1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU hệ THỐNG SẢN XUẤT GIẤY VA CÔNG ĐOẠN sấy TRONG NHÀ MÁY GIẤY

38 978 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 831 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Các phô gia phải được phân tán đều cùng với xơ sợi.- Nhiệt độ bột phải đồng đều trong bể.. Vì những yêu cầu khuấy khác nhau nên khi lùa chọn cơ cấu khuấy cầnnắm chắc mục tiêu và các đi

Trang 1

ĐỀ TÀI:

TÌM HIỂU HỆ THỐNG SẢN XUẤT GIẤY VA CÔNG ĐOẠN SẤY TRONG

NHÀ MÁY GIẤY

HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN HOÀNG THẮNG

MSSV: 20125790

LỚP: TĐH01

I Tìm hiểu về hệ thống sản xuất giấy.

1.Thiết bị nấu bột giấy.

Trang 2

Cấu tạo:

Nguyên lý hoạt động:

Nguyên liệu làm giấy sau khi qua máy nghiền sẽ cho ra các dămmảnh, qua sàng và được định lượng rồi đưa đến thiết bị nấu bột giấy Dùngbơm tưới dịch nấu (gồm dịch đen và dịch trắng đã được định lượng trước)vào dăm mảnh trong khi nạp nồi Trong khi nạp dăm vào nồi kết hợp đồngthời với việc phun hơi nuớc vào đáy nồi để lắc cả khối dăm mảnh Bình gianhiệt dịch nấu ở ngoài nồi để nâng nhiệt độ, kết hợp với tuần hoàn cưỡngbức dịch nấu mà không làm loãng dịch nấu, giữ cho dịch nấu có nồng độkiềm cao không gây khó khăn cho khâu chưng bốc dịch đen lúc thu hồikiềm Có bơm để rút dịch nấu (gắn cùng với sàng đặt ở giữa lưng nồi) chochạy qua bình gia nhiệt sau đó phun trả về đỉnh và đáy nồi Công suất bơmthường thiết kế sao cho cứ 10 phót thì tuần hoàn xong một vòng nồi Nhiệt

độ trong nồi được tăng lên theo mét chu kỳ định trước cho tới nhiệt độ tối

đa Giữ ở nhiệt độ cao này cho tới khi đạt được hệ số H (chiều cao đẩy)theo yêu cầu (nhiệt độ 160  1720C) rồi mở van xả để bột sang nồi phun.Nhờ có áp suất chênh lệch lớn bột bị xé tơi ra

Quá trình xử lý bột giấy sau khi nấu:

Tuỳ theo bét ban đầu là cơ học, bán hoá, hoá học hay là bột giấy loại,bột sẽ được xử lí theo các bước khác nhau cho tới lúc đạt yêu cầu sử dụng.Các bước xử lý này bao gồm: đánh tơi, khử mấu mắt, rửa, sàng, lọc cát

a Đánh tơi.

Bét sau khi nấu xong đều phải qua khâu đánh tơi bằng lực cơ giới đểphân các bó bét ra thành xơ bột Thiết bị thường dùng là máy nghiền đĩa,nhất là loại có đĩa quay hai mặt kẹp giữa hai đĩa cố định

Thiết bị nấu bột giấy

Mặt sàng

Bơm tưới Bình gia nhiệt

Trang 3

c Sàng.

Cấu tạo:

S ơ đồ nguyên lí sàng áp lực đồ nguyên lí sàng áp lực nguyên lí s ng áp l c àng áp lực ực

Trang 4

d Lọc cát ly tâm.

Cấu tạo:

Hình 1.6: L c cát ly tâm ọc cát ly tâm

Trang 5

Nguyên lý hoạt động:

Bột có áp lực được bơm đưa vào theo đường tiếp tuyến ở đầu lớn củaống ngoài Bột hợp cách đi ra theo ống đồng trục với ống ngoài (ở đầulớn), còn bã thải cát thì bị loại ra ở đầu nhỏ Cơ chế loại cặn là dùa vào lực

ly tâm và lực trượt của bột, tức là dùa vào sự khác nhau về mật độ và hìnhdạng của tạp chất so với bột tốt Lực ly tâm được tạo ra do có sự giảm ápcủa dòng chảy Dòng bột vào máy đi theo đường tiếp tuyến tạo ra chuyểnđộng vòng tròn Bột càng tiến lên thì tốc độ càng tăng, do đó lực ly tâm ởgần đường tâm ống sẽ đẩy các hạt có tỷ trọng cao hơn ra ngoài, chạm phảithành ống mà rơi xuống đáy Bột tốt chảy vào giữa ống (do áp suất ở giữathấp hơn) và dâng lên trên rồi đi ra ngoài

Loại lọc cát có đường kính nhỏ nên lực ly tâm lớn làm tăng khả năngloại trừ được cả tạp chất nhỏ Còn trong trường hợp mục đích sử dụng chủyếu là để tách hạt to và mật độ thâp, ví dụ như ở trước máy xeo thì thườngchọn loại có đường kính lớn

a Những yêu cầu về khuấy.

