Nhà văn xây dựng các cuộc đối thoại nhằm phản ánh một cách khách quan con người,sự vật định nói tới và nhờ đối thoại vấn đề mà tác phẩm nghệ thuật đưa ra được xem xét dưới các điểm nhìn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA NGỮ VĂN
-
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
ĐỐI THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT
“MƯỜI LẺ MỘT ĐÊM” CỦA HỒ ANH THÁI
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thu Thủy
Hà Nội - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất,em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo,TS.Nguyễn Thị Thu Thủy,người đã tận tình chỉ bảo,hướng dẫn
em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu,khoa Ngữ Văn,các thầy ,cô giáo trong tổ Ngôn ngữ-Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa học.
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình,bố mẹ ,anh chị em,tới bạn bè thân thiết và những người thân yêu đã bên cạnh động viên,khích lệ ,giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu.
Hà Nội,ngày 25/04/2016
Sinh viên
Phan Thị Kim Hoa
Trang 3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2.Phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4.1.Mục đích nghiên cứu 4
4.2.Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5.Đóng góp của luận văn 5
5.1.Về mặt lí luận 5
5.2.Về mặt thực tiễn 5
6.Phương pháp nghiên cứu 5
6.1.Phương pháp thống kê,phân loại 5
6.2.Phương pháp phân tích 5
6.3.Phương pháp hệ thống 5
6.4.Các phương pháp liên ngành 6
7.Bố cục của khóa luận 6
PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
1.1 Khái quát về đối thoại 7
1.1.1 Một số quan niệm về đối thoại 7
1.1.1.1.Đối thoại là một hoạt động giao tiếp bằng lời 14
1.1.1.2.Đối thoại là giao tiếp trong tư duy ,trong tư tưởng,đối thoại trong bản thân cái “tôi” 14
1.1.2 Khái niệm đối thoại 16
1.2 Đối thoại nghệ thuật trong tác phẩm văn học 16
1.2.1 Vấn đề đối thoại trong lý luận_phê bình văn học 16
1.2.2 Đặc trưng của đối thoại trong văn học 17
1.3 Một số dạng đối thoại 18
1.3.1 Dấu hiệu nhận biết các đối thoại nghệ thuật trong tác phẩm 18
1.3.2.Một số hình thức đối thoại ngoài văn bản 20
Tiểu kết chương 21
Trang 4CHƯƠNG 2: ĐỐI THOẠI GIỮA NHÂN VẬT VÀ NHÂN VẬT 22
2.1 Đối thoại giữa nhân vật và nhân vật có đủ dấu hiệu nhận biết 22
2.2 Đối thoại giả độc thoại thiếu dấu hiệu nhận biết 32
Tiểu kết chương 41
CHƯƠNG 3: CÁC HÌNH THỨC ĐỐI THOẠI KHÁC 42
3.1.Đối thoại giữa tác giả và nhân vật 42
3.1.1 Đối thoại với nhóm nhân vật sống theo bản năng tự nhiên 43
3 1.2.Đối thoại với nhóm nhân vật sống lạc lõng và cô độc lạc loài 48
3.1.3.Đối thoại với nhóm nhân vật có lối sống tha hóa,đánh mất nhân tính 51
3.1.4 Đối thoại với nhóm nhân vật sống luôn có ý thức hoàn thiện bản thân và hướng tới những điều tốt đẹp hơn 55
3.2.Đối thoại giữa tác giả và độc giả 59
3.3 Hiệu quả nghệ thuật 62
3.3.1 Chức năng cá thể hóa nhân vật,bộc lộ tính cách,tâm lí nhân vật 63
3.3.2 Chức năng thúc đẩy câu chuyện phát triển,cung cấp thông tin 64
3.3.3 Chức năng liên kết 65
Tiểu kết chương 67
KẾT LUẬN 68
THƯ MỤC THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài
Nếu như trong cuộc sống hàng ngày,đối thoại là hoạt động giao tiếp căn bản nhất của con người nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp, tình huống đối thoại thường tản mạn, tự nhiên, bao gồm các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp, loại trừ ngôn bản thì trong truyện, đối thoại là một biện pháp nghệ thuật đảm nhiệm chức năng thẩm
mĩ, được tổ chức trong văn bản nằm trong ý định nghệ thuật của người kể trở thành một nhân tố cấu trúc tác phẩm và tình huống đối thoại có tính mạch lạc.
Nhà văn xây dựng các cuộc đối thoại nhằm phản ánh một cách khách quan con người,sự vật định nói tới và nhờ đối thoại vấn đề mà tác phẩm nghệ thuật đưa ra được xem xét dưới các điểm nhìn khác nhau.Thông qua các chuỗi đối thoại,tính cách nhân vật được khắc họa rõ nét,kết cấu tác phẩm được hình thành.Khi xem xét đối thoại như một biện pháp nghệ thuật thì cần phải chú ý tới hiệu quả nghệ thuật mà đối thoại mang tới,góp phần làm nên giá trị của tác phẩm văn học.Đó là mục đích và cũng là lý do chính của việc tìm hiểu đối thoại nghệ thuật trong một tác phẩm văn chương cụ thể trên phương diện ngôn ngữ học.
Tác phẩm “ Mười lẻ một đêm” của nhà văn Hồ Anh Thái là một tiểu thuyết hiện đại,nổi bật lên trong những năm gần đây Hồ Anh Thái đã góp phần tạo nên một động hình ngôn ngữ mới và giọng điệu văn xuôi khác hẳn so với văn xuôi 1945-1975.
Thông điệp của Hồ Anh Thái mang đến không hiện ra lộ liễu mà toát lên từ tình thế, qua các biểu tượng thấm đầy chất ảo.
Chuyện mười lẻ một ngày đêm đâu chỉ là chuyện của một đôi tình nhân trớ trêu
bị nhốt trong căn phòng của một người bạn mà thực chất là chuyện của cả một thời thế, một cõi người ở ngoài kia nhốn nháo và đầy nghịch lý được quy chiếu trong một cái nhìn trào lộng và phóng đại Mà dường như tác giả không buông tha bất cứ một điều gì Chuyện học thuật phong cấp phong hàm, chuyện trai gái nhà nghỉ nhà trọ, chuyện hát hò vẽ tranh nặn tượng, chữ nghĩa văn chương, chuyện các doanh nhân thời
mở cửa, chuyện các mađam quyền cao chức trọng dắt nhau tìm đất trang trại lập hội khai hoang, thậm chí cả chuyện đái đường và du lịch rác Vì lẽ đó trong Mười lẻ một đêm, người ta thấy hiện rõ bộ mặt Hà Nội, Sài Gòn, với “sự giàu xổi của giới trí thức,
Trang 6sự kệch cỡm của những phòng khách, sự tẻ nhạt của lớp thị dân, thói trưởng giả của giới thượng lưu ” Xây dựng đối thoại nghệ thuật là một trong những phong cách riêng của nhà văn Hồ Anh Thái.Bên cạnh thoại dẫn theo lời kể của tác giả thì thoại trực tiếp giữa các nhân vật cũng đặc sắc thể hiện phong cách của nhà văn.Biểu hiện này xuất hiện xuyên suốt trong tác phẩm,tạo nên hiệu quả nghệ thuật hấp dẫn và thu hút độc giả,cho đến nay vẫn chưa thực sự có ai nghiên cứu một cách hệ thống.
2 Lịch sử vấn đề
Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học nói chung,lí thuyết đối thoại đã được quan tâm nghiên cứu cả ở trong và ngoài nước từ gần một nửa thế kỉ nay.Tuy nhiên ở đây chúng tôi chỉ quan tâm tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu đối thoại từ góc độ của chuyên ngành Phong cách học
Nghiên cứu về lời nói nghệ thuật ,trong đó có lời trực tiếp của nhân vật ( đối thoại ),phải kể đến các công tình nghiên cứu người Nga như “ Các kiểu kết cấu lời nói” (V.V.Odincov) , “ Phong cách học lý thuyết về lời noi có tính chất thơ thi học” (V.V.Vinagradov)…Các tác giả này đã phân loại lời nói nghệ thuật theo hai tiêu chí :Lời người kể chuyện và lời nhân vật.Dựa trên tiêu chí kết cấu,lời nói nghệ thuật được phân loại thành hai dạng : Độc thoại và đối thoại.liên quan đến chức năng đối thoại,Odincov đã phân loại đối thoại thành hai kiểu cơ bản: Đối thoại thông tin( có chức năng minh họa hoặc nêu luận cứ và đối thoại thể loại( chức năng nhấn mạnh đặc điểm tâm lý).(13,194;195)
Ở Việt Nam,những công trình Ngôn Ngữ học nghiên cứu về dối thoại và vai trò cũng như chức năng đối thoại trong tác phẩm văn học còn ít ỏi.
Trong bài tạp chí “ Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học” tạp chí ngôn ngữ số 2,xuất bản năm 1990,G.S Đỗ Hữu Châu có viết “ Nói tới giao tiếp là nói tới đối thoại.Những quy tắc đối thoại lý thuyết về cấu trúc đối thoại,về các hành vi ngôn ngữ mặc dầu chưa phải là hoàn mĩ nhưng chắc chắn góp được nhiều gợi ý bổ ích,thậm chí quyết định đối với việc giải thích,bình giá lý thuyết sáng tác và các yếu tố nghệ thuật trong tác phẩm(…) Cần phải xem đối thoại như một kiểu tín hiệu thẩm mỹ và phải xem đối thoại như một loại yếu tố ngôn ngữ như âm,từ,câu ( có khi còn là những yếu tố hàng đầu) cần được phân tích trong tác phẩm văn học.
Trang 7Trong công trình “ Những vấn đề thi pháp của truyện”( phần “ lời thoại nhân vật và độc thoại nội tâm”) tác giả Nguyễn Thái Hòa đã xem hội thoại nghệ thuật như một trong những “Những vấn đề thi pháp của truyện” Tác giả đã trình bày các chức năng của lời thoại nhân vật,bao gồm chức năng cá thể hóa tính cách nhân vật.chức năng cá thể hóa tình huống,chức năng đồng quy chiếu,chức năng liên cá nhân,chức năng thẩm mỹ.Tuy nhiên,tác giả mới đề cập đến những lí thuyết chung nhất chứ chưa
đi vào một phạm vi ngữ liệu nào cụ thể.
Tác giả Đỗ Việt Hùng và Nguyễn Thị Ngân Hoa trong công trình “Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học” (phần “Vai trò của các kiểu lời nói và tính đa thanh của ngôn ngữ trong tác phẩm văn xuôi tự sự”).Các tác giả cũng quan tâm đến chức năng của đối thoại: “ Lời đối thoại giữa các nhân vật là một thành phần chủ yếu trong kết cấu lới nói của tác phẩm tự sự.Chức năng chủ yếu của đối thoại thực sự,đối thoại không chỉ mang tính chất miêu tả hoặc chuyển dẫn,trình bày sự kiện,là bộc lộ tính cách,tâm lí của nhân vật và các quan điểm tư tưởng.”(13,194)
Ngoài ra còn có một số khóa luận,luận văn,luận án của các tác giả thuộc chuyên ngành Ngôn Ngữ học,chuyên ngành phương pháp dạy học nghiên cứu,khảo sát hội thoại nghệ thuật(chủ yếu là đối thoại) trong một số truyện ngắn tiểu thuyết theo những nhiệm vụ cụ thể của chuyên ngành nghiên cứu:
Luận văn tốt nghiệp sau đại học của tác giả Chu Thị Thanh Tâm “Đối thoại nghệ thuật trong “Thời xa vắng” của Lê Lựu do giáo sư Đỗ Hữu Châu hướng dẫn đã phân loại đối thoại nghệ thuật thành ba kiểu: đối thoại trực tiếp,thoại theo lời kể của tác giả và độc thoại nội tâm,xác định đặc trưng của thoại nói chung và của từng kiểu thoại,sau đó miêu tả,phân tích từng kiểu dối thoại đó trong tiểu thuyết “ Thời xa vắng”
và đưa ra những nhận xét về mối quan hệ giữa dối thoại với tác phẩm,tác giả và về hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng đối thoại.
