Chúng ta vẫnthường chỉ tập trung vào hệ thống sử thi của đồng bào người Ê Đê, Mơ Nông,Gia Lai, Ba Na hay Thái… Là người con của bản làng Tà Ôi trên mảnh đất A Lưới thuộc tỉnh ThừaThiên
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Do chưa có điều kiện tiếp cận tiếng dân tộc Tà Ôi nên người viết sẽ không
thể tránh khỏi một số hạn chế trong nghiên cứu, đặc biệt trong việc phân tích kếtcấu ngôn ngữ của tác phẩm
Các dẫn chứng và chú thích trong công trình đều dựa trên bản dịch sử thi củatác giả Kê Sửu
Việc nghiên cứu sử thi dựa trên văn bản gốc bằng tiếng Tà Ôi, người viết sẽ
cố gắng thực hiện trong các công trình ở cấp cao hơn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn Cô Phạm Đặng Xuân Hương đã
quan tâm và tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này Trong suốt thời gianđược Cô hướng dẫn, em đã học hỏi được từ Cô nhiều kiến thức bổ ích, cách làmviệc nghiêm túc, khoa học, hiệu quả Em tin rằng những kiến thức và kĩ năng đó
sẽ là hành trang cần thiết giúp em tự tin hơn trong sự nghiệp trồng người saunày Em xin kính chúc Cô và gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc và gặp nhiều maymắn trong cuộc sống!
Con xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất tới gia đình, đặc biệt là bố mẹ đã luônđộng viên, tạo điều kiện tốt nhất để con có thể tập trung học tập và hoàn thànhkhóa luận này!
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2014 Sinh viên thực hiện
Phùng Lan Trang.
Trang 3
A MỞ ĐẦU
Sử thi anh hùng (trường ca) là một trong những thể loại văn học ra đời sớmnhất Nó không chỉ có giá trị văn học nghệ thuật mà còn là những trang lịch sửchân thật, hào hùng về thời kì liên minh các bộ tộc, bộ lạc Nếu như người dân
Hi Lạp có Iliat và Ôđixê, đất nước Ấn Độ được biết đến với Mahabharata vàRamayana, thì người dân Việt Nam lại càng tự hào hơn nữa với kho tàng sử thi
đồ sộ hàng đầu thế giới có số lượng lên đến hơn 800 tác phẩm
GS Đinh Gia Khánh khẳng định: “Các áng sử thi của đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam qua sự khúc xạ của tư duy huyền thoại, của óc tưởng tượng chất phác nhưng đầy tính chất lãng mạn đã phản ánh lịch sử và không hiếm khi dựng lên được những bức tranh xã hội hoành tráng Nhưng giá trị của các áng
sử thi ấy không phải chỉ là ở chỗ đó Giá trị lớn nhất ở các áng sử thi ấy là ở chỗ qua sự nghiệp của các vị thần và các vị anh hùng thể hiện được phẩm chất của nhân dân lao động với tính cách hồn nhiên, chất phác, với đầu óc năng động thông minh, với niềm gắn bó cùng nhau trong cộng đồng, với niềm tin tưởng ở khả năng vô cùng to lớn của cộng đồng, v.v…” “Sử thi còn là một hiện tượng văn hoá, có ý nghĩa văn hoá rộng lớn Các nhà nghiên cứu cho rằng sử thi là “bách khoa toàn thư” về một cộng đồng, một dân tộc” [34, tr.47].
Trong mỗi sử thi luôn nổi bật lên hình tượng người anh hùng mang lý tưởng
xã hội, lý tưởng thẩm mỹ của thời đại và dân tộc sản sinh Ngoài tầm vóc mangkích thước vũ trụ, tiêu biểu cho sức mạnh thể chất của cộng đồng, nhân vật anhhùng sử thi còn sáng ngời vẻ đẹp của đức hạnh, trí tuệ, tài năng và lòng dũngcảm, chiếm trọn cảm tình từ người đọc bởi các chiến công hiển hách trong nhiềuphương diện đời sống
Ở nước ta, từ sau Cách mạng tháng Tám, xuất phát từ nhận thức phải “quan tâm đến di sản văn hóa các dân tộc ở Việt Nam” [20, tr.32], các nhà văn hóa nói
Trang 4chung - nghiên cứu văn học dân gian nói riêng đã nỗ lực, khẩn trương trong côngtác tìm kiếm, sưu tầm, phục tác, giới thiệu hàng trăm áng sử thi của nhiều dântộc thiểu số trên khắp lãnh thổ Việt Nam, đưa kho tàng sử thi vốn chỉ được biếtđến qua một số tác phẩm ít ỏi trước đây lên con số hàng trăm Trong đó có nhiềubản sử thi đã vượt ra khỏi lớp hàng rào buôn làng, được phổ biến ra toàn đấtnước thậm chí ra thế giới.
Từ năm 2001 – 2007, Đảng và Nhà nước đã xây dựng dự án “Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên” Dự án tiến
hành trên hầu khắp các tỉnh thành Tây Nguyên và đã hoàn thành trước thời hạnđược giao Theo đó đã xác định được 388 nghệ nhân biết hát kể văn nghệ dângian và sử thi ở những mức độ khác nhau, sưu tầm được 5679 băng ghi âm 90phút của 801 tác phẩm hát kể Công việc xuất bản được thực hiện bởi ViệnNghiên cứu văn hoá, Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Công ty Cổ phần pháthành sách TP Hồ Chí Minh (gọi tắt là FAHASA) Kết quả đã in xong 75 tácphẩm (30 tác phẩm của người Ba Na, 2 tác phẩm của dân tộc Chăm, 10 tác phẩmcủa dân tộc Ê Đê, 26 tác phẩm của dân tộc Mơ Nông, 3 tác phẩm của dân tộc RaGlai, 4 tác phẩm của dân tộc Xơ Đăng) với 62 tập sách Những sử thi này đềuđược giới chuyên môn đánh giá khả quan
Tuy đã phát hiện và giới thiệu được hàng trăm sử thi mới nhưng do hạn chế
về số lượng nhà nghiên cứu có trình độ chuyên môn, trình độ ngôn ngữ, đặc biệt
là những khó khăn trong công tác dịch thuật nên còn rất nhiều các tác phẩm khácchưa đến được với bạn đọc cũng như được nghiên cứu chuyên sâu Chúng ta vẫnthường chỉ tập trung vào hệ thống sử thi của đồng bào người Ê Đê, Mơ Nông,Gia Lai, Ba Na hay Thái…
Là người con của bản làng Tà Ôi trên mảnh đất A Lưới thuộc tỉnh ThừaThiên Huế, Tiến sĩ - tác giả Nguyễn Thị Sửu (Kê Sửu) là người có công lao rấtlớn trong việc sưu tầm, chỉnh hóa và giới thiệu những tác phẩm văn học dân gian
Trang 5của người Tà Ôi Cụ thể, năm 2003, cùng với Trần Hoàng, chị giới thiệu cuốn
“Góp phần tìm hiểu văn hóa dân gian dân tộc Tà Ôi, A Lưới, Thừa Thiên Huế”
-NXB Văn hóa dân tộc (được -NXB Dân trí tái bản năm 2010) Năm 2005,Nguyễn Thị Sửu và Trần Nguyễn Khánh Phong tiếp tục sưu tầm và giới thiệu
cuốn “Truyện cổ Tà Ôi” - NXB Thuận Hóa, Huế (NXB Thời đại tái bản năm
2012) Năm 2011, Kê Sửu là người chủ biên cho công trình đạt giải B của Hội
Văn nghệ dân gian Việt Nam mang tên “Văn học các dân tộc ít người ở Thừa Thiên Huế” Năm 2012, cuốn “A - chất - Sử thi dân tộc Tà Ôi” do Kê Sửu sưu
tập, biên soạn ở dạng song ngữ Tà Ôi - Việt được giới thiệu rộng rãi, nhanhchóng trở thành tác phẩm sử thi mới thu hút sự quan tâm của bạn đọc và các nhànghiên cứu Nổi bật trong tác phẩm là hình tượng người anh hùng A - chât Đây
là nhân vật có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân
Tà Ôi, xuất hiện không chỉ trong sử thi mà còn ở nhiều truyện cổ khác Ngoài racòn có thế hệ anh hùng thứ nhất là Kan - tưi
Tuy nhiên, do mới chỉ được giới thiệu trong thời gian gần đây nên vẫn chưa
có công trình nghiên cứu nào về sử thi này, đặc biệt là về người anh hùng A
-chât Vì thế người viết mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Hình tượng người anh hùng
trong sử thi “A - chât” của dân tộc Tà Ôi” với mong muốn làm sáng tỏ hình
tượng người anh hùng theo quan niệm của dân tộc Tà Ôi để từ đó thấy đượcnhững nét riêng đặc sắc trong đời sống văn hóa - văn học của đồng bào nơi đâycũng như những nét chung thống nhất với các dân tộc khác trên lãnh thổ ViệtNam trong việc xây dựng hình tượng người anh hùng
Người anh hùng là hình tượng trung tâm chói lòa của mỗi tác phẩm sử thi,thu hút sự tìm hiểu, phân tích của nhiều nhà nghiên cứu lớn nhỏ thể hiện cụ thểthông qua các báo cáo khoa học, các luận văn tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, tiến sĩ,công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, cấp tỉnh/thành phố và Nhà nước Tại
Trang 6Việt Nam, công tác này được tiến hành và phát triển dựa trên cơ sở việc sưu tầm,giới thiệu sử thi Vì thế như đã nói ở trên, hoạt động nghiên cứu hình tượngngười anh hùng sử thi song hành cùng công tác sưu tầm chỉ thực sự bắt đầu từsau năm 1945, khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập và thực sựđẩy mạnh vào năm 1975 khi nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất.
