Phát triển du lịch phải tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành kinh tế, văn hóa xã hội; phải gắn với việc giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; kết hợp giữa việc
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Du lịch được biết đến như một ngành “ Công nghiệp không khói” hay “ con gà
đẻ trứng vàng” của nền kinh tế thế giới Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ xa xưa cùng với quá trình phát triển của loài người, đây là ngành dịch vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu vui chơi giải trí, tìm hiểu, khám phá thiên nhiên, xã hội, các nét đẹp văn hóa của dân cư ở những vùng miền khác nhau trên thế giới
Ngành du lịch góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nguồn thu nhập lớn, tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc các quốc gia, góp phần sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhờ sự phát triển của du lịch mà nhiều giá trị
về mặt tự nhiên cũng như nhân văn được tôn tạo, bảo tồn và phát triển tạo thành các giá trị kinh tế
Lạng Sơn là một tỉnh thuộc khu vực Đông bắc nước ta Nơi đây có nguồn tài nguyên du lịch hết sức phong phú và đa dạng Trong định hướng phát triển kinh tế của tỉnh Lạng Sơn có đề cập đến vấn đề phát triển du lịch và nhận định rõ rằng: “Phát triển
du lịch Lạng Sơn tương xứng với tiềm năng, thế mạnh trên địa bàn để nhanh chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Phát triển du lịch phải tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành kinh tế, văn hóa xã hội; phải gắn với việc giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; kết hợp giữa việc bảo
vệ và cải thiện môi trường sinh thái; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội để
du lịch Lạng Sơn trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của vùng Đông Bắc của đất nước”(Theo Nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh ủy Lạng Sơn)
Tuy nhiên, phát triển du lịch dựa trên tiềm năng của mình ở Lạng Sơn vẫn chưa thực sự đạt hiệu quả, chưa khai thác hết chiều sâu cũng như nguồn tài nguyên du lịch của tỉnh Do đó, việc nghiên cứu về tiềm năng du lịch của Lạng Sơn mong muốn có cái nhìn tổng thể về tiềm năng du lịch tỉnh Lạng sơn Từ đó, đề xuất định hướng phát triển du lịch một cách hợp lí là hết sức cần thiết Vì vậy “Bước đầu tìm hiểu tài nguyên
du lịch tỉnh Lạng Sơn” được lựa chọn cho đề tài nghiên cứu khoa học
Trang 22 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Khái quát cơ sở lí luận và thực tiễn về ngành du lịch
- Phân tích, đánh giá tài nguyên du lịch của ngành du lịch tỉnh Lạng Sơn
3 Giới hạn
- Về nội dung: Đề tài tìm hiểu hệ thống tài nguyên du lịch của tỉnh Lạng Sơn
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi tỉnh Lạng Sơn, với
4 Quan điểm và các phương pháp nghiên cứu
4.1 Các quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống
Du lịch Lạng Sơn là một phần của du lịch Việt Nam Lạng Sơn nằm trong không gian du lịch của tiểu vùng Đông Bắc với các tuyến đường giao thông nối và gắn liền các trung tâm du lịch khác của cả nước như: Hà Nội, Quảng Ninh…Quan điểm hệ thống cho phép phân tích, tổng hợp và xác định mối quan hệ hữu cơ trong hoạt động sử dụng tài nguyên và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn Do vậy khi bước đầu nghiên cứu tài nguyên du lịch tỉnh Lạng Sơn ta cũng phải xem xét quan điểm hệ thống
4.1.2 Quan điểm lãnh thổ
Bất kì một hiện tượng địa lí hay hoạt động địa lí nào dù là tự nhiên hay kinh tế -
xã hội thì đều gắn liền với một không gian lãnh thổ cụ thể Trong mỗi lãnh thổ luôn có
sự phân hóa nội tại và có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với những lãnh thổ xung quanh
nó trên cả phương diện tự nhiên và kinh tế - xã hội
Trang 34.1.5 Quan điểm thực tiễn
Quan điểm thực tiễn được sử dụng để đánh giá đặc điểm, tiềm năng của một lãnh thổ nào đó từ đó đưa ra những định hướng mang tính thực tiễn, giúp sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch Tất cả những định hướng, giải pháp đưa ra phải được xuất phát từ thực tiễn, gắn liền với thực tiễn Quan điểm thực tiễn cũng là cơ sở
để giới hạn nghiên cứu đề tài này
4.1.6 Quan điểm phát triển bền vững
Quan điểm phát triển bền vững chính là yếu tố cần được quan tâm nhất trong khi phát triển kinh tế nói chung và kinh tế du lịch nói riêng Phát triển du lịch ở hiện tại phải đảm bảo tính bền vững, không ảnh hưởng đến phát triển trong tương lai về các tài nguyên thiên nhiên Từ đó giúp nhà quản lí có những chính sách, biện pháp phát triển theo hướng tích cực như: bảo tồn, tôn tạo…những nguồn tài nguyên du lịch ấy
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
Phương pháp tổng hợp và phân tích số chính là cơ sở xuyên suốt đề tài nghiên cứu Các tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau được chọn lọc, tổng hợp lại và phân tích
Trang 4một cách kĩ lưỡng để đưa ra những nội dung cần thiết Từ đó có những định hướng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu sao cho phù hợp nhất.
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực địa
Phương pháp nghiên cứu thực địa là phương pháp đặc trưng của những nhà địa
lí nói chung và những người làm nghiên cứu về địa lí du lịch nói riêng Thông qua nghiên cứu thực địa người nghiên cứu có thể có thêm những hiểu biết sâu rộng, chính xác, có cái nhìn khách quan tránh những đánh giá một cách chủ quan, phiến diện, mơ
hồ Đây chính là cơ sở để đưa ra những tư liệu, thông tin một cách chính xác nhât Đối với đề tài nghiên cứu “ Bước đầu tìm hiểu tài nguyên du lịch tỉnh Lạng Sơn” tôi đã được tận mắt quan sát những tài nguyên thiên nhiên, chụp lại những hình ảnh để sử dụng làm tư liệu minh họa nhằm khẳng định tính chân thực cho đề tài
4.2.3 Phương pháp phân tích số liệu thống kê
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, tôi có thu thập được số liệu từ cơ quan
“Xúc tiến du lịch Lạng Sơn” Những số liệu luôn thay đổi theo thời gian và cónhiều nguồn khác nhau nên cần được chọn lựa và cung cấp những số liệu chính xác và có độ tin cậy cao Trên cơ sở đó đưa ra những nhận định và kết luận một cách chân thực và chính xác
5 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về du lịch
Chương 2: Tài nguyên du lịch tỉnh Lạng Sơn
Chương 3: Một số định hướng khai thác tài nguyên du lịch tỉnh Lạng Sơn
Trang 5NỘI DUNGCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THỰC TIỄN VÀ DU LỊCH
1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Khái niệm du lịch
Hoạt động du lịch được biết đến từ rất lâu đời bởi nó là nhu cầu thiết yếu của con người Quá trình phát triển của du lịch luôn đi đôi với quá trình phát triển của loài người, theo dòng lịch sử để khẳng định vai trò của nó, ngày nay du lịch được biết đến
là một trong những ngành kinh tế mang lại giá trị cao, đặc biệt là đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho mỗi quốc gia Hiện nay thuật ngữ du lịch được sử dụng trên nhiều quốc gia nhưng khái niệm về du lịch lại được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Hiểu theo cách đơn giản nhất thì du lịch chính là sự rời khỏi nơi sinh sống của mình để đến một nơi khác nhằm đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí cho bản thân
Năm 1930, nhà Địa lí học người Thụy Sỹ Clusman cho rằng: “Du lịch là sự
chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ
cư trú thường xuyên”.
Năm 1985, I.I Pirogionic đã đưa ra khái niệm về du lịch: Du lịch là một hoạt
động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa.
Đây là một khái niệm chỉ rõ đặc điểm của hoạt động du lịch đó là sự di chuyển
và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú trong thời gian rỗi nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao nhận thức, văn hóa, thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa Vậy, khi mà các giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa được tiêu thụ càng nhiều thì nguồn lợi nhuận thu lại càng cao
Các Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa du lịch: "Du lịch là đi để vui
chơi, giải trí hoặc nhằm mục đích kinh doanh; là việc thực hiện chuyến đi khỏi nơi cư trú, có tiêu tiền, có thể lưu trú qua đêm và có sự trở về Mục đích của chuyến đi là giải trí, nghỉ dưỡng, thăm thân nhân, công tác, hội nghị khách hàng hay du lịch khen
Trang 6Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourism Organization) - một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc: Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du
hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.
Theo Liên hợp quốc các tổ chức lữ hành chính thức IUOTO (International
Union of Official Travel Organization): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến
một nơi khác với địa điểm cư trú của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc để kiếm tiền sinh sống”.
Tại điều 10 của Pháp lệnh du lịch Việt Nam năm 1999, thuật ngữ “du lịch”
được hiểu như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường
xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Tóm lại, có rất nhiều khái niệm, quan điểm khác nhau về du lịch, tại những mốc thời gian và những thời điểm khác nhau thì du lịch lại được phát biểu một cách khác nhau Như vậy, có thể kết luận rằng: du lịch là một hoạt động của con người liên quan tới việc di chuyển chỗ ở đến một nơi khác, trong một khoảng thời gian ngắn để thỏa mãn việc nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu, khám phá… và có tiêu thụ các giá trị tự nhiên, kinh tế - xã hội tại nơi du lịch
1.2 Tài nguyên du lịch
Theo I.I Pirogionic -1985 thì cho rằng: Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự
nhiên, văn hóa–lịch sử và những thành phần của chúng giúp cho việc phục hồi, phát triển thể lực, tinh lực, khả năng lao động và sức khỏe của con người mà chúng được
sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo ra dịch vụ du lịch gắn liền với nhu cầu ở thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế - kĩ thuật cho phép.