Khóa luận tốt nghiệp đại học của tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa (1989) với tên gọi “ Đặc điểm cấu trúc,chức năng của đối thoại nghệ thuật trong “ Gặp gỡ cuối năm” của Nguyễn Khải đã phân loại và nêu khái niệm “Đoạn đối thoại”,phân tích các nhân
tố : Hoàn cảnh,chủ đề,thành viên đối thoại,mối quan hệ giữa lời nói và hành vi ngôn ngữ,tìm hiểu về hiệu quả giao tiếp và hiệu quả nghệ thuật của đối thoại.
Trang 8Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh Thủy (2008) : “ Đặc trưng phong cách cấu trúc lời nói nghệ thuật trong tiểu thuyết”Sống mòn”của Nam Cao”.Nằm trong hệ thống
đề tài về “ Đặc trưng phong cách cấu trúc lời nói nghệ thuật” của một tác phẩm,tác giả,công trình đã nghiên cứu một cách bao quát tất cả các thành phần của lời nói nghệ thuật,trong đó có lời đối thoại,cùng với những đặc trưng và chức năng của chúng,tạo một nền tảng lí thuyết quan trọng cho đề tài của chúng tôi.
Luận văn thạc sĩ của Đỗ Phương Thảo(2009) : “ Đặc trưng và chức năng của đối thoại trong tác phẩm văn học và phim chuyển thể”( qua ba truyện ngắn “ Tướng về hưu”, “Những người thợ xẻ”, “ Thương nhớ đồng quê” của Nguyễn Huy Thiệp và các
bộ phim chuyển thể) đã phân loại đối thoại theo V.V.Odincov có đối thoại thông tin,đối thoại thể loại; theo dụng học có đơn thoại,song thoại và đa thoại; theo phong cách học có hội thoại đời thường và đối thoại nghệ thuật.
Những công trình nghiên cứu kể trên đã cung cấp cho chúng tôi một số cơ sở lí luận quan trọng và những kĩ năng nhất định trong quá trình tìm hiểu đề tài Nhưng chúng tôi nhận thấy vấn đề đặc trưng và chức năng của đối thoại trong tác phẩm văn học mới chỉ được nhận diện trên góc dộ lí thuyết hoặc được nhắc đến trong phạm vi văn bản nghệ thuậ khác hoặc bó hẹp ở một vài đặc trưng,chức năng cụ thẻ,chưa có công trình nào tìm hiểu một cách hệ thống các đặc trung và chức năng của dối thoại trong tác phẩm văn học và đặc biệt là trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi là đối thoại trong tiểu thuyết “ Mười
lẻ một đêm” của Hồ Anh Thái
3.2.Phạm vi nghiên cứu
Luận văn này không đi vào miêu tả chung các kiểu thoại trong tiểu thuyết” Mười lẻ một đêm” của Hồ Anh Thái mà chủ yếu đi vào xem xét hai kiểu đối thoại chính là đối thoại giữa nhân vật với nhân vật và đối thoại giữa tác giả với nhân vật,với độc giả.
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi muốn xác định cơ sở lý luận, làm rõ bản chất khoa học lý thuyết về đối thoại.Trên cơ sở đó chúng tôi đi vào khảo sát,phân tích tính đối thoại được biểu hiện trong tiểu thuyết “ Mười lẻ một đêm “ của tác giả Hồ Anh
Trang 9Thái,thấy được những cách tân của tư duy tiểu thuyết Việt Nam nói chung trong những năm đổi mới về tư tưởng và kĩ năng tiểu thuyết.
4.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát và thống kê,bước đầu phân loại đối thoại trong tác phẩm văn học.
- Phân tích đặc trưng và chức năng của đối thoại trong tiểu thuyết “ Mười lẻ một đêm” Hồ Anh Thái.
-Phân tích hiệu quả nghệ thuật của đối thoại trên một số phương diện trong và ngoài tác phẩm.
5.Đóng góp của luận văn
5.1.Về mặt lí luận
Luận văn của chúng tôi góp phần vào việc phát hiện và hệ thống hóa những đặc trưng và chức năng của đối thoại trong văn học nói chung.
5.2.Về mặt thực tiễn
Luận văn của chúng tôi giúp cho các nhà sáng tác tác phẩm văn học và độc giả
có cái nhìn toàn diện hơn về ngôn ngữ và kĩ thuật kể,xây dựng tác phẩm của nhà văn,đồng thời khi nghiên cứu về tác giả này sẽ có những định hướng rõ ràng hơn.
6.Phương pháp nghiên cứu
6.1.Phương pháp thống kê,phân loại
Đơn vị khảo sát ở đây không phải là từ,là câu mà là “đối thoại” Đối thoại được xác định dựa vào thời điểm,số lượng người tham gia,chức năng.Khi thống kê sẽ phân chia thành các loại,kiểu để từ đó tìm ra tỉ lệ giữa chúng,tần suất xuất hiện.Tất nhiên kết quả thống kê cũng chỉ tương đối và hoàn toàn không phải giải pháp duy nhất.
6.2.Phương pháp phân tích
Căn cứ vào sự tương tác giữa đối thoại với nhân vật,sự kiện chúng tôi tiến hành phân tích nội dung và phong cách biểu hiện đối thoại,đặc trưng và chức năng của chúng.
6.3.Phương pháp hệ thống
Các nhà ngôn ngữ học theo phương pháp cấu trúc đã giải quyết các vấn đề ngôn ngữ trên quan điểm hệ thống.Một tác phẩm văn học được coi như một hệ thống các yếu tố.Đối thoại là một trong những yếu tố tạo nên tác phẩm,ta luôn luôn đặt nó trong mối quan hệ với các yếu tố khác như nhân vật,kết cấu,chủ đề…
Trang 106.4.Các phương pháp liên ngành
Đề tài có liên quan trực tiếp tới các khoa học nghiên cứu văn học và một số khoa học như tâm lý học,xã hội học…” Nghiên cứu văn học có thể cung cấp cho ngôn ngữ rất nhiều điều để lý giải các đặc điểm nội dung của văn học nghệ thuật nhằm cắt nghĩa các đặc điểm riêng của ngôn ngữ,văn học nghệ thuật”
7.Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu,Kết luận,và Thư mục tham khảo luận văn bao gồm ba chương: Chương 1: Cơ sở lý thuyết.
Chương 2 : Đối thoại giữa nhân vật và nhân vật.
Chương 3: Các hình thức đối thoại khác.
Trang 11
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Khái quát về đối thoại
1.1.1 Một số quan niệm về đối thoại
Trong từ điển Tiếng việt ( Hoàng Phê chủ biên,NXB Hà Nội,1998) trang327,đối thoại được định nghĩa một cách ngắn gọn như sau:
a , Đối thoại là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau.Ví
dụ cuộc đối thoại,người đối thoại,đoạn đối thoại trong vở kịch
b , Đối thoại là để bàn bạc,thương lượng trực tiếp với nhau giữa hai haynhiều bên để giải quyết các vấn đề tranh chấp Ví dụ chủ trương không đối đầu
mà đối thoại
Trong cuốn “ 150 thuật ngữ văn học” của tác giả Lại Nguyên Ân(1;127),tác giả đưa ra ba cách hiểu thuật ngữ “ đối thoại”:
a , Sự giao tiếp bằng lời nói giữa hai người( hoặc nhiều hơn với nhau)
b , Một phần của văn bản ngôn từ nghệ thuật,một thành tố mà chức năng
là tái tạo sự giao tiếp bằng lời nói của các nhân vật
c , Một thể loại văn học ở Châu Âu,nghiêng về nội dung chính luận,triếtlý,trong đó tư tưởng tác giả được triển khai dưới dạng trò chuyện,tranh cãi giữahai hoặc nhiều người
Đối thoại trong tác phẩm văn học,theo cách hiểu thông thường,chính làcách hiểu thứ hai trong ba cách hiểu thuật ngữ đối thoại ở trên bởi vì ở cách hiểuthứ nhất đối thoại chỉ được xem xét như một thành phần ngôn ngữ thuần túy,còn
ở cách hiểu thứ ba đối thoại là một thể loại văn học
Trong Từ đển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học(tác giả Nguyễn NhưÝ,NXB GD,1996), dưới góc nhìn của ngôn ngữ học,đối thoại được hiểu cụ thểhơn là “ một trong những dạng thức của lời nói trong đó có sự hiện diện của
Trang 12người nói và người nghe,mỗi phát ngôn đều trực tiếp hướng đến người tiếpchuyện và xoay quanh một chủ đề hạn chế của cuộc thoại.Đối thoại có đặc điểm:Các phát ngôn có tính riêng biệt,ngắn gọn,có các kết cấu cú pháp đơn giản,sửdụng nhiều phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như cử chỉ,điệu bộ.
Tác giả I.R.Galperin trong công trình Văn bản với tư cách đối tượngnghiên cứu của ngôn ngữ học đã phân biệt đối thoại với độc thoại “ Ta biết rằngđối thoại là đặc trưng của biến thể nói.Còn độc thoại ,biến thể viết.Cả đối thoạilẫn độc thoại đều do phương tiện biểu đạt ngôn ngữ khác nhau mà sinh ra ,đặctrưng khu biệt những hình thức này là ,với đối thoại,tính thông tục của từ vựng
và ngữ pháp,tính ngắn gọn,hiện tượng tỉnh lược,nói lửng,không dung liên từ,sửdụng rộng rãi phương tiện giọng điệu,phát âm,điệu bộ…Với độc thoại,từ ngữsách vở ,trau chuốt,văn vẻ,câu hay mở rọng,tính hoàn chỉnh,tính nhất quán,tínhlogic,hình thức cú pháp,hệ thống dàn trải các yếu tố liên kết,những phương tiệnbiểu hiện bằng nét chữ
Để xác định một cuộc đối thoại ( cuộc hội thoại) Gs.Đỗ Hữu Châu và BùiMinh Toán đã đưa ra trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học _ TậpII( 4,297_298).Gồm bốn tiêu chí sau:
a, Nhân vật hội thoại: Một cuộc hội thoại được xác định bởi sự đươngđiện liên tục của người hội thoại.Khi số lượng hay tính chất của người hội thoạithay dổi thì chúng ta có cuộc thoại mới
b, Tiêu chí thống nhất về thời gian và địa điểm
c, Tiêu chí thống nhất về chủ đề: Một cuộc hội thoại phải theo một hướngnhất định và phải đi từ đầu cho đến khi kết thúc
d, Tiêu chí về các dấu hiệu định ranh giới cuộc thoại
Sau khi đưa ra bốn tiêu chí trên,các tác giả có cho rằng chúng khá chặtchẽ và đôi chỗ còn hạn chế,do đố đã bổ sung thêm bằng một định nghĩa mềmdẻo hơn của C.K.Orecchinoni: “ Để có một và chỉ một cuộc thoại,điều kiện cần
và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không dứt quãng,trong
Trang 13một khung cảnh thời gian_không gian có thể thay đổi nhưng không đứtquãng,nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng.”
