất, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Do vậy, chính sách đất đai cũng là một chính sách quan trọng đối với kinh tế tư nhân mà đặc biệt là đối với các DNNVV đang có xu thế phát triển mạnh mẽ
Chính sách về công nghệ
Đổi mới công nghệ là điều kiện sống còn và phát triển của mọi doanh nghiệp Với đặc điểm nổi bật của DNNVV là đổi mới công nghệ linh hoạt, do vậy việc này có thể diễn ra thường xuyên Sự vận dụng chính sách thích hợp sẽ cho phép các DNNVV giảm được chi phí, tăng tích tụ, mở rộng kinh doanh, phát triển về quy mô để cùng với các thành phần kinh
tế khác đóng góp tích cực vào quá trình phát triển nền kinh tế
Những chính sách trên lĩnh vực công nghệ cần có tác động hỗ trợ của chính sách tài chính, chính sách đào tạo nguồn nhân lực Tùy từng điều kiện mà vận dụng cho DNNVV một cách hợp lý Tuy nhiên, các chính sách đó chỉ có thể phát huy đầy đủ hiệu lực của nó khi nó được tiến hành một cách đồng bộ và hệ thống
Để hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách Trong đó đáng chú ý nhất là Nghị định 90/2001/NĐ – CP Quyết định 132/2000 về chính sách hỗ trợ, khuyến khích công nghiệp nông thôn làng nghề cũng có tác động lớn lên các doanh nghiệp này Các ngành, các địa phương cũng đã ban hành nhiều chính sách và giải pháp liên quan như phát triển thị trường tài chính, hỗ trợ đăng ký sở hữu công nghiệp, xúc tiến thương mại, chuyển giao công nghệ Chính phủ còn đang triển khai QĐ 191/2005/TTg-CP (ngày 29/7/2005) về việc Hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ hội nhập và phát triển giai đoạn 2005-2010, do Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) chủ trì thực hiện Hiện nay, nước ta có trên 200.000 doanh nghiệp, trên 96 % trong số đó là các DN nhỏ và vừa, và hơn 2,5 triệu hộ kinh doanh khác đang hoạt động Nhu cầu ứng dụng CNTT trong lực lượng sản xuất và quản lý điều hành là không nhỏ và nếu ứng dụng tốt sẽ đem lại những thành quả quan trọng đối với nền kinh tế đất nước Các doanh nghiệp của chúng ta, đặc biệt
là các DNNVV tại các địa phương có những hạn chế nhất định về nguồn nhân lực, về tài chính, về cách thức tổ chức quản lý khi ứng dụng CNTT
6 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DNNVV TẠI MỘT SỐ NƯỚC
6.1 Kinh nghiệm Trung Quốc
Thực trạng phát triển DNNVV Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường mở Có thể nói giữa Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với nhau, từ nền kinh tế chuyển đổi, đến nền văn hóa Việt Nam cũng bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa Trung Quốc Tìm hiểu các DNNVV Trung Quốc sẽ phần nào tìm ra giải pháp cho các DNNVV Việt Nam
Trung Quốc đã bắt đầu công cuộc chuyển đổi bằng cách tập trung vào việc mở mang DNNVV thuộc nhiều thành phần kinh tế Kể từ khi Trung Quốc bắt đầu cải tổ nền kinh tế và thực hiện chính sách mở cửa, các DNNVV phát triển rất mạnh
Sau khi Trung Quốc (TQ) gia nhập WTO năm 2001, DNNVV-TQ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn Nhưng sau đó, họ vực lại được và thành đối thủ đáng gờm nhất châu Á
về sức cạnh tranh Ngoài việc phải đương đầu với các đối thủ nước ngoài hùng mạnh,
Trang 32DNNVV- TQ còn gặp nhiều khó khăn trong vay vốn ngân hàng, thiếu trình độ công nghệ cao, thừa thiết bị và công nghệ lạc hậu; và, quan trọng nhất: thiếu kiến thức về hội nhập thị trường thế giới Một yếu tố nữa hạn chế các DNNVV-TQ là tư duy của những người quản lý doanh nghiệp (DN) Lối quản lý theo kiểu gia đình tạo ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực lên hoạt động của các DNNVV-TQ vì thế, sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) một năm, hàng chục ngàn DNNVV-TQ đã phá sản và hơn 10 triệu người bị thất nghiệp