Khi khuấy bột giấy cần đảm bảo các yêu cầu:

- Khuấy đều và liên tục để bột giấy được đồng nhất không có chỗ loãng, chỗđặc Dao động nồng độ bột giấy cho phép thấp hơn 0.1%, xơ sợi phân tánđều

- Bột mới đưa vào cùng với bột lưu trữ cũ trong bể phải được trộn khuấy đềutrong khoản thời gian ngắn thành một hỗn hợp đồng nhất

Trang 6

- Các phô gia phải được phân tán đều cùng với xơ sợi.

- Nhiệt độ bột phải đồng đều trong bể

- Không có hiện tượng ngưng đọng bột, không được tạo dòng xoáy cục bộ

và chảy quá mạnh, không tạo bọt và các bóng bóng khí

Trong sản xuất sử dụng hai kiểu khuấy bột giấy là khuấy bằng cơ khí

và khuấy bằng hơi (phun hơi nước ở áp lực cao) Khuấy bằng cơ khí nghĩa

là khuấy bằng cánh khuấy có kết cấu khác nhau được lắp đặt trong cácdạng bể có hình dáng, thể tích, kích thước không giống nhau

b Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình khuấy.

Vì những yêu cầu khuấy khác nhau nên khi lùa chọn cơ cấu khuấy cầnnắm chắc mục tiêu và các điều kiện công nghệ khuấy, đồng thời phải hiểu

rõ những yếu tố tác động có ảnh hưởng thuận nghịch đến quá trình khuấy.Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình khuấy: nồng độ, nhiệt độ bột giấy,kiểu dáng bể chứa và chủng loại bột giấy

Nồng độ bột giấy.

Nồng độ bột giấy tỷ lệ thuận với công suất tiêu hao Trong thực tế, khinồng độ bột k=3% công suất cần là một đơn vị thì khi nồng độ bột tăng lên4% công suất phải tăng gấp 2.5 lần

Nhiệt độ bột giấy.

Ở nhiệt độ cao, công suất yêu cầu cho khuấy thấp Thông thường trongkhi khuấy, nhiệt độ bột tăng dần do ma sát nhưng việc gia tăng này khôngđáng kể, do đó ít ảnh hưởng đến công suất của động cơ Trong một sốtrường hợp, để giảm điện năng tiêu hao, bột được hâm nóng bằng hơi nướcqua hệ thống ống dẫn vòi phun

Chủng loại bột giấy.

Do tính chất của bột giấy khác nhau nên công suất khuấy cũng khônggiống nhau Có loại khuấy trộn dễ tiêu hao điện năng thấp, nhưng có loạilại gây tổn thất điện năng nhiều hơn Ví dụ với bột xenlulô sulfat tẩy trắng,khi khuấy bột này thì công suất tiêu hao nhiều hơn khi khuấy bột xenlulôsulfit với cùng nồng độ

Dạng bể.

Qua thực tế khuấy bột giấy cho thấy:

Trang 7

- Với dạng bể tròn và vuông, công suất tiêu hao ít nhất Điều này cũng phùhợp với lý thuyết: trong bể vuông, bể tròn thì tỷ lệ giữa chiều cao và chiềungang hay đường kính bể so với chiều cao mức bột trong bể là những tỷ lệhợp lý hơn cả

- Để khuấy hiệu quả, nên dùng bể dài không nên chọn bể cao Bể cao chỉ nêndùng để lưu giữ bột với thời gian ngắn

Khi thiết kế tính toán để chọn thể tích bể và kích thước cánh khuấycần phải biết các thông số chủ yếu như: khối lượng bột giấy cần lưu giữ lớnnhất trong một đơn vị thời gian, thời gian lưu giữ nó Hai yếu tố này hoàntoàn phụ thuộc vào dạng sản phẩm với qui trình công nghệ sản xuất cụ thể.Thông thường thể tích bể chứa được tính theo công thức:

C

K T ) n 100 ( Q

Để thuận lợi cho viêc quản lý và sản xuất, trong thực tế phải thốngnhất và tiêu chuẩn hoá các bể chứa và cánh khuấy, nếu không trong mộtdây chuyền có thể xuất hiện khá nhiều bể với hình dáng, thể tích và cấutrúc khác nhau

c Thiết bị khuấy trong công nghiệp giấy.

Cơ cấu khuấy.

- Máy khuấy đứng kết cấu đơn giản nhưng hiệu quả khuấy trộn kém Nó chỉdùng cho các trường hợp khuấy bột thô, sợi dài có lực kéo lớn và yêu cầucần có dòng xoáy mạnh

- Máy khuấy nằm ngang gồm: khuấy chân vịt, khuấy tua bin 4 cánh có gócnghiêng cố định 450, khuấy tua bin 3 cánh và khấy vít xoắn Trong các loại

Trang 8

khuấy đó thì khấy vít xoắn có hiệu quả cao nhất mà công suất giảm tốithiểu 35%, hiệu quả khuấy trộn lại tăng 35%.

