1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CUỘC gặp gỡ kì lạ” ở BÍCH câu từ TRUYỆN TRUYỀN kì đến TRUYỆN nôm

139 408 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 835 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bích Câu kỳ ngộ kí được các nhà nghiên cứu giới thiệu và quan tâm từ rất sớm Trong sách Tang thương ngẫu lục 1837, Phạm Đình Hổ giới thiệu về cuốn Bích Câu kỳ ngộ khi ông nhắc đến những

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

======***=======

NGUYỄN THỊ HOA

“CUéC GÆP Gì K× L¹” ë BÝCH C¢U

Tõ TRUYÖN TRUYÒN K× §ÕN TRUYÖN N¤M

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

======***=====

NGUYỄN THỊ HOA

“CUéC GÆP Gì K× L¹” ë BÝCH C¢U

Tõ TRUYÖN TRUYÒN K× §ÕN TRUYÖN N¤M

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam trung đại

Mã số : 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THANH TÙNG

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 11

4 Đóng góp của luậnvăn 11

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Cấu trúc luận văn 13

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÁC GIẢ, LỊCH SỬ VĂN BẢN VÀ THỂ LOẠI CỦA BÍCH CÂU KỲ NGỘ KÍ VÀ BÍCH CÂU KỲ NGỘ 14

1.1 Những vấn đề về tác giả Bích Câu kỳ ngộ kí và Bích Câu kỳ ngộ 14

1.1.1 Vấn đề tác giả Bích Câu kỳ ngộ kí 14

1.1.2 Vấn đề tác giả Bích Câu kỳ ngộ 19

1.2 Vấn đề văn bản 23

1.2.1 Vấn đề văn bản Bích Câu kỳ ngộ kí 23

1.2.2 Vấn đề văn bản Bích Câu kỳ ngộ 33

1.3 Thể loại 36

1.3.1 Bích Câu kỳ ngộ kí với thể loại truyện truyền kì Việt Nam trung đại 36 1.3.2 Bích Câu kỳ ngộ với thể loại truyện Nôm 40

Tiểu kết chương 1 44

Chương 2: SỰ KẾ THỪA VÀ THAY ĐỔI VỀ NGHỆ THUẬT TỪ BÍCH CÂU KỲ NGỘ KÍ ĐẾN BÍCH CÂU KỲ NGỘ 45

2.1 Sự kế thừa và thay đổi kết cấu và cốt truyện từ Bích Câu kỳ ngộ kí đến Bích Câu kỳ ngộ 45

2.1.1 Sự kế thừa 45

2.1.2 Sự biến đổi 48

Trang 5

2.2 Sự kế thừa và thay đổi trong nghệ thuật xây dựng nhân vật từ Bích

Câu kỳ ngộ kí đến Bích Câu kỳ ngộ 62

2.2.1 Sự kế thừa 62

2.2.2.Sự biến đổi 65

2.3 Sự kế thừa và thay đổi về ngôn ngữ nghệ thuật từ Bích Câu kỳ ngộ kí đến Bích Câu kỳ ngộ 84

2.3.1 Sự kế thừa 84

2.3.1 Những biến đổi cơ bản 88

* Tiểu kết chương 2 93

Chương 3: SỰ KẾ THỪA VÀ THAY ĐỔI NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TỪ BÍCH CÂU KỲ NGỘ KÍ ĐẾN BÍCH CÂU KỲ NGỘ 94

3.1 Tương quan tam giáo từ Bích Câu kỳ ngộ kí đến Bích Câu kỳ ngộ 94

3.1.1 Điểm chung trong tư tưởng của hai tác phẩm 94

3.1.2 Những biến đổi tương quan tam giáo từ truyện truyền kì đến truyện Nôm 99

3.2 Tư tưởng nhân văn từ Bích Câu kỳ ngộ kí đến Bích Câu kỳ ngộ 103

3.2.1 Khát vọng về tình yêu tự do 103

3.2.2 Tương quan về giới 111

3 3 Tư tưởng phê phán hiện thực từ Bích Câu kỳ ngộ kí đến Bích Câu kỳ ngộ 117

3.3.1 Sự kế thừa 117

3.3.2 Sự biến đổi 120

* Tiểu kết chương 3 125

KẾT LUẬN 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài.

1.1 Văn học thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX có vị trí đặc biệt quan trọngtrong tiến trình lịch sử văn học dân tộc Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ, kết tinhthành tựu tám thể kỉ của văn học Việt Nam trung đại và mở ra một thời kì phát triểnmới, hết sức thịnh vượng trong đời sống văn hóa, văn học Đáng chú ý hơn, đâycũng là thời điểm chứng kiến sự ra đời của những tác phẩm mang ý nghĩa nhân vănrất lớn, khẳng định khát vọng của con người về tự do, tình yêu, sự công bằng thoát

khỏi những ràng buộc hà khắc của lễ giáo phong kiến Bích Câu kỳ ngộ kí của Đặng Trần Côn và Bích Câu kỳ ngộ của Vũ Quốc Trân là những tác phẩm thể hiện sâu sắc

nôi dung đó Việc tìm hiểu hai tác phẩm thực sự là một việc làm có ý nghĩa và cósức hấp dẫn đối với người viết, giúp chúng ta hiểu rõ và đánh giá chính xác hơnnhững thành tựu của giai đoạn văn học sôi động này

1.2 Truyện truyền kì và truyện thơ Nôm đến thời điểm này cũng đạt đượcnhững thành tựu khá rực rỡ Các tác giả truyện truyền kì thường mượn các tíchtruyện dân gian để viết nên tác phẩm của mình Trong khi đó, truyện Nôm lạithường diễn lại tích truyện truyền kì, truyện chí quái, hay những câu chuyện có thật

từ đời sống Có những sáng tác sau khi được viết lại như thế đã đạt đến thành công

xuất sắc, xóa mờ kí ức về di sản như trường hợp tác phẩm Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Nghiên cứu đề tài Cuộc gặp gỡ kì lạ ở Bích Câu” từ truyện truyền

kì đến truyện Nôm, chúng tôi mong muốn đem đến cho bạn đọc một cái nhìn thấu

đáo hơn về quy luật hình thành, phát triển của hai thể loại trên, và sự tương tác giữahai thể loại trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc

1.3 Trên thực tế truyện truyền kì và truyện Nôm đã có nhiều tác phẩm đượcđưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông và Đại học, Cao đẳng Ở phổ thông có

các tác phẩm như: Chuyện người con gái Nam Xương, Chuyện chức phán sự đền

Tản Viên của Nguyễn Dữ và Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Việc nghiên

cứu Bích Câu kỳ ngộ kí và truyện Bích Câu kỳ ngộ sẽ góp phần bổ trợ kiến thức cho

giáo viên dạy ở phổ thông để đối chiếu, so sánh với các tác phẩm cùng thể loại Đốivới các trường Đại học, Cao đẳng, đề tài cũng rất hữu ích cho quá trình, nghiên cứu,học tập của sinh viên, học viên

Trang 7

Bích Câu kỳ ngộ kí và Bích Câu kỳ ngộ là những truyện độc đáo bởi nó vừa có

giá trị văn học vừa có ý nghĩa văn hoá sâu sắc (đặc biệt là về triết học, tôn giáo: tưtưởng Tam giáo, tín ngưỡng dân gian…) Không những vậy, hai tác phẩm còn gắnvới địa chỉ văn hóa lịch sử Thăng Long như đền Bích Câu ở phố Cát Linh, Hà Nộingày nay Rất nhiều địa danh khác được nhắc đến trong hai truyện như gò KimQuy, sông Tô Lịch, chùa Bà Ngô… đến giờ vẫn còn nguyên dấu tích Việc nghiêncứu văn học trong mối quan hệ so sánh hai tác phẩm có cùng cốt truyện ở hai thểloại và thời điểm ra đời khác nhau sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hiện tượng vănhóa kì thú này Đồng thời, giúp cho chúng ta có một cái nhìn đúng đắn về truyền

thống, tín ngưỡng văn hoá, tư tưởng thời điểm ra đời truyện Bích Câu kỳ ngộ kí và

Bích Câu kỳ ngộ ở Việt Nam.

2 Lịch sử vấn đề.

2.1 Lịch sử nghiên cứu Bích Câu kỳ ngộ kí.

Bích Câu kỳ ngộ kí được các nhà nghiên cứu giới thiệu và quan tâm từ rất sớm

Trong sách Tang thương ngẫu lục (1837), Phạm Đình Hổ giới thiệu về cuốn Bích

Câu kỳ ngộ khi ông nhắc đến những sáng tác của Đặng Trần Côn: “Ông có tập tiểu

thuyết Bích Câu kỳ ngộ lưu hành ở đời” [24; 162] Ý kiến này đã được nhiều nhà

nghiên cứu coi như cơ sở tiền đề để xem xét vấn đề về tác giả của Bích Câu kỳ ngộ kí Năm 1840, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí (mục Văn tịch

chí) đã giới thiệu về Bích Câu kỳ ngộ kí trong phần chép tên sách của Đoàn Thị Điểm

là Tục truyền kỳ Phạn Huy Chú cho rằng: “Nữ học sĩ Nguyễn Thị Điểm soạn, chép

những chuyện kỳ ngộ như Bích Câu kỳ ngộ” [6] Trong tài liệu này, ông chép sáu

chuyện là: Vân Cát thần nữ, An Ấp liệt nữ, Bích Câu kỳ ngộ, Nghĩa khuyển khuất miêu,

Tùng bách thuyết thoại và Long hổ đấu kì Nhận xét về giá trị văn chương của Tục truyền kỳ (trong đó có Bích Câu Kỳ ngộ), học giả Phan Huy Chú cho rằng: “Lời văn

hoa lệ, nhưng khí cách yếu ớt, không bằng văn của Nguyễn Dữ” [6; 126]

Năm 1944, ông Trúc Khê Ngô Văn Triện trong bài Những tài liệu mới đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bảy, Nguyệt san, số 4 – Septembre có nói đến Bích Câu kỳ

ngộ kí Trong phần nói về tác giả của tác phẩm này, ông khẳng định mình đã từng

đọc cuốn Đoàn thị thực lục nhưng sách Tục truyền kỳ của bà Điểm không có nói gì đến chuyện sách Bích Câu kỳ ngộ kí Như vậy, theo ông Trúc khê Ngô văn Triện,

tác phẩm này chưa xác định được tác giả là ai

Trang 8

Năm 1945, ông Nguyễn Đỗ Mục giới thiệu cuốn Bích Câu kỳ ngộ dẫn giải, Phổ

thông bán nguyệt sang xuất bản Tuy nhiên, những nghiên cứu của ông Nguyễn Đỗ

mục về tác phẩm này nhìn chung khá sơ lược Trong phần giới thiệu Bích Câu kỳ ngộ

ông Nguyễn Đỗ Mục bày tỏ sự đồng tình với ông Trúc Khê Ngô Văn Triện, cho rằng

Bích Câu kỳ ngộ kí là tác phẩm khuyết danh Ông viết mình: “không dám cưỡng lời

ông Trúc Khê Xin theo ý kiến ông, cứ để khuyết danh là hơn cả” [11; 20]

Năm 1952, ông Thi Nham Đinh Gia Thuyết giới thiệu truyện Bích Câu kỳ ngộ

kí Bên cạnh đó ông cũng đoán định đây là tác phẩm của Đoàn Thị Điểm Nhưng

ông Thi Nham không đưa ra được bằng cớ sát thực về vấn đề này (dẫn theo Trần

Văn Giáp trong Bích Câu kỳ ngộ khảo thích, Nxb Văn Hóa 1958 )

Năm 1953, trong bài dẫn sách Chinh phụ ngâm bị khảo, ông Hoàng Xuân Hãn

có nhắc đến Bích Câu kỳ ngộ kí khi điểm đến các sáng tác của Đặng Trần Côn:

“Nay còn bản in sách Truyền kỳ tân phổ khắc in năm 1811, gồm ba truyện: Hảikhẩu linh từ, Vân Cát thần nữ, An Ấp liệt nữ có đề rõ: Văn Giang Hồng Hà nữ sĩlàm, và anh là Tuyết Am Đạm Như Phủ phê bình, và sau nối thêm ba truyện khác:Bích Câu kỳ ngộ, Tùng Bách huyết thoại và Long hổ đấu kì Nhưng ba truyện nàykhông chắc của Thị Điểm, và có lẽ là của Đặng Trần Côn” [16; 42] Tuy nhiên,

trong công trình nghiên cứu này, Bích Câu kỳ ngộ kí mới chỉ được tác giả giới thiệu

một cách khái quát chung chung, chưa có gì đáng kể

Năm 1956, trong cuốn Việt Nam thi giảng luận, Hà Như Chi giới thiệu bà Đoàn Thị Điểm là tác giả của Tục truyền kỳ, trong đó có các truyện: Hải khẩu linh

từ, Vân Cát thần nữ, An ấp liệt nữ, Hoành Sơn tiên cục, Nghĩa khuyển khuất miêu.

Như vậy, theo Hà Như Chi, Đoàn Thị Điểm không sáng tác Bích Câu kỳ ngộ kí trong Tục truyền kỳ.

Như vậy trong một khoàng thời gian khá dài, Bích Câu kỳ ngộ kí chỉ được giới

thiệu một cách khá chung chung trong các tuyển tập, hoặc các sáng tác của các tác

giả Đặng Trần Côn hoặc Đoàn Thị Điểm Phải đến năm 1958, cuốn Bích Câu kỳ

ngộ khảo thích của Trần Văn Giáp ra đời, chúng ta mới có được một công trình

nghiên cứu công phu về tác phẩm này Trần Văn Giáp cho rằng Đoàn Thị Điểm là

tác giả của Bích Câu kỳ ngộ kí Theo ông, đây là một áng văn thuần Việt Tác giả

không mượn truyện Trung Quốc, cũng không mô phỏng một tiểu thuyết ngoại quốcnào Nó chính là câu chuyện tiểu thuyết li kì, thần bí xảy ra trên đất nước Việt Nam

Trang 9

dưới thời Hồng Đức Những sự tích: nào sông Tô Lịch, gò Kim Quy, phố CầuĐông, hồ Cánh Phượng “Tên các di tích ấy đã đủ chứng thực một cách đích xác tính

chất dân tộc của truyện Bích Câu” [11; 10] Về nghệ thuật cảu tác phẩm, Trần Văn

Giáp cho rằng Đây là một tư liệu rất quan trọng giúp chúng tôi hoàn thiện côngtrình nghiên cứu của mình

Về sau, Trần Văn Giáp trong lời giới thiệu sách Bích Câu kỳ ngộ (Nxb Phổ

thông, 1958 ở Hà Nội) ông Trần Trần Văn Giáp lại một lần nữa giới thiệu tác phẩmnày với tư cách là một sáng tác của Đoàn Thị Điểm Năm 1962, Hoàng Hữu Yên

khi giới thiệu bản dịch Truyền kỳ tân phả (Nxb Giáo dục) cũng có nói đến Bích Câu

kỳ ngộ kí Ông Hoàng Hữu Yên đã theo lời giới thiệu của Phan Huy Chú cho rằng

Đoàn Thị Điểm là tác giả của tác phẩm này.

