Tính cấp thiết của đề tàiDân ca Việt Nam với điểm nhấn là vùng dân ca Nghệ - Tĩnh, vùng đất đãsinh ra biết bao những anh hùng dân tộc vĩ đại, những nhà nho, thi sĩ mà sựnghiệp mãi mãi cò
Trang 11 Tính cấp thiết của đề tài
Dân ca Việt Nam với điểm nhấn là vùng dân ca Nghệ - Tĩnh, vùng đất đãsinh ra biết bao những anh hùng dân tộc vĩ đại, những nhà nho, thi sĩ mà sựnghiệp mãi mãi còn lại cho đời sau như Nguyễn Du, Xuân Diệu, Huy Cận…Với những giá trị nghệ thuật đặc sắc, các ca khúc sử dụng chất liệu dân caNghệ - Tĩnh nói riêng đã góp phần không nhỏ trong di sản ca khúc Việt Nam,luôn là chất liệu trong sáng tác của các nhạc sĩ Việt Nam cũng như của nhiềunghệ sĩ quốc tế
Tiền thân là Trường Âm nhạc Hà Nội (1967), nay là Trường Cao đẳngNghệ thuật Hà Nội với bề dày truyền thống đã và đang là một trong nhữngnơi uy tín nhất trong cả nước trong công tác đào tạo học sinh và sinh viên Âm
nhạc Âm nhạc Hà Nội là tên gọi cũ của Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ
thuật Hà Nội được thành lập năm 1967 Đến năm 1984 trường được đổi tên
là Trường Trung cấp Âm nhạc Hà Nội Sau 11 năm hoạt động, năm 1995
trường chính thức được nâng cấp thành Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội.Cho đến nay, trong xu thế của thời hội nhập, Trường Cao đẳng Nghệ thuật HàNội vẫn vững bước phát triển đi lên ở hầu hết tất cả các lĩnh vực nghệ thuật
Có thể nói, đây là một trong những trường có bề dày lịch sử nhiều năm, có hệthống đào tạo âm nhạc chính quy rất cơ bản với hệ trung cấp ngắn hạn vàtrung cấp dài hạn, hệ cao đẳng 3 năm và những năm gần đây, trường liên kếtđào tạo hệ đại học liên thông Nhà trường đào tạo nhiều lĩnh vực như thanhnhạc, nhạc nhẹ, piano, giao hưởng, sư phạm, múa, sân khấu điện ảnh… Cácmôn học ở hệ cao đẳng của trường đã cung cấp cho sinh viên một nền tảngkiến thức chung vững chắc cũng như những kỹ năng chuyên môn cơ bản vàtổng hợp Tuy nhiên, từ thực tế tại Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội trongviệc nghiên cứu những tinh hoa âm nhạc cổ truyền của dân tộc; chúng tôi
Trang 2Dân ca Nghệ - Tĩnh có rất nhiều nét độc đáo, chứa đựng vốn văn hóatruyền thống của dân tộc Nhiều ca khúc nhạc mới Việt Nam với tính nghệthuật cao đã sử dụng chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh để phát triển hình tượng âm
nhạc như: Miền Trung nhớ Bác, Vầng trăng Ba Đình của nhạc sĩ Thuận Yến; Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác của nhạc sĩ An Thuyên…
Qua thực tế nghiên cứu về âm nhạc dân ca Nghệ - Tĩnh, nhận thấy đây làmột vấn đề vẫn còn đang bỏ ngỏ; bởi vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài
Giảng dạy ca khúc mang chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh ở Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội nhằm tìm hiểu vốn âm nhạc dân tộc đang dần bị mai một
theo năm tháng; đồng thời, đưa ra những phương pháp khoa học về văn hóa
âm nhạc thể hiện trong các phương pháp giảng dạy bộ môn Âm nhạc
Hiện tại vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về giảng dạy ca khúc mang chấtliệu dân ca Nghệ - Tĩnh ở Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
Các đề tài chúng tôi nghiên cứu có nội dung cơ bản là về phương pháp dạy
học nói chung của bộ môn thanh nhạc Trong Nâng cao chất lượng giảng dạy
bộ môn Thanh nhạc cho SV năm thứ nhất và năm thứ hai - hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc - Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương của Trần
Mai Tuyết, chúng tôi đã tiếp thu được những khả năng cơ bản của SV năm
Trang 3thứ nhất và năm thứ hai và phương pháp đối với những SV này Trong
Phương pháp rèn luyện ca khúc mang âm hưởng dân gian Việt Nam cho giọng nữ - hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc - Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương của Trịnh Thị Oanh, ngoài những vấn đề của giọng nữ đã
được tác giả nhắc đến thì chúng tôi còn tiếp thu được về phương pháp rènluyện ca khúc mang âm hưởng dân gian Việt Nam - một vấn đề hiếm khiđược nhắc đến trong nghiên cứu thanh nhạc hàn lâm chỉ chuyên sâu đến với
âm nhạc phương Tây Trong Kỹ thuật thể hiện một số ca khúc cho giọng nữ cao năm thứ nhất - hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc - Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương của Trần Thị Thảo thì chúng tôi lại nhận được những
nghiên cứu chuyên sâu về kỹ thuật thể hiện trong quá trình học Thanh nhạc
-một kỹ năng cứng thật cần thiết cho những tân SV Trong Hệ thống phương pháp dạy và học hát hợp xướng - hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc - Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương của Lê Vinh Hưng, chúng tôi tiếp thu
được những kinh nghiệm quý báu trong công tác dạy hát bè Phần nội dungnày, chúng tôi xin được đề cập kỹ hơn những ứng dụng và những kinhnghiệm quý báu tiếp thu được từ những đề tài trên ở phần sau của luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
+ Nghiên cứu việc sử dụng các phương pháp dạy thanh nhạc trong một
số ca khúc sử dụng chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh ở Trường Cao đẳng Nghệthuật Hà Nội
+ Nâng cao nhận thức và trình độ lý luận của học viên về phương phápdạy thanh nhạc trong ca khúc mang chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh; góp phầnbảo tồn dân ca Nghệ - Tĩnh
+ Góp thêm một phần nhỏ vào kho tàng lý luận về phương pháp dạythanh nhạc trong ca khúc mang chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh
Trang 43.2 Nhiệm vụ
+ Tìm hiểu về phương pháp giảng dạy thanh nhạc về những ca khúcmang chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh ở Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội.+ Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn, đưa ra một số phương pháp giảngdạy thanh nhạc thông qua các ca khúc mang chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh ởTrường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội và khả năng ứng dụng những phươngpháp này trong quá trình tự học của sinh viên khoa Thanh nhạc - Trường Caođẳng Nghệ thuật Hà Nội Những phương pháp được chúng tôi đưa ra đượcnghiên cứu dựa trên quá trình thực hiện luận văn Phương pháp này chỉ dànhriêng cho việc dạy và học dân ca Nghệ - Tĩnh ở Trường Cao đẳng Nghệ thuật
Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu phương pháp giảng dạy thanh nhạc của
giảng viên và quá trình tiếp thu kiến thức của SV khi truyền dạy ca khúcmang chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh ở Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội.Chúng tôi cũng đồng thời nghiên cứu chương trình dạy và giáo trình, giáo áncủa giảng viên; nghiên cứu quá trình chuẩn bị trước khi lên lớp của SV ởTrường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
4.2 Phạm vi của đề tài: chỉ nghiên cứu chương trình, phương pháp giảng dạy
hiện nay của GV khoa Thanh nhạc ở Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội, cakhúc mang chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh trong quá trình học tập của sinh viên
hệ Cao đẳng - Khoa Thanh nhạc ở Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các nhóm phương pháp chính sau đây:
- Phương pháp điền dã, tổng hợp và phân tích tư liệu
- Phương pháp thực nghiệm
Trang 56 Đóng góp của luận văn
Đề tài được nghiên cứu thành công hy vọng sẽ đóng góp những vấn đề sau:
- Bước đầu hệ thống lý luận về phương pháp dạy thanh nhạc các ca khúcmang chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh ở Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
- Góp thêm tư liệu lý luận về tìm hiểu ca khúc mang chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh
- Góp phần xây dựng được phương pháp dạy hát dân ca phù hợp hơn để
SV khoa Thanh nhạc ở Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội tham khảo
- Công trình là một tài liệu tham khảo với các nghiên cứu cùng hướng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Luận văn gồm hai chương:
Chương 1 Phương pháp dạy học âm nhạc và dân ca Nghệ - Tĩnh.
Chương 2 Phương pháp dạy thanh nhạc trong ca khúc mang chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh ở Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội.