Cơ chế khuấy trộn của dòng bột.

Bột giấy khác với các chất rắn huyền phù khác nồng độ tăng đến 60 70% thì bột sẽ kết bó lại Bởi vậy khi thiết kế máy khuấy yêu cầu các cánhkhuấy phải tạo dòng xoáy và có lực cắt nhỏ

Muốn tạo dòng xoáy thì phải dùng năng lượng điện P để tạo nên lưulượng Q và chiều cao đẩy H Quan hệ giữa 3 thông số theo công thứctương tự như trong bơm li tâm

P ~ Q.H

Qua nghiên cứu thực nghiệm thì giữa bơm ly tâm và máy khuấy cóđiểm giống nhau và cũng có điểm khác nhau Điều đó được thể hiện theobảng sau:

Máy khuấy Bơm ly

Trong đó: P – công suất [mã lực]

H – chiều cao đẩy

Xét theo công suất thì quan hệ giữa bơm và khuấy như sau:

- Nếu cùng một đường kính cánh quạt (bơm và khuấy) thì công suất đặt củabơm cao hơn 72.8% công suất máy khuấy Nếu đường kính cánh khuấy lớnhơn bơm 20% thì công suất đặt máy khuấy sẽ lớn hơn 248.8% công suấtbơm

Trang 9

- Việc tăng lưu lượng Q của bơm chỉ xảy ra nếu H được nâng lên, còn trongmáy khuấy, cánh khuấy không bị hạn chế: kích thước có thể thay đổi tuỳ ý,việc tăng H không ảnh hưởng đến công suất đặt P.

Những yếu tố ảnh hưởng đến kết cấu máy khuấy.

 Nồng độ bét: Nồng độ bột có ảnh hưởng rất lớn đến qui cách máy khuấy.

Quan hệ giữa công suất và nồng độ bột theo công thức:

rõ, nếu không thì công suất đặt sẽ bị giảm tối thiểu là 37%

 Nhiệt độ: Ở nhiệt độ cao, độ nhít giảm, công suất máy giảm và ngược

lại Bởi vậy, khi tính toán phải quan tâm đến nhiệt độ làm việc của máykhuấy Ví dụ như khi tính toán lấy t=700 nhưng thực tế vần hành t=300 thìkết quả máy khuấy được chọn có công suất nhỏ hơn 10% Nên khi thiết kếtngười ta chọn chế độ làm việc ở nhiệt độ thấp hơn thực tế một chút thì antoàn và có lợi hơn

 Kích thước hình học hay kiểu dáng của bể chứa:

- Đối với bể chứa đứng: Muốn đạt được hiệu quả khuấy cao và giảm tiêu

hao điện năng thì chiều cao vận hành của bể chứa bột và đường kính bểchứa có quan hệ như sau:

7 0 T

Trang 10

- Đối với bể chứa kiểu nằm: Qua thực nghiệm cho thấy có sự khác nhau

chót ít so với bể chứa kiểu đứng Còn chọn bể đứng hay bể nằm chỉ đơnthuần là vấn đề kinh tế Bể kiểu đứng cần độ dày bể mỏng hơn so với kiểunằm nếu có cùng chiều cao Bể chứa đứng cần áp dụng kỹ thuật tiên tiến.Nhưng trái lại bể nằm có thể dùng tường chung giữa các bể khác nhau đểtiết kiệm diện tích và đạt mức kinh tế như bể đứng

Nếu đạt chỉ tiêu trên thì tương đương như bể đứng

Không phải toàn bộ thể tích xây dựng của bể đều có ích mà trên thực

tế phải chọn tỷ lệ L/W>1 nhưng không vượt quá 1.5 Nếu vượt quá 1.5 thìphải dùng 2 máy khuấy Ví dụ như bể chứa dưới gầm máy xeo hoặc phíadưới máy nghiền thuỷ lực, một máy khuấy đặt ở phía bột có nồng độ cao

và một máy đặt ở chỗ có vòi nước trắng pha loãng trưóc miệng hót củabơm

Nói chung chi phí tiêu hao về điện năng và bảo dưỡng máy khuấy rấtlớn Để phần nào khắc phục những vấn đề này, ta phải sử dụng bể chứa 2bậc, trên và dưới có đường kính khác nhau Phần dưới bể có chiều caobằng đường kính và thời gian lưu bột trong khu vực này là 1215 phót,nồng độ bột từ 3.55% tuỳ theo yêu cầu công nghệ Phần trên bể có đườngkính lớn hơn phần dưới 1.51.8 lần, chiều cao toàn bộ tháp chứa gấp 3 lầnđường kính phần dưới

Để tránh xảy ra khu vực bột chết và giảm công suất khuấy, giữa 2phần có góc quá độ thường là 450 hoặc 300