Năm 1964, trong cuốn Bích Câu kỳ ngộ (Nhà xuất bản Đại học Huế) Hoàng Xuân Hãn cũng đã có những nghiên cứu kĩ lưỡng hơn về 2 tác phẩm Bích Câu kỳ

ngộ kí và Bích Câu kỳ ngộ Riêng về Bích Câu kỳ ngộ kí, một lần nữa ông khẳng

định đây là sáng tác của Đặng Trần Côn và cho rằng: “lời văn Giáng Kiều khuyênchồng bỏ công danh phú quý và bài thơ vợ chồng ghi cuộc tình chung là tinh túycủa ý tưởng phản Nho ở Đặng Trần Côn và biểu lộ thái độ duy sở thích của ông”[18; 538] Nói về nghệ thuật của tác phẩm, Hoàng Xuân Hãn cho rằng: “Đến nhưgiá trị văn chương thì văn tự sự rõ ràng, hoa mỹ nhưng không cầu kỳ Trái lại, cácvân văn đều chứng tỏ tài học rọng, nhớ sâu, dùng điển cố nhiều và khéo chọn;nhưng cũng vì vậy mà đối với ta ngày nay văn trở thành khó hiểu và mất vẻ hồnnhiên” [18; 538]

Năm 1977, trên Tạp chí văn học số 6, tác giả Bùi Văn Nguyên có bài Bà Điểm

nào trong hai bà Điểm, tương truyền có tham gia dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn cho rằng: Dịch giả diễn ngâm diễn ca cũng như tác quyền của Tục truyền kỳ chưa có đủ dữ liệu để khẳng định Như vậy, Tục truyền kỳ (trong đo

có Bích Câu kỳ ngộ kí) chưa xác định được tác giả là ai.

Đặng Thị Hảo và Nguyễn Đăng Na khi giới thiệu Bích Câu kỳ ngộ kí cho rằng đây là sáng tác của Đặng Trần Côn Trong mục từ Truyền kỳ tân phả của Từ điển

văn học (bộ mới) Đặng Thị Hảo cho rằng: năm Tân Mùi 1811, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm

đã qua đời Do đó, nhà xuất bản Lạc thiện Đường đã tự ý thêm vào một vài truyệncủa các tác giả khác, khiến cho tập sách không phải của một người Đồng ý với

Trang 10

quan điểm này, năm 1997, trong cuốn Truyện ngắn văn xuôi tự sự Việt Nam thời

trung đại (tập 1), Nguyễn Đăng Na cũng khẳng định Bích Câu kỳ ngộ kí trong Tục truyền kỳ là của Đặng Trần Côn.

Năm 2001, trong cuốn Truyền kỳ tân phả, Nxb Văn học Hà Nội, Phạm Văn

Thắm lại bày tỏ sự đồng tình với ông Phan Huy Chú và Trần Văn Giáp và khẳng

định: Truyền kỳ tân phả (trong đó có Bích Câu kỳ ngộ kí) là do Đoàn Thị Điểm biên soạn Ông Thắm còn giới thiệu cuốn Truyền kỳ tân phả do Ngô Lập Chi và Trần

Văn Giáp tuyển dịch để khẳng định ý kiến của mình

Năm 2003, trong khóa luận Sơ bộ khảo sát các trước tác của Đặng Trần Côn

trong kho sách Hán Nôm, Lê Tùng Lâm đã có những nghiên cứu sơ bộ về Bích Câu

kỳ ngộ kí Tác giả khẳng định Đặng Trần Côn chính là người sáng tác Bích Câu kỳ ngộ kí và nhận xét về tác phẩm: “Cuốn tiểu thuyết Bích Câu kỳ ngộ cũng là một

trường hợp thú vị Thời trung đại, thể văn xuôi tự sự vẫn chưa thực sự phát triển.Tiểu thuyết vốn không được cổ nhân trọng thị, chỉ được coi như loại “nhai đàmhạng ngữ” tầm thường nơi phố chợ (…) Đặng Trần Côn đã có những bướcthửnghiệm táo bạo về phương diện nghệ thuật Cuốn tiểu thuyết này có giá trị rấtcao về nhiều mặt (…) đưa người đọc thấm nhập vào một thế giới đầy mộng mơnhưng cũng không kém phần chân thực Tác phẩm phảng phất cả bóng hình tamgiáo Nho Phật Đạo xoắn xuýt vào nhau không thể tách rời, phản ánh một thời đạikhá phóng khoáng về tư tưởng Hồ Tây, gò Kim Quy, phường Bích Câu, sông Nhị

Hà - những danh lam thắng cảnh gắn liền với đất Hà Thành ngàn năm văn hiến lầnlượt xuất hiện, tiếp thêm sức sống cho câu chuyện” [36; 47-48] Năm 2011, trong

luận văn thạc sĩ Văn bản truyền kỳ tân phả và mối quan hệ với các thần tích, tác giả

này tiếp tục công bố những nghiên cứu có giá trị về Đặng Trần Côn và các tác phẩm

của ông trong đó có Bích Câu kỳ ngộ kí Đây là một trong những nguồn tư liệu quan

trọng giúp chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài của mình

Năm 2005, trong cuốn Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thi Điểm, tác giả Hoàng Hữu Yên căn cứ vào tác phẩm chính bằng Hán văn, nhan đề Truyền kỳ tân phả kí hiệu A.48 Thư viện khoa học nhà nước khẳng định: Bích Câu kỳ ngộ kí thuộc Truyền kỳ

tân phả của Đoàn Thị Điểm.

Năm 2010, trong bài Mối quan hệ giữa văn sĩ Thăng Long và văn sĩ Nghệ An

xưa: trường hợp Đặng Trần Côn với Phan Kính và Nguyễn Huy Oánh in trên tạp

Trang 11

chí Văn hóa Nghệ An, Nguyễn Thanh Tùng cũng nhận xét rằng phong cách sáng táccũng như con người Đặng Trần Côn thể hiện khá thống nhất trong các tác phẩm của

ông, trong đó có cả Bích Câu kỳ ngộ: “Đọc những bài văn Đặng viết có thể nhận ra

ngay kiểu văn “từ chương” đầy rẫy điển tích, điển cố, văn thi liệu Điều này cũngthống nhất với phong cách của Đặng trong sáng tác (Chinh phụ ngâm khúc, BíchCâu kỳ ngộ (?), v.v…)” “Đặng Trần Côn (…) tiêu biểu cho mẫu hình nhà Nho tài

tử, không thiếu tài năng, không thiếu sự cần cù, nhưng có quan niệm sống phóngtúng, phong lưu (…) Quả là, đương thời, những người như Đặng còn quá ít, hoặc có

nhưng “vô danh”, “nhỏ bé” trong lịch sử nên ít được ghi nhận, trừ Đặng đã vượt lên

được sự nghiệt ngã của lịch sử bằng văn chương tài tử, phóng túng khác người.Tính cách phóng túng, tài tử đó được thể hiện rõ trong các tác phẩm của Đặng TrầnCôn: các bài từ xướng họa với bạn bè, Chinh phụ ngâm khúc, Bích Câu kỳ ngộ (?),v.v…” [69; 32-36]

Năm 2010, Hoàng Minh Thùy trong luận văn thạc sĩ Nghiên cứu giá trị và nội

dung nghệ thuật của truyền kỳ tân phả cũng khẳng định Bích Câu kỳ ngộ không

phải là của Đoàn Thị Điểm Tuy nhiên trong luận văn này, vấn đề về Bích Câu kỳ

ngộ kí được khái quát một cách khá sơ lược.

Năm 2014, tác giả Phạm Thị Nga trong luận văn thạc sĩ mang tên Giá trị nội

dung và nghệ thuật truyện ngắn truyền kỳ Bích Câu kỳ ngộ đã tìm hiểu khá chi tiết

về những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Từ đó khẳng định giá trị tácphẩm là ca ngợi tình yêu tự do và đề cao phẩm chất con người với bút pháp nghệthuật đạt tới trình độ tinh vi

Ngoài ra, có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định Truyền kỳ tân phả là của Đoàn Thị Điểm nhưng không nhắc đến Bích Câu kỳ ngộ như trong chuyên khảo

Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam (1999) của Trần Đình Sử hay

trong cuốn Tác giả văn học, Thăng Long - Hà Nội, từ thế kỉ XI đến thế kỉ XX của

Phan Thị Thanh Nhàn Những công trình này, chúng tôi sử dụng làm tư liệu thamkhảo cho đề tài nghiên cứu của mình Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của

người đi trước, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Cuộc gặp gỡ kì là ở Bích

Câu” từ truyện truyền kì đến truyện Nôm.

Trang 12

2.2 Lịch sử nghiên cứu Bích Câu kỳ ngộ.

Các văn bản giới thiệu Bích Câu kỳ ngộ Nôm còn lưu lại cho đến nay thường

để trắng phần tác giả hoặc đề VÔ DANH THỊ cho nên, nhiều người cho rằng đây làtác phẩm khuyết danh

Năm 1945, ông Nguyễn Đỗ Mục trong cuốn Bích câu kỳ ngộ dẫn giải, Phổ

thông bán nguyệt san xuất bản năm 1945 cũng tỏ ra khá luyến tiếc vì không được

biết tác giả của Bích câu kỳ ngộ là ai Ông viết: “Còn bản chữ Nôm này, tiếc thay không biết tác giả là ai” [42; 5] Tuy nhiên, những khái quát của ông về Bích Câu

tận nơi để tìm hiểu Trần Văn Giáp cũng đánh giá khá cao các vấn đề nội dung vànghệ thuật của tác phẩm này Ông cho rằng các vấn đề về hiện thực xã hội thời như:lối sống xa hoa của tầng lớp quan lại, cuộc sống nghèo nàn, khốn khó của ngườidân, chế độ thi cử hà khắc, sự bế tắc của tầng lớp nho sĩ đều được tác giả phản ánh

trong tác phẩm Ngoài ra, Bích Câu kỳ ngộ còn phản ánh sự xâm nhập của các

ngành triết học ngoại lai từ Trung Quốc, Ấn Độ khiến cho văn học thời kỳ này cónhững nội dung vô cùng phong phú Khi đánh giá về nghệ thuật tác phẩm ông cho

rằng truyện Bích Câu kỳ ngộ viết theo thể lục bát có “lời văn nhẹ nhàng, điển tích hay, từ ngữ đúng” [11; 49] Ngoài ra, ông còn so sánh một số câu trong Bích Câu kỳ

ngộ với một số câu Kiều để thấy được sự ảnh hưởng của Kiều trong bản diễn Nôm

của Vũ Quốc Trân Đây có thể coi là công trình nghiên cứu về Bích Câu kỳ ngộ một

cách cụ thể, kỹ lưỡng đầu tiên

Năm 1963, tác giả Phạm Thế Ngũ trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước

tân biên tập II: Văn học lịch triều: Việt văn (Quốc học tùng thư xuất bản) đã giới

thiệu về các tác phẩm văn học dài đời Nguyễn Trong đó, ông có nhắc đến những

tác phẩm truyện Nôm như Mai Đình mộng kí và Bích Câu kỳ ngộ Riêng phần đánh

Trang 13

giá về Bích Câu kỳ ngộ tác giả cho rằng đây là: “một món quà thanh tao quý giá mà

tư tưởng Lão – Trang đã tặng cho quốc văn ta” [50; 390]

Năm 1964, công trình nghiên cứu mang tên Bích Câu kỳ ngộ, Nxb Đại học

Huế của Hoàng Xuân Hãn có thể coi là một trong những công trình nghiên cứu rấtcông phu về tác phẩm này tiếp theo sau công trình nghiên cứu của Trần Văn Giáp.Theo Hoàng Xuân Hãn, bản truyện Nôm có giá trị văn chương rất cao Ông viết:

“Kể về văn lục bát thì truyện Tú Uyên thuộc về văn điêu luyện bực nhất, nganghàng với Mai Đình mộng kí và Kim Vân Kiều”[18; 549]; “Truyện Tú Uyên quả làthuộc hàng văn cổ điển thanh cao Ta phải công nhận rằng diễn giả đã trau dồi câuvăn và không cẩu thả trong lúc chọn chữ, đặt câu, và không hề phạm những luật

thường trong thi pháp” [18; 544] Đây là một nguồn tài liệu rất quan trọng cho quá

trình nghiên cứu của chúng tôi

Năm 2004, tác giả Nguyễn Phương Chi trong Bích Câu kỳ ngộ (Từ điển văn

học bộ mới, nxb Thế giới,) cũng đã giới thiệu qua về giá trị nội dung và nghệ thuậtcủa tác phẩm này Tuy nhiên, những nhận định của tác giả mới chỉ mang tính kháilược về tác phẩm nhằm định hướng cho người đọc về một tác phẩm văn học đángđọc, nên đọc

Năm 2009, trong công trình Thi pháp cốt truyện - truyện thơ Nôm và truyện

Kiều, Nxb Đại học Sư phạm, Nguyễn Thị Nhàn đã có những đánh giá cơ bản về

truyện Nôm Bích Câu kỳ ngộ trong tương quan kết cấu với các truyện Nôm khác Theo Nguyễn Thị Nhàn, tác giả Bích Câu kỳ ngộ dành khá nhiều câu khoảng 52.4%

số lượng câu thơ trong bài cho phần Gặp gỡ, các phần còn lại chiếm số lượng nhỏhơn: Phần Tai biến chỉ có 129/648 câu thơ chiếm 19.9% còn phần Đoàn tụ có106/648 câu thơ chiếm 16.3% Những số liệu nghiên cứu này góp phần định hướng

cho chúng tôi khi nghiên cứu về những giá trị nhân văn trong Bích Câu kỳ ngộ Năm 2010, trong bài Vũ Quốc Trân và Bích Câu kỳ ngộ in trong cuốn Gương

mặt văn học Thăng Long (Nguyễn Huệ Chi chủ biên, Nxb Hà Nội), tác giả Phạm

Ngọc Lan đã chỉ ra rằng phong vị và màu sắc Thăng Long được thể hiện rất rõ quanhững tên đất, tên người và mối tình lãng mạn, thơ mộng của đôi trai tài gái sắc

Năm 2013, trong bài viết Bích Câu kỳ ngộ, một truyện Nôm thuần Việt bị quên

lãng in trên báo Kiến thức ngày nay số 831 ngày 10.9, tác giả Nguyễn Cẩm Xuyên

cho rằng: cần phải đưa Bích Câu kỳ ngộ vào chương trình trung học vì đây là câu

Trang 14

chuyện gắn với lịch sử văn hóa Thăng Long và có vị trí rất quan trọng trong văn họctrung đại Việt Nam Đặc biệt là, tác phẩm mang tính thuần Việt cao So với việc bắtcon trẻ học thuộc những địa danh như Hàm Dương, Tiêu tương rồi rừng phong, lá

ngô đồng trong truyện Kiều và Chinh phụ ngâm thì việc để các em học thuộc truyện Bích Câu kỳ ngộ sẽ tốt hơn “Bích Câu kỳ ngộ thì không như thế Vì tính thuần Việt

hiếm có ấy, tác phẩm nên được chọn đưa vào nhà trường trung học cấp cơ sở truyện truyền thuyết phù hợp với lứa tuổi Mối tình Tú Uyên–Giáng kiều tuy diễmtình nhưng trong sáng lại đậm tình nghĩa gia đình Truyện tiên mà lại thực, gópphần giáo dục và làm tươi mát tâm hồn niên thiếu” [77]

-Đây là những cơ sở tiền đề giúp chúng tôi tìm hiểu về truyện Nôm Bích Câu

kỳ ngộ, phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài.