Trang 6Ch¬ng 1Ph¬ng ph¸p d¹y häc ©m nh¹c vµ d©n ca nghÖ – tÜnh tÜnh
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm về phương pháp dạy học Âm nhạc
Phương pháp giảng dạy âm nhạc đòi hỏi có sự chuyên biệt rất cao.Không giống như những phương pháp giảng dạy các môn học khác, phươngpháp dạy học âm nhạc đòi hỏi rất nhiều những sự sáng tạo và mang nhiều đặctrưng riêng biệt hiếm có Theo chúng tôi, phương pháp giảng dạy âm nhạckhông chỉ đơn thuần là sự hàn lâm như những phương pháp dạy học khác màcòn bao gồm những yếu tố sau: Sự sáng tạo của người truyền dạy, sự sáng tạocủa người học và sự biến chuyển của âm nhạc tại thời điểm giảng dạy
Trong quá trình công tác, chúng tôi cho rằng việc giảng dạy âm nhạc nêngắn liền với học trải nghiệm âm nhạc thực tế Đây là phương pháp học mới, giúphọc viên học nhiều kĩ năng qua việc tập luyện và biểu diễn với ban nhạc Đây là
sự kết hợp nhóm nhiều học viên học các nhạc cụ khác nhau để lập thành một bannhạc Học viên có thể học được nhiều kĩ năng thực tế, hiệu quả sau:
- Kĩ năng làm việc nhóm: học viên có thể học cách làm việc trong tập thểqua việc chơi nhạc với các thành viên trong ban nhạc
- Tư duy sáng tạo: học viên luôn được khuyến khích tự sáng tạo và chơinhạc theo cảm xúc của riêng mình
- Tự tin: qua nhiều lần tập luyện và biểu diễn trong các chương trình củatrường, học viên sẽ tự tin và phát triển khả năng của mình không chỉ trongviệc biểu diễn trước đám đông mà còn trong giao lưu với nhiều người
Mở rộng tầm nhìn: học viên sẽ hiểu hơn về văn hóa của nhiều quốc giathông qua âm nhạc; học hỏi được nhiều điều từ thầy cô và bạn bè
Trang 7Làm việc có tổ chức: những buổi tập luyện cùng ban nhạc với sự hướngdẫn của các giảng viên, học viên sẽ rèn luyện được khả năng làm việc có tổchức và kỷ luật
Giáo trình của chúng tôi đã được tuyển chọn và biên soạn công phuvới những bài học tập trung rèn luyện kỹ thuật chơi nhạc, những bàihọc hướng dẫn học viên phương pháp sáng tạo trong âm nhạc và những bàihọc mẫu làm cơ sở để học viên có thể thỏa sức chơi nhạc theo cách riêng củamình và đi kèm những đĩa CD với những bản nhạc đã được hòa âm phốikhí nhiều loại nhạc cụ để giúp học viên có thể thực hành kỹ năng chơi nhạccùng ban nhạc ở nhà dù chỉ có một mình
Việc áp dụng phương pháp này với dạy hát dân ca là hoàn toàn hợp lý.Chúng tôi cho rằng sẽ đưa công nghệ thông tin vào để áp dụng truyền dạynhững bài hát dân ca với nhiều giọng hát cộng minh và đưa nhạc khí cổtruyền vào phần đệm nhằm tạo hứng thú cho người học
1.1.2 Hệ thống phương pháp dạy học âm nhạc
Trước đây, việc tổ chức dạy học môn âm nhạc vẫn thường sử dụng cácphương pháp truyền thống: Lấy GV làm trung tâm Thực tế cho thấy việc sửdụng phương pháp truyền thống một mặt có những ưu điểm không thể phủnhận, mặt khác còn có những hạn chế nhất định trong việc phát huy tính tíchcực, năng lực sáng tạo của học sinh Để thực hiện mục tiêu giáo dục trên, việcgiảng dạy môn Âm nhạc đòi hỏi phải có những thay đổi về phương pháp chophù hợp với yêu cầu của thực tiễn
1.1.2.1 Phương pháp trình diễn tác phẩm
Phương pháp trình diễn tác phẩm âm nhạc có hai cách:
- Trình bày, thể hiện diễn cảm toàn bộ nội dung, sắc thái, tư tưởng, tìnhcảm trong tác phẩm Trình bày thể hiện diễn cảm toàn bộ tác phẩm là điềukiện để SV làm quen với âm nhạc, cảm thụ âm nhạc Giáo viên trình bày, biểu
Trang 8diễn (hát, đàn, đọc nhạc) tác phẩm chân thực sâu sắc tác động đến học sinh,kích thích những tình cảm khác nhau, làm phong phú ấn tượng của các em.Muốn vậy, GV cần hiểu sâu sắc nội dung, tư tưởng, tình cảm, sắc thái trongtác phẩm, có trình độ biểu diễn tốt
- Trình bày, thể hiện, diễn tả chi tiết các kĩ năng biểu diễn, thể hiện tácphẩm: trình bày, thể hiện, diễn tả các kĩ năng biểu diễn là trình bày rõ nétnhững chỗ cần lấy hơi, nhấn mạnh, hát to, hát nhỏ, ngân dài hoặc thay đổi tốcđộ Có thể làm rõ cách diễn tả một câu nhạc, một âm hình tiết tấu để HS thựchành theo
Đây là phương pháp sư phạm điển hình có giá trị thuyết phục, thu hút
sự chú ý của SV, tạo điều kiện cho sự lĩnh hội và sáng tạo âm nhạc Phươngpháp trình bày tác phẩm là phương pháp đặc trưng cho dạy học âm nhạc
1.1.2.2 Phương pháp hướng dẫn thực hành luyện tập
Là lặp đi lặp lại nhiều lần kĩ năng hát, đọc nhạc, khi luyện tập cần chú ý:
- Xác định mục đích luyện tập
- Cần tập luyện thường xuyên, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
- Luyện tập ở nhiều dạng khác nhau, trong các hoàn cảnh khác nhau.Phương pháp thực hành kết hợp với phương pháp trình bày tác phẩmtạo nên hai phương pháp chính trong giảng dạy âm nhạc
1.1.3.3 Phương pháp dùng lời
Bao gồm phương pháp thuyết trình và phương pháp vấn đáp Nó đượcdùng để giới thiệu tác phẩm, giới thiệu cách thể hiện, giải thích nội dung, cácyếu tố diễn tả âm nhạc, trò chuyện về nội dung âm nhạc, kể chuyện âm nhạc,đặt câu hỏi, gợi mở, nhắc nhở
Dùng lời trong dạy học âm nhạc không phải là phương pháp cơ bảnnhưng cần thiết vì nó hỗ trợ các phương pháp trình bày tác phẩm, thực hànhluyện tập để nắm các kiến thức cơ sở, các kĩ năng hoạt động âm nhạc Phương
Trang 9pháp dùng lời thường được kết hợp với phương pháp sử dụng phương tiệndạy học Âm nhạc.
1.1.2.4 Phương pháp sử dụng phương tiện dạy học âm nhạc
Nhóm ba: các trang thiết bị khác: Đĩa, băng, máy thu, máy phát, trang
âm, loa đài; ứng dụng công nghệ thông tin
Tùy theo điều kiện cho phép của mỗi trường có thể trang bị cơ sở vậtchất, thiết bị dạy và học bộ môn Âm nhạc ở mức độ khác nhau, tránh hạn chế
sự giao tiếp, xây dựng không gian cảm xúc giữa GV và SV khi lạm dụng ứngdụng công nghệ thông tin
1.1.2.5 Phương pháp tổ chức học theo dự án
Các chủ đề trong học theo dự án chủ yếu liên quan đến việc học và đờisống hàng ngày của học sinh Các bước học theo dự án bao gồm: Lập kếhoạch, thực hiện nghiên cứu và tổng hợp kết quả GV sẽ khơi gợi hứng thúcủa SV, SV chủ động nghiên cứu
1.1.2.6 Phương pháp tổ chức học theo hợp đồng
Là một hoạt động học tập trong đó mỗi SV được giao một hợp đồngtrọn gói bao gồm các nhiệm vụ bắt buộc và tự chọn khác nhau trong mộtkhoảng thời gian nhất định HS chủ động và độc lập quyết định về thời gian
và thứ tự thực hiện các nhiệm vụ đó theo khả năng của mình
1.1.2.7 Phưng pháp tổ chức học theo góc
Là một hình thức tổ chức các hoạt động học tập, SV thực hiện cácnhiệm vụ khác nhau tại các vị trí khác nhau trong không gian lớp học nhưng
Trang 10cùng hướng tới chiếm lĩnh một nội dung học theo các phong cách khác nhau.
GV cần đảm bảo SV tham gia luân phiên tại các góc
1.1.2.8 Phương pháp trò chơi
Phương pháp trò chơi mang tính chất học mà vui nên giúp SV lĩnh hộitri thức hiệu quả Có nhiều dạng trò chơi: Trò chơi âm nhạc, trò chơi dân gian,trò chơi phát triển trí não Để tham gia vào một dạng trò chơi hoặc dạng tròchơi kết hợp đòi hỏi người chơi có kiến thức và có sự say mê với trò chơi đó
Vì vậy, phương pháp này đòi hỏi khả năng tổ chức và ứng tác ngẫu hứng củangưới thầy cần giàu ngôn ngữ và vốn hiểu biết về tâm lý lứa tuổi khá sâu sắc
1.1.3 Phương pháp giảng dạy thanh nhạc
Tiếng hát đã có rất sớm cùng với tiếng nói của con người phát xuất từtôn giáo, lao động và giải trí Nhưng nguồn gốc sâu xa nhất của tiếng hát là donhu cầu muốn diễn đạt tình ý của mình một cách có hiệu quả hơn trên tâmhồn người nghe: con người lúc đầu chủ yếu dùng ngôn ngữ để thông đạt chonhau những ý nghĩ, tình cảm của mình Dần dà họ tìm cách diễn đạt tình ýmột cách khéo léo hơn, tài tình hơn, tức là có nghệ thuật hơn qua các bài văn,bài thơ Và yếu tố âm nhạc, tiềm ẩn trong câu nói, trong câu thơ đã càng ngàycàng rõ rệt hơn trong các kiểu nói diễn cảm, các bài đọc trang trọng (như đọcdiễn văn), các câu rao hàng, câu ngâm thơ Nó xuất hiện rõ nét trong các câu
hò nhất là trong các bài hát nhằm tăng sức diễn cảm tối đa cho lời nói Thanhnhạc đã ra đời dựa trên ngôn ngữ của từng dân tộc, và nó càng ngày càngđược nâng cao cùng với các bộ môn nghệ thuật khác như văn thơ, sân khấu,
vũ nhạc… Do đó mỗi dân tộc ít nhiều đều có những kinh nghiệm thanh nhạcriêng Vấn đề hiện nay của người học thanh nhạc là làm sao học được kinhnghiệm hay của các dân tộc khác mà không bỏ mất kinh nghiệm quý báu củacha ông để lại
Trang 11Tiếng hát, chính là tiếng nói được khuyếch đại, được thổi phồng lên vềmặt hình thức (thanh điệu của ngôn ngữ) cũng như về mặt nội dung (ý nghĩacủa ngôn ngữ), nhằm đánh động tâm hồn người nghe Muốn đánh động tâmhồn kẻ khác, thì tiếng hát trước hết phải xuất phát từ tâm hồn người sáng tác
và như vậy ta mới thấy “Tiếng hát thực sự là tiếng nói của tâm hồn”, như
người ta thường nói Muốn đạt đến cái hay, cái đẹp trong ca hát, bất cứ ngườidiễn tấu nào, người ca sĩ nào cũng phải tìm cho ra cái hồn của bài hát, rồitruyền đạt nó đến người nghe bằng một giọng hát điêu luyện nhất Thanh nhạc
và khí nhạc đều nằm trong âm nhạc, tuy nhiên, chúng có điểm khác biệt, đó
là: giọng hát của con người được coi như một “nhạc khí sống” quý báu,
không nhạc khí nào bằng, vì ngoài những âm thanh cao thấp, dài ngắn, mạnhnhẹ, trong đục, giọng người còn có khả năng phát ra lời, ra tiếng: chính nhờngôn ngữ mà tiếng hát có sức biểu hiện lớn lao, có khả năng diễn đạt tình ý cáchhữu hiệu, có tính giáo dục cao về nhiều phương diện Ngôn ngữ làm cho âmnhạc được cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu, nên dễ đi sâu vào mọi tầng lớp xã hội Thanhnhạc nhờ đó mà trở thành bộ môn nghệ thuật có tính đại chúng cao nhất
Ngoài ra giọng hát con người còn có thuận lợi là bất kỳ lúc nào và nơinào cũng có thể dùng đến được Tuy có những điều thuận lợi trội vượt nhưthế nhưng so với các nhạc khí khác, giọng hát cũng có những giới hạn khiêmtốn của nó như:
- Âm vực giọng hát giới hạn hơn rất nhiều nhạc khí: giọng hát conngười, cả nam lẫn nữ nối lại, cũng chỉ hát được khoảng 4 bát độ (gọi là bốnbát độ hợp ca)
- Giọng hát dễ bị ảnh hưởng bởi mọi diễn biến tâm sinh lý của ngườihát (lo sợ, bệnh tật, thời tiết …)
- Ngoài những quy luật chung về âm thanh, về kỹ thuật âm nhạc, vềthẩm mỹ… giọng hát còn bị chi phối bởi quy luật về ngôn ngữ và về phong
Trang 12cách diễn xướng của từng dân tộc Do vậy phương pháp ca hát bao giờ cũng
gồm 2 mặt: Một là học kỹ thuật thanh nhạc qua các bài luyện thanh; hai là
học cách xử lý ngôn ngữ riêng cho từng dân tộc
Do vậy, phương pháp giảng dạy thanh nhạc cần:
- Không ngừng cải tiến, hoàn thiện các phương pháp dạy học và nghiêncứu khoa học, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học
- Luôn bổ sung, phối hợp nghiên cứu khoa học với nhiều phương phápdạy học để khắc phục những hạn chế trong phương pháp dạy học đang sửdụng, để đạt được mục tiêu dạy học đề ra
- Không ngừng cập nhập những phương tiện truyền thông, hiểu biết vềcông nghệ thông tin và hoàn thiện khả năng để xử lý, ứng dụng chúng
- Thấu hiểu cách học của sinh viên, làm trọng tài, cố vấn những phươngpháp học, những kỹ năng cần có khi thực hành
Và một điều không thể thiếu đó là người thầy cần có kiến thức về đánhgiá dạy học, để đánh giá đúng kết quả, nhằm khẳng định mức độ đạt được củachất lượng đào tạo, xác định đúng mục tiêu Luôn đổi mới phương pháp dạy họccũng chính là lấy học sinh làm trung tâm với những tiêu chí của người thầy:
- Giúp học sinh, sinh viên nắm được tri thức những kỹ năng, kỹ xảo vềlĩnh vực khoa học nhất định ở trình độ hiện đại, có đẳng cấp để sau khi ratrường họ có khả năng lập nghiệp
- Hướng dẫn sinh viên những phương pháp kỹ năng để phát triển nănglực, phẩm chất, trí tuệ, giúp sinh viên phương pháp nghiên cứu và phươngpháp tự học, thực hiện có hiệu quả “ học đi đôi với hành”- “lý luận gắn liềnvới thực tiễn”
- Bồi dưỡng cho sinh viên lý tưởng, niềm tin, đạo đức, thái độ, tácphong về nghề làm cho họ thấy cần phấn đấu, đầu tư lâu dài cho học tập; quátrình này giáo viên phải biết, đưa ra những khó khăn thường xuyên, đòi hỏi
Trang 13người học phải phấn đấu, rèn luyện, cố gắng để hoàn thành tốt các nhiệm vụhọc tập.
