trọng đến vấn đề “dạy người” trong đó có giáo dục HVUXCVH cho học sinh.Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trong việc thực hiện công tác giáo dụcnày thì trong nhà trường vẫn còn có mộ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đối với các thầy côgiáo khoa Tâm lý – Giáo dục học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giảngdạy, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến ThS Đào ThịNgọc Anh - người thầy đã tận tình hướng dẫ em trong suốt thời gian thực hiệnkhóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo cùng toàn thể các em họcsinh trường THCS Đặng Cương – An Dương – Hải Phòng đã giúp đỡ, tạođiều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành đề tài khoa học này
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong giađình, những người bạn đã cổ vũ, động viên, giúp em hoàn thành tốt công trìnhnghiên cứu của mình
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài của em còn nhiều thiếu sót, em kínhmong nhận được sự bổ sung, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn
để đề tài khoa học của em được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Hiển
Trang 2Hành vi ứng xử có văn hóaTrung học cơ sở
Số lượngThứ bậc
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang mở ra cho đấtnước chúng ta nhiều cơ hội mới, được “đi tắt đón đầu” trong việc ứng dụngnhững thành tựu của khoa học – kỹ thuậtvào trong đời sống, làm thay đổi quanniệm về giáo dục Giáo dục giờ đây không chỉ đơn thuần là việc truyền đạt chongười học những kinh nghiệm lịch sử - xã hội do loài người tích lũy được màquan trọng hơn cần trang bị cho họ kỹ năng, kỹ xảo cần thiết để có thể xử lý,thích ứng với sự biến đổi và phát triển không ngừng của xã hội trong những tìnhhuống cụ thể, nhất định Chính vì thế, giáo dục cần phải tạo điều kiện cho mỗi cánhân có cơ hội được học hỏi, được hòa nhập và tự khẳng định bản thân trongcuộc sống
Ngoài ra, sự phát triển của khoa học và công nghệ với sự ra đời của nhữngchiếc máy tính có kết nối mạng Internet đã làm thu hẹp dần khoảng cách địa lý,tạo điều kiện để văn hóa Việt Nam có điều kiện “vươn mình tỏa sáng” với cácquốc gia và khu vực trên thế giới Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh và tíchcực ấy, sự giao thoa, tiếp nhận văn hóa nhân loại vào nền văn hóa dân tộc mộtcách ngẫu nhiên không chọn lọc làm ảnh hưởng đến các giá trị truyền thống, vănhóa của đất nước nói chung và văn hóa trong nhà trường nói riêng
Theo kết quả khảo sát của Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục ViệtNam (2008) cho thấy: Tỷ lệ học sinh nói dối cha mẹ ở bậc Tiểu học là 22%,
Trung học cơ sở (THCS) là 50% và trung học phổ thông là 64% (Hội thảo
“Thực trạng văn hóa học đường và nhu cầu giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở” được tổ chức vào tháng 9/2013 tại thành phố Đà Lạt – Lâm Đồng) [32] Thực tế hiện nay, nhiều học sinh (HS) chỉ chào thầy cô giáo của
mình trong trường học còn khi ra ngoài thì coi như không quen biết Thực trạng
HS bỏ học, đánh nhau, sống lang thang thành các băng nhóm, các tổ chức gây rối
Trang 4trật tự xã hội, các hành vi ứng xử thiếu văn hóa,… có xu hướng ngày càng tănglên Mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội ngày càng trở nên lỏnglẻo và xa cách.
Học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng là những chủ nhân tươnglai của đất nước, là những người sẽ góp phần xây dựng và phát triển đất nướcmai sau Nhưng hiện nay, các em đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề nảysinh trong cuộc sống Bản thân học sinh THCS là những đối tượng mà đặc điểmtâm lý của các em đang hình thành và phát triển Cho nên, những vấn đề trong xãhội được các em nhận thức chưa sâu sắc, dễ dàng tiếp nhận và chịu ảnh hưởng từnhững luồng văn hóa xấu, thông qua các trang mạng xã hội, mạng Internet, cáctài liệu, ấn phẩm có nội dung văn hóa không lành mạnh Chính vì vậy, vấn đềgiáo dục đạo đức, văn hóa nói chung và giáo dục HVUXCVH cho học sinh làmột vấn đề quan trọng và mang tính cấp thiết
Điều này cũng đã được thể hiện rõtrong chương 2 của Luật giáo dục
năm 2005: "Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham
gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [17; 47 ]
Trường THCS Đặng Cương thuộc địa phận xã Đặng Cương, huyện AnDương thành phố Hải Phòng là một trong những lá cờ đi đầu trong phong tràogiáo dục của huyện Cùng với sự cố gắng của thầy và trò, nhà trường đã đạtnhiều bằng khen, giấy khen của TƯ Đoàn, phòng Giáo dục và UBND huyện.Năm 2007, trường vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu trường chuẩnquốc gia Từ khi thành lập đến nay, nhà trường luôn quan tâm đến vấn đề giáo
dục toàn diện nhân cách học sinh, bên cạnh việc “dạy chữ” nhà trường còn chú
Trang 5trọng đến vấn đề “dạy người” trong đó có giáo dục HVUXCVH cho học sinh.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trong việc thực hiện công tác giáo dụcnày thì trong nhà trường vẫn còn có một số em học sinh vẫn còn cư xử thô lỗ,thiếu lễ phép với thầy cô và chưa hòa nhã với bạn bè và mọi người xung quanhnên hiệu quả của công tác giáo dục vẫn còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao
Với mong muốn tìm hiểu thực trạng giáo dục hành vi ứng xử có văn hóacủa học sinh trường THCS Đặng Cương – An Dương – Hải Phòng để từ đó, mộtmặt đưa ra được những đánh giá khái quát nhất về mức độ thực hiện hoạt độnggiáo dục HVUXCVH cho học sinh, mặt khác để có những định hướng và những
đề xuất phù hợp nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục HVUXCVH chohọc sinh nơi đây
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho học sinh trường trung học cơ sở Đặng Cương – An Dương – Hải Phòng”.
2 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Giáo dục HVUXCVH cho học sinh ở trường THCS.
- Đối tượng nghiên cứu: quá trình thực hiện, kết quả, khó khăn, hạn chế
trong công tác giáo dục HVUXCVH cho HS tại trường THCS Đặng Cương – AnDương – Hải Phòng
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu quá trình và kết quả giáo dục HVUXCVH cho học sinh ởtrường THCS Đặng Cương - An Dương - Hải Phòng, đồng thời xác định nhữngnguyên nhân tạo nên sự thành công cũng như những khó khăn, thách thức mànhà trường đã và đang gặp phải Từ đó, đề xuất một số biện pháp nhằm giảiquyết những khó khăn, bất cập còn tồn tại trong công tác giáo dục cũng như gópphần nâng cao chất lượng giáo dục HVUXCVH cho HS
Trang 64 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về HVUXCVH và giáo dục HVUXCVHcho học sinh trung học cơ sở
- Nghiên cứu thực trạng giáo dục HVUXCVH cho học sinh trường THCSĐặng Cương – An Dương – Hải Phòng
- Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dụcHVUXCVH cho học sinh trường THCS Đặng Cương – An Dương – Hải Phòng
5 Giả thuyết khoa học
Nếu hoạt động giáo dục HVUXCVH cho HS ở trường THCS Đặng Cương– An Dương – Hải Phòng được nghiên cứu, khảo sát một cách khoa học thì:
+ Có thể tìm ra những yếu tố dẫn tới sự thành công của hoạt động giáo dụcHVUXCVH cũng như những khó khăn, hạn chế, vướng mắc trong công tác GDHVUXCVH cho học sinh trong trường
+ Từ kết quả khảo sát thực trạng giáo dục HVUXCVH có thể đưa ra nhữnggiải pháp góp phần giải quyết những khó khăn vướng mắc trên, đồng thời gópphần nâng cao chất lượng giáo dục HVUXCVH cho học sinh tại trường này
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài của mình, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp, hệ thống
hóa, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa các tài liệu về GD HVUXCVH
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp quan sát, dự giờ lớp học: quan sát học sinh và quan sát
quá trình thực hiện hoạt động giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho học sinhthông qua dự giờ trên lớp, qua các hoạt động sinh hoạt, hoạt động giáo dục họcsinh nhằm thu thập thông tin thực tiễn phục vụ đề tài
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Mục đích tìm hiểu thực trạng nhận
thức về giáo dục hành vi văn hóa và quá trình thực hiện giáo dục hành vi có văn
Trang 7hóa ở trường THCS Đặng Cương – An Dương – Hải Phòng thông qua phiếu điềutra bằng bảng hỏi theo một số nội dung nhất định.
+ Phương pháp phỏng vấn sâu: tiến hành phỏng vấn một số giáo viên và
học sinh để thu thập thông tin cho đề tài
- Nhóm phương pháp thống kê toán học: sử dụng toán thống kê, sử
dụng biểu đồ, sơ đồ để minh họa
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn đối tượng điều tra:
+ Giáo viên đang giảng dạy giáo dục HVUXCVH tại trường Trung học cơ
sở Đặng Cương - An Dương - Hải Phòng
+ Các em học sinh của các khối lớp 6, 7, 8 và khối lớp 9 của trường THCSĐặng Cương
- Giới hạn nội dung nghiên cứu:đề tài đi sâu nghiên cứu quá trình
GDHVUXCVH cho HS tại trường THCS Đặng Cương – An Dương – Hải Phòng
- Giới hạn địa bàn nghiên cứu: đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu tại trường
THCS Đặng Cương – An Dương – Hải Phòng
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC HÀNH VI ỨNG XỬ
CÓ VĂN HÓA CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu
Từ xưa đến nay, ứng xử vẫn luôn là đề tài khơi nguồn cảm hứng không chỉvới giới văn nghệ sĩ (nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ,…) mà còn của không ít các nhàkhoa học trong nước và trên thế giới
1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Trên thế giới, vấn đề ứng xử và hành vi ứng xử được rất nhiều nhà khoahọc nghiên cứu
Jame Watson (1878 – 1958) là nhà tâm lý học người Mĩ Khi nghiên cứu
về ứng xử ông cho rằng, ứng xử là quá trình tiếp nhận kích thích ngoại giới vàphản ứng đáp lại các kích thích đó của cơ thể theo công thức S – R, tức là mốiquan hệ giữa cá nhân và môi trường trong cuộc sống của mỗi cá nhân [18;73]
Lý thuyết của Watson đã đánh đồng hành vi của con người với hành vicon vật và bỏ qua tính chủ thể của con người trong hành vi Chính vì thế, lý
thuyết của ông bị coi là “máy móc”, “cơ học hóa”, vì đã “xóa bỏ mọi danh giới
có tính nguyên tắc hành vi động vật và hành vi con người”.