2.3 Lịch sử nghiên cứu Bích Câu kỳ ngộ kí và Bích Câu kỳ ngộ trong quan

hệ so sánh.

Năm 1958, trong công trình Bích Câu kỳ ngộ khảo thích tác giả Trần Văn Giáp

đã có những so sánh và đối chiếu bước đầu về Bích câu kỳ ngộ kí và Bích Câu kỳ

ngộ Theo ông, tác phẩm của Vũ Quốc Trân ra đời trong bối cảnh xã hội còn suy tàn

hơn cả thời Hậu Lê Cho nên, Vũ Quốc Trân vì sống trong hoàn cảnh không khác gì

bà Đoàn Thị Điểm và Tú Uyên cho nên tỏ ra đồng cảm với những vấn đề không dễnói nên lời của những con người cùng giai cấp Ông đã mượn tác phẩm của bàĐiểm, sáng tác một áng văn riêng, diễn tả tâm sự của bản thân Đó là ước muốnthoát ly khỏi vòng cương tỏa, sống đời sống phóng túng, tự do Về tư tưởng, tácphẩm phản ánh một luồng tư tưởng khá quan trọng trong văn học nghệ thuật: tưtưởng tam giáo đồng nguyên được nhen nhóm từ đời Lê Thánh Tông Cho nêntrong truyện truyền kì có nhắc đến tiên, Phật và cả đạo Nho thì trong truyện Nômnhững tư tưởng ấy tiếp tục được thể hiện khá rõ

Năm 1964, trong cuốn Bích Câu kỳ ngộ (NXB Đại học Huế) ông Hoàng Xuân

Hãn cũng chỉ ra những khác biệt cơ bản trong nội dung, tư tưởng và nghệ thuật

của bản truyện Nôm so với bản truyền kỳ Ông Hoàng Xuân Hãn cho rằng Bích

Câu kỳ ngộ là truyện diễn ca phỏng theo truyện truyền kì Truyện đã lược bỏ khá

nhiều chi tiết từ nguyên tác như: Văn Nôm không nói chuyện nguyên tính TúUyên không tin chuyện thần tiên; không kể chuyện Tú Uyên đi cầu thần Bạch

Mã sau khi Giáng Kiều bỏ đi; trong văn Nôm hai vợ chồng lên tiên trước, Trân

Trang 15

Nhi sau khi học hành đậu đạt mới theo cha mẹ tu tiên; Văn Nôm lược bỏ chuyện

ở trần gian sau khi gia đình Tú Uyên lên tiên Về văn chương, ông Hãn cho rằngvăn Nôm đã cắt bỏ khá nhiều đoạn rườm rà có tính khoe chữ trong truyện Nôm

và lược bỏ tất cả những bài thơ, từ ở truyền kỳ Văn tuy điêu luyện nhưng so vớitruyền kỳ thì không thấm thía…

Năm 2010, trong bài Vũ Quốc Trân và Bích Câu kỳ ngộ in trong cuốn Gương

mặt văn học Thăng Long (Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Hà Nội, 2010), Phạm

Ngọc Lan đã khẳng định những nét cơ bản giống nhau của hai tác phẩm về cốttruyện, không gian, thời gian, sự kiện, hệ thống nhân vật Đồng thời tác giả cũng chỉ

ra một số nét khác biệt về cách miêu tả nhân vật, ngôn ngữ…của nhân vật trong tácphẩm: “Vũ Quốc Trân đã đưa được vào tác phẩm một cách thể hiện mới mẻ hơn, đókhông phải là vẻ đẹp đơn sơ chất phác của câu chuyện tình yêu trong truyện cổ tích

mà là những tình tiết éo le, những cảm xúc tinh tế, cái xôn xao thầm kín trong quan

hệ yêu đương ở chốn thị thành Từ nguyên bản chữ Hán của Đoàn Thị Điểm, cốttruyện dân gian qua ngòi bút sáng tạo uyển chuyển của ông đã trở nên thú vị hơnnhiều Đặc biệt phong vị, màu sắc Thăng Long được tác giả sử dụng như một ưuthế, trở thành sức mạnh nghệ thuật của tác phẩm” [7; 804]

Năm 2010, trong bài viết Vũ Quốc Trân-nhà giáo, nhà nho tài hoa, in trong

cuốn Danh nhân Thăng Long- Hà Nội, (Vũ Khiêu (chủ biên), NXB Hà Nội, 2010),

Nguyễn Thanh Tùng khi nói tới Bích Câu kỳ ngộ của Vũ Quốc Trân đã cho rằng:

“Bản diễn Nôm về cơ bản giữ lại cốt truyện, song cũng có những thay đổi nhất định

cho phù hợp với tâm lý, tính cách nhà Nho chính thống của người diễn Nôm” [32] Năm 2016, khóa luận tốt nghiệp của Mai Thị Hằng năm 2016 So sánh truyện

truyền kì Bích Câu kỳ ngộ và truyện Nôm Bích Câu kỳ ngộ cũng đã chỉ ra những nét

tương đồng và khác biệt trong 2 tác phẩm Tuy nhiên, công trình nghiên cứu nàycòn khá sơ lược và không ra được tương quan tam giáo ở hai tác phẩm, những điểmtương đồng và khác biệt của giá trị nhân văn, giá trị hiện thực của hai tác phẩm Vềnghệ thuật, luận văn này cũng chỉ mới bước đầu đề cập đến sự khác biệt trong cốttruyện, hoàn toàn chưa thấy được những vấn đề giống và khác trong kết cấu truyện,

sự khắc họa hình tượng nhân vật và ngôn ngữ giữa hai tác phẩm Do đó, chúng tôicoi đây một tư liệu tham khảo cho đề tài nghiên cứu của mình

Trang 16

Như vậy, qua các công trình nghiên cứu về Bích Câu kỳ ngộ nói chung ,các

nhà nghiên cứu tuy đã có đề cập tới phương diện so sánh giữa hai tác phẩm nhưngmới chỉ dừng ở những nhận xét, đánh giá mang tính tổng quát Vấn đề so sánh

truyện truyền kì Bích Câu kỳ ngộ với truyện Nôm Bích Câu kỳ ngộ một cách toàn

diện đã được đặt ra trong khóa luận của Mai Thị Hằng song thực tế bài viết mới chỉ

mô tả những nét tương đồng và khác biệt giữa hai tác phẩm mà chưa có được những

kiến giải về vấn đề so sánh Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Cuộc

gặp gỡ kì lạ ở Bích Câu” từ truyện truyền kì cho đến truyện thơ Nôm” để giúp bạn

đọc có được cái nhìn thấu đáo hơn về giá trị của hai tác phẩm này

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.

3.1 Đối tượng nghiên cứu.

Luận văn nghiên cứu các vấn đề về nội dung và nghệ thuật của hai tác phẩm

Bích Câu kỳ ngộ ký và Bích Câu kỳ ngộ Đồng thời, chúng tôi đặt hai tác phẩm

trong trong tiến trình phát triển văn học và trong các hệ quy chiếu về thể loại đểthấy được sự tương quan giữa chúng và với văn họ cùng thời kỳ, cùng thể loại

3.2 Phạm vi tư liệu

Chúng tôi chọn văn bản in trong cuốn Bích Câu kỳ ngộ khảo thích do nhà

nghiên cứu Trần Văn Giáp biên soạn, khảo thích, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1958 làm

tư liệu chính để khảo sát Ngoài ra,chúng tôi còn tham khảo những văn bản khác đểphục vụ qúa trình nghiên cứu

4 Đóng góp của luậnvăn.

- Bước đầu nghiên cứu tác phẩm Bích Câu kỳ ngộ kí và Bích Câu kỳ ngộ trong

sự so sánh một cách toàn diện từ nội dung đến nghệ thuật để làm rõ quy luật hìnhthành, phát triển của truyện truyền kì, truyện Nôm và sự tương tác giữa hai thể loạinày trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc

- Bước đầu lí giải các vấn đề văn học, văn hóa, triết học, tín ngưỡng được đề

cập đến trong các tác phẩm Bích Câu kỳ ngộ kí và Bích Câu kỳ ngộ giúp người đọc

hiểu rõ hơn về những truyền thống văn hóa, văn học, tín ngưỡng của dân tộc tại thờiđiểm ra đời hai tác phẩm

- Đề tài có thể sử dụng làm tư liệu giảng dạy tại nhà trường các cấp cho giáoviên và tư liệu nghiên cứu cho sinh viên, học viên

Trang 17

5 Phương pháp nghiên cứu.

Luận văn sử dụng kết hợp những phương pháp sau:

5.1 Phương pháp so sánh văn học

Đây là phương pháp quan trọng giúp người viết so sánh, đối chiếu hai tácphẩm trên cả hai bình diện nội dung và ngệ thuật Từ đó rút ra được những điểmgặp gỡ, kế thừa và cả những nét riêng không lặp trong phong cách sáng tác của haitác giả và giá trị của hai tác phẩm trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam

5.2 Phương pháp tiếp cận hệ thống

Là phương pháp giúp người chúng tôi có cái nhìn tổng quan trong quá trình

nghiên cứu Ở đây, đề tài “Cuộc gặp gỡ kì lạ ở Bích Câu” từ truyện truyền kì đến

truyện Nôm” được đặt trong cái nhìn tương quan với cuộc đời, sự nghiệp của hai tác

giả Đặng Trần Côn và Vũ Quốc Trân, những đặc trưng thể loại và diễn biến tưtưởng của thời đại Do đó phương pháp này giúp người viết hệ thống hóa các tàiliệu liên quan và xắp xếp những yếu tố kế thừa và sáng tạo độc đáo của hai tác giảmột cách khoa học

5.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp

Trên cơ sở các kiến thức được hệ thống, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích, tổng

hợp để rút ra những kết luận về sự kế thừa và thay đổi trong Bích Câu kỳ ngộ của

Vũ Quốc Trân đối với Bích Câu kỳ ngộ kí của Đặng Trần Côn Từ đó, làm rõ hơn

những sáng tạo đóng góp của hai tác giả đối với sự phát triển của văn học dân tộc

5.4 Phương pháp tiếp cận liên ngành

Theo hướng tiếp cận liên ngành, văn học, với tư cách là cái tổng thể - một hệ

thống phức tạp hợp thành từ nhiều thành phần, sẽ có những thuộc tính của cái toànthể mà ta không thể hiểu được từ những hiểu biết đơn lẻ về các thuộc tính của các

thành phần Do đó để có một cái nhìn khoa học và hệ thống về “Cuộc gặp gỡ kì lạ

ở Bích Câu” từ truyện truyền kì đến truyện Nôm” chúng tôi không thể không nhìn

nhận vấn đề trong mối tương quan với bối cảnh lịch sử - xã hội dân tộc, cuộc đờinhà thơ, hoàn cảnh ra đời tác phẩm… Từ đó, chúng tôi sẽ lí giải được sự khác biệt

căn bản trong nội dung và nghệ thuật của hai tác phẩm Bích câu kỳ ngộ kí và Bích

Câu kỳ ngộ trong qúa trình so sánh, đối chiếu

Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng kết hợp với các thao tác: lịch sử, xã hội,khảo sát, thống kê, phân loại

Trang 18

6 Cấu trúc luận văn.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương :

Chương 1: Những vấn đề chung về tác giả, lịch sử văn bản và thể loại của

Trang 19

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÁC GIẢ, LỊCH SỬ VĂN BẢN

VÀ THỂ LOẠI CỦA BÍCH CÂU KỲ NGỘ KÍ

VÀ BÍCH CÂU KỲ NGỘ

1.1 Những vấn đề về tác giả Bích Câu kỳ ngộ kí và Bích Câu kỳ ngộ

1.1.1 Vấn đề tác giả Bích Câu kỳ ngộ kí

1.1.1.1 Những giả thiết về tác giả Bích Câu kỳ ngộ kí

Cho đến nay, việc xác định ai là tác giả của Bích Câu kỳ ngộ kí vẫn còn là

một việc làm khó khăn đối với các nhà nghiên cứu Về cơ bản, có ba hướng kếtluận sau đây:

Hướng thứ nhất; các nhà nghiên cứu cho rằng Bích Câu kỳ ngộ kí là do

Đoàn Thị Điểm sáng tác Hướng này gồm các nhà nghiên cứu như: Phan HuyChú, Trần Văn Giáp, Nguyễn Án, Hoàng Hữu Yên… Tác giả Phan Huy Chú

trong Lịch triều hiến chương loại chí (mục Văn –tịch) đã viết: “Nữ học sĩ Nguyễn Thị Điểm soạn; chép những truyện kỳ ngộ như Bích Câu kỳ ngộ” [18;

534] Theo hướng này, năm 1952, Thi – nham Đinh Gia Thuyết đoán định rõ

Bích Câu kỳ ngộ kí là của Đoàn Thị Điểm Tuy nhiên, ông Thi – nham không cho

biết chững cứ xác thực Để chứng thực lời đoán định quả quyết của ông Đinh Gia

Thuyết, tác giả Trần Văn Giáp trong cuốn Bích Câu kỳ ngộ khảo thích đã đưa ra hai hiện vật: Cuốn thứ nhất là sách Truyền kỳ tân phổ, một bản cổ in năm Gia

Long, Tân Mùi thứ mười (1811) Theo ông Giáp, đầu cuốn sách này có đề rõ

“Văn giang Hồng Hà Đoàn phu nhân chước; gia huynh Tuyết Am Đạm Như Phủ phê bình” (Bà Hồng Hà họ Đoàn, người Văn Giang làm, anh ruột là Tuyết Am