1.1.3.1 Khái niệm Thanh nhạc
Thanh nhạc là bộ môn khoa học trừu tượng, chuyên nghiên cứu những
âm thanh do bộ máy phát âm của con người tạo ra đã được âm nhạc hóa
Trong khi biểu diễn, người ca sĩ xây dựng một bộ phận chuyên nghiệpnằm ngay trong cơ thể con người Đó là bộ máy phát âm nó có những đặcđiểm khác biệt có những yêu cầu cần chú ý khi xử lý khi học thanh nhạc
Người ca hát giỏi là người biết vận dụng hơi thở nhanh chóng, mềmmại và linh hoạt, khi lấy hơi ta lấy thật nhanh, đẩy hơi ra chậm Trong khi hát
ta thường phải lấy hơi để giữ cho giọng hát liên tục và dẻo dai Âm thanh phát
ra phải đảm bảo trong sáng, không rè sạn hoặc quá khè, vỡ do ép hơi quámạnh mà làm cho hai dây thanh đới tách ra và rung động thiếu mềm mại
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, thường sử dụng một số kỹ thuậtthanh nhạc sau:
- Khi lấy hơi vào trong, cần khống chế hơi, không buông lỏng các cơbắp để xả hơi ra quá nhanh
- Vận dụng các cơ bắp ở lồng ngực, bụng, hoành cách mô không nênquá căng thẳng làm cho hơi trong phổi bị ép chặt, khiến âm thanh phát rakhông thoát, âm thanh không nhẹ nhàng, trong sáng và ngân vang
- Không nên lấy hơi quá căng, gây phản ứng mạnh của hoành cách môkhó khống chế làm cho hơi ra rất nhanh
- Tránh lối hát có hơi thở phì phò ra cùng với âm thanh Tật này gọi là
“lộ hơi” Trong câu hát cần lấy hơi đúng quy định, không được tùy tiện Lấyhơi vào cuối câu hát, câu hát dài cần ngắt ra, lấy hơi ở từng ý của lời ca cho
đủ nghĩa Không lấy hơi vụn vặt 2 - 3 chữ để lấy một hơi khác
Trang 14Chúng tôi cho rằng những phương pháp giảng dạy bộ môn Thanh nhạccần gắn với những yếu tố sau:
- Phương pháp giảng dạy bộ môn Thanh nhạc thông qua các bài luyện thanh
- Phương pháp giảng dạy bộ môn Thanh nhạc thông qua việc hát tự dotheo lối hát mà người học cảm thụ
Chúng tôi cũng cho rằng phương pháp giảng dạy thanh nhạc cần gắn vớiphương pháp luyện thanh đúng quy cách như:
- Tập hơi thở 15 phút với sự tập trung cao độ - cố gắng đạt được từ 20 phút
đến 25 - 30 phút mỗi lần “xì”.
Hát những mẫu âm luyện thanh từ quãng đồng âm lên dần quãng 2 3 4
-5 - 6 - 7 - 8… 12 - 13 ở các tốc độ từ chậm đến nhanh, tiết tấu từ dễ đến khó.Càng hát nhanh, môi càng mềm mại, không “nhai” tiếng Càng lên cao,càng hát nhanh, phải tạo cảm giác điểm tựa âm thanh từ vùng xương chậu đểphóng luồng hơi luôn luôn hướng lên phía sống mũi Chỉ hát một hơi, không
để mất vị trí dội âm trước mặt, giống như ta cầm vòi xịt nước lên cao, hướng
về một điểm trước mặt, giữa môi trên và trán, nơi mà ta cảm thấy âm thanhvang rõ và đẹp nhất Lúc đầu mỗi người gắng hướng làn hơi tìm xem “điểm”nào cho ta âm thanh vang đẹp nhất Khi tìm được vị trí rồi, không cần phảitốn nhiều hơi, mà nghe âm thanh vẫn vang rõ Vai trò của hàm ếch mềm vàmôi trên rất quan trọng để hướng dẫn làn hơi đi vào đúng vị trí
Khi tập riêng ở nhà cần tránh tập những nốt quá cao hoặc quá thấp (điềunày chỉ nên thực hiện khi có sự trợ giúp cùng chuyên gia thanh nhạc) Đặcbiệt khi luyện thanh, học viên cần phải tập trung tư tưởng
1.1.4 Phương pháp dạy hát dân ca
Nhân dân ta vốn có truyền thống yêu ca hát, tiếng hát đã gắn liền vớicuộc sống lao động và đấu tranh Từ bao đời nay, âm nhạc đã trở thành mônnghệ thuật luôn được mọi người yêu thích Âm nhạc không chỉ mang lại
Trang 15những cảm xúc vui sướng trong đời sống tinh thần mà còn tạo cho chúng tahiểu biết về thế giới khách quan, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện củamỗi người.
Hát dân ca là một trong những tinh hóa văn hóa của dân tộc Việt Namrất được quan tâm và gìn giữ Đối với giáo dục các bài hát dân ca cũng đãđược đưa vào trong chương trình học của các bậc học Hát dân ca đòi hỏi liêntục trau dồi tri thức và phương pháp dạy học thì mới đáp ứng được nhiệm vụdạy học
Tuy quy trình dạy học giống với việc dạy hát các bài hát nước ngoàicũng như những bài nhạc mới, nhưng kĩ thuật dạy hát những bài hát dân ca cónhiều khác biệt Sự khác biệt này mới tạo nên những phong cách, màu sắckhác nhau của mỗi bài hát Phương pháp dạy hát dân ca bao gồm:
- Phương pháp truyền thống: Truyền khẩu trong dân gian những bài dân ca
- Phương pháp hiện đại thông qua sử dụng những bài bản được lưu trữtrong băng đĩa
- Kết hợp phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại
1.2 Tìm hiểu về dân ca Nghệ - Tĩnh trong thanh điệu tiếng Việt
Trên cơ sở khảo sát các văn bản lời và nghe dân ca ví, dặm, chúng tôi nhậnthấy ví, dặm Nghệ Tĩnh có các đặc điểm riêng biệt về ngôn ngữ như sau:
Thứ nhất, sử dụng từ xưng hô theo khuynh hướng kéo gần các mối quan
hệ Dĩ nhiên, từ xưng hô trong ví, dặm rất phong phú, có những trường hợp sắc thái nghĩa của từ xưng hô trong ví, dặm không khác với các làn điệu khác.
Tuy nhiên, ở đây, chúng tôi chỉ đi tìm những trường hợp mà từ xưng hô ở cáclàn điệu dân ca khác không biểu hiện đặc điểm đó Điều này trước hết được
thể hiện ở từ xưng hô thân tộc, cụ thể là từ “mự” (Trong bài Thử lòng chung thủy - Dân ca Nghệ - Tĩnh) Từ “mự” trong ngữ cảnh này có sức biểu cảm
nhất định, tạo nên sự thú vị trong tình ý bài hát Ở đó, người con trai biểu thị
Trang 16mối hờn trách Chẳng thế mà ngay sau một câu đề dẫn “trước thì mự nói…”
đến 4 câu với cấu trúc tương tự theo dạng liệt kê (đoạn 2 tương tự) và kết thúcbằng một cấu trúc đảo ngược (bạc tình chi - răng bạc tình) Từ “mự” là từxưng hô thân tộc, có chức năng kéo gần mối quan hệ giữa người xưng hô vàngười được hướng đến Trong bối cảnh, niềm tin tưởng đã sắp đứt gãy, chialìa, người con trai sử dụng từ “mự” (vốn không dùng trong quan hệ đôi lứa)như muốn khẳng định mối quan hệ tưởng như đã chắc chắn, từ đó làm cho sựbạc tình của người con gái càng lên cao hơn Như vậy, cái được khẳng địnhthông qua từ “mự” ở đây là mối quan hệ mà người con trai đã nhầm tưởng
Và, cái thú vị cũng đến từ đấy: người con trai (thông qua ngữ điệu và tình ýcủa lời hát) có ý hờn trách và thắc mắc, song trong thực “bụng” vẫn khẳngđịnh mối quan hệ gắn bó thân thiết (ngay từ đầu lời hát và cuối lời hát)
Bên cạnh từ “mự”, trong lời hát, người Nghệ còn dùng các từ xưng hôquen thuộc nhưng theo cách riêng, như từ: bạn, anh, người khác với dân cacác miền, từ “bạn” ở dân ca Nghệ Tĩnh hầu hết đều đi kèm yếu tố “tình” làm
giảm nghĩa của từ bạn - vốn là từ chỉ quan hệ khách quan Chẳng hạn: Này là bạn tình ơi ơ…; đối với từ “anh” - chỉ quan hệ khách quan, trong một số bài
hát giao duyên, đối đáp, người Nghệ cũng đã gắn liền với yếu tố đi kèm,thường là tên nhân vật (khác với quan họ, dù cũng có yếu tố đi kèm, chúng tôi
sẽ phân tích sau đây) Chẳng hạn: Đến đây em hỏi anh Bần (Bần hát ghẹo).