Từ đối thoại trong tiếng Anh là ‘Dialogue”,bắt nguồn từ từ “ dialogos”của Hy Lạp.Tiếp đầu ngữ “dia” vừa có nghĩa tách rời và phân biệt,vừa có nghĩaliên thông.Trong khi đó,”logos” là lời nói,diễn ngữ,lý luận,trí tuệ nhưng cònhướng đến chiều sâu của ngôn từ và ý thức.Triết gia Socrate cũng cho rằng đốithoại là một phương thế truy tầm chân lý qua hình thức trao đổivà đối chất về tưtưởng.Hiền triết Socrate sử dụng đối thoại như một đường hướng triết lý giáodục.Dưới cái nhìn của ông tổ triết học Tây phương,đối thoại là thái độ dấn thânkiếm tìm chân lý,xây dựng niềm cảm thông giữa người với người.Nghiên cứu “Đối thoại kiểu socrate” Bakhtin đã rút ra phương thức dung đối thoại tìm tòichân lý đối lập với chủ nghĩa độc thoại quan phương vốn có tham vọng chiếmhữu chân lý có sẵn ,nó cũng đối lập với sựu tự tin ngây thơ của những ngưởngrằng họ biết được những cái gì đó thì tức là họ đã chiếm lĩnh được những chân
lý nào đó.Chân lý không nảy sinh và nằm trong đầu một con người riêng lẻ,nónảy sinh giữa những con người đang cùng nhau đi tìm chân lý và trong quá trìnhgiao tiếp đối thoại giữa họ với nhau Sâu hơn ,Bakhtin cho rằng : “ Bản thân sựtồn tại của con người (cả bên ngoài và bên trong) là một cuộc giao tiếp sâu sắcnhất.Tồn tại có nghĩa là giao tiếp.Cái chết tuyệt đối (không tồn tại) là khôngnghe thấy gì,không được thừa nhận,không được nhắc tới.” Bản chất con người làtổng hòa của các mối quan hệ xã hội.Chính sự giao tiếp dối thoại quy định sựtồn tại của con người.Không có “tôi” nếu không có “người khác”,”tôi” chỉ tồntại trong mối tương quan với “người khác”.Nếu bản thân không giao tiếp đốithoại thì không ai biết rằng”tôi” tồn tại, “tôi” khác biệt.Mỗi người chỉ là mìnhkhi soi mình vào người khác và nhận ra,cảm nhận người khác bằng chính bảnthân mình “ Ngôn ngữ chỉ sống trong sự giao tiếp đối thoại giữa những người
sử dụng ngôn ngữ Sự giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực đích thực của cuộcsống của ngôn ngữ.”(20,135)
Trang 14Bakhtin cho rằng : “ Đối thoại là bản chất của ý thức,bản chất của cuộcsống con người(…) Sống tức là tham gia đối thoại:hỏi,nghe,trả lời,đồng ý…Conngười tham gia cuộc đối thoại ấy bằng toàn bộ con người mình và toàn bộ cuộcđời mình : bằng mắt,môi,tay,tâm hồn,tinh thần,hành vi.Nó trút hết con người nóvào lời nói và tiếng nói của nó gia nhập dàn đối thoại của cuộc sống conngười,gia nhập cuộc hội thảo thế giới(…) Bản ngã không chết.Cái chết chỉ là sự
ra đi.Con người ra đi khi đã nói lời của mình,nhưng bản thân lời nói ấy còn lạimãi mãi trong cuộc hội thảo không bao giờ kết thúc.Với quan niệm về bản chấtđối thoại của ý thức của ngôn từ ,đối thoại trong văn học theo quan niệm củaBakhtin tất nhiên khác với đối thoại,hội thoại của ngôn ngữ học chỉ giới hạntrong phạm vi lời hỏi_đáp và thường được ghi trong ngoặc kép hay sau dấungoặc đầu dòng.Đối thoại trong văn học theo quan niệm của Bakhtin được hiểu
“là sự xâm nhập thường xuyên của ngôn từ người khác vào ngôn từ của một chủthể tạo thành tính đối thoại bên trong của phát ngôn đó.” (3,145) ‘ Người khác”
là kẻ đối thoại,là nhân vật được sáng tạo ra,là chính mình khi tự phân thân.Đốithoại ở đây là thái độ của ý thức,tư tưởng,biểu hiện qua sự đồng tình,phảnđối,khẳng định,phủ định,hoài nghi,giễu nhại
Nếu như độc thoại tự cho mình là lời nói duy nhất có quyền tồn tại,nó độcchiếm chân lý,tự coi nó là lời tiên tri,phán truyền và nó đặc biệt ghét tiếng nói
tự phê phán,tiếng nói lạ ,tiếng nói khác…thì đối thoại,ngay từ trong bản chất sâuxa,nó đã là một cấu trúc mở và đa chiều.Nếu như nhãn quan định giá của độcthoại chỉ là một lời duy nhất và lời độc thoại bao giờ cũng có tham vọng vắt kiệtnghĩa trong một lần phát ngôn thì ở đối thoại đó là một hệ thống những nhãnquan cùng tồn tại ngang bằng và đang tranh luận với nhau chưa ngã ngũ
Tiểu thuyết với tư cách là thể loại trẻ,mà một trong những đặc điểm quantrọng là khu vực tiếp xúc tối đa với cái hiện tại ở thì không hoàn thành của nó,đãtiếp thu mạnh mẽ nhất tinh thần đối thoại vào cấu trúc thể loại.Tác phẩm tiểuthuyết được sáng tác trên lập trường nghệ thuật đối thoại được gọi là tiểu thuyết
đa thanh “ Tiểu thuyết đa thanh miêu tả những vấn đề của sinh tồn nhân loại mà
Trang 15người ta không thể giải quyết đến cùng,những vấn đề của sinh tồn nhân loại màngười ta không thể giải quyết đến cùng,những vấn đề về sự sống của con người
và của tự nhiên mà ngay ở thời điểm miêu tả nó cũng vẫn chưa được hoàntất ,trong khi đó ,nhiều hình thức tiểu thuyết- tiểu thuyết tự truyện,tiểu thuyếtlịch sử,sinh hoạt…lại thường mang tính độc thoại,tính khách thể,tính hoàn tấttrong cách nhìn thế giới.” ( Nhiều tác giả: Từ điển thuật ngữ vănhọc(2004).NXB Giáo Dục ; trang 333) Bakhtin nhận xét về Đôxtôiepski ngườiđược ông xem là sang tạo ra tiểu thuyết đa thanh: “Trong mỗi tiếng nói ông cóthể nghe thấy vết rạn nứt và sẵn sang chuyển ngay sang biểu hiện đối lập,trongmỗi cử chỉ ông đều một lúc nắm bắt được sự tin chắc và vẻ ngập ngừng,ông cảmnhận được tính hai nghĩa và tính đa nghĩa sâu sắc của từng hiện tượng (3;31).Ông khẳng định : “ Tiểu thuyết đa thanh toàn bộ là mang tính đối thoại.Bởilẽ,các quan hệ đối thoại là một hiện tượng phổ quát thấm sau vào toàn bộ lời nóicon người và toàn bộ các quan hệ và biểu hiện của đời sống con người,nóichung là tất cả những gì có hàm ý và hàm nghĩa” Theo Bakhtin,tính đối thoạiđược biểu hiện trong tiểu thuyết đa thanh ở nhiều bình diện,trong đó có các bìnhdiện chính là tư tưởng,nhân vật và ngôn ngữ
Trong tác phẩm văn xuôi tự sự,dựa trên mối quan hệ giữa lời nói nghệthuật với tác giả và hình tượng nghệ thuật,có thể chia lời nói nghệ thuật thànhhai phạm trù:lời người kể chuyện và lời nhân vật Ba dạng lời nói nghệ thuật đó
có thể được gọi lần lượt là: Lời gián tiếp ,lời trực tiếp và lời nửa trực tiếp
Lời nhân vật là thuật ngữ của phê bình văn học,Phong cách học” chỉ lời nóicủa nhân vật trong tác phẩm văn học ,tập trung ở kịch nói và truyện” Lời nhânvật cùng với lời người kể chuyện làm nên hai phạm trù của văn xuôi nghệ thuật
Thực ra ,nhân vật hiện ra trong tác phẩm văn xuôi tự sự không chỉ có mặtngôn ngữ mà còn có lai lịch,ngoại hình,hành động … Nhưng tất cả các yếu tốphi ngôn ngữ này đều được “ Ngôn ngữ hóa”,chuyển hóa vào trong lời người kểchuyện thông qua lời kể,lời miêu tả.Điều đó cho thấy lời người kể chuyện cómối quan hệ trực tiếp với lời nhân vật
Trang 16Có thể chia ngôn ngữ nhân vật thành hai loại chính: Lời độc thoại và lờiđối thoại:
a , Độc thoại: “ Là tự mình nói ra không hướng vào một người nhận cụthể nào,không chờ đợi sự hồi đáp tức khắc ở người nhận” (11;68)
“ Độc thoại là sự thể hiện lời nói trước hết hướng tới bản thân mình màkhông tính đến phản ứng của người đối thoại.Độc thoại được đặc trưng bởi mộtcấu tạo cú pháp phức tạp hơn và thể hiện nội dung theo chủ đề rộng hơn so vớiđối thoại” (26; 91_92)
Lời độc thoại được chia thành hai loại:
_ Lời độc thoại : Là lời nhân vật nói một mình nhưng phát ra thànhtiếng,thường xuất hiện trong kịch và thể loại tự sự dân gian…
_ Lời độc thoại nội tâm: Là những lời nói bên trong không phát ra thànhtiếng,thường là những dòng suy nghĩ trong tâm tư nhân vật(dòng ý thức ) hoặcnhững đối thoại bên trong ở đó giọng nói nhân vật bị xẻ làm đôi thành hai giọngđối nghịch(đối thoại ngầm)…
b , Đối thoại là một trong các dạng thức của lời nói trong đó có sự hiện diệncủa người nói và người nghe,mỗi phát ngôn đều trực tiếp hướng đến người tiếpchuyện và xoay quanh mọt chủ đề hạn chế của cuộc thoại.Đối thoại có đặc điểmcác phát ngôn có tính riêng biệt,ngắn gọn ,có các kết cấu cú pháp đơn giản,sử dụngnhiều phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như cử chỉ,điệu bộ” (26,93_94)
Sự đối lập chủ yếu giữa độc thoại và đối thoại là ở tính chất một phía,ởthông tin mở của độc thoại,khác với sự cộng tác của hai phía tạo thành quá trìnhthông tin trao_dạng khép kín của đối thoại
Theo Đỗ Hữu Châu vận động hội thoại dựa trên một số nguyên tắc như :nguyên tắc luân phiên và lượt lời ,nguyên tắc liên kết,nguyên tắc cộngtác,nguyên tắc lịch sự…những nguyên tắc này chúng tôi không trình bày ở đây
vì đối thoại trong tác phẩm văn học ,nghệ thuật chỉ là sự mô phỏng hội thoạihàng ngày để đánh giá mà cái chủ yếu phải xét đến là chức năng thẩm mĩ củađối thoại trong các tác phẩm
Trang 17Hiện nay có nhiều cách phân loại đối thoại,theo V.V.Odincov chia lời đốithoại thành hai kiểu dựa trên đặc trưng chức năng:
_ Đối thoại thông tin: Có chức năng chứng minh hoặc nêu luận cứ,mangtính tuyến tính,nội dung của đối thoại là tổng nghĩa các lời thoại
_ Đối thoại thể loại: Có chức năng nhấn mạnh tâm lý
Dựa trên sự tương tác về ý nghĩa lượt lời,V.V.Odincov cũng phân chia lờiđối thoại thành tám kiểu: đối thoại hợp xướng,đối thoại chứa phản ứng phủđịnh,đối thoại chính xác hóa,đối thoại từ chối_biểu cảm,đối thoại hỏi-đáp,đốithoại chứa phản ứng với câu hỏi,đối thoại hỏi lại,đối thoại phản ứng tình thái đốivới câu hỏi.(24,12)
Dụng học lại có sự phân loại đối thoại theo số lượng nhân vật tham giagiao tiếp:
_ Đơn thoại:Là cuộc thoại có một người nói (viết) và người nghe là sốđông có mặt(diễn thuyết) hay vắng mặt (viết thư,báo cáo )
_ Song thoại: Là cuộc thoại có hai người (hay từng cặp hai người) đốithoại với nhau theo nguyên tắc cộng tác,nguyên tắc trao đáp,nguyên tắc luânphiên lượt lời…
_ Đa thoại: Là cuộc thoại có từ ba người trở lên tham gia trao đáp
Phong cách học phân loại theo phạm vi giao tiếp và phong cách chứcnăng ngôn ngữ:
_ Hội thoại đời thường: Là hình thức giao tiếp của con người trong đờisống hàng ngày,sử dụng lời nói tự nhiên
_ Đối thoại nghệ thuật: Là đối thoại được sử dụng trong các tác phẩmnghệ thuật trên cơ sở mô phỏng những cuộc thoại,lời thoại đời thường nhưngkhông phải là sự sao chép nguyên vẹn hội thoại đời sống mà có thể có nhữngyếu tố bị lược bỏ hay thêm vào nhằm phục vụ ý đồ nghệ thuật của tác giả.Việcnhân vật nói cái gì,nói như thế nào,nói để làm gì và nói trong hoàn cảnh nào…hoàn toàn là do tác giả quyết định (23,21)
Trang 18Bên cạnh đó ,giữa hội thoại đời thường và đối thoại nghệ thuật đã có sựchuyển hóa cơ bản về mặt chức năng Sự trao đáp lời nói trong giao tiếp hàngngày thường chỉ nhằm thực hiện chức năng giao tiếp _ Lí trí,tức là cung cấpthông tin,bộc lộ cảm xúc,thiết lập quan hệ…
Trên đây là một số quan niệm khác nhau và phân loại đối thoại của nhiềutác giả
1.1.1.1.Đối thoại là một hoạt động giao tiếp bằng lời.