Tuy nhiên, các DNNVV dễ thích nghi với nền kinh tế WTO hơn là các DN nhà nước
vì các DNNVV không cồng kềnh, không gặp các vấn đề quản trị và tài chính như những công ty nhà nước Các DNNVV có thể nắm bắt cơ hội do WTO tạo ra bằng cách tham gia sâu hơn vào chuỗi cung của những công ty đa quốc gia, thực hiện những phần việc và dịch
vụ cho hơn 500 công ty hàng đầu thế giới Trong trường hợp này, tính linh hoạt, khả năng cạnh tranh mạnh mẽ của các DN nhỏ khiến họ dễ trở thành đối tác của những công ty nước ngoài hơn là các DN nhà nước Vì thế, sau áp lực cạnh tranh ban đầu, các DNNVV-TQ đã nhanh chóng xốc lại lực lượng, tham gia hội nhập với một khí thế mới
Chính Phủ TQ cũng cố gắng cải thiện môi trường chính sách cho các DNNVV Bên cạnh việc hỗ trợ tài chính, cắt giảm các thủ tục và điều chỉnh luật pháp, phạm vi đầu tư của DNNVV cũng được mở rộng Tất cả các khu vực cho phép đầu tư nước ngoài đều được mở cho tư nhân, trừ một vài lĩnh vực, như công nghiệp quốc phòng
Đến cuối năm 2006, Chính Phủ TQ thể hiện rõ mong muốn các DNNVV đóng một vai trò quan trọng hơn trong sự phát triển kinh tế TQ trong những năm tới Một loạt chính sách
ưu đãi được phác ra để hỗ trợ hàng chục nghìn DNNVV Các chính sách ưu đãi bao gồm thuế, quyền sử dụng đất, cho vay nợ, tài trợ vốn, việc làm, mậu dịch ngoại biên, hợp tác, liên doanh với các đối tác nước ngoài Ông Wang giục các DNNVV nắm bắt lấy những cơ hội vàng đang xuất hiện và cố gắng gia tăng sự hiện diện cả ở thị trường nội địa lẫn quốc tế
Các DNNVV-TQ cũng được khuyến khích mở rộng hợp tác với các đối tác nước ngoài, tăng cường đầu tư ra nước ngoài, chủ động tham gia các cuộc cạnh tranh quốc tế và gia tăng sự hiện diện trên thị trường thế giới Chính Phủ TQ không tiếc nỗ lực giúp DNNVV vượt qua những khó khăn về tài chính và phát triển TQ đã thành lập một quỹ đặc biệt, lấy từ ngân sách trung ương để hỗ trợ các DNNVV Theo đó, các DNNVV sẽ được hỗ trợ miễn phí
và vay ưu đãi lên tới 250.000 USD cho mỗi dự án Mục đích đẩy mạnh sự phát triển của các DNNVV, giúp họ tiến bộ hơn về công nghệ, dễ dàng hơn trong việc hợp tác với những công
ty lớn, và cải thiện môi trường phát triển
Trung Quốc hi vọng tỉ lệ đóng góp vào GDP của DNNVV sẽ tăng từ 60% (cuối 2005) lên 65% trong 5 năm tới (tăng 1%/năm) Cuối 2005, DNNVV-TQ đã đóng gần 1/2 tiền thuế của nước này và sử dụng hơn ¾ lực lượng lao động thành thị Đóng góp 65% các sáng chế của TQ, hơn 75% sáng tạo về công nghệ và 80% loại sản phẩm mới
Sự lớn mạnh của các DNNVV Trung Quốc khiến các đối thủ lo ngại Các DNNVV Singapore lâu nay vẫn được xếp hạng cao về khả năng cạnh tranh trong khu vực, nhưng nay phải xếp dưới các DNNVV-TQ, Nhật Bản và Hàn Quốc Đây là kết quả một cuộc điều tra của tập đoàn UPS với 1.200 DNNVV hàng đầu châu Á UPS nhận thấy các DNNVV-TQ đã trở nên mạnh nhất châu Á về sức cạnh tranh
Các chính sách phát triển DNNVV ở Trung Quốc
Các chính sách phát triển DNNVV ở Trung Quốc được dựa trên bốn điểm chính sau:
Trang 33- Thứ nhất, phải căn cứ vào quy mô kinh tế hợp lý để tổ chức sản xuất
- Thứ hai, các DNNVV cần được đầu tư với kỹ thuật và kỹ năng quản lý hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng quản lý