Trong các bể chứa nồng độ thấp (ví dụ bể chứa bột sau nghiền thuỷlực) có thể giảm phần đáy bể và dùng tháp đứng, trường hợp này thìZ/T>3

3 Chuẩn bị bột cho xeo giấy.

Trong một xí nghiệp liên hợp, việc chuẩn bị bột giấy cho xeo bắt đầu

từ chỗ hoà loãng bột ở bể nồng độ cao và kết thúc ở bể phối trộn bột trước

Trang 11

máy xeo Còn ở xí nghiệp chỉ có phần sản xuất giấy thì bắt đầu từ chỗ đưacác tấm bột và đánh tơi

a Đánh tơi bột:

Sử dụng các biện pháp cơ giới để đưa bột ở dạng khô hay cục, trộn vớinước thành dạng huyền phù, phù hợp để có thể dùng bơm vận chuyển.Thiết bị sử dụng là các đánh tơi như là máy đánh tơi thuỷ lực hay máynghiền Hà Lan

Với máy đánh tơi thuỷ lực, có thể vận hành liên tục hoặc từng mẻ Bộphận chủ yếu của máy là một Rôto hình cánh quạt tạo ra sự vận động dòngxoáy tuần hoàn của dung dịch làm cho các bó xơ bị lực cơ giới ma sát màbung ra Sau khi đã bị đánh tơi, huyền phù bột giấy lọt qua mặt sàng đểtháo hay bơm sang bể chứa Kích thước của bể so với của của cánh quạt có

tỉ lệ thích hợp còng như vị trí và số lượng cửa tháo bột phải được tính toánnhằm tạo ra nhiều vòng xoáy bột, nhất là khi vận hành ở nồng độ bột cao.Bột giấy tiếp tục được phân tán tiếp một bước nữa trong các máy phântán xơ Ở đây, các bó xơ được phân tán thành từng xơ Máy tương tự nhưmáy nghiền có hai hàm răng cố định và chuyển động, có thể hoạt động ởnồng độ bột tới 4.5%

b Nghiền bột.

Trước tiên bột được nghiền trong các máy nghiền Hà Lan Bột giấynằm trong huyền phù nước chịu tác động cơ giới của các thành dao bay vậnđộng ngang trên các thành dao đế cố định làm cho xơ sợi được xếp thẳnggóc với lưỡi dao Về sau đến các máy nghiền hình côn hình đĩa thì xơ sợilại vận động song song với các lưỡi dao Trong cả hai trường hợp, mụcđích đều là để làm phát triển và biến đổi các xơ sợi tới mức đạt yêu cầu xeo

ra các loại giấy khác nhau

Mục đích của khâu nghiền:

- Tạo ra độ bền tối ưu cho giấy

- Điều khiển độ thoát nước của bột giấy và sự hình thành đều đặn tờ giấy khixeo

Các loại máy nghiền:

Có hai loại máy nghiền hay được sử dụng: Nghiền đĩa và Nghiền côn

- Máy nghiền côn: chia ra thành loại có độ côn thấp và loại có độ côn cao.

Trong máy nghiền côn dao bay và dao đế xếp song song nhau theo chiềudọc Bột vận động song song với chiều dao Khoảng cách giữa dao bay và

Trang 12

dao đế có thể điều chỉnh bằng cách di động trục dao bay Đồng thời diđộng trục dao bay cũng dùng để điều chỉnh lưu lượng bột đi qua máy.

- Máy nghiền đĩa: ra đời muộn hơn và về cơ bản chia làm ba loại, loại dao

bay quay dao đế cố định, loại hai dao quay ngược chiều nhau và loại haidao bay quay kẹp giữa hai dao đế So với máy nghiền côn thì nghiền đĩa cónhiều ưu thế hơn Cụ thể là: Tiêu hao năng lượng không tải thấp, có thể sửdụng bột có nồng độ cao hơn, dùng tải cao hơn và tốc độ quay lớn hơn, cóthể có nhiều kiểu đĩa nghiền để nghiền các loại bột khác nhau, tự điềuchỉnh độ khớp giữa dao dễ hơn

Đo lường và phối trộn bột giấy.

Đo lường và phối trộn các thành phần bột khác nhau là nhiệm vụ quantrọng của hệ thống chuẩn bị bột trước khi xeo Cần nhấn mạnh rằng thayđổi thành phần phối trộn bột sẽ gây ra các xáo động khi hình thành tờ giấyướt trên lưới xeo và gây ra sự mất ổn định trong suốt quá trình sau đó, cũngnhư làm thay đổi tính chất tờ giấy

Xác định chính xác các tỷ lệ thành phần bột và chất phụ gia, đồng thờiphối hợp cả về thành phần, nồng độ và lưu lượng dòng chảy Khi thànhphần bột lấy từ bể có nồng độ cao phải qua nhiều bước hoà loãng và trộn