Tuy nhiên, lý thuyết này lại có ảnh hưởng tới việc GD HVUXCVHcho HS Trong quá trình GD, nhà giáo dục cần phải xây dựng các tác nhânkích thích từ môi trường bên ngoài như: nội quy lớp học, điều lệ nhà trường,
… đồng thời tạo điều kiện để HS được tham gia và thực hiện theo những nộiquy, quy định đó
B F Skinner (1904 – 1990) là người kế cận của Watson Nghiên cứu về
ứng xử ông cho rằng, không phải mọi tác nhân kích thích (S) tác động vào cánhân khác nhau đều cho một phản ứng (R) đáp lại tương ứng Ngay cả ở một cánhân cũng không có những phản ứng giống nhau khi những tác nhân kích thích
đó ở những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau Quá trình đó cần có sự tham gia
Trang 9của ý thức theo công thức: S –X – R Tuy nhiên kích thích của ngoại giới là cáiquyết định mặt bản chất của hành vi - ứng xử [18; 80]
Quan điểm của Skinner có nhiều tiến bộ song vẫn máy móc, cơ học, chưagiải thích được sâu sắc về bản chất của hành vi ứng xử của con người, phủ nhậntính tích cực, chủ động trong phản ứng, chỉ coi mỗi cá nhân như một thực thểngoan ngoãn, dễ điều khiển, dễ sai bảo
Học thuyết của Skinner đã đề cao vai trò của việc tập luyện, và sự xuấthiện của tác nhân kích thích tới hành vi ứng xử Tức là, muốn điều chỉnh cáchứng xử của con người chỉ cần thay đổi những kích thích tác động đến nó Do đó,con người có thể dự kiến và kiểm soát được phản ứng của cá nhân khi người tathay đổi yếu tố bên ngoài
Trong GD hành vi ứng xử cho HS, bên cạnh việc xây dựng những tácnhân kích thích, nhà GD cần phải đưa ra những tác nhân góp phần củng cốHVUXCVH như khen thưởng, động viên, khích lệ và trách phạt, khiển trách vớinhững cá nhân có hành vi ứng xử chưa phù hợp
J Piaget (1896 – 1980) là người theo trường phái tâm lý học nhận thức Nghiên cứu về ứng xử, ôngcho rằng: “Ứng xử là một tập hợp các kích thích của
cơ thể đối với các tác nhân kích thích từ bên ngoài, có sự phản ứng của con người một cách thích hợp được tiến hành theo công thức S – X –R trong đó X là não bộ”.[ 18; 93] Theo ông, nhà giáo dục phải xây dựng hành vi ứng xử văn hóa
của con người từ thấp đến cao tùy thuộc vào trình độ phát triển nhận thức của trẻ(phụ thuộc X)
Chính vì thế, trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục cần phải chú ý đếnnhững đặc điểm đối tượng và trình độ nhận thức của người học để từ đó đưa ranhững nội dung, chương trình, cũng như phương pháp và hình thức tổ chức giáodục cho hiệu quả
Ngoài ra còn rất nhiều các công trình khoa học khác của các tác giả:Bônđasevxcaia, M I Lixina, A.V Bruslinski, E.V Xerghienko,…đã nghiêncứu ảnh hưởng của mối quan hệ đến các thế hệ trong gia đình; giữa giáo viên
Trang 10và học sinh đến việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ nói chung và ứng
Tử mang nặng tính giai cấp, và chứa đựng quan điểm duy tâm [15; 18 - 19]
J.A.Cômenxki (1592 – 1670) được coi là ông tổ của ngành sư phạm Cận
đại Ông cho rằng, muốn GD HVUXCVH cho HS, hơn ai hết nhà giáo dục cầnphải là tấm gương sáng cho HS noi theo, GV cần phải ứng xử ân cần, hòa nhã,
có thái độ vui vẻ, một tình yêu thành thục, ứng xử với học sinh như đối với chính
con đẻ của mình “Nếu anh không thể làm như một người cha thì anh không thể làm như một người thầy”.[15; 12]
Nhà giáo dục người Nga A.X.Makarenko (1888- 1939) đề cập đến vai trò
của gia đình đối với sự phát triển nhân cách của trẻ em Khi bàn về GdHVUXCVH cho trẻ em, ông cho rằng GD trẻ em trước hết là trách nhiệm củabậc cha mẹ, thầy cô, phải chú ý đến đặc điểm của trẻ và bắt đầu từ tuổi ấu thơ
Còn trẻ em được ví như là những đóa hoa và “Muốn có những đóa hoa đẹp, phải kịp thời dùng kéo cắt những cành khô hoặc thuốc sát trùng mà tưới cho hoa”.
[15; 12] Lời nói tượng hình này thể hiện ý tưởng của Makarenko về sự tôn trọng
trong cách ứng xử đối với trẻ em và sự yêu cầu cầu cao đối với chúng
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Tác giả Lê Thị Bừng đã được coi là người tiên phong nghiên cứu về ứng
xử tại Việt Nam Trong tác phẩm “Tâm lý học ứng xử”, tác giả cũng đã đề cập
đến khái niệm, bản chất của ứng xử và đề xuất các cách thức ứng xử trong cáctình huống khác nhau [6]
Nghiên cứu sâu hơn về giao tiếp ứng xử của HS THCS, tác giả cũng đãchỉ ra nguyên tắc và cung cách ứng xử “tuổi trăng tròn” trong các mối quan hệ
Trang 11gia đình, nhà trường, xã hội, bạn bè,…thông qua những câu chuyện và tìnhhuống cụ thể [5]
Hai tác giả Nguyễn Công Khanh và Nguyễn Minh Đức với tác phẩm
“Giao tiếp ứng xử tuổi học đường” đã tư vấn cho thanh thiếu niên về giao tiếp ứng
xử trong các mối quan hệ xã hội hiện nay
Bộ ba tác giả Nguyễn Ngọc Nam, Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Hồng Ngọc
đã đồng hành viết lên “Nghệ thuật ứng xử và sự thành công của mỗi người” Cuốn
sách cung cấp cho bạn đọc hệ thống phương pháp và nguyên tắc với mong muốngiúp người ta ít mắc sai lầm khi giao tiếp ứng xử với người khác
Cuốn “Giao tiếp và ứng xử của cô giáo với trẻ em” của tác giả Ngô Công
Hoàn đã đưa ra một số nguyên tắc và phương pháp giáo dục trong việc giao tiếpứng xử của cô giáo với trẻ mẫu giáo
Trong cuốn sách “Giáo dục hành vi có văn hóa cho trẻ em”, tác giả
Nguyễn Ánh Tuyết cũng đã chỉ ra những nguyên tắc và phương pháp giáo dụchành vi có văn hóa cho trẻ em [25]
Đóng góp vào nền khoa học của nước nhà còn có những công trình khoahọc, các đề tài nghiên cứu của sinh viên, học viên khoa Tâm lý giáo dục trường
Đại học Sư phạm Hà Nội Tiêu biểu như: “Sự lựa chọn ứng xử của cha mẹ với con cái” của học viên Nguyễn Thị Nguyệt (2006); đề tài “Nhận thức và biểu hiện hành vi ứng xử có văn hóa của học sinh trường THCS tại Hà Nội” của tác giả Nguyễn Mai Hương; đề tài: “Tìm hiểu nhận thức về hành vi giao tiếp có văn hóa của học sinh trường THCS Phù Cừ, huyện Phù Cừ, thành phố Hưng Yên”
của tác giả Bùi Đức Trọng (2003), …
Nhìn chung, qua nghiên cứu các công trình khoa học của các tác giả trong
và ngoài nước, chúng tôi nhận thấy:
+ Một là, vấn đề GD HVUXCVH cho HS đã được quan tâm từ rất sớm,
trong cả gia đình và nhà trường nhằm giúp các em có tình cảm và hành vi đúngđắn trong các mối quan hệ xã hội, phù hợp với chuẩn mực của xã hội
Trang 12+ Hai là, GD HVUXCVH là một quá trình toàn vẹn với sự tham gia của
các thành tố: mục đích giáo dục, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc, phương pháp,nhà giáo dục và đối tượng giáo dục Trong đó nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo
và đối tượng giáo dục là người tự giác, tích cực trong việc tiếp thu những yêucầu, những chuẩn mực hành vi ứng xử đã quy định thành kỹ năng, kĩ xảo và thóiquen tương ứng
+ Ba là, nội dung và phương thức thể hiện hành vi ứng xử phải phù hợp
với đặc điểm tâm lý của học sinh, gắn liền với thực tiễn cuộc sống, phù hợp vớigiá trị truyền thống văn hóa của đất nước và vùng miền
+ Bốn là, quá trình GDHVUXCVH đạt hiệu quả rất cần sự phối hợp đồng
bộ của ba môi trường giáo dục: gia đình, nhà trường và xã hội
Tuy nhiên, hướng nghiên cứu chính của các công trình mới chỉ tập trung vào:
+ Nghiên cứu vấn đề ứng xử trong sự khéo léo của người giáo viên đối vớihọc sinh là chính
+ Có một số tác phẩm có đề cập đến GD hành vi cho HS song chủ yếu lànghiên cứu GD hành vi giao tiếp, hành vi có văn hóa, hành vi bạo lực học đường, …chưa đi nghiên cứu quá trình GD HVUXCVHcho HS trường THCS hiện nay
Như vậy, vấn đề GD HVUXCVH còn ít tác giả nghiên cứu Vì vậy, chúng tôichọn đề tài này nhằm khảo sát quá trình GD HVUXCVH của HS tại trường THCS
và qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Khái niệm văn hóa
Ngay từ xa xưa, văn hóa đã trở thành đề tài hấp dẫn thu hút sự quan tâmcủa các nhà khoa học của nhiều lĩnh vực đi sâu nghiên cứu Có bao nhiêu tác giảthì co bấy nhiêu quan điểm khác nhau khi nhìn nhận về văn hóa
Ở phương Đông, văn hóa có nghĩa gốc là “ Văn trị giáo hóa” là cách cai trịmang hình thức đẹp đẽ kết hợp với giáo hóa
Ở phương Tây họ lại quan niệm văn hóa là “Trồng trọt tinh thần”(Cultusanimi) Quan điểm này đã nói lên phần nào vai trò của văn hóa đối với
Trang 13con người Thông qua văn hóa, con người không chỉ được tiếp thu, thích ứng vớithế giới xung quanh mà còn nhận thức và cải tạo thế giới qua đó biến đổi chínhbản thân mình Văn hóa giúp con người phát triển cao hơn so với con vật, khác
xa về chất so với con vật [30; 17]
Sang đến thế kỷ XIX, văn hóa được những nhà nhân loại học phương Tây
sử dụng để phân chia cấp bậc trình độ từ thấp đến cao “dựa theo trí lực và sự vươn lên”và văn hóa của họ chiếm vị trí cao nhất [30;18]
Ở Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [24;21] Với cách hiểu này của Bác thì
văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì con người sáng tạo và phát minh ra, liênquan đến đời sống của con người Quan điểm của Bác đã toát lên cái nhìn vừatoàn diện vừa sâu sắc về nguồn gốc lịch sử của văn hóa, sự biểu hiện của văn hóatrong lối sống và trong toàn bộ đời sống sinh hoạt của con người
Theo tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn sách “Cơ sở văn hóa Việt Nam” thì “Văn hóa được hiểu là một hệ thống hữu cơ gồm các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tĩnh lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.