Tập hợp các công trình nghiên cứu ta nhận thấy về mặt nội dung, hình tượngngười anh hùng thường được tìm hiểu, phân tích ở bộ ba phương diện ngoại hình
- phẩm chất - chiến công; về nghệ thuật thường là các biện pháp chủ yếu hỗ trợviệc xây dựng hình tượng người anh hùng
Quy mô của các công trình nghiên cứu có thể gói gọn, tập trung vào một tácphẩm của một dân tộc cụ thể hoặc mở rộng nhìn nhận, đánh giá khái quát dựatrên nhiều tác phẩm khác nhau
tộc Việt Nam nói chung.
Ngày 19 - 5 -1997, Hội thảo sử thi Tây Nguyên do Trung tâm Khoa học xã
hội và Nhân văn quốc gia phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk tổ chức
đã bàn luận về nhiều vấn đề xung quanh thể loại sử thi Hội thảo có ý nghĩa nềntảng, cung cấp nhiều cơ sở tài liệu quan trọng góp phần thúc đẩy hoạt độngnghiên cứu sử thi, đặc biệt là hình tượng người anh hùng trong những năm tiếptheo Việc hội nghị có cho ghi chép lại đầy đủ diễn biến, tổng kết lại tất cả các
nội dung quan trọng đưa vào cuốn “Sử thi Tây Nguyên” - NXB Khoa học xã hội
và cho xuất bản vào năm 1998 càng tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nghiêncứu Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều khẳng định vai trò to lớn của ngườianh hùng đối với cộng đồng được thể hiện thông qua hàng loạt các chiến cônghiển hách trong lao động và chiến đấu
Năm 1998, cuốn “Sử thi anh hùng Tây Nguyên” - Võ Quang Nhơn (NXB
Giáo Dục) ra đời là sự tiếp nối ở mức độ chuyên sâu và mở rộng hơn luận án
Trang 7Tiến sĩ “Về thể loại sử thi anh hùng của các dân tộc ở Tây Nguyên”của chính tác
giả (1981) Trong đó, Võ Quang Nhơn đã khẳng định vai trò quan trọng khó aithay thế được của người anh hùng Địa vị của người anh hùng được xây dựng và
ngày càng kiên cố bởi những “chiến thắng oanh liệt trước các loại tù trưởng thù địch, bảo vệ cuộc sống thanh bình của thị tộc, bộ lạc và bảo vệ hạnh phúc bị tước đoạt, cướp giật” [20, tr.55].
Bước sang thế kỉ mới, cùng với sự tiến lên mạnh mẽ của đất nước, ngàycàng có nhiều công trình nghiên cứu mang tính quy mô và chuyên sâu hơn ra đờixung quanh hình tượng người anh hùng
Phan Đăng Nhật là nhà nghiên cứu nổi tiếng đã dành nhiều tâm huyết gìngiữ và nghiên cứu giá trị của sử thi Việt Nam Riêng trong năm 1999, ông đã viết
liên tiếp hai cuốn “Sử thi Tây Nguyên”, “Vùng sử thi Tây Nguyên” (sau được
NXB Khoa học xã hội phát hành) Đến năm 2008, ông tiếp tục giới thiệu cuốn
“Nghiên cứu sử thi Việt Nam” Bên cạnh những khám phá mới về sử thi của từng
dân tộc, Phan Đăng Nhật vẫn bảo lưu quan điểm của mình trước đây về ngườianh hùng Theo ông, người anh hùng không chỉ sống đời sống cá nhân của riêngmình mà còn sống đời sống, đảm nhận trách nhiệm của cả cộng đồng Chính vìthế mà hình tượng người anh hùng thường lớn lao, hành trạng của người anhhùng thường kì vĩ và sức sống của người anh hùng là bất diệt
Năm 2009, cuốn “Sử thi Việt Nam trong bối cảnh sử thi Châu Á” được xuất bản, thực chất là tập kỉ yếu bao gồm 23/37 tham luận của các đại biểu trong Hội thảo quốc tế Sử thi Việt Nam do Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với
Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk tổ chức từ ngày 24 đến 26 - 10 - 2008 tại thànhphố Buôn Ma Thuột Các bài tham luận này tiếp tục khẳng định lại những nhậnđịnh đánh giá của các nhà nghiên cứu trước đây về người anh hùng đồng thờiphân tích, đánh giá hình tượng người anh hùng ở từng sử thi khác nhau
Trang 8Các vấn đề về nghệ thuật sử thi nói chung - nghệ thuật xây dựng hình tượng
nhân vật anh hùng nói riêng được quan tâm trình bày khá cụ thể trong cuốn “Hệ thống nghệ thuật của sử thi Tây Nguyên” - Phạm Nhân Thành (NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2010)
Không chỉ trong các tài liệu chuyên sâu về sử thi, nhiều tài liệu, giáo trìnhvăn học dân gian nói chung cũng dành nhiều trang viết đề cập đến thể loại này.Điều đó tất yếu dẫn tới việc xuất hiện nhiều nhận xét về hình tượng người anh
hùng Cụ thể trong cuốn “Văn học dân gian Việt Nam” (NXB Giáo dục, 2010),
GS Đinh Gia Khánh đã khẳng định nội dung chủ đạo của sử thi chính là “ca ngợi các nhân vật anh hùng, là những nhân vật tù tộc trưởng nổi tiếng ở các buôn làng Những nhân vật ấy đã có công hướng dẫn nhân dân trong cộng đồng làm ăn (làm nương rẫy, đi săn, đi bắt cá ) để đạt được cuộc sống ấm no; hoặc
là những người cầm đầu nhân dân lập được những chiến công vang dội, đánh thắng giặc cướp ở bên ngoài tới, bảo đảm cuộc sống yên vui của cộng đồng; hoặc đứng lên đấu tranh quyết liệt chống lại những tập tục lỗi thời ràng buộc bước tiến của xã hội” [10, tr 756] Tiếp thu quan điểm của Võ Quang Nhơn trong “Sử thi anh hùng Tây Nguyên”, tác giả Đinh Gia Khánh tập trung phân tích
người anh hùng ở ba góc độ tương ứng với ba chiến công tiêu biểu
Trong cuốn “ Giáo trình văn học dân gian” - NXB Đại học Huế, 2013, tác giả Trần Hoàng cũng cho rằng: “ Những vị tù trưởng uy danh lẫy lừng, những người anh hùng có sức mạnh phi thường, có tài năng, lòng dũng cảm đã lãnh đạo, chỉ huy, kề vai sát cánh cùng tập thể cộng đồng chặt cây, phá đá làm nương rẫy, ngăn sông, đắp suối, bắt cá, vây rũ, vây rừng, săn hổ báo, đánh bại kẻ thù tới tàn phá buôn làng, cướp của, giết người”… [7, tr 150].
Ngoài các công trình quy mô kể trên, nhiều luận văn tiến sĩ xuất sắc, luậnvăn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp, báo cáo khoa học được lưu giữ trong thư việnquốc gia, thư viện các trường Đại học Sư Phạm (đặc biệt là thư viện của khoa
Trang 9Ngữ Văn), Đại học Tổng hợp, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn… trên cảnước cũng đề cập đến hình tượng người anh hùng sử thi.
Không chỉ bó hẹp trong hình thức tài liệu nghiên cứu khoa học, hình tượngngười anh hùng còn được nói tới trong các bài báo, các diễn đàn trực tuyến, cácchương trình truyền hình địa phương và quốc gia Các chương trình tiêu biểu
là:“Giữ gìn sử thi sống”(Video Báo Tuổi trẻ thực hiện, 2009), “Giới thiệu kho tàng sử thi Tây Nguyên” (Chương trình Điểm hẹn văn hóa, VTV1 - Đài truyền hình Việt Nam, 2010), “Thung lũng sử thi” (Chương trình Phim tài liệu - VTV1 - Đài truyền hình Việt Nam, 2013), “Sử thi Ê Đê” (Chương trình
Bản sắc Việt - HTV9 - Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, 2013)…Cácchương trình này thực hiện dựa trên tinh thần học hỏi và kế thừa những côngtrình nghiên cứu kể trên, nhắc lại kiến thức lí thuyết cơ bản nhất xoay quanhngười anh hùng (ngoại hình, chiến công, địa vị, ý nghĩa…) bằng cách thứcmới sinh động và hấp dẫn hơn
Có thể nói, việc nghiên cứu sử thi, người anh hùng sử thi đã được Đảng vàNhà Nước quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ Mọi cá nhân, tập thể nhà nghiên cứu cómục đích tích cực đều nhận được sự hỗ trợ từ các cấp thẩm quyền và người dânđịa phương Sự đồng lòng chung sức đó xuất phát từ tình yêu quê hương đấtnước, trân trọng các giá trị văn hóa - văn học truyền thống và ý thức giữ gìn, bảolưu các tác phẩm văn học quý báu nguyên vẹn cùng tháng năm trước sự tác độngnhư vũ bão, thậm chí có phần tiêu cực của văn hóa ngoại lai Với lịch sử nghiêncứu lâu dài và số lượng tài liệu đồ sộ như trên có thể khẳng định sử thi luôn cósức hấp dẫn đặc biệt đối với con người mọi thế hệ mà hạt nhân bung tỏa sự hấpdẫn đó không đâu khác chính là hình tượng người anh hùng
riêng.
Cuốn “A - chât - Sử thi dân tộc Tà Ôi” chỉ mới được NXB Thuận Hóa phát
hành vào tháng 12 - 2012 Sự ra đời của cuốn sử thi là kết quả nhiều năm nghiên
Trang 10sưu tầm, nghiên cứu, tổng hợp của tác giả Nguyễn Thị Sửu (Kê Sửu) trên mảnhđất quê hương, xuất phát và chứa đựng tình cảm sâu sắc của người con với dântộc mình Tác phẩm chia làm 3 phần, 14 chương với tổng cộng 7212 câu, đượccông bố bằng hai thứ tiếng Tà Ôi và tiếng Việt đã giúp các nhà nghiên cứu vàngười đọc hiểu thêm về văn hóa, quan niệm của dân tộc Tà Ôi, đồng thời gópphần tích cực trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa - văn học truyềnthống của người Tà Ôi nói riêng - đồng bào dân tộc thiểu số nói chung ở tỉnhThừa Thiên Huế
Bảng 1: Tóm tắt các phần, chương của sử thi “A - chât”
3: Sự hình thành của mười anh em A - chât. 797 1488
4: A - chât chinh phục Âng - hang Nương. 1489 2018
5: Kan - tưi truyền dạy cho các con bí quyết giống cây trồng và nông lịch trước khi chết.