để đạt mước yêu cầu Thường nồng độ ở bể bột trước xeo là 2.83.2%.Khi đó khâu đánh tơi và nghiền cũng thực hiện ở nồng độ này

Đối với các loại giấy có thành phần đơn giản (giấy báo), thì không cần

có bể trộn riêng mà hoàn thành ngay ở bể bột trước xeo

Ở bể bột trước xeo, thành phần bột thông thường không còn thay đổinữa nhưng cũng có khi có thể gia thêm một lượng nhỏ chất phụ gia trướchòm phun bột Bột ở bể này (có nồng độ 2.6  2.8%) liên tục tuần hoànsang một bể có mức bột không đổi (chiều cao cột nước không đổi), sau đóbột qua mét van khống chế (còn gọi là van định lượng) để tới máy xeo Ởđây bột được trộn thêm nước trắng lấy từ dưới dàn lưới xeo để đưa nồng độbột tới mức yêu cầu (1% hay thấp hơn)

c Sàng lọc tạp chất.

Trang 13

Bột giấy khi đưa tới bể bột trước xeo đẵ được làm sạch, nhưng để bảo đảmchất lượng bột ta vẫn phải trang bị thêm khâu sàng tinh, bộ phận lọc cát đểloại trừ triệt để những tạp chất không mong muốn.

Để sản xuất các loại giấy mỏng và giấy tráng phấn người ta thườngdùng loại sàng có lỗ hình khe 1, 2 hoặc 3 cấp Đây là biện pháp kinh tế đểnâng cao độ sạch của bột Có khi giữa bể phối trộn bột với bể bột trước xeođặt thêm hệ thống sàng rãnh để sàng bột có nồng độ tương đối cao

Năng lượng tiêu hao ở công đoạn này chủ yếu dùng cho bơm cấp bột.Bơm cấp bột dùng để trộn bột với nước trắng và đưa hỗn hợp này tới hòmphun trước xeo Yêu cầu đối với bơm này rất cao: bơm phải giữ đuợc lưulượng và áp suất ổn định, không biến động lên xuống hay tắc nghẹt, có thểđiều chỉnh theo yêu cầu của máy xeo Thường người ta chỉ dùng một bơm,nhưng cũng có khi lắp thêm bơm dự phòng, nhất là khi có yêu cầu phải lợitrừ không khí trong bột (bằng cách tạo ra độ chân không cao)

Khử không khí lẫn trong bét.

Các bong bóng khí lẫn vào bột giấy ở hòm phun sẽ gây ra khuyết tậtcho tờ giấy (lỗ hổng, các bong bóng nhỏ), làm giảm độ thoát nước trên lướixeo, và mất sự ổn định của dòng bột cấp Những bọt khí này thường lẫnvào bột khi khuấy, cũng như khi vận chuyển và chủ yếu là từ nước trắng ởcác máng hứng đặt dưới lưới xeo Nước trắng này được tập trung vào bểdưới lưới, được khuấy nhiều trước khi đem trộn với bột để đưa lên lưới Vìvậy có khi người ta phải cho thêm chất phá bọt vào đây Có khi người tacần dùng một cái bơm phun vào một bình có độ chân không làm cho khôngkhí sôi lên và thoát ra ngoài

d Hệ thống dàn trải bột và hòm phun bét.

Dàn trải bột.

Dàn trải bột được gắn liền với hòm phun Tiết diện của ống hẹp dần và

có thể là hình tròn hay hình chữ nhật Bột giấy từ bơm cấp được phun quaống phân phối để đưa vào một chùm ống nhỏ xếp thành hàng, kết hợp vớiviệc cho hồi lưu một lượng bột nhất định Lượng bột hồi lưu phải đượckhống chế một cách chính xác nhằm giữ cho áp lực bột trong các ống phân

Sơ đồ hệ thống dàn trải bột

Trang 14

phối bằng nhau ở cả điểm đầu và cuối Lượng bột hồi lưu quá lớn hay quá

ít đều dẫn đến tình trạng áp suất bột phun lên lưới không đồng nhất

Hòm phun.

Tác dụng của hòm phun bột là vận chuyển bột từ bơm cấp qua đườngống dẫn tạo thành một màng bột nước hình chữ nhật có chiều rộng bằngchiều rộng của lưới xeo và phun ra với tốc độ đồng đều ở khắp mọi nơi lênlưới xeo về hướng đi của lưới Tờ giấy sau này có độ đồng đều cao vềlượng xơ sợi cũng như chất độn hay không là tuỳ thuộc vào cách thiết kế

và vận hành của hòm phun

 Các yêu cầu cụ thể về vận hành như sau.

- Trải bột đều đặn trơn tru ra khắp chiều rộng của lưới xeo

- Không có các dòng chảy ngang và biến động về nồng độ bột

- Không tạo ra sù sai lệch về tốc độ theo chiều máy chạy

- Tạo ra xáo trộn nhỏ vừa mức để xơ sợi không kết tụ lại (vón cục)

- Phun đều đặn qua môi phun và bám lên lưới xeo đúng vị trí và góc độ

Các yêu cầu về kết cấu máy.