Theo Điều 4 chương I, Luật Du lịch của Việt Nam thì cho rằng: Tài nguyên du
lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích văn hóa, công trình sang tạo của con người và các gái trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du
Trang 7lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch [*]
Theo điều 13 chương II, Luật Du lịch Việt Nam, tài nguyên du lịch được chia thành hai loại là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn
- Tài nguyên du lịch tự nhiên: Gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí
hậu, địa hình, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục
vụ mục đích du lịch [*]
- Tài nguyên du lịch nhân văn: Gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa,
văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch [*]
Như vậy, tài nguyên du lịch được khái quát theo sơ đồ sau:
1.3 Vai trò, ý nghĩa của du lịch
Du lịch là ngành có vai trò to lớn về mọi mặt trong đời sống con người Xã hội càng phát triển thì vai trò du lịch càng mở rộng và nâng cao
VẬT
DI TÍCH VĂN HÓA, LỊCH SỬ
LỄ HỘI
DÂN
CƯ DÂN TỘC
NHÂN VĂN KHÁC
DI SẢN HỖN HỢP
Trang 8Thông qua hoạt động du lịch con người được phục hồi sức khoẻ và tăng cường sức sống Du lịch còn đáp ứng được nhu cầu về vui chơi, giải trí, tìm hiểu thiên nhiên,
xã hội, nâng cao trình độ hiểu biết, khả năng học hỏi của con người
Du lịch là cơ sở giúp người ta bảo tồn các nền văn hoá, tôn tạo lại các di tích lịch sử, các công trình văn hoá, phục hồi các khu phố cổ, phục chế các di phẩm văn hoá Qua việc tiếp xúc với những thành tựu văn hoá phong phú và lâu đời của các dân tộc, du lịch làm tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành phẩm chất đạo đức tốt đẹp, góp phần hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hội
Du lịch đã kích thích sự phát triển của sản xuất, là nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều quốc gia Các quốc gia càng phát triển thì vai trò của ngành du lịch càng lớn, chiếm tỷ trọng càng nhiều trong cơ cấu nền kinh tế
Ngoài ra du lịch còn góp phần sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên Nhờ sự phát triển của du lịch mà nhiều giá trị về tự nhiên, nhân văn được tái phát hiện, được tôn tạo, được bảo tồn và phát triển, được biến thành các giá trị kinh tế
1.4 Cơ sở hạ tầng
1.4.1 Giao thông vận tải
Cơ sở hạ tầng là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh sự phát triển của kinh tế du lịch Đối với vấn đề cơ sở hạ tầng thì yếu tố mạng lưới giao thông vận tải, thông tin liên lạc là nhân tố hàng đầu
Du lịch chính là quá trình di chuyển của con người, vậy yếu tố mạng lưới giao thông vận tải có thuận tiện chính là tiền đề quyết định cho sự phát triển của ngành kinh
tế du lịch Các phương tiện giao thông phải đầy đủ tiện nghi, đáp ứng được nhu cầu của con người thì ngành du lịch sẽ được thúc đẩy và phát triển
Giao thông là một bộ phận của cơ sở hạ tầng kinh tế, tuy nhiên có một số phương tiện giao thông hiện nay chỉ dùng để phục vụ cho hoạt động du lịch Nhìn chung mạng lưới giao thông vận tải trên thế giới và từng quốc gia không ngừng được nâng cao và hoàn thiện Điều đó làm giảm bớt khoảng thời gian đi lại của người du lịch, giúp tăng thời gian nghỉ ngơi và du lịch và đem lại hiệu quả kinh tế du lịch cao
Trang 91.4.2 Thông tin liên lạc
Thông tin liên lạc là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động du lịch, là điều kiện cần thiết để đảm bảo thông tin cho khách du lịch trong nước và quốc
tế, đảm bảo sự liên lạc xuyên suốt và ổn định
Trong cuộc sống nói chung và trong các lĩnh vực kinh tế nói riêng không thể thiếu vắng sự trợ giúp của các phương tiện liên lạc và hệ thống thông tin liên lạc, đặc biệt trong ngành du lịch
Bên cạnh đó, ngành du lịch còn sử dụng ngành công nghệ thông tin trong việc quảng bá các địa điểm du lịch Thông qua cổng thông tin mà khách du lịch có thể dễ dàng biết địa điểm, các dịch vụ của du lịch thuận lợi hay không sao tốt nhất cho việc lựa chọn đi du lịch ở đâu, khi nào là tiện lợi nhất
1.4.3 Hệ thống điện, nước
Hoạt động du lịch là hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, thăm quan, chữa bệnh…cho khách du lịch Với hệ thống điện nước đầy đủ khi đi du lịch là điều kiện không thể thiếu khi phát triển du lịch
Trong thời kì nền kinh tế phát triển hiện nay, điện và nước là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống và đặc biệt quan trọng trong phát triển du lịch
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1 Tài nguyên du lịch của Việt Nam
Ngành du lịch đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nước ta Với sự phát triển vượt bậc, ngành du lịch đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho Việt Nam và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Với những điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phong phú cùng với nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, sự phát triển không ngừng của du lịch Việt Nam càng khẳng định rõ thêm sự phong phú của tài nguyên du lịch Việt Nam
Lãnh thổ Việt Nam là một khối toàn vẹn và thống nhất, với vị trí nằm ở rìa bán đảo Đông Dương, gần trung tâm khu vực Đông Nam Á Ngoài ra, Việt Nam còn nằm
ở ranh giới trung gian, nơi tiếp giáp giữa lục địa và đại dương, nằm trên đường di cư của nhiều loài sinh vật trên thế giới, nằm trong vùng khí hậu nội chí tuyến nên Việt Nam có điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động du lịch
Trang 10Do có điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên thuận lợi nên Việt Nam có nhiều điểm du lịch và khu du lịch nổi tiếng trên thế giới.
Địa hình: Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới với
125 bãi tắm biển Ngoài ra còn có nhiều bãi cát, vũng vịnh đẹp thuận lợi cho phát triển du lịch có thể kể đến như: bãi tắm Nhật Lệ (Quảng Bình), Nha Trang (Khánh Hòa), Lăng Cô (Thừa Thiên-Huế), Thiên Cầm (Hà Tĩnh), Vũng Tàu (Vũng Tàu)…
bề mặt, lại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều tạo điều kiện cho quá trình Cax-tơ hóa diễn ra mạnh mẽ tạo nên các hang động có vẻ đẹp độc đáo thuận lợi cho phát triển du lịch như: Tràng An (Ninh Bình), động Phong Nha-Kẻ Bàng dài 7729m (Quảng Bình), Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), hang Sơn Đòong ( Hang dài nhất trên thế giới)… Đặc biệt, Việt Nam còn là 1 trong số 12 quốc gia có vịnh đẹp nhất thế giới là Vịnh Hạ Long và Vịnh Nha Trang Đây là những Vịnh đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới nước ta có hệ thống đảo và quần đảo phong phú trải dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang gồm 12 huyện đảo và nhiều xã đảo khác nhau Theo thống kê hiện nay nước ta có trên 4000 đảo lướn nhỏ khác nhau
triển có thể kể đến như: Cát Bà (Hải Phòng), Phú Quốc (Kiên Giang), Cái Bầu (Quảng Ninh)…
Sinh vật: Do Việt Nam nằm trên đường di cư của nhiều loài sinh vật trên thế
giới điều này chẳng những góp phần tạo nên sự giàu có về động thực vật nước ta mà còn cho phép nhập nội thuần dưỡng các giống cây trồng vật nuôi từ nhiều trung tâm sinh thái khác nhau của thế giới Việt nam có hệ động thực vật phong phú, đa dạng với gần 12000 loài thực vật bậc cao, 300 loài thú, 830 loài chim, 260 loài bò sát, 158 loài ếch nhái, 5300 loài côn trùng, 547 loài cá nước ngọt, hơn 2000 loài cá biển và khoảng
9300 loài động vật không xương sống nên Đảng và Nhà nước ta đã và đang có nhiều chủ trương, chính sách phát triển, xây dựng những khu vườn quốc gia, khu bảo tồn không chỉ phát triển du lịch mà còn bảo vệ hệ thống gen quí hiếm Hiện nay Việt Nam
có tất cả 30 vườn quốc gia là những khu bảo tồn về thiên nhiên, bảo tồn thành phần loài…Một số vườn quốc gia có thể kể đến như: Ba Bể (Bắc Cạn), Tam Đảo(Vĩnh Phúc), Ba Vì(Hà Nội), Cát Bà (Hải Phòng), Cúc Phương (Ninh Bình), Phong Nha –