Từ “Bần” đi kèm từ xưng hô “anh” giúp xích gần khoảng cách giữa 2 đốitượng Thậm chí, đến khi giao duyên qua lại, từ “anh” được lược bỏ, chỉ còn
tên “Bần”: Em đố Bần câu này nha Trong thực tiễn xưng hô, khi đối tượng
xưng tên kèm theo đó là từ xưng hô ở phía trước thì đó thường là quan hệtrong cuộc, gần gũi Ngoài từ “bạn”, từ “anh” (có yếu tố đi kèm), người Nghệ
còn dùng từ “người” như trong lời mào đầu: Người ơi ơ Nhưng từ “người”
trong lời hát này thường là phiếm chỉ, không phải là đối tượng hướng đến cụ
Trang 17thể trong hát giao duyên Cụ thể không phải là người cùng hát đối đáp Điềunày rất khác với dân ca các vùng, chẳng hạn như quan họ, từ “người” thường
dùng để chỉ đối tượng trữ tình, đối tượng hát giao duyên: Người ơi người ở đừng về, Hỏi người là người tri kỷ… Hơn thế, trong việc dùng từ, các làn điệu
của quan họ với tính chất xây dựng mối quan hệ khách quan, lịch thiệp, nhãnhặn, nhún nhường, từ xưng hô thường là anh cả, anh hai, cô cả, cô hai (cácyếu tố đi kèm làm giảm nghĩa của từ, tạo quan hệ quan phương hơn) Còn các từanh - em (dân ca Bắc bộ), bậu - qua (dân ca Nam bộ) cũng chỉ là những từ trungtính và thường không có yếu tố đi kèm Điều này làm cho sắc thái biểu cảmtrong xưng hô không sinh động như ví, dặm và dân ca xứ Nghệ nói chung
Cách sử dụng từ xưng hô của ví, dặm Nghệ - Tĩnh như trên cho thấy ngườiNghệ có xu hướng kéo gần các mối quan hệ trong hát giao duyên, đối đáp Từđây cho thấy nét tính cách rất nổi bật của người Nghệ đó là trọng nghĩa tình
và rất hồn hậu Và cũng là lí do giải thích tại sao ví, dặm được sử dụng làmmột “kênh” để đôi lứa tìm hiểu và đến với nhau nên vợ nên chồng
Thứ hai là: Dùng từ địa phương với mức độ rất đậm đặc, sử dụng cả thổ
âm, thổ ngữ Điều này rất khác với dân ca các vùng miền, dù trong đời
thường, người các xứ sử dụng ngôn ngữ địa phương, nhưng khi chuyển tảivào văn học, nhất là trong âm nhạc thì thường tìm cách diễn đạt khác mềmmại, uyển chuyển hơn Ngược lại, ở xứ Nghệ, người Nghệ coi việc sử dụngngôn ngữ xứ Nghệ như là đặc sản của mình Không chỉ sử dụng những từ
“phổ thông” đối với người Nghệ (như: tui, mô, tê, răng, rứa, ngay cả từ
“thằng cu”) mà còn sử dụng những từ ngữ cục bộ địa phương Điều này thểhiện cả trên phương diện văn bản (chữ viết) lẫn trong trình diễn, ca xướng.Chẳng hạn, mấy câu dặm sau:
Mấy trăm dân cùng chộ
Trang 18Mấy ngàn dân cũng tường Kháp đâu đánh đó
Cứ phép thôn dân Côộc tre hãy dần Hay ngay cả câu rất phổ thông như: “Em thương ai thì em nói đứt đi”.
Việc sử dụng đậm đặc các từ địa phương, bao gồm cả thổ âm, thổ ngữ chothấy tính chất của ví, dặm là sản phẩm của người bình dân (trong đó khôngloại trừ có những người mù chữ) và là sản phẩm sản sinh trong quá trình laođộng nên giàu tính sinh động, tươi nguyên, truyền khẩu, không bị ràng buộc
về mặt diễn đạt Điều đó có nghĩa Ví, Dặm hoàn toàn có thể được sản sinh bất
kỳ đâu trên nền văn hóa Hồng Lam với chủ thể tại đó Bởi thế, chúng ta mới
có các thể Ví, Dặm tiêu biểu cho từng vùng, như Dặm Thạch Hà, Dặm ĐứcSơn, Ví Đô Lương, Ví Đức Thọ Từ đây, có thể giải thích tính dị bản củamột số lời dân ca khi mà rất có thể, cùng văn bản đó nhưng người dân đã chủthể hóa thành thổ ngữ của mình để hát Xin lưu ý rằng, tính dị bản vốn là đặcđiểm của các loại hình văn học dân gian song những trường hợp cố tình dùng
từ ngữ địa phương để trám vào ca từ thì không phải phổ biến Chẳng hạn
trong bài Thử lòng chung thủy đã trích dẫn trên: từ Trước mự nói mự thương đến bạc tình chi rứa mự, có rất nhiều từ ngữ mang sắc thái địa phương
được người dân và cả nghệ sĩ sau này hát như: (lợn) ục ịch - ụt ịt, (cau) chanh
tranh loong, trầu trù (thì rụng cuống), (tiền) đít đứt (chạc), truồng chuồng, mốc - moốc (trong buồng) Điều này là hoàn toàn có lí khi, một mặt,trong cộng đồng sử dụng ngôn ngữ Nghệ Tĩnh, có rất nhiều cộng đồng sửdụng ngôn ngữ rất riêng, chẳng hạn như Nghi Lộc, miền biển vùng NghiXuân, thậm chí trong một huyện, 2 xã ở giáp ranh với nhau là Thạch Hương,Thạch Điền (Thạch Hà) nhưng một số từ cũng dùng khác nhau, tương ứng làtrầu - trù, trâu - tru, trốc - troốc, anh - enh, trứng - trớng, canh - cenh… Ngoài
Trang 19-ra, còn một lí do nữa đó là tính cách người Nghệ, ham thích thể hiện sự cứngcỏi, thậm chí “tự hào về sự bất chấp này” Chẳng thế mà ngay cả trong tình
cảm cũng đòi hỏi rạch ròi, phân bua: Em thương ai thì em nói đứt đi/ Kẻo tiếc công anh lặn lội/ Mấy năm ni trời tròn” (Đi tìm người thương) Từ “đứt” và
từ “ni” cùng với cách diễn đạt đã mang đến ý nghĩa trên
Thứ ba: Sự ngắt nhịp dị thường trong một số đoạn hát Cụ thể, đây là
những đoạn hát mà giữa ý tứ ngôn ngữ và thao tác ngắt nhịp không tương ứngvới nhau Có nghĩa, cách ngắt nhịp đã không bám theo ý nghĩa của từ, thậmchí, chia tách từ, cụm từ, câu thành các liên kết phi logic Khi diễn tả sự bàng
hoàng vì đứt gãy mối tơ duyên, người con trai hát: Trước mự nói/ mự thương Cau tui dành/ để/rồi mì trên buồng Trù tui dành/ để/rồi mì/ ngoài nương Lợn thì/ ục ịch/ trong chuồng Tiền thì/buộc chạc/ trong rương Chọng thì/ đục sẵn/ trong buồng… (ở đây các dấu chấm chỉ là phân biệt trên văn bản,
trong khi hát, dấu chấm (thể hiện ở sự ngắt) bị xóa nhòa Các trường hợp saucũng tương tự) Việc cố tình ngắt nhịp không tuân theo logic nghĩa của từ,cụm từ, câu ở đây nhằm diễn tả tâm trạng rất bàng hoàng, ngỡ ngàng của chủthể Ở một đoạn khác, khi diễn tả tâm trạng xốn xang, chờ đợi và mong mỏi,
ngôn ngữ của người con trai đã trở nên rối loạn: Chứ nước sông Lam rồi mì vời vợi Cây Hồng/ Lĩnh/ rồi mì điệp/ trùng Lòng như/ núi/ rồi mì như non.
Dạ như/ bể/ rồi mì như nguồn Dù sông/ cạn/ rồi mì đá mòn Chua ngọt/ cũng/ rồi mì đã từng Lòng đã/ hẹn/ rồi mì với lòng Ta nhất/ tâm/ rồi mì đợi bạn Trong hát Ghẹo, người con trai tên Bần khi “đuối lí” trước cô gái, nhằm níu chân cô ở lại, ở một tình thế “cấp bách”, Bần vội vàng: Chứ vì em đẹp/ rồi
mì em xinh anh dồn/ hết/ rồi mì thần kinh nên thần/ hồn/ rồi mì thần tính giờ mong/ em/ rồi mì bình tĩnh anh bàn/ giải/ rồi mì phân minh Như vậy, có thể
thấy, ở một số trường hợp, việc ngắt nhịp đã phá vỡ chuẩn tắc tạo nên sựchệch chuẩn rất nghệ thuật Thông thường đó là những trường hợp mà chủ thể
Trang 20trữ tình xáo trộn về tâm lí và lí trí không còn tường minh, đó có khi là nỗi thấtvọng, có khi là nỗi nhớ mong, cũng có khi là sự níu kéo tình thế, một kiểuứng xử.
Đối chiếu với các làn điệu dân ca khác, chúng tôi không thấy có trườnghợp đặc biệt này dù rằng, cách ngắt nhịp trong dân ca nói chung là rất đa dạng
và phức tạp Phải chăng đây là một đặc điểm vừa riêng vừa rất thú vị của Ví,Giặm Nghệ Tĩnh Nó không chỉ cho thấy sự tinh tế của người hát trong việc
sử dụng nhịp, điệu trở thành một tín hiệu tạo nghĩa, bên cạnh nghĩa hiển ngôncủa ngôn ngữ mà còn cho thấy tính phong phú, tự do của sáng tác, vốn dĩ xuấtphát là từ người dân lao động
Thứ tư: Bên cạnh các đặc điểm thể hiện trong lời hát, bên ngoài lời hát, Ví,
Dặm Nghệ - Tĩnh còn cho thấy cách sử dụng từ ngữ riêng biệt, khác so vớicác loại hình dân ca các miền khác Ở Nghệ - Tĩnh, những người hát Ví, Dặmnổi tiếng thường được gọi rất nhiều tên dân dã: O (o Nhẫn (Kỳ Anh), o Bình,
o Năm, o Tám, do Đĩ Em (Thạch Hà), dì (dì Sương ở Thạch Hà), dái (dáiThông, dái Kình, dái Bốn), ông (ông Nhường), cố Ngờn…) Trong số các từtrên thì từ o vẫn phổ biến nhất Ở quan họ, người hát được gọi là liền anh, liềnchị Ở chèo, người diễn giỏi thường được gọi theo vai diễn: Đào, kép
Thứ năm: Ngoài các đặc điểm về ngôn ngữ, nét riêng của ví, dặm còn được
thể hiện ở hình thức khuyên răn, thậm chí còn xuất hiện hình thức loại thể:
Dặm khuyên Các bài Ví, Dặm nổi tiếng nói về khuyên răn có thể kể: Phụ tử tình thâm, Thập âm phụ mẫu và rất nhiều bài dặm khuyên về các ứng xử ở đời.
Đây cũng là đặc điểm mà dân ca các vùng miền thường không thấy xuất hiện.Như vậy, qua khảo sát trên, có thể thấy, Ví, Dặm Nghệ - Tĩnh có ít nhấtbốn đặc điểm về ngôn ngữ khác với dân ca các vùng miền khác, ngoài ra còn
có thêm một đặc điểm về nội dung - tính chất khuyên răn Từ đây, theo tôi,trong chặng đường bảo tồn, phát huy Ví, Dặm Nghệ - Tĩnh, nhất là phục hồi
Trang 21các bài hát đã có, cần có sự nghiêm nhặt trong sử dụng ngôn ngữ địa phương,hạn chế việc thay thế từ địa phương bằng từ phổ thông Chẳng hạn, khi đối
đáp xong, có dị bản viết về lời người con trai: Chứ trai nam nhi đối được/ Gái bốn mùa chừ tính sao? Từ “được” và “sao” thường không được người Nghệ
dùng, phải chăng đó là từ “đặng” và “răng”? Nếu thay 2 từ đó vào câu trên,sắc thái Nghệ trở nên đậm đà hơn nhiều Một số từ thường được thay thế,hoặc được tạo mới trong một số bài Ví, Dặm sau này như: Người (ngài), bầu(bù), nào (mô)… thiết nghĩ cần có sự điều chỉnh cho thống nhất Bởi vì, suy chocùng, và như đã phân tích về tích cách, thói quen sử dụng ngôn ngữ trong Ví,Dặm của người Nghệ, ngôn ngữ thể hiện đặc trưng văn hóa của cộng đồng
* Sử dụng điệu thức năm âm của dân ca người Việt
“Điệu thức năm âm là dạng điệu thức xuất hiện rất phổ biến trong âmnhạc cổ truyền Việt Nam Mỗi miền, mỗi dân tộc lại có những dạng điệu thức 5
âm khác nhau và có những đặc thù riêng của họ” [12, tr 64] Điệu thức năm âm
là một nguồn chất liệu để các nhạc sĩ vận dụng vào trong sáng tác của mình Trong ca khúc sử dụng chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh chủ yếu thường gặp
là đan xen điệu thức 5 âm Có thể kể một số bài như Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác (An Thuyên); Vầng trăng Ba Đình (Thuận Yến - Phạm Ngọc Cảnh); Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm (Trần Hoàn - Quý Doãn); Miền Trung nhớ Bác (Thuận Yến)… Ví dụ: Ở bài Miền Trung nhớ Bác của Thuận Yến, đoạn a được viết ở thang 5 âm a - c - d - e - g (nhịp 1→10) Đến đoạn b,
ca khúc được chuyển sang thang 5 âm a - c - d - e - f (Từ nhịp 11 đến hết)
Một ví dụ tiêu biểu khác là ca khúc Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác (An Thuyên) với đoạn a sử dụng ở thang 5 âm d - f - g - a - c (nhịp 1→29).