6: A - chât và Ka - lang Niết Ka. 2265 2822
7: A - chât vượt qua sự hiềm khích của 9 người anh.
12: A - chât và Kam - mo - rơ Mi - măng. 5795 6064
13: A - chât và Choa - hơ Chun. 6065 6368
14: A - chât đánh nhau với A - trê - sơ 6369 7212
Trang 11Tác phẩm xuất hiện hai thế hệ anh hùng Kan - tưi (cha) và A - chât (con)trong đó chủ yếu xoay quanh cuộc đời của A - chât với những chiến công hiểnhách trong hôn nhân, lao động và chiến đấu Ẩn giấu trong những công trạng đó
ta sẽ bắt gặp nhiều quan niệm của đồng bào Tà Ôi về con người, các mối quan hệ
xã hội và thiên nhiên Đúng hơn, sử thi “A - chât” chính là cuốn sử sinh động và
thiêng liêng mà người Tà Ôi đã sáng tạo ra để các thế hệ con cháu nối nhau lưutruyền, từ đó ghi nhớ được quá trình hình thành, phát triển của dân tộc, quêhương mình Đó là áng sử thi hùng tráng nhưng cũng vô cùng nên thơ, lãng mạn;
là bức tranh hài hòa nồng thắm giữa con người và thiên nhiên…
Do chỉ mới được giới thiệu trong thời gian gần đây nên vẫn chưa có côngtrình nghiên cứu cụ thể nào về tác phẩm này, đặc biệt là về người anh hùng A -chât Trên kênh thông tin điện tử, ta tìm được một bài viết ngắn gọn mang tính
chất giới thiệu cuốn sách “A - chât - sử thi dân tộc Tà Ôi” vào thời gian phát hành Đó là bài “ A Chất - sử thi dân tộc Tà Ôi” đăng tải lúc 19 giờ 59 phút ngày
15 - 5 -2013 trên Baothuathienhue.vn - kênh điện tử chính thức của báo ThừaThiên Huế, do tác giả Trần Hoàng thực hiện Bài báo giới thiệu khái quát tìnhhình dân cư, đặc điểm kinh tế của đồng bào Tà Ôi tại A Lưới, biểu dương cônglao sưu tầm và dịch bản sử thi từ tiếng Tà Ôi sang tiếng Việt của tác giả Kê Sửu,cung cấp các thông tin cơ bản về kích thước, số trang, bố cục và khẳng định ýnghĩa to lớn của việc xuất bản cuốn sử thi Cuối cùng có đề cập đến người anh
hùng A - chât trong một đoạn ngắn như sau: “Nhân vật trung tâm của tác phẩm
là A Chất Cùng với những người anh em và cư dân trong cộng đồng, chàng đã phải trải qua bao cam go, thử thách trong việc chống lại và chiến thắng lũ lụt,
ma quỷ cũng như kẻ thù của bộ tộc để xây dựng làng bản, để tạo nên cuộc sống
ấm no, hạnh phúc Những cảnh săn bắt, hái lượm, trồng trỉa lúa ngô, làm nhà cửa, chèo thuyền vượt thác lũ…, rồi cảnh giao chiến giữa các dũng sỹ, những thử thách khắc nghiệt đối với người anh hùng của bộ tộc v.v… qua lời kể của
Trang 12nghệ nhân - già làng hiện lên thật sinh động Những câu hát có vần, những lời thơ giản dị và giàu hình ảnh có sức hấp dẫn rất lớn đối với người nghe, người đọc Những câu chuyện vừa mang tính chất huyền thoại vừa gần gũi với đời sống của người bình dân xoay quanh nhân vật A Chất… đã làm nên nét đẹp riêng của sử thi này”
Một ngày sau, bài viết này tiếp tục được đăng trên kenhdulichhue.com
Ngay trong chính cuốn “A chât sử thi dân tộc Tà Ôi”, Kê Sửu viết: “A chât thực chất là một tác phẩm truyền tải chuỗi câu chuyện của các nhân vật anh hùng: Kan - tưi, Tra - lẹ Tạ, Choa - hơ Chun và chín người anh của A - chât
-từ A - Múi đến A - kê - sơ Nhưng A - chât là nhân vật chính số một nên đề tài sẽ tập trung khai thác vẻ đẹp, suy nghĩ, hành động của nhân vật này” Tác giả đã
bước đầu phân tích khái quát nhân vật trung tâm này ở ba chiến công nổi bậttrong hôn nhân, lao động và chiến trận
Trước đó, trong phóng sự “Những câu chuyện của người Tà Ôi - Sử thi và thực tại” (VTV4, Đài truyền hình Việt Nam, 2008), Kê Sửu cũng từng phát biểu: “Hễ nói đến đồ cổ, đồ quý hay cuộc sống làm lụng, tên các giống lúa quý đều khiến chúng ta nghĩ ngay đến những câu chuyện về nhân vật A - chât trong sử thi”
Những bài viết này chỉ đóng vai trò làm bộ khung, vạch ra những đường nét
cơ bản, khái quát nhất về người anh hùng và nhìn chung hiện nay vẫn chưa cócông trình nào nghiên cứu chuyên sâu về nhân vật này
Mục đích đầu tiên của đề tài là phân tích hình tượng hai thế hệ anh hùng, đặcbiệt là A - chât ở ba phương diện chính là ngoại hình, phẩm chất, chiến công.Song song với việc phân tích hình tượng người anh hùng, phát hiện những đặcsắc văn hóa, cách nhìn nhận cuộc sống, quan niệm của người Tà Ôi về conngười, cuộc sống, vũ trụ…; những điểm tương đồng và khác biệt giữa người anh
Trang 13hùng của dân tộc Tà Ôi và người anh hùng của các dân tộc khác trên đất nướcViệt Nam và thế giới.
Nhiệm vụ thứ hai chính là tìm hiểu và làm sáng tỏ những đặc sắc nghệ thuậttiêu biểu trong xây dựng hình tượng anh hùng của dân tộc Tà Ôi
Tìm hiểu hình tượng người anh hùng, người viết chủ yếu nghiên cứu cuốn “A
- chât - Sử thi dân tộc Tà Ôi” - Kê Sửu (NXB Thuận Hóa, 2012).
Ngoài ra, để so sánh, đối chiếu nghệ thuật xây dựng hình tượng người anh
hùng, người viết còn sử dụng một số truyện cổ sau: Apok sâu arâu kônh, KaBi
và AChất, Anh em nhà AChất và chị em nhà Kalang, Kăn Tưi…trong cuốn Chàng Phuật Nà: Truyện cổ Tà Ôi, Cơ Tu - Trần Nguyễn Khánh Phong (NXB
Thuận Hóa, 2006)
Người viết sử dụng ba phương pháp chính sau để nghiên cứu:
Phương pháp hệ thống: Tìm kiếm các dẫn chứng để xây dựng các luận điểm
chính khi phân tích hình tượng người anh hùng; sắp xếp các luận điểm đó theotrình tự logic, khoa học; hệ thống các tài liệu có liên quan đến việc nghiên cứu(các công trình nghiên cứu, truyện cổ, sử thi…)
Phương pháp lịch sử: Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề để khẳng định
được tầm quan trọng của thể loại cũng như đề tài người anh hùng, phát hiệnnhững quan điểm đúng đắn, số liệu quan trọng… có thể phục vụ cho công tácnghiên cứu
Phương pháp tổng hợp – phân tích: Tổng hợp các dẫn chứng, số liệu
(nếu có) vào từng mục, phân tích các dẫn chứng, số liệu đó để tìm ra các vấn
đề quan trọng
Trang 14VI ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài góp phần làm sáng rõ những đặc điểm nổi bật về hình tượng người anhhùng tiêu biểu của dân tộc Tà Ôi từ đó góp phần bổ sung thêm diện mạo mới cho
hệ thống anh hùng sử thi phong phú và đa dạng của dân tộc Việt Nam
Từ những nội dung mà đề tài trình bày người viết mong sẽ đóng góp một
phần tài liệu phục vụ cho việc học tập bộ môn Văn học dân gian Việt Nam trong
chương trình Đại học, là tài liệu cơ sở cho những người nghiên cứu sau tiếp tụctìm hiểu hình tượng anh hùng mới của các dân tộc khác trên đất nước Việt Nam
Trang 15B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH NHÂN VẬT ANH HÙNG
TRONG SỬ THI “A CHÂT” CỦA DÂN TỘC TÀ ÔI.