Kẻ Bàng (Quảng Bình) Tính đến hết năm 2010 nước ta được UNESCO công nhận
Trang 118 Khu dự trữ sinh quyển thế giới đó là Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây Nghệ
An, Đồng Nai, Cù Lao Chàm, Cần Giờ – Cà Mau và Kiên Giang Hiện nay Việt Nam
có tất cả 30 Vườn quốc gia là những khu bảo tồn về thiên nhiên, thành phần loài…Một
số vườn quốc gia có thể kể đến như: Ba Bể (Bắc Cạn), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Ba Vì (Hà Nội), Cát Bà (Hải Phòng), Cúc Phương (Ninh Bình), Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình)…
Khí hậu: Do vị trí địa lí nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến nên khí hậu
của Việt nam là kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa có một mùa đông lạnh ở khu vực phía
và phát triển nhiều khu khu du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái nổi tiếng như: Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), động Phong Nha (Quảng Bình), khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, bản lát Mai Châu (Hòa Bình), Mộc Châu (Sơn La),
Sa Pa (Lào Cai)…
Thủy văn: Thủy văn Việt Nam phát triển với nhiều hệ thống sông có thể phát
triển thủy điện, ngoài khả năng phát triển thủy điện nhiều sông còn có thể phát triển du lịch, mang lại giá trị cao như: Sông Hương (Thừa Thiên-Huế), sông Hàn (Đà Nẵng)…Theo số liệu thống kê thì Việt Nam có khoảng 400 nguồn nước nóng từ 40 - 150 độ, nhiều suối có hạ tầng xây dựng khá tốt có thể kể đến như: Suối nước nóng thiên nhiên Đam Rông (Lâm Đồng); Suối nước nóng Kim Bôi ( Hòa Bình) , Suối nước nóng Bình Châu (Bà Rịa – Vũng Tàu), Suối nước nóng Kênh Gà ( Ninh Bình), suối nước nóng Quang Hanh (Quảng Ninh)…Ngoài ra, hệ thống đập thủy điện trên sông cũng góp phần phát triển du lịch như: Nhà máy thủy điện Hòa Bình (Hòa Bình), nhà máy thủy điện Sơn
La (Sơn La), nhà máy thủy điện Yali (Gia Lai)…cùng với một số hồ mang lại giá trị du lịch có thể kể đến như: hồ Ba Bể ( Bắc Cạn), hồ Đại Lải ( Vĩnh phúc)…
2.1.2 Tài nguyên nhân văn
Cùng với nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú, Việt Nam còn có những tài nguyên nhân văn tiêu biểu gắn liền với những di tích lịch sử trong quá trình dựng nước
và giữ nước của dân tộc hay những nét đặc sắc của các dân tộc trên những vùng miền khác nhau của tổ quốc, những nét văn hóa, lễ hội…tất cả những điều ấy thêm khẳng định sự phong phú và đa dạng của kho tàng tài nguyên du lịch nhân văn Việt Nam
Dân tộc: Việt Nam có tổng số 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có những nét
đặc trưng riêng về văn hoá, phong tục tập quán và lối sống khác nhau tạo nên những nét đặc trưng riêng biệt, điều này tạo điều kiện cho hoạt động văn hóa, du lịch càng trở
Trang 12nên phong phú và đa dạng hơn Ngành du lịch Việt Nam nói chung và các địa phương phát triển du lịch nói riêng đã và đang nỗ lực xây dựng được một số điểm du lịch độc đáo như: Phát triển du lịch cộng đồng ở Sa Pa(Lào Cai), du lịch Bản Lát ở Mai Châu (Hòa Bình), Mộc Châu (Sơn La)
Việt Nam còn được biết đến với nghệ thuật múa rối nước mang đạm dấu ấn dân tộc vùng làng quê Việt Nam , hiện đã có một sân khấu nhỏ tại Hà Nội và sân khấu múa rối nước Rồng Vàng tại thành phố Hồ Chí Minh Múa rối nước là một trong những nghệ thuật tiêu biểu mang đậm dấu ấn của người Việt Xưa mô tả những hoạt động của con người Việt Nam trong đời sống sinh hoạt cũng như sản xuất
Di sản văn hóa: Di sản văn hóa phi vật thể nổi tiếng trên thế giới tại Việt Nam
có thể kể đến như: Nhã Nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, hát Quan Họ, hát Ca trù, hội Gióng, hát Xoan, tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng ( Phú Thọ) và đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc Việt Nam, đó là những tín ngưỡng thể hiện rõ nhất nét đặc biệt trong văn hóa của dân tộc Việt Nam Năm 2014, có 8 di sản được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới bao gồm: Quần thể danh thắng Tràng An ( Ninh Bình), Thành Nhà Hồ (Thanh Hóa), Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), Quần thể di tích cố đô Huế (Thừa Thiên–Huế), Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Phố cổ Hội An (Quảng Ngãi),Thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam), và Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng ( Quảng Bình)
Về di tích lịch sử: Tính đến tháng 8 năm 2010, Việt Nam có hơn 40 nghìn di
tích lịch sử, danh lam thắng cảnh trong đó có hơn 3000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 5000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam
Những di tích quốc gia đặc biệt ở Việt Nam được Thủ tướng chính phủ ra quyết định xếp hạng ở hạng 2 có thể kể đến như: cố đô Hoa Lư (Ninh Bình), di tích Pác Bó
( Cao Bằng), Dinh Độc Lập (Thành phố Hồ Chí Minh), Hoàng thành Thăng Long ( Hà Nội), khu di tích ATK (Thái Nguyên), khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ ( Điện Biên), khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc (Hải Dương), khu di tích khởi nghĩa Yên Thế ( Bắc Giang), khu di tích Kim Liên, khu di tích Phủ Chủ tịch (Hà Nội), khu
di tích Tân Trào (Tuyên Quang), khu lưu niệm chủ tích Tôn Đức Thắng, nhà tù Côn Đảo, di tích Cố đô Huế, thành nhà Hồ,thánh địa Mỹ Sơn, tháng cảnh Tràng An – Tam
Trang 13Cốc – Bích Động, văn miếu Quốc Tử Giám, vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, vịnh Hạ Long , đô thị cổ Hội An và đền Hùng …
Hiện nay nước ta có 117 bảo tàng trong đó các bộ, ngành quản lý là 38 bảo tàng, các địa phương quản lý là 79 bảo tàng Hai bảo tàng lịch sử mang tính quốc gia là:bảo tàng cách mạng Việt Nam và bảo tàng lịch sử Việt Nam hiện đang đề xuất thêm bảo tàng lịch sử quốc gia
Lễ hội - ẩm thực: Du lịch Việt Nam còn nổi tiếng với nhiều lễ hội mang tầm
quốc gia, thu hút khách du lịch trong nước và bạn bè quốc tế như: lễ hội dỗ tổ Hùng Vương (Phú Thọ), hội chùa Phật tích (Bắc Ninh), lễ hội trọi châu (Hải Phòng), lễ hội cày tịch Điền (Hà Nam)… hay nhiều món ăn mang đậm dấu ấn Việt Nam như: Bánh Chưng (thường làm vào dịp Tết âm lịch để cũng tổ tiên), bánh dày, Thắng Cố (Hà Giang), Khau Nhục (Lạng Sơn), Nem chua (Thanh Hóa), tôm chua (Thừa Thiên–Huế)…
Làng nghề cổ truyền: Nói đến các làng nghề truyền thống Việt Nam ta không
thể không nhắc đến vai trò không nhỏ của nó trong việc phát triển du lịch Các làng nghề này chủ yếu tạo ra các sản phẩm gắn liền với đời sống sinh hoạt, phục vụ nhu cầu của con người Một số làng nghề ta có thể kể đến như: Gốm Bát Tràng (Hà Nội), Lụa
Hà Đông (Hà Nội), cốm làng Vòng…
2.1.3 Vài nét về tình hình phát triển du lịch Việt Nam
Tính đến năm 2014 Việt Nam đang có hơn 30 khu du lịch mang tầm quốc gia
và mang lại hiệu quả kinh tế gắn với sự phát triển mạnh mẽ các hoạt động du lịch, ngày càng thu hút thêm du khách đến từ thập phương, một số khu du lịch nổi tiếng như: Khu du lịch nghỉ dưỡng Sa Pa (Lào Cai), khu du lịch quần đảo Vịnh Hạ Long–Cát Bà (Quảng Ninh–Hải Phòng), khu du lịch phố cổ Hội An (Quảng Nam), khu du lịch văn hóa Cổ Loa (Hà Nội)…
Trong quá trình phát triển du lịch của Việt Nam số lượng khách du lịch trong nước và quốc tế liên tục tăng qua các năm Khách quốc tế đến nước ta chủ yếu từ sau năm 1990 Vào đầu thập kỷ 90 của thể kỷ XX lượng khách quốc tế vào nước ta tăng lên nhanh chóng từ 25.000 người năm 1990 tăng lên 67.000 người năm 1993 và đạt ngưỡng một triệu lượt người năm 1994 Số lượng khách du lịch ngày càng tăng trong những năm gần đây, theo số liệu thống kê vào năm 2012 lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 6647 nghìn lượt khách và năm 2013 đạt 7512 nghìn lượt khách Khách đến nước ta chủ yếu là khách đến từ Đông Á và Đông Nam Á, trong đó chiếm ưu thế là