Đoạn b của ca khúc (nhịp 30 đến hết) sử dụng đan xen 2 thang âm d f
-g - a - c và d - f - a - c
Trang 22Khác với các ca khúc trên thì Hương cau vườn Bác của Vi Phong là sự
đan xen của điệu thức 5 âm (a - c - d - e - g) với 7 âm phương Tây Sự xuất
hiện đan xen - kết hợp điệu thức được chúng tôi tìm thấy ở đoạn a (xuất hiện
từ nhịp 21→31)
Sự tiến triển tiếp theo của Hương cau vườn Bác là kết hợp điệu thức 7
âm phương Tây (a - moll)
Ngoài ra, còn có một số bài chỉ sử dụng điệu thức 5 âm của người Việt
như Tiếng hò trên đất Nghệ An của Tân Huyền; Từ làng Sen của Phạm Tuyên… Trong Tiếng hò trên đất Nghệ An chủ yếu sử dụng thang 5 âm c - d -
f - g - a Từ làng Sen (Phạm Tuyên) được viết ở thang năm âm: Sol - Si - Đô
khi riêng về thang 4 âm đã có tới 5 dạng khác nhau Ít thấy dân ca ở vùng
khác có tới 5 dạng thang 4 âm; đặc biệt, dạng g - a - c - d khá phổ biến trong
Hò Nghệ - Tĩnh lại hết sức hiếm gặp trong dân ca người Việt những vùng khác Dạng 4 âm đặc biệt, dạng g - a - c - d đã được chúng tôi tìm thấy trong
các ca khúc mang chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh
Các ca khúc được chúng tôi chọn lựa nghiên cứu dựa trên những thang
âm khác nhau Điểm độc đáo trong các ca khúc mang chất liệu dân ca Nghệ Tĩnh được chúng tôi chọn lựa nghiên cứu là sự đan xen thang âm luôn xuấthiện vào lúc gần cuối - giống với “câu đổ” trong dân ca tạo nên tính chất bấtngờ báo hiệu hết bài
-Được tiến hành trên cơ sở của điệu thức 5 âm với bước đi bình ổn khikết hợp các quãng nhỏ trong âm vực một quãng 8 đã tạo nên sự giản dị, chân
Trang 23thực, gần với nguyên bản gốc của dân ca Nghệ - Tĩnh, các ca khúc mang chấtliệu dân ca Nghệ - Tĩnh hầu hết được triển khai trên thang 5 âm đơn giản.
Các ca khúc mang chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh sử dụng đầy đủ thang 5
âm và có kết hợp sự giao thoa điệu thức Ngoài những giai điệu được xâydựng trên thuần những thang âm không bán âm cũng còn có sự xuất hiện giai
điệu cùng thang âm có bán âm cách quãng ở những cụm âm luyến: Vầng trăng Ba Đình (Fa ) (ô nhịp 11) và Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác (Fa ) (ô nhịp 35).
Hiện tượng xuất hiện những bán âm ở cả chiều lên và xuống này là kếthừa từ những giai điệu dân ca Nghệ - Tĩnh không có bán âm lên xuống xoayquanh một âm trục, và từ đó phát triển tự nhiên thành giai điệu có bán âm.Giai điệu dân ca đậm chất Nghệ - Tĩnh này còn xuất hiện ở những chỗ kếtcâu, kết đoạn
Ví dụ 1:
Lời Bác dặn trước lúc đi xa (ô nhịp 23):
Ví dụ 2:
Lời Bác dặn trước lúc đi xa (Sol→Si ) (ô nhịp 43, 45, 47, 48 đến hết):
Ngoài việc vận dụng tinh tế điệu thức 5 âm dân tộc, các ca khúc trêncòn sử dụng thành công các thang 4 âm, 6 âm; kết hợp thang 5 âm với thang 6
Trang 241.2.1 Một số thể loại trong dân ca Nghệ - Tĩnh
Dân ca Nghệ - Tĩnh là là sự hợp thành những làn điệu do nhân dân sángtạo nhằm phục vụ văn hóa tinh thần của người dân lao động Sự giai điệu hóacác tứ thơ tức khẩu phù hợp với bản sắc của cư dân sở tại đã tạo nên nhữngảnh hưởng về chất liệu đối với làn điệu dân ca Nghệ - Tĩnh Vốn là nghệ thuậtdân gian lâu đời, hò, ví, dặm hoàn toàn thuộc phạm trù nhạc hát; không yêucầu có nhạc khí phụ họa mà chỉ vận dụng chủ yếu trên thể thơ cổ
Dân ca Nghệ - Tĩnh nổi bật nhất có hò là một trong những lối hát độcđáo, tiêu biểu đã nảy sinh và gắn chặt với cuộc sống vùng này Đó cũng là lốihát dân gian riêng biệt được phổ biến ở Nghệ - Tĩnh từ xa xưa tới nay Hò làthể loại dân ca mang tính chất xướng - xô; có mặt trong dân ca người Việt ởhầu khắp Bắc - Trung - Nam Cũng như nhiều điệu hò của người Việt ởnhững vùng khác, Hò Nghệ - Tĩnh nói chung khỏe mạnh, nhịp nhàng Loại
hò không có xướng - xô chính là nấc trung gian giữa hò và ví Nghệ - Tĩnh.Câu mở đầu của những bài này có sự liên hệ gần tới câu mở đầu của ví; tuynhiên, phần giữa lại ít ngân nga hơn ví
Hò là thể loại dân ca mang tính chất xướng - xô, có mặt trong dân cangười Việt ở hầu khắp Bắc - Trung - Nam Cũng như nhiều điệu hò của ngườiViệt ở những vùng khác, hò Nghệ - Tĩnh vẫn giữ nguyên được tính chất khỏemạnh, nhịp nhàng Chất khỏe mạnh của hò được tạo bởi những nét mộc mạc,giản dị; trong đó, nổi bật nhất là âm điệu quãng 4 chủ yếu theo hướng đi lên.Quãng 4 ở hò ít thêu lướt; nếu có thì thường gắn với âm hình tiết tấu mócgiật; có khi được dùng dưới hình thức âm tựa và âm đà; hoặc cũng có trườnghợp dùng nhiều quãng 4 cạnh nhau
Khác hẳn với hò, các làn điệu ví Nghệ - Tĩnh đều mang tính chất trữtình - là hình thức sinh hoạt ca nhạc phổ biến ở những nơi có phường laođộng Theo chúng tôi thì: “Nghệ - Tĩnh chỉ có một điệu ví với lời ca khác
Trang 25nhau” Qua phõn tớch và nghiờn cứu ÂN dõn ca Nghệ - Tĩnh, chỳng tụi nhậnthấy trờn thực tế làn điệu vớ Nghệ - Tĩnh tuy chung nhau về õm hưởng, nhưngvẫn cú những cấu trỳc giai điệu khỏc biệt.
Cú khỏi niệm về Hỏt vớ và Hỏt dặm Nghệ - Tĩnh như sau:
"Nghệ - Tĩnh là một trong những vựng mà hỏt vớ là một thể loại đặcsắc Vớ của Nghệ - Tĩnh thường dành riờng cho nam nữ hỏt đối đỏp, giaoduyờn, giai điệu của vớ ngọt ngào, đằm thắm Khi hỏt được chia thành hainhúm nam và nữ để bày tỏ tõm sự và cũng là để thi thố tài năng Cỏch hỏt vớchia thành hai phần hay cũn gọi là hai lối: Phần hỏi và phần đỏp" [28, tr 54]
…"Hỏt dặm phổ biến trong dõn ca Nghệ - Tĩnh Mỗi bài dặm gồmnhiều đoạn, mỗi đoạn được gọi là một khổ Mỗi khổ dặm cổ cú 5 cõu thơ, mỗicõu 5 chữ, cõu thứ 5 nhắc lại cõu 4 nhưng cú biến húa Dặm: cú nghĩa là thờmvào bởi khổ thơ cú cõu thứ 5 nhắc lại" Hỏt dặm là kho sử liệu trong vănnghệ cổ truyền, sử dụng để tuyờn truyền cỏch mạng suốt quỏ trỡnh phỏt triểncủa lịch sử đất nước [17, tr 11]
Hũ, vớ, dặm Nghệ - Tĩnh cú nột riờng mang bản sắc bản địa so vớinhững thể loại tương ứng của dõn ca ở vựng khỏc như khụng sử dụng phườnghội, khụng sử dụng thờm nhạc khớ đệm theo người hỏt… Dõn ca Nghệ - Tĩnhcũn cú hỏt nhà trũ như Trũ Kiều (Lối lẩy Kiều cú tớch truyện và là một hỡnhthức nghệ thuật tổng hợp bao gồm cả õm nhạc và sõn khấu) Đặc biệt, ở Nghệ
- Tĩnh thỡ vố là hỡnh thức văn nghệ dõn gian phổ biến đề cập tới được mọi vấn
đề của cuộc sống
Dõn ca Nghệ - Tĩnh luụn ẩn chứa tỡnh người cao đẹp bởi nơi đõy, khớhậu khắc nghiệt đó tụi luyện những người dõn Nghệ - Tĩnh tinh thần chịuthương chịu khú, tỡnh yờu cuộc sống, nghị lực kiờn cường Sinh hoạt phongtục của nhân dân và nhiều giai thoại đợc phản ánh trong dõn ca Nghệ - Tĩnh;
Trang 26hơn nữa, các nghệ nhõn đã kết hợp nhuần nhuyễn âm nhạc dân tộc, thể hiện rừtrong thang õm dõn ca Nghệ - Tĩnh.