1 Nguồn gốc tự nhiên - kinh tế - xã hội
1.1 Nguồn gốc tự nhiên.
Dân tộc Tà Ôi chủ yếu tập trung ở huyện vùng cao A Lưới của Thừa ThiênHuế (ngoài còn có một số huyện ở Quảng Trị) - vùng có vị trí chiến lược về anninh quốc phòng và môi trường sinh thái của tỉnh Thừa Thiên Huế và khu vực
miền Trung Nơi đây có hai dạng địa hình chính Một là địa hình núi cao, hiểm
trở có độ cao từ 740 - 1300m lại bị chia cắt bởi hệ thống sông suối khá dày đặc,khoảng 1000 - 2500m/1000m2 Hai là địa hình thung lũng sông hẹp, bờ dốcnhiều thác ghềnh và đá tảng ngổn ngang
Khí hậu ẩm, nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình là gần 250C, phân làm haimùa rõ rệt là mùa mưa thường có lũ quét, lốc xoáy với lượng nước trung bình là
2000 - 3000mm, mùa khô nóng bức đến mức gây ra hạn hán thường xuyên
Về thổ nhưỡng, đất feralit vàng nâu, phát triển trên nền đá mẹ phiến thạch và
đá sa thạch chiếm tỉ lệ lớn Ngoài ra còn có đất phù sa ven sông, suối, tầng đấttương đối dày với thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình
Thiên nhiên có vai trò vô cùng quan trọng, là cơ sở cho sự tồn tại và pháttriển của đồng bào Tà Ôi nói riêng - cộng đồng dân tộc ít người nói chung, quyếtđịnh đến hình thức sản xuất kinh tế và sự xuất hiện của các loại hình văn hóa bảnđịa đặc trưng, từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến sự nghiệp người anh hùng, đặc biệt
là trong lao động - sản xuất
Người Tà Ôi chủ yếu làm nương rẫy (đa canh và du canh theo lối cổ truyền: phát - cốt - đốt - trỉa) và săn bắt hái lượm được tổ chức theo tập thể dưới sự chỉ đạo của chủ làng Do đó người đàn ông phải lên rừng, xuống suối
Trang 16săn bắt phục vụ bữa ăn hàng ngày cho gia đình và làng bản Đây cũng là hìnhảnh tiêu biểu dễ dàng bắt gặp ở người anh hùng
Lúa nếp là nguồn lương thực chủ yếu Ngoài ra không thể không kể đến buah
(rượu cần) và tuvak (rượu đoác) khai thác trực tiếp từ thiên nhiên Cây đoác cónhiều ích lợi, khi bỏ vỏ, giã lấy nước có thể dùng thay sữa cho trẻ em vì nó rất ngọt,thơm và giàu chất dinh dưỡng Chính vì vai trò to lớn đó mà trong sử thi Tà Ôi câyđoác được dùng làm vật chuẩn để so sánh, miêu tả ngoại hình người anh hùng
Dần dần, theo thời gian, người Tà Ôi đã biết làm ruộng và trở thành cư dân sớm có thu nhập hoa lợi Ngoài ra, người Tà Ôi còn chăn nuôi gia súc, gia
cầm, dệt thổ cẩm và đan lát Sản phẩm tạo ra không chỉ phục vụ cho cuộc sống
mà còn là vật phẩm để trao đổi lấy hàng hóa từ các tộc người Cơ Tu, Pa Kô hayngười Lào Trong sử thi, người anh hùng sớm biết trồng trọt, trao đổi hàng hóavới người Lào
Người Tà Ôi có hệ thống đơn vị thời gian được tính theo sự dịch chuyển
khuyết - tròn - khuyết - khuất của con trăng, phục vụ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp Theo đó, thời gian tốt nhất để trồng trỉa các loại cây trồng là các
ngày 22 đến 25 Ngày 14 và 16 thích hợp nhất là trồng chuối Ngày mùng 1 vàmùng 2 chỉ phù hợp với một số cây lương thực như sắn Đặc biệt bà con tránhgieo trồng vào ngày 20 và 21 vì đây là thời gian sâu bọ hoạt động mạnh và thúrừng thường kéo về phá hoại mùa màng Hệ thống nông lịch đó theo sử thi kể lại
là do người anh hùng đem về phổ biến cho cộng đồng sau khi được thần Mặt trờitrao truyền lại
1.3 Nguồn gốc xã hội.
Người Tà Ôi cư trú theo từng veel (làng) trên một khu vực tương đối bằng
phẳng, gần nguồn nước Việc xây dựng làng bản là hết sức quan trọng và là
công việc của mọi thành viên trong cộng đồng Làng thường được bố trí theohình tròn, chính giữa là ngôi nhà Rông - linh hồn làng bản, là nơi thường diễn ra
Trang 17các buổi hội họp, cúng bái, tiếp khách cũng như vui chơi diễn xướng văn nghệdân gian Xung quanh nhà Rông có khắc nhiều hình ảnh mô tả cuộc sống cũngnhư quan niệm tâm linh của đồng bào Tà Ôi, trong đó đáng chú ý là hình ảnhchim Ka - lang Niết Ka (chim Thiên Nga) - biểu tượng cho sức mạnh phi thường
và vẻ đẹp thần bí Ngoài ra còn có nhà dài, từ mười đến ba mươi nóc nhà (mỗinhà có từ một đến dưới mười lăm hộ) Toàn làng được vây bọc bởi hai lớp hàngrào (lớp ngoài gọi là karrong, lớp trong gọi là karring) làm bằng gỗ tốt nên rấtvững chắc và kiên cố Việc xây dựng nhà Rông, chiến đấu với chim Ka - langNiết là hai trong số rất nhiều chiến công của người anh hùng A - chât
Xã hội chưa có sự phân chia giai cấp, hình thức người bóc lột người mà tồn tại trong quan hệ dân chủ, bình đẳng và cộng đồng Người Tà Ôi đặc biệt
coi trọng mối quan hệ cộng đồng Họ quan niệm sự tồn tại của cá nhân trongcộng đồng và của cả cộng đồng là nhờ vào tình nối kết và hội tụ để cuộc sốngcủa họ được sinh sôi, nảy nở trên trần thế Điều này được thể hiện rất rõ khôngchỉ trong các hoạt động thường ngày mà còn in đậm trong phong tục và tínngưỡng, đặc biệt là trong các lễ hội, tục cúng bái, tang ma, lễ rửa tội Ví dụ trongmột lễ rửa tội, người phạm tội không hề bị ghét bỏ mà được chủ làng khuyênrăn, dạy bảo, động viên; được người thân an ủi, tin tưởng; được bạn đồng tranglứa thông cảm Mục đích của hành động đó là làm cho người có tội biết nhìnnhận sai trái, không phải đau khổ, hổ thẹn Quan trọng hơn chính là khẳng địnhvai trò đùm bọc che chở của cộng đồng dành cho nhau, hướng về nhau Quanniệm này được thể hiện sâu sắc, sáng rõ trong tất cả các sử thi anh hùng ở ViệtNam đã tạo nên diện mạo người anh hùng kì vĩ cả về ngoại hình và phẩm chất
Người Tà Ôi theo chế độ phụ hệ là chủ yếu Họ rất coi trọng mối quan hệ
giữa các thành viên trong gia đình Anh cả là người quyết định tất cả các côngviệc liên quan đến tổ chức đời sống trong ngôi nhà dài Tuy nhiên, chị dâu cả lại
là người giữ vai trò hướng dẫn, điều hành các công việc sản xuất kinh tế (chủ
Trang 18yếu là làm nương rẫy cùng các nghi lễ liên quan), nuôi dạy con cái, điều hòa cácmối quan hệ trong đại gia đình, huy động và tập hợp các lễ vật cho các loại hình
lễ hội do dòng tộc hoặc làng bản tổ chức Ở phạm vị dòng họ/tộc, xút yaq(trưởng họ/tộc) lại được quyết định trên cơ sở tuổi đời và uy tín của những anh
em con chú con bác Không phân biệt con bác hay con chú, hễ ai sinh ra trướchoặc có uy tín thì người đó được bầu chọn làm trưởng họ/tộc Xút yaq (trưởnghọ/tộc) là chiếc “cầu nối” giữa các gia đình trong một dòng họ/tộc và với cácdòng họ/tộc khác trong một làng, và ngược lại A - chât là một xút yaq có uy tín,được dân làng trọng vọng
2 Nguồn gốc văn hóa - văn học dân gian
2.1 Văn hóa dân gian Tà Ôi
Kho tàng sáng tác nghệ thuật dân gian và hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng củangười Tà Ôi rất đa dạng, phong phú
Hầu hết các loại hình văn hóa của người Tà Ôi đều chịu sự chi phối mạnh mẽ
của tín ngưỡng đa thần, tiêu biểu là việc tôn thờ Yang hay Abâm (ông trời) và
các loại thần thiên nhiên: yang koh (thần núi), yang xưq (thần đất), yang dak(thần sông), hạt nhân quan trọng nhất là yang arus (thần rừng)… Hệ thống thầnlinh này kết hợp với sức mạnh cộng đồng giúp cuộc sống của mỗi con người trởnên ấm no, an nhiên Do đó, con người phải tôn trọng những quy tắc ứng xửtrong cộng đồng và có lòng thành kính với thần linh Cây đa có một vị trí vôcùng quan trọng trong đời sống văn hóa của người Tà Ôi – được xem là cây
thiêng chỉ dành cho các thần linh trú ngụ Trong sử thi “A - chât”, hình ảnh
Abâm, cây đa xuất hiện rất nhiều và trở thành một trong những tiêu chí quantrọng để đánh giá người anh hùng Nếu như Kan - tưi được Abâm giúp đỡ thì A -chât lại sinh ra từ cây đa Ka Tra - cổ, dáng vóc được so sánh với vẻ đẹp của cây
đa thần do đó cả hai người đều trở thành những anh hùng được làng bản và bạn
bè yêu mến, quý trọng
Trang 19Xuất phát từ những tín ngưỡng cổ sơ trên, lễ hội truyền thống của người Tà
Ôi rất phong phú với ba loại lễ là aya (lễ cúng cơm mới), dóng ikon (lễ cưới) vàtăng pính (lễ dời mả) A - chât lập được nhiều chiến công trong hôn nhân do đó
lễ dóng ikon (lễ cưới) thường rất cầu kì và nhiều công đoạn Đặc biệt khi đó là lễcưới của chủ làng thì càng được tổ chức long trọng hơn Cả cộng đồng sẽ thamgia vào chuẩn bị cho buổi lễ Trong giây phút vui vẻ những điệu múa lời ca đượccất lên Đó là những giai điệu, lời hát rất tự nhiên ra đời từ chính cuộc sống laođộng, sinh hoạt thường ngày của bản làng Nó không chỉ là sự góp vui, lời chúcmừng của buôn làng dành cho đôi vợ chồng trẻ mà còn là cầu nối kéo gầnkhoảng cách giữa cá nhân và cộng đồng, cộng đồng này với cộng đồng khác, conngười với thiên nhiên và thần linh lại bên nhau
Không chỉ có hệ thống tín ngưỡng đa sắc, người Tà Ôi còn có hệ giá trị đạo