- Thứ ba, các DNNVV cần linh hoạt để phù hợp với thị trường, tránh sự trùng lập và tình trạng dư thừa
- Thứ tư, các doanh nghiệp lớn cần đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, sự phát triển của các doanh nghiệp này sẽ kéo theo sự tăng trưởng của các DNNVV Lĩnh vực trọng điểm của phát triển các DNNVV ở Trung Quốc là mở rộng việc làm và tập trung vào khu vực dịch vụ
Dịch vụ gần với quần chúng và trực tiếp phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt, do vậy DNNVV có ưu thế hơn trong lĩnh vực dịch vụ Đặc điểm của kinh doanh dịch vụ ở các địa phương không giống nhau Hai lĩnh vực chính phát triển dịch vụ là buôn bán nhỏ và ăn uống rất tương ứng với sức tăng tiêu dùng Bên cạnh đó, quy mô và không gian phát triển dịch vụ của DNNVV rất lớn, ngoài ra còn những ngành khác như dịch vụ gia đình, bảo vệ môi trường, du lịch, in ấn, giải trí, văn phòng Theo thống kê và tính toán của các ngành thì riêng lĩnh vực phục vụ gia đình và phục vụ công cộng có chính sách điều tiết tốt sẽ có thể tạo được 11 triệu công ăn việc làm
Vấn đề thành lập cơ cấu quản lý chuyên môn các DNNVV
Trung Quốc đang xúc tiến thành lập ủy ban kinh tế mậu dịch quốc gia trực thuộc ủy ban DNNVV Đây chính là đầu mối để giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính quyền và doanh nghiệp, có trách nhiệm chỉ đạo sản xuất, giúp đỡ bồi dưỡng nhân viên… nhưng không được can thiệp vào các hoạt động kinh doanh như đầu tư, kinh doanh sản xuất, tiêu thụ của DNNVV Với ủy ban này, không cần thiết phải có một cơ cấu quản lý có tính toàn quốc mà tự các địa phương nếu thấy cần thiết thì thành lập cơ cấu quản lý các DNNVV địa phương, nhưng phải bảo đảm nguyên tắc tách chính quyền với doanh nghiệp
Các xí nghiệp hương trấn ở Trung Quốc
Một trong những đặc điểm của DNNVV ở Trung Quốc là sự lớn mạnh không dự kiến trước của các xí nghiệp hương trấn (Township Village Enterprises - TVE) Khi những hạn chế đối với các hoạt động phi nông nghiệp từng bước được xóa bỏ thì các TVE bung ra để thu hút lao động nông thôn và đóng góp vào việc làm tăng thu nhập về ngoại tệ
Ngay từ đầu các TVE đã được phép giữ lại lợi nhuận và tăng năng suất đáng kể nhờ tái đầu tư Ngoài ra, ban đầu họ được hưởng những điều kiện thuận lợi về thuế, được vay vốn của các hợp tác xã tín dụng Một điểm khác là các TVE được quyền tự do bán sản phẩm của mình theo giá cả thị trường Đồng thời là sự thay đổi về chế độ tiền lương: trước nay tiền lương được trả cho đội sản xuất và sau đó được phân phối cho các thành viên của đội, nhưng với những TVE mới được thành lập chuyển sang trả lương trực tiếp và dựa vào kết quả lao động, qua đó cải thiện đáng kể động cơ làm việc và năng suất cá nhân
Sự gia tăng nhanh chóng của các TVE đã làm thay đổi mạnh mẽ bộ mặt kinh tế xã hội, đặc biệt là ở nông thôn, nơi có khoảng 19 triệu TVE và các xí nghiệp này đã sử dụng trên 100 triệu công nhân (1992) trong tổng số lực lượng lao động của đất nước là khoảng
430 triệu người
Trang 34Tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ và các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu từ cấp huyện trở xuống
Thường các chương trình tư nhân hóa đều do chính quyền địa phương khởi xướng, với lý do quan trọng nhất là số nợ của khu vực kinh tế nhà nuớc đang lớn dần lên, đặc biệt
là tại các thành phố nhỏ Giải pháp chung của các địa phương là tư nhân hóa các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, đặc biệt có vài địa phương như là Chu Thành thuộc tỉnh Sơn Đông