Trang 14khách Trung Quốc (17, 9%) và Hàn Quốc (9, 8%) Tiếp theo là khách đến từ Hoa Kỳ, ngoài ra còn có khách du lịch đến từ EU, Châu Mỹ…
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, số lượng khách nội địa du lịch Việt Nam cũng không ngừng tăng lên Nếu như năm đầu của thập niên 90, số lượng khách du lịch nội địa mới chỉ đạt 1 triệu lượt, thì đến năm 1995 đã tăng lên 5,5 triệu lượt, năm
2012 đạt 32,5 triệu lượt và năm 2013 đạt mốc 35 triệu lượt khách nội địa
Năm 2000, doanh thu du lịch đạt 17,4 nghìn tỉ đồng, năm 2005 đạt 30 nghìn tỉ đồng Năm 2007 là 56 nghìn tỉ đồng, năm 2010 là 96 nghìn tỉ đồng và năm 2012 đạt
160 nghìn tỉ đồng, tăng gấp hơn 9 lần so với năm 2000 và chiếm 5% GDP của cả nước Năm 2013 đạt 200 nghìn tỉ đồng và theo dự kiến của tổng cục du lịch 2014 doanh thu từ du lịch của nước ta sẽ đạt khoảng 230 nghìn tỉ đồng
2.1.4 Lực lượng lao động
Số lượng lao động trực tiếp trong ngành du lịch tăng khá nhanh từ 150 nghìn người năm 2000 tăng lên 275 nghìn người năm 2005 Năm 2009 là 434 nghìn người và năm 2010 tăng lên ngưỡng 450 nghìn người Trong giai đoạn 2012–2013 số lượng lao động trong ngành du lịch đạt ngưỡng khoảng 500 nghìn người Điều này cho thấy lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực du lịch ngày càng cao và chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu lao động phân theo ngành của kinh tế Việt Nam Trong đó, tỉ lệ lao động đã qua đào tạo về bồi dưỡng du lịch chiếm khoảng 55,3% tổng số lao động Lao động có trình độ cao đẳng trở lên chiếm 13,2%, trình độ trung cấp và tương đương chiếm 18,6%, trình độ sơ cấp 23,5% Du lịch là ngành có yêu cầu cao về trình độ ngoại ngữ Đến năm 2010 có khoảng 60% lao động biết và sử dụng các loại ngoại ngữ khác nhau, trong đó tiếng Anh chiếm tỉ lệ cao nhất, con số này đã tăng lên khoảng 70% trong giai đoạn 2012 – 2013
2.1.5 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng có vai trò đặc biệt và cực kì quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch
• Giao thông vận tải: Ngành giao thông vận tải chính là dấu nối quan trọng
giúp hình thành những mối liên hệ ngành, vùng cũng như trong nội bộ từng ngành và đặc biệt là trong ngành du lịch Nhìn chung nước ta có điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông vận tải nên ngành du lịch nước ta khá phát triển Do điều kiện tự nhiên, hình thể kéo dài nên đòi hỏi nước ta thiết lập mạng lưới giao thông đường bộ kéo dài dọc theo chiều dài kinh tuyến như: Đường Hồ Chí Minh, QL 1A, Đường 14, còn vùng
Trang 15núi phía bắc do địa hình cánh cung nên giao thông phát triển theo hương Tây Đông Nam hay theo chiều Đông-Tây như: QL 2, QL 3, QL 6, đường 32, đường 70…Mạng lưới giao thông đường bộ nước ta ngày càng được mở rộng và nâng cấp Đến nay, về cơ bản mạng lưới đường ô tô đã phủ khắp với tổng chiều dài khoảng 256.684
kém mà tiêu biểu hơn cả là đường sắt thống nhất Bắc-Nam có chiều dài vào khoảng
1730 km chạy suốt theo chiều dài đất nước Một số tuyến đường sắt tiêu biểu có thể kể đến như: Hà Nội-Hải Phòng dài 102 km, Hà Nội-Yên Bái 155 km, Hà Nội- Vinh 319
km, Nha Trang-Đà Nẵng 524 km…đặc biệt là tuyến đường sắt quốc tế Hà Nội-Nam Ninh (Trung Quốc) là tuyến đường sắt nối liền hai quốc gia Việt-Trung Hệ thống đường biển nước ta cũng khá phát triển với hệ thống tàu và cảng biển đạt chất lượng như: Cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân, cảng Đà Nẵng… Cùng với đó là hệ thống cảng hàng không phát triển không kém, hiện nay cả nước có khoảng 138 sân bay trong đó 80 sân bay
đã hoạt động và 22 sân bay dân dụng, đồng thời khai thác 22 đường bay quốc tế, 24 đường bay trong nước với hệ thống máy bay tương đối hiện đại Nhìn chung ngành giao thông vận tải Việt Nam đã và đang phát triển không ngừng tạo điều kiện phát triển kinh tế nước nhà nói chung và thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch nói riêng
• Thông tin liên lạc: Mạng lưới thông tin liên lạc nước ta tương đối đa dạng và
phong phú Đang chú ý hơn cả là mạng điện thoại, phi điện thoại và mạng truyền dẫn Năm 2009 cả nước có khoảng 81,3 triệu thuê bao với mật độ khoảng 20,6 máy/100 dân Sơ bộ năm 2013 cả nước khoảng 103 triệu thuê bao (theo tổng cục thống kê)
Bảng: Số thuê bao điện thoại phân theo vùng giai đoạn 1995-2009
Đơn vị: Nghìn thuê bao
Trang 16(Nguồn: Theo Niên giám thống kê 2003, 2010).
Ngoài ra, mạng lưới phi điện thoại cũng được mở rộng và phát triển như: Fax, mạng vô tuyến sóng ngắn, mạng truyền dẫn viba, mạng cáp quang, mạng viễn thông quốc tế…đặc biệt với hệ thống Internet phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch có nhu cầu có thể hỏi, tìm hiểu để chuẩn bị cho hoạt động du lịch
• Các công trình cung cấp điện, nước: Khách du lịch là những người rời khỏi
nơi cư trú thường xuyên…Khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một địa điểm khác, ngoài các nhu cầu về ăn, uống, ở, đi lại…du khách còn có nhu cầu đảm bảo về điện, nước để cho quá trình sinh hoạt được diễn ra bình thường Cho nên yếu tố điện, nước cũng là một trong những nhân tố quan trọng phục vụ trực tiếp việc nghỉ ngơi giải trí của khách Tại Việt Nam ta có thể kể một số công trình cung cấp điện:
Bảng: Các nhà máy thủy điện đang hoạt động tại Việt Nam >100 MW
STT Tên nhà máy thủy điện Công suất (MW) Tỉnh
hỗ trợ xây dựng các cơ sở hạ tầng, đào tạo nhân lực, thực hiện phát triển bền vững Bên cạnh đó, ưu tiên tập trung đầu tư các khu du lịch quốc gia, điểm du lịch quốc gia,
Trang 17đô thị du lịch; các khu, tuyến, điểm du lịch thuộc các địa phương có điều kiện kinh
tế-xã hội khó khăn, vùng sâu, vùng xa nhưng có tiềm năng phát triển du lịch
2.2 Tài nguyên du lịch Đông Bắc
Tiểu vùng Đông Bắc Việt Nam bao gồm 11 tỉnh là: Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắn Kạn, Cao Bằng, Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ninh, Bắc
khoảng 9,6 triệu dân (chiếm khoảng 11% dân số cả nước) Ở nơi đây mang những nét đặc trưng sâu sắc không chỉ về thiên nhiên kỳ thú mà còn bởi nơi đây ẩn chứa những nét văn hoá phong phú, phong tục tập quán đa dạng của những người dân bản địa Với những tiềm năng to lớn, nếu vùng được khai thác hợp lý sẽ là một cụm điểm quan trọng để phát triển du lịch hiện nay và tương lai
- Vị trí địa lí:
phía Đông Bắc đất nước, tiếp giáp với Trung Quốc tạo điều kiện hình thành và phát triển kinh tế cửa khẩu, du lịch chợ vùng cao biên giới Ngoài ra, vùng còn giáp với vùng đồng bằng sông Hồng thuận lợi cho trao đổi hàng hóa và buôn bán, phía đông giáp biển ở Quảng Ninh nên có thể phát triển du lịch, kinh tế biển
2.2.1 Tài nguyên tự nhiên
Địa hình: Địa hình vùng Đông Bắc đa dạng chủ yếu là núi đồi và cao nguyên
Đặc biệt, vùng còn có những dãy núi hùng vĩ như đỉnh Tây Côn Lĩnh cao ngất trời, đặc biệt dãy Hoàng Liên Sơn có đỉnh Phanxipang cao 3143m, hay những thung lũng nên thơ, huyền ảo Đây là vùng có nhiều dãy núi chạy trùng điệp với hệ thống núi đá vôi hoặc núi đất Do điều kiện khí hậu nước ta là nóng ẩm mưa nhiều nên quá trình cac- tơ hóa diễn ra mạnh mẽ tạo nên nhiều hang động kì thú như: hang Dơi (Lạng Sơn), hang Pác-bó (Cao Bằng)…Ngoài ra, khu vực Quảng Ninh giáp biển còn nổi tiếng với vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới thu hút khách du lịch không chỉ trong nước mà còn nhiều khách quốc tế biết đến Phần giáp biên giới phía bắc còn có hệ thống các cao nguyên mà tiêu biểu là cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) thu hút nhiều nhà địa chất trên thế giới tới nghiên cứu và thu hút lượng khách du lịch tham quan khá lớn Trong vùng còn có thác nước hung vĩ và
Trang 18hấp dẫn khách du lịch phải kể đến là thác Bản Dốc (Cao Bằng) cao trên 30m đổ qua nhiều bậc đá vôi dài khoảng 3km, thác cách thủ đô Hà Nội khoảng 272 km.