Dõn ca Nghệ - Tĩnh chứa đựng những ẩn ý ý nhị, kớn đỏo, ví dụ nh hũ
Hà Tĩnh, dặm (lối mới) - Toàn dõn đỏnh Mỹ… thể hiện khớ thế cách mạng sụcsôi Một số giai thoại thời kỳ này kể về những cuộc đời bất hạnh nên trongdõn ca Nghệ - Tĩnh đụi khi xuất hiện những sắc thái u ám Trong quỏ trỡnhphỏt triển, hỏt vớ, dặm Nghệ - Tĩnh cũn đề cập tới những vấn đề xó hội nhưphờ phỏn hủ tục, kờu gọi nụng dõn đoàn kết chống cường quyền
Riờng hũ Nghệ - Tĩnh rất ớt bài bản về đề tài chiến tranh mà chỉ cú vềlàng nghề, về sinh hoạt của nhõn dõn, phản ỏnh tõm tư tỡnh cảm… Chớnh sựcần thiết phải bảo đảm tớnh chất uyển chuyển của dõn ca Nghệ - Tĩnh nờnnhững nghệ nhõn hỏt hay phải biết dựng giọng luyến và giọng rớt
Đặc điểm từ hũ đã không mang ảnh hưởng tới vớ và dặm ở hũ là acân đối, rõ ràng, thờng hớng tới tình cảm trong sáng (hũ cập bến, hũ đi rỳ -
hũ phường củi ) nhng, ở vớ và dặm lại hớng tới sự lẻ loi, ví dụ: vớ đũ đưa
chuyển sang vớ phường vải, vớ phường vải, vớ ghẹo hay nh trong Trụng chồng miêu tả một số phận buồn bã, Ai thả lạc nói lên sự đấu tranh của con
ngời
Dõn ca Nghệ - Tĩnh đó thỳc đẩy những phong trào yờu nước từ cuộckhởi nghĩa Phan Đỡnh Phựng, Phan Bội Chõu, phong trào Xụ Viết - NghệTĩnh… đến tổng khởi nghĩa Thỏng Tỏm năm1945, khỏng chiến chống Phỏp(cỏc bài vố dặm mang tớnh lịch sử như: chuyện cụ Phan, chuyện ụng ĐộiCung ; mang tớnh cỏch mạng như: Bài ca dõn cụng tiếp vận, Thần Sấm ngó,Toàn dõn đỏnh Mỹ…) Một trong số những thể loại đú lại nhập vào dũng õmnhạc cỏch mạng, từ những bước ban đầu (cỏc điệu hũ “quốc sự”) và sau đú lànhững làn điệu vớ, dặm trong phong trào Xụ Viết Nghệ - Tĩnh 1930 - 1931
Trang 271.2.2 CÊu tróc
Cấu trúc sử dụng trong các bài dân ca Nghệ - Tĩnh tiếp thu nhiều từchất liệu cổ trong dân ca người Việt nói chung, nhưng ở riêng mỗi thể loại thìcác bài dân ca lại mang những yếu tố đặc trưng khác biệt
+ Cấu trúc của hò Nghệ - Tĩnh: Chủ yếu gồm câu mở đầu và vế xướng
- vế xô Phần xướng do một người hát và phải có tài ứng tác nhanh vì cuộc hò
có sự đua tài giữa hai bên nam, nữ Phần xô là của tập thể Hai phần xướng
-xô được thực hiện nhịp nhàng, ăn ý [28, tr 63]
Một câu Hò phải bao gồm hai phần:
- Phần một thuộc về người “bẻ câu hò” cất giọng: “ơ hò ” nhằm giớihạn cao độ của câu hò và làm cho tập thể lắng nghe
- Phần hai thuộc về tập thể: tất cả cùng vào phần xô: “dô hò là hò dô hò ”+ Cấu trúc của ví
Mỗi bài dân ca Nghệ - Tĩnh, với hình thức phong phú của nó thường cócấu trúc rõ ràng, rành mạch Dân ca Nghệ - Tĩnh mang nhiều đặc tính của ca
khúc hơn là làn điệu, đặc biệt là những bài ví sang giọng (như ví đò đưa chuyển sang ví phường vải - chuyển giọng đò đưa sang phường vải)
Kết cấu âm nhạc trong hát ví Nghệ Tĩnh tức là sự kết cấu giữa thơ
-ca, giữa vần và điệu, giữa nhịp của thơ - tiết tấu của nhạc Nói cách khác làhình thức của thơ và nội dung của nhạc là một Nói chung, ở hát ví, về âmhình tiết tấu căn bản là một nên hình thức âm nhạc cũng là một Ta có thể coicâu hát ví cổ truyền như một bài hát dân gian được xây dựng trên kết cấu chặtchẽ của một câu thơ lục bát mà nhịp của thơ là tiết của nhạc, vần của thơ làđiệu của nhạc và nội dung của thơ gắn chặt với hình thức của nhạc; dựa trênnhịp của thơ (tiết của nhạc) mà tách ra từng phần câu trên mỗi vế của câu háttrên cơ sở kết cấu của thơ, tức cũng là của nhạc
Trang 28Về khúc thức, ta có thể coi câu hát ví (kể cả hai hình thức) là bài hátdân gian một đoạn gồm hai phân câu; mỗi phân câu là một vế của lời thơ và ởtừng phân câu, ta dựa vào nhịp của thơ mà phân thành tiết của nhạc.
+ Cấu trúc của dặm
Ngoài hình thức đối đáp nam - nữ như đã kể trên, với đặc điểm đặc biệt
về cấu trúc - hình thức còn xuất hiện hát dặm Nghệ - Tĩnh Một cuộc hát dặmthường diễn ra qua các giai đoạn: hát chào - hát mời - hát đố - hát đối - hát xekết và hát tiễn đưa; người ta còn dùng hát dặm để đặt vè "Vè hát dặm thườngdùng thể thơ 5 từ có vần điệu, có tính chu kỳ nên phù hợp với lối kể chuyệnmang nội dung về thời sự địa phương, một giai thoại hay phê phán xã hội
Bài dặm gốc thường là một đoạn nhạc bao gồm nhiều tiết nhạc Độ dàimỗi tiết nhạc phụ thuộc chặt chẽ vào lời thơ, mỗi câu thơ ứng với một khổ âmhình tiết tấu cơ bản của toàn bài Tất cả đã tạo nên kết cấu tuần hoàn với sựphân chia rất rành mạch trong bài dặm: 2 nhịp + 2 nhịp + (…) + câu kết "Mộtbài hát dặm có thể gồm nhiều phần, mỗi phần được gọi là một khổ" Một khổHát dặm cổ gồm 5 câu thơ năm chữ và câu thứ năm luôn nhắc lại câu thứ tưnhưng với sự biến hóa của âm nhạc đã khiến lời thơ thay đổi từ âm không dấuthành âm thứ bađể cho phù hợp với giai điệu Câu hát thứ năm nhắc lại nàyđược gọi là câu dặm; vì vậy mà nhân dân gọi thể loại này là hát dặm
Trong quá trình phát triển của xã hội, do yêu cầu biểu hiện của nhữngnội dung đề tài mới nên hát dặm đã xuất hiện nhiều biến dạng Sự thay đổitrước hết xảy ra ở độ dài của khúc thức: Vẫn dùng thơ 5 từ nhưng khôngchỉ có 5 câu mà có thể là nhiều hơn nữa tùy theo nội dung Như vậy, vềkhúc thức, mỗi khổ hát dặm không bị giới hạn trong năm câu thơ nữa; tuynhiên, cuối mỗi khổ luôn xuất hiện một câu dặm theo đúng quy cáchkhuôn mẫu cổ truyền
Trang 29Một kiểu thay đổi khác là vừa kéo dài lời thơ, vừa chuyển dịch tiết tấutạo ra biến phách ở đầu các tiết nhạc làm cho khoảng cách giữa các tiết nhạcđược dồn lại, tạo hiệu quả liên tục từ đầu đến cuối bài Hình thức này làm nênmột loại dặm mới, ở Nghệ - Tĩnh gọi là dặm nối Tiết tấu và sự bố trí ca từ ởdặm nối đã tạo nên những hiệu quả cao khi dùng thêm các từ phụ chen vào.
Dặm nối đã đạt được hiệu quả khi nó biểu hiện tính thôi thúc trong các
nội dung hào hùng, động viên hoặc châm biếm trào lộng (ví dụ: Bài dặm nối
do Lê Hàm sưu tầm và ghi âm); có bài vẫn sử dụng tiết tấu của dặm gốcnhưng nửa đầu là thơ 7 từ, nửa sau là thơ 5 từ
Những biến dạng cao hơn nữa của hát dặm là những bài vè kể, vè châm biếm… đã dùng đến cả nhịp hỗn hợp làm nên sự xáo trộn giữa các phách
mạnh - nhẹ, có trường hợp còn tạo ra những đảo phách
Một trong những hình thức tổng hợp ổn định, phổ biến nhất của dân caNghệ - Tĩnh là hình thức thể một đoạn với tính ngắn gọn, chặt chẽ Tính đặcbiệt còn được tìm thấy trong các kết câu, đoạn dựa trên sự hình thành của điệuthức và các bậc ổn định của điệu thức Điều này tạo nên sự phân chia không
rõ ràng từng phần ở những bài dân ca Nghệ - Tĩnh Nếu dựa trên cách pháttriển của giai điệu - đặc biệt là tiết tấu - chúng ta sẽ thấy những yếu tố quantrọng bậc nhất tạo nên sự phân chia câu, đoạn trong bài dân ca Nghệ - Tĩnh.Tiết tấu cùng với giai điệu khắc họa từng bộ phận, từng câu, đoạn… trong sựphát triển dần dần của hình tượng Trong dân ca Nghệ - Tĩnh còn có thể tìmthấy tính hoàn thiện trong lối cấu trúc tiết tấu tạo nên những kết câu, đoạnbằng tiết tấu
1.2.3 Thang ©m - ®iÖu thøc
Thang âm, điệu thức năm cung không có bán cung của dân ca Nghệ Tĩnh còn là thang âm, điệu thức phổ biến của dân ca trung du và đồng bằngBắc bộ; phổ cập rộng rãi ở nhiều dân tộc trên thế giới như ở các nước Trung
Trang 30-Quốc, Mông Cổ, Nhật Bản…; một số nước thuộc bán đảo Scandinavian, một
số vùng thuộc Uran và Sibiri (Liên Xô)
Qua khảo sát các bài bản ghi âm được, chúng tôi thấy: Ngoài việc sửdụng thang 5 âm Bắc bộ - phổ biến trong dân ca Việt Nam - thì dân ca Nghệ -Tĩnh còn tiến hành sử dụng thang ba âm (sử dụng chủ yếu trong làn điệu hò,
ví, dặm của dân ca Nghệ - Tĩnh với ba âm: Mi - La - Đô) Các làn điệu dân ca
hò, ví, dặm vốn chỉ xoay quanh ba nốt: Mi - La - Đô
Điệu thức không chỉ sắp xếp theo kiểu 5 âm: Cung thương giốc chủy - vũ mà ở ví Nghệ - Tĩnh có sử dụng nhiều hơn cả là các thang 4 âm,một số bài ví chỉ sử dụng 3 âm Cấu trúc điệu thức ví Nghệ - Tĩnh có nhữngnét riêng biệt so với nhiều loại dân ca khác Sự đan xen, phát triển cùngnguồn của điệu thức đã mang tới sự phong phú trong dân ca Nghệ - Tĩnh bởi
-sử dụng đầy đủ thang 5 âm và có kết hợp sự giao thoa điệu thức Ví chăn trâu
và ví sông Phố chỉ có 3 âm Mi - La - Đô và hát trong âm vực một quãng sáu
Mi - Đô Hầu hết các điệu ví khác đều có 4 âm Mi - La - Đô - Rê Âm Rêđược thêm vào đã tăng tính uyển chuyển cho giai điệu và tầm cữ mới đượckhung trong một quãng Mi - Rê
Về âm nhạc, căn cứ vào thực tế phân tích các bài bản đã được thuthập và những ý kiến của Đào Việt Hưng, Ninh Viết Giao, Nguyễn Đổng
Chi, Tú Ngọc… có thể khái quát đặc điểm tiêu biểu của thang ©m trong
hát dặm như sau:
Trước hết, tầm cữ của hát dặm gốc chỉ trong một quãng 5 đúng Giaiđiệu của hát dặm đơn giản, chỉ gồm 4 âm, trong đó khai thác chủ yếu là 3 âm.Bên cạnh những âm và trường độ chính, giai điệu của hát dặm thường hay sửdụng những nốt hoa mỹ để luyến láy cho phù hợp với thổ âm của người Nghệ
- Tĩnh; đặc biệt, hay dùng luyến láy từ dưới đi lên Đường nét giai điệu củahát dặm được tiến hành theo thang 4 âm không bán âm sau: Mi - Sol - La - Si
Trang 31Điều đáng lưu ý chính là sự kết hợp giữa điệu thức này với đặc điểm củatiếng nói Nghệ - Tĩnh và thể thơ “vần năm” đã tạo một màu sắc độc đáocho hát dặm.