[24;10] Định nghĩa này đã nêu bật được 4 đặc trưng quan trọng của văn hóa:tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh gắn liền với nhữngchức năng cơ bản của văn hóa
Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa đạng Mỗi địnhnghĩa đều đề cập đến những cách thức hoặc những lĩnh vực khác nhau củavăn hóa
Xét theo phạm vi rộng, chúng ta có thể đồng tình với quan điểm của tác
giả Trần Ngọc Thêm về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt
Trang 14động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [24; 10]
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi nghiên cứu văn hóa trên phương diệnvăn hóa của học sinh trong việc tuân thủ, thực hiện theo các hệ thống giá trị,chuẩn mực của xã hội Thông qua các hệ thống giá trị này, người ta tiến hànhxây dựng các chuẩn mực xã hội để mỗi cá nhân tự soi mình vào đó, tự nhìn nhận,đánh giá bản thân sao cho phù hợp với những tiêu chuẩn, chuẩn mực mà xã hội
đã đề ra
“Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần, là nền tảng của lối sống, nếp sống, thói quen văn hóa, truyền thống và các giá trị văn hóa, đạo lý, tâm hồn và hành động của mỗi dân tộc và các thành viên để vươn tới cái Chân – Thiện – Mĩ trong mối quan hệ người – người, giữa con người với tự nhiên và xã hội”.
Như vậy có thể khẳng định rằng, nói tới văn hóa là nói tới con người, nóitới những đặc điểm riêng chỉ có ở xã hội loài người, nói tới năng lực và bản chấtcủa con người
Văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con người, hoạt động vănhóa là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần Giá trị vật chất lànhững giá trị sáng tạo được thể hiện trong của cải vật chất do con người tạo ra, làsản phẩm của tự nhiên “ban tặng” Còn giá trị tinh thần là toàn bộ những hoạtđộng tinh thần của con người và xã hội
1.2.2 Khái niệm ứng xử
a, Định nghĩa ứng xử
Trong cuộc sống, để tồn tại và phát triển, con người không chỉ tác độngqua lại với tự nhiên mà còn tác động với con người khác, cá nhân khác trong xãhội loài người Những phản ứng đáp lại với thế giới tự nhiên và với người khác,mối quan hệ khác theo cách này hay cách khác được gọi là ứng xử
Theo Từ điển học sinh: “Ứng xử là biết cách ăn ở sao cho vừa lòng người Ứng xử là ứng biến, giải quyết công việc một cách kịp thời, hợp với tình hình và
Trang 15mọi điều kiện thay đổi bất ngờ và không lường trước được để hoàn thành nhiệm
vụ khó khăn, phức tạp” [26; 30] Vì vậy, ứng xử là thái độ tích cực của con
người tùy theo điều kiện và hoàn cảnh
Ứng xử theo tiếng La tinh là taclus – có nghĩa là sự tiếp xúc, là cảm giác
về mức độ - nhờ đó mà có khả năng giữ mình một cách đúng đắn (Trích theo đại từ điển tiếng Nga, Đ.N.Usakop chủ biên, tập 4, năm 1940, trang 695) [24;11]
Tác giả Lê Thị Bừng trong cuốn “Tâm lý học ứng xử” đã định nghĩa
ứng xử là “Sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong lựa chọn, điều chỉnh, điều khiển phản ứng, thể hiện qua thái độ, hành vi và cử chỉ, cách nói năng – tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất” [6; 16]
Như vậy là có nhiều quan điểm khác nhau về ứng xử Tuy nhiên trong
khuôn khổ đề tài, chúng tôi hiểu:“Ứng xử là phản ứng cư xử, ứng phó của con người đối với sự tác động của người khác đến với người đó, trong một tình huống cụ thể, đòi hỏi con người phải lựa chọn, tính toán các thái độ, các cử chỉ, hành vi, cách nói năng phù hợp với đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể”.
b.Bản chất của ứng xử
Đại thi hào Nguyễn Du trong truyện Kiều đã từng viết:
“ Thiện căn ở tại lòng ta Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”
Mọi ứng xử của con người đều xuất phát từ cái tâm, cái tình Một cái tâmnhân đạo, thân thiện sẽ giúp ta luôn vui vẻ, độ lượng trong ứng xử với ngườithân, bạn bè, tôn trọng bản ngã của họ, luôn mong muốn họ tiến bộ, hạnh phúc,thành công, biết cảm thông, chia sẻ, … Những người này sẽ có mối quan hệ tốtđẹp, thân thiết bằng chính tấm chân tình của mình
Ngược lại, cái tâm không nhân hậu sẽ khiến người ta ứng xử với ngườikhác ích kỷ, hay tính toán,không biết cảm thông và chia sẻ đối với người khác
Trang 16khi họ gặp rủi ro, bất hạnh, thiếu tôn trọng họ và không muốn họ hơn mình Khinói năng ứng xử họ thường xúc phạm đến lòng tự trọng của người khác, nói xấu
và coi thường họ Chính vì thế, trong các mối quan hệ, họ thường không tạođược mối quan hệ thân thiết, sự thiện cảm với mọi người xung quanh
Ứng xử là cách biểu hiện ra bên ngoài của cái tâm, cái tình, là “ thước
đo của lòng người”nhưng không hẳn mọi ứng xử đều nói lên được cái tâm
của con người
Chính vì thế, trong quá trình GDHS, GV cần phải khơi gợi, giúp các
em tìm ra điểm mạnh và điểm yếu của mình trong ứng xử với mọi ngườixung quanh
c.Đặc trưng của ứng xử
Từ định nghĩa trên chúng ta có dễ dàng nhận thấy ứng xử có những đặctrưng cơ bản sau: [6; 9]
Thứ nhất, trong ứng xử, chủ thể ứng xử luôn có ý thức về việc mình làm
trên cơ sở của những kinh nghiệm đã có Tức là trước mỗi tình huống nhất định,chủ thể cảm thấy, nhận thấy, hiểu rõ về bản thân mình để từ đó tiến hành các
hoạt động đáp lại sao cho phù hợp.