Đạm Như Phủ phê bình) Trên tờ đầu sách có kê rõ cả mục lục 6 bài, trong đó

Bích Câu kỳ ngộ là bài thứ tư Cuốn thứ hai là Văn tịch chí của Phan Huy Chú

viết vào đầu hồi niên hiệu Minh Mạng (1820 - 1840), không nói gì đến tên

Truyền kỳ tân phả Nhưng dưới tên Tục truyền kỳ có nói là của Đoàn Thị Điểm

(đã dẫn ở trên) Hai tài liệu này, như ông Giáp khẳng định: “đều là những sách

có giá trị đáng tin”; “đủ cho phép chúng ta nói đích xác Bích Câu kỳ ngộ kí viết

bằng chữ Hán là của Đoàn Thị Điểm” [11; 24] Không những vậy, Trần VănGiáp còn thuyết phục các nhà nghiên cứu rằng: “chúng tôi chưa hề thấy BíchCâu đứng là một sách riêng, nó chỉ là một bài trong Truyền kỳ tân phổ Mà

Trang 20

Truyền kỳ tân phổ thì đâu đâu cũng biên là của Đoàn Thị Điểm ( ) Không một

lí do gì, cả một tập văn in của một tác giả mà ở giữa lại xe n vào một bài củangười khác” [11; 24]

Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu lại không đồng tình với ý kiến Trần VănGiáp đưa ra vì lập luận của ông chưa chắc chắn Tác giả Tạ Trong Hiệp trong bài

viết Đọc cuốn hiệu chú Bích Câu kỳ ngộ của ông Hoàng Xuân Hãn đã chỉ rõ sự

mâu thuẫn trong lí lẽ của ông Chẳng hạn, Trần Văn Giáp căn cứ vào bản khắc in đềtên bà Đoàn Thị Điểm để khẳng định đó là sáng tác của bà nhưng lại nghi ngờ bản

in Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ là không đáng tin Trong khi đó, còn

có hai bản khắc in khác của Bích Câu kỳ ngộ kí lại không đề tên tác giả thì không thấy ông nhắc tới Hơn nữa, ý kiến của Trần Văn Giáp cho rằng: “Không một lí do

gì, cả một tập văn in của một tác giả mà ở giữa lại xen vào một bài của người khác” [11; 24] của ông cũng không nhận được sự đồng tình của tác giả này bởi vì

có rất nhiều tác phẩm còn truyền lại đến nay chép xen kẽ truyện của nhiều tác giả

khác nhau như: Truyền kỳ tập lục, Hồng Đức, Công dư tiệp ký, Nguyễn Trãi gia

huấn, Ức Trai tập… Do đó, những căn cứ để Trần Văn Giáp khẳng định Đoàn Thị

Điểm là tác giả của Bích Câu kỳ ngộ kí vẫn còn gây nên không ít tranh luận trong

giới nghiên cứu

Hướng thứ hai: Một số nhà nghiên cứu cho rằng Bích Câu kỳ ngộ kí là tác

phẩm khuyết danh Hướng này gồm Trúc Khê Ngô văn Triện, Nguyễn Đỗ Mục

Năm 1944, ông Trúc Khê Ngô Văn Triện trong bài Những tài liệu mới đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bảy, Nguyệt san, số 4 – Septembre 1944 có nói: Ông đã từng đọc cuốn Đoàn thị thực lục thì sách Tục truyền kỳ của bà Điểm không có nói gì đến chuyện sách Bích Câu kỳ ngộ kí Vì vậy, trong bài tựa bản Bích Câu kỳ ngộ in năm

1945, ông Nguyễn Đỗ Mục “không dám cưỡng lời ông Trúc Khê Xin theo ý kiếnông, cứ để khuyết danh là hơn cả” [11; 20]

Hướng thứ ba: một số nhà nghiên cứu cho đây là tác phẩm của Đặng TrầnCôn Hướng này có các nhà nghiên cứu như: Phạm Đình Hổ, Hoàng Xuân Hãn,

Nguyễn Đăng Na, Nguyễn Thanh Tùng, Lê Tùng Lâm…Sách Tang thương ngẫu

lục của Phạm Đình Hổ có ghi rằng: “Đặng Trần Côn (…) có tiểu thuyết Bích Câu

kỳ ngộ lưu truyền ở đời” [24; 162] Căn cứ được các nhà nghiên cứu theo quan

điểm này đưa ra khi khẳng định Đoàn Thị Điểm không phải người sáng tác Bích

Trang 21

Câu kỳ ngộ kí là: “Chồng của nữ sĩ là Nguyễn Kiều trong văn tế vợ có kể các tác

phẩm của bà, thế mà không nói đến Bích Câu kỳ ngộ” [18; 234] Không chỉ có vậy,

cả cháu rể và anh trai bà cũng không chép bài ấy vào trong các tác phẩm của bà.Hơn nữa, căn cứ vào địa vị xã hội, phẩm chất đạo đức, tính cách, phong cách vănchương của Đoàn Thị Điểm, người ta cho rằng, bà khó lòng có thể viết được nhữngcâu thơ hân hoan, táo tợn, say sưa miêu tả cuộc tình duyên kể từ khi gặp gỡ ở Ngọc

Hồ cho đến lúc rạng ngày sau đêm hợp cẩn của Tú Uyên và Giáng Kiều:

Khả điệp hoa tâm trác

Nghi oanh liễu cốt nhụy

Đồng tâm liên phỉ thúy

Đái huyết thổ tường vi

Yến vũ hoa chi chiên

Phong hàm ngọc xuyến di

Hải đường phong cốt thấu

Thược dược lộ châu si.

(Đón ong hoa vốn hẹp hòi Chiều oanh liễu cũng uốn chồi mỏng manh

Đôi chim phỉ thúy liền mình Đóa tường vi cũng uốn mình quẹo son Cành hoa theo én rập rờn Con ong ngậm chuỗi châu hoàn buông rơi

Hải đường gió thốc tả tơi Đóa hoa thược dược móc rơi dầm dề)

Thế nhưng, Đặng Trần Côn thì khác, “cái tôi” tự thể hiện mình trong ông hoàn

toàn không tuân theo mực thước của khuôn phép Nho gia Sách Tang thương ngẫu

lục nhận xét về họ Đặng: “tính thích rượu, đềnh đoàng, phóng túng Trong khoảng

trường ốc, văn chương ông tiếng lừng thiên hạ” [24; 155] Ông tiêu biểu cho mẫu

hình nhà Nho tài tử, không thiếu tài năng, không thiếu sự cần cù, nhưng có quanniệm sống phóng túng, phong lưu Nguyễn Thanh Tùng cho biết: “Tính cách phóngtúng, tài tử đó được thể hiện rõ trong các tác phẩm của Đặng Trần Côn: các bài từ

xướng họa với bạn bè, Chinh phụ ngâm khúc, Bích Câu kỳ ngộ” [69; 32 - 36] Sự

thực thì, người ta rất dễ tìm thấy những yếu tố những yếu tố “phi truyền thống”,

Trang 22

“phi nho giáo” trong các sáng tác của họ Đặng Thơ ông dù mang tính ước lệ caonhưng vẫn nhuốm màu “hành lạc” trong đó, như:

Xanh xanh Chương Đài lá liễu, há nên bẻ tặng một người nào

Rờ rõ Vũ Lăng cánh đào, khá cùng lại giữ nhau đường trước

Sớm thỏa cái hẹn tìm thơm, cùng dặm xanh với du khách

Cùng lên đài cao, trăng sáng, giúp nhặt thắm với giai nhân

Nối hội vui Nam Sơn, nghiêng li trong Bắc Hải

Dưới mái thương hương cười vào giấc mộng La Phù

Bên hoa dục tiệc, chia soạn văn hương Kim Cốc

Thả cành bướm sáng màu xuân, trêu Hằng Nga đêm trăng sáng

Sáo Triệu đàn Tần lần lượt, chen lẫn câu ca

Bạc vàng xinh đẹp tràn đầy, ngại chi say khướt?

(Yêu hữu thưởng xuân thiếp)

Sự thống nhất trong phong cách sáng tác qua các tác phẩm giúp chúng ta

khẳng định Bích Câu kỳ ngộ chỉ có thể là của Đặng Trần Côn Lê Tùng Lâm trong luận văn thạc sĩ mang tên Văn bản Truyền kỳ tân phả và mối quan hệ với các thần

tích cũng tán đồng quan điểm này.

Như vậy, vấn đề ai là tác giả của Bích Câu kỳ ngộ dường như đã được giải

quyết xong Chúng tôi cũng tán đồng với hướng thứ ba, và xin được giới thiệu vềtác giả Đặng Trần Côn

1.1.1.2 Về tác giả Đặng Trần Côn

Đặng Trần Côn, chưa rõ năm sinh năm mất, quê ở làng Nhân Mục (còn gọi làlàng Mọc), huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, HàNội Gia phả họ Trần ở Thượng Đình hiện nay và Gia phả họ Hồng ở Kim Lũ(Thanh Trì) còn ghi chép về Đặng Trần Côn như sau: Ông nguyên là con cháu họTrần, thuộc dòng dõi của Băng Hổ tướng công Trần Nguyên Đán (ngoại tổ củaNguyễn Trãi), có Viễn tổ là Trần Cẩn (đỗ tiến sĩ năm 1469, từng phụng mệnh đi sứTrung Quốc và giữ chức Đề điệu dưới triều vua Lê Hiến Tông) Do Trần Cẩn cóngười cháu là Trần Tuân làm loạn, nên con cháu phải giấu biệt tông tích, di cư đếnnơi khác, đổi sang họ Đặng

Đặng Trần Côn từ nhỏ đã nổi tiếng ham học Tương truyền lúc ấy chúa TrịnhGiang bị bệnh, lánh ra ở cung Thưởng Liên Trong kinh thành cấm lửa rất nghiêm

Trang 23

Ông đào hầm để đọc sách không hề nghỉ Kết quả của sự khổ công rèn luyện ấy làmột tài năng chẳng những được liệt vào hàng “Thanh Trì Tứ hổ” thời ấy (gồm: Côn

- Điền - Đẩu – Hiên: Đặng Trần Côn, Hồng Điền, Trương Nguyễn Đẩu, Nguyễn

Hiên) mà còn được sử sách lưu truyền mãi về sau Sách Tang thương ngẫu lục

trang.155 ghi chép: “Trong khoảng trường ốc, văn chương ông tiếng lừng thiên hạ”.

Sách Lê trường phú tuyển chép: “Đương thế danh thế, thông quốc suy tôn” (Nức tiếng đương thời, cả nước suy tôn) Sách Lãn Trai di cảo lại chép: “Công dĩ văn

chương danh thế, thiên hạ dĩ vi tài tử” (Ông nhờ văn chương mà nổi tiếng ở đời,thiên hạ cho là bậc tài tử) Việc các phẩm chữ Hán của ông được rất nhiều văn nhântruyền tụng và dịch sang thơ Nôm cũng cho thấy ảnh hưởng của họ Đặng với giớivăn sĩ Phạm Đình Hổ nhận xét: “Phong cách tột hẳn Từ Trung Hưng đến nay trongvăn phái thì thơ này đã từng dậy tiếng Còn các bài phú bát vận, liên châu, thì học

trò đi thi đều cất giấu như của báu…” [18; 536] Khi đọc tác phẩm Chinh phụ ngâm

của ông, Ngô Thì Sĩ thán phục mà rằng: "Như bài này thì đã áp đảo được lão Ngônày rồi" Quả thực, thơ họ Đặng từ cổ thể, cận thể đã học đúng đủ các phép, cho nênthi phái đời Hậu Lê nhờ có ông mà chấn hưng rất nhiều

Tuy tài năng như vậy nhưng ông lại không đỗ đạt cao Trong kì thi Hươngkhoảng từ năm 1726 đến 1738 ông đỗ giải nguyên nhưng vào đến thi Hội thì lạihỏng Từ đó, ông không ràng buộc vào thi cử nữa Sau, Đặng Trần Côn nhận chứcHuấn đạo ở trường phủ rồi làm Tri huyện Thanh Oai Cuối đời ông làm chức Ngự

sử đài Chiếu khám, một chức quan nhỏ (hàm Tòng Bát phẩm) rồi nghỉ hưu, dạy họctại nhà ông Nguyễn Đình Kỳ ở làng Hạ Đình Học trò của ông có nhiều người đỗđạt cao

Một điều nữa cần lưu ý rằng Đặng Trần Côn tuy là một tác gia lớn nhưng cácsáng tác của giờ đã bị mất mát khá nhiều Những tư liệu còn lưu truyền lại đến ngày

nay xếp theo thể loại bao gồm: Về Ngâm khúc: có Chinh phụ ngâm Về thơ có các bài: Tiêu Tương bát cảnh, Minh phi xuất tái, Trường An mĩ nhân, Biệt ly tình Về phú có 8 bài: Trương Lương bố y, Trương Hàn tư thuần lư, Khấu môn thanh, Tá trợ

hoạch trù, Dương nương tử, Nương tử quân, Long phượng lân quy, Ngư thủy long vân Về tiểu thuyết: có Bích Câu kỳ ngộ kí Đặc biệt trong cuốn tiểu thuyết này còn

có một bài từ và hơn bốn mươi bài thơ Về thư tín: có Yêu hữu thưởng xuân thiếp.

Về tự có Hạ Nguyễn Quý Hầu cập đệ gia môn vinh thịnh tự Ngoài ra, còn 51 bài

Trang 24

văn tế, 9 bài từ… Tất cả các tác phẩm của ông đều được viết bằng chữ Hán Nhiềutác phẩm trong đó được người đương thời diễn lại bằng thơ Nôm, có sức ảnh hưởng

và lưu truyền trong văn giới khá lớn Căn cứ vào những sáng tác của họ Đặng mớiđược tìm thấy trong những năm gần đây và mối quan hệ của ông với những danh sĩThăng Long thời ấy, tác giả Lê Tùng Lâm trong luận văn thạc sĩ của mình cho rằngĐặng Trần Côn sinh khoảng năm 1710, mất khoảng năm 1760, thọ khoảng 50

tuổi Chinh phụ ngâm được ông sáng tác trong khoảng thời gian từ 1755 tới 1760.