Thang âm hát dặm còn được mở rộng với những tiến hành thêm nốt Ởvùng Nghệ An cũ, hát dặm thường dùng điệu thức khác với vị trí của âm Mi
được thay đổi bằng âm Rê tạo nên thay đổi ở âm kết câu, kết đoạn (Bài hát đi đường - Dân ca Nghệ - Tĩnh)
Bởi cấu trúc điệu thức phức tạp như vậy, nên điểm tương đồng của dân
ca Nghệ - Tĩnh và dân ca người Việt là lối cấu trúc kết lửng khi không kết về
âm chủ hoặc không rõ âm chủ trong cấu trúc gây cảm giác không trọn vẹnnhư ca khúc mới Như trên đã thấy, hò, ví, dặm Nghệ - Tĩnh có những nétmộc mạc, đơn sơ từ thang âm (chủ yếu sử dụng các dạng thang 3→4 âm) đếnlối kết cấu ca từ (chủ yếu xuôi theo lời thơ) Âm hạn của giai điệu hẹp(thường chỉ trong phạm vi một quãng 8) và hiếm gặp những bài có tầm cữquãng 9 hoặc 10; trong khi dân ca nhiều vùng khác không hiếm bài có tầm cữquãng 10, kể cả quãng 11… Điều này đã là một biểu hiện của một vùngvăn hóa còn lưu giữ những yếu tố cổ Trong thực tế, đôi khi trong dân ca
ví, dặm Nghệ - Tĩnh vẫn xuất hiện những quãng non hoặc già, không hẳn
là quãng đúng
Tuy mộc mạc nhưng hò, ví, dặm Nghệ - Tĩnh cũng chứa đựng nhữngkhía cạnh phong phú, độc đáo riêng biệt Riêng về thang 4 âm, chúng tôi nhậnthấy hò, ví, dặm Nghệ - Tĩnh đã có tới 5 dạng khác nhau: a - c - d - e, e - a - h
- cis, g - a - c - d, d - g - a - c và e - a - c - d Nếu đối chiếu với dân ca ngườiViệt ở nhiều vùng khác thì thường mỗi địa phương chỉ thấy dùng tới 4 dạngbốn âm là nhiều Nhiều bài ví, dặm dẫu chỉ xây dựng trên các thang 3→4 âm;song, nhờ sự chuyển đổi âm khu, đan xen giữa các thang âm khác nhau nêntạo được sự biến hóa tiết tấu khéo léo và khiến màu sắc âm nhạc thay đổi với
Trang 32sự sinh động, hấp dẫn hơn Ngoài ra, trong dân ca Nghệ - Tĩnh cũng xuất hiệnnhững biến âm đặc sắc ảnh hưởng từ tiếng nói miền Trung và từ các nhân tốnhạc Chăm với loại thang 5 âm toàn cung không có bán cung chia đều.
Kế thừa những đúc rút từ dân gian trải quan hàng nghìn năm, dân caNghệ - Tĩnh cũng sử dụng láy, từ và câu xen kẽ với vai trò bổ sung cho giaiđiệu mà không làm sai nghĩa bài thơ, đồng thời quy định nhịp cho bài hát Ýnghĩa tôn trọng lời thơ cổ đã phản ánh rõ những kinh nghiệm quý báu của nềnvăn minh lúa nước từ xa xưa Có thể gọi đây là những xuyên tâm, lưu khôngbằng văn từ và thanh nhạc với hai cấu trúc thơ - nhạc đan xen
+ Giai điệu của hò.
Giai điệu của hò gắn bó chặt chẽ với lời ca chủ yếu dựa trên thể thơbốn chữ, năm chữ, lục bát biến thể hoặc song thất lục bát biến thể, vần và điệukết hợp nhịp nhàng, đôi khi tiết tấu được mở rộng, câu hò kéo dài hơn; do đó,
mà giai điệu càng uyển chuyển, sinh động hơn
+ Giai điệu của ví.
Trang 33Khác hẳn với hò, các làn điệu ví Nghệ - Tĩnh mang tính chất trữ tìnhvới giai điệu ngâm ngợi, dàn trải Chất trữ tình ấy được tạo bởi nhịp điệuchậm rãi, tự do - rất gần với tiết luật tự do trong âm nhạc hiện đại
Để tạo nên tính chất trữ tình là sự đóng góp quan trọng của kết cấumềm mại, mượt mà của giai điệu với lối tiến hành bình ổn có nhiều nốt thêu,lướt, luyến láy, thỉnh thoảng mới xuất hiện một vài quãng nhảy Âm điệuquãng 4 dù vẫn quán xuyến các làn điệu ví; song, sự xuất hiện của nhữngquãng 2 trưởng, 3 thứ đan xen giữa khung quãng 4 thường xuyên hơn ở hò kếthợp cùng tiết tấu chậm rãi, đều đặn đã biến âm điệu quãng 4 trong hát ví mềmdịu hơn so với những âm điệu quãng 4 ở hò
+ Giai điệu của dặm.
Nói chung, về giai điệu ví và dặm chủ yếu đều phổ thơ lục bát hoặcsong thất lục bát và chỉ một bộ phận nhỏ như ví, vặm là dùng thể thơ bốn đếnnăm chữ Ở những loại này, do lời thơ có trước, dựa vào tiếng nói có thanhđiệu của dân tộc nên nghệ nhân dân gian đã hình thành nên giai điệu cổtruyền - mà gần nhất với thơ ca là các điệu ngâm, bình, kể, nói, xướng, vịnh thơ Từ cơ sở những làn điệu không nhịp chỉ phát huy sẵn tính giai điệu tronglời thơ như vậy, các nghệ nhân đã lồng nhịp thêm vào và phát triển phong phúcác làn điệu dân ca Sự phong phú hơn hẳn so với loại hình ngâm, vịnh trongdân gian theo chúng tôi, chủ yếu là nhờ ở hệ thống láy từ và câu xen kẽ quy định
và phát triển giai điệu, tiết tấu trong mỗi mô hình dân ca Đôi khi, cùng một lờithơ nhưng khi thay láy, từ và câu xen kẽ thì sẽ có những làn điệu khác nhau
Về giai điệu, tuy hát dặm không bị gò bó trong hình thức thơ năm chữnhưng thực chất vẫn là sự kế thừa cổ truyền như chịu sự chi phối trong quy
luật của câu dặm Những bài hát này gọi là dặm vè (còn gọi là vè hay vè kể) là
một bộ phận quan trọng của hát dặm Nghệ - Tĩnh
Trang 34Do nội dung yêu cầu, dặm vè thường gồm nhiều câu và có tính chấtthôi thúc hơn các bài dặm đối đáp nam nữ Từ dưới thời Pháp thuộc, qua cácphong trào văn thân, khởi nghĩa Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, phongtrào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, tổng khởi nghĩa tháng 8 - 1945, kháng chiến chốngPháp… đã xuất hiện rất nhiều bài dặm vè mang tính lịch sử và nội dung cáchmạng Những năm chống Mỹ cứu nước gần đây, nhiều bài dặm vè mới ra đời
ca ngợi gương anh hùng chiến sĩ, phản ánh sự lạc quan và ý chí quyết thắng
giặc Mỹ xâm lược của nhân dân ta, ví dụ như bài Thần Sấm ngã, Hương Khê anh dũng tuyệt vời, Toàn dân đánh Mỹ…
Ngoài nhịp điệu nhanh, tiết tấu dặm vè cũng có sự thay đổi khi nhấnmạnh các chữ đầu câu và đáng chú ý hơn nữa, độ dài chữ - trường độ lời ca -
tự được rút ngắn lại tạo nên loại nhịp hỗn hợp với âm hình tiết tấu của 5 từchính trong một câu
Cũng như hát ví, hát dặm có một số biến dạng về giai điệu Ở dạng ítphát triển nhất như ví dụ 5 (phần phụ lục), chúng tôi nhận thấy giai điệu cótầm âm không rộng (một quãng 5 đúng), thang âm đơn giản (4 âm với trụcchính Mi - La - Si) Về tư chất giai điệu, chúng tôi thấy yếu tố “nói” là chủyếu, yếu tố “ngâm” chỉ có tính chất bổ sung (xuất hiện rõ nhất ở những chỗkết đoạn)
Tính chất “nói” trong giai điệu hát dặm còn thể hiện ở nhịp điệu vànhịp phách tương đối rành mạch Việc sử dụng nhịp hỗn hợp đã làm nên sựxáo trộn giữa các phách mạnh - nhẹ; hơn nữa, khuôn khổ đều đặn của câu chữ
đã ảnh hưởng đến cấu trúc của bài hát: Trong mỗi câu nhạc ngắn phổ thơ,trọng âm được nhấn ở hai chỗ theo chu kỳ (ví dụ 5 - phần phụ lục, hai chữcuối của câu thơ: mừng rỡ, không lo, vo vo…; giữa các câu, nhịp điệu nhiềukhi được lặp lại cũng có tính chất chu kỳ) So với bố cục câu và tính chu kỳcủa nhịp điệu các câu trong bài dặm truyền thống thì ở đây vẫn giữ đủ 7 âm
Trang 35tiết, nhưng thành phần lời ca đã có biến đổi: Dặm truyền thống khổ thơ 5 chữ(5 âm tiết) cộng với 2 chữ đệm (2 âm tiết); còn trong bài dân ca mới giống vớidạng thơ 7 chữ đều khổ (7 âm tiết).