Thứ hai, trong ứng xử những suy nghĩ của chủ thể sẽ được biểu thị ra bên
ngoài thông qua hành động, cử chỉ, ngôn ngữ, sắc thái biểu cảm,…Những cử chỉ, thái
độ này sẽ được đối tác và người xung quanh có thể quan sát và nhận biết được
Thứ ba, ứng xử luôn diễn ra trong một khoảng không gian và thời gian xác
định, môi trường đa dạng, phong phú
Thứ tư, ứng xử bị chi phối bởi điều kiện sinh học của mỗi cá nhân, của gia
đình và của những nhóm người trong xã hội
d.Phân biệt ứng xử và giao tiếp
Ứng xử nảy sinh trong các mối quan hệ xã hội, trong quá trình tiếp xúc giữacon người với con người Chính vì thế, ứng xử mang những dấu hiệu đặc trưng củagiao tiếp Tuy nhiên, ứng xử và giao tiếp là hai khái niệm khác biệt, ứng xử gắn bómật thiết với giao tiếp song khái niệm ứng xử lại tương đối độc lập
Trang 17Thứ nhất, ứng xử được thực hiện bởi các cá nhân cụ thể, mỗi cá nhân có
đặc điểm thể chất khác nhau thì thao tác và hành vi phản ứng khác nhau (tốc độ,cường độ, nhịp độ, tính chất, …
Thứ hai, ứng xử bao giờ cũng được thực hiện trong các mối quan hệ xã hội
nhất định chịu sự chế ước của các chuẩn mực, khuôn mẫu của các quan hệ đótrong ứng xử Và trong ứng xử cần phải có ngôn ngữ chung, cần có sự hiểu nhau,tránh tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”
Thứ ba, ứng xử là sự giao thoa có tính nghệ thuật giữa “cái tự nhiên” và
“cái xã hội” trong bản chất con người “Cái tự nhiên” ở đây không có nghĩa là cơthể thuần túy mà chính là cái bản năng bẩm sinh vốn có của mỗi con người, nóxuất phát từ những rung cảm tự nhiên hơn là “lí trí”, “lí lẽ”
Thứ tư, trong giao tiếp người ta chú ý đến nội dung tâm lý còn trong giao
tiếp người ta quan tâm đến nội dung công việc
Thứ năm, trong giao tiếp người ta quan tâm tới “cái ý thức” của một quá
trình tiếp xúc nhưng trong ứng xử, họ quan tâm đến cả “ý thức” và “vô thức”
Thứ sáu, ứng xử mang tính chất tình huống còn giao tiếp là cả một quá
trình Do vậy, khái niệm giao tiếp rộng hơn khái niệm ứng xử Ứng xử là mộttình huống thông minh hoặc xuất chúng hoặc dại khờ trong quá trình giao tiếp
Tóm lại, nói đến giao tiếp là nói đến mục đích, nội dung công việc còn ứng
xử thì hướng vào nội dung tâm lý – cái bản chất xã hội của cá nhân
e Phân loại ứng xử
Khi nghiên cứu về ứng xử, các tác giả đã đi tìm hiểu và phân loại ứng
xử Dựa trên các khía cạnh khác nhau, họ đưa ra các quan điểm khác nhau
về ứng xử
Tác giả Lê Thị Bừng, khi nghiên cứu vấn đề này đã phân chia ứng xử dựatrên 5 tiêu chí Tương ứng với từng tiêu chí có các kiểu ứng xử khác nhau Cụthể về từng loại ứng xử được thể hiện trong bảng 1.1 dưới đây:
Trang 18Bảng1.1 Phân chia các loại ứng xử theo quan điểm của tác giả Lê Thị Bừng
STT Tiêu chí phân
loại
Các kiểu ứng xử
1 Căn cứ vào yêu
cầu đạo đức của
- Nhóm giá trị ứng xử với bản thân và đối với người khác
- Nhóm các giá trị ứng xử ở gia đình, đối với bạn bè
- Nhóm các giá trị ứng xử với làng xóm láng giềng, cộng đồng, xã hội và quốc gia
- Nhóm các giá trị ứng xử đối với cộng đồng thế giới
- Nhóm các giá trị ứng xử với tương lai và sức sống của trái đất
3 Dựa vào phong
cách ứng xử
- Không quan tâm đếnnhững đặc điểm riêngcủa đối tượng giao tiếp
- Thiếu thiện chí vàgây căng thẳng với đốiphương
- Dễ xuề xòa trong công việc
- Trong giao tiếp, họ tỏ ra làngười không sâu sắc, thiếu lậptrường
- Nhiệt tình, thiện chí cởi mở
- Tôn trong nhân cách của đốitượng giao tiếp
- Đạt hiệu quả cao trong giaotiếp
Trang 194 Dựa vào kiểu
hình của thần
kinh, khí chất
Ứng xử mạnh mẽ Ứng xử bình thản Ứng xử chậm Ứng xử linh hoạt
- Kiểu thần kinh mạnh, không cân bằng, không linh hoạt
- Thể hiện khi có tácđộng bên ngoài đến họ
- Phản ứng ngay bằngthái độ, hành vi, cử chỉ(tích cực hoặc tiêu cực)
- Kiểu thần kinhmạnh, cân bằng,không linh hoạt
- Bình tĩnh, chínchắn, thận trọng tronggiao tiếp, ứng xử
- Kiểu thần kinhyếu
- Tỏ ra mặc cảm,không chủ độngkhi giao tiếp vớingười lạ
- Kiểu thần kinhmạnh, cân bằng, linhhoạt
- Tiếp nhận tácđộng của khách quanmột cách nhẹ nhàng,thoải mái
5 Căn cứ vào thái
độ, điệu bộ
- Thái độ chấp thuận nhưmột điều hiển nhiên
- Thái độ bắt buộc phải theomột chuẩn mực bắt buộc
- Thể hiện trong giao tiếpcủa một nhóm nhất định nào
đó trong xã hội: lớp học, cơquan, …
- Những quy tắc, ứng xửcủa nhóm chỉ ảnh hưởng tạmthời, trước mắt đến cá nhân
- Ứng xử giữa con ngườiphụ thuộc vào kinh nghiệm cánhân, tri thức, vốn văn hóa,…
Trang 20Dựa vào các cách phân loại trên, chúng ta có thể tìm cho mình mộtcách ứng xử phù hợp nhất để có thể chủ động trong mọi tình huống giao tiếp
và không chỉ ứng dụng nó trong cuộc sống mà còn trong cả học tập
1.2.3 Khái niệm hành vi và hành vi ứng xử có văn hóa
1.2.3.1 Khái niệm hành vi
a Định nghĩa hành vi
Khái niệm hành vi được nhiều ngành, nhiều nhà khoa học quan tâmnghiên cứu, hình thành nên những quan điểm trái chiều nhau [9; 51]
Dưới góc độ sinh học, hành vi được hiểu là cách sống và hoạt động
trong môi trường nhất định, tạo nên sự thích nghi tối thiểu của cơ thể đối vớimôi trường
Theo quan điểm của các nhà hành vi thì hành vi là tổ hợp các phản ứng
của cơ thể trả lời lại các kích thích tác động, nhằm thích ứng với môi trường
tự nhiên và xã hội Tuy nhiên trong quá trình đó con người đã thể hiện sựkhác xa của mình so với con vật về bản chất, đó là con người đã biết lựa chọnkích thích và chỉ trả lời các kích thích có lợi cho chính bản thân mình
Còn các nhà Tâm lý học mác – xit quan niệm: hành vi con người là “cuộc sống”, “lao động”, “thực tiễn”, tức là hoạt động Hành vi con người là biểu hiện bên ngoài của hoạt động, được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể, nó đảm bảo cho con người tồn tại và phát triển Hành vi của con người bao
giờ cũng chịu sự quy định về mặt xã hội và có những đặc trưng của hoạt động có
ý thức, tập thể, mục đích, tự do và sáng tạo
Có thể thấy, mỗi trường phái đã đứng trên những lập trường, quan điểmkhác nhau trong việc đưa ra cách hiểu của mình về hành vi Trên cơ sở nghiêncứu, tham khảo các cách tiếp cận của các nhà tâm lý học, chúng tôi đồng tìnhvới quan điểm của các nhà Tâm lý học Mác xít Đó là:
b.Đặc trưng của hành vi con người
Theo Vưgôtxki – nhà tâm lý học Xô Viết thì có sự khác biệt về chấtgiữa cấu trúc hành vi động vật và cấu trúc hành vi người
Trang 21Khi nói đến hành vi con người thông thường người ta đề cập đến tính chủ thể; mang tính chất gián tiếp; hành vi của con người tạo ra sản phẩm kép
(sản phẩm về thế giới khách quan và sản phẩm về phía con người) và hành vi
con người mang bản chất xã hội - lịch sử
Sự khác nhau về chất giữa hành vi con người và hành vi con vật đã tạo
ra sự khác biệt về chất giữa cuộc sống con người và cuộc sống con vật Cuộcsống của con người hiện nay là cuộc sống văn minh khác xa hoàn toàn với
cuộc sống “ăn lông, ở lỗ” của con vật Cuộc sống của con người ngày nay
càng có sự thay đổi đi lên trong khi đó con vật thì hàng vạn, hàng triệu nămnay vẫn cứ như vậy, không có gì thay đổi
Trên cơ sở lý thuyết hoạt động, mọi lý thuyết khoa học ngày nay đều
được giới tâm lý thế giới chấp nhận và vận dụng (Kỷ yếu Hội nghị Quốc tế
của Hội Lý thuyết hoạt động quốc tế họp vào mùa hè năm 2002 tại
Amsterđam, Hà Lan), xem xét hành vi con người ở hai hình thái: hành vi bên
ngoài và hành vi bên trong [25; 10]
Hình thái bên trong là tinh thần, là động cơ, được thực hiện gián tiếp rabên ngoài thông qua chủ thể Muốn có hành vi phải có động lực bên trongthúc đẩy cho nó thể hiện Động lực bên trong ấy chính là ý thức đạo đức củahành vi Chất lượng của hành vi phụ thuộc vào yếu tố động cơ bên trong
Hình thái bên ngoài của hành vi lại có vai trò đặc biệt khác không kémphần quan trọng vì nó trực tiếp tác động đến đối tượng, biểu hiện rõ nhất bằngnhững vận động, những cử chỉ, lời nói được người ngoài nhận ra nó trước khinhận biết mặt tinh thần được ẩn giấu bên trong của hành vi
Hình thái bên ngoài và hình thái bên trong là hai mặt của hành vi conngười, thống nhất trong một chỉnh thể
c.Chuẩn mực hành vi
Hành vi con người là biểu hiện bên ngoài của hoạt động, được điềuchỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể, của nhân cách và hành vi conngười bao giờ cũng có mục đích và mang tính chủ thể rõ ràng
Trang 22Chuẩn mực hành vi là phương thức không thể thiếu trong quản lý xãhội; là một trong những phương tiện để định hướng hành vi, kiểm tra hành vi
xã hội của cá nhân hay nhóm người; điều chỉnh các hành vi liên quan đến cácmối quan hệ để duy trì sự tồn tại của xã hội Chuẩn mực hành vi luôn đượcxem xét trong môi trường, trong cộng đồng người nhất định
Trên cơ sở nghiên cứu định nghĩa về chuẩn mực hành vi, các nhà khoahọc đưa ra những loại chuẩn mực hành vi Có rất nhiều cách phân chia chuẩnmực hành vi của con người
- Căn cứ vào chủ thể của hành vi, chuẩn mực hành vi bao gồm hai
dạng: chuẩn mực xã hội và chuẩn mực cá nhân
- Căn cứ vào các phạm vi của hành vi, người ta chia làm 3 loại: chuẩn
mực thống kê, chuẩn mực chức năng và chuẩn mực do quy ước hoặc do cộngđồng xã hội đặt ra
- Căn cứ vào nội dung và phương pháp tiến hành của hành vi: chuẩn
mực hành vi gồm năm loại: chuẩn mực luật pháp, chuẩn mực đạo đức, chuẩnmực văn hóa, chuẩn mực thẩm mĩ và chuẩn mực chính trị
- Căn cứ vào hình thức của chuẩn mực hành vi, người ta còn chia
chuẩn mực hành vi thành chuẩn mực thành văn và chuẩn mực bất thành văn.Trong đó:
+ Chuẩn mực thành văn là hệ thống những quy tắc, yêu cầu của xã hộiđược ghi thành văn bản (luật, điều lệ, văn bản pháp quy, …), do pháp luật quyđịnh Và cá nhân, tổ chức nào vi phạm hoặc không tuân thủ thì sẽ chịu tráchnhiệm, bị trừng phạt
+ Chuẩn mực bất thành văn là hệ thống những yêu cầu có tính chất ước lệtrong một cộng đồng người mà mọi người đều thừa nhận, và phần lớn khôngđược ghi thành văn bản dưới dạng một bộ luật nào Chuẩn mực này linh độnghơn pháp luật Nếu bị lên án nhưng không bị trừng phạt Sự tác động và tínhhiệu lực của nó được thực hiện chủ yếu thông qua dư luận xã hội
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi đồng ý với quan điểm chia chuẩnmực hành vi thành chuẩn mực thành văn và chuẩn mực bất thành văn
Trang 23Như vậy chúng ta có thể hiểu: “Chuẩn mực hành vi là hệ thống những quy tắc, những yêu cầu của xã hội đối với cá nhân Các quy tắc, yêu cầu này
có thể được ghi thành văn bản, đạo luật hoặc điều lệ hoặc là những yêu cầu
có tính ước lệ trong một cộng đồng nào đó mà mọi người thừa nhận”.