- Luôn luôn sạch sẽ

- Dễ vận hành

- Có thể đo lường, điều khiển độ mở của hòm phun một cách chính xác

- Có độ vững chắc về kết cấu để giữ cho môi phun không bị biến dạng

Tuỳ theo tốc độ máy xeo, có thể sử dụng loại hòm phun áp lưc Loạihòm phun áp lực có thể dùng áp lực không khí và áp lực thuỷ lực Nếu

Trang 15

dùng áp lực thuỷ lực thì tốc độ phun bét ra ở môi phun phụ thuộc trực tiếpvào áp lực của bơm cấp Với áp lực không khí thì vừa chịu ảnh hưởng của

áp lực bơm cấp vừa chịu ảnh hưởng của áp lực của líp không khí nằm tronghòm kín

Tổng áp lực (chiều cao cột nước) trong hòm quyết định tốc độ phunbột lên lưới

Theo phương trình Bernoulli:

gh 2

v 

với: v – tốc độ phun bét (m/s)

h – chiều cao cột nước(m) (m)

Chiều dày của líp bột phun ra cứ mỏng dần là nhờ kết cấu hình họccủa môi phun Chính độ dày này cùng với tốc độ phun ra xác định lưulượng dòng bột

Điều chỉnh ở hòm phun.

Những thông số vận hành chủ yếu là nồng độ bột, nhiệt độ bột và tỷ lệgiữa tốc độ dòng bột với tốc độ lưới Thông thường nên để cho nồng độ bộtthấp nhất tới mức có thể để tạo được tờ giấy có độ đều cao nhất mà khônggây ảnh hưởng tới độ bảo lưu lần đầu và không vượt qua khả năng thoátnước của lưới Nhiệt độ cao sẽ có lợi cho việc thoát nước Nồng độ caothấp còn phụ thuộc độ mở của môi phun

Còn tỉ lệ giữa tốc độ dòng bột và tốc độ lưới thường điều chỉnh chogần bằng 1 nhằm tạo ra độ đều cao của tờ giấy Nếu tốc độ phun lớn hơntốc độ lưới thì bột bị dồn lại, ngược lại thì bột bị kéo dãn ra

Môi phun.

Môi phun cần đảm bảo điều chỉnh được dễ dàng nhằm đạt tốc độ phunbột tuỳ ý Kích thước và độ mở của môi phun quyết định chiều dày của lípbột phun ra, còn áp lực trong bể phun quyết định tốc độ dòng chảy Môiphun gồm có môi phun trên và môi phun dưới, cả hai đều làm bằng hợpkim chịu mài mòn Môi trên có thể điều chỉnh theo chiều ngang để thay đổigóc phun của dòng bột lên lưới xeo

e Vận hành phần ướt máy xeo (bộ phận Ðp).

Mục tiêu đầu tiên của bột phận Ðp máy xeo là tách nước ra khỏi tờgiấy ướt và làm tăng dé bền của băng giấy Tuỳ theo mặt hàng giấy, còn có

Trang 16

mục tiêu nữa là làm tăng độ phẳng bề mặt, giảm độ xốp, và trực tiếp làmtăng độ bền của băng giấy ướt nhằm làm giảm được việc đứt giấy ở bộphận sấy Tờ giấy ban đầu còn rất dễ rách khi chuyển từ bộ phận hìnhthành (lưới) qua chăn cùng một loại cặp Ðp trước khi đi sang bộ phận sấy.Vận hành bộ phận Ðp có thể được xem như là tiếp tục vắt nước vốnđược bắt đầu từ lưới xeo Vắt nước bằng biện pháp cơ giới kinh tế hơnnhiều so với làm chưng bốc hơi nước (ở bộ phận sấy) Vì vậy cần phảinâng cao hiệu suất ở phần Ðp để giảm phụ tải cho bộ phận sấy Ngoài racòn phải cân bằng được các giai đoạn thoát nước để cho tờ giấy có đủ độbền khi được đưa sang phần sấy và tạo cho bộ phận sấy có đủ năng lực làmbốc hơi nước tạo ra tờ giấy thành phẩm

Tạo độ bền cho tờ giấy là một giai đoạn quan trọng trong quá trình xeogiấy Chính tại phần Ðp đã giúp cho các xơ sợi tiếp xúc kề cận với nhau,làm nảy nở liên kết giữa các xơ sợi với nhau trong khi sấy Nếu chỉ Ðp màkhông sấy thì tờ giấy không có đủ độ bền và vẫn xốp Ngược lại không cókhâu Ðp thì riêng sấy không đủ làm khô giấy

Quá trình Ðp.