Trước hết ta hiểu đối thoại là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều ngườivới mục đích giao tiếp khác nhau,trong những ngữ cảnh khác nhau Trong bất cứcuộc đối thoại nào cũng gồm ba vận động chủ yếu: sự trao lời (allocution),sự traođáp(exchange) và trong cuộc đối thoại đó,các nhân vật đối thoại ảnh hưởng lẫnnhau,tác động qua lại với nhau,tương tác nhau(interactants) làm biến đổi lẫn nhau
1.1.1.2.Đối thoại là giao tiếp trong tư duy ,trong tư tưởng,đối thoại trong bản thân cái “tôi”.
Nói đến đối thoại trong tư duy,trong tư tưởng ,chúng ta có thể hiểu là ởđây có thể không cần sự hiện diện của các chủ thể mà có thể là các chủ thểngầm.Trong một lời nói ,ta có thể nhắc đến lời người khác như một trích dẫn thì
dù người khác đó không có mặt ở đây nhưng chủ thể người khác đã cùng tatham gia vào cuộc đối thoại,tạo ra lời hay giọng của hai chủ thể.Theo Bakhtin “
Tư tưởng bắt đầu sống tức là được hình thành,được phát triển,nó tìm ra và đổimới cách biểu hiện bằng lời ,sản sinh ra những tư tưởng mới bằng cách tham giavào các quan hệ đối thoại quan trọng với các tư tưởng khác của người khác.ýnghĩa của con người chỉ trở thành ý nghia đích thực,tức là với một ý thức khácđược diễn đạt thành ngôn từ.Tư tưởng đã được sản sinh ra và sống chính ở điểmtiếp xúc của tiếng nói _ ý thức này”(3,91) Như vậy tư tưởng là một sự kiện sốngdiễn ra trên điểm gặp gỡ đối thoại của hai hay nhiều ý thức.Tư tưởng về mặtnày,giống như ngôn từ ,tư tưởng cũng muốn trở thành được nghe thấy,được hiểu
và được các tiếng khác đáp lại từ các chỗ dứng khác.Trước một đối tượng ,mộtvấn đề có hai ý nghĩa ,hai quan điểm,hai con đường tiếp cận,hai nhận định nhận
Trang 19xét,hai khả năng chọn lựa…ta xem như ở đó có hai chủ thể đang phát ngôn,đangtham gia đối thoại.Muốn nhận thức đối tượng ấy,vấn đề ấy ,ta phải nghe đượcmọi lời phát ngôn về nó,với nó và phải góp tiếng nói vào cuộc đối thoại.
Tác phẩm văn học,các chi tiết trong tác phẩm,ngôn từ trong tác phẩm,đều
là những tín hiệu có thể đem đến cho người tiếp nhận những thông tin phongphú.Mỗi thông tin tương đương với một phát ngôn,nó cũng có chủ thể củanó,cũng ghi dấu ấn chủ thể.Vì vậy,trước mỗi đối tượng nhận thức,con người cóthể nghe thấy vô cùng nhiều tiếng nói khác nhau về nó,với nó,cho nó Đây làtính đối thoại trong tiếp nhận thông tin.Có khả năng nghe dược nhiều thông tin
từ đối tượng nhận thức thì nhận thức mới có chiều sâu.Cơ chế nhận thức khi đó
sẽ diễn ra hai chiều tư duy,mà bản chất là hai chiều đối thoại: đối thoại trong cáitôi và đối thoại tôi với người khác “ Người khác” ở đây là chủ thể của thôngtin,không có lời,không có đối thoại hình thức ,chỉ có đối thoại trong tư duy đểnhận thức
Đối thoại trong cái “tôi” là cách nhận thức có chiều sâu,nhận thức đachiều,nhận thức luôn đặt them câu hỏi “ tự vấn”,câu hỏi khẳng định,câu hỏi phủđịnh,câu hỏi nghi ngờ,câu hỏi phát hiện them…Đó là cách tạo đối thoại ngầmtrong tư duy của người tiếp nhận,để việc tiếp nhận,lĩnh hội không bằngphẳng,đơn giản
Đối thoại “ tôi và người khác” là đối thoại giữa những luồng nhận thức,tưtưởng tình cảm,quan điểm,chỗ đứng,điểm nhìn của các chủ thể khác nhau vềmột vấn đề.Muốn thực hiện được hình thức đối thoại này,mỗi bên phải có nhiềuthông tin.Có thể là thông tin đồng hướng hoặc khác hướng để có cơ sở lựachọn,phân tích bày tỏ ý kiến,quan điểm của mình
Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực xã hội Nhà văn chân chínhmuốn tạo ra tác phẩm phải bám vào cuộc sống để phản ánh chọn lựa từ nhữngvấn đề về điển hình của xã hội,tìm ra cho mình một đề tài Lúc này nhà văn phảitiến hành đối thoại với cuộc sống.Đồng thời trong quá trình sáng tác,để tạo nênnhững cái riêng,cái khác,cái độc đáo của mình,các nhà văn phải tự đối thoại với
Trang 20chính bản thân để thanh lọc,lựa chọn,tìm tòi,tạo ra giá trị của tác phẩm.Khi tácphẩm ra đời,nó lại tiếp tục cuộc đối thoại trong quá trình tiếp nhận của độcgiả.Nhà văn sẽ đối thoại với bạn đọc thông qua tác phẩm.Tất nhiên bạn đọc sẽ
có thể tiếp nhận tác phảm theo nhiều hướng khác nhau,thậm chí trái ngược nhau
Như vậy với quan điểm mở rộng,đối thoại không chỉ dừng lại ở tiêu chí vềhình thức trong giao tiếp bằng lời giữa hai hay nhiều người mà ngay khi bạn đọctiếp nhận tác phẩm đa xuất hiện sự đối thoại giữa bạn đọc với bạn đọc ,giữa bạnđọc với tác giả_ tác phẩm.Thậm chí có những tác giả sống cách đây hàng thếkỉ,có những tác phẩm ra đời hàng trăm năm vẫn lên tiếng đối thoại cùng nhậnthức tư duy của bạn đọc.Các tác phẩm văn học của quốc gia khác nhau,sống trongcác thời kì lịch sử khác nhau có thể gặp nhau,đối thoại với nhau
1.1.2 Khái niệm đối thoại
Theo khái niệm và một số quan điểm trên,đối thoại diễn ra do nhu cầu conngười cần trao đổi thông tin với nhau để bàn bạc về một vấn đề gì đó nhằ mụcđích hai bên hiểu nhau hơn và từ đó dẫn đến thực hiện hành động theo mongmuốn của một trong hai bên Muốn có đối thoại thì phải thỏa mãn hai điềukiện,thứ nhất là nhân tố tham gia đối thoại phải có hai người trở lên,trong đó cóngười phát tin và người nhận tin.Thứ hai,đối thoại không phải là một chiều mà
là nhiều chiều(có lượt lời,hỏi đáp,luân phiên,…tạo nên cặp thoại).Trong đó ngữcảnh đóng vai trò quy chiếu nội dung đối thoại
1.2 Đối thoại nghệ thuật trong tác phẩm văn học
1.2.1 Vấn đề đối thoại trong lý luận_phê bình văn học
Dựa trên cơ sở thực tế của hoạt động ngôn ngữ,M.Bkhtin là người đầutiên phát hiện ra tính chất “đa thanh” trong văn chương khi nghiên cứu “ Nhữngvấn đề thi pháp Đôxtoiepki” Theo M.Bkhtin ,lời nói trực tiếp của các nhân vật “không nằm trên cùng một mặt phẳng với lời nói của tác giả ,mà dường như cómột khoảng cách về phối cảnh nào đấy so với lời nói tác giả”.Nói về vị trí vàchức năng của đối thoại ,ông khẳng định: Đối thoại “ đứng ở trung tâm cái thếgiới nghệ thuật của Đôxtoiepxki…không phải với tính cách một phương tiện,mà
Trang 21với tính cách một mục đích tự thân Đối thoại ở đây không phải là ngưỡng cửacủa hành động,mà là bản thân hành động” Trong công trình “ Lý luận và thipháp tiểu thuyết”,M.Bakhtin cũng khẳng định: “Nếu vấn đề trung tâm của lýthuyết thơ là vấn đề biểu tượng thơ ca,thì vấn đề trung tâm của lý thuyết vănxuôi nghệ thuật là vấn đề ngôn từ song điệu được đối thoại hóa từ bên trong vớitất cả các kiểu và các dạng thức phong phú của nó.”