đức, đạo lí truyền thống vĩnh cửu Người Tà Ôi đặc biệt coi trọng đức tính thật
thà, trung thực, chất phác, trung thành trong công việc, hiếu khách, giàu lòngthương người, sẵn sàng tương trợ trong quan hệ giữa người với người; anh dũng,bất khuất dám xả thân trước những trở lực cuộc sống và kẻ thù Đạo lí uốngnước nhớ ngồn, tôn trọng quá khứ cộng đồng và tôn ti trật tự trong mối quan hệgia đình, dòng họ và làng bản được đề cao Đây là thước đo và cũng là tiêuchuẩn để xây dựng người anh hùng Tà Ôi nói riêng – các anh hùng của đồng bàodân tộc thiểu số nói chung
Người Tà Ôi rất hiếu khách Người anh hùng - chủ của buôn làng hơn ai hết
thể hiện rõ nét phẩm chất này Với A - chât, điều đó được chứng minh qua hàngloạt các hành động đón tiếp nồng nhiệt, chu đáo của chàng đối với người bạnLào Choa - hơ Chun, với họ hàng anh em Kam - mo - rơ Mi - măng khi tổ chứctiệc cha plô [1] :1
“ Tiệc cha plô diễn ra sáu ngày sáu đêm
Trang 20Tiệc cha plô tổ chức ở nhà trai
Họ hàng bên chồng bên vợ được mời đến đông đủ
Họ hàng bên vợ bên chồng được tiễn đủ lễ vật
Kết thúc tiệc cha plô họ hàng mang phần được chia đi về
Kết thúc tiệc plô, A - chât chia lễ vật cho khoâi nnoo
Ai mang đến nhiều lễ vật thì được A - chât tiễn nhiều
Ai mang bao nhiêu món vật thì được A - chât đáp lại bấy nhiêu
Thường, nhà gái mang một, nhà trai đáp gấp mười
Thường, nhà gái mang vật hai chân, nhà trai đáp bằng vật bốn chân
…
A - chât làm tiệc cha plô khiến khách khứa no mắt
A - chât làm tiệc cha plô khiến trai gái sáng lòng”
2.2 Văn học dân gian Tà Ôi
Văn học dân gian có tác động to lớn và trực tiếp đến việc xây dựng hình
tượng người anh hùng trong sử thi “A - chât”, trong đó đáng chú ý nhất là hệ
thống truyện cổ và lời nói có vần
Hệ thống truyện cổ dân gian Tà Ôi gồm thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ
tích Trên cơ sở tài liệu, sách đã ấn hành như: Truyện cổ Tà Ôi - Nguyễn Thị Hòa, (NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1987); Truyện cổ Tà Ôi - Trần Nguyễn Khánh Phong, Lã Thị Quỳnh Tường (NXB Giáo dục, 2009); Chàng Phuật Nà: Truyện cổ Tà Ôi, Cơ Tu - Trần Nguyễn Khánh Phong (NXB Thuận Hóa, 2006)
…ta nhận thấy truyện cổ Tà Ôi rất đặc sắc, có sức sống lâu bền cả về nội dunglẫn nghệ thuật Tư duy trong truyện cổ của người Tà Ôi chất phác và giản dịmang hơi thở sử thi nhờ việc đan xen các đoạn văn vần Ví dụ trong truyện
“Chiếc khèn thần” có đoạn:
“Mặt trời sáng quá
Trang 21Mời anh xuống mở cửa sông Mời anh xuống chia trâu đực Khách đến không có nước Hông xôi không có củi
Có muối không có nước”…
Nếu tách riêng đoạn văn vần này ra khỏi văn bản truyện cổ ta càng thấy rõhơn màu sắc sử thi của nó Hệ thống truyện cổ giống như bức tranh đa diện baochứa nhiều quan niệm chủ đạo trong đời sống của đồng bào nơi đây Nguyễn
Hữu Thông trong “Vùng đất Bắc miền Trung: Những cảm nhận bước đầu, Tạp chí Dân tộc học - Hà Nội” đã nêu ra được ba hệ thống chủ đề trong truyện cổ các
dân tộc thiểu số miền Trung nói chung - người Tà Ôi nói riêng:
Hệ thống 1: Các truyện kể phản ánh mối quan hệ mật thiết có tính huyếtthống của các dân tộc thiểu số với người Kinh ở đồng bằng (nguồn gốc nảy sinhcác tộc người)
Hệ thống 2: Tập hợp các truyện kể lưu lại các dấu ấn kỷ niệm (nguồn gốchình thành địa danh, nét văn hóa, tập tục…)
Hệ thống 3: Các truyện kể thể hiện mối quan hệ về kinh tế, văn hóa, hônnhân và gia đình
Cả ba hệ thống này ảnh hưởng trực tiếp đến việc sáng tác sử thi nói chung xây dựng hình tượng người anh hùng nói riêng Tác giả Kê Sửu cũng đã khẳng
-định: “Thực ra, năm 2003, khi sưu tầm, biên soạn “Truyện cổ Tà Ôi, tôi trích một số truyện liên quan đến sử thi A - chât…” [29, tr.40].
Trước hết về thần thoại, cũng giống như các dân tộc khác, thần thoại Tà Ôi
ra đời nhằm phản ánh những nhận thức về vũ trụ và thể hiện ước mơ, khám phá tựnhiên của con người thời buổi sơ khai nhất Trong hệ thống thần thoại Tà Ôi ảnh
hưởng đến sử thi “A - chât” đáng chú ý nhất là truyện “Apok Sâu Arâu Kônh” Nổi
bật lên trong tác phẩm là mô típ trận đại hồng thủy giải thích về nơi cư trú của đồng
Trang 22bào nơi đây Mô típ này tiếp tục xuất hiện trong sử thi “A - chât”, trở thành thử
thách và cơ hội để người anh hùng chứng tỏ tài năng của mình
Truyện cổ tích là thể loại có nhiều sự tương đồng nhất với sử thi Sự tương
đồng đó không chỉ thể hiện ở số tác phẩm mà còn thể hiện ở lượng chi tiết trùngkhớp giữa hai thể loại Cụ thể, ta sẽ thấy sự tương đồng giữa sử thi A - chât và
bốn truyện cổ tiêu biểu nhất: Kabi và Achất, Anh em nhà Achất và chị em nhà Kalang, Sự tích bánh Akoat, Kan Tưi [25]
Bảng 2: Sự tương đồng chi tiết giữa một số truyện cổ Tà Ôi và sử thi “A - chât”
- Mười anh em cùng yêu
Kabi Họ lần lượt hỏi ý kiến
bà cua rồi lên đường hỏi vợ
- Chỉ Achất lấy được Kabi
- Chín người anh hại chết
Achất, tranh giành Kabi
khiến nàng sợ hãi tự tử theo
Trang 23- Mười anh em Achất đến
vùng trời mong lấy được
- Achất được sự hỗ trợ của
nàng Kalang út giết được vợ
7
A - chât vượt qua hiềm khích của
9 người anh
- Mười anh em A - chât đếnvùng trời mong lấy đượcmười chị em nhà Ka - langlàm vợ
- Chín người anh tranh nhaulên nhà Ka - lang , bị vợchồng Ka - lang Niết mổchết
- A chât được sự hỗ trợ củanàng Ka - lang Niết Ka giếtđược vợ chồng chim Ka -lang
- A - chât cầu khấn thần trờicứu sống các anh Họ tranhnhau chọn vợ, để lại nàng Ka
- lang Niết Ka (đã bị A - châtdùng tro than bôi đen mặtmũi từ trước) cho chàng
- Chín người anh mất vợ liềntìm cách giết A - chât :
+ Lần 1: Rủ A - chât đi bắtnhím, lấp cửa hang nhốt
Trang 24+ Lần 2: Bỏ Achất một
mình trong rừng lạ
- Achất lưu lạc, giết được
trăn tinh và cưới hai chị em
Ka Bi Toor, Ka Moor Pro
- A - chât thoát nạn trở về,tha thứ và khuyên bảo cácanh Mười anh em sống hòathuận với nhau từ đó
Kăn Tưi - Nàng Kăn Tưi mồ côi, một
mình chăm chỉ làm lụng
trên rẫy mà cha mẹ để lại
- Rẫy bị phá hoại, nàng điều
tra
- Kăn Tưi bắt được người
phá hoại là con trai thần
Yang Arơbang
- Chàng hứa không phá rẫy
và kết duyên cùng Kan Tưi
1
Cuộc đời của Kan - tưi, cha của 10 anh em A
- chât
- Chàng Kan - tưi mồ côi,cùng bà và vợ đến vùng đấthoang phát rẫy
- Rẫy phát được chút nào,hôm sau lại trở về nguyêntrạng Chàng cùng bà và vợđiều tra
- Kan - tưi bắt được ngườiphá hoại là thần Ku - tăng
- Ku - tăng hứa không pháhoại nữa và tặng cho Kan -tưi chiếc karmai anoor, ước
gì được nấy
Sự tích - Tantưiq yêu một cô gái
Trang 25- Tantưiq được thần Kutăng
ban cho chiếc karmai anoor
ước gì được nấy
- Tantưiq trở nên giàu có,
ban phát nhiều vàng bạc cho
(Cách ghi tên các nhân vật được bảo nguyên theo sách của NXB)
Từ bảng so sánh trên có thể khẳng định truyện cổ là nguồn tư liệu rất quantrọng để người dân Tà Ôi sáng tác sử thi Những nhân vật, sự kiện của nhiềutruyện cổ được bảo nguyên và thể hiện trọn vẹn thường trong một hoặc haichương sử thi Bên cạnh đó cũng có trường hợp chỉ một chi tiết của truyện cổđược lựa chọn để bổ sung thêm vào tuyến truyện Sự kế thừa đó khiến cho hệthống truyện cổ và sử thi được nhắc lại nhiều lần, vô hình tạo nên nếp nhớ trongmỗi con người Tà Ôi, giúp họ lưu giữ được các tác phẩm văn học dân gian theocách thức ghi nhớ từ nhỏ đến lớn, từ chi tiết đến tổng quan Tuy nhiên sự lặp lại
đó lại không gây nhàm chán vì khi sáng tạo sử thi, các nghệ nhân đã gia côngthêm nhiều tình tiết cũng như thay đổi kết cục khiến câu chuyện trở nên khác lạ
và có sức hấp dẫn mới Ví dụ cùng đề cập đến chuyện mười anh em A - chât đicưới mười chị em nhà Ka - lang Niết nhưng ta lại bắt gặp thêm các chi tiết như:Kan - tưi là người chỉ cho A - chât cách khấn hạt Ka - ting biến thành thang sắt
Trang 26lên nhà Ka - lang, chín người anh tranh giành Ka - lang Niết Ka và sự khéo léotránh né, trì hoãn của nàng; lòng vị tha và cảm hóa các anh của A - chât…
Hệ thống lời nói có vần (tục ngữ, thành ngữ) với nội dung chủ yếu là các
kinh nghiệm lao động sản xuất, lời khuyên trong đối nhân xử thế, trân trọng tìnhcảm gia đình, quê hương, làng xã… - những tiêu chí cơ bản để đánh giá ngườianh hùng cũng ảnh hưởng nhiều đến việc xây dựng hình tượng nhân vật nàytrong sử thi Tà Ôi Những lời nói có vần này thường được diễn đạt theo lối vívon, so sánh, tượng trưng, ẩn dụ tạo nên không gian văn hóa lung linh, huyền ảo
và hấp dẫn Có thể liệt kê một cách tương đối các tục ngữ, thành ngữ xuất hiện
trực hoặc gián tiếp trong sử thi “A - chât” liên quan đến hành trạng của nhân vật:
Bảng 3: Hệ thống lời nói có vần xuất hiện trong sử thi “A - chât”.