Trong nhà trường, chuẩn mực hành vi trong nhà trường được đánh giáthông qua các văn bản quy định như: luật giáo dục, điều lệ nhà trường, trongnội quy của trường, của lớp, … và trong giao tiếp, ứng xử không chính thức.Hai dạng chuẩn mực hành vi này có mối quan hệ gắn bó với nhau, cùng hỗ trợnhau trong việc duy trì và ổn định các mối quan hệ
Và để đánh giá hành vi của cá nhân là phù hợp với chuẩn mực haykhông, chúng ta phải xem xét hành vi đó trong một môi trường, trong cộngđồng người xác định Một hành vi được xem là hợp chuẩn khi hành vi đó phùhợp với các chuẩn mực, yêu cầu của tập thể, của xã hội Còn những hành vi đingược lại với chuẩn mực, yêu cầu của tập thể, của xã hội thì được coi là hành
cá nhân đó (hành vi có văn hóa)
Hành vi có văn hóa chỉ có ở con người, mang tính di truyền về mặt vănhóa Đó là toàn bộ những kinh nghiệm lịch sử mà loài người đã tích lũyđược, được gửi gắm vào trong cung cách hành vi Là cách ứng xử của conngười trong một hoàn cảnh nhất định, bị chi phối bởi hệ thống các giá trịvăn hóa của dân tộc (hoặc một nhóm người nào đó) mà cốt lõi là giá trịđạo đức, giá trị thẩm mĩ, khiến cho cách ứng xử mang tính đặc thù củadân tộc ấy (nhóm người đó)
Trang 24Con người có rất nhiều hành vi văn hóa như hành vi giao tiếp, ăn, uống,ngủ, sinh hoạt, lao động, …và trong đó có hành vi ứng xử Là một dạng củahành vi văn hóa chính vì thế, hành vi ứng xử cũng mang trong mình nhữngđặc trưng của hành vi có văn hóa.
Tuy nhiên bất cứ nền văn hóa nào cũng đều mang tính tích cực lẫn tiêucực Trong góc độ đề tài này, chúng tôi nghiên cứu hành vi ứng xử mang tínhtích cực, là hành vi đẹp, tốt đối với con người và thế giới xung quanh, thúcđẩy mỗi cá nhân cần tích cực rèn luyện Hay nói một cách khác, nói đến hành
vi ứng xử người ta nghĩ ngay đến HVUXCVH Có nghĩa là cách cư xử mangtính đạo đức, tính thẩm mĩ
Qua đó, chúng ta có thể rút ra định nghĩa về hành vi ứng xử có văn hóa:
Hành vi ứng xử có văn hóa là hành vi biểu hiện sự phản ứng, xử lý của con người trong những tình huống nhất đinhh chứa đựng giá trị đạo đức, thẩm mĩ, văn hóa của con người.
Ngược lại với hành vi ứng xử có văn hóa là hành vi ứng xử chưa có vănhóa Chúng đều có những đặc điểm chung là những biểu hiện cụ thể, bênngoài con người thông qua lời nói, cử chỉ trong các mối quan hệ thường ngày.Tuy nhiên hành vi ứng xử không có văn hóa có đặc điểm khác so với hành vivăn hóa ở chỗ: hành vi đó không chứa đựng những cái hay, cái đẹp, cái vănhóa và không tuân theo những quy tắc ứng xử chuẩn mực của xã hội trong cácmối quan hệ hằng ngày
Hành vi của một cá nhân trong cộng đồng được coi là HVUXCVH hoànhảo, nhất thiết phải có sự thống nhất giữa hai hình thái hành vi ứng xử bêntrong (ý thức đạo đức, động cơ đạo đức thật tốt) và có một hình thái hành viứng xử bên ngoài (cử chỉ, điệu bộ, dáng vẻ ý tứ, tế nhị, mang tính thẩm mĩ)
Chính vì thế, giáo dục HVUXCVH cho học sinh phải hài hòa, cân xứnggiữa cái bên trong và cái bên ngoài, giữa cái vỏ vật chất và nội dung tâm lýbên trong
b Yếu tố cấu thành hành vi ứng xử có văn hóa
Hành vi ứng xử có văn hóa được xem xét trong hệ thống có cấu trúc bathành phần:
Trang 25- Mặt nhận thức: Hiểu biết ý nghĩa của các chuẩn mực và nắm được các
quy tắc thực hiện hành vi ứng xử đã được xã hội thừa nhận Qua đó, mỗi cánhân sẽ có ý thức về các chuẩn mực cần tuân thủ
- Mặt tình cảm, thái độ: Tin tưởng và mong muốn thực hiện các chuẩn
mực ứng xử
- Mặt hành động, hành vi: biết lựa chọn, sử dụng các quy tắc ứng xử
một cách đúng đắn, ứng phó thông minh linh hoạt và sáng tạo phù hợp vớitừng đối tượng giao tiếp, với hoàn cảnh, mục đích và chủ thể giao tiếp
Mối quan hệ giữa các thành phần trong cấu trúc của HVUXCVH đượcthể hiện trong sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các thành phần của HVUXCVH
Các thành phần trên của HVUXCVH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,tạo nên cấu trúc chỉnh thể, điều chỉnh hành vi con người trong những hànhđộng ứng xử thường ngày và thông qua các phương tiện ứng xử như: ngônngữ, cử chỉ, điệu bộ, trang phục,…
Song trên thực tế có thể xảy ra trường hợp một người bề ngoài có lời lẽ
và cử chỉ lễ phép, biết chia sẻ cảm thông, sẵn sàng giúp đỡ người khác khigặp khó khăn nhưng mục đích và động cơ của họ lại không như vậy do thiếuđược bồi dưỡng những cảm xúc, tình cảm tích cực Do đó, trong công tác giáodục HVUXCVH cho học sinh, giáo viên cần phải giáo dục cho các em toàndiện cả về ba mặt: nhận thức, thái độ và hành vi
c Biểu hiện của HVUXCVH của học sinh trường THCS
Bàn về các biểu hiện của HVUXCVH, tác giả Nguyễn Quang Uẩn chỉ
ra rằng, HVUXCVH được thể hiện qua các mặt: ngôn ngữ; thái độ và phongcách; cử chỉ và điệu bộ; trang phục và cách ăn mặc [31; 58]
Trang 26Biểu hiện trong ngôn ngữ giao tiếp, ứng xử:
o Ngôn ngữ đúng vai vế trong xã hội, phù hợp với trình độ của người nghe
và hoàn cảnh, tình huống nhất địnhvới yêu cầu của xã hội
o Ngôn ngữ phải giản dị, trong sáng, phát âm rõ ràng, chính xác, mạch lạc
và dễ hiểu,có nội dung tư tưởng và tình cảm đúng đắn, tránh rườm rà, sáo rỗng
o Trong giao tiếp, ứng xử không được dùng tiếng lóng, từ tục tĩu, từvay mượn của nước ngoài, từ chưa nắm được đầy đủ ý nghĩa
o Giọng nói, ngữ điệu phải tế nhị, ân cần khéo léo, tránh nói theo kiểumệnh lệnh
Biểu hiện trong thái độ và phong cách quan hệ
o Tự trọng, tự chủ, tự hào về văn hóa và truyền thống dân tộc
o Tôn trọng mọi người: cha mẹ, thầy cô giáo, bạn bè và các em nhỏtrong quá trình giao tiếp
o Cởi mở, chan hòa, thân thiện trong giao tiếp với mọi người
o Quan tâm chia sẻ, sẵn sang giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn
o Chân thành, độ lượng, thẳng thắn
Biểu hiện trong cử chỉ, điệu bộ ứng xử
o Thể hiện hành vi, cử chỉ đúng mực giữa cá nhân với nhau trong cuộcsống: thân mật hay tình cảm với người dưới hay người ngang hàng, kínhtrọng, lễ phép, khiêm nhường với người trên nhưng không suồng sã, biết đặtmình vào vị trí của người khác,
o Biết biểu lộ lòng tự trọng của bản thân, tôn trọng lời hứa và giữ chữtín, không dối trá người khác
Biểu hiện trong trang phục, ăn mặc:
o Trang phục phải gọn gàng, chỉnh tề, giản dị, thích hợp với độ tuổi
o Trang phục phù hợp, thuận tiện với quy cách, tình huống và hoàncảnh ứng xử
o Ăn mặc nền nã, giản dị mà không luộm thuộm, thoải mái, dễ chịu
Trang 27Những biểu hiện HVUXCVH trên rất đa dạng và phong phú, chúng cóquan hệ và bổ sung cho nhau, tạo nên nét văn minh, lịch sự, thanh lịch củahọc sinh THCS.