Trần Đình Sử trong công trình “ Dẫn luận thi pháp học” cũng đề cập đếnlời trực tiếp của nhân vật như một trong hai phạm trù của văn xuôi nghệthuật,cùng với lời gián tiếp của người trần thuật,người kể chuyện.Theo tácgiả,trong Văn học hiện đại,con người được miêu tả như những cá nhan nên “ Lờitrực tiếp của nhân vật mang nội dung cá tính,tâm lí cá thể và đặc điểm về giáodục và địa vị xã hội”.Chức năng của lời trực tiếp “ Không chỉ thể hiện ở ý nghĩatrực tiếp,mà thể hiện ý nghĩa hàm ẩn,một biện pháp để thể hiện tâm lí”.Tác giả
đã giới thiệu một số hình thức đối thoại thể hiện ý nghãi hàm ẩn đó: Đối thoại
để che đậy nội tâm,đối thoại bên ngoài song song với lời nói ngoài,đối thoại rờirạc,thể hiện trạng thái nhân sinh,đối thoại mà không hiểu ý đối thoại…
Mặt khác,đối thoại còn được các nhà Lí luận văn học đề cập đến với tưcách là một trong những thủ pháp nghệ thuật hữu hiệu “ Lời nói trực tiếp củanhân vật văn học có nhiều chức năng:
a, Chức năng phản ánh hiện thực ở ngoài nhân vật
b, Chức năng tự bộc lộ của nhân vật,cho thấy sự tồn tại của nó
c,Chức năng như một hành động,một sự kiện đối với nhân vật khác
d,Chức năng của thực tại lời nói bên ngoài ý thức tác giả,đối tượng suy tưcủa tác giả
đ , Chức năng biểu hiện nội tâm,thế giới bên trong của nhân vật
1.2.2 Đặc trưng của đối thoại trong văn học
Trong tác phẩm văn học đối thoại nhân vật là một trong những yếu tốhàng đầu quyết định đến sự thành bại của tác phẩm.Văn học thuộc dạng viết _làdạng truyền tin đơn kênh ,người đọc chỉ tiếp nhận được bằng kênh thị giác Ngữ
Trang 22cảnh của đối thoại văn học mang bản chất tuyến tính của ngôn từ,các yếu tố hỗtrợ cho lời thoại chỉ hiện ra trong quan hệ nối tiếp ,ngữ đoạn chứ không xuấthiện đồng thời.Trong tác phẩm văn học,lời đối thoại của nhân vật có quan hệtrực tiếp với lời kể chuyện Giữa các kiểu lời này có sự tương tác với nhau vềchức năng và giọng điệu:
Về chức năng,lời đối thoại bộc lộ tính cách,tâm lý nhân vật,còn lời người
kể chuyện không chỉ đóng vai trò bình luận,dẫn dắt,miêu tả khung cảnh,sự việcbên ngoài mà còn là chất xúc tác,bổ sung cho lời nhân vật
Lời kể của tác giả có thể phân loại thành: Lời kể/ lời trần thuật,lời tả ,lờitrữ tình.Mỗi loại lời kể này lại có tác dụng hỗ trợ khác nhau về chức năng đốivới lời thoại của nhân vật
Về giọng điệu,quan hệ giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật mang lạicho tác phẩm văn học một hệ thốn giọng điệu phong phú,xen kẽ giữa kể_đốithoại Sự tương tác về giọng điệu giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật cóthể diễn ra theo nhiều hướng: đồng hướng,hòa hợp hoặc ngược hướng,tươngphản.Trong đó,giọng người kể thường đóng vai trò chủ đạo,làm bè chính ,chủâm,còn giọng nhân vật là bè phụ,có thể tương phản hoặc hòa hợp với bèchính.Lời nhân vật có thể thâm nhập vào lời kể tạo nên sự đồng hướng ,nhưngcũng có khi tạo nên sự tương phản mang sắc thái mỉa mai,giễu nhại…Sự kếthợp,giao thao giữa hai kiểu giọng tạo thành những kiểu lời trung gian khó phântách,những giọng điệu nước đôi vừa chứa đựng tâm trạng nhân vật vừa ẩn chứacái nhìn khách quan của người kể chuyện Đồng thời ,kết hợp lời người kểchuyện và lời nhân vật trên một đơn vị lời nói cần cho phép luân chuyển điểmnhìn từ bên ngoài vào bên trong,rồi lại từ bên trong chiếu ra bên ngoài,tạo ra hai
hệ thống giọng điệu cùng song song tồn tại.Tính đa thanh,các dạng lời nói trunggian chính là sáng tạo và cách tân mới mẻ,độc đáo của loại hình tự sự nói chung
và tiểu thuyết hiện đại nói riêng
1.3 Một số dạng đối thoại
1.3.1 Dấu hiệu nhận biết các đối thoại nghệ thuật trong tác phẩm.
Đối thoại đời thường:Là hình thức giao tiếp của con người trong đời sốnghàng ngày,sử dụng lời nói tự nhiên
Trang 23Đối thoại nghệ thuật: Là đối thoại được sử dụng trong các tác phẩm nghệthuật trên cơ sở mô phỏng những cuộc thoại,lời thoại đời thường nhưng khôngphải là sự sao chép nguyên vẹn đối thoại đời sống mà có thể có những yếu tố bịlược bỏ hay thêm vào nhằm phục vụ ý đồ nghệ thuật của tác giả.Việc nhân vậtnói cái gì,nói như thế nào,nói để làm gì và nói trong hoàn cảnh nào…hoàn toàn
là do tác giả quyết định.Khi người kể kể chuyện ,anh ta muốn đưa lời của nhânvật vào để người đọc có thể nhận thấy lời của nhân vật xuất hiện thì cần đưa cácdấu hiệu nhận biết vào trong các cuộc đối thoại như dấu ngoặc kép,dấu haichấm,dấu gạch đầu dòng…
Trước hết, đối thoại trong văn bản là đối thoại nghệ thuật đảm nhiệm chứcnăng thẩm mĩ bao gồm hai bình diện lời kể và lời thoại Lời kể hay “lời giántiếp là lời văn đảm đương chức năng trần thuật, giới thiệu, miêu tả, bình luậncon người và sự kiện (…) là lời của người trần thuật, người kể chuyện” Lờithoại là hình thức kể bằng lời nhân vật Nó còn được gọi là lời trực tiếp củanhân vật trong văn học, là “hình thức kể chuyện cá thể hoá triệt để tính cách vàtình huống đối thoại” Giữa lời thoại và lời kể có sự khác nhau ở điểm nhìn.Người kể luôn có một điểm nhìn bao quát để lựa chọn, điều khiển các nhân vậthành động, sắp xếp bố cục, sự kiện cho phù hợp Nếu như điểm nhìn của người
kể luôn luôn thấu suốt trên một trục thời gian được lựa chọn trước và xâu chuỗilại nhờ sự liên hệ với người đọc thì điểm nhìn của nhân vật chia cắt từng khúcđoạn thực tế
Muốn có hình thức đối thoại trong văn bản thì cần phải có tình huống đốithoại.Tình huống đối thoại trong truyện là tình huống văn bản (ngữ cảnh vănbản) được hàm ẩn ở lời thuyết minh trong văn bản hay lời kể của người kể
nếu như trong giao tiếp đối thoại là hoạt động giao tiếp căn bản nhất củacon người nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp và tình huống đối thoại thường tảnmạn, tự nhiên, bao gồm các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp, loại trừngôn bản thì trong truyện, đối thoại là đối thoại nghệ thuật đảm nhiệm chứcnăng thẩm mĩ, được tổ chức trong văn bản nằm trong ý định nghệ thuật của
Trang 24người kể làm thành một nhân tố cấu trúc tác phẩm và tình huống đối thoại cótính mạch lạc, là lời thuyết minh trong văn bản mang dấu ấn của nhà văn tạo nênkhung cảnh cho cuộc thoại giữa các nhân vật Tình huống đối thoại được tạo nênbằng ngôn ngữ truyện thể hiện một thế giới dù rất hữu hạn của nhân vật cũng cókhi thể hiện tâm tư nhân vật hoặc ngược lại, tâm tư làm thay đổi cách nhìn củanhân vật Điều đó được khẳng định khi các nhà văn đã phát hiện và dùng chúngnhư chìa khoá nghệ thuật để khám phá các mối quan hệ của con người.
1.3.2.Một số hình thức đối thoại ngoài văn bản
Sáng tạo văn học là quá trình nối tiếp giữa nhà văn tác phẩm và ngườiđọc Song ba yếu tố nầy không phải lúc nào cũng được xem như những giá trịđồng đẳng mà tùy theo từng giai đoạn phát triển của tư duy lý luận văn học, bayếu tố đó có sự chuyển đổi vị trí trung tâm cho nhau, từ tác giả sang văn bản rồiđến người đọc Trong quá trình đó, tư duy lý luận văn học đã soi chiếu các yếu
tố nhà văn, tác phẩm và người đọc dưới nhiều góc nhìn khác nhau, không ngừng
mở rộng, bổ sung cho nhau để ngày càng làm rõ và hoàn thiện hơn tính chất củamối quan hệ mang tính bất biến nầy Chính vì vậy, việc xem xét mối quan hệgiữa nhà văn, tác phẩm và người đọc là một vấn đề lý thuyết có ý nghĩa cả trênbình diện lý luận và thực tiễn mà mọi hệ thống lý luận văn học dù từ điểm nhìn
mỹ học nào cũng quan tâm nghiên cứu Với lý thuyết tiếp nhận hiện đại, đặc biệt
là sự khẳng định vai trò của người đọc như là một đồng sáng tạo với nhà văntrong việc tạo ra giá trị mới cho tác phẩm văn học, tư duy lý luận văn học đã cómột sự phát triển Đó là sự chuyển dịch trung tâm từ tác giả sang văn bản rồi đếnngười đọc Với quan niệm này, tác phẩm văn học vừa là sáng tạo của nhà văn,vừa là nơi hoạt động của ngôn ngữ, nhưng đồng thời vừa là nơi tiếp nhận nhữngsáng tạo từ phía người đọc để tạo nên những nét nghĩa mới cho tác phẩm vănhọc như là hình thức đọc đặc trưng mà lý luận từ phía sáng tác không giải thíchđược Và như vậy, xét từ cách tiếp cận này, việc nghiên cứu bản chất của tácphẩm văn học cũng chính là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn bản và người đọc
Do đó, hoạt động tiếp nhận văn học, là một hoạt động mang tính sáng tạo Đặng
Trang 25Tiến đã nói điều ấy bằng một hình ảnh rất ấn tượng khi cho rằng: “Yêu một tácphẩm nghệ thuật, giống như yêu một người đàn bà ở điểm là mỗi lần yêu chúng
ta khám phá ở người tình một trinh tiết mới Yêu một tác phẩm là sáng tạo mộttrinh tiết mới cho tác phẩm”
Bởi lẽ nói đến sáng tạo và tiếp nhận là nói đến cuộc đối thoại giữa tác giả
và người đọc thông qua tác phẩm Cuộc đối thoại ấy là cuộc đối thoại của những
kẻ tri âm, của những tâm hồn đồng điệu tìm đến những tâm hồn đồng điệu
Về đặc trưng của đối thoại trong văn học,trong văn học đối thoại nhân vật
là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định đến sự thành bại của tácphẩm.Một số hình thức đối thoại tiêu biểu và dấu hiệu nhận biết đối thoại lànhững tiền đề lí luận cho sự nghiên cứu ở những chương sau
Trang 26CHƯƠNG 2 ĐỐI THOẠI GIỮA NHÂN VẬT VÀ NHÂN VẬT
2.1 Đối thoại giữa nhân vật và nhân vật có đủ dấu hiệu nhận biết