Nội
- Mồng một, mồng hai tốt cho sắn khoai.
lauq a-o-rnam rbăt kannóh
- Karlooi xuất hiện là ngày 14
Nó mang bóng trăng về khuất núi non Trakoal, ngày 15
Trời sáng khuôn mặt nó vẫn e ấp đỉnh núi
Trang 27choóh iên palóh yaya
chét iên pachua mma ulauq
Ba ngày ấy nhớ đua nhau trồng chuối
Ba ngày ấy sẽ cho chuối chắc quả trĩu buồng.
( Câu 583 590 - Chương 2)
Ngày 23, 24 đang tặng trần gian Kalang păt tôm và kalang păt tu dìu dặt Thúc giục rằng ngày 24, 25 chặt tay Bốn ngày đó không được phân tâm việc khác
Bốn ngày đó lo toan việc trỉa trọt, gieo trồng
Để có được lúa ngô dãy dãy
Để có được hoa màu quả trái hàng hàng.
Ai nấy đua nhau hỏi ngày 14, 15, 16 Người cha đáp nhanh đó là karlooi, trakoal, trabrang
Trang 28Nhanh tay phát cốt tỉa trồng
Nhanh chân thu hoạch thành quả lao động
Đua nhau làm trước khi đến ngày Traleang păt
Đua nhau làm kẻo chuối bị mất mùa khi đến ngày 17.
Thì 4 ngày tiếp sau đây sẽ đến
Thì đã đến duyên cơ có cái ăn cái được
Ai nấy ùa đến ngày 22, được ví như kammooch păt tôm
Ai nất ùa đến ngày 23, được ví như Kammooch păt tu
Ai nấy bắt mắt với Kalang păt tôm ngày 24.
Ai nấy say lòng với Kalang păt tu ngày
Trang 2925 Đêm có chòm sao lấp lánh khoe nhan sắc Ngày nắng gắt, hoa trái trổ nhụy bông.
( Câu 2135 2144 - Chương 5 )Klúng klang ang kưq bui déng
- Không biết ai xui khiến, Kan - tưi mang
về cho dân làng hưởng công
Trang 30phẩm lao động về nhà.
( Câu 3759, 3760 - Chương 8)
- Mọi người rầm rộ chọn đất làm nền nhà Mọi người rầm rập tìm tre nứa làm nhà cửa.
( Câu 4012, 4013 - Chương 8) Déng veel lauq katau pangăn
Tấm lòng của làng đã làm chúng tôi sáng mắt bền lòng làm thành con thuyền to bằng nhà Rông
( Câu 3719 3724 - Chương 8 )Kăh vê ikoónh arâq panneénh
kawh vêtarăh
Kăh vê ikăn arâq nnear ndâr
kăh ngai dok tanh
Không có bố như cung nỏ
không có mũi tên
Không có mẹ như phên vách
không được đan lát.
- Vắng cha không có ai truyền lửa nóng Vắng cha, không có ai bày cách ươm xanh cuộc sống
( Câu 2241, 2242 - Chương 5)
Tình
yêu đôi
lứa
Partăm nhăng măi dăng búl
pakkong, partăm nhăng măi
dăng ndong kakooq
- Lời hẹn của hai ta ở tảng đá đèo dốc Lời hẹn của hai ta ở cây cong cong.
( Câu 4845, 4846 - Chương 10 )
Trang 31Lời hẹn của hai ta ở núi đá
Ngkưk khoiq men mam măt
Ngkưk khoiq chat tâi júng
Giờ không còn lạ tiếng
Giờ không còn xa hơi
Giờ đã say khuôn mặt
Giờ đã bén tay chân
- Giờ không còn lạ hơi Giờ không còn xa bóng Giờ đã say khuôn mặt Giờ đã bén tay chân.
Xiêu xiêu như nhà kẻ nghèo
Vẹo vẹo như nhà kẻ hèn.
- Tình cảnh ta đây lụp xụp với túp lều tranh
Tình cảnh ta đây liêu xiêu với túp lều tạm bợ.
( Câu 79, 80 - Chương 1 )
Trang 32Tekât adâp michât sinoóng
Tekât króng michât kanoat
Đằng trước mười khúc nối
Đằng sau mười nút thắt.
- Ngó về phía trước có 8 dây nối Ngó về phía sau có 8 nốt buộc vây.
( Câu 82, 83 - Chương 1 )
TIỂU KẾT: Các yếu tố tự nhiên - xã hội, văn hóa truyền thống và văn học
dân gian đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, lớn hay nhỏ đến sự hình thành
sử thi A - chât, đặc biệt là việc xây dựng hình tượng các anh hùng Sự ảnh hưởng đó càng cho ta thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa sử thi với đời sống và các loại hình văn hóa, thể loại văn học khác; đồng thời giúp ta có nhiều cơ sở để tìm hiểu và phân tích trọn vẹn hơn hình tượng người anh hùng
3 Giới thiệu về sử thi “A - chât” của dân tộc Tà Ôi.
3.1 Tóm tắt tác phẩm
Chàng Kan - tưi mồ côi cả cha lẫn mẹ, được bà chăm sóc, nuôi nấng chođến khi trưởng thành Tuy nghèo khó nhưng hai bà cháu rất thương yêu nhau.Vào ngày aya [3] 2dù chỉ có chiếc khố bằng dé chuối nhưng Kan - tưi vẫn theođám trai làng đến nơi nàng Pơ - ro - óm Tang - hom đang kén rể Chàng maymắn ngồi vào chỗ có nhiều vàng bạc mà cha Pơ - ro - óm Tang - hom đã giấu từtrước để chọn con rể nhưng khi thấy chàng nghèo khổ thì ông nhất định từ chối.Bất chấp việc cha từ mặt và không cho phép quay về làng, Pơ - ro - óm Tang -hom vẫn yêu thương và theo Kan - tưi, trở thành vợ của chàng Để tránh lời đàmtiếu của dân làng, Kan - tưi đưa bà và vợ đến vùng đất mới dựng nhà phát rẫy.Nhưng kì lạ thay, suốt ba tháng ròng, hễ Kan - tưi phát được chút rẫy nào thìngay ngày hôm sau cây cỏ lại mọc nguyên như cũ Chàng kể lại sự thể rồi bànbạc với bà và vợ để tìm hiểu nguyên nhân Vợ chồng Kan - tưi phát hiện thần
thụ ở rừng sâu, ngày ngày làm cho cây cỏ sinh sôi và xanh tươi, biến những cây cỏ bị gập gãy trở lại như cũ
Trang 33rừng Ku - tăng [4] chính là người đã cản trở việc phát nương, làm rẫy của mình.
Ku - tăng xin đền tội bằng việc tặng cho Kan - tưi chiếc karmai anoor[5] mong gìđược nấy Kan - tưi cầu khẩn trâu bò, nhà cửa, vàng bạc, con người tạo nên bản
làng mới đặt tên là Ku - tăng Cũng từ đây, chàng trở thành “chủ làng quyền uy, nổi tiếng khắp vùng”.