và Thuận Đức đã bán toàn bộ doanh nghiệp tập thể và doanh nghiệp nhà nước
Hiện nay, chính quyền Trung Quốc có nhiều chính sách ưu đãi về thuế và thành lập các quỹ đặc biệt dành cho DNNVV, khuyến khích DNNVV niêm yết ở thị trường chứng khoán nước ngoài, đồng thời mở rộng các kênh tài chính cho DNNVV
6.2 Kinh nghiệm Hàn Quốc
Thực trạng phát triển DNNVV tại Hàn Quốc
Hàn Quốc hiện có gần 3 triệu DNNVV, chiếm 99,8% các DN đang hoạt động, sử dụng gần 1 triệu lao động, chiếm 86%tổng số lao động cả nước, mỗi năm cung cấp 270 ngàn việc làm mới Theo thống kê của Bộ DNNVV, mỗi năm tại Hàn Quốc có gần 50.000 DNNVV được tạo lập, trong đó khoảng 80% DN ngừng hoạt động Số liệu thống kê cho thấy DNNVV thể hiện đúng bản chất của tên gọi, đa dạng, chiếm lĩnh nhiều lĩnh vực trong xã hội, bùng nổ trong một giai đoạn ngắn theo nhu cầu thị trường, dễ bị thất bại khi không còn thích nghi với môi trường mới và không có những định hướng chiến lược lâu dài để trường tồn và phát triển
Chính sách phát triển DNNVV tại Hàn Quốc
Xây dựng tầm nhìn và mục tiêu chiến lược cho DNNVV trong nước: để thực hiện định
hướng này, Bộ DNNVV đã đưa ra tầm nhìn “Phát triển DNNVV theo mô hình đổi mới hướng tới sản lượng 30.000 USD” Tầm nhìn được triển khai thành mục tiêu chiến lược, đổi mới trong sản xuất và áp dụng công nghệ tiên tiến đạt giá trị sản lượng bình quân 30.000 USD/năm Từ 2007, tạo mọi điều kiện để xây dựng được 14.000 DNNVV đạt mức sản lượng 30.000 USD/năm, từng bước để các DNNVV thích nghi với thị trường
Thực hiện chiến lược tăng cường hỗ trợ phù hợp với đặc tính của từng giai đoạn tăng trưởng Chính sách này tập trung vào 3 giai đoạn của vòng đời DN: Khởi nghiệp - Nuôi
dưỡng thúc đẩy tăng trưởng - tăng trưởng, toàn cầu hóa
(i) Linh hoạt hóa khởi nghiệp: bằng các chính sách như tăng cường đào tạo nguồn
nhân lực, cải thiện cơ chế quản lý, đơn giản hóa thủ tục rút ngắn thời gian thành lập, hỗ trợ vốn khởi nghiệp, mặt bằng và thuế (ưu tiên cho các DN mạo hiểm) Song song với thực hiện đồng bộ các chính sách, Chính phủ đã định hướng lĩnh vực ưu tiên phát triển là các ngành công nghiệp chế tạo, hình thành loại hình “thung lũng Silicon Hàn Quốc” cho DNNVV, hỗ trợ 50% chi phí trang thiết bị và giảm thuế doanh thu, sử dụng tài sản, đất… để tạo cơ sở ban đầu làm nền tảng cho các DNNVV thoát khỏi tình trạng yểu mệnh
(ii) Nuôi dưỡng và thúc đẩy tăng trưởng: tập trung vào chính sách hỗ trợ đổi mới
công nghệ, thương mại hóa sản phẩm công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển (R&D) và nhận chuyển giao kết quả R&D từ các chương trình của Chính phủ để đổi mới công nghệ Cũng như các nước khác, điểm yếu nhất của các DNNVV là trang bị kỹ thuật yếu kém cả về trình độ lẫn qui mô, vì các chương trình R&D thường tập trung vào các tập đoàn kinh tế lớn;
Trang 35chính sách đổi mới công nghệ giúp các DNNVV có kinh phí hỗ trợ từ Nhà nước để nghiên cứu đổi mới công nghệ phù hợp với ngành và phạm vi hoạt động, đồng thời có thể tiếp nhận
và ứng dụng nhanh những thành tựu của nghiên cứu mới vào hoạt động hiện hữu
Chính sách thương mại hóa sản phẩm gắn liền với chủ trương thực hiện các hợp đồng mua sản phẩm của Chính phủ và các tập đoàn công nghiệp lớn, trong đó có phần hỗ trợ bảo lãnh tín dụng và thiết kế mẫu mã thích nghi với thị trường
(iii) Tăng trưởng - toàn cầu hóa là nhóm giải pháp nhằm ổn định nguồn nhân lực,