Chúng tôi cho rằng điều này có khả năng xảy ra

Đặng Trần Côn tính tình phóng túng, ưa thích ngâm vịnh Sách Tang thương

ngẫu lục có chép chuyện nhà thơ khi còn trẻ đã mến tài mong kết duyên cùng Đoàn

Thị Điểm song bị bà chê là trẻ con Đến nay, vẫn có nhiều giai thoại lưu truyền vềmối quan hệ bạn bè, văn chương giữa hai người Đó là khi danh sĩ họ Đặng nghe bàĐoàn Thị Điểm hay chữ, bèn làm một bài thơ đến yết kiến Bà xem, cười mà bảorằng: nên học thêm sẽ làm thơ Đặng gia lấy làm thẹn, về ra sức nghiên tinh đàn tứ,tay không hề rời quyển sách Cho đến khi gặp buổi binh cách, lính thú đi chinh thú

nhiều nơi, gây nên lắm nỗi biệt ly đau đớn, ông viết Chinh Phụ Ngâm, lại đưa cho

bà Đoàn Thị Điểm xem, được bà khen hay và đem diễn Nôm, điệu song thất lục bát.Đặng Trần Côn khi đọc bản diễn Nôm ấy tỏ ra kính phục tài miệng gấm lạng thêucủa bà, mới chịu tôn bà làm bậc sư bá Phải chăng, vì tình bạn lâu bền ấy nên người

ta thường thấy tác phẩm của hai người được in chung, gây nên những nghi án về tác

giả tương tự như Bích Câu kỳ ngộ kí vậy.

1.1.2 Vấn đề tác giả Bích Câu kỳ ngộ

1.1.2.1 Những giả thiết về tác giả Bích Câu kỳ ngộ

Cho đến nay, việc xác định ai là tác giả của Bích Câu kỳ ngộ cũng vẫn là vấn

đề gây nhiều tranh cãi Về cơ bản có hai hướng nghiên cứu:

Hướng thứ nhất cho rằng Bích Câu kỳ ngộ là tác phẩm khuyết danh Hướng

này gồm các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đỗ Mục, Dương Quảng Hàm và ThanhLãng, Nguyễn Cẩm Xuyên Những nhà nghiên cứu trên dựa vào việc các bản khắccòn lưu lại thường để trắng phần tác giả hoặc đề VÔ DANH THỊ để kết luận nhưvậy Ông Nguyễn Đỗ Mục cũng khẳng định điều này khi viết lời tựa cho bản TânDân: “Còn bản chữ Nôm này, tiếc thay, không biết tác giả là ai” [42; 5] Tác giả

Nguyễn Cẩm Xuyên trong bài Bích Câu kỳ ngộ, một truyện Nôm thuần Việt bị lãng

Trang 25

quên in trên báo Kiến thức ngày nay, số 831, ngày 10.09.2013 bày tỏ: “Từ điển Văn

học năm 2003 do Đỗ Đức Hiểu chủ biên cho rằng tác giả truyện thơ này là Vũ QuốcTrân (? - ?) Tuy vậy điều này nay vẫn còn nghi vấn Nếu đúng là Vũ Quốc Trân đãviết nên Bích Câu kỳ ngộ thì tại sao bao nhiêu bản Nôm bao thế kỉ nay thu tập đượcđến đầu thế kỉ XX nhiều nhà sách ở Hà Nội chuyển quốc ngữ in bán khắp nơi lạikhông hề ghi tên tác giả? Việc bản Nôm tìm được gần đây ghi tên Vũ Quốc Trân cóthể là mạo tác chăng? Vì lí do này ta có thể xem Bích Câu kỳ ngộ là một truyện thơ

dân gian đúng nghĩa” [77].

Hướng thứ hai cho rằng Bích Câu kỳ ngộ là tác phẩm được Vũ Quốc Trân diễn

Nôm từ bản chữ Hán vốn được lưu truyền trước đây Hướng nghiên cứu này bao gồmTrần Văn Giáp, Hoàng Hữu Yên, Nguyễn Phương Chi, Phạm Ngọc Lan, Đỗ Đức

Hiểu… Người đầu tiên đưa ra ý kiến này là học giả Trần Văn Giáp Trong cuốn Bích

Câu kỳ ngộ khảo thích viết năm 1958, ông Giáp cho biết: nhờ có cơ duyên nên ông đã

được gặp ông Vũ Huy Trường, cháu bốn đời của cụ Vũ Quốc Trân và được ôngTrường cho biết chính cụ tổ mình là người viết tác phẩm này Hiện nay, trong gia phả

của dòng họ Vũ ở Mộ Trạch vẫn còn giữ bản khắc Bích Câu kỳ ngộ gồm 674 câu thơ

lục bát Những điều ông Giáp ghi chép được về Vũ Quốc Trân trong cuốn sách củaông cũng được cung cấp từ gia phả của họ Vũ và qua lời kể của ông Vũ XuânTrường Ý kiến của ông Giáp nhận được sự đồng tình và ủng hộ của những nhà

nghiên cứu Trong cuốn Từ điển văn học viết năm 2003 do mình chủ biên, Đỗ Đức

Hiểu cũng cho rằng tác giả truyện thơ này là Vũ Quốc Trân

Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu khác lại tỏ ra hoài nghi thành quả nghiên

cứu này Ông Hoàng Xuân Hãn trong cuốn Bích Câu kỳ ngộ, viết năm 1964 khi căn

cứ vào các bản khắc in còn lưu truyền đến ngày nay đã đặt ra nghi vấn Vũ QuốcTrân không thể là tác giả của truyện này Theo ý kiến của ông Hãn, ba bản truyệnNôm mà ông hiện có đều được khắc ván in vào năm 1873 dưới triều Tự Đức và đều

từ một bản gốc mà ra Thế nhưng, nếu căn cứ vào những chữ húy trên các bản khắc

này thì có thể thấy rằng Bích Câu kỳ ngộ phải ra đời từ trước thời Thiệu Trị (trước

1940) Ông Hãn còn khẳng định chắc chắn rằng bản in thứ tư mà ông Giáp công bốcũng được khắc từ cùng một bản gốc giống như ba bản hiện có của ông Và nếuvậy, Vũ Quốc Trân không thể là tác giả của truyện Nôm nổi tiếng này vì khi ấy họ

Vũ chưa sinh hoặc còn nhỏ lắm Có lẽ, ông chỉ là người hiệu đính truyện đó mà

Trang 26

thôi Song, mặc dù đã đưa ra những suy đoán khá hợp lí về thời điểm ra đời tácphẩm nhưng ông Hãn lại không dám kết luận chắc chắn về việc này bởi ông chưa códịp tìm hiểu gia phả họ Vũ: “Tôi hãy tam gác kết luận dứt khoát về vấn đề này để

đợi dịp có thể xét đến tận cỗi gia phổ họ Vũ” [18; 549]Vì vậy, câu trả lời về vấn đề

này cho đến nay vẫn còn để ngỏ Một số nhà nghiên cứu khác, theo hướng ông Hãn,cũng cho rằng kết luận của ông Giáp là chưa đủ thuyết phục như Tạ Trọng Hiệp,Nguyễn Cẩm Xuyên…

Nhìn chung, ý kiến của các nhà nghiên cứu đưa ra đều khá hợp lí Chính vìvậy, vấn đề ai là tác giả của Bích Câu Nôm đến nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi Vàtrong khi chưa có một ý kiến trả lời một cách chắc chắn về vấn đề này Chúng tôixin theo hướng nghiên cứu của học giả Trần Văn Giáp coi Vũ Quốc Trân là tác giả

Bích Câu kỳ ngộ Chúng tôi cũng xin mạo muội được đưa ra lí do về kết luận của

mình như sau: Nếu như lúc trước ta căn cứ vào gia phả của gia đình bà Đoàn Thị

Điểm để kết luận rằng bà không phải là người sáng tác Bích Câu kỳ ngộ kí thì nay

gia phả dòng họ Vũ ghi Vũ Quốc Trân là người sáng tác tác phẩm này, ta cũng nênlấy đó làm căn cứ Thứ hai, không chỉ ông Vũ Huy Trường khẳng định cụ tổ ôngsáng tác nên tác phẩm này mà ngay cả học trò của Vũ Quốc Trân là môn sinh VũĐức Quang cũng khẳng định điều đó qua câu đối treo ở nhà thờ cụ Trân: “Mườinăm ròng khó nhọc chăm nom, nay còn cơ nghiệp đó/ Một đời trọn tinh thần tríthức, để lại tập văn này” (Thập tải tân cần dư cố trạch; Nhất sinh thần thức kiến di

văn) Các sáng tác của Vũ Quốc Trân chúng tôi không thấy nói đến nhiều Vậy “tập

văn này” mà học trò của cụ Trân nhắc đến cũng có thể chính là truyện Bích Câu kỳ ngộ mà dòng họ Vũ đã truyền qua bốn đời, qua bao binh lửa chiến tranh và hẳn

nhiên là qua bao công sức gìn giữ? (Điều này là phỏng đoán của chúng tôi, xin đượcđưa ra để bạn đọc tham khảo) Thứ ba, chính ông Hoàng Xuân Hãn cũng khẳngđịnh bản khắc Vũ Quốc Trân do ông Giáp công bố đầy đủ hơn so với bản mà ôngcòn đang lưu giữ, đó chẳng lẽ không phải căn cứ để khẳng định về một bản gốc củadòng họ Vũ sao? Không có lí gì con cháu đời sau lại gìn giữ hương hỏa một tập vănkhông phải do cha ông họ viết nên Cái đó, còn liên quan đến vấn đề văn hóa tâmlinh mà chỉ có người Việt mới thấu hiểu Còn về những chữ húy mà ông Hãn khẳngđịnh qua quá trình khảo sát và hiệu đính của ông, chúng tôi xin không dám bàn đến,nhưng thiết nghĩ, dẫu sao đó cũng chỉ là suy đoán Nếu so với người thật, việc thật

Trang 27

đã được ông Giáp đưa ra, thì sức thuyết phục chưa thể bằng Huống chi, chính bản thânông Hãn cũng không mạnh dạn đưa ra kết luận sau cùng về vấn đề đó vì chưa tìm hiểu

đến ngọn nguồn sự việc Còn việc Vũ Cẩm Xuyên nghi ngờ tại sao Bích Câu kỳ ngộ là

sáng tác của Vũ Quốc Trân mà lại bị lưu truyền trong dân gian thành tác phẩm khuyếtdanh thì xin thưa: khi một tác phẩm ra đời và được nhân dân nhanh chóng đón nhận, nó

sẽ trở thành tài sản chung của cộng đồng rất nhanh Đã có không ít tác phẩm đượcngười ta đọc, truyền tụng mà quên mất tác giả là ai Ngay đến tác phẩm truyện Kiềucũng thế Nếu bảo một bà cụ không biết chữ đọc cho anh nghe mấy câu Kiều, có thểkhông phải việc khó Nhưng nếu hỏi chính bà cụ ấy ông Nguyễn Du là ai thì chưa chắc

cụ đã biết Ngay trong thời đại chúng ta, cũng có những bài thơ từ lâu người ta nghĩ là

khuyết danh, rồi cuối cùng lại tìm ra tác giả của nó Bài “Tháp Mười đẹp nhất bông

sen” của nhà thơ Bảo Định Giang là một ví dụ như vậy.

Vì những lí do trên, chúng tôi xin theo ý kiến của ông Giáp coi Vũ Quốc Trân là

tác giả của bản Bích Câu kỳ ngộ Tuy nhiên, tư liệu về Vũ Quốc Trân còn lại cho đến

ngày nay không nhiều Sau đây, chúng tôi xin được giới thiệu đôi điều về tác giả

1.1.2.2 Về tác giả Vũ Quốc Trân

Vũ Quốc Trân chưa rõ năm sinh, năm mất, quê làng Đan Loan, huyện BìnhGiang, tỉnh Hải Dương, cùng quê với tác giả Phạm Đình Hổ Ông sinh ra và sốnggần như suốt cả cuộc đời mình ở Hà Nội vào thời Minh Mạng (1820 - 1840), cùngthời với các nhà thơ nổi tiếng như Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1799-1827),Chu Thần Cao Bá Quát (1808-1855) Vì ở phường Đại Lợi và đỗ mấy khoa tú tàinên được người đương thời gọi là cụ Mền Đại Lợi Ông đỗ đạt không cao nên mởtrường dạy học tại nhà Học trò theo học ông rất đông và cũng có nhiều người đỗđạt cao Trong số đó có môn sinh Vũ Đức Quang mà chúng tôi vừa nhắc đến

Sinh thời, Vũ Quốc Trân giao lưu khá rộng rãi với giới văn và để lại nhiều giaithoại: Tương truyền, một lần cụ đi đò cùng chuyến với Chu Thần Cao Bá Quát Có mộtngười học trò ngã xuống sông nhưng may mắn thoát chết Đương khi Cao Bá Quát bảohọc trò mình làm thơ vịnh tình cảnh của anh học trò thì cụ Vũ đã đọc hai câu:

Chìm đắm chưa vùi cơn sóng gió Lênh đênh còn gửi chốn cao dầy

(Vị ưng chầm tử yên ba lý

Cố đắc phù sinh thiên địa an)

Trang 28

Cụ Quát nghe xong, tỏ ra thán phục mà làm quen Hai người trở thành bạn bèthân thiết từ ngày đó Lại cũng có chuyện khi dân làng Hối đến xin cụ câu đối đểthờ một vị thần mà cả làng không ai biết Cụ đã viết cho làng một câu và đượcnhiều người tán thưởng:

Thánh mà không thể biết, tên gọi là thần, trông lên lồng lộng

Dân cho đến ngày nay, đều cùng đội đức, khôn xiết thiêng liêng”

(Thánh bất khả chi, chi vị thần, dương dương như tại;

Dân đáo vu kim, thụ kỳ tứ, đẵng đãng nan danh)

Sáng tác của Vũ Quốc Trân còn lưu lại đến ngày nay, theo ông Trần Văn

Giáp, ngoài tác phẩm Bích Câu kỳ ngộ ra thì không thấy thi văn tập hoặc tác phẩm

khác có lẽ bị thất lạc so với thời gian Tuy nhiên, nếu thực sự ông là tác giả của

truyện Bích Câu kỳ ngộ thì ông đã có một đóng góp có ý nghĩa đối với nền văn học

của nước nhà

Trên đây là một vài nét khái quát sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp tác giả VũQuốc Trân mà chúng tôi muốn giới thiệu Hi vọng trong quá trình sưu tầm vànghiên cứu tác phẩm này, chúng tôi sẽ phát hiện thêm được nhưng điều mới mẻ vềông để cùng chia sẻ với bạn đọc

1713 vỡ đê ở Trấn Tây Sơn, Thanh Hóa, nước cuốn trôi mấy vạn nhà khiến chonhiều người lâm cảnh màn trời chiếu đất, phải dắt díu nhau đi tha phương Ngườichết đầy đường, làng xóm tiêu điều xơ xác Những người may mắn sống sót phải ăn

lá cây, vỏ cây để sống qua ngày Từ 1729 đến 1740 khi Trịnh Giang, một bạo chúa

Trang 29

bất tài, vô hạnh lên nắm quyền thì nhà Trịnh lại càng hà khắc, độc đoán Sách Việt

sử thông giám cương mục viết: “Đời vua Lê Ý Tông (1735-1740) trong lúc Trịnh

Giang cầm quyền, chính sự hư hỏng, thuế khóa nặng nề, lòng người ao ước sự loạnlạc” [47; 14] Không có xấu xa nào không được ghi lại trong sử sách khiến cho hếtthảy các tầng lớp nhân dân từ sĩ phu đến người lao động, từ thành thị cho đến thônquê đều oán giận, căm ghét Các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra: “Ở Ninh