Của cải, lương thực cầu khấn dù nhiều bao nhiêu cũng đến lúc vơi cạn Vì
“muốn có cách cải tạo ra giống lúa giống ngô, muốn có được cách nhận biết thời gian trồng trỉa ngô lúa” nên Kan - tưi quyết định đi hỏi Abâm - thần Mặt trời Cảm động trước ý chí của Kan - tưi, Abâm đã ban tặng cho chàng “muôn loại giống lúa, ngô, kê, kiệu; mọi thứ rau quả chuối môn” và trao truyền cho
chàng cách tính thời gian, mùa vụ thích hợp để trồng trọt Trở về trần gian, Kan tưi hướng dẫn dân làng phát nương rẫy, cốt đốt tỉa trồng Chẳng bao lâu cuộcsống dân làng trở nên khấm khá Kan - tưi càng được mọi người kính trọng.Nhưng Pơ - ro - óm Tang - hom và Kan - tưi lại không có con Sau Pơ - ro - óm
-Tang - hom vì già cả mà chết đi Kan - tưi đau buồn đến mức “mạch máu ngừng chảy, nước mắt ngừng rơi” Chàng không lấy thêm vợ và từ đó chỉ biết chăm lo
công việc cho dân làng
Kan - tưi bắt được một con mang cái, chàng chia cho dân làng, còn mình chỉgiữ lại bộ phận sinh dục để mang về nấu cháo Nhưng khi định nấu thì bị hắt hơinên chàng tạm thời không động đến nó Đến đêm, Kan - tưi nằm mơ thấy có
Trang 34người về dặn mang bộ phận sinh dục đặt vào hốc đa Kà Tra - cổ và “tưới bằng nước tiểu của mình để có được điều mong” Hôm sau Kan - tưi làm theo giấc
mộng và quả nhiên chàng có được mười đứa con trai kháu khỉnh, đáng yêu Mười đứa trẻ sinh ra từ cây đa Kà Tra - cổ đều khỏe đẹp và có khả năng hơnngười Đặc biệt là A - chât Tuy là đứa con út nhưng chàng lại nổi trội nhất vềngoại hình, đức độ và tài năng Sự xuất hiện của A - chât khiến đất trời thay đổi,
cỏ cây muông thú động lòng Ngay từ những ngày săn bắn đầu tiên, A - chất đã
tỏ ra vượt trội hơn các anh Cũng chính vì thế mà sự ghen tị dấy lên trong lòngchín người anh của chàng
Khi lớn lên, mười anh em A - chât vào rừng sâu - tương truyền là vùng đấtcủa họ hàng yêu tinh quỷ quái - phát nương trồng lúa mặc sự can ngăn của dânlàng Trước mùa thu hoạch, theo sự phân công của cha Kan - tưi, mười anh emlần lượt đi canh rẫy lúa Chín người anh của A - chât đánh nhau với Âng - hangNương [7] 3- chúa tể làng yêu ma quỷ quái nhưng đều thất bại Chỉ có một mình A
- chât, sau mười ngày chiến đấu không biết mệt mỏi đã buộc Âng - hang Nươngphải cầu hòa Sau đó họ kết nghĩa anh em A - chât dẫn Âng - hang Nương vềgặp cha và các anh Chín người anh của A - chât vì sợ Âng - hang Nương nênvội vàng bỏ trốn Từ đó A - chât và Âng - hang Nương vào rừng phát rẫy, săn bắt
để nuôi cha già
Một hôm, khi A - chât đang mải mê làm nương thì Kan - tưi gọi chàng về đểhòa giải mâu thuẫn giữa hai làng đang tranh chấp, đánh nhau vì muốn làm chủmột dòng sông A - chât vội vàng lên đường, tay vẫn còn cầm chiếc rựa cụt đangphát rẫy Thấy người lạ mặt đến can ngăn, hai chủ làng đang đánh nhau liền hợplực lại đánh A - chât Chàng vội thả cây rựa cụt xuống và ôn tồn giải thích Haichủ làng bắt A - chât phải chứng tỏ tài năng, sức khỏe của mình bằng cách
thăm bạn bè) thường bỏ hành lí, dụng cụ vào trong gùi Người Tà Ôi quan niệm, người đàn ông khi xa nhà mà mang gùi theo
là người đàn ông có trách nhiệm
Trang 35“xuống sông bắt đầy 10 tilék [8] cá, đánh nhau với 10 chàng trai khỏe mạnh nhất của hai làng” A - chât hoàn thành tất cả những việc đó chỉ trong khoảng thời
gian hai chủ làng vừa hút hết nửa tẩu thuốc Thấy vậy, dân làng lẳng lặng bỏ đi.Việc tranh chấp chấm dứt Âng - hang Nương kín đáo nhặt những ống khèn dânlàng bỏ lại rồi cùng A - chât quay về với cha già, làm những công việc thườngngày của mình
A - chât đang mải mê làm rẫy thì bỗng nghe thấy tiếng khèn từ phía nhàmình vọng lại Chàng vội quay về nhưng vừa đặt chân đến cổng nhà thì tiếngkhèn lập tức im bặt A - chât hỏi Âng - hang Nương nhưng chủ già làng yêu tinhquỷ quái nói không nghe thấy gì Đến lần thứ hai A - chât nghe thấy tiếng khèn
và quay về, lại thấy thái độ của Âng - hang Nương, chàng nhận ra người anh kếtnghĩa của mình đang có điều gì giấu diếm Đến ngày thứ ba, khi thấy A - chât đã
đi rẫy, Âng hang Nương ở nhà lại yên chí mang khèn ra thổi thì bất ngờ A chât xuất hiện ngay trước mắt Thì ra chàng đã bí mật theo dõi Âng - hangNương Vừa lúc đó, chiếc khèn biến thành Parnóh mut [9]4 Âng - hang Nươngtặng cho A - chât chiếc Parnóh mut rồi tạm biệt chàng để quay về quê hươngthăm bạn bè, anh em trong thời gian dài
Không lâu sau, chín người anh của A - chât quay về Họ giải thích với cha vì
sợ Âng - hang Nương mà bỏ đi Kan - tưi vui mừng khôn xiết, giải thích cho cáccon cặn kẽ về lòng tốt của Âng - hang Nương và sự chăm chỉ, hiếu thảo của A -chât trong những tháng ngày vừa qua Chín người anh đỏ mặt hổ thẹn A - châtkhông hề kiêu căng cũng không giận hờn, than thở với các anh Chàng nhanh taylấy nước và thức ăn cho chín người anh của mình Từ đó, cả mười anh em lại
lang Niết Ka quay lại với mình mà còn là vật quyết định sinh mạng chàng Không ai ngoài A - chât có thể làm cho thanh la này phát ra âm thanh
hoặc đến nhà mình Tuy nhiên những đứa con của Ka - lang Niết lại có hình hài như con người trần gian và bản tính lương thiện
[11] Ka - ting: Một loại cây ở rừng, có hạt thiêng, gắn với tích cổ
Trang 36miệt mài lên rừng làm nương rẫy, săn bắn và tận lòng tận dạ chăm sóc cha giàgầy yếu Điều đó làm cho Kan - tưi thêm hạnh phúc Nhưng Kan - tưi ngày cànggià yếu Biết mình không còn sống được bao lâu, Kan - tưi truyền lại cho các con
bí quyết gieo trồng, cách tính nông nịch Kan - tưi chỉ nói riêng cho A - chât vềcách giết chết Ka - lang Niết [10] - loài chim trời độc ác nhưng có những cô con
gái xinh đẹp, hiền lành Sau đó chàng ra đi, trên môi vẫn “nở nụ cười với người con trai út quý yêu”
Mười anh em A - chât cùng đi giết Ka - lang Niết để đưa mười cô con gái nhàchim về làm vợ A - chât nói cho các anh bí quyết mà cha truyền lại - nướng vàcầu khấn hạt Ka - ting [11] thành chiếc thang sắt dài lên nhà chim trời Chín ngườianh lần lượt cầu khấn nhưng không được Chỉ đến khi A - chât thành tâm khẩncầu thì chiếc thang mới hiện ra Các anh của chàng tranh nhau lên thang để vàonhà Ka - lang Niết trước nhưng đều bị đôi vợ chồng chim mổ chết rơi xuống đất.Chỉ còn một mình A - chât Chàng cẩn trọng trèo lên thang và gặp người con gái
út của nhà chim trời tên là Ka - lang Niết Ka Nhờ sự giúp đỡ của nàng chim út,
A - chât nhanh chóng giết được vợ chồng chim độc ác Biết được tính cách củacác anh, A - chât lấy than bôi đên mặt Ka - lang Niết Ka rồi nối thang dẫn mườichị em nhà chim xuống đất A - chât cầu khấn thần trời giúp chín người anh sốnglại Họ tranh nhau chọn vợ chỉ để lại cho A - chât nàng út đen đủi, xấu xí Họdẫn vợ về Dân làng hân hoan mở tiệc mừng hạnh phúc mười anh em A - chât
Vì yêu thương A - chât nên Ka - lang Niết Ka chỉ cho chàng cách buộc sợi tóchai người vào hai ngón chân của nhau để giữ nàng lại trần gian Chín người anh
vì quá vui mừng nên không để ý lời các chị em Ka - lang Niết nói nên khi nhảymúa, đôi cánh họ dần mọc ra và đôi chân cũng dần nhấc khỏi mặt đất Càng ngàychín chị em nhà chim càng cách xa mọi người cho đến khi mất hút vào mâyxanh Chỉ còn lại Ka - lang Niết Ka ở lại với A - chât Chàng cảm ơn vợ, cảm ơndân làng và dẫn người vợ mĩ miều vào nhà Tuy đã có vợ nhưng A - chât vẫn lo
Trang 37lắng, quan tâm cho các anh Chàng cùng vợ ngày ngày lo cái ăn cái ở cho nhữngchàng trai vừa mất đi mối lương duyên tốt đẹp
Chín người anh ganh tị khi thấy A - chât có vợ đẹp liền tìm cách giết hạichàng Họ rủ A - chât đi bắt nhím trong hang rồi lấy đá lấp kín miệng hang, dụ