củng cố điều kiện làm việc và xây dựng năng lực cạnh tranh toàn cầu Để ổn định nguồn nhân lực cho DNNVV, gắn tương lai DNNVV với tương lai đại học và nền kinh tế, Chính phủ
đã có chủ trương thay đổi nhận thức của giới lao động về hoạt động và hướng phát triển của DNNVV, bằng các giải pháp vô cùng hữu hiệu như: ưu tiên cho sinh viên các trường đại học thực tập tại DNNVV (có cộng thêm điểm), bổ sung vào chương trình đào tạo các môn học về DNNVV; các mô hình DNNVV thành công, CEO (Chief Executive Officer) thành công từ các DNNVV cũng được đưa vào chương trình đào tạo như những điển cứu (case study), ngoài
ra còn khuyến khích DNNVV tăng cường thu nhận chuyên gia nước ngoài Theo đánh giá của Bộ DNNVV, những giải pháp này đã thay đổi nhận thức từ khi người lao động còn là sinh viên (91,5% sinh viên đã chuyển nhận thức tiêu cực về DNNVV sang tích cực), hiện nay
số lao động tốt nghiệp đại học làm việc tại các DNNVV tăng lên đáng kể (chiếm 37%), gần
70 ngàn lao động có trình độ cao là người nước ngoài đang đóng góp tích cực cho việc tăng trưởng DNNVV
Năm 2006 kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc đạt 284 tỷ USD, trong đó DNNVV đóng góp 92,1 tỷ USD (chiếm 32,4%), tăng gấp 5 lần so với 10 năm trước Với mục tiêu DNNVV chiếm 40% kim ngạch xuất khẩu trong các năm tới, Bộ DNNVV bổ sung những giải pháp như tăng cường mua các sản phẩm kỹ thuật, hỗ trợ Marketing ra nước ngoài theo những mô hình phù hợp với thị trường mục tiêu, hỗ trợ hệ thống BSO (Business Support Organization) phát huy tổng lực hướng tới quốc gia và nhóm thị trường có nhu cầu, cải tiến chế độ bảo lãnh tín dụng, bảo hiểm xuất khẩu
Thực hiện nhóm chính sách cân bằng tăng trưởng cho DNNVV và các tập đoàn: Qua
các năm thực hiện hỗ trợ nuôi dưỡng, phát triển DNNVV, vẫn còn những cách biệt về trình
độ công nghiệp hóa, sử dụng tài nguyên, liên kết kinh doanh giữa DNNVV và các tập đoàn Chính phủ đã có chủ trương nâng cao trình độ phát triển của DNNVV, thông qua việc hình thành ủy ban hợp tác sản xuất thương mại của các DN mà chủ tịch là người đại diện văn phòng Chính phủ Ủy ban này phối hợp với các tổ chức hỗ trợ thương mại xem xét, cải tổ chính sách phát triển kinh tế, tăng cường cơ chế hợp tác giữa DNNVV và các tập đoàn kinh
tế lớn, thúc đẩy DNNVV có điều kiện chuyển đổi phát triển và gia nhập tập đoàn, tăng cường
hỗ trợ để tăng số lượng và chất lượng của những DNNVV gia nhập, giải quyết mối quan hệ lợi ích có lợi cho cả 2 phía và có lợi cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế
7 NHỮNG ĐÚC KẾT TỪ NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC
Tìm ra được những giải pháp phát triển DNNVV là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách Việt Nam Do đó, qua đề tài này, kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm thành công trong phát triển DNNVV của các nước khác trên thế giới, chủ yếu là kinh nghiệm phát triển DNNVV tại Trung Quốc, Hàn Quốc và tham khảo mô hình phát triển DNNVV của Bungary, Mỹ và một số nước khác Bên cạnh những chính sách
Trang 36đã trình bày, một số đề xuất cho giải pháp phát triển DNNVV được người viết nêu ra như sau
Nhà nước tạo môi trường về pháp luật và các cơ chế, chính sách thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh nhằm huy động mọi nguồn lực trong nước kết hợp với nguồn lực từ bên ngoài cho đầu tư phát triển Kết hợp với kinh nghiệm phát triển của Trung Quốc, phát triển DNNVV cần dựa trên cơ sở tôn trọng các yêu cầu khách quan và các quy luật kinh tế, đó là (i) phải căn cứ trên quy mô kinh tế hợp lý để tổ chức sản xuất, (ii) đầu tư kỹ thuật và kỹ năng quản lý hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng quản lý, (iii) DNNVV cần linh hoạt