Xá là Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, ở Mộ Trạch là Ngô Trác Oánh, ở Sơn Nam làHoàng Công Chất, tốp to, tốp nhỏ nổi lên khắp nơi, khởi binh xưng vị hiệu (…)Tuyển Tự xưng là Linh Vương, Trác Oánh tự xưng là Minh Công, họp cùng nhau ởNinh Xá đều lấy tiếng là phò nhà Lê Dân chúng miền đông nam vác cày cuốc,mang gậy gộc đi theo (…) Đám nhiều có hàng vạn, đám ít cũng kể hàng nghìn…”[47; 14] Chiến sự diễn ra vô cùng ác liệt Thủ lĩnh nghĩa quân có những lúc chỉ

“một thân thoát nạn nhưng hễ giơ tay hô một tiếng thì chốc lát lại sum họp nhưmây” [56; 407] Các cuộc nội chiến diễn ra trong một thời gian khá dài: NguyễnDanh Phương dấy binh hơn 10 năm trời, ngang nhiên xây dựng cung điện, đặt quanchức, thu tô thuế ở Tuyên Quag lừng lẫy một phương Các cuộc nổi loạn của HoàngCông Chất và Lê Duy Mật kéo dài suốt ba chục năm Tình trạng Thăng Long bị baovây bốn phía khiến cho các tập đoàn Lê Trịnh đối phó lúng túng: “Trạm báo tinkhông được nhanh chóng, phải hạ lệnh cho các lộ như Sơn Tây, Thanh Hóa đềuphải đặt những đồn hỏa hiệu trên các đỉnh núi, hễ có biến động là đôt lửa báohiệu…” [47; 15] Kể từ năm 1740, Trịnh Doanh được một số bề tôi bên phủ Liêusuy tôn lên ngôi chúa thay Trịnh Giang; ngoài chuyện biết chăm lo chỉnh đốn việcnước, tổ chức lại quân đội và phát động phong trào thanh niêm tòng chinh “khử bạoyên dân”, nhà chúa còn nêu gương, đích thân lâm trận diệt giặc, dân yên tâm mớiqui về, giặc giã từ đó dần dần được dẹp yên

Nho giáo, đến thời kỳ này, cũng mất dần địa vị độc tôn Những khuôn vàng,thước ngọc của kỉ cương đạo đức Nho gia cũng dần sụp đổ Phạm Đình Hổ viết về

thực trạng xã hội lúc này trong Vũ trung tùy bút: “đời suy thói tệ”, “thế đạo ngày một suy kém” Trong khi đó, sự xuất hiện của tư tưởng Nhân văn chủ nghĩa được

nhân dân hồ hởi đón nhận và nhanh chóng phát triển thành một trào lưu mạnh mẽ.Phật giáo, Đạo giáo, Lão giáo cũng được phục hưng Những trí thức tiến bộ đã vượt

ra khỏi sự ràng buộc của tư tưởng giai cấp hẹp hòi, để đồng cảm với nỗi khổ đau

Trang 30

của quần chúng Họ cảm thấy có trách nhiệm viết về số phận, cuộc đời của nhữngcon người bình thường ấy Văn chương nhà nho lúc này cũng không còn mang tinhthần “ngôn chí”, “tải đạo” như trước đây Các nhà nho hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếpcoi văn chương là chỗ để kí thác sinh mệnh, xem nó là một sự nghiệp chứ khôngphải chỉ là công cụ để bộc lộ mình Hay nói một cách khác, văn chương được xemnhư là một phương tiện để chuyển tải ước vọng khiến con người trở thành bất tử củangười sáng tạo ra nó Chất hiện thực trong các tác phẩm thời kì này gia tăng đáng

kể, nhất là trong thể loại truyện Nôm và Ngâm khúc và nó thể hiện bằng những khátvọng sống mang tính thế tục, cảm tính và trực tiếp Nho học giai đoạn này cũng đãkhởi phát những xu hướng học thuật mang đậm tính dân tộc Đây là một xu hướngtất yếu mang tính phục hưng văn hóa dân tộc sau một thời gian quá dài bị hoángngợp trước nền văn hóa đồ sộ của Trung Hoa

Nói một cách khác, phong trào dân tộc cùng trào lưu nhân văn chủ nghĩa đãnâng đỡ cho văn học giai đoạn này phát triển nhảy vọt và đạt được thành tựu chưatừng thấy cả về số lượng và chất lượng Bao trùm lên cả giai đoạn văn học là tiếngnói nhân danh quyền sống, quyền hạnh phúc, và khát vọng giải phóng con ngườikhỏi những khuôn phép hà khắc của đạo đức Nho giáo, đặc biệt là đối với người

phụ nữ Quan điểm “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí” bị đẩy xuống hàng thứ yếu Thay vào đó là lối viết về những điều “sở kiến”, “sở văn” Các tác giả đánh dấu sự

canh tân, đổi mới của văn học thời đại mình bằng những cố gắng viết về người thật,việc thật Họ nỗ lực bám sát các sự kiện lịch sử đương thời Vì thế, có những câu

chuyện thời kì này dường như là câu chuyện có thật (Chẳng hạn chuyện An ấp liệt

nữ của Đoàn Thị Điểm) Vai trò của con người thế tục được đặc biệt đề cao và theo

đó thánh thần cũng bị trần tục hóa Những tác giả tiến bộ còn bạo dạn làm nhữngcuộc thử nghiệm đi tìm hạnh phúc cho con người Họ không ngại ngần để thầnthánh lấy người phàm trần rồi sinh con đẻ cái để khẳng định tư duy biện chứng kháphổ biến con người thời đại Đặc biệt là quan niệm về hạnh phúc nơi trần thế Xem thế thì ta đã hiểu tại sao thái độ oán ghét chiến tranhvà khát vọng vềhạnh phúc và tự do của con người lại là một nội dung bao trùm lên các sáng tác của

Đặng Trần Côn trong đó có Chinh phụ ngâm và Bích Câu kỳ ngộ kí Theo Lịch

triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú: “Sách Chinh-phụ ngâm do Hươngcống Đặng Trần Côn soạn, nhân đầu đời Cảnh Hưng (1740-1786) việc binh nổi dậy,

Trang 31

người ta đi đánh giặc phải lìa nhà, ông cảm thời thế mà làm ra” [56; 115]. Và vớimột tính cách liều lĩnh, phóng túng tiêu biểu cho mẫu hình nhà nho tài tử, ĐặngTrần Côn hẳn không thể khép mình trong lối ứng xử mực thước của Nho gia Đó là

lí do tại sao ta thường tìm thấy cái tinh túy của ý tưởng phản Nho trong các sáng táccủa ông cùng một cái Tôi tự thể hiện mình của những nhà nho có xu hướng “duy -

sở - thích” Chán ghét con đường công danh, khoa bảng, ông chọn cách giải tỏa sinhlực của kẻ hào hoa bằng những câu chuyện tình yêu tự do vượt ngoài khuôn thướccủa lễ giáo phong kiến Tâm hồn phóng khoáng của Đặng Trần Côn cũng mauchóng đón nhận luồng gió của tư tưởng nhân văn thời đại đang ào ạt thổi tới đểnhân danh tiếng nói về quyền con người mà đi tìm một lối thoát cho hạnh phúc của

họ Những câu chuyện tu tiên mang đậm màu sắc Đạo giáo của ông phải chăng làmột thử nghiệm khá viển vông về lối thoát của nhân sinh? Nhưng dù sao, thà đềxuất một lối thoát không tưởng thì vẫn còn hơn việc cứ loay hoay trong bế tắc màvẫn không giải quyết trọn vẹn câu trả lời về bị kịch của đời người như Nguyễn Dữ

trước đó hay sao? Đó có lẽ là lí do ông viết Bích Câu kỳ ngộ kí Và tác phẩm của

ông, vì vậy, chứa đựng một nội dung nhân đạo, nhân văn khá sâu sắc

Bích Câu kỳ ngộ kí còn gắn với địa danh Bích Câu đạo quán, một di tích lịch

sử nổi tiếng nằm ở phố Cát Linh, gần Văn - Miếu Quốc Tử Giám Hai chữ “Bích

Câu” nghĩa là ngòi nước biếc Nó được rút ra từ tích kể về việc Vu Hựu, vốn là một

nho sinh đời Đường Một hôm, đi qua một ngòi nước chảy từ trong cung cấm ra,chàng nhặt được một chiếc lá đỏ Trên đó, có ghi bài thơ than tiếc cho tuổi xuân đangmất của một nàng cung nữ và mong ước được thoát ra bên ngoài tìm bạn trăm năm đểđược sống tự do, hạnh phúc Kì lạ thay, mấy năm sau, Vu Hựu lại gặp và kết duyênvới chính người con gái đã viết bài thơ ấy Từ đó, mỗi khi nhắc đến những cuộc gặp

gỡ như đã được định sẵn cơ duyên, người ta hay nhớ về câu chuyện này

Từ xưa đến nay, khi nhắc đến địa danh Bích Câu người ta thường nhắc mộtvùng đất linh thiêng, gắn với rất nhiều câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa người phàmtrần với người tiên giới Tương truyền vua Lý Thái Tổ một hôm nằm mộng thấy Phật

bà Quan Âm bẻ tám cành hoa sen trắng ban cho vua Tỉnh mộng, vua đem chuyệnnày hỏi các cao tăng Họ thưa rằng hồ Tảo Liên, phường Bích Câu ở cửa thành Nam

có loại sen trắng nở sớm, mùi hương rất thơm Vua liền cho xây ngôi chùa để phụngthờ Quan Âm gọi là chùa Đắc Quốc Đến đời Trần, nơi đây vẫn lưu truyền các câu

Trang 32

chuyện về việc các tiên nữ vì yêu cảnh đẹp nên thường xuống dạo chơi Một câuchuyện gặp tiên khác vẫn được kể, vào thời vua Lê Thánh Tông, nhà vua có lần tớihành hương tại chùa Ngọc Hồ nghe thấy một giọng nữ ngâm hai câu thơ:

Tới đây mến cảnh, mến thầy Tuy vui đạo Phật, chưa khuây lòng người.

Nhà vua ngỏ ý muốn cùng xướng họa nên đọc hai câu thơ:

Chày kình một tiếng tan niềm tục

Hồn bướm năm canh lẩn sự đời”.

Thiếu nữ nghe xong ngỏ lời thán phục nhưng sửa lại thành: “Gió thông đưa

kệ tan niềm tục/ Hồn bướm mơ tiên lẩn sự đời” Vua lấy làm tâm đắc bèn cho mời nàng về cung Đi đến nửa đường, qua cửa Đại Hưng tiên nữ nói: "Thiếp là tiên tào

bị đày xuống trần, vốn có duyên nợ với bệ hạ Nay hẵng xin tạm biệt, rồi ra còn gặp

nhau” Nói xong, nàng cưỡi hạc bay đi Vua nhớ nàng khôn xiết, sai dựng lầu Vọng

Tiên trước cưả Ðại Hưng, những mong được tái ngộ

Tuy nhiên, vùng đất Bích Câu không chỉ là vùng đất Phật mà còn được coi làmảnh đất của chốn "bồng lai tiên cảnh", thể hiện một khía cạnh khá đặc biệt kháctrong tôn giáo ở nước ta Đó là tư tưởng giải thoát mọi sự phiền muộn của đạoThiền kết hợp với hướng siêu thoát của đạo Tiên, nhằm đạt tới một cảnh giới thanhcao, sống hoà vui với thiên Đây thực sự là trường hợp hiếm hoi có sự biến đổi từvùng đất Phật thành nơi có cảnh sắc và những câu chuyện huyền bí mang đậm tínhchất của Đạo giáo thần tiên Từ nơi thờ Phật Quan Âm, nơi đây đã trở thành nơi thờngười đi đạo Nhắc đến Bích Câu đạo quán, người ta vẫn thường nhắc tới chuyệntình duyên giữa chàng thư sinh nhà nghèo là Tú Uyên và tiên nữ Giáng Kiều.Chitiết khi đất nước bị ngoại xâm, Tú Uyên nhờ có tài trị khỏi bệnh cho tướng giặc TràToàn nên hắn rút quân, đất nước bình yên, được vua Lê Thánh Tông phong tặng

“An quốc chân nhân” càng làm cho câu chuyện thêm ly kỳ, hấp dẫn Sau khi gia

đình Tú Uyên đắc đạo bay về trời, những người theo đạo Lão Trang lập Bích Câuđạo quán để thờ họ và dùng làm nơi tụ họp, tu tập Và để tưởng nhớ mối duyên tiên

và công lao của cụ Tú Uyên, 7 dòng họ làng An Trạch huyện Vĩnh Thuận tại phíaTây Nam ngoại thành cổ Hà Nội (nay thuộc phường Quốc Tử Giám) đã xây dựngcụm di tích Bích câu đạo quán để thờ tự gồm cả đạo quán Bích Câu và chùa AnQuốc Đạo quán này có ảnh hưởng mạnh trong vùng nên khu vực này sau đó được

Trang 33

gọi là phường Bích Câu Hàng năm, nhân dân ở đây mở hội tế vào ngày 4/2, ngàythành đạo của tiên ông (Tú Uyên), ngày 3/6 kỷ niệm ngày ngày chân nhân bay vềtrời và 12/8 là ngày sinh của tiên ông Sự chuyển biến từ nơi thờ Phật sang thờ Đạochính là một hiện tượng hiếm gặp trong kiến trúc di tích ở Hà Nội Nó là minhchứng rõ ràng nhất cho thời kỳ Nho, Phật, Đạo cùng tồn tại trong đời sống tư tưởng

của nhân dân.

Một điều đáng lưu ý là vào khoảng thế kỉ XVII, XVIII, Bích Câu còn trởthành một hiện tượng văn hóa đẹp của Thăng Long Theo tác giả Vũ Ngọc Khánh

trong bài Văn phái hồng sơn và thời điểm Bích Câu: Sau khi câu chuyện vua Lê

Thánh Tông gặp tiên nữ được lưu truyền trong dân gian, Bích Câu trở thành vùngđất tập trung nhiều gia đình quan lại và các trường học danh tiếng Văn nhân sĩ tử ởcác nơi trong cả nước thường tập trung về đây tạo cho vùng đất một không khí họcthuật đặc biệt sôi nổi Nhiều nhà ngôn luận, tư tưởng cũng đóng góp tiếng nói củamình đối với trào lưu văn hóa đương thời khiến cho Bích Câu trở thành một cái tên

có ý nghĩa văn hóa mà các nhà thức giả phải nhắc đến Tác giả Bùi Huy Bích đã

viết hẳn một cuốn sách lấy tên là Bích Câu thi tập chuyên về chủ đề Thăng Long.

Tiếp tục nghiên cứu hiện tượng Bích Câu, năm 1992, Đào Văn Chí xác định thờigian này ứng với thời kỳ Chính Hòa: giai đoạn đầu (từ 1715); đến giai đoạn pháttriển (1735) Ông nhận định: “Ở thời Bích Câu, Thăng Long có không khí như Paris

ở thế kỷ của ánh sáng với những xa lông ( ) những tài sắc rực rỡ trong lòng danh sĩKinh kỳ ( ) có những Hàn lâm viện tư gia, phóng khoáng như các câu lạc bộ( ).Không khí Bích Câu đã là mảnh đất quý cho những tâm hồn hướng đến sự vĩ đại, hệ

thống và thực tiễn ” [30] Những tên tuổi tiêu biểu cho khuynh hưóng chính trị tiến

bộ như Đặng Đình Tướng, Nguyễn Quí Đức, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Công Hãng,Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản đều ít nhiều gắn với hiện tượng Bích Câu Các tác

phẩm Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Đoạn trường tân thanh và các tài năng

như Ngô Thì Nhậm, Lê Quí Đôn, Phan Huy Chú, rồi những Đoàn Thị Điểm, HồXuân Hương v.v đều chịu tác động của không khí văn hóa thời điểm này Tác giả

Vũ Ngọc Khánh còn chỉ rõ: “Bích Câu quả thực là nơi đào tạo (hoặc gây tác dụngsâu sắc đến các tài năng của hai họ Nguyễn Tiên Điền, họ Nguyễn Trường Lưu.Hai bà vợ của Nguyễn Huy Tự (là cháu của Nguyễn Du) đều có tài văn thơ Concủa bà Nguyễn Thị Đài đã sinh ra Nguyễn Huy Hổ là tác giả Mai Đình Mộng ký

Trang 34

Em của các bà lại cũng là danh sĩ: Nguyễn Thiện đã nhuận sắc lại cuốn Hoa Tiên.Hình như các họ Phan (của Phan Huy Ích), họ Ngô (của Ngô Thì Nhậm), họ Lê(của Lê Hữu Trác) đều lui tới khu vực Bích Câu này của Nguyễn Khản NguyễnHành đã tự xưng mình là công tử Bích Câu (trong bài viết về phường Đồng Xuân).

Rõ ràng ở Bích Câu có đủ những gì mà cuộc sống đài các (xã hội phong kiến)cuộc sống thị dân và cuộc sống nghệ thuật để bồi dưỡng cho một tài năng như tàinăng Nguyễn Du sau này” [30] Bích Câu quả thực là một địa chỉ văn hóa rực rỡ ởViệt Nam vào cuối thế kỷ XVIII

Trải qua nhiều năm binh đao, hỏa hoạn, Bích Câu đạo quán đã thay đổi rấtnhiều Vào thời kỳ chống Pháp, nó đã có lúc bị san phẳng Sau đó, nhân dân địaphương lại xây dựng, sửa chữa, tu bổ để Bích Câu đạo quán ngày hôm nay vẫn làmột di tích lịch sử được nhiều người viếng thăm, tìm hiểu Những năm gần đây,

Bích Câu đạo quán lại trở thành một trong số ít những địa chỉ tổ chức các canh hát

Ca Trù – loại hình nghệ thuật đặc sắc của Việt Nam đã được UNESCO công nhận

di sản văn hóa

1.2.1.2 Truyền bản

Theo Trần Văn Giáp, tên sách Bích Câu kỳ ngộ kí có thấy ghi ở thiên Văn tịch

chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú Nhưng nó không đứng

riêng là một tên sách mà chỉ là một truyện trong sáu truyện của sách Tục truyền kỳ hay Truyền kỳ tân phả.

Sáu truyện ghi tên Tục truyền kỳ theo Phan Huy Chú chép là:

1- Bích Câu kỳ ngộ (cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu)

2- Hải khẩu linh từ (Đền thiêng cửa biển)

3- Vân Cát thần nữ (Gái thần ở đất Vân Cát, tức là vùng Đền Sòng, Phố Cát

thuộc Thanh Hóa)

4- Hoành Sơn tiên cục (Tiên cục ở Hoành Sơn)

5- An ấp liệt nữ (Gái trinh liệt ở làng An Ấp)

6- Nghĩa khuyển khuất miêu (Chó khôn chịu nhịn mèo)

Thế nhưng trên thực tế, văn bản lại có sáu truyện: Hải Khẩu linh từ lục, Vân

Cát thần nữ, An Ấp liệt nữ, Bích Câu kì ngộ, Tùng bách thuyết thọai và Long hổ đấu kì Như vậy, nguồn tư liệu rõ ràng có sự chênh lệch nhau khá nhiều Phải

chăng, vì bản gốc Tục truyền kỳ đã thất lạc một phần Còn người đời sau lại tiếc bộ

Trang 35

ván cũ nên khắc thêm truyện vào để bán kiếm lời? Vì vậy đã gây nên những tranh

cãi về vấn đề tác giả của Bích Câu kỳ ngộ kí như chúng tôi đã nói ở trên Chắc chắn

ba truyện Hải Khẩu linh từ lục, Vân Cát thần nữ, An Ấp liệt nữ là tác phẩm của Đoàn Thị Điểm và đã được khắc in trước nhất nhưng ba truyện Bích Câu kỳ ngộ,

Tùng bách thuyết thọai và Long hổ đấu kì thì hẳn là không phải

Theo Lê Tùng Lâm, thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm hiện giờ có hai bản

Truyền kì tân phả có in Bích Câu kỳ ngộ kí, đó là: Truyền kì tân phả kí hiệu A.48 (bản A2) và Truyền kì tân phả kí hiệuVHv.1487(bản A3) Bản A2 là bản in cỡ 27 x

15, dày 182 trang được in tại Lạc Thiện Đường, năm Gia Long thứ 10 (1811) Đâychính là văn bản đã được hai ông Trần Văn Giáp và Hoàng Xuân Hãn dày công

khảo cứu Phần mục lục của văn bản này có chép đủ 6 truyện: Hải Khẩu linh từ,

Vân Cát thần nữ, An Ấp liệt nữ, Bích Câu kì ngộ, Tùng bách thuyết thọai và Long

hổ đấu kì Bên dưới hai truyện Hải Khẩu linh từ, An Ấp liệt nữ có lời ghi chú:

“truyện do Văn Giang Đoàn Hồng Hà nữ tử sáng tác, anh trai Đạm Như Phủ phê bình” nhưng bốn truyện còn lại thì không Đặc biệt với ba truyện sau, kết thúc hai

truyện Bích Câu kỳ ngộ kí, Tùng bách thuyết thọai đều có chữ “thiên tử vạn vạn niên”, riêng truyện cuối cùng là Long hổ đấu kì thì có dòng “thiên tử vạn vạn niên chi thọ” Ba truyện ở 90 trang đầu sách không hề có những dòng chữ này

Bản A3 là bản chép tay theo lối chữ chân khá đẹp nhưng cũng lộn xộn, có lúclại chép vài trang chữ thảo, có cước chú, có mục lục Sách dày 158 trang, cỡ 27 x15,5 Bản này chép lại bản in của Đan An Tập Văn Đường tháng 2 mùa xuân năm

Tự Đức thứ 17 (1864) Nội dung có sáu truyện: Hải Khẩu linh từ, Vân Cát thần nữ,

Tùng bách thuyết thọai , chép phụ ba truyện An Ấp liệt nữ, Bích Câu kỳ ngộ và Long hổ đấu kì

Ngoài ra tác phẩm còn được chép trong văn bản Tham khảo tạp kí, kí hiệu A.939 Bích Câu kỳ ngộ được chép trong 86 trang cuối quyển hạ sách này Cuốn

sách này đề rõ tên người biên soạn là Phạm Đình Hổ Đây là một bản viết tay theolối chữ khải khá đẹp Sách dày 372 trang, cỡ 30 x 20, chia làm hai quyển thượng và

hạ Đầu sách có mục lục Mỗi trang chép 9 dòng, mỗi dòng khoảng 20 chữ Đầusách có ghi rõ: “Đan Sơn Phạm tiên sinh soạn Tiên sinh húy Đình Hổ” Như vậysách là do người khác chép lại sau khi ông đã mất Cuối quyển thượng có ghi rõ têntác giả và thời gian viết sách “Hoàng Lê Cảnh Hưng Đinh Dậu” (năm 1777) Tuy

Trang 36

nhiên Phạm Đình Hổ sinh năm 1768, tới lúc này ông mới có 9 tuổi, chưa thể viếtđược một cuốn sách tham khảo uyên bác như vậy Khi xem xét cuốn sách này trongmối tương quan với các tác phẩm của Phạm Đình Hổ, nhà thư mục học Trần VănGiáp đã giải thích một cách rất hợp lý: đó là do ông còn luyến tiếc nhà Lê nên mớiviết như vậy Kỳ thực, thời gian ở đây là năm Minh Mệnh thứ 18 (1837).

Về nội dung của truyện ta thấy, sự ảnh hưởng của yếu tố dân gian đối với cốt

truyện Bích Câu kỳ ngộ kí khá sâu sắc Trên thực tế, có nhiều ý kiến cho rằng, tác giả truyện Bích Câu kỳ ngộ kí vốn là tín đồ của đạo thần tiên và được uốn nắn để đề cao tư

tưởng thoát li Nên trong truyện có rất nhiều chi tiết được sáng tạo để nhằm tuyêntruyền cho triết lí của Đạo giáo Song, nếu xem xét kĩ ta cũng thấy có nhiều chi tiếttrong truyện rất giống với những câu chuyện dân gian đã được lưu truyền từ trước đó.Chẳng hạn mô-tip người ẩn thân trong vật cũng được sử dụng trong các truyện như

Tấm Cám, Sọ Dừa, Lấy chồng dê, Người lấy cóc… Trong truyện Tấm Cám, cô Tấm

cũng ẩn mình trong quả thị để dọn dẹp nhà cửa giúp bà lão bán hàng nước, xong việclại biến hình trở lại như cũ cho đến khi bị bà lão phát hiện và xé tan vỏ thị mới chịuhiện nguyên hình và ở lại với bà So sánh với chi tiết Giáng Kiều bước ra từ bức tranh

giúp Tú Uyên cho đến khi bị chàng phát hiện và ở lại với chàng trong truyện Bích Câu

kỳ ngộ kí quả thực có sự tương đồng rất rõ Về chi tiết thiếu nữ hóa thân trong tranh,

Vũ Ngọc Phan cho rằng đó hoàn toàn không phải là sản phẩm của thứ tôn giáo nào màchỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng phi thường của dân gian mà thôi: “đó là sản phẩmcủa óc tưởng tượng phi thường của người dân không liên quan gì đến thuyết luân hồitrong đạo Phật Chỉ có trí tưởng tượng phi thường mới khiến tác giả vô danh trongquần chúng nhân dân tưởng tượng được cái vật vô tri là bức tranh có một sức sinh độngtiềm tàng : người tố nữ rón rén ở trong tranh bước ra trong khi vắng vẻ, rồi khi đã thu

vén nhà cửa cho đức lang quân xong lại nhập vào tranh cũ” [54; 24] Chi tiết này được

so sánh với chi tiết cô Tấm hóa thân nhưng cũng theo Vũ Ngọc Phan, có sự khác biệt

rất nhiều giữa hai chi tiết mặc dù đều là mô tip “người ẩn thân” trong vật “Nếu sự hóa

thân của Tấm thể hiện quan niệm về thuyết luân hồi của đạo Phật, buộc con người tatrước khi sung sướng phải trải qua đủ mọi cay đắng phong trần Khi đặt nó vào hoàncảnh lịch sử và trình độ của con người vào cái thời kì cách đây ngót nghìn năm, nó chỉ

có ý nghĩa ấy một phần nhỏ Dù đã hóa ra chim, cây, quả thị Tấm vẫn nhìn rõ kẻ thù và

tin tưởng ở hạnh phúc mà mình đáng được hưởng” [54; 24]

Trang 37

Ngoài ra, có một số truyện dân gian có sử dụng mô – tip Duyên kỳ ngộ, Người

trần kết duyên cùng tiên nữ, Người trần lên cõi tiên, Gái ngoan dạy chồng tương tự

như truyện Bích Câu kỳ ngộ kí khiến câu chuyện mang màu sắc hoang đường, kì ảo Chẳng hạn, truyện Nàng tiên trong vỏ ốc của Sưu thần ký kể rằng: Có một chàng

trai nghèo khổ thường khấn Long Vương để có một số phận khá hơn Một hôm,

chàng nhặt được vỏ ốc đẹp bèn mang về Giống như chuyện Bích Câu kỳ ngộ kí, có

một cô gái xinh đẹp cũng chui ra bí mật dọp dẹp, nấu ăn khi anh vắng mặt Cho đếnmột hôm bị anh bắt gặp, cô gái nói mình là con gái Long vương đến giúp đỡ choanh rồi biến mất Từ đó, mỗi khi anh túng thiếu đều thấy trong vỏ ốc có tiền Đến

khi anh chết thì vỏ ốc cũng biến mất Một chuyện khác có tên Sự tích cửa ô Cầu

-dền cũng có những chi tiết giống với truyện truyền kỳ Bích Câu kỳ ngộ : Đời nhà

Mạc, ở làng Kim Liên có một người học trò nghèo, vì không có gì cúng mẹ ngàygiỗ nên chỉ ngồi mà khóc Đêm khuya anh giật mình tỉnh dậy thấy trên bàn thờ đènhương đầy đủ Dưới bếp có một cô gái đẹp đang giục đầy tớ dọn cỗ Anh chạy vào

ôm lấy cô gái hỏi duyên cớ thì cô gái cho biết là thiên đình thấy anh nghèo khổ nêncho người xuống kết bạn Sau khi ở với anh tám năm cô gái phải về trời bèn dặnchàng trai hãy trồng rau dền vào mấy mẫu ruộng mới tậu Nhờ vậy, anh đã cứuđược nhiều người qua được nạn đói Sau người ta gọi chỗ anh ở là Cầu Dền Như

vậy, truyện Bích Câu kỳ ngộ kí rõ ràng đã chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những cốt

truyện dân gian trước đó

Việc Tú Uyên lấy vợ tiên, mơ ước một cuộc sống tốt đẹp và ái ân lâu dài nơitiên cảnh là một mô –tip quen thuộc trong truyện dân gian hay trong các tác phẩm

truyền kỳ đã ra đời trước đó như Duyên lạ xứ hoa trong Thánh Tông di cảo và Từ

Thức lấy vợ tiên trong Truyền kỳ mạn lục Tuy nhiên vấn đề đặt ra là: dù chịu ảnh

hưởng của truyện dân gian và những câu chuyện trước đó đi chăng thì Đặng Trần

Côn là người sáng tác nên truyện truyền kì Bích Câu kỳ ngộ kí hay chỉ là người ghi

chép lại câu chuyện đã được lưu truyền trước đây? Tìm lời giải đáp cho vấn đề này,chúng tôi thấy khá nhiều chi tiết khá thú vị Theo Hoàng Xuân Hãn, các sách chép

về chuyện Tú Uyên hoặc nói đến đền Tú Uyên đều được soạn sau Bích Câu kỳ ngộ

kí Chẳng hạn, sách Hoàng Việt nhất thống dư đại chí, quyển thượng, của Lê Quang

Định (1807) có chép: “Hồ Tú Uyên ở ngoài cửa Tây Nam thành Hà Nội, tứcphường Bích Câu Giữa hồ có chùa, tên là chùa An Quốc Thế truyền có một thư

Trang 38

sinh tên là Tú Uyên gặp tiên nữ ở đó Vì đó đặt tên hồ” [10 ; 21] Còn theo truyện

Bích Câu kỳ ngộ kí thì đền Tú Uyên có từ thời Hồng Đức, sau khi Tú Uyên đã lên

tiên Hoàng Xuân Hãn cho rằng: chuyện Tú Uyên kết duyên cùng tiên nữ nhờ bứchọa có thể có trước đời Đặng Trần Côn Như thế thì họ Đặng có thể đã theo cốttruyện có sẵn mà bày đặt những thi, từ để thành văn chương tạo thành một câuchuyện tình yêu vô cùng độc đáo và lãng mạn lưu truyền hậu thế chăng?

1.2.2 Vấn đề văn bản Bích Câu kỳ ngộ

1.2.2.1 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm

Theo ông Trần Văn Giáp, tác giả Bích Câu kỳ ngộ sinh vào khoảng trước thời

Minh Mạng (1820 - 1840) sống giữa thời Tự Đức (1848 - 1882) Thời đó, kể vềtrạng thái xã hội dưới chế độ phong kiến thì thấy còn suy tàn hơn thời Hậu Lênhiều; kể về cực khổ của nhân dân các tầng lớp ta cũng thấy gay go hơn thời LêTrịnh Ngoài những nội chiến giữa triều đình với các cuộc khởi nghĩa liên tiếp có hệthống, còn có thêm nạn xâm lăng hà khắc: nào quân Pháp đến cướp đất nước, nàoquân Mãn Thanh mượn tiếng cứu viện giày xéo nhân dân Hoàn cảnh xã hội này

xem ra không khác mấy so với thời Đặng Trần Côn viết Bích Câu kỳ ngộ kí Chính

vì vậy, họ Vũ có một sự đồng cảm sâu sắc với tiền nhân Ông có lẽ muốn mượn bảntruyện kí của Đặng Trần Côn để sáng tác ra một áng Việt văn riêng, diễn tả nỗi khổtâm không nói ra được của mình và những con người trong cùng giai cấp Bên cạnh

đó, Vũ Quốc Trân muốn bày tỏ mong muốn thoát lý cương tỏa, sống đời sốngphóng túng, tự do của con người thời bấy giờ

Về tư tưởng, văn học thời kỳ này chịu ảnh hưởng từ đề tài của những ngànhtriết học ngoại lai (như Ấn Độ, Trung Quốc) nên nội dung khá đa dạng và phongphú Xu hướng chung trong tư tưởng mà giới trí thức thời kỳ này chịu ảnh hưởng là

tư tưởng Tam giáo đồng nguyên Tất nhiên, luồng tư tưởng này không phải đến bây

giờ mới xuất hiện mà đã bắt đầu được nhen nhóm từ đời Trần khi Phật giáo vẫn cònđương ở giai đoạn phát triển thịnh trị Nhưng sang đến thế kỉ XIX, nó phát triển khámạnh mẽ Lí giải cho sự dung hợp này, các nhà nghiên cứu và các nhà tư tưởng đềucho rằng: sự dung hợp của ba học thuyết Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo là cầnthiết đối với sự phát triển của đời sống con người lúc ấy Nguyễn An Thiền trong

bài Tiểu dẫn viết cho cuốn Đạo giáo nguyên lưu của mình viết về hiện tượng này:

“Có thứ giáo hoá giúp con người thoát khỏi vòng sinh tử; có thứ giáo hoá giúp con

Trang 39

người sửa mình để giữ lấy cái chân; có thứ dạy về luân lý cương thường, tề gia trịquốc ( ) Đại để thánh nhân tuỳ cơ, tuỳ sức, tuỳ thời, tuỳ đời mà thiết lập sự giáohoá đó thôi Đạo vốn nhất quán, sao có thể gọi là ba?” [49] Theo tác giả Trần

Nghĩa trong bài Quá trình hội nhập Nho - Phật – Lão hay sự hình thành tư tưởng

Tam giáo đồng nguyên ở Việt Nam : Đến thời kỳ này, Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo

từ chỗ quay lưng lại với nhau, cuối cùng đã kết thành một mạng lưới tạo nên sứcmạnh vì mục đích nhân văn, vì cuộc sống con người Nói như Triệu Sân (vua Hiếu

Tông thời Nam Tống): “Nho trị thế, Phật trị tâm, Lão trị thân” (lấy Nho trị đời, lấy

Phật trị tâm, lấy Đạo trị thân) Điều này cắt nghĩa vì sao tư tưởng Tam giáo đồngnguyên thời kỳ này được thể hiện rất rõ qua các sáng tác văn học Quay trở về với

vấn đề tác phẩm Bích Câu kỳ ngộ chúng ta thấy, nội dung của tác phẩm là triết lý

của Đạo Phật đã được Đạo giáo hóa, phối hợp với cả Khổng giáo thành một thứ triết

lý hỗn hợp của Việt Nam gọi là Tam giáo Chúng tôi sẽ nói kỹ hơn vấn đề này ở

phần sau Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về các văn bản Bích Câu kỳ ngộ còn được

lưu truyền đến bây giờ

1.2.2.2 Truyền bản

Các bản truyện Nôm cổ thường có nhiều bản chép khác nhau Đối với trường

hợp truyện Nôm Bích Câu kỳ ngộ cũng vậy Cho đến nay, theo Trần Văn Giáp có

năm bản khắc khác nhau cùng được lưu giữ:

1- Bản Phúc Chí, do nhà xuất bản Phúc Chí phố hàng Bồ, Hà Nội, xuất bản

năm 1950

2- Bản Thi Nham do ông Đinh Gia Thuyết hiệu Thi Nam đính chính và chú

thích, xuất bản trong lại cổ văn Việt Nam, sách giáo khoa năm 1952

3- Bản Cẩm Văn lưu tại thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ, Hà Nội Bản này

là một bản bằng chữ Nôm, viết tay, số kí hiệu của thư viện đề AB.83 Trên đầu sách

có đề: “Tự Đức nhị thập lục niên, tuế tại Quý Dậu trọng hạ cát nhật, Bích Câu kỳ

ngộ (Tú Uyên) Cẩm văn đường tàng bản” (Ngày tốt tháng trọng hạ, năm Tự Đức

thứ 26, là năm Quý Dậu 1873), Bích Câu kỳ ngộ (truyện Tú Uyên) nhà Cẩm VănĐường tàng bản)

4- Bản Đan Loan sao bằng chữ Nôm, trích trong tập gia phả nhà họ Vũ Đan Loan, tức là nhà tác giả áng văn Nôm truyện Bích Câu Kỳ ngộ

Trang 40

5- Bản Tân Dân, ngoài bìa và đầu sách đề tên là Bích Câu kỳ ngộ dẫn giải,

biên giả Nguyễn Đỗ Mục, xuất bản lần thứ nhất trong Phổ thông bán nguyệt san, số

156 – tháng tư năm 1945

Trong quá trình khảo cứu tư liệu, chúng tôi lấy bản Đan Loan làm bản gốc

bởi lẽ bản chép này đầy đủ hơn cả lại được viết bẳng chữ Nôm Đây cũng là bảnchép được hậu duệ của cụ Vũ Quốc Trân lưu giữ trong nhà do đó tính xác thực vềvăn chương và tác giả hẳn sẽ chắc chắn hơn

Nói về hiện tượng truyện Nôm diễn lại các tích từ cốt truyện dân gian hoặctruyền kỳ Có nhiều ý kiến cho rằng: thực ra các tác giả truyện Nôm chỉ diễn cốttruyện cũ bằng thơ sáu tám mà thôi Dù có sáng tạo đi chăng cũng không nằm ngoàiviệc cải biên, chỉnh lí hoặc lắp ghép các tình tiết, các mô-tip vốn có sẵn trong truyệndân gian Và việc thêm hay bớt kia cũng không thể vượt ra khỏi khuôn khổ củanhững truyện cũ, tích cũ Nói như vậy, có lẽ không công bằng với tác giả truyện

Bích Câu kỳ ngộ bởi lẽ so với bản chữ Hán, truyện Nôm hoàn toàn không phải là

một bản dịch đơn thuần mà đã có sự gia công sáng tạo rất lớn của tác giả Không

những vậy Bích Câu kỳ ngộ cũng mang rất nhiều đặc điểm đặc trưng của truyện

Nôm Nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp đã khẳng định: “Tác giả(…) chỉ phỏng theobản Hán văn mà đặt ra một thể truyện Nôm khác hẳn, lối ca dao, thể lục bát…Truyện Bích Câu đối với bản chữ Hán cũng gần giống như truyện Kiều của Nguyễn

Du với Thanh Tâm tài nhân lục của Trung Quốc” [11]

Xét về đề tài, Bích Câu kỳ ngộ sử dụng một mô – tip quen thuộc của truyện

Nôm là đi thi lập danh hay mô típ về những mối tình giai nhân tài tử Tình yêu ấyđược miêu tả khá lãng mạn Còn gì thú vị hơn việc một chàng trai nhà nghèo nhưng

có tài, say mê học hành một ngày nọ lại gặp được tiên nữ ở nơi có khung cảnh đẹp

đẽ Tình yêu ấy cũng trải qua khá nhiều cung bậc thăng trầm của tình cảm: cókhoảng khắc “sét đánh”, có sự mơ tưởng, tương tư, có khổ sở đớn đau và có hạnhphúc tột cùng Tài tử gặp giai nhân và bị trúng tiếng sét ái tình cũng là đề tài khá

quen thuộc của những truyện như: Phạm Công – Cúc Hoa, Tống Trân – Cúc Hoa,

Phan Trần, Đoạn trường tân thanh… Tuy nhiên, tác giả Lại Nguyên Ân lại cho

rằng: “mối tình hư cấu TÚ Uyên – Giáng Kiều trong Bích Câu kỳ ngộ chẳng quachỉ là hình bóng của những cuộc tình có thật trong đời Chẳng hạn cuộc nhân duyêngiữa tiểu thư trưởng nữ quan tham tụng Nguyễn Khản, nhà ở xóm Bích Câu này với

Ngày đăng: 01/07/2016, 13:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
2. Lại Nguyên Ân (biên soạn với sự cộng tác của Bùi Văn Trọng Cường), (1999), Từ điển văn học Việt Nam (Từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam
Tác giả: Lại Nguyên Ân (biên soạn với sự cộng tác của Bùi Văn Trọng Cường)
Năm: 1999
3. Lại Nguyên Ân (2013), “Qua Bích Câu nhớ tác giả Hoa Tiên”, http://lai nguyenan. free.fr/DLNX/QuaBichCau.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qua Bích Câu nhớ tác giả Hoa Tiên
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 2013
4. Nguyễn Huệ Chi (2000), “Nắm bắt lại những vấn đề phong phú của văn học thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX”, Tạp chí văn học(4), tr.3- 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nắm bắt lại những vấn đề phong phú của văn họcthế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX”, "Tạp chí văn học(4)
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 2000
5. Ngô Lập Chi (chủ biên), Trần Văn Giáp (1962), Truyền kì tân phả, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kì tân phả
Tác giả: Ngô Lập Chi (chủ biên), Trần Văn Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962
6. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chương loại chí, quyển 4, phần văn tịch chí, Nxb Sử học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1961
7. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (2010), Gương mặt Thăng Long, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Gương mặt Thăng Long
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi chủ biên
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2010
8. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (1999), Các triều đại Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1999
9. Hồ Đắc Duy (2013), “Đêm qua là cái đêm gì? Một câu hỏi trong tác phẩm Bích Câu kỳ ngộ”, http://ykhoa.net/NCKH/bshodacduy/hdd0004.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đêm qua là cái đêm gì? Một câu hỏi trong tác phẩmBích Câu kỳ ngộ”
Tác giả: Hồ Đắc Duy
Năm: 2013
10. Lê Quang Định (2005), Hoàng Việt nhất thống dư đại chí, quyển thượng, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Việt nhất thống dư đại chí
Tác giả: Lê Quang Định
Nhà XB: NxbThuận Hóa
Năm: 2005
11. Trần Văn Giáp (1958), Bích Câu kỳ ngộ khảo thích, Nxb Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bích Câu kỳ ngộ khảo thích
Tác giả: Trần Văn Giáp
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1958
12. Trần Văn Giáp (1996), Giới thiệu và xác định giá trị Bích Câu kì ngộ, in trong tập Nhà sử học Trần Văn Giáp, Nxb Khoa xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu và xác định giá trị Bích Câu kì ngộ", in trongtập "Nhà sử học Trần Văn Giáp
Tác giả: Trần Văn Giáp
Nhà XB: Nxb Khoa xã hội
Năm: 1996
13. A. Gurevich (1996), Những phạm trù văn hóa trung cổ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phạm trù văn hóa trung cổ
Tác giả: A. Gurevich
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
14. Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam thi văn hợp tuyển (mục Bích Câu kì ngộ), Trung tâm học liệu xuất bản, in lần thứ 9, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thi văn hợp tuyển
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Năm: 1968
15. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ vănhọc
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
16. Hoàng Xuân Hãn (1953), Chinh phụ ngâm bị khảo, Nxb Minh Tân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinh phụ ngâm bị khảo
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Nhà XB: Nxb Minh Tân
Năm: 1953
17. Hoàng Xuân Hãn (1964), Bích Câu kỳ ngộ, Nxb Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bích Câu kỳ ngộ
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 1964
18. Hoàng Xuân Hãn (2011), La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 3, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
19. Nguyễn Đức Hiền, Hữu Ngọc (1998), La Sơn Yên Hồ, tập 3, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: La Sơn Yên Hồ
Tác giả: Nguyễn Đức Hiền, Hữu Ngọc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
30. Vũ Ngọc Khánh (2012), Văn phái Hồng Sơn và thời điểm Bích Câu, http://vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/dat-nuoc-xu-nghe/van-phai-hong-son-va-thoi-diem-bich-cau Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w