A - chât trèo lên cây cổ thụ rồi chặt cây đi hòng lấy được Ka - lang Niết Ka.Nhưng lần nào A - chât cũng trở về bình yên Chàng không những không giận
mà còn lấy lời từ tốn, tình ruột thịt ra khuyên bảo các anh Từ đó những ngườianh của A - chât bỏ ý định giết hại em và sống đoàn kết bên nhau
Anh em A - chât cùng nhau đẽo thuyền đủ chở cả dân làng từ cây muôn tuổi
mà A - chât đã vác từ rừng xa về Không có ai trong chín người anh bằng đượcsức vóc của A - chât Dân làng cũng phân chia nhau đi kiếm thức ăn cho anh em
A - chât Tròn mười tháng, anh em A - chât làm xong thuyền Dân làng hứngkhởi đâm trâu, giết gà lợn làm lễ báo với trời đất, tổ tiên Đến mùa thu hoạch,sau khi đi tuốt lúa bẻ ngô về, dân làng lại làm lễ mừng cơm mới Đúng lúc đótrời mưa to, nước dâng lên kéo sập nhà cửa, cuốn trôi hết súc vật A - chât thúcgiục mọi người lên thuyền làm từ cây muôn tuổi còn phần mình và các anh chỉ
kịp “vóc nắm giống lương thực” và “gói rìu rựa lao kiếm” mang theo Bỏ lại
làng cũ, thuyền của A - chât trôi đi rất xa, vượt qua không biết bao nhiêu thácghềnh từ ngày này sang ngày khác Dân làng lo sợ hỏi các người anh của A -chât về tương lai Nhưng họ không thể làm yên lòng dân làng Chỉ đến khi A -chât dùng những lời lẽ vừa tình cảm vừa rắn rỏi động viên thì dân làng mới vững
dạ Không bao lâu, khi nhìn thấy một vùng đất bằng phẳng, A - chât liền neo thuyền,đưa bà con dân bản xuống dựng nhà cửa Từng nóc nhà chi họ rồi ngôi nhà Rôngđược dựng lên nhanh chóng Làng Tà Ôi hình thành từ ngày ấy A - chât lại dẫn dânlàng đi săn bắn, làm nương Nhờ có sự chỉ dẫn của chàng và sự đồng lòng, đoàn kếtcủa bà con, chẳng bao lâu dân làng đã có đời sống no đủ, vui tươi
Trang 38“Như lời đã hẹn Âng - hang Nương quay lại tìm A - chât” nhưng thấy bản
làng đã chìm trong biển nước Đoán biết được điều không lành đã xảy ra, chủlàng yêu tinh quỷ quái liền lần theo dòng nước để đi tìm A - chât Hai người gặplại nhau mừng vui khôn xiết nhưng Âng - hang Nương lại thông báo với ngườianh em của mình rằng đây là lần gặp cuối cùng Âng - hang Nương muốn A -chât làm cho mình mười cái trul [12]5, mười cột nhà đẹp để nghỉ ngơi A - chât
đồng ý và trong khoảng thời gian “bà trăng thoăn thoắt bước đi đủ hai sải tay”
thì chàng đã làm xong mọi việc Âng - hang Nương dặn A - chât rằng khi mình
đi câu nếu có gọi tên chàng thì đừng lên tiếng Nhưng A - chât không làm theo.Âng - hang Nương phải trói A - chât bằng mười, hai mươi, cuối cùng là nămmươi sợi dây và cho uống thuốc ngủ thì A - chât mới nghe lời Âng - hangNương bắt được Ba ba thần liền đem về nhà Trong mười ngày liên tiếp, Âng -hang Nương lần lượt cầu xin Ba ba thần làm đầy các trul bằng gạo ngon, nếpmới, thổ cẩm, nồi niêu, chén bát, cuốc xẻng, rìu rựa, chó mèo, dê nai, trâu bò, tù
và, nhôm, mã não Sau khi tất cả mong ước đều đã được như ý, Âng - hangNương tiễn Ba ba thần về sông rồi đánh thức A - chât đã ngủ quên và bị bỏ đóisuốt mười ngày Âng - hang Nương dẫn A - chât đi xem mười trul và nói đó làquà tặng để chàng chăm lo cho cuộc sống của dân bản A - chât và dân làng cảmđộng làm tiệc tiễn biệt Âng - hang Nương về quê hương
Tiếng tăm của mười anh em A chât lan đi rất xa làm ấm lòng nàng Ka bí
-hơ Chủ làng - người được Ka - bí - hơ coi như cha muốn gả nàng cho anh em A
- chât Lần lượt mười anh em theo thứ tự lớn bé lên đường hỏi vợ Nhưng Ka - bí
- hơ chỉ chọn A - chât làm chồng Chàng đưa người vợ mới về ra mắt gia đình,dân bản Làng Tà Ôi lại mở tiệc mừng cho hạnh phúc ông chủ của họ
Đến mùa phát rẫy, anh em A - chât cùng dân làng vào rừng tìm đất cốtnương Buổi tối nọ, anh em A - chât đi soi ếch và chỉ bắt được một con ộp rất to
Trang 39Họ mang con ộp về lán định nấu cháo cho bữa sáng nhưng cả mười anh em, hễđộng vào nó đều bị hắt hơi Họ bỏ ý định làm thịt con ộp, dần dần không còn bậntâm đến nó nữa Một ngày, sau khi đi làm nương và săn bắt từ rừng về, mười anh
em rất ngạc nhiên khi thấy cơm canh đã có ai dọn đầy đủ sẵn trong lán Ngàyhôm sau cũng vậy A - chât nghĩ cách tìm ra sự thật Hôm sau, trên đường cùngcác anh đi săn, A - chât lấy cớ quên lao để quay về nhà Chàng phát hiện có một
cô gái bước ra từ trong vỏ con ộp, gánh nước, quét nhà, nấu cơm Làm xong mọiviệc nàng định quay lại nơi trú ẩn nhưng A - chât đã nhanh tay ném vỏ ộp vàobếp lửa Cô gái bẽn lẽn xưng là A - đủ Ân - trun con cháu của thần ếch ộp và xin
ở lại giúp việc cho mười anh em A - chât Chàng đồng ý và kể lại sự tình cho cácanh hiểu
Đến mùa thu hoạch, A - chât bảo A - đủ Ân - trun quay về nhà nhưng nàngkhông chịu vì muốn làm vợ thứ của chàng Từ chối không được, A - chât liềndẫn nàng về nhà, chuẩn bị lễ vật cưới vợ Dân làng đều mừng vui vì A - chât lấyđược người vợ vừa đẹp người lại đẹp nết Họ cùng nhau mở tiệc múa hát suốt bangày ba đêm
Sau mùa tết lễ, anh em A - chât đi Lào Trước khi lên đường, họ sửa chữanhà cửa, làm hàng rào mười lớp thật kiên cố và chuẩn bị mọi đồ dùng cá nhâncho A - đủ Ân - trun dùng cho ba mùa rẫy mà không phải ra ngoài để không bị aibắt cóc Nhưng sắc đẹp của A - đủ Ân - trun nhanh chóng đến tai A - cho Ti -long vốn là con sói trời háo sắc, thường dùng nọc độc để giết hại con người Hắnsống trên ngọn núi Ka - ting cao ngất A - cho Ti - long sai A - pi - ing [13] 6xuốnggắp chiếc lược và đôi tằm mà A - chât đã tặng cho A - đủ Ân - trun để dụ nàng rakhỏi nhà Quả nhiên A - đủ Ân - trun rơi vào bẫy Nàng bị A - cho Ti - long bắtđược và giam cầm đến khi nào nàng đồng ý lấy hắn
mọi loại thú vật.
Trang 40Một năm sau, anh em A - chât trở về nhưng không thấy A - đủ Ân - trun Họchia nhau đi tìm nàng ở khắp nơi Chín người anh ra đi nhưng đều không tìmđược tung tích gì Đến ngày thứ mười, ngày cuối cùng thì A - chât thấy vợ mặctrang phục cô dâu và đang bị trói ở làng A - cho Ti - long Chàng giận tím ruột,lao về nhà cùng các anh chuẩn bị vũ khí đi giải cứu A - đủ Ân - trun Chín ngườianh của A - chât đều bị chết bởi thuốc độc của A - cho Ti - long Đến lượt mình,
A - chât thận trọng và hành động nhanh nhẹn nên đã chặt đứt được hai tay của A
- cho Ti - long Chàng trói hắn vào cột nhà, mổ bụng, móc mắt nhằm giết chếtcon sói trời độc ác A - chât cởi trói cho A - đủ Ân - trun và cùng vợ giải độc cứusống các anh Vợ chồng, anh em vui mừng dắt tay nhau về nhà
Tin A - cho Ti - long bị giết chết đến tai họ hàng của hắn Chúng lũ lượt kéonhau đến đậu đầy mái nhà A - chât Chàng giao hẹn với bọn chúng ngày đánhnhau Sau đó họp anh em, dân làng chuẩn bị mủ Jis [14] để tiêu diệt lũ giặc trời.Đến ngày hẹn, họ hàng A - cho Ti - long kéo đến nhưng nếu không bị anh em A
- chât bắn chết thì cũng chết vì độc Jis được bôi ở khắp nơi Những kẻ còn sốngsót đều xin được làm người hầu kẻ hạ cho A - chât Từ đó không còn kẻ nào dámđụng vào họ hàng A - chât Dân làng càng tin tưởng và kính trọng chàng hơn Dân làng Tà Ôi ngày càng phát triển A - chât bàn với cách anh tách làngthành mười làng độc lập do từng người lãnh đạo Tiếng tăm họ ngày càng vang
xa, lên đến tận trời cao Vợ chồng người trời Ắc Ai Ôn chỉ có một cô con gái làKam - mo - rơ Mi - măng đã đến tuổi lấy chồng Nàng muốn lấy chồng dưới trầngian và xin cha mẹ cho mình tự quyết định Kam - mo - rơ Mi - măng thả chú gàtrống khổng lồ xuống trần gian xem chàng trai nào bắn trúng nó thì sẽ là chồngcủa nàng Gà trống thần lần lượt bay qua chín làng của chín người anh A - châtnhưng không chàng trai nào bắn hạ được nó Chỉ đến khi bay đến ngôi làng cuốicùng thì gà trống thần mới bị mũi tên duy nhất của A - chât bắn trúng Kam - mo
- rơ Mi - măng vui mừng vì chọn được ý trung nhân Nàng xin cha mẹ của hồi