để tự phù hợp với thị trường, tránh trùng lập và tình trạng dư thừa và (iv) cần định hướng doanh nghiệp lớn là những doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong định hướng phát triển DNNVV, kéo theo sự phát triển của DNNVV
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo phương châm tích cực, vững chắc, nâng cao chất lượng, phát triển về số lượng, đạt hiệu quả kinh tế, góp phần tạo nhiều việc làm, xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa gắn với các mục tiêu quốc gia, các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng địa phương, khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn, làng nghề truyền thống; chú trọng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các vùng sâu, vùng xa, vùng
có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; ưu tiên phát triển và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa do đồng bào dân tộc, phụ nữ, người tàn tật … làm chủ doanh nghiệp; ưu tiên phát triển một số lĩnh vực có khả năng cạnh tranh cao Theo kinh nghiệm của Hàn Quốc, phát triển DNNVV tại Việt Nam cần xây dựng tầm nhìn và mục tiêu chiến lược cho DNNVV trong nước, phù hợp với nguồn vốn, điều kiện và công nghệ, kỹ năng hiện có của DNNVV Việt Nam Cần khắc phục tình trạng đưa ra các chương trình, phương châm chung chung, những chương trình có “phát” mà không “động”, và thực tiễn hóa các chương trình hành động của chính phủ, địa phương Mặt khác, theo kinh nghiệm của Trung Quốc (là nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam), Chính phủ cần định hướng sự phát triển của DNNVV theo các lĩnh vực trọng điểm là đẩy mạnh giải quyết việc làm, tập trung vào lĩnh vực dịch vụ Trong thực tế, với khả năng giải quyết việc làm của chính phủ còn nhiều hạn chế, sức tiêu dùng của người dân ngày càng tăng lên Do đó, định hướng này được xem là phù hợp với loại hình DNNVV tại Việt Nam
Thực hiện chiến lược tăng cường hỗ trợ phù hợp với đặc tính của từng giai đoạn tăng trưởng, phát triển của doanh nghiệp, chia sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp thành ba giai đoạn chính: (i) khởi nghiệp: cụ thể hóa bằng các chính sách tăng cường đào tạo nhân lực, cải thiện quản lý, đơn giản hóa thủ tục thành lập, hỗ trợ vốn khởi nghiệp,… Các chính sách trên cần được thực hiện một cách đồng bộ nhằm rút ngắn thời gian trong giai đoạn của doanh nghiệp (ii) Nuôi dưỡng và thúc đẩy tăng trưởng, tập trung vào chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ, thương mại hóa sản phẩm công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển và nhận chuyển giao kết quả R&D từ các chương trình của Chính phủ để đổi mới công nghệ (iii) Tăng trưởng - toàn cầu hóa là nhóm giải pháp nhằm ổn định nguồn nhân lực, củng cố điều kiện làm việc và xây dựng năng lực cạnh tranh toàn cầu
Gắn hoạt động kinh doanh với bảo vệ môi trường, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội Đây là điều kiện cần thiết để duy trì phát triển DNNVV nói riêng và nền kinh tế nói chung Nguyên nhân vì DNNVV với những tiềm lực hạn chế về vốn, lao động, công nghệ nên là những đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động của thị trường