Trong tiểu thuyết Mười lẻ một đêm,tác giả xây dựng tình huống đối thoạigiữa nhân vật với nhân vật chủ yếu theo hai hình thức,đối thoại giữa nhân vậtvới nhân vật có lời dẫn và đối thoại giữa nhân vật với nhân vật không có lờidẫn,kiểu đối thoại này chiếm tỉ lệ lớn trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái.Lời và
ý nghĩ nội tâm nhân vật được dẫn trực tiếp chính là nguyên văn những lời nhânvật nói,nhân vật nghĩ.Việc dẫn lời và ý nghĩ nội tâm nhân vật theo kiểu truyềnthống có nghĩa là việc trích dẫn đảm bảo sự chuẩn chỉ về hình thức đó là có lờidẫn(hoặc không có),sau đó là dấu hai chấm(:) ,sau dấu hai chấm là dấu gạch đầudòng (-) trước lời và ý nghĩ nhân vật,hoặc dấu ngoặc kép( “ ’’) đặt ở đầu và cuốilời ý nghĩa nhân vật
Khi sáng tác Hồ Anh Thái luôn tạo được những tình huống “chẳng giốngai” mang chức năng của những nút nhấn để từ đó toàn cảnh hiện ra với tất cảđường nét và dáng vẻ xiêu xó tức cười.Nhà văn phát hiện rất nhanh nhạy cái lốbịch trong đời sống,khai thác đến cùng phương diện gây cười của nó để đưa vàotuyến vận dộng của cốt truyện Châm biếm mỉa mai trào lộng,hài hước là nhữngnhân tố tạo nên sắc thái giễu nhại trong tiểu thuyết của anh.Hầu như toàn bộkinh nghiệm cọ xát của nhà văn với ngôn ngữ đời sống thực tế đều được huyđộng:lối nói nhại,nói lái,tiếng lóng thường xuyên hiện diện với tất cả nồng độbụi bặm phố phường.Sức phê phán của chúng vừa có tính phủ định ,công phámạnh mẽ đối với cái xấu xa,lỗi thời vừa có ý khẳng định ,xây mới Dám nhìnthẳng vào những cái hài đời với đầy những trật khớp,vênh lệch của cuộc sốngthời tiền và hậu đổi mới rồi thể hiện nó bằng một thứ ngôn ngữ tương xứng để
tự cười và chọc cười thiên hạ là một sự dũng cảm,một hướng đi gập ghềnhnhưng hữu dụng ,cấp thiết,và chính phương diện này lại bộc lộ rõ sở
Trang 27trường ,phong cách độc đáo Hồ Anh Thái.Không chỉ sử dụng tiếng cười nhưmột vũ khí đắc lực để “ Tống tiễn quá khứ một cách vui vẻ” Người viết còntruyền cho người đọc dũng khí đối diện với những cái nhếch nhác bệ rạc trongthực tế khách quan và ngay chính bản thân để tìm cách khống chế,hoànthiện.Đọc “Mười lẻ một đêm’ của Hồ Anh Thái ,người đọc ngỡ ngàng với baovấn đề lớn nhỏ của đời sống xã hội được hà văn phác thảo chỉ trên 300 trang tiểuthuyết.Tác phẩm là cái nhìn sắc lẹm của nhà văn về muôn mặt đời thường,nhữngvấn đề đã,đang hàng ngày diễn ra quanh ta khiến ta có lúc trở nên thờ ơ bởi cáiphổ quát,cái đời thường của nó.Thế nhưng,với nỗ lực của một nhà văn nhiềutrăn trở với đời,Hồ Anh Thái đã lật,đã khơi,đã quật bao thói xấu,bao điềuchướng mắt,bao thứ lập lỡ trắng đen cứ hàng ngày hàng giờ hiện hữu đầy nhứcnhối trong xã hội.Chuyện học thuật,phong cấp phong hàm,chuyện trai gái,nhànghỉ,chuyện hát hò,vẽ tranh,nặn tượng,chuyện đao văn,đạo công trình,tìnhyêu,danh vọng trong thời mửa cửa…tất cả được Hồ Anh Thái chuyển tải thậtkhéo léo trong tác phẩm bởi một số hệ thống ngôn ngữ giàu sức tạo hình Dù cảcác phẩm chỉ có hơn 20 cuộc đối thoại ngắn nhưng qua đó góp phần giúp tác giảlàm nổi bật tính cách của nhân vật,một xã hội giả dối và dễ dàng Lời nói củacon người luôn mang tính đối thoại và là thuộc tính phổ quát của ngôn ngữ và tưduy của con người.Ở Tiểu thuyết tính đối thoại nhiều( do dối tượng và và dophản ánh mọi mối quan hệ xã hội),giống một bản hợp xướng nhiều bè phức tạp.
Trong các cuộc đối thoại tác giả xây dựng trong tiểu thuyết Mười lẻ mộtđêm chúng tôi nhận thấy đối thoại chủ yếu ở đây chia làm hai loại,đối thoại củanhân vật có lời dẫn và đối thoại của nhân vật không có lời dẫn
Chúng tôi đã tiến hành thống kê các hình thức đối thoại trực tiếp gữa nhânvật và nhân vật có lời dẫn và không có lời dẫn trong tác phẩm và nhận thấy tỉ lệxuất hiện của đối thoại giữa nhân vật và nhân vật có lời dẫn chiếm 63,6% và đốithoại giữa nhân vật và nhân vật không có lời dẫn chiếm 36,4%.Dưới đây là bảngthống kê cụ thể:
Trang 28Bảng thống kê số lượng các kiểu đối thoại giữa nhân vật với nhân vậttrong tiểu thuyết Mười lẻ môt đêm của Hồ Anh Thái có đủ dấu hiệu nhận biết.
Ví dụ 2: - Ôi, đến bằng này tuổirồi,em vẫn dại
Chị lao vào anh.Chị nói như nhận ramình vô duyên từ nãy đến giờ
- Anh chờ như thế này cả mườisáu năm rồi.Anh chờ được mà.(119)
- Năm ngoái chị bị tát rồi mà
- Năm ngoái người khác tát em ạ
(316)
36,4%
Từ bảng thống kê trên chúng tôi nhận thấy,hình thức đối thoại giữa nhânvật với nhân vật có lời dẫn là đoạn thoại trong quá trình nhân vật này nói chuyệnvới nhân vật kia xuất hiện lời dẫn của tác giả
Ví dụ 1:
Trang 29Lời đối thoại xuất hiện trong câu chuyện với người chồng thứ ba của nhânvật “mẹ”.Đối thoại ngắn gọn,dường như không thể hiện ý nghĩa đặc sắc gì,chỉnhư một vài câu bâng quơ mời gọi:
“ Mẹ cởi áo khoác nhường cho chú.Bên trong mẹ vẫn còn áo len.Quần thì không có hai chiếc để nhường.
_Về nhà đi anh.
Chú nhà đất cảm động.Nhà đất mà chú vừa mất cả nhà lẫn đất.Xuống song hết rồi.Rưng rưng vì trong lúc hoạn nạn có người vẫn san sẻ,vẫn không bỏ rơi mình.Bay biến cả ý muốn chạy trốn.
_ Nhà nào cơ?
Trong cơn chấn động chú vẫn chưa hết bàng hoàng.
_Nhà chúng mình.Anh về nhà ngủ với cháu.(1;74)
Đoạn đối thoại diễn ra dưới sự dẫn dắt của tác giả,giọng văn bình thảnnhưng lại ẩn chứa sự châm biếm giễu nhại,một người đàn bà không chồng mộtmình nuôi dạy đứa con gái bé bỏng lại mời gọi người đàn ông lạ về nhà mộtcách dửng dưng như đó là một điều hết sức tất yếu.Khi lượt lời thứ nhất củangười mẹ xuất hiện,lời rủ rê chú nhà đất về nhà,tác giả dẫn dắt tâm trạng hết sứcbàng hoàng và phải thốt lên câu hỏi chắc chắn hỏi lại.Lời dẫn có tác dụng làmcho bạn đọc dễ dàng theo dõi và cảm nhận được tâm trạng diễn ra của nhân vậttrong quá trình đối thoại,đồng thời tạo ra sự liên kết cho tác phẩm
Câu chuyện chắp nối với liên kết là những câu chuyện tình của ngườimẹ.Đến người chồng thứ tư là thiên tình sử lâm ly nhất “ người dàn bà tuổi hồixuân sáng đi bơi chiều đi đánh cầu lông” Cuộc đối thoại trong cả câu chuyệntình này diễn ra khá nhiều so với các câu chuyện tình trước.Không đơn giản chỉ
là lời dẫn,lời kể của tác giả nữa,xen giữa các câu chuyện là lời của nhân vật
Nàng tới hồ bơi gặp được đối tượng có thể tiến tới,và nàng pha trò khithấy một bà đồ sộ ngót nghét chín chục cân đang khởi động.Và đoạn đối thoạicủa người mẹ với chú huấn luyện viên bơi lội diễn ra rất tự nhiên nhanh
Trang 30chóng,đối thoại được dẫn dắt khéo léo bởi tác giả biết cách đan xen vào nhữnglời dẫn đúng lúc đúng chỗ.
_ Cô vừa nói chuyện gì với thằng kia?
Đã đề phòng mà vẫn bị bất ngờ.Một luồng sóng từ phía bà Chín Yến tạt sang dềnh lên quá mũi nàng.Tí nữa thì chết sặc.
_ Chuyện vui thôi ạ.
Nàng bao giờ cũng dịu dàng.
_Cô đi bơi hay đi nói chuyện vui?
_ Vừa bơi vừa nói chuyện thì càng tốt ạ”.(3;78,79)
Cuộc đối thoại giữa các nhân vật như những lời nói hàng ngày,không sâuxa,không triết lí,thậm chí còn hài hước nhẹ nhàng.Một câu chuyện tầm phàonhưng lại mở đầu cho cuộc tình duyên lần thứ tư của “người mẹ”.Câu văn thụtthò,dài ngắn,có chủ đích.Chuyện tình yêu,chuyện một mối tình cũng chỉ từ vàilời bỡn cợt vài câu chuyện tầm phào như thế,những gì tưởng chừng không thểxảy ra lại xảy ra như không hề có bất cứ lý do nào cả.Lời dẫn của tác giả trongcuộc đối thoại ngắn gọn,để giới thiệu luân phiên lượt lời cũng như giới thiệutừng nhân vật xuất hiện để đối thoại
Trang 31Câu chuyện đang miên man về các chuyện tình của người mẹ đột ngộtquay trở về mối tình của nàng Mơ Khô,mười sáu năm sau gặp lại họ mới traothân cho nhau trong tình huống hết sức éo le.
Ví dụ 3:
“_ Ôi,đến bằng tuổi này rồi,em vẫn dại.
Chị lao vào anh.Chị nói như nhận ra mình vô duyên từ nãy đến giờ.
_Anh chờ như thế này cả mười sáu năm rồi.Anh chờ được mà.
Nói là chờ được mà anh cuống cả lên”(7,119).
Chuyện tình trái ngang trái của đôi trai gái từng yêu thời còn trẻ,rồi chiatay,ai cũng lập gia đình.Sau hơn mười năm tình cũ không rủ cũng về,gặp lạinhau và tình cờ bị nhốt trong một căn hộ trên tầng sáu suốt mười một ngàyđêm.Từ tình huống trớ trêu này,Hồ Anh Thái sáng tạo một đời cười đầy tính tràolộng mà chua xót và để lại nhiều suy ngẫm cho độc giả khi gấp sách lại.Tâm sựcủa đôi tình nhân là sự khai triển mạch truyện diễn ra bên ngoài cánh cửa căn hộ
bị khóa kín.Từ lời đối thoại của đôi tình nhân đã hé mở ra câu chuyện về mườisáu năm về trước “Chị lao vào anh.Chị nói như nhận ra mình vô duyên từ nãyđến giờ”,lời dẫn Hồ Anh Thái đưa ra đã diễn tả hết tâm trạng cuống cuồng bốirối của chàng trai,sự hồi hộp của một mối tình dang dở chờ đợi bấy lâu nay
Xuất hiện đan xen trong câu chuyện đó là những đoạn đối thoại khôngđầu không cuối nhưng lại có chút ngậm ngùi,cười nhạt
Cái độc đáo của việc đưa đối thoại của nhân vật vào trang văn vừa lột tảđược nét riêng của nhân vật,vừa như nhại giọng để giễu nhân vật.Nhà văn đãthật khôn khéo trong việc thể hiện ý đồ nhân vật của mình.Vị thế của nhân vậtcũng qui định cách nói năng giao tiếp.Đây là giọng của ông Víp,cái giọng trịnhthượng,quyền uy,bề trên
Ví dụ 4:
“ -Đề nghị bác cài cúc quần nghiêm chỉnh trước khi ký.