Những biểu hiện này vừa mang tính đặc thù với mỗi vùng miền, mỗidân tộc, vừa mang tính lịch sử phát triển của thời kỳ này sang thời kỳ khác,vừa mang tính phổ biến giữa các dân tộc, các quốc gia
Trong công tác giáo dục HVUXCVH cho HS THCS, nhà giáo dục cầnquan tâm và cụ thể hóa những biểu hiện hành vi cho các em
d Các tiêu chí để đánh giá người có HVUXCVH
Để đánh giá một người có HVUXCVH hay không người ta thường căn
cứ vào các tiêu chí sau:
- Một là: hành vi đó được thực hiện với động cơ, phải chứa đựng nội
dung và hình thức các chuẩn mực ứng xử trong xã hội Tức là hành vi đó phảiđược con người nhận thức được ý nghĩa xã hội, ý nghĩa cá nhân và quy tắcthực hiện các chuẩn mực xã hội đó
- Hai là: Hành vi đó phải thể hiện được những quy tắc xã hội ở mọi
lúc, mọi nơi và trong các mối quan hệ tức là phải trở thành thói quen và đượchình thành trong đời sống hàng ngày
Các tiêu chí trên có mối quan hệ với nhau trong một chỉnh thể thốngnhất Do đó, người có HVUXCVH không chỉ là người nhận thức được nộidung giá trị, chuẩn mực ứng xử mà quan trọng hành vi đó cần được bộc lộmột cách thường xuyên và trở thành thói quen trong cuộc sống hàng ngàytheo những quy tắc và chuẩn mực nhất định được xã hội thừa nhận
1.2.4 Khái niệm giáo dục và giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa 1.2.4.1 Khái niệm giáo dục
Để tồn tại và phát triển, con người không chỉ có lao động mà cần phải có
sự trao đổi, truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử của loài người Sựchia sẻ, trao đổi đó không chỉ diễn ra giữa cá nhân với cá nhân trong cùng mộtthế hệ mà còn giữa thế hệ này với thế hệ khác, đó chính là giáo dục
Trang 28Hay nói một cách khác: “Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ người này sang người khác nhằm giúp họ mở rộng vốn hiểu biết, có nhận thức đúng đắn và hành vi phù hợp, hình thành và phát triển những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý, nhân cách cá nhân đồng thời thúc đẩy sự phát triển của xã hội”
1.2.4.2 Khái niệm giáo dục HVUXCVH
Như vậy, giáo dục không chỉ được nhìn nhận với không gian hẹp trongphạm vi nhà trường mà còn được sử dụng rộng rãi trong và ngoài nhà trường
Trong nhà trường, giáo dục được hiểu là sự tác động một cách có mụcđích, có tổ chức của người giáo viên đến học sinh nhằm thực hiện nhữngnhiệm vụ giáo dục đã đề ra trong đó, giáo viên là người điều khiển, điều chỉnhquá trình giáo dục còn HS là người tích cực, chủ động, sáng tạo trong việctiếp thu, thực thi các nhiệm vụ giáo dục
Giáo dục và văn hóa có mối quan hệ thống nhất và hữu cơ với nhau.Văn hóa góp phần quan trọng trong quá trình giáo dục con người Thông quagiáo dục, con người mới lĩnh hội được những kinh nghiệm lịch sử - xã hội củaloài người; những tri thức, kĩ năng và thái độ về khoa học, văn hóa, nghệthuật; về cách ăn mặc, đi đứng, giao tiếp, ứng xử với nhau, … Nhờ có vănhóa, nhân cách con người được hình thành và phát triển Văn hóa vừa là mụctiêu, vừa là nội dung của giáo dục Còn giáo dục là con đường để đưa nhữngnét đẹp văn hóa đến với mỗi con người Hiện nay, thế giới luôn coi giáo dục
là con đường cơ bản nhất để giữ gìn và phát triển văn hóa Chính vì thế, tronggiáo dục cần quan tâm đến việc rèn luyện và bồi dưỡng văn hóa
Giáo dục trong nhà trường phổ thông hiện nay bao gồm năm nội dung
cơ bản, đó là: giáo dục đạo đức; giáo dục thẩm mĩ; giáo dục trí tuệ; giáo dụcthể chất; giáo dục lao động
Trong đó, giáo dục HVUXCVH là một trong những nội dung nằmtrong chương trình giáo dục đạo đức Chính vì thế nó mang đặc trưng của nộidung giáo dục đạo đức
Trang 29Như vậy, chúng ta có thể hiểu:
“Giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa là những tác động sư phạm có mục đích, có tổ chức của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục để bồi dưỡng cho
họ những tri thức về khuôn mẫu và chuẩn mực hành vi ứng xử; hình thành tình cảm, thái độ đúng đắn; qua đó có hành vi và thói quen ứng xử linh hoạt, phù hợp với những tình huống xảy ra trong cuộc sống và chuẩn mực, yêu cầu của xã hội”.
1.3 Lý luận về giáo dục HVUXCVH trong nhà trường THCS
1.3.1 Mục đích, ý nghĩa, đặc điểm của giáo dục HVUXCVH đối với HS
a Mục đích, ý nghĩa của giáo dục HVUXCVH
Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH và hội nhậpkinh tế quốc tế Mặt trái của nền kinh tế thị trường đã có những ảnh hưởngtiêu cực đến nền văn hóa truyền thống của dân tộc Trong những năm gầnđây, dư luận xã hội rất quan tâm đến một vấn đề “Văn hóa học đường – vănhóa ứng xử” Hàng loạt những biểu hiện hành vi ứng xử của học sinh, của họcsinh với bạn bè, thầy cô, với bố mẹ đã trở thành diễn đàn “nóng” của hầu hếtcác trang báo, trang mạng xã hội Văn hóa ứng xử của học sinh trong họcđường có nguy cơ ngày càng đi xuống
Trước thực trạng đó, chúng ta cần nhận thức được hòa vào dòng chảycủa sự phát triển, HVUXCVH trong nhà trường cũng phải được nâng lên mộttầm cao mới Vấn đề giáo dục, rèn luyện HVUXCVH cho học sinh trở thànhmột nội dung không thể thiếu trong nhà trường phổ thông
Vì vậy, việc giữ gìn và phát huy nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắcvăn hóa dân tộc đi từ việc giáo dục và rèn luyện HVUXVH cho học sinh làvấn đề được Đảng và Nhà nước đặt ra như một nhiệm vụ hàng đầu hiện nay,cần được các trường phổ thông hưởng ứng mạnh mẽ Có như vậy, đất nước
mới phát triển, chúng ta mới có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu”
như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân ngày khai trường của học sinhtrên cả nước (05/09/1945)
Trang 30Giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa trong nhà trường hiện nay nhằm:
- Giúp học sinh có được nhận thức đúng đắn để có HVUXCVH tronghọc tập, sinh hoạt và trong các môi trường xã hội khác nhau Ứng xử có vănhóa giúp mọi người gần gũi, thân thiện, hòa hợp với nhau, có sự đồng cảm,chia sẻ để từ đó làm cho mối quan hệ giữa người với người trở nên tốt đẹphơn, góp phần nâng cao ý thức cộng đồng
- Giúp văn hóa học đường trở nên tốt đẹp hơn, xây dựng môi trường họctập lành mạnh, trong sáng, đầy tính nhân văn, có sức cảm hóa, lan tỏa sâurộng trong xã hội, góp phần hình thành nhân cách con người mới
- Tạo môi trường thân thiện giúp học sinh cảm thấy an toàn, cởi mở, biết sẻchia và chấp nhận những nhu cầu, hoàn cảnh khác nhau, khuyến khích học sinh
tự do bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của mình đồng thời góp phần xây dựng mốiquan hệ ứng xử tôn trọng, hiểu biết, học hỏi lẫn nhau giữa thầy và trò, góp phầnxây dựng “Nhà trường thân thiện, học sinh tích cực”
b Đặc điểm của quá trình GDHVUXCVH cho học sinh
Là một nội dung quan trọng trong giáo dục đạo đức, chính vì thế giáodục HVUXCVH vừa mang những đặc điểm của quá trình giáo dục đạo đứcnói chung vừa có những đặc điểm của quá trình giáo dục Đó là những đặcđiểm cơ bản sau:
- Quá trình giáo dục HVUXCVH vừa là quá trình tác động sư phạm củanhà giáo dục đến học sinh THCS vừa là quá trình đối tượng giáo dục chủ
động, tự giác tiếp thu những ảnh hưởng đó thông qua “lăng kính chủ quan”
Trang 31Giáo dục là quá trình tác động qua lại giữa nhà giáo dục và đối tượnggiáo dục nhằm thực thi những nhiệm vụ mà giáo dục đã đề ra Và để công tácgiáo dục diễn ra thuận lợi, hiệu quả thì trong quá trình giáo dục, nhà giáo dụccần phải nắm bắt được những quy luật cũng như là hệ thống các nguyên tắcgiáo dục.