Khí hậu: Nằm ở khu vực phía bắc nước ta vùng đông bắc chính là cửa ngõ đón
gió mùa đông bắc của cả nước, chịu cái rét lâu nhất do tiễn gió mùa đông bắc đi muộn
hiện tượng tuyết rơi, đóng băng kì thú càng thu hút thêm khách du lịch tới nơi đây, ta
có thể nhắc tới điểm đến tiêu biểu như ở đỉnh Mẫu Sơn (Lạng Sơn) Về mùa hè khu vực đông bắc có khí hậu mát mẻ, rất thuận lợi cho hoạt động du lịch đặc biệt trong việc xây dựng các khu nghỉ dưỡng sinh thái, hòa nhập thiên nhiên
Thủy văn: Nơi đây cũng là vùng đất tập trung nhiều sông suối khá dày đặc, một
số hệ thống sông lớn chạy qua có thể kể đến như: sông Hồng, sông Thái Bình, sông Cầu, sông Kỳ Cùng với lưu lượng nước lớn tuy một số bị chia cắt nhiều, phức tạp song cũng không làm mất đi vai trò to lớn của nó trong khung cảnh nơi đây, trong việc phát triển kinh tế tiểu vùng Đông Bắc nói chung và giao thông đường thuỷ nói riêng Bên cạnh đó thì nguồn nước ngầm ở khu vực đông bắc nhìn chung là khá ổn định
Sinh vật: Cũng giống như nguồn tài nguyên sinh vật của Việt Nam thì sinh vật
của vùng mang đậm dấu ấn của loài sinh vật thuộc hệ Vân Nam- bắc Việt Nam, với hệ động thực vật phong phú đa dạng về thành phần loài Vùng đông bắc còn có điều kiện khí hậu thuận lợi cho trồng một số loài cây dược liệu và cây ăn quả
2.2.2 Tài nguyên nhân văn
Lịch sử, văn hóa: Ở vùng Đông Bắc có Phong Châu (Phú Thọ) được coi là cái
nôi của dân tộc, nơi mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân đẻ trăm trứng và nở trăm con Hàng năm tại Đền Hùng ( Phú Thọ) có lễ hội giỗ tổ Hùng Vương, du khách thập phương đều tới để làm lễ tỏ lòng biết ơn công lao của các vua Hùng đã có công xây dựng đât nước Vùng Đông bắc còn là căn cứ địa đánh Pháp, đuổi Nhật trong thời kì lịch sử bảo vệ tổ quốc của dân tộc Việt Nam Những địa danh nổi tiếng trở thành căn
cứ địa cách mạng nay là những di tích nổi tiếng như: Ải Chi Lăng (Lạng Sơn), chiến thắng trên sông Bạch Đằng (Quảng Ninh), căn cứ địa Việt Bắc (Cao Bằng), hang Pắc
Bó, Phay Khắt, Nà Ngần, suối Lê Nin, đường số 4…
Dân tộc: Trong vùng có sự tập trung của nhiều dân tộc khác nhau như: Tày,
Nùng, Dao…Mỗi dân tộc có những phong tục tập quán văn hóa đôc đáo thể hiện hoạt
Trang 19động sản xuất và tập quán sinh hoạt của mình Họ đã nhanh chóng hòa đồng với các dân tộc bản địa Việt–Mường như một đại gia đình cùng nhau xây dựng đất nước Tất
cả những điều đó đã tạo nên một tổng thể văn hóa đa dạng, phong phú
Biểu đồ thể hiện cơ cấu thành phần dân tộc vùng Đông bắc- Việt Nam năm 2012.
Những đền chùa, miếu mạo trong vùng thờ các vị tiền bối là biểu hiện cụ thể cho sự ghi ơn của nhân dân trong từng thời kì lịch sử dựng nước và giữ nước như: đền Hùng (Phú Thọ), chùa Yên Thế (Bắc Giang), Cửa Ông (Quảng Ninh)…
Ngoài ra tiểu vùng Đông Bắc còn có thể phát triển du lịch kinh tế cửa khẩu, các khu chợ thương mại ở những tỉnh có biên giới giáp Trung Quốc như: cửa khẩu Hữu Nghị, Tân Thanh (Lạng Sơn), cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh)…
Lễ hội: Vùng Đông bắc còn được biết đến với nhiều lễ hội mang tính dân tộc
đặc sắc như: lễ hội Gầu Tào (Hà Giang), lễ hội Kéo chày (Hà Giang), lễ hội trọi bò Bảo Lâm (Cao Bằng)…Những lễ hội ở vùng chủ yếu gắn liền với đời sống sản xuất, cầu may mắn cho người dân hoặc mong muốn mang lại mùa màng bội thu hay mong bình an, sức khỏe Chính những sự hấp dẫn này là một trong những lí do khiến khách
du lịch muốn khám phá văn hóa nơi đây
Ẩm thực: Vùng Đông bắc còn hấp dẫn khách du lịch về văn hóa ẩm thực với
những món ăn đặc sản gằn liền với mỗi vùng miền như: Thắng cố (Hà Giang), lợn quay (Lạng Sơn), hạt dẻ Trùng Khánh (Cao Bằng)…Những món ăn hấp dẫn, đặc sắc tạo nên sự hiếu kì, tò mò cho khách du lịch muốn khám phá và thưởng thức những của ngon vật lạ ở nơi đây
Trang 202.2.3 Cơ sở hạ tầng
Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động phát triển du lịch của vùng Đông Bắc khá phát triển và ngày càng được nâng cấp
Giao thông vận tải: Hệ thống các đô thị và các tỉnh trong vùng kết nối với nhau
bằng mạng lưới đường bộ và đường sắt khá phát triển Hệ thống đường bộ với tổng
thể kể đến như: QL 1A từ Hà Nội đến Lạng Sơn dài 154 km, QL 2 dài 314 km từ Hà Nội qua Việt Trì-Phú Thọ, Tuyên Quang đến của khẩu Thanh Thủy (Hà Giang), QL 3
từ Hà Nội đi Thái Nguyên xuyên Bắc Kạn đến Cao Bằng rồi tới cửa km, khẩu Tà Lùng dài 343 km Trong vùng còn có một số tuyến cắt ngang thổ như: QL 18 từ Bắc Ninh đến Móng Cái (Quảng Ninh), QL 4 từ Mũi Chùa qua Lạng Sơn, Cao Bằng, đến Đồng Văn (Hà Giang), đường 3A từ Lạng Sơn qua huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn) đến Thái Nguyên, Tuyên Qung, sang Yên Bái tới Tạ Khoa gặp đường số 6 ở Cò Nòi Ngoài hệ thống đường bộ thì hệ thồng đường sắt ở đây cũng vô cùng thuận lợi với tuyến Hà Nội-Đồng Đăng dài 163 km nối với ga Bằng Tường (Ga cực nam của hệ thống xe lửa xuyên lục địa theo hướng Bắc-Nam của Trung Quốc), tuyến Hà Nội-Lào Cai, tuyến
Hà Nội-Quán Triều dài 76 km, tuyến Kép (Bắc Giang)-Uông Bí (Quảng Ninh) dài 74
km và kéo dài tới Bãi Cháy Bên cạnh đó vùng Đông bắc còn có một số cảng biển thuộc hệ thống cảng biển khu vực phía bắc như cảng Cửa Ông ở Vịnh Bắc Bộ, cảng Cái Lân Với hệ thống giao thông vận tải phát triển và ngày càng được nâng cấp hứa hẹn sự thuận lợi trong quá trình phát triển du lịch trong hiện tại và tương lai
Thông tin liên lạc: Hệ thống thông tin liên lạc của vùng khá phát triển và có đầy
đủ điều kiện để phục vụ cho các hoạt động du lịch Hiện nay vùng đã có những thiết bị khoa học có thể phục vụ cho liên lạc như: điện thoại, mạng cáp quang, các trạm viba, máy Fax, internet…giúp khách du lịch có thể dễ dàng liên lạc khi đi du lịch hay tìm hiểu thăm dò các hoạt động du lịch cũng như các tuyến du lịch, điểm du lịch của vùng qua hệ thông tin liên lạc
Hệ thống điện nước: Đông Bắc là vùng có hệ thống nước ngầm phong phú và
có trữ lượng lớn tạo điều kiện tốt cho quá trình phục vụ hoạt động du lịch Trong vùng
có một số nhà máy thủy điện nhỏ được xây dựng như: Ta Sa (825 KW), Nà Ngần (750 KW) ở Cao Bằng Ngoài ra còn có một số đập thủy điện ở địa phương, tuy nhiên đa số vùng vẫn sử dụng điện cung cấp từ đập thủy điện Hòa Bình (Hòa Bình) với hệ thống đường dẫn đạt yêu cầu và ngày càng được mở rộng
2.2.4 Dân cư, lao động
Dân cư vùng Đông Bắc khoảng 9.6 triệu người (2011) Vùng có cơ cấu dân tộc
đa dạng nhất cả nước Lượng lao động đã qua đào tạo còn thấp tuy nhiên đang có xu
Trang 21hướng ngày càng tăng, lao động hoạt động trong lĩnh vực du lịch thương mại cũng không ngừng tăng lên để kịp đáp ứng và phục vụ cho các hoạt động du lịch.