Tờ giấy ướt được một tấm chăn Ðp mang vào kẹp giữa hai lô Ðp Quátrình Ðp được diễn ra theo 4 bước sau đây:

Bước 1: Bắt đầu nén Ðp lên tờ giấy và chăn xeo Không khí trong giấy

và chăn bị Ðp, còn nước thì lấp đầy các chỗ trống trong giấy nhưng chưađạt đến áp suất thuỷ lực

Bước 2: Tờ giấy chứa nước, tạo ra áp suất thuỷ lực đẩy nước từ tờ

giấy vào trong chăn Đến khi chăn đầy nước thì nước bắt đầu bị đẩy rakhỏi chăn bước này tiếp tục diền ra cho tới điểm giữa của hai trục (lực Ðp

là lớn nhất)

Bước 3: Sau đó khe hở giữa hai trục tăng dần cho tới khi áp suất thuỷ

lực trong tờ giấy triệt tiêu, cũng là lúc tờ giấy đạt độ khô cao nhất

Bước 4: Cả tờ giấy và chăn Ðp đều nở ra, khi đó giấy không còn bão

hoà nước nữa và ở đây đã tạo ra áp suất âm giữa giấy và chăn cho nên sẽtồn tại một lượng nước nhỏ lại từ chăn quay trở về trong giấy

Mét số yêu cầu đối với giai đoạn Ðp: Chăn phải có độ xốp nhất định

để khi Ðp có thể tiếp nhận lượng nước bị Ðp từ giấy ra Sau đó phải bảođảm cho nước từ lô Ðp ra khỏi chăn Ngoài ra chăn phải giữ được độ xốpcần thiết ở vùng có lực Ðp lớn nhất

Trang 17

Hiện tượng nước chảy ngựơc từ chăn sang giấy làm hạn chế việc khửnước một cách tối ưu Đó là do có sự hấp thụ mao quản và sự hấp thụ cơgiới Vì vậy, hiện tượng hồi Èm chỉ có thể khắc phục được khi tách ngaytức thì được giấy ra khỏi chăn.

Hạn chế của khâu Ðp:

- Tốc độ thoát nước ra khỏi tờ giấy và vùng Ðp không thể quá nhanh

- Mức độ nâng cao lực Ðp không thể quá lớn

Về nhược điểm một, nếu nước bị Ðp ra khỏi tờ giấy do lực Ðp quámạnh thì sẽ sinh ra hiện tượng gọi là Ðp nát, nhiều khi còn gây ra sự cốrách giấy hoặc ít nhất thì cũng có hiện tượng một số xơ sợi bị đẩy theonước trôi đi, xơ sợi bị chuyển chỗ hoặc xơ sợi bị chui vào chăn Chính vìvậy phải bố trí nhiều cặp Ðp để nâng dần áp suất lên (thường là 3 cặp) Ởcặp Ðp 1, lực Ðp bị giới hạn để không được gây ra nát giấy, còn ở cặp Ðpcuối cùng thì nên gia áp tới mức tối đa có thể Về mặt lý thuyết, càng tănglực Ðp lượng nước bị đẩy ra càng nhiều Tuy nhiên, khi tốc độ máy xeocàng tăng lên thì hiệu quả áp suất cao càng bị giảm do thời gian Ðp trên lô

Thông thường cần tạo ra được áp suất đều đặn trên cả chiều dài của lô

Ðp để cho lượng nước còn laị trong giấy cũng đồng đều Nhưng có đôi khi,

do điều kiện thoát nước của tờ giấy trên lưới không đồng nhất, hoặc do cácnguyên nhân khác, người ta thường phải bù trừ lại ở khâu Ðp với lực Ðpkhác nhau

Các loại lô Ðp:

Yêu cầu quan trọng trong thiết kế lô Ðp là tạo ra được con đường ngắnnhất cho nươc thoát ra khỏi vùng Ðp Khoảng cách ngắn nhất là bằng độdày của chăn Như vậy nghĩa là phải tạo được dòng nước chảy ra thẳng gócvới bề mặt chăn, còn dòng chảy ngang thì phải ở mức tối thiểu

Lô Ðp có bề mặt bằng trơn: Các lô Ðp này có hạn chế là nước chỉ có

thể thoát ra khỏi vùng Ðp theo chiều mặt quay của lô Ðp

Trang 18

Lô Ðp chân không: Có mét líp vỏ ngoài có lỗ và quay xung quanh một

trục cố định có thể hót chân không Chính nước sẽ thoát ra khỏi vùng Ðpthông các lỗ trên líp vỏ này một cách dễ dàng Một lượng nước nhất địnhchảy trực tiếp ngay vào lỗ, nhưng cũng có nhiều nước phải chảy ngangtrước khi vào lỗ

Lô Ðp có rãnh xung quanh: Các rãnh hình xoắn ốc thường sâu 2.5mm,

rộng 0.5mm, và cách nhau 3.2mm Do cấu trúc đặc nên lô chịu được áplực cao hơn Nước vào rãnh sau đó sễ bị lực ly tâm trên bề mặt lô cóđường kính lớn đẩy ra ngoài, tiếp đó có thể dùng vòi nước phun vào daocạo để làm sach mặt lô Bề mặt lô có rãnh phải đảm bảo độ cứng cao đểgiữ cho rãnh không bị háng