Nguyên tắc giáo dục là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lý luận giáo dục, có tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn và vận dụng nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục nhằm thực hiện tối ưu mục đích
và nhiệm vụ giáo dục [21; 29]
Nguyên tắc giáo dục trở thành cơ sở cho mọi hoạt động giáo dục, giúpcho người làm công tác giáo dục và giáo viên làm chỗ dựa để tiến hành quátrình giáo dục đúng phương hướng và đạt hiệu quả
Là một trong những nội dung cơ bản của quá trình giáo dục nên bêncạnh việc tuân theo những nguyên tắc chung của giáo dục thì HVUXCVHcũng cần phải tuân theo những nguyên tắc riêng biệt Các nguyên tắc của giáodục HVUXCVH bao gồm:
- Tính mục đích: Giáo dục HVUXCH nhằm hình thành cho HS hệ thống
tri thức cơ bản hành vi ứng xử và HVUXCVH; hình thành và bồi dưỡng tìnhcảm, xúc cảm tích cực, biết cách thể hiện hành vi, cử chỉ, điệu bộ,… phù hợpvới những giá trị chuẩn mực và yêu cầu của xã hội
- Tính khoa học và tính giáo dục: Trong quá trình giáo dục phải đi theo
một quy trình, logic chặt chẽ, đúng thao tác và nội dung phải đảm bảo tínhchân thực và đúng đắn; tính giáo dục được thể hiện qua thái độ khát khao vàmong muốn được rèn luyện và có ý thức rèn luyện những phẩm chất đạo đức,văn hóa phù hợp với chuẩn mực – tức là biến quá trình giáo dục của người
GV thành quá trình tự giáo dục của người HS
- Tính tích cực: Giáo dục phải phát huy được tính tích cực, chủ động và
sáng tạo của người HS với vai trò chủ đạo, định hướng của người GV
Trang 32- Tính có địa chỉ: Việc tiến hành giáo dục HVUXCVH cho HS phải phù
hợp với đặc điểm, trình độ phát triển tâm sinh lý của người HS
- Nguyên tắc thống nhất giữa gia đình, nhà trường và toàn xã hội: Giáo
dục là sự nghiệp của toàn dân Chính vì thế, trong công tác GD HVUXCVH,cần phải có sự kết hợp và thống nhất của cả ba lực lượng giáo dục Trong đó,giáo dục gia đình là nền tảng, giáo dục xã hội có vai trò quan trọng và giáodục nhà trường đóng vai trò chủ đạo
1.3.3 Nội dung giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho học sinh THCS
Trong cuộc sống, con người không chỉ tiếp xúc với môi trường tự nhiên
mà còn tác động tới môi trường xã hội Do đó, con người cần phải có thái độ
và hành vi ứng xử sao cho phù hợp với cả môi trường tự nhiên và môi trường
xã hội Trong giáo dục HVUXCVH cho HS, chúng ta cần giáo dục cung cáchứng xử có văn hóa cho người học về mọi mặt: ứng xử với môi trường tựnhiên, với các cá nhân trong môi trường xã hội (nhà trường, gia đình, bạn bè,bản thân và ngoài xã hội, ) Tuy nhiên trong phạm vi của đề tài này, chúngtôi sẽ đi sâu tìm hiểu nội dung giáo dục HVUXCVH trong các mối quan hệ xãhội theo không gian Đó là những nội dung giáo dục sau:
a Giáo dục HVUXCVH trong mối quan hệ với thầy, cô giáo
Dân tộc Việt Nam luôn có truyền thống “Tôn sư trọng đạo” - đó là mộtnét đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt Nam Sản phẩm của GD khôngchỉ là những điểm số học tập, là bằng cấp, mà quan trọng hơn là thái độ,hành vi ứng xử, là cách đối nhân xử thế với mọi người xung quanh, đặc biệt làvới thầy giáo, cô giáo trong nhà trường
Giáo dục HVUXCVH cho HS trong mối quan hệ với thầy cô giáo làgiúp các em nhận thức đúng được vị trí, vai trò, công lao của thầy cô, thấyđược sự hi sinh, cống hiến của người GV trong sự nghiệp giáo dục Qua đóthể hiện thái độ tôn trọng, biết ơn, nói năng lễ phép, khiêm tốn trong giao tiếp,ứng xử, có tinh thần ham học hỏi, trung thực, cầu tiến, biết tiếp thu, lắng nghe
sự dạy bảo của thầy cô trong quá trình học tập
Trang 33b Giáo dục HVUXCVH trong mối quan hệ với bạn bè
HVUXCVH của HS trong mối quan hệ với bạn bè được thể hiện tronggiao tiếp, cư xử với bạn, trong việc cùng tiến hành các hoạt động tập thể, Trong công tác giáo dục, GV cần cung cấp cho HS có kỹ năng giao tiếp, thểhiện là người có văn hoá ngay trong cách xưng hô với bạn Trong giao tiếpvới bạn cần luôn để bản thân mình là hình ảnh đẹp trong mắt của bạn, muốnvậy HS cần phải biết quan tâm, chia sẻ, biết lắng nghe, tôn trọng bạn, có thái
độ ứng xử hài hoà, nói năng nhẹ nhàng, không nói tục, chửi bậy,
Giáo dục HVUXCVH để bảo đảm cho lối ứng xử mới, năng động, hiệnđại diễn ra trên cơ sở kế thừa, phát huy nếp ứng xử truyền thống
Chính vì thế, ngoài những cách ứng xử truyền thống, chúng ta cần xáclập và giáo dục cho học sinh cách ứng xử mới, phù hợp với hoàn cảnh mới, cóvăn hóa, phải đảm bảo tính giá trị của văn hóa, góp phần làm cho quan hệgiữa những người giao tiếp được tốt hơn
c Giáo dục HVUXCVH trong gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội, là nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xãhội Xã hội văn minh, giàu mạnh khi gia đình đó tuân thủ tốt những quy định,chuẩn mực đạo đức, chính trị, pháp luật, … Để giáo dục HVUXCVH cho HShiệu quả cần có sự phối hợp ăn ý giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Trong các gia đình nhằm giúp các em nhận thức được tầm quan trọngcủa cá nhân, về mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể gia đình, thông qua đómỗi cá nhân cần có thái độ và hành vi phù hợp
d Giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa trong mối quan hệ ngoài xã hội
Để hình thành và phát triển nhân cách, mỗi cá nhân cần phải được thamgia vào các mối quan hệ xã hội, cần phải tham gia vào các hoạt động và giaotiêp với mọi người xung quanh Học sinh THCS là lứa tuổi nhân cách đanghình thành và phát triển, hoạt động chủ đạo của học sinh lúc này là học tập vàgiao lưu Chính vì thế, để trẻ được trực tiếp tham gia vào các mối quan hệ vớimọi người xung quanh sẽ là cách tốt nhất để trẻ phát triển
Trang 34Chính vì thế, giáo dục HVUXCVH không chỉ bó hẹp trong môi trườngnhà trường mà còn phải giáo dục cho các em những kiến thức thực tiễn ở bênngoài xã hội.
1.3.4 Phương pháp và hình thức tổ chức GD HVUXCVH
1.3.4.1 Phương pháp giáo dục HVUXCVH cho học sinh trường THCS
Để giáo dục học sinh đạt hiệu quả, trong quá trình giáo dục đòi hỏi nhàgiáo dục cần phải sử dụng phương pháp, biện pháp tiến hành
Trong nhà trường, phương pháp giáo dục phản ánh cách thức tổ chứcquá trình giáo dục, các loại hình hoạt động giáo dục của giáo viên và học sinhnhằm chuyển hóa những yêu cầu chuẩn mực về đạo đức, lối sống, văn hóa,thẩm mĩ,… do xã hội quy định thành phẩm chất nhân cách, hành vi, thóiquen, nếp sống văn minh của người học sinh
Theo quan điểm của PGS.TS Phan Thanh Long trong cuốn “Lý luận giáo dục” của NXB Đại học Sư phạm Hà Nội (2010): “Phương pháp giáo dục là phương thức tác động của nhà giáo dục và tập thể học sinh đến đối tượng giáo dục nhằm hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách theo yêu cầu của một xã hội cụ thể” [16; 176]
Những phương pháp GD HVUXCVH hiện nay bao gồm:
a Nhóm phương pháp tác động đến ý thức, tình cảm, ý chí nhằm hình thành ý thức cá nhân cho học sinh [7; 132]
Nhóm phương pháp này gồm có:
+ Diễn giảng: là phương pháp sử dụng hệ thống lý luận để cung cấp
cho học sinh nhằm giúp học sinh từ cái chưa biết đến biết và từ biết đến biếtcặn kẽ, sâu sắc hơn
+ Đàm thoại: là hình thức cung cấp cho học sinh những kiến thức cần
thiết thông qua trò chuyện, trao đổi ý kiến giữa giáo viên với học sinh về mộtvấn đề khoa học nào đó nhằm mục đích giáo dục
Trang 35+ Tranh luận: là quá trình trao đổi giữa cá nhân với cá nhân nhằm hình
thành cho họ những phán đoán, đánh giá, tình cảm, đạo đức, niềm tin trên cơ
sở cọ xát ý kiến, quan điểm khác nhau để đưa ra ý kiến chung, thống nhất
+ Nêu gương: là phương pháp làm theo, bắt chước theo những mẫu
mực điển hình được sử dụng trong giáo dục đạo đức đối với mọi thế hệ
b Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động xã hội và tích lũy kinh nghiệm ứng xử xã hội cho học sinh, bao gồm:
+ Nêu yêu cầu sư phạm:là phương pháp mà giáo viên nêu ra những yêu
cầu cần phải đạt được về mặt giáo dục và giáo dưỡng đối với học sinh
+ Tạo dư luận xã hội: là phương pháp giáo viên sử dụng những lời bàn
tán, những lời khen tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hành vi và hoạt độngcủa cá nhân
+ Tập thói quen: là tổ chức cho học sinh tập đều đặn, thường xuyên và
có kế hoạch nhằm biến đổi hành động thành những thói quen cần thiết của cánhân trong cuộc sống
+ Rèn luyện: là quá trình giúp học sinh hình thành những năng lực, thu
lượm những kinh nghiệm thực tiễn tạo nên những yếu tố nhân cách cần thiếttrong quá trình phát triển của cá nhân
+ Giao công việc: là cách thức lôi cuốn học sinh tham gia vào những
công việc cụ thể nhờ đó mà bồi dưỡng những năng lực chung và năng lựcriêng, đồng thời giúp họ thu lượm thêm những kinh nghiệm trong mối quan
hệ giữa người với người theo nguyên tắc mẫu mực đạo đức xã hội
c Nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng
xử của học sinh, bao gồm:
+ Thi đua: là phương pháp giáo dục nhằm giúp học sinh đua tài, gắng
sức, hăng hái vươn lên để dành cho được thành tích cao nhất cho cá nhân vàtập thể Mọi phong trào thi đua đều được diễn ra trong phạm vi và thời giannhất định
Trang 36+ Khen thưởng: là hình thức biểu thị sự đánh giá tốt đẹp, tích cực của xã
hội đối với hành vi ứng xử và hoạt động của mỗi cá nhân, tập thể lớp Khi đượckkhen mọi người phấn khởi, vui mừng, tin tưởng, tự hào về khả năng làm việccủa mình và mong muốn tiếp tục được thực hiện những hành vi đó
+ Trách phạt: là phương pháp giáo dục nhằm thức tỉnh lương tâm,
trách nhiệm, nghĩa vụ của người lầm lỗi, giúp họ ý thức được những tác hại
do hành vi, hành động của mình gây ra Do đó cần phải giúp cho họ biết họsai ở đâu, đã gây thiệt hại gì cho người khác và bản thân để từ đó họ khôngcòn mắc sai lầm nữa
Ngoài ra, trong quá trình giáo dục HVUXCVH cho học sinh, giáo viên
có thể tiến hành một số phương pháp giáo dục mang tính tích cực cao như:quan sát, tổ chức hoạt động trải nghiệm, thảo luận nhóm, thực hành, cho họcsinh đóng vai, …
Có rất nhiều các phương pháp để giáo dục HVUXCVH cho HS, tuynhiên mỗi phương pháp lại có những ưu điểm và hạn chế nhất định Chính vìvậy, trong công tác GD học sinh và GD HVUXCVH nói chung tùy vào từngmục đích và nội dung giáo dục mà nhà GD có thể tiến hành các phương phápgiáo dục cho phù hợp Không có phương pháp giáo dục nào là vạn năng màchỉ có sự vạn năng trong việc vận dụng và kết hợp các phương pháp dạy học
1.3.4.2 Những hình thức giáo dục HVUXCVH cho học sinh THCS
Hình thức giáo dục là hình thức của hoạt động giáo dục được tổ chức theotrật tự và chế độ nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ giáo dục: hình thành ởđối tượng giáo dục ý thức, tình cảm tích cực đối với các chuẩn mực xã hội, đặcbiệt là hình thành hành vi và thói quen phù hợp với các chuẩn mực đó
a Cơ sở của việc xây dựng các hình thức giáo dục
- Về mặt thực tiễn giáo dục: muốn rèn luyện cho con người có những
hành vi, thói quen phù hợp với các chuẩn mực xã hội thì cần phải tổ chức cho
họ tham gia nhiều vào các hình thức hoạt động với những tình huống đa dạng
Trang 37và ngày càng phức tạp nhằm bồi dưỡng cho họ ý thức và thói quen hành vi,bồi dưỡng năng lực tự kiểm tra, đánh giá thường xuyên.