2.2.5 Chính sách, chủ trương phát triển du lịch
Hòa chung với việc phát triển du lịch của cả nước thì vùng cũng được Đảng và Nhà nước đề ra những chủ trương chính sách, từ đó các bộ, cơ sở ngành trực trực tiếp triển khai, thực hiện các chủ trương, chính sách ấy nhằm đưa du lịch của vùng thêm phát triển và ngày càng đi lên Những kế hoạch phát triển, tầm nhìn chiến lược đến năm 2020 về phát triển du lịch được áp dụng
Tiểu kết
Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Du lịch là ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt, theo điều 4 Luật Du lịch Việt Nam cho rằng: Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích văn hóa, công trình sang tạo của con người và các gái trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch Tài nguyên du lịch được chia thành hai nhóm riêng biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn
Việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm mục đích phát triển kinh tế, đóng góp và mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước
Việt Nam nói chung và vùng Đông Bắc nói riêng đều có tiềm năng để phát triển
du lịch góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước
Cơ sở hạ tầng giữ vai trò quan trọng, tạo điều kiện cũng như đóng vai trò là đòn bẩy cho phát triển của hoạt động du lịch
Hiện nay Việt Nam đã và đang khai thác tiềm năng để phát triển du lịch một cách tốt nhất, việc phát triển du lịch cần có những chính sách và định hướng đúng đắn, phát triển du lịch gắn liền với sự phát triển bền vững thì nền du lịch Việt Nam sẽ hứa hẹn sự phát triển sẽ mang tính ổn định lâu dài và góp phần gắn kết nền du lịch Việt Nam với nền du lịch phát triển trên thế giới
Trang 22CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH LẠNG SƠN
1 Vài nét về vị trí đia lí, lãnh thổ tỉnh Lạng Sơn
Lạng Sơn–“xứ Lạng”, là một tỉnh thuộc vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam Lạng Sơn có tọa độ địa lí được xác định là từ 21º19’00’’B đến 22º27’30’’B và 106º06’07’’Đ đến 107º21’45’’Đ
Về mặt tiếp giáp: Lạng sơn tiếp giáp với tỉnh Cao Bằng ở phía Bắc (ranh giới dài 55km), với tỉnh Bắc Giang ở phía Nam (148km), Thái Nguyên (60km) ở phía Tây
và Tây Nam, với tỉnh Quảng Ninh ở phía Đông Nam và tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc)
ở phía Đông Bắc với ranh giới dài 253km
Về mặt hành chính: Tỉnh Lạng Sơn gồm một thành phố là thành phố Lạng Sơn
và 10 huyện là: Lộc Bình, Đình Lập, Bắc Sơn, Văn Quan, Hữu Lũng, Bình Gia, Văn Lãng, Tràng Định, Thất Khê, Cao Lộc với tổng diện tích 8320, 8 km² (2011) trong đó hơn 80% diện tích là đồi núi, dân số Lạng Sơn vào năm 2011 là 741238 người
Lạng Sơn có 2 cửa khẩu quốc tế với Trung Quốc là: cửa khẩu Ga đường sắt
nước và cũng tạo điều kiện du lịch xuyên quốc gia cho cả hai bên
Lạng Sơn nằm ở vị trí có các tuyến đường bộ quan trọng chạy qua như: quốc lộ 1A nối Lạng Sơn với thủ đô Hà Nội, quốc lộ 1B (Lạng Sơn–Thái Nguyên), quốc lộ 4A (Lạng Sơn–Cao Bằng), quốc lộ 4B (Lạng Sơn–Quảng Ninh), quốc lộ 31 tạo hướng đi
từ Lạng Sơn với cửa khẩu quốc gia Chi Ma Lạng Sơn còn có tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội–Lạng Sơn đến cửa khẩu Đồng Đăng dài 162km Đây là một sự thuận lợi về giao thông rất lớn tạo điều kiện cho tỉnh Lạng Sơn có thể dễ dàng giao lưu phát triển kinh tế và văn hóa giữa các huyện trong tỉnh và giữa các tỉnh trong khu vực miền núi Đông Bắc
Với đặc điểm nổi bật về vị trí địa lí và lãnh thổ Lạng Sơn có được nguồn tài nguyên du lịch hết sức phong phú và đa dạng tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng Với vị trí thuận lợi nằm ở cửa ngõ phía Bắc nước ta cùng với sự thuận lợi trong giao thông là hệ thống đường bộ và đường sắt góp phần phát triển du lịch một cách thuận tiện giúp cho quá trình đi lại được thông suốt, dễ dàng Ngoài ra nó còn tạo điều kiện giao lưu với các trung tâm du lịch khác của cả nước như: Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng…
Trang 242 Tài nguyên du lịch
Lạng Sơn được ưu ái cả về nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Với những điều kiện tự nhiên phù hợp, thuận lợi cùng với những truyền thống văn hóa dân tộc, lễ hội, văn hóa đặc sắc Đây chính là cơ sở để xác định tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh Lạng Sơn
2.1 Tài nguyên tự nhiên
Bất kì địa danh hay lãnh thổ nào đều có những điều kiện tự nhiên nhất định về địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật và Lạng Sơn cũng vậy Với những ưu ái về điều kiện tự nhiên nên du lịch Lạng Sơn có nhiều nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên tiêu biểu và nhiều khách du lịch biết đến
2.1.1 Địa hình
Lạng sơn là một tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi phía bắc nước ta, với địa hình chủ yếu là đồi núi (hơn 80%) nhưng chủ yếu là đồi núi thấp và trung bình, độ cao trung bình cao hơn 252m so với mực nước biển Độ cao dưới 700m chiếm tới 96,27% diện tích toàn tỉnh, trong đó dưới 300m chiếm 27,12%, từ 300–700m chiếm 69,15%, trên 700m chỉ chiếm 3,73% Nơi thấp nhất có độ cao là 20m so với mực nước biển nằm
ở phía nam huyện Hữu Lũng Nơi có độ cao cao nhất là đỉnh Phia Mè trên đỉnh núi Mẫu Sơn thuộc địa phận huyện Lộc Bình với độ cao là 1541m
Địa hình ở Lạng Sơn được chia thành 3 vùng với những đặc điểm khác nhau thuận lợi cho sự phát triển du lịch ở nơi đây đó là:
- Vùng núi đá vôi thuộc cánh cung Bắc Sơn: Chiếm khoảng 25% diện tích lãnh thổ của tỉnh Lạng Sơn, nó được chia thành 2 tiểu vùng khác nhau là: tiểu vùng Bắc Sơn, Bình Gia, Chi Lăng, Văn Quan và tiểu vùng Hữu Lũng Độ cao trung bình toàn vùng khoảng 400–500m , cao về phía Tây Bắc (độ cao khoảng 500–600m) và thấp dần
về phía Đông Nam (độ cao khoảng 300m) Đến với Lạng Sơn khách du lịch có thể nhìn thấy dãy núi trùng trùng điệp điệp chạy song song với các tuyến đường giao thông khi di chuyển dọc theo quốc lộ 1A và đường sắt tuyến Hà Nội – Lạng Sơn tạo cảm giác kì thú và hung vĩ, một vài điểm có thể xuất hiện những thác nước chày hung
vĩ trên núi xuống như ở khu vực huyện Chi Lăng Trong vùng núi đá vôi này vẫn đang diễn ra quá trình Cácxtơ hóa với nhiều mức độ khác nhau, tạo thành các dạng địa hình
đá độc đáo như: tai mèo, phiễu cácxtơ, thung lũng cácxtơ, hang động cácxtơ…Trong
Trang 25khu vực vùng đá vôi Bắc Sơn có nhiều hang động cácxtơ không chỉ đẹp mà còn là di chỉ khảo cổ của nền văn hóa tiền sử Bắc Sơn, có giá trị phục vụ du lịch và thăm quan nghiên cứu Một số địa danh tiêu biểu có thể kể đến trong vùng như hang Cả (dài 3342m), hang Dơi (có cửa hang dài tới 110m), hang Bè (Yên Bình–Hữu Lũng) đang được nghiên cứu để phục vụ cho hoạt động du lịch Ngoài ra còn có nhiều hang có phong cảnh đẹp là hang Canh Tẻo-Đồng Mỏ, hang Gió ở huyện Chi Lăng, hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai ở huyện Bình Gia, đặc biệt tại huyện Bắc sơn có động người xưa nơi tổ tiên loài người xuất hiện và sinh sống…
- Vùng đồi núi thuộc vùng tả ngạn sông Kì Cùng và vùng đồi núi chạy dọc theo thung lũng sông Thương, vùng này chiếm khoảng 40% diện tích lãnh thổ của tỉnh Trong vùng bao gồm có 4 tiểu vùng đó là: tiểu vùng đồi núi huyện Bình Gia và phía tây các huyện Tràng Định, Bắc Sơn; tiểu vùng đồi núi phía đông huyện Chi Lăng và phía Nam các huyện Cao Lộc, Lộc Bình và Đình Lập; tiểu vùng đồi núi huyện Văn Quan; tiểu vùng đồi núi dọc thung lũng sông Thương Địa hình ở đây chủ yếu là núi thấp và đồi, cấu tạo địa chất chủ yếu là đá trầm tích lục nguyên, có xen một ít đá mắc
ma Hướng dốc của địa hình là từ Tây Bắc (giáp Cao Bằng, Bắc Cạn) xuống Đông Nam (Bắc Giang) Độ cao trung bình ở phần Tây Bắc là 700–800m và phần phía nam
là 200-300m Vùng này do điều kiện địa hình cộng với khí hậu đặc trưng đã tạo nên những sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới (như khoai, lạc ) cùng với các loại cây ăn quả nổi tiếng như na (Chi Lăng), quýt (Bắc Sơn), mận (Thất Khê), đào và lê (Lộc Bình)…
đã tạo nên các sản phẩm nông sản phục vụ khách du lịch
- Vùng máng trũng Thất Khê–Lộc Bình và đồi núi dọc biên giới Việt–Trung, vùng này chiếm khoảng 35% diện tích lãnh thổ của tỉnh Trong vùng bao gồm 8 tiểu vùng khác nhau đó là: tiểu vùng bồn địa Thất Khê; tiểu vùng bồn địa Na Dương–Lộc Bình; tiểu vùng bồn địa Bản Ngà–thành phố Lạng Sơn; tiểu vùng núi Mẫu Sơn; tiểu vùng thượng nguồn sông Kì Cùng; tiểu vùng núi Khau Phạ; tiểu vùng Tri Phương và tiểu vùng đồi núi dọc biên giới Việt Trung Các tiểu vùng này tạo thành một dải đất trũng chạy suốt từ ranh giới với Cao Bằng qua Thất Khê, Lộc Bình đến sát Tiên Yên (Quảng Ninh), dọc theo sông Kì Cùng với hướng dốc chung là Đông Nam–Tây Bắc Người ta quen gọi vùng này là “địa máng Cao Lạng” với nhiều địa danh nổi tiếng đã đi
Trang 26giới lịch sử Đây cũng là nơi có nhiều địa danh đã đi vào thơ ca của xứ lạng, như những câu chào đón khách du lịch tới thăm quan:
“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em”.