- Cô nói chi?
-Cô nói chi?
Trang 32- Xin đừng nói nữa mà hãy hành động.
- Gíao sư hãy gài cúc quần vào đã.
- Bây giờ giáo sư hãy ký vào.”(19,266)
Tưởng chừng giáo sư là những người học thức cao rộng,nghiêm chỉnh đứngđắn,những con người được trọng vọng trong xã hội vậy mà “Quên không gài cúcquần” khi giao tiếp.Thật là một sự lố bịch không tưởng.Đoạn đối thoại không có lờidẫn của tác giả,tạo âm điệu khẩn trương,ngắn gọn,xúc tích,nhanh chóng
Đôi khi có những hiện tượng lặp lại đọc qua cứ ngỡ nhà văn viết một cách
“vô tư”, nhưng đọc đi đọc lại cứ thấy "cồm cộm" "vương vướng", thấy không hềbình thường Trường hợp nhà văn thuật lại lời chuyện trò của các vị phu nhânthứ trưởng, bộ trưởng là trường hợp như vậy:
Ví dụ 5 :
“- A lô chị ơi, chị thấy thế nào?
- A lô cô ơi, nó đặt vấn đề vậy là khó cho cô đấy Cô còn phải để yên cho chồng cô làm việc nữa chứ.
- A lô chị ơi, em cũng thấy thế, cho nên em mới phải hỏi ý kiến chị.
- A lô cô ơi, …” (1,195)
Những câu thoại của nhân vật được thuật lại luôn xuất hiện cụm từ “a lôchị (cô) ơi”, trong khi đó văn phong của Hồ Anh Thái nói chung rất gọn gàng,lượng thông tin được chứa đựng trong một dung lượng ngôn từ nén chặt, không
lẽ nào nhà văn lại kề cà như vậy Lời thoại của nhân vật có khi thể hiện bản chất,
có khi thể hiện cách nghĩ, thể hiện lập trường và có khi để thể hiện một phongcách sống Những lời thoại trên với những ngôn từ lặp đi lặp lại khiến thời giannhư giãn ra, chậm rãi, ê a, gợi cảm giác những con người này đang buôn chuyệncho hết thời gian (mà ngôn ngữ đời thường vẫn gọi đùa là “buôn dưa lê”) Cáicách đối đáp ấy không mang vẻ sang trọng quý phái tương xứng với tầm cỡ các
vị phu nhân bộ trưởng thứ trưởng, mà nó có vẻ quê kệch, dề dà Không chỉ vậy,việc đại sự được họ bàn đến cứ như là chuyện vặt vãnh, như là nói chơi trongnhững câu chuyện muôn thuở hàng ngày Họ thể hiện rõ là những vị phu nhân
Trang 33“ngồi mát ăn bát vàng” thong dong hưởng đặc quyền đặc lợi từ chức tước củacác đức ông chồng Chỉ bằng một “kỹ xảo” nhỏ, nhà văn đã cho thấy cái “lệchchuẩn” của các vị phu nhân, những con người có vị thế cao sang, quyền quýnhưng vẫn không sao phủ lấp được cái nét quê kiểng trong phong cách, tronggiao tiếp hàng ngày.
Hay như cuộc đối thoại giữ thằng bé 15 tuổi với giọng ngang tàng ra vẻđàn ông :
Ví dụ 6:
“ Đàn ông thời nay tốn lắm chú ơi” , “ Cháu sẽ trình chú cái moobai mới.Hôm qua đứng chơi bờ hồ ,thấy cụ rùa chĩa đầu lên mà không chụp được.Bỉ mặt trước bạn bè quá”.
Có những đoạn đối thoại sử dụng câu đặc biệt nối tiếp nhau vừa là để kểlại,tả lại sự kiện,vừa để nêu hệ quả của sự kiện.Qua đó để người đọc tự đánh giá
về tư cách nhân vật :
Ví dụ 7:
“ _ Nàng đờ người ra.Không hiểu.Không dám.
_ Tát đi.(5,94)
Người đàn ông có bộ mặt cười thu hết lực tàn ra lệnh một lần nữa.
Thì tát.Tạnh.Tạnh ngay.Nhà hát lại tở nên im phăng phắc.”
Trong những cuộc đối thoại, nhiều khi những lời nói dung tục được
xướng lên như một thói quen: "Tám giờ kém năm có hồi âm đầu tiên Tao deo
hieu may noi gi tao dang này: "Nó bảo sốt sốt cái gì? Thịt chó không chấm sốt,
đồ ngu" "Nó bảo sai sai cái gì Hợp đồng sai thì bố đứa nào dám ký Thôi thì mày
ký đi Điên à, nhỡ nó ghi tao nợ nó một triệu đô la tao cũng ký à’,tiếp theo đó là suy nghĩ bực bội của người nhận được tin nhắn: "Có chó mới hiểu thằng đầu đất này viết gì" (1,31).
Cuộc đàm đạo ký hợp đồng tranh với ông chủ gelơry người Tây diễn ratrong sự bất đồng ngôn ngữ nó thành ra thế nội việt gian phản động diễn biến
Trang 34hòa bình thì sao “Thôi đợi lão họa sỹ cởi mở về Mà lão biến đâu nhanh thế
nhỉ." (1,42).
Có cái gì sường sượng, vương vướng khi nghe cách đối đáp của nhữngnhân vật này Nét văn hoá đã bị mờ hẳn, khuất hẳn, phô trương không một chútngại ngần là những phát ngôn đầy lố bịch và dung tục đã thành thói quen củakhông ít những con người thời nay, đặc biệt là giới trẻ Rõ ràng ngôn ngữ ở đây
có tính chất miêu tả đối tượng, qua cách đối đáp của những nhân vật này đã chothấy một trong những điều đáng lo ngại của xã hội hiện đại đó là cách ứng xửcủa con người dường như đang mất dần đi nét đẹp văn hóa vốn có
Trong chuyến đi “khảo sát du lịch” của ba người (người đàn ông, cô nhântình và cô Mơ Khô) thì họ bắt gặp những kiểu dịch vụ “độc đáo’’ đó là
‘‘karaôkê ở đây chỉ cho hát dân ca quan họ Bắc Ninh” Được đặt trong nhữnghoàn cảnh, tình huống khác nhau, bản chất của con người, của sự việc được bộc
lộ rõ nhiều khi qua chính các hình thức đối thoại “Anh chàng hát hay, ra cái vẻ
quan họ cũng luyến láy vang rền nền nảy Đàn ông đàn anh rất ra dáng, nhưng
hát ra đúng chất quan họ thì cứ lẳng lơ lúng liếng Chỉ có quan họ mới làm anh
chàng lột trần cái tính ấy” Việc lặp lại từ “quan họ” làm bật ra nhiều ngụ ý,quan họ đâu còn cái vẻ duyên dáng đằm thắm tình tứ, quan họ là để phơi bàybản chất trai lơ Cũng đúng thôi, quan họ là truyền thống văn hóa, phải được thểhiện ở không gian văn hóa nên thơ và thanh tao, ở đây lại được thể hiện trongphòng karaôkê, có tiếp viên phục vụ, mời chào nhốn nháo Vậy mà ông chủ của
cái quán này vẫn có thể khua môi múa mép: “Tôi là trai quan họ Yêu quan họ
nên mở cái quán trang trại này làm nơi quảng bá cho quê hương Ông ta đề nghị mang quan họ đến ngay phục vụ cho các thực khách” “Ông dược sỹ quan
họ quay trở lại Dắt theo ba cô khăn mỏ quạ áo tứ thân cùng sênh phách … Chính là ba cô trong số mấy cô đón khách cổng trang trại Lúc nãy áo hai dây
hở rốn hở lưng Bây giờ thay sang bộ ngày xưa nền nã e ấp” Cái kiểu kinh
doanh thực dụng “vải thưa” đòi “che mắt thánh” ấy lại được nhấn mạnh hơn,châm biếm sâu sắc hơn khi một lần nữa Hồ Anh Thái lại tiếp tục để nhân vật cất
lời: “Tôi là trai quan họ Tôi mở quán này đưa các cháu có thanh có sắc về đây
Trang 35rèn giũa giọng ca Tất cả vì văn hoá quê hương Tôi trong sạch Tôi không vụ lợi Các anh các chị nếu có lòng yêu quan họ, xin cứ gọi điện, sau ba mươi phút các cháu sẽ đến, phục vụ quan họ ngay tại nhà Phục vụ bất cứ ai có nhu cầu Phục vụ ngay cả chốn rượu thịt như thế mà vẫn xưng xưng vì văn hoá quê hương Thực khách mồm mép bóng mỡ sực nức mắm tôm thịt chó có đi quá đà cầm tay cầm chân từ A đến Z thì quan họ bảo sao?”
Không cần bình luận nhiều, chỉ bằng cách lặp đi lặp lại vấn đề cùng vớichút giọng giễu nhại, bản chất sự việc, hiện tượng đã được Hồ Anh Thái phơibày một cách trực diện “Vì văn hóa quê hương” chỉ là một tấm lá chắn, mộtmưu chước kinh doanh Chính những con người này đã phá hủy thuần phong
mỹ tục, phá hủy nét đẹp truyền thống dân tộc Điệp từ “quan họ”, “phục vụ” tự
nó đã hàm ý chế giễu kẻ phát ngôn ra nó, nó như một điểm nhấn tạo sự chú ý đểngười đọc phân tích, cảm hiểu Việc lặp lại nhiều lần một từ trong phát ngôn củanhân vật nó đồng nghĩa với lời tự thú, đúng như nhân vật đã tự lật tẩy mình theokiểu “thanh minh là thú tội”:
Ví dụ 8 :
“Tôi trong sạch Tôi không vụ lợi”.
Chen ra khỏi hội,cô nói đùa.
_Đúng là phá hoại thật.
Anh trở nên trầm ngâm.
_ Nhưng đám người đang tự xưng là vì quê hương kia thì sao?
Một lát sau anh nói như tự vấn”.(9,138).