Lô Ðp có bề mặt khoan lỗ: So với lô có rãnh thì lô có bề mặt khoan lỗ

cho diện tích rỗng nhiều hơn, hơn nữa lại ít bị bít hơn, cho nên có thể chếtạo bằng vật liệu bề mặt mềm hơn Cũng nhờ lực ly tâm nên các lỗ này tựđộng được làm sạch

Toà Ðp có lưới: Mét tấm lưới nhiều líp không chịu nén chạy trong cặp

Ðp giữa chăn và lô có bọc cao su để tạo ra thể tích rỗng có thể tiếp nhậnnước Ðp ra Nước này sau đó được chuyển sang một hòm hót chân khôngđặt trên đương đi của lưới

Một kiểu Ðp mới gọi là loại Ðp mở rộng (extended - nepress) có một

vùng gia áp rộng để cho tờ giấy đi qua Khi dùng lại lô này cho lần Ðp cuốicùng, không những giúp cho tờ giấy đạt được độ khô cao hơn nhiều mà cònlàm tăng được độ bền của tờ giấy do độ chặt được nâng cao Cơ cấu chốt ởđây là một bộ phận để đỡ cố định gọi là “giày áp lực” (pressure shoe) vàmột vành đai bôi trơn để làm bàn trượt đỡ lấy vành đai Do mức áp suấttương đối thấp, cộng với cách gia áp có khống chế nên làm giảm được hiệntượng Ðp nát giấy Tuy nhiên lượng nước Ðp ra được nhiều nhờ tạo ra ápsuất trong một thời gian dài, gấp tới 8 lần cách Ðp thông thường Vì vậyloại này có thể dùng cho nhiều cấp độ định lượng giấy

Phương pháp gia nhiệt thông thường là sử dụng các vòi phun hơi cả ởlưới và ở khâu Ðp Vòi phun đặt ở trên mặt giấy, khi hót chân không, hơi

Trang 19

nước sẽ xuyên qua giấy và chăn làm nóng tờ giấy lên Hệ thống vòi phun

bố trí ở từng phần và có hệ thống tự động khống chế tuỳ theo yêu cầu

Chăn Ðp.

Chăn Ðp có hai tác dụng:

- Làm bàn đỡ để di chuyển tờ giấy đi qua các vị trí vận hành

- Làm nhiệm vụ hót nước

- Ngoài ra nó còn có tác dụng kéo các lô khác đi như kiểu một băng chuyền

Để đảm bảo chạy ổn định, có độ bền cao và không quá đắt tiền, chăn Ðpphải được chế tạo phù hợp với các tiêu chuẩn về độ bền, kích thước ổnđinh, dễ gấp uốn và bề mặt trơn mịn

Loại dệt bằng len thường có độ thấm nước theo chiều thẳng đứng kém

và tuổi thọ không cao Công nghệ cấy lông lên líp cốt chăn đẵ dệt giúp chochăn xốp hơn Loại chăn dệt nhiều líp có độ hở cao, mà không bị Ðp dẹt,

có khẳ năng vắt hết nước trước khi vào Ðp và chứa được nước khi hót từgiấy ra

Đường vận hành của chăn luôn bảo đảm cho chăn được căng đều vàchạy ổn định, tạo cho nó luôn thông thoáng, dễ thoát nước Thường có cả

bộ phận rửa bằng hoá chất và đập chăn Hầu hết đều dùng sức nước (vòi ápsuất cao hay thấp) để làm thoáng và rửa các xơ vụn, chất độn bám vàochăn

f Bộ phận sấy máy xeo.

Sau Ðp ướt, băng giấy thường có độ khô lớn nhất chõng trên dưới40% Để giấy được khô hơn, đến 9296% thì phải dùng biện pháp sấy Các phương pháp sấy thường dùng:

- Sấy tiếp xúc: có sự tiếp xúc trực tiếp của băng sấy với bề mặt được gia

nhiệt là lô sấy Phương pháp này sử dụng cho các loại giấy thông thường

- Sấy bức xạ: bằng gió nóng hay khí nóng trong các hầm với các nguồn

nhiệt khác nhau Phương pháp này dùng trong sản xuất giấy các tông vàxenlulô

Quá trình sấy:

Độ ẩm trong băng giấy khi vào bộ phận sấy gồm có ẩm tù do và ẩmliên kết (hay còn gọi là Èm bị hót bám)

Ngày đăng: 01/07/2016, 13:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ một nhóm máy sấy bao gồm 6 xi-lanh và một máy đo điều khiển áp - TÌM HIỂU hệ THỐNG SẢN XUẤT GIẤY VA CÔNG ĐOẠN sấy TRONG NHÀ MÁY GIẤY
Sơ đồ m ột nhóm máy sấy bao gồm 6 xi-lanh và một máy đo điều khiển áp (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w