1.2.5 ThÓ th¬, lêi ca
Dân ca Nghệ - Tĩnh vẫn sử dụng những hư từ vô nghĩa khó đứng độclập về mặt văn học nhằm tăng tính thẩm mỹ âm nhạc với cá tính khác biệt.Một hiện tượng của dân ca Nghệ - Tĩnh tương đồng với dân ca cổ người Việt
đó là sự nhắc lại thường xuyên một số từ trong thơ và lấy âm cuối câu trướclàm âm đầu câu sau Đó là hình thức vận động liên tục mà không phụ thuộcvào cấu trúc ban đầu của thơ không thấy trong ca khúc bác học - chỉ thể hiện
rõ trong thơ ca dân gian, biểu hiện ở vần lưng của thể lục bát, song thất lụcbát nói chung và vần liền ở thể tứ, ngũ ngôn, gốc vần của tục ngữ sử dụng ởdân ca Nghệ - Tĩnh nói riêng
1.2.5.1 Thể thơ, lời ca trong ví Nghệ - Tĩnh
Với tính chất ngâm ngợi nên việc sử dụng từ phụ trong hát ví cũngkhông giống với hò và dặm Cùng được đưa vào với một trường độ như nhaunhưng từ phụ ở ví thường được luyến láy bằng nhiều cao độ có tiết tấu đadạng hơn
Trong cách phổ thơ, nếu như trong hò và dặm, ca từ được đưa vào xuôitheo lời thơ thì ở ví, ta đã bắt gặp một số ít trường hợp đảo và điệp cụm từ
Tiết tấu của ví Nghệ - Tĩnh phần lớn mang tính chất tự do; tuy nhiên,vẫn bị mối quan hệ của thơ chi phối cấu trúc âm nhạc, tạo nên sự đăng đốigiữa các câu nhạc cũng như trong tứ thơ Sự khác biệt còn được thể hiện ngaygiữa những điệu ví bởi tính thực tế từ ngoài cuộc sống đã được mang tới trongbài dân ca ví nói riêng và trong dân ca Nghệ - Tĩnh nói chung
1.2.5.2 Thể thơ, lời ca trong dặm Nghệ - Tĩnh
Dặm là một thể loại dân ca độc đáo của người Việt ở Nghệ - Tĩnh vớiđặc trưng nổi bật tạo bởi tiết tấu nhịp nhàng theo một hoặc hai loại chu kỳ tiết
Trang 36tấu cơ bản Các chu kỳ tiết tấu cơ bản này bắt nguồn trực tiếp từ cấu trúc củathể thơ 5 từ - thể thơ cốt lõi của hát dặm Trong hát dặm có khi còn sử dụng
cả thơ lục bát; song, không có một bài dặm nào mà không có phần thơ nămchữ làm cơ sở Đó chính là sự khác biệt giữa dặm và hò, ví Hát dặm thườngkhông có câu mở đầu như của hò và ví (trừ dặm cửa quyền được mở đầu bằngmột tiếng ơ) Hát dặm luôn có một câu kết là sự nhắc lại - ít nhất cũng nguyênvẹn 2 từ cuối - của câu thơ sát ngay trước nó
Việc sử dụng từ phụ trong hát dặm cũng mang những đặc điểm khác với
ví Nếu ở vị trí các từ phụ đưa vào phục vụ cho mục đích phát triển âm nhạcchủ yếu về mặt giai điệu (cao độ kết hợp với tiết tấu); thì ở dặm lại nặng hơnnhiều về yếu tố tiết tấu Chúng thường chỉ gắn với 1→2 cao độ có trường độngắn (hoặc ngắn vừa) và bằng nhau Các chu kỳ tiết tấu cơ bản của hát dặmthường là những mô hình tiết tấu gồm 5 điểm tựa, mỗi điểm tựa ứng với một
từ trong thể thơ 5 từ
Việc phát triển trên lòng bản của khuôn khổ cổ truyền bằng cách “thêmcâu”, “thêm chữ” kết hợp với phương thức biến hóa các mô hình tiết tấu cơbản khiến cho người nghe không cảm thấy nhàm chán vì sự lặp lại các chu kỳtiết tấu cơ bản - kể cả khi bài dặm kéo dài hàng chục câu liền Âm nhạc củahát dặm gần với thể loại hát nói, còn dựa nhiều vào ngữ điệu của tiếng nóitrong trong lời thơ - yếu tố “nói” chiếm ưu thế hơn yếu tố “nhạc” Trên cơ sởkết cấu thể thơ 5 từ, hát dặm tiến hành phổ thơ xuôi chiều: mỗi câu thơ phầnlàm 2 nhóm từ (3 từ + 2 từ)
Có khi giữa 2 nhóm từ ấy còn được xen vào những từ phụ, những tiếngđệm lót không làm ảnh hưởng đến nội dung (ví dụ: rứa mới; sao; thì…) Việcthêm vào các phách phụ thông qua những tiếng đệm đã tạo ra biến tấu trongquá trình phát triển giai điệu bài dân ca
Trang 37Thể văn của hát dặm gồm những đoạn (hay trổ) 4 câu, mỗi câu 5 từ bắtvần ở cuối câu Chính chữ “dặm” cũng là từ cổ chỉ hiện tượng láy lại (tứcdặm lại) vần câu cuối mỗi đoạn
Nhịp điệu hát dặm tùy thuộc tính chất từng bài và tính cách của người hát.Câu cuối bài (cuối đoạn) thường hát chậm lại, có tính chất tự do để kết thúc
Với sự phân nhóm từ như vậy, hát dặm đã sử dụng kiểu tiết tấu đặctrưng mà trọng âm luôn rơi vào từ thứ 3 và thứ 5
Trong quá trình phát triển, âm hình tiết tấu cơ bản trên có thể biếnthành nhiều dạng khác nhưng vẫn giữ nguyên khung ban đầu
Bao trùm lên toàn bộ hò, ví, dặm là màu sắc rất riêng biệt của “Nghệ Tĩnh” được thể hiện một phần quan trọng trong thanh điệu, lời ca Tiếng nóithông thường của người Việt ở Nghệ - Tĩnh vốn đã khác biệt với tiếng Việttiêu chuẩn; tác động đó cũng đã ảnh hưởng nhiều trong hò, ví, dặm Nghệ -Tĩnh do có sự đảo ngược về thanh điệu lời ca Đặc điểm này khiến cho hò, ví,dặm Nghệ - Tĩnh mang màu sắc địa phương rõ nét Ngoài ra, dân ca Nghệ -Tĩnh còn kế thừa khá nhiều từ vốn văn học dân gian và trong quá trình pháttriển một làn điệu được hát với nhiều câu ca dao khác nhau Các thể loại dân
-ca đã tự tạo ra mối liên hệ đan xen, logic với nhau để cùng phát triển mạnh
mẽ nhất là trong thời kỳ giao thoa văn hóa Đông - Tây
1.3 Các ca khúc mang âm hưởng - chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh
Các ca khúc sử dụng chất liệu dân ca Nghệ -Tĩnh chủ yếu được viết ởhình thức theo những mẫu hình của âm nhạc phương Tây là hai hoặc ba đoạnđơn, chỉ có một số ca khúc tiếp thu cấu trúc từ dân ca Nghệ - Tĩnh như cấutrúc khổ, có mở đầu…
1.3.1 Cấu trúc
Nhìn chung, ca khúc mang âm hưởng dân ca Nghệ Tĩnh được sáng táctheo phong cách âm nhạc châu Âu kết hợp sử dụng chất liệu dân ca Nghệ
Trang 38Tĩnh Phong cách châu Âu được thể hiện ở lối cấu trúc, điệu thức, lối tiếnhành giai điệu, thể hiện các sắc thái, cường độ (p, mp, mf, f, crescendo,decrescendo, diminuendo…)
Chất liệu dân ca Nghệ Tĩnh được thể hiện qua âm hưởng của làn điệudân ca, điệu thức, cấu trúc, các quãng đặc trưng trong cách phát âm tiếng nóingười Nghệ Tĩnh
Cấu trúc hai đoạn đơn.
Có thể nói rằng, phần lớn các ca khúc sử dụng chất liệu dân ca NghệTĩnh được viết ở hình thức hai đoạn đơn Trong đó, một số bài có sự vận dụngkết hợp cấu trúc của dân ca Nghệ Tĩnh như hai đoạn có mở đầu giống hát ví,cấu trúc khổ nhạc giống hát dặm…
Có thể kể một số bài tiêu biểu ở hình thức hai đoạn đơn như: Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm (Trần Hoàn - Quý Doãn), Bài ca bên cánh võng (Nguyên Nhung), Từ làng Sen (Phạm Tuyên), Sợi nhớ sợi thương (Thúy Bắc)…
Cấu trúc lớn hơn hai đoạn đơn.
Ca khúc sử dụng chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh có một số ít bài được viết ởhình thức 3 đoạn đơn và hình thức hai phần (trong đó phần 1 là hình thức 1đoạn đơn, phần 2 cấu trúc 2 đoạn đơn)
Dạng cấu trúc 3 đoạn đơn tiêu biểu có Tiếng hò trên đất Nghệ An của Tân
Huyền Bài được viết ở dạng 3 đoạn đơn có tái hiện trong âm nhạc phương Tây
Dạng cấu trúc 2 phần, tiêu biểu có Người con gái sông La của Doãn
Nho Sở dĩ bài hát này gồm 2 phần là vì phần 1 sử dụng chất liệu của ví vớitính chất chậm rãi, ngâm ngợi tạo sự tương phản với phần 2, còn phần 2 đượcxây dựng như một ca khúc hoàn chỉnh gồm 2 đoạn đơn với tính chất nhịpnhàng, duyên dáng (chất liệu của dặm) ở đoạn a; mãnh liệt, khí thế ở đoạn b.Các nhạc sĩ Trần Hoàn, Hồ Hứu Thới, Vi Phong, Phạm Tuyên, An
Thuyên đã sử dụng hình thức hai đoạn đơn mở rộng với việc có thêm phần
Trang 39mở - cấu trúc của dân ca Nghệ - Tĩnh như Chúng con hát về Người của Hồ Hữu Thới), Hương cau vườn Bác của Vi Phong; Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu
hò ví dặm của Trần Hoàn - Quý Doãn.
Ở bài Chúng con hát về Người của Hồ Hữu Thới có cả chất liệu phần mở
và phần kết từ Hò Nghệ - Tĩnh với 16 nhịp mở đầu và trong những ô nhịp cuối
của ca khúc (18 nhịp; từ nhịp 63 đến hết)
Ví dụ 3: Câu mở trong Chúng con hát về Người - Hồ Hữu Thới.
Ví dụ 4: Phần kết trong Chúng con hát về Người - Hồ Hữu Thới.
Phần mở và phần kết trong dân ca Nghệ - Tĩnh thường chỉ có vài âm
nhưng ở các ca khúc viết về đề tài Bác Hồ sử dụng chất liệu dân ca Nghệ Tĩnh đã xuất hiện sự thêm âm, thể hiện sự sáng tạo của các nhạc sĩ
-Tuy nhiên, các ca khúc sử dụng chất liệu dân ca Nghệ - Tĩnh là sự tiếp
thu cấu trúc khổ từ hát dặm, ví dụ như trong ca khúc Vầng trăng Ba Đình (Thuận Yến - Phạm Ngọc Cảnh) Đoạn b của ca khúc là sự vận dụng từ cấu trúc khổ từ hát dặm Nghệ - Tĩnh với sự kế thừa mỗi khổ đều bao gồm 4 câu
thơ năm chữ, sau đó có thêm câu nhạc nhắc lại:
Ví dụ 5: Sự kế thừa cấu trúc khổ từ hát dặm Nghệ - Tĩnh:
Khổ 1 (Từ nhịp 17→21): Sử dụng những câu thơ năm chữ:
Trong lăng Bác (vừa) chợp nghỉ
Như sau mỗi việc làmTrăng ơi! Trăng biết thế
Trang 40Nên trăng bước nhẹ nhàng…
Câu nhắc lại của khổ 4 kế thừa cấu trúc khổ từ hát dặm Nghệ Tĩnh (nhịp 38→41):
-Việc xuất hiện cấu trúc khổ như hát dặm trong dân ca Nghệ Tĩnh đã
mang tới những sắc thái mới trong sự sáng tạo Cấu trúc khổ cũng được vận
dụng trong đoạn b của ca khúc “Từ làng Sen” của Phạm Tuyên.
Khổ 1 (Từ nhịp 23→27): Sử dụng những câu thơ năm chữ:
Chiếc áo vải mỏng manh, Khắp trời Âu giá lạnh, Xót thương người cùng cảnh Càng chạnh lòng nước non…
Câu nhắc lại của khổ 1 (nhịp 27) cũng dùng nhạc, không có lời như bài Vầng trăng Ba đình:
Những sáng tạo sử dụng chất liệu trong các ca khúc trên đã thể hiệnnhững tìm tòi của người nghệ sĩ thông qua ngòi bút nghệ thuật
1.3.2 Giai điệu
Nếu như giai điệu của ví và dặm Nghệ - Tĩnh âm vực thường chỉ hạn
hẹp không quá một quãng 8 thì các ca khúc mang âm hưởng dân ca Nghệ
-Tĩnh có âm vực rộng hơn, có một số bài âm vực rất rộng như Xa khơi (quãng 13: d1- h2), đặc biệt bài Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm âm vực rộng
tới 2 quãng 8 (g - g2) Với những tầm âm như vậy phải sử dụng kỹ thuật
thanh nhạc châu Âu nhuần nhuyễn mới có thể hát tốt Bài Xa khơi lên cao tới