- Về bản chất: quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức
hoạt động và giao lưu cho người học
b Những hình thức giáo dục HVUXCVH cho HS trong nhà trường b.1 Tổ chức dạy học trên lớp theo hướng tích hợp nội dung giáo dục văn hóa ứng xử vào các môn học có ưu thế
Trong luận văn của tác giả Quản Hà Hưng bàn về “Tích hợp nội dunggiáo dục môi trường địa phương có làng nghề ở thành phố Hà Đông, tỉnh Hà
Tây trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu học”, tác giả đã định nghĩa: “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ có hệ thống các kiến thức, khái niệm quen thuộc, các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lý luận, thực tiễn được đề cập trong môn học đó”.
Có ba hình thức tích hợp: tích hợp, lồng ghép và liên hệ
- Tích hợp: Ở hình thức này, nội dung GD HVUXVH là một phần nội
dung của môn học chính là nội dung GD HVUXCVH được đưa vào chươngtrình, sách giáo khoa Nội dung này có thể là một chủ đề hoặc một số bài họctrọn vẹn
- Lồng ghép: Một số kiến thức môn học cũng chính là kiến thức GD
HVUXCVH được đưa vào chương trình theo những mức độ khác nhau:
+ Có thể chiếm một mục, một đoạn hoặc một vài câu trong bài học.+ Có thể là bài học thêm sau bài học chính nhằm bổ sung kiến thức về
GD HVUXCVH
- Liên hệ: các kiến thức không được nêu trong sách giáo khoa nhưng dựa
vào kiến thức đã học, người GV có thể bổ sung các kiến thức bằng cách liên
hệ kiến thức vào bài giảng của mình cho phù hợp
b.2 Thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động GDNGLL không phải là tiếp tục hoạt động học tập ở trênlớp mà còn vừa chuẩn bị, vừa phát huy nó nữa Như vậy, hoạt động GD
Trang 38NGLL không đối lập với hoạt động trên lớp mà là kết quả của sự tổng hợp đadạng nhiều chiều.
Hiện nay, hình thức phổ biến của hoạt động GDNGLL bao gồm:
+ Lao động công ích: tu bổ, bảo vệ trường sở, lớp học, di tích lịch sử, + Tham quan danh lam thắng cảnh, bảo tàng, di tích lịch sử,
+ Tham quan thực tế các cơ sở sản xuất, nghiên cứu khoa học
+ Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, ngày hộitruyền thống của trường, của lớp,
+ Tham gia kỷ niệm những ngày lễ lớn, …
Đặc trưng của hoạt động GDNGLL là hoạt động tự quản của HS thôngqua sự dẫn dắt, chỉ đạo của người giáo viên
b.3 Thông qua các buổi sinh hoạt, tọa đàm
Trong các buổi sinh hoạt lớp, chào cờ đầu tuần, GV thường tiến hànhgiáo dục HS thông qua trò chuyện, giảng giải, chia sẻ với HS những điều hay,
lẽ phải, nhắc nhở, động viên và khích lệ các em Đồng thời, GV có thể tiếnhành tổ chức cho các em chơi trò chơi tập thể, trò chơi dân gian để qua đó GDHVUXCVH cho HS
Trong các buổi tọa đàm, GV tổ chức cho HS được thể hiện hết khả năngcủa mình, được tự do bày tỏ suy nghĩ, chia sẻ những khó khăn, thắc mắc mà các
em đã và đang gặp phải đồng thời đó cũng là dịp để các em HS được trải nghiệmthực tế, mở rộng hiểu biết và qua đó có thái độ và hành vi ứng xử phù hợp
b.4 Thông qua các tấm gương của chính các thầy cô giáo
GD là sự tác động qua lại giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục.Chính vì thế, trong quá trình giáo dục HS, mọi hành vi, cử chỉ, điệu bộ, tácphong, … trong cung cách ứng xử, giao tiếp cho dù rất nhỏ cũng ảnh hưởngđến nhận thức, thái độ và hành vi của người HS Do đó, trong công tác giáodục HVUXCVH cho HS, giáo viên phải làm gương cho HS noi theo tức làngười giáo viên phải dùng nhân cách của chính bản thân mình để giáo dục
nhân cách học sinh Hay như nhà giáo dục Usinxki đã từng nói: “Sự gương
Trang 39mẫu của người thầy giáo là tia sáng mặt trời thuận lợi nhất đối với sự phát triển tâm hồn non nớt của trẻ mà không có gì thay thế được”.
Và để có được điều đó, yêu cầu mỗi giáo viên cần phải có:
+ Phẩm chất đạo đức (yêu trẻ, yêu nghề, có lòng nhân ái, thấm nhuầngiá trị đạo đức, nhân văn)
+ Có năng lực sư phạm (trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nghệ thuật sưphạm và việc tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp)
1.4 Đặc điểm lứa tuổi của HS THCS – Cơ sở tâm sinh lý của GD
HVUXCVH
1.4.1 Đặc điểm về giải phẫu sinh lý ở lứa tuổi học sinh THCS
Học sinh THCS bao gồm những em trong độ tuổi từ 11 đến 14,15 tuổiđang học từ lớp 6 đến lớp 9 Đây là thời kỳ phát triển phức tạp và rất quantrọng đối với sự hình thành và phát triển của mỗi cá nhân Chính vì vậy, khinhắc đến lứa tuổi này, người ta hay gán cho nó những cái tên thân mật như:
“thời kỳ quá độ”, “ tuổi khủng hoảng”, “tuổi ổi xanh”, … mà trong đó nêu bậtđược những đặc trưng bản chất nhất như:
Sự phát triển không cân đối giữa chiều cao và trọng lượng, giữa cácxương ống tay, ống chân, xương ngón tay, ngón chân đã dẫn tới sự thiếu cân đốinhư cao mà gầy, các em rất long ngóng, vụng về, không khéo léo khi làm việc,thiếu thận trọng và hay làm đổ, vỡ Điều này gây cho các em tâm lý khó chịu
Bản thân các em đã ý thức được sự lóng ngóng, vụng về của mình và
cố ý che giấu nó dẫn đến điệu bộ không tự nhiên, cầu kì, tỏ ra mạnh bạo, canđảm để người khác không chú ý tới vẻ ngoài của mình, chính điều đó cũng
làm ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của các em học sinh [11; 163]
Do phản xạ với những tín hiệu trực tiếp hình thành nhanh hơn phản xạtín hiệu từ ngôn ngữ Chính vì thế, trong khi giao tiếp, thiếu niên thường nóinhát gừng, cộc lốc Điều này ảnh hưởng đến ngôn ngữ trong ứng xử của họcsinh với mọi người xung quanh
Sự phát triển về mặt sinh lý cũng như sự biến đổi căn bản về mặt cơ thểvới những nét đặc trưng lớn nhất là sự dậy thì (sự phát dục) Sự phát dục vànhững biến đổi trong sự phát triển thể chất của các em học sinh THCS có ý
Trang 40nghĩa quan trọng trong việc nảy sinh những cấu tạo tâm lý mới, giúp các emtrở thành người lớn và cảm giác mình là người lớn.
Điều kiện sống của các em cũng có sự thay đổi mạnh mẽ Trong gia đình,các em có sự tham gia tích cực, đóng góp ý kiến, giúp các em hoạt động tíchcực, độc lập, tự chủ như một người lớn Ở trong nhà trường và xã hội, hoạt độngcủa các em cũng được mở rộng hơn, vị trí của các em được nâng lên
Những điều kiện về mặt giải phẫu sinh lý ở lứa tuổi này là điều kiệntiền đề đối với sự hình thành và phát triển tâm lý nhân cách học sinh Gópphần có hiệu quả vào công tác GD HVUXCVH cho học sinh
1.4.2 Đặc điểm tâm lý, nhận thức, giao tiếp, đời sống tình cảm và sự phát triển nhân cách của HS THCS
Xu hướng muốn vươn lên làm người lớn ảnh hưởng tới tất cả các hoạtđộng tâm lý của học sinh ở lứa tuổi này, trong đó có giao tiếp ứng xử Tronggiao tiếp giữa học sinh THCS đã hình thành các kiểu quan hệ mới và đượcbiểu hiện như sau:
+ Học sinh THCS có nhu cầu mở rộng mối quan hệ với người lớn,mong muốn người lớn nhìn nhận mình một cách bình đẳng, không muốn bịcoi là trẻ con như trước đây Nếu người lớn không hiểu nhu cầu này của các
em để có cách ứng xử phù hợp thì dẫn dễ làm cho mối quan hệ giữa thiếu niên
và người lớn xảy ra xung đột
+ Do xu hướng mong muốn trở thành người lớn và vươn lên làm ngườilớn nên học sinh lứa tuổi này coi hoạt động giao tiếp với bạn là nhu cầu khôngthể thiếu được ở các em Các em khao khát được giao tiếp và hoạt động cùngnhau, có nguyện vọng được sống cùng bạn bè, được họ tin cậy, tôn trọng, tintưởng và thừa nhận mình Trong giao tiếp, thiếu niên chịu ảnh hưởng của nhau.Nếu giao tiếp với người lớn không thuận thì giao tiếp với bạn bè càng tăng, ảnhhưởng của bạn bè đến thiếu niên càng mạnh mẽ
Ở lứa tuổi này, các em có sự thay đổi trong mối quan hệ giữa nam và nữmột cách cơ bản so với những lứa tuổi trước Các em có biểu hiện quan tâm đếnnhau, ưa thích nhau và quan tâm đến hình dáng bên ngoài của mình