Lời thoại của nhân vật đang trong không khí vui vẻ,trêu đùa nhưng lại trởnên trầm ngâm đầy sự suy ngẫm,qua lời dẫn của tác giả đã thể hiện rõ nét điều đó
Nét đẹp truyền thống của hội Lim đã mất đi,thay vào đó là những thứkệch cỡm của thời mở cửa,điều đó khiến cho trái Anh vứt trả cái khăn đóng bămbăm lao xuống.Mấy chú choai choai sướng quá lao lên hát tiếp mấy bàitây.Được đà
Trang 36Trong trái tim của những người còn sót lại những lưu luyến với kỉ niệmthời thơ ấu lại nhức nhối.Đó cũng chính là lí do nhân vật anh lại muốn chọc phá
lễ hội,muốn cười nhạo trên những trò lố bịch của chúng
Có nhiều trường hợp Hồ Anh Thái không ngại ngần phô bày trực diệnnhững sự việc liên quan đến lối sống vượt ngưỡng của một bộ phận con ngườithời hiện đại với lối diễn đạt suồng sã,bởi bản thân sự việc đó,những con người
đó cũng không cần đến những lời xa xôi ,bóng gió,tế nhị ,những kiểu đối thoạirất ngắn,rất nhanh
Việc làm mới những cách diễn tả quen thuộc là một thành công của Hồ AnhThái trong Mười lẻ một đêm.Đời sống nhiều bình diện,sự soi chiếu cũng đượcxem xét ở nhiều góc độ,với vốn sống phong phú và sự am hiểu sâu sắc muôn mặtđời sống,sự am hiểu các lĩnh vực,ngành nghề,Hồ Anh Thái đã tìm đến cách diễnđạt tự nhiên thông qua các cuộc đối thoại Qua đó đối tượng được nói đến trong tácphẩm rất phong phú.Đó là con người với hình dáng,tính cách,tư thế ,phong cách,ngôn ngữ, cử chỉ, lối sống, tâm trạng…đó là đời sống xã hội được trải ra trên nhiềubình diện từ những cái cụ thể đến những căn tính của xã hội.Hồ Anh Thái đã cábiệt hóa những điều được mô tả bằng cách riêng của mình thông qua các hình thứcxây dựng cuộc đối thoại với những sáng tạo mới mẻ
Sử dụng các hình thức đối thoại khác nhau cho thấy tài năng của Hồ Anhthái trong việc linh hoạt điêu luyện nghệ thuật tạo dựng đối thoại giữa nhân vậtvới nhân vật,làm cho câu chuyện trở nên sinh động,hấp dẫn và cuốn hút ngườiđọc hơn.Ông đã lắp ghép những mảng khác nhau của hiện thực cuộc sống,đưaquá khứ đan xen với hiện tại,đặt không gian thực bên cạnh không gian tâmtưởng ,đưa nhân vật của cuộc thoại này về tồn tại bên cạnh những nhân vật củacuộc thoại khác.Nhờ đó mà cuộc thoại của ông thường phức điệu,đa âm.Có luc
sử dụng lời dẫn để câu chuyện theo một lối trật tự người đọc dễ dàng thâm nhậpvào câu chuyện,cũng có khi đối thoại chỉ xoay quanh nhân vật,chất vấn giả đápkhông hề có sự can thiệp của tác giả để thấy sự biến dổi hết sức linh hoạt trongtài năng xây dựng đối thoại của Hồ Anh Thái
Trang 372.2 Đối thoại giả độc thoại thiếu dấu hiệu nhận biết
Đối thoại giả độc thoại xuất hiện ở hình thức ngôn ngữ là độc thoại nhưngbản chất là đối thoại,nói cách khác là nội dung cuộc đối thoại hướng vào bêntrong một trong các chủ thể phát ngôn.Có thể nói,đối thoại giả độc thoại là đốithoại đơn phương ai đó khi tách ra khỏi hoàn cảnh giao tiếp chung,tự nóichuyện với chính mình.Trong quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy trong kiểuđối thoại giả độc thoại có hai hình thức chủ yếu là đối thoại giả độc thoại có dấuhiểu hỏi(dấu hỏi chấm đặt ở cuối câu) và đối thoại giả độc thoại không có dấuhiệu nhận biết,viết liền nhau như đoạn thoại bình thường
Bảng thống kê tần suất xuất hiện lời đối thoại giả độc thoại
Ví dụ 2: Chị rất muốn hỏi anh tamột số điều vướng mắc trong đầusuốt một năm qua.Ngày ấy anh ta
bỏ đi đâu? Bao nhiêu ngày sau thìvề?Chị muốn biết sau bảy đêmtám ngày mà mình không thoát rađược thì sẽ phải ngồi trong ấy baolâu anh ta mới trở về? Bao lâu?
4/22 Ví dụ 1: Mẹ đi đi.Con ứ ăn bánh
khúc,con ứ ăn bánh trôi bánhchay
-Nhưng mẹ làm sao đi một mìnhđược.Đi một mình mẹ cũng sợ
18,2%
Trang 38Ví dụ 2: Ô mày đấy à.Tao ra sânbay về Sài Gòn làm cái sắp đặtcho lũ bạn,bọn này cũng không cóđầu luôn,mày viết giúp tao cái lờigiới thiệu đi,bay với tao luôn,lênmáy bay ngồi mà viết(,44)
Từ bảng thống kê trên chúng tôi nhân thấy, đối thoại giả độc thoại là nhữngcuộc thoại xuất hiện người nói một và người nói hai nhưng người nói hai không
có lượt lời đáp lại hoặc chỉ đáp lại bằng hành động phi ngôn ngữ.Cuộc thoại đótrở thành cuộc thoại không đầy đủ(Cuộc thoại hẫng).Phát ngôn đáp của củangười nói hai bị lược bỏ và hay thế bởi lời người kể chuyện(lời thoại ẩn trong lờikể)(45,71).Mặc dù mang tính chất của độc thoại nhưng chúng tôi vẫn xếp hiệntượng trên vào đối thoại bởi những lí do sau:
Thứ nhất,cuộc thoại có thể thiếu vắng lời đáp tường minh của người nóihai nhưng vẫn tồn tại lời dáp hàm ẩn trong các hành động phi ngôn ngữ hoặc lờicủa người kể chuyện.Cuộc thoại do đó,vẫn có xu hướng tiến đến là một cuộcthoại đích thực với đầy đủ các nhân tố giao tiếp
Thứ hai,người nói hai nhiều khi có thể không phải là một ngừoi mà sốđông có mặt hoặc vắng mặt nhưng vì không tham gia vào sự luân phiên lượt lờinên chúng tôi hiểu toàn bộ số đông đó là ngừoi nói hai ngầm ẩn.Do đó,nó vẫn làsong thoại chứ không phải là đa thoại
Kiểu đối thoại này chiếm tỉ lệ lớn trong tiểu thuyết Mười lẻ một đêm của
hồ Anh Thái,chỉ sau đối thoại thuần túy Những cuộc đối thoại chỉ có một thamthoại,hoặc kết thúc bằng những câu hỏi không có lời đáp,hoặc lời đáp lẫn vàotrong lời ngừoi kể chuyện là một kiểu đối thoại đặc trưng của tiểu thuyết Hồ AnhThái.Rất nhiều cuộc thoại kết thúc lại bằng câu hỏi của tác giả hàm ẩn lẫn vàonhân vật với những trăn trở băn khoăn về cuộc đời mà không có sự đáp lại
Ví dụ 1:
“Chị làm sao sửa sang được cái tính tham ăn của giáo sư một,chiêu đãi tiệc tùng nào cũng có mặt bốc hải,bốc hải xong thì răng giắt đầy lá hành ra
Trang 39cười nói bô lô? Làm sao sửa được cái háo danh làm thơ viết nhạc tung tóe của giáo sư hai,cả hai tính thích sờ hiện vật của giáo sư hai nữa?
Thực tế hơn.Nhưng thực tế hơn có phải là bằng lòng với thế giới sẵn có?
và chấp nhận”(19,218)
Câu hỏi vừa là sự băn khoăn của nhân vật thể hiện trạng thái nhận thứckhắc khoải của con người về giá trị của cuộc sống,vừa là những vấn đề muônthủa mà bạn đọc không thể không suy tư.Qua các câu hỏi không lời đáp ,tác giảđặt ra cho người đọc những bài toán khó trong việc tìm ra những giá trị cuộcđời.Chắc chắn sẽ không có câu trả lời nào đầy đủ,hoàn toàn có lý và đáp ứng trọnvẹn những điều đặt ra.Chân lý thuộc về người đọc.Những câu hỏi như thế gópphần vào việc dân chủ hóa đối thoại,đồng thời là một cách để tạo nên những cánhcửa mở ,không có câu trả lời,tạo dư âm vang vọng và nỗi ám ảnh lâu dài tronglòng người đọc
Ví dụ 2:
“Mẹ đi đi.Con ứ ăn bánh khúc,con ứ ăn bánh trôi bánh chay.
-Nhưng mẹ làm sao đi một mình được.Đi một mình mẹ cũng sợ.(10,171)”
Tác giả xây dựng cuộc đối thoại trên tinh thần độc thoại,hình như đóchính là những suy nghĩ trong tâm can người mẹ thôi,lôi con ra chỉ là cái cớ đểthực hiện mục đích của mình Nhân vật Bà mẹ cũng đậm chất nghịch dị,ngay cảvới đứa con gái bé bỏng của mình cũng phải tham gia vào công cuộc đi tìm đànông của bà Cái dâm của người đàn bà này được mở rộng tới mức quá khổ trênvăn bản Qua năm lần đò và vô vàn những cuộc phiêu lưu tình ái - tất cả đều
diễn ra trước cặp mắt của đứa con gái, "con bé phải chứng kiến tất cả các thể
loại đàn ông của mẹ" - Bà mẹ quả là mẫu người ham hố nhục dục đến mức vô độ
và vô sỉ "Về làm gì, ở lại đây ngủ cho vui" - đó là câu nói được bà mẹ lặp đi lặp
lại với từng đối tác mới trong thú vui xác thịt triền miên vô tận Cũng có thể coi
đó như một dấu hiệu cá biệt hoá nhân vật, giống câu "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi"của cụ Cố Hồng trong văn Vũ Trọng Phụng Nhẹ dạ, nông nổi, nhiều lầm lạc,con thiêu thân trong lò lửa đam mê - không ít lần tác giả làm người đọc ngỡtưởng như vậy về nhân vật Bà mẹ - nhưng tất cả ấn tượng ấy phải được xét lại
Trang 40trước một thực tế thế này: "Năm lần lấy chồng, năm lần li dị, mỗi lần li dị được
một cái nhà Chồng đầu tiên được một cái nhà để xe Chồng thứ hai được chia đôi căn phòng 26m2 Chồng thứ ba căn hộ tập thể tầng hai Chồng thứ tư được 9m2 phố cổ Chồng thứ năm khá nhất, giáo sư viện trưởng, căn hộ chung cư chất lượng cao" Việc nâng dần cấp độ đền bù sau mỗi lần li hôn như vậy là một
cách phóng đại cho cái tham của Bà mẹ Để rồi, người đọc không khỏi bật cườitrước sự tổng kết của cô con gái:
Ví dụ 3:
"Mẹ ngửi thấy mùi đàn ông và mùi đất đều chén được"!
“Có lý do gì để nhà văn hóa lớn không đái ở chỗ nào khác mà chọn đúng cái tượng đài này.Không gian thoáng hơn.Mát hơn.người qua kẻ lại đông hơn biết là ông đứng đái.Ông muốn có đông công chúng tứ c là ông cần tạo xì căng đan tai tiếng? Cũng có khi ông chẳng nghĩ gì.(261)”
Nhà văn hoá tiểu tiện vào công trình văn hoá, sự tương phản giữa cái "nóphải là" và cái "nó thực sự là" chính là một tình huống kiểu mẫu để bộc lộ cáihài Chỉ có điều, cái "nó thực sự là" ở ông giáo sư Một, nhà văn hoá lớn, đã vượtngưỡng phản văn hoá )” Và đặc biệt là việc ông "tè bậy" vào chân nhóm tượngđài công nông binh - một công trình văn hoá - đều đều ngày hai lần, và bao giờcũng khoan khoái, thoả mãn!”Khai thác triệt để sự vượt ngưỡng này qua cáchành vi ăn uống, tiêu hoá - vốn liên quan đến phần dưới cơ thể, phần được coi làthô, nặng, đục, uế tạp - của nhân vật, tác giả đã cho ta một hình ảnh đầy chấtnghịch dị và trăn trở giữa cuộc sống còn nhiều bộn bề ngày nay
Hồ Anh Thái đã đảm bảo sự chân thật,lôi cuốn trong cách chyển tải ýtưởng của mình,thể hiện sự thâm nhập,thấu hiểu đối với từng vùng đất,từng đốitượng con người và diễn tả những điều đó một cách tinh tế,sâu sắc
Trong những cuộc đối thoại bình thường , tác giả cũng lồng những từphiên âm nước ngoài trong lời nói hàng ngày trở nên phổ biến: Đó là cái okêkhông cần suy nghĩ của họa sỹ Trồng Chuối khi bạn có ý định mượn căn
hộ Cách ví von lấy vần làm chính trở nên phổ biến :