Với địa hình đồi núi tiêu biểu, nơi đây có đỉnh núi Mẫu Sơn có khí hậu ôn hòa, mát mẻ đang được định hướng mạnh mẽ cho phát triển du lịch Mẫu Sơn cách thành phố Lạng Sơn khoảng 30km về phía Đông thuộc địa phận huyện Lộc Bình được bao bọc bởi nhiều ngọn núi lớn nhỏ khác nhau, đường đi ngoằn nghèo trùng điệp núi non, đặc biệt ở đây thỉnh thoảng có tuyết rơi vào mùa đông càng là điểm đến hấp dẫn thu hút khách thăm quan và du lịch Trong nội vùng thành phố Lạng Sơn có nhiều hang động đẹp, nhiều người biết đến như: động Tam Thanh, Nhị Thanh…đang được khai thác để phục vụ hoạt động du lịch của tỉnh Lạng Sơn
Địa hình Lạng Sơn là điều kiện hình thành nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên độc đáo Tỉnh ủy Lạng Sơn nói chung và cơ quan du lịch Lạng Sơn nói riêng đã và đang khai thác để phục vụ cho hoạt động du lịch Tuy nhiên hiệu quả sử dụng còn chưa đạt hết hiệu quả tiềm năng du lịch Lạng Sơn Vậy, cần có những chính sách, chủ trương phát triển du lịch Lạng Sơn một cách tích cực sao cho phát huy hết tiềm lực du lịch, đặc biệt là tài nguyên tự nhiên
2.1.2 Khí hậu
Khí hậu cũng là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động du lịch của bất kì địa phương, lãnh thổ nào Lạng sơn có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng lại có mùa đông khô và lạnh nhất cả nước, là cửa ngõ đón gió mùa mùa đông sớm nhất và tiễn mùa đông đi muộn nhất nước ta
Khí hậu phân mùa rõ rệt, vào các mùa khác nhau nhiệt độ tại đây phân bố một cách không đồng đều do sự phức tạp về mặt địa hình miền núi và sự biến tính nhanh chóng khi di chuyển của khối không khí lạnh ở vùng nội chí tuyến gây nên những chênh lệch nhiệt độ đáng kể trong nội vùng:
- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1200mm đến 1600mm
Trang 27- Độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng 80% đến 85%
- Lượng mây trung bình năm khoảng 7.5/10 bầu trời
- Số giờ nắng trung bình khoảng 1600 giờ
Hướng gió và tốc độ gió của Lạng Sơn chịu sự chi phối của yếu tố hoàn lưu khí quyển bị biến dạng, thay đổi bởi địa hình Tốc độ gió không lớn trung bình khoảng 0.8 đến 2 m/s nhưng phân hóa không đồng đều giữa các vùng Cụ thể
Về nhiệt độ, tổng nhiệt hàng năm trên 8000ºC với số giờ nắng từ 1400–1600 giờ Bức xạ tổng cộng 110–120 kcal/cm²/năm Nhiệt độ trung bình năm 21,2ºC, thấp hơn các nơi khác ở khu vực miền Bắc Nhưng nhiệt độ cao nhất có thể đạt là 40,1ºC
Khí hậu nơi đây phân hóa thành 2 mùa cơ bản là : mùa đông nhiệt độ trung bình 8,6ºC, thấp hơn các nơi khác từ 1–3 độ, do vị trí địa lý và địa hình tạo nên cửa ngõ đón gió mùa Đông Bắc và duy trì những khối lạnh này lâu nhất tức là tiễn mùa đông muộn nhất nước ta Mùa hè ở Lạng Sơn ngắn hơn ở những nơi khác,nhưng không khí mát
mẻ hơn và ôn hòa hơn
Về lượng mưa, Lạng Sơn nằm trong khu vực ít mưa Lượng mưa trung bình năm khoảng 1450mm với số ngày mưa là 135 ngày trong năm Nơi có lượng mưa trên 1600mm là vùng núi Mẫu Sơn (2589mm) Vùng giữa các tỉnh với phần đất rộng lớn lại là nơi nhận được ít mưa nhất như Na Sầm (1118mm), Đồng Đăng (1100mm) Chế
độ mưa phân hóa thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa tương ứng với mùa hè và mùa khô là mùa đông, mưa trong hè chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm, nhưng mùa khô lại không sâu sắc do có mưa phùn trong mùa đông
Về độ ẩm: độ ẩm tương đối đạt khoảng 83% và ít chênh lệch về độ ẩm giữa các vùng theo độ cao Tháng 7 có độ ẩm cực đại đạt khoảng 85%, còn tháng đạt là cực tiểu
là tháng 1 chỉ đạt khoảng 78%
Do ảnh hưởng của vị trí địa lý và địa hình mà khí hậu ở Lạng sơn có sự phân hóa sâu sắc tạo nên tính chất riêng biệt so với các nơi khác trong nước và có thể chia khí hậu ở Lạng Sơn thành ba tiểu vùng khí hậu là:
- Tiểu vùng khí hậu núi cao Mẫu Sơn: là nơi có khí hậu ôn hoà và mát mẻ nhất
Trang 28- Tiểu vùng khí hậu núi trung bình và đồi núi thấp phía bắc và phía đông: vùng này có khí hậu ấm và ẩm hơn, do tiểu vùng có diện tích rộng nên có sự phân hoá khí hậu trong tiểu vùng.
- Tiểu vùng khí hậu núi thấp ở phía nam: nơi này có nhiệt độ cao nhất tỉnh
và lượng mưa khá lớn Đặc điểm khí hậu mang tính chất quá độ giữa nhiều khu vực khác nhau
Sự phân hóa khí hậu như trên đã tạo điều kiện cho Lạng Sơn có thể phát triển
đa dạng, phong phú các cây trồng ôn đới, á nhiệt đới và nhiệt đới Đặc biệt là các loại cây trồng dài ngày như: hồi, trám, quýt, lê, thông…tạo nên thương hiệu mang đặc trưng riêng
Sự phân hóa theo mùa của khí hậu còn còn có thể trồng các loại rau quả: cải ngồng, cải làn, cải đắng…hương liệu ôn đới đặc trưng như: hồi, các loại trái cây như: đào, mận, na…tất cả đều là những sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng mà mọi du khách đến nơi đây đều muốn thưởng thức, khám phá và mua về làm quà khi đi du lịch
Ở Lạng Sơn thường xảy ra những hiện tượng khí hậu đặc biệt như: sương muối, sương mù, mưa phùn và đặc biệt là băng tuyết ở khu vực Mẫu Sơn, đây chính là nét độc đáo, khác biệt so với các tỉnh khác đồng thời đây cũng là điểm khác biệt thu hút khách du lịch đến với Lạng Sơn trong thời gian qua
Đặc điểm khí hậu Lạng Sơn khá thích hợp cho phát triển các loại hình hoạt động du lịch Việc sử dụng giản đồ tương quan giữa nhiệt độ và độ ẩm tuyệt đối trung bình để tính khả năng thích ứng của con người với khí hậu cho hoạt động du lịch nghỉ dưỡng cho thấy điều kiện thời tiết, khí hậu thích hợp nhất có nhiệt độ trung bình hàng tháng từ 13-15ºC và độ ẩm từ 80%–85% Theo căn cứ trên Lạng Sơn là lãnh thổ trong một năm trung bình có khoảng 5 tháng rất thuận lợi cho sức khỏe con người và hoạt động du lịch
Bảng 1: Độ thuận lợi của khí hậu với hoạt động du lịch ở Lạng Sơn
Trang 29***: Rất thuận lợi với sức khỏe con người.
**: Thuận lợi trung bình với sức khỏe con người
*: Ít thích hợp với sức khỏe con người
Quan sát bảng độ thích hợp của khí hậu Lạng Sơn với sức khỏe con người ta thấy các tháng không thuận lợi chủ yếu rơi vào mùa hè, nhưng lại có một số địa điểm như núi Mẫu Sơn có khí hậu mát mẻ thuận lợi phát triển các hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng Nét đặc trưng của khí hậu còn tạo nên những mùa du lịch của Lạng Sơn Với khu nghỉ dưỡng Mẫu Sơn thì mùa hè là mùa nghỉ mát trên núi cao do khí hậu ôn hòa, mát mẻ, còn mùa đông lại là lúc chiêm ngưỡng những hiện tượng thời tiết đặc biệt như băng tuyết
Tóm lại, đặc điểm khí hậu Lạng Sơn thuận lợi cho phát triển các hoạt động du lịch Góp phần tạo nên sự đa dạng về các giá trị tự nhiên, cảnh quan lãnh thổ, làm tăng tính hấp dẫn của du lịch, tạo điều kiện cho phát triển du lịch nơi đây
2.1.3 Thủy văn
Là tỉnh miền núi và nằm trong đới khí hậu gió mùa nên Lạng Sơn có hệ thống thủy văn khá phát triển Mật độ sông suối của Lạng Sơn thuộc loại trên trung bình so với cả nước, từ 0,6–1,2 km/ km² Tổng lưu lượng nước của các sông hàng năm đạt 5,9 tỉ m³
Thủy chế sông ngòi Lạng Sơn chia làm 2 mùa chính: mùa lũ và mùa cạn, tương ứng với hai mùa của khí hậu là mùa mưa và mùa khô Mùa lũ tập trung từ 66- 88% tổng lưu lượng nước trong năm Mùa cạn tuy thời gian kéo dài tới tám tháng song chỉ chiếm từ 20-34% tổng lượng dòng chảy của năm Chênh lệch dòng chảy năm của Lạng Sơn dao động khá lớn, giữa tháng lớn nhất và tháng thấp nhất chênh lệch từ 10,8 đến 25,6 lần
Mật độ sông suối của Lạng Sơn thuộc loại trung bình đến khá dày Trên địa phận có 7 con sông chính chảy qua là: sông Kỳ Cùng, sông Bắc Giang, sông Bắc Khê, sông Ba Thín, sông Thương, sông Trung và sông Hóa
- Sông Kỳ Cùng là con sông dài nhất, đẹp và gắn với đời sống cũng như phong tục tập quán của người dân Lạng Sơn Sông Kỳ Cùng có độ dài khoảng 243 km với diện tích lưu vực là 6660 km², sông bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa cao 1166 m thuộc
Trang 30con sông duy nhất ở miền Bắc Việt Nam chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, do vậy sông Kỳ Cùng ở Lạng Sơn còn được gọi là "dòng sông chảy ngược".
- Sông Bản Thí, là sông thuộc phụ lưu của sông Kỳ Cùng có độ dài khoảng
- Sông Bắc Giang cũng là phụ lưu của sông Kỳ Cùng có độ dài khoảng 114 km
- Sông Hoá, độ dài: 47 km, diện tích lưu vực: 385 km²
- Sông Trung, độ dài: 35 km, diện tích lưu vực: 1270 km²
Trong đó Sông Kì cùng là con sông đẹp, ven sông có nhiều chùa chiền, nhiều cảnh đẹp tự nhiên có thể khai thác phục vụ du lịch: du lịch mạo hiểm, du lịch ngắm cảnh…hàng năm còn có lễ hội Hoa Đăng thu hút rất đông khách du lịch, đây là một trong những lễ hội hoa đăng được đánh giá là có số lượng người tham gia đông nhất nước ta
Ở Lạng Sơn còn có một số hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo, diện tích nhỏ phục vụ thủy lợi như các hồ Phai Gianh (Bình Gia), Chiến Thắng (Hữu Lũng), Nà Cáy (Lộc Bình), Pác Làng (Đình Lập) Đáng chú ý là một số hồ chứa nước tuy nhỏ nhưng cảnh quan đẹp, khí hậu tốt có thể khai thác phục vụ du lịch như hồ Nà Tâm (TP Lạng Sơn)
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn còn có nhiều con suối, nhiều thác nhỏ như: thác Long Đầu, Khuôn Van (Lộc Bình), Đăng Mò (Bình Gia)…các thác đa phần có vẻ đẹp còn nguyên sơ, nước trong xanh, dòng nước từ thác chảy xuống trong lành Tuy nhiên các điểm thác kể trên còn chưa được đưa vào khai thác cụ thể để phát triển du lịch nên cần được quy hoạch để khai thác sử dụng phục vụ những hoạt động du lịch trong tương lai
Chất lượng nước mặt ở Lạng Sơn khá tốt, đảm bảo tiêu chuẩn cho cấp nước cho sinh hoạt và các hoạt động sản xuất, đảm bảo cho các hoạt động du lịch ở nơi đây
Trang 31Rừng là một trong những thế mạnh của Lạng Sơn Rừng không chỉ có tác dụng cân bằng sinh thái, bảo vệ đất, chắn gió, cung cấp lâm sản, dược liệu và nguyên liệu cho các ngành kinh tế và đời sống, mà còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh và phát triển du lịch Rừng ở Lạng Sơn có 65 họ với 279 loài thực vật, rừng ở Lạng Sơn gồm rừng tự nhiên và rừng trồng.
Rừng tự nhiên có các loại rừng gỗ trên núi đất và núi đá, rừng tre nứa và rừng hỗn giao Rừng trồng các loại cây như hồi, thông, bạch đàn, sa mộc Do điều kiện sinh thái khác nhau giữa các vùng (đặc biệt là điều kiện nhiệt ẩm) ở Lạng Sơn đã hình thành 4 kiểu rừng chính là:
Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm, nhiệt đới (phổ biến ở khu vực huyện Hữu Lũng, huyện Bắc Sơn, ở độ cao khoảng 700m, lượng mưa khoảng 1400mm-1700 mm)
Kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới (huyện Văn Quan, phía bắc và đông bắc huyện Chi Lăng, phía bắc huyện Cao Lộc và huyện Lộc Bình với độ cao dưới 700m, lượng mưa khoảng 1200mm-1400 mm)
Kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới (phổ biến ở huyện Văn Lãng, các xã trung tâm huyện Bình Gia…lượng mưa dưới 1200 mm)
Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm cận nhiệt đới núi thấp (ở huyện Chi Lăng
và huyện Hữu Lũng)
Do hệ sinh vật phong phú, đa dạng nên đã hình thành các giá trị sinh thái được lưu giữ trong các khu bảo tồn thiên nhiên như khu bảo tồn Mỏ Lẹ (Bắc Sơn), khu bảo tồn Hữu Liên (Hữu Lũng) có tính đa dạng sinh học cao với giá trị phục vụ du lịch lớn, tạo điều kiện thuận lợi để khai thác và phục vụ du lịch Các khu bảo tồn này là nơi lưu giữ nhiều diện tích rừng nguyên sinh với nhiều loài động, thực vật nhiệt đới điển hình,
Trang 32nhiều nguồn gen động, thực vật, bảo tồn sinh thái và đa dạng sinh học Vì thế chúng có
ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học, về kinh tế và giáo dục Nếu biết kết hợp tốt các hoạt động du lịch thì chắc chắn sẽ làm tăng thêm giá trị và hiệu quả nhiều mặt của các khu bảo tồn này
* Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên: Được thành lập năm 1990, thuộc địa phận
xã Hữu Liên, huyện Hữu Lũng Có kiểu khí hậu chuyển tiếp từ khí hậu nhiệt đới sang á nhiệt đới, khu bảo tồn đã và đang góp phần vào việc bảo tồn tính đa dạng trên Trái Đất Rừng đặc dụng Hữu Liên có tổng diện tích tự nhiên là 10.604 ha, trong đó có 7436,6 ha thuộc diện khoanh nuôi, bảo vệ, được coi là lá phổi của vùng Đông Bắc Trong đó có nhiều loại cây nguyên sinh quý hiếm hàng trăm năm tuổi như lim, nghiến, sến, táu… và nhiều động vật quý hiếm Khu bảo tồn Hữu Liên tính đa dạng sinh học cao, điển hình của hệ sinh thái trên núi đá vôi, và là tài nguyên du lịch sinh thái có giá trị
- Về động vật
Ở Lạng Sơn có 8 bộ, 24 họ với 56 loài thuộc lớp thú Lớp chim có 14 bộ, 46 họ,
200 loài Lớp bò sát lưỡng cư có 3 bộ với 17 họ của 50 loài Giới động vật ở Lạng Sơn
có những loài bản địa đặc hữu của khu hệ động vật Đông Bắc như cá anh vũ, cá chép gốc, cá lộ lớn, cá măng giả, ếch gai có những loài thân thuộc với khu vực Hoa Nam như: cáo, chó, ngựa, hươu xạ, sóc bụng đỏ…có những loài thân thuộc với khu hệ Ấn
Độ - Miến Điện như: hổ, báo lửa, báo gấm, khỉ mốc, rắn, tắc kè…
Nhìn chung hệ động thực vật ở Lạng Sơn khá phong phú, nếu biết cách khai thác và biện pháp khai thác hợp lí nó có thể phục vụ cho các hoạt động du lịch của vùng một cách tốt nhất
2.2 Tài nguyên nhân văn
2.2.1 Dân cư, dân tộc
Theo số liệu thống kê năm 2012, dân số của tỉnh Lạng Sơn là 744.1 nghìn người, mật độ dân số là 89 người/km² Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân năm là 1.13%, thấp hơn so với tỷ lệ bình quân cả nước Các dân tộc ở Lạng Sơn có thể kể đến như: Nùng, Tày, Kinh, Dao và dân tộc khác như Hoa, H’mông, Sán Chay… Mỗi daant ộc có những nét văn hóa, phong tục tập quán khác nhau, cùng với quá trình phát triển của lịch sử các dân tộc ngày càng gắn bó chặt chẽ, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển, sản xuất, thể hiện trong sự đoàn kết cùng nhau chống giặc ngoại xâm, bảo
vệ và xây dựng đất nước Mối quan hệ đó còn được thể hiện rõ hơn